|
|
SỐNG ĐẸP .........................Xem tiếp trang 1| 2 | 3| 4 | 5 | 6 | 7 | 8 | 9 - Bài thơ 12 con giáp Hồi thời Pháp, có cụ Nguyễn Khoa Vy, sinh năm 1881, người phủ Thừa Thiên có làm một bài thơ 8 câu mà kể đủ mười hai con giáp. Cái lắt léo của bài thơ ấy là phải dùng ca dao, tục ngữ để nói về các con vật của đủ mười hai chi mà không được nói thẳng ra. Cụ Vy làm bài thơ ấy như sau: 1-Tha ra, cắp lấy, bộ loay hoay -Trong câu 1, tác giả nói đến chó, mèo qua câu tục ngữ "Chó tha ra, mèo cắp lấy." Đúng là một bài thơ hết sức công phu. Nguồn: ttol.com.vn Trong thuật ngữ dân gian Việt Nam ta, có rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao, hò, vè, chuyện cổ, chuyện kim... đề cập đến con cọp. Nhân dịp năm Dần, chúng tôi xin giới thiệu một số thuật ngữ nói về vị chúa sơn lâm này. 1. Hổ phụ sinh hổ tử (cha hổ sinh con hổ); Tương đương với thành ngữ "cha nào con nấy" để chỉ con cũng có tài giống cha, giữ được truyền thống gia đình. 2. Dưỡng hổ di họa (nuôi cọp tác hại): Tương đương với thành ngữ "nuôi ong tay áo" "nuôi khỉ dòm nhà", để chỉ nuôi cọp trong nhà, khi cọp lớn không đề phòng, cọp phản bội gây hại cho chủ. 3. Mãnh hổ nan địch quần hổ: Mãnh hổ tuy sức mạnh vô song nhưng không thắng nổi bầy chồn đông. Nếu quần hổ cùng hùa đánh thì cọp không sao đỡ nổi. Thuật ngữ trên ám chỉ sức mạnh của sự đoàn kết tất thắng kẻ đơn độc lẻ loi cho dù kẻ đó có tài, có sức mạnh đến đâu. 4. Điệu hổ ly sơn (đưa cọp ra khỏi núi): Núi rừng là nơi cư trú an toàn và là địa bàn cọp mặc sức thao túng hoành hành. Đem cọp cách ly khỏi núi rừng đem về nơi đồng bằng sẽ bị lúng túng khó khăn, không hậu thuẫn để bị sa hầm sẩy hang. 5. Hổ đội lốt thầy tu: Ám chỉ kẻ thiếu chân thật khoác áo người tu hành làm điều bạo ngược, độc ác, tương đương với câu: "miệng nam mô, bụng một bồ dao găm". Ý nói kẻ độc ác nhưng hay nói lời đạo đức để lừa dối. 6. Họa hổ, họa bì, nan họa cốt; Tri nhân tri diện bất tri tâm (Vẽ hổ, vẽ da hổ, xương khó vẽ; Biết người, biết mặt, khó biết lòng): Thuật ngữ này nói lên, nếu chỉ nhìn cốt cách bề ngoài, khó biết được lòng dạ bên trong. 7. Cáo mượn oai hùm: Do truyện ngụ ngôn Hồ ly giả Hồ uy. Hổ là chúa sơn lâm, đi đến đâu muôn thú đều khiếp oai. Một hôm, hổ bắt được Hồ ly toan ăn thịt. Hồ ly dọa hổ: "Chạm đến ta là phạm thượng! Nếu không tin, theo ta coi ai là chúa sơn lâm. Tôi đi tới đâu muôn thú đều cúi đầu sợ uy. Tôi đi trước anh đi sau sẽ rõ". Hổ tin lời Hồ ly, đi một vòng khu rừng. Đến đâu muôn thú đều hoảng sợ bỏ trốn. Hổ không biết chúng sợ mình, lại nghĩ chúng sợ Hồ ly. Thế là Hồ ly thoát chết. 8. Hùm chết để da, người ta chết để tiếng: Da cọp rất quý hiếm, người xưa dùng làm trang phục, cho các tướng hoặc để trang trí trong dinh thự. Vì vậy, nếu như con hổ chết còn để lại tấm da quí thì con người khi chết đi làm sao để lại danh tiếng của mình. 9. Thả cọp về rừng: Chỉ hành vi vô tình tiếp tay cho kẻ ác. 10. Vuốt râu hùm, xỉa răng cọp: Hành động liều mạng. Gặp cọp đã là nguy cơ mà còn dám liều mạng vuốt râu, xỉa răng cọp, không khác nào coi thường mạng sống... Ngoài ra, cọp cũng còn đi vào ca dao, tục ngữ của dân gian, về ca dao ta có: Nam thực như hổ, nữ thực như miêu"; "Cọp Khánh Hòa, mà Bình Định"; "Cọp dữ không ăn thịt con"; "Dữ như cọp cái"; "Nanh hùm, nọc rắn"; "Hai cọp không sống một rừng"; "Không vào hang cọp làm sao bắt được cọp"; "Đã lỡ leo lên lưng cọp"; "Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm"... Theo Đăng Bảy Nguồn: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia Canh Dần là kết hợp thứ 27 trong hệ thống đánh số Can Chi của người Á Đông. Nó được kết hợp từ thiên can Canh (Kim dương) và địa chi Dần (hổ). Trong chu kỳ của lịch Trung Quốc, nó xuất hiện trước Tân Mão và sau Kỷ Sửu. Can Chi 1. Giáp Tý Các năm Canh Dần Giữa năm 1700 và 2200, những năm sau đây là năm Canh Dần (lưu ý ngày đưa ra được tính theo lịch Việt Nam, chưa được sử dụng trước năm 1967): • 1710 Nguồn: diendanlyo.com 1.Nghĩa Hổ Thời Tự Đức, ở làng Vang Quới (có lẽ thuộc huyện Bình Đại tỉnh Bến Tre-coconutland).Có người họ Võ, đậu tú tài, làm quan ở trong huyện, gia đình đơn chiếc, chỉ có vợ và một đứa con trai sống thanh bạch. Người hàng xóm gặp con cọp nhỏ, đem về tặng ông tú tài: “Nuôi từ nhỏ bé thì tới lớn lên, nó hiền như con chó vậy thôi. Hồi ở Quảng Nam, tôi thấy nhiều người nuôi như vậy để giữ nhà”. Ông và bà tú tài thấy cọp nhỏ dễ thương bèn nuôi nấng trong nhà. Cọp dạn dĩ, ăn cơm, ăn cá, chỉ có tật là thỉnh thoảng như hăng hái, chạy tới chạy lui quào móng chân vô cục đá, lu nước, tóm lại là món gì cứng. Ông tú tài hiểu là cọp mọc móng và mài móng cho bớt ngứa ngáy. Ông dạy: “Đừng hung hăng, khách ra vào không được hầm hừ với bất cứ ai!”. Ban đêm, cọp nằm ngay dưới chân giường mà canh chừng. Trong xóm, thấy cọp con hiền lành, ai cũng khen ngợi. Nhưng đến năm nọ, ông tú tài được lệnh ra Huế lãnh phận sự mới. Cả nhà buồn rầu, nhất là cọp như đoán trước việc ra đi là khó khăn, ngày về còn xa.Ông tú tài đi theo đường trạm, có phu khiêng võng, qua trạm khác thì đổi phu, đường diệu vợi, lên đèo xuống ải, lắm nơi không một bóng người, lại phải đi đến chiều tối. Cọp ở nhà cứ nhìn ra cửa, gặp bà tú tài, cọp như nôn nóng. Bà nói: - Muốn đi thăm “cha” phải không? Đường xa xôi lắm, đi thì nên giữ mình rồi trở về. Ở nhà chẳng còn ai, “mẹ” buồn lắm. Anh Hai của “con” (con trai ông tú tài) suốt ngày làm lụng vất vả. Hôm ấy như thường lệ, ông tú tài nằm ngủ lim dim trên võng, mấy người phu trạm như mệt mỏi, leo dốc đá, hai bên đường là rừng già, chim kêu vượn hú. Bỗng nhiên mấy người phu trạm kêu lên: Quả thật là con cọp từ Bến Tre đã đánh hơi, dò đường để “thăm ông”. Cọp dạn dĩ chạy đến, quì xuống kêu rống. Ông tú tài vỗ về nó: - Tội nghiệp “con” quá chừng. Dọc đường chắc cực khổ lắm, ở nhà ai nấy mạnh giỏi hả? Cọp bỗng đưa chân lên, xòe móng ra, ông tú tài nhận ra mấy viên thuốc, dọc đường, có lẽ nhờ quen các vị thuốc thảo mộc, cọp đã tìm những cây lá thích ứng với nơi sơn lâm chướng khí mà ông tú tài chưa quen. Cảm động vô cùng, ông tú tài nhận mấy viên thuốc núi, nào lá cây, vỏ cây rừng mà cọp đánh hơi, theo linh tính cho rằng bổ khỏe. Ông vỗ đầu cọp, rơm rớm nước mắt rồi an ủi: - Lòng hiếu thảo của “con”, “cha” biết rồi. Thôi ráng mà về nhà, chăm sóc sức khỏe của “mẹ” và “anh Hai”. Coi chừng dọc đường bọn thợ săn rình rập. Vài năm sau ông tú tài mang bệnh mà mất tại Huế. Nhờ tính tình hiền lành, liêm khiết lúc làm quan nên các bạn đồng liêu thương tình, bố thí được một chiếc ghe bầu, lần hồi quan tài ông được đưa về nhà. Cả nhà khóc lóc, người hàng xóm thương tiếc. Quan tài quàng tại nhà, cọp rống lên từng chập nhưng khách đến phúng điếu đã quen, biết rằng cọp thương tiếc người “cha”. Nó nằm phủ phục bên quan tài, nhịn ăn. Rồi đám táng diễn ra, cọp chạy theo, đến huyệt, trở về cọp cứ nhịn ăn. Vài hôm sau, cả nhà thấy vắng bóng cọp, truy hô lên, người hàng xóm rủ nhau tìm kiếm, ngỡ rằng cọp về rừng. Nhưng khi ra đến phần mộ ông tú tài ai nấy đều ngậm ngùi cảm động, thấy cọp đã đập đầu vào tấm mộ bia mà chết, trên đầu còn nhiều vết thương. “Thi hài” cọp được chôn cất bên phần mộ ông tú tài. Từ đó, trong địa phương rồi cả vùng loan truyền chuyện con cọp có nghĩa. Người đời thêm thắt chi tiết, gọi là chuyện Nghĩa Hổ, con cọp có nghĩa. Chuyện được nhắc nhở về lâu về dài, sự thật như thế nào, khó kiểm chứng. nhưng phải chăng người xưa muốn nhắc nhở con người nên giữ lòng hiếu thảo với cha mẹ, bằng không thì thua loài vật. 2. Bà Mụ Cọp Ở Nam Bộ, những người làm nghề đỡ đẻ được gọi là mụ. Xã Bình Hàng Tây vùng Đồng Tháp Mười có bà mụ giỏi nghề, lại nhân từ, một tay bà sanh giúp không biết bao nhiêu người nơi vùng đất còn hoang vu này. Một hôm đã lên giường, nghe tiếng đập cửa rầm rầm, bà mụ lên tiếng hỏi. Không thấy trả lời, chỉ nghe rên rỉ. Cho là có người chuyển dạ, đau tới không nói được nữa, bà mụ vội mở cửa ra. Ngoài sân không ai hết, chỉ có một con cọp, lớn gần bằng con trâu mộng, nằm phủ phục, nhìn bà bằng đôi mắt phản chiếu ánh đèn dầu, sáng quắc. Bà mụ sợ quá, xỉu liền. Khi tỉnh lại, bà thấy mình nằm bên một con cọp cái có chửa, đang vật vã đòi sang. Cạnh đó, cọp đực vừa tời rước bà đi, nằm hiền lành như một con chó nhà. Chung quanh rừng rậm lọc ánh trăng mờ tỏ. Máu nghề nghiệp làm bà mụ hết sợ, bắt tay ngay vào việc giúp con cọp mẹ sinh ra một bầy cọp, năm con, nhỏ như mèo. Sau khi nhà cọp đã mẹ tròn con vuông rồi, hết việc chôn nhau cắt rún, lại thấy bên mình toàn cọp là cọp, bà mụ khiếp sợ, xỉu lần nữa! Lần này tỉnh lại, bà mụ thấy, mình đang nằm bên cửa nhà mình, bà con lối xóm xúm lại, người cạo gió, người đổ thuốc, nngười đốt sưởi ... Thấy toàn người quen thân bà mụ mới lần lần kể lại chuyện xảy ra. Lúc đầu không ai tin, nhưng khi nhìn thấy mờ mờ trên cườm tay bà những vết răng, vết vuốt, thì ai nấy tròn mắt, vừa mừng, vừa sợ thay cho bà. Đúng lúc ấy, một con vật lớn, nhảy như rơi từ trên trời xuống. Mọi người hốt hoảng ù té chạy, tưởng lại có cọp rừng chuyển dạ đẻ. Nhưng con vật kia nằm bất động. Thấy vậy, mọi người hoàn hồn, trở lại coi, thì ra đó là một con heo rừng đã bị vật chết, trên mặt còn chi chít những dấu cọp vồ. Chắc là con heo lễ, vợ chồng cọp tạ ơn bà mụ ân nhân. Mọi người xả thịt heo ăn mừng. Bà mụ có tên mụ Cọp từ đấy. 3. Bác Ba Phi - Cọp Xay Lúa Để tui kể chuyện miệt này hồi mới khai mở, đêm nào cọp cũng xúm vô rình mồi, nó kêu “à uôm” nghe như tiếng con ễnh ương gặp mưa vậy. Có bà Tám ở xóm trên, đêm ngủ ngoài bụi ráng, vì bữa chiều đó bà uống rượu ở đám giỗ xóm dưới, say quá không về tới nhà. Sáng ra, bà bị liếm cái đầu trọc lóc như trái bưởi. Hai đứa con thằng Tư Mít, cha mẹ đi làm bỏ chúng trên sàn gác, gặp cọp vô nhà chơi hoài. Chúng nó vắt cơm cháy, thảy xuống cho cọp ăn. Ăn quen, lần đó thằng Tư Mít núp trên sàn gác, đốt đỏ cái ống ngoáy trầu của bà, rồi thảy xuống, cọp hả họng ra hứng liền. Lần ấy, nó chạy, la vang rừng suốt mấy bữa. Có một đêm, tui cũng ngủ trên sàn gác, khoảng gà gáy hiệp ba, bỗng nghe con heo khoảng một tạ ngoài chuồng kêu éc éc. Biết là “ông ba mươi” đến viếng rồi, tui liền xách cây mác thong phóng xuống, đuổi theo. Rượt đến sáng mới giật lại được xác con heo, tôi vác về. Để con heo đó, lum khum nhóm lửa nấu nước, tui bỗng nghe tiếng động rột rẹt trong lùm ráng. Liếc mắt nhìn qua, tui thấy rõ ràng là “anh ta”. Vì hụt mất miếng mồi nên con cọp tức, trở lại rình mò. Đó là một con cọp cái bụng đang có chửa. Tui thấy nó ngồi nhìn xác con heo, mà thèm đến nhểu nước miếng. Không được ăn thịt heo, con cọp đâm ra thù tui. Trưa bữa sau, hai vợ chồng tui khiêng cối ra xay lúa. Cái giằng xay tui làm bằng cây tràm suồi, thịt gỗ thật dẻo. Đang xay lúa ì xèo, tui lại nghe sau bụi ráng có tiếng động rột rẹt. “Giống con cọp cái này thù vặt quá !”. Tui nói trong bụng : “Bữa nay, bắt mày xay lúa một trận cho biết tay”. Tui kêu vợ tui xúc sẵn hai chục giạ lúa để gần bên cối xay đó. Vừa xay, tui vừa liếc chừng vô bụi ráng, giả bộ như không hay biết gì. Chờ lúc cọp nhảy ra phủ đầu, tui hụp xuống, trịch ngang. Hai bàn tay cọp bấu tám móng cứng ngắc vào cán giằng xay. Sẵn trớn cái cối đang quay, con cọp kéo lui hết vòng thì bị cái cối theo quán tính quay tới, mà hễ cái cối quay tới hết vòng thì bị con cọp ghị lui. Cứ như vậy mà cọp ta theo đà cối quay đẩy tới kéo lui hoài... Tui đứng một bên, cứ xúc lúa châm vô cối liên tục. Đến lúc con cọp xay hết hai chục giạ lúa, tui kêu vợ tui vô bồ xúc thêm lúa nữa. Thấy con cọp có chửa nên cũng động lòng thương, vợ tui bảo thôi, tha cho nó. Tui nắm tay cối xay ghìm mạnh lại cho dừng trớn quay. Con cọp bị hụt đà, vuột tám móng ra khỏi cán giằng xay, chúi đầu về phía trước. Nó lồm cồm ngồi dậy, mệt thở muốn hết ra hơi, lệt bệt bỏ đi vô rừng. Không tin thì hỏi bả coi. 4. Địa danh có liên quan đến Cọp Dấu ấn cọp còn để lại qua nhiều địa danh, những địa danh này được hình thành trên cơ sở những sự kiện có thật ở địa phương, gắn bó hữu cơ với quá trình khai khẩn đất đai và tạo lập làng xã. -Tổng Ăn Thịt ở vùng Cần Giờ, nơi cọp hay ăn thịt người, phải nói gọn lại vì kiêng cử là An Thịt. - Đìa Cứt Cọp ở huyện Giồng Trôm, tương truyền ngày xưa ở đây có nhiều cọp, chúng tụ tập săn mồi, phóng uế bừa bãi. Do vậy mà dân gian gọi đìa này là Đìa Cứt Cọp. - Địa danh mang tên Đồn Cọp ở huyện Chợ Lách (Bến Tre), được kể như sau: nơi đây trước kia cọp thường về phá hoại, dân chúng thường tổ chức lấy thân cau làm rào vây cọp lại, rồi báo cho tỉnh mang súng về bắn chết. Do vậy mà nơi đây có tên này. - Địa danh Mỏ Cày cũng được dân gian Bến Tre giải thích liên quan đến sự tích về cọp: ngày xưa ở đây có rất nhiều cọp, do đó khi đi làm, người dân phải mang theo mõ, để vừa cày vừa đánh mõ làm cho cọp sợ trốn không dám ra làm hại người. Do đó người ta gọi xứ này là Mỏ Cày (chữ mõ biến thành Mỏ). Ở Bến Tre còn có những địa danh như Giồng Ông Hổ, Giồng Rọ (một loại bẫy cọp), bưng Hai Hổ, miếu Ông Hổ... - Ở Sa Đéc còn tên đất gọi là Hổ cứ - Bãi Hoàng Dung (ở phía tây bắc hạ lưu sông Hậu), do ở đây có nhiều cọp nên dân gian cũng gọi nơi này là Hổ châu (cù lao Ông Hổ) . Đây cũng là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng (xã Mỹ Hòa Hưng – thuộc thành phố Long Xuyên), hiện nay có Đền thờ Bác Tôn ở đây và là nơi du lịch của An Giang. - Đồi ngũ Hổ ở Hà Tiên, hình dạng như dáng cọp ngồi khum lưng cúi đầu, biểu tượng phong cách Hổ phục là vị thế “tượng chầu hổ phục” - chỉ nơi có hệ thống phòng thủ thiên nhiên kiên cố, chính là nơi cứ điểm trọng yếu . 5.Thờ Cọp Ở Nam Bộ còn có dạng tồn tại khác về cọp là Miếu thờ Cọp. Phần lớn các đình làng ở Nam Bộ đều có miếu thờ, tượng thờ ông Hổ. - Ở Long An cọp được thờ ở đình làng như một vị thần, nhưng không phải với ý nghĩa siêu hình, cọp thờ ở Long An là biểu thị một sức mạnh thiên nhiên có thể hại người mà cũng có thể giúp người, cụ thể hóa thành con thú có vằn đen xưa kia sống quanh xóm làng. - Đình làng Quới Sơn (Châu thành, Bến Tre) còn thờ cả cái sọ cọp. - Miễu thờ Cọp Bạch (ở trại ruộng Phước Điền - xã Thới Sơn - huyện Tịnh Biên - An Giang) là một ngôi miếu thờ Sơn quân thường thấy ở đình làng Nam Bộ. Tuy nhiên, việc thờ cọp bạch ở đây gắn liền với công đức của Phật thầy Tây An và ông Tăng chủ Bùi thiền sư (người được Phật Thầy Tây An giao cho coi sóc trại ruộng Thới Sơn - đất hương hỏa của chùa Tây An). Truyện kể: thuở đó vùng Thới Sơn là sơn địa hoang vu, trong vùng núi Két có rất nhiều cọp dữ. Một hôm Phật Thầy Tây An đi xa về thấy con cọp bạch bị ốm ngồi cú xụ gần bàn thông thiên, bèn gọi ông Tăng chủ ra xem bệnh. Tăng chủ xem qua biết cọp bị mắc xương ở cổ, ông bèn bảo cọp cúi đầu xuống và đấm vào cổ nó một cú đấm, cục xương vọt ra ngoài. Cọp bạch ngước mắt nhìn ông Tăng chủ tỏ ý biết ơn rồi rón rén bước chậm rãi vào rừng. Cách vài hôm, cọp bạch cõng lại một con heo rừng đặt trước cửa để đền ơn ông Tăng chủ. Cũng từ đó, lũ cọp trong rừng không còn bén mảng tới phá quấy dân chúng ở đây nữa. Mỗi khi ông Tăng chủ vào rừng thì lũ cọp đều bỏ chạy hoặc theo ông như chó nhà theo chủ đi rừng vậy. Về sau cọp bạch già chết, ông Tăng chủ và ông Đình Tây cất một cái miễu nhỏ tại đình làng gần chùa Thới Sơn để thờ, nay miễu vẫn còn, khói nhang không dứt . - Đình Ông Hổ (ở xóm 1, Cửa Lấp, xã Dương Tơ, huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) theo lời truyền khẩu, ở hòn này có mấy ông Hổ thường bơi vượt biển qua đảo Phú Quốc để tìm mồi. Một hôm có một ông bơi qua biển, bị cá mập táp cụt mất một chân, nên ở luôn tại Phú Quốc, từ đó rất hiền lành, không bắt gia súc, gia cầm hay hại dân làng. Dân chúng cho rằng cọp đã tu, nên lập đình để thờ . - Dinh Ông “Ở xã An Thạnh, huyện Bến Lức còn dấu tích việc bầu cọp làm Cả, đó là cái am nhỏ bằng lá mà người ta gọi là Dinh Ông nằm bên bờ con rạch tên là rạch Dinh”. - Chùa Ông Ngộ (ở Cần Giuộc - Long An), thờ ông Tăng Ngộ là người có công diệt trừ cọp dữ vào những năm đầu đời Gia Long ở đất Gia Định. Tất cả dạng truyện kể về cọp nêu trên đã cung cấp cho chúng ta những nhận thức về lịch sử của buổi ban đầu khai sơn phá thạch vùng đất Gia Định (gồm cả Nam Bộ) - công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy gian lao nguy hiểm, cùng với phong tục tập quán của người dân trên vùng đất mới. Nhưng điều quan trọng hơn hết là nó đã giúp chúng ta hiểu được những bí ẩn trong tình cảm và tâm hồn của người dân ở đây; một mặt họ vừa sợ vừa kiêng nể cọp và phải thờ cọp làm “sơn quân chi thần” và mặt khác là phải đánh cọp để tự vệ, để bảo vệ cuộc sống. Rõ ràng, trong thực tế ở vùng đất mới, yêu cầu bảo vệ cuộc sống, phát triển sản xuất và mở rộng địa bàn lân - ấp - làng - xã là rất bức thiết; việc đánh cọp, giết sấu là việc to lớn của thời kỳ đó. Nguồn: tet.vietnamnet.vn Nhiều năm về trước không ít cô gái tuổi Dần thường khai tăng hoặc bớt một tuổi để tránh những lời dị nghị dèm pha, nào là dữ như cọp, nào là cao số, nào là sát chồng... Thêm bớt tuổi như thế cũng là cách "qua mặt" những bà mẹ chồng có hơi hướng mê tín. Trong khi đó, đàn ông tuổi Dần thì lại toàn nhận được lời hay ý đẹp, nào là tài giỏi, nào là uy phong rồi lại còn cả đào hoa nữa. Mấy ông thấy tử vi trên mạng thường tư vấn thêm cho mấy "cô Dần", kiểu như cái giống đàn bà tuổi Dần muốn yên ổn thì cứ phải lấy chồng muộn, cứ phải cỡ 27, 28 tuổi thì mới được "nhón chân" lên xe hoa. Thế nhưng ngày trước, đặc biệt là ở vùng nông thôn, tuổi ấy mà chưa chồng con gì thì coi như tuyệt vọng rồi, chỉ có nước mà ở già. Nay khác rồi. Chúng ta thử làm một phép tính đơn giản. Cứ 12 năm thì lại có một năm Dần. Nếu ai cũng ngại con gái tuổi Dần thì chẳng nhẽ có 1/2 phụ nữ ế chồng và cũng có nghĩa là 1/2 đàn ông nước ta rơi vào cảnh sẽ ế vợ, hoặc chỉ có nước nhập khẩu thêm cô dâu không sinh năm Dần. Đã thế, những năm gần đây, tỷ lệ sinh các bé trai lại nhiều hơn bé gái. Đừng có nói là tuổi Dần mà ngay cả tuổi... khủng long cũng sẽ đắt hàng như tôm tươi. Chưa kể là càng ngày các cô gái càng có xu hướng kết hôn muộn, có cô gần bốn mươi tuổi mới chịu cho người ta rước nên cứ cho là duy tâm đi chăng nữa thì tuổi Dần cũng chẳng có làm sao. Muốn tránh cho mình khỏi dang dở hôn nhân thì các cô chỉ có cách là tìm hiểu đối tượng thật kỹ, cứ yêu độ khoảng ba, bốn năm thì xấu, tốt của chàng nó lộ ra ngay. Mà chỉ nguyên cái chuyện không tin vào những câu chuyện số má linh tinh bản thân người con gái cũng thanh thản, không nản lòng khi cuộc sống lứa đôi trục trặc. Cuộc sống gia đình vốn dĩ tràn ngập phức tạp, chuyện vỡ mộng sau hôn nhân là rất đỗi bình thường, vấn đề là ở nhận thức tỉnh táo của người phụ nữ. Chàng thay đổi quá nhưng ngẫm lại mình cũng đổi thay. Cho nên người phụ nữ nào biết mình biết ta, biết đối mặt với hiện thực phũ phàng thì sẽ không đẩy xung đột vợ chồng vượt quá giới hạn. Cho nên là tan hay hợp đều do sự điều chỉnh của mỗi cá nhân thôi chứ đừng đổ tại năm sinh tháng đẻ. CỌP TRONG TÂM THỨC NGƯỜI NAM BỘ Nguồn: thanhnien.com.vn Trải qua bao biến đổi thăng trầm của lịch sử, Nam bộ hôm nay là vùng đất trù phú, nơi dung nạp nhiều bộ phận dân cư khác nhau từ mọi miền đất nước đến đây lập nghiệp. Quả là “đất lành chim đậu”. Ngày nay đến với đồng bằng Nam bộ, ít người còn hình dung được cái thiên nhiên đầy vẻ hoang sơ của buổi đầu khai phá. Chính những câu chuyện kể, truyền thuyết, các giai thoại còn tồn tại trong ký ức, các địa danh, ca dao dân ca mà các tài liệu địa chí đã ghi nhận được từ xa xưa truyền lại, giúp ta hình dung được khung cảnh thiên nhiên ấy. Cơ sở hình thành ký ức về cọp ở Nam bộ Ký ức về cọp của người Việt ở Nam bộ gắn liền với tiến trình con người khai phá vùng đất này. Cái buổi ban đầu ấy, những người dân mở đất với hành trang thô sơ vừa từ ghe bầu, thuyền buồm đặt chân lên vùng đất hoang rậm, sông sâu, thú dữ như hiệp sức thử thách người mới đến. Để khai phá đất, lập làng, lập ấp, người Việt cũng như đồng bào các dân tộc ít người, ngoài việc gặp những cánh đồng hoang vắng, những đầm lầy heo hút, những rừng rậm bạt ngàn, họ còn gặp khá nhiều thú dữ. Đáng nói nhất trong loài thú dữ nơi này là cọp. Cọp rất nhiều và là mối đe dọa thường xuyên làm cản trở công cuộc khẩn hoang lập ấp, đe dọa thường trực tính mạng của con người sống ở đây: Đồng Nai xứ sở lạ lùng, * Cọp Gia Định: Sách Đại Nam nhất thống chí ghi mùa xuân năm Canh Dần 1770 đời vua Duệ Tông có con mãnh hổ vào nhà người ở phía nam chợ Tân Cảnh, hai nhà sư Hồng Ân và Trí Năng đã diệt được cọp. Trịnh Hoài Đức đã nói về loài này ở đất Gia Định bằng câu tục ngữ: “Dữ như cọp Vườn Trầu”. Viết về “Vườn Phù Lâu”, ông cho biết “chỗ ấy còn nhiều rừng rậm, mãnh hổ thường hay bắt người, nên có câu “Dữ như cọp Vườn Trầu”. Đến cuối thế kỷ XIX, số người chết vì cọp vẫn còn đáng kể: “...cọp, sấu còn hoành hành ở vùng quê Bến Tre, Gò Công, An Hóa vào khoảng 1900 - 1910, nào riêng gì vùng sình lầy phía Cà Mau. Bên bờ Hậu Giang ngày nay, vùng Phong Điền nổi danh trù phú với vườn cam quýt - vào khoảng 1900 cọp vẫn còn tại đó”. Năm 1909, tuần báo Nam kỳ địa phận dành để tuyên truyền phổ biến giáo lý đạo Thiên chúa mà còn đăng tải những tin tức về cọp như chuyện thời sự hằng ngày. Mãi đến sau năm 1930 mà cọp còn lảng vảng ở vùng Rạch Giá, Cà Mau, Bảy núi. * Cọp Tây Ninh: “Ngày xưa Tây Ninh toàn là rừng già... cho nên nó là giang sơn của cọp, voi, mang, mển... Thời ấy chúa sơn lâm hay bén mảng gần xóm đông dân cư để rình bắt heo bò và cõng người về rừng xé xác... Năm 1947 - 1948 cọp loạn rừng. Tại xã Ninh Thanh - ấp Chánh, cọp đã ăn 3 mạng người và mỗi đêm thường về ấp này bắt heo mang vô rừng ăn dần”. * Cọp Vũng Tàu: “Vùng Núi Lớn xã Thắng Nhì gần chợ Bến Đá, có ngôi chùa gọi là Điện Bà do nhà sư họ Trương sáng lập. Bên cạnh Điện Bà năm 1949 còn dấu tích hai miệng hang lớn, theo lời của dân chúng kể lại, đó là hai cái hang ông thần Hổ ở tu ngày xưa. Họ kể rằng, vào thời kỳ này có hai vị chúa sơn lâm chiều chiều khi tới giờ công phu, thường đến ở ngoài ngồi nghe kinh, và chẳng bao giờ bắt gà vịt, quậy phá dân ở quanh vùng, sau đó ở tu luôn tại hai cái hang ấy. Một ông tu tại đó cho tới chết, còn một ông bị người Pháp bắn nhầm khi đi kiếm ăn ngoài rừng. Trong chùa hay tin tới xin xác về chôn tại trong hang ông ở, lấy lại cái đầu phơi khô đem thờ trong chùa, sau bị đánh cắp mất. Ngôi chùa này trước có tên là Long Nhan điện”. Một di tích của thời cọp lộng hành Vũng Tàu năm xưa là miếu thờ thần Hổ, về sau này Hội điện sửa sang và xây cất lớn lên thành Điện thờ Ngũ hành và Quan Thánh. “Con đường mòn từ trên ngọn hải đăng đi xuống bãi Thùy Vân ngày xưa dây leo chằng chịt, cây cối rậm rạp rất khó đi, được dân sở tại đặt tên là đường mòn Ông Hổ”. * Cọp Bến Tre: Trên dải cù lao An Hóa (nay là đất Châu thành, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre), mãi đến năm 1902, địa phương chí tỉnh Mỹ Tho vẫn chép: “làng Tân Định... có rừng cọp, heo rừng, nai, chồn”, “làng Bình Đại dã thú lớn rất nhiều”, “làng Thới Thuận lắm cọp, heo rừng”... Viết về trấn Vĩnh Thanh của Nam bộ xưa thì: “Xứ này có nhiều sấu và cọp dữ, nhưng dân cư đã quen thường, nên không sợ hãi, tuy người bé và đàn bà cầm dao cắt cỏ và đòn xóc cũng bắt được cọp”. * Cọp Bạc Liêu - Cà Mau: Người dân nơi đây còn nhớ: Cà Mau lúc trước thấy mà ghê! Cọp U Minh bị người Pháp săn bắn Ở Cà Mau còn tương truyền “Cọp Cà Mau hàu Đá Bạc”. Năm 1898, một quan chức của Pháp khi báo cáo về thị xã Cà Mau vẫn nói: “sau mấy rặng bần, rặng cau quanh chợ là vùng đất thấp, về đêm nghe rõ từng bầy nai gọi nhau và cọp rống vang dội từng chặp”. Cọp qua chuyện kể Chuyện dân gian về cọp có nhiều hay ít tùy thuộc vào mật độ cư trú nhiều ít, tùy thuộc vào mức độ mà con người đối mặt với chúng. Những câu chuyện kể về cọp còn phản ánh những thái cực khác nhau trong tâm lý tình cảm của con người đối với loài này. Thái độ của người dân hồi đó đối với cọp cũng rất lạ. Với người lưu dân đi khai khẩn đất hoang lập làng ấp, phum, sóc, cọp là một kẻ thù nguy hiểm đáng sợ, vì thế để có được địa bàn sinh sống yên ổn để lao động sản xuất thì họ phải đánh bại cọp, chinh phục cọp, thuần hóa cọp; nhưng mặt khác họ vừa sợ hãi lại vừa tôn kính cọp. Cả hai điều ấy ghi nhận một hiện thực phức tạp trong tâm lý con người mở đất, vì thế trong những chuyện dân gian về cọp phản ánh những xu hướng hiện thực hoặc thần thánh hóa, nhân cách hóa cọp và cả những con người đánh cọp hoặc thuần hóa cọp. Chuyện đánh cọp, diệt cọp Bến Tre là xứ sở nổi tiếng lắm cọp, nhiều sấu. Việc đánh cọp, diệt sấu đã đi vào truyền thuyết dân gian phổ biến với mức độ đậm đặc nhất so với các địa phương khác ở Nam bộ. “Đến Bến Tre, từ vùng đất nhiễm mặn đến vùng nước ngọt, đâu đâu ta cũng có thể nghe kể chuyện về cọp, những giai thoại bắt cọp, diệt cọp đầy tính chất can trường và dũng cảm, những chuyện thuần hóa cọp để cưỡi đi chơi, đi ăn giỗ, từ chuyện Bà Mụ đỡ đẻ cho cọp đến chuyện “Nghĩa hổ” mang tính ngụ ngôn. Dù được người đời thêm thắt ít nhiều nhằm ly kỳ hóa sự việc, cái lõi của sự thật vẫn là: nơi đây đã có một thời không hiếm những loài thú dữ bốn chân... con người đã phải chống trả lại chúng vô cùng vất vả để tồn tại”. Chuyện về hai anh em Bảy Giao, Chín Quỳ lưu truyền khắp vùng Cồn Tàu (Bến Tre) và cả Mỹ Tho, Vĩnh Long. Chuyện kể: vùng Cồn Tàu lúc còn hoang vu, là giang sơn của một vị hung thần rất thiêng, có hai bộ hạ là hổ và lợn trấn giữ, ai muốn khai phá phải nộp mạng người. Hai anh em Bảy Giao và Chín Quỳ nghe tin đó liền đến đây xin được phá rừng và hẹn ba năm sau sẽ nộp mạng, thần đồng ý. Đến kỳ hạn nộp mạng, hai anh em nhờ thợ rèn, rèn cho hai côn sắt to, rồi quyết tử với hai bộ hạ của hung thần. Hai anh em giao đấu khá vất vả, cuối cùng cũng hạ được đối thủ. Từ đó thần hết thiêng, không còn đòi nạp mạng và dân làng đã đổ xô tới lập nghiệp ở Cồn Tàu. Chuyện hai thầy trò nhà sư Hồng Ân và Trí Năng: vào giữa ngày tết năm 1771, cọp từ rừng Sác, có lẽ từ phía Cần Giuộc kéo về chợ Tân Kiểng trên đường vào Chợ Lớn, bà con cấp báo cho quân sĩ ở đồn Dinh. Lúc bấy giờ có hai thầy trò nhà sư rất giỏi võ nghệ là sư Hồng Ân và Trí Năng xung phong dùng côn giết cọp. Mãnh thú bị hạ, nhưng sư Hồng Ân cũng bị thương rồi chết. Chuyện bà mụ Trời đỡ đẻ cho vợ cọp, được chúng trả ơn... Chuyện “hổ có nghĩa” như thế này hầu như có ở khắp nước ta, như ở huyện Đông Triều là chuyện bà đỡ Trần. Dân gian kể, hổ đực đền ơn cho bà cục bạc, về nhà cân được hơn 10 lạng. Chuyện “hổ mắc xương” cũng được kể ở phía Bắc, người cứu hổ là một ông tiều phu ở huyện Lạng Giang, khi ông mất hổ vẫn mang da lợn đến cúng trước mồ. Ngoài những chuyện kể về người đánh cọp - những bậc tiền hiền khai quốc, hậu hiền khai cơ, những người có công khai phá và bảo vệ thành quả lao động, bảo vệ cuộc sống nói chung - là những câu chuyện kể về người thật việc thật có tính chất ký sự; còn dạng tồn tại nữa là những địa danh dân gian liên quan đến cọp. Địa danh gắn với cọp Dấu ấn cọp còn để lại qua nhiều địa danh, những địa danh này được hình thành trên cơ sở những sự kiện có thật ở địa phương, gắn bó hữu cơ với quá trình khai khẩn đất đai và tạo lập làng xã. - Tổng Ăn Thịt ở vùng Cần Giờ, nơi cọp hay ăn thịt người, phải nói gọn lại vì kiêng cử là An Thịt. - Đìa Cứt Cọp ở huyện Giồng Trôm, tương truyền ngày xưa ở đây có nhiều cọp, chúng tụ tập săn mồi, phóng uế bừa bãi. Do vậy mà dân gian gọi đìa này là Đìa Cứt Cọp. - Địa danh mang tên Đồn Cọp ở huyện Chợ Lách (Bến Tre), được kể như sau: nơi đây trước kia cọp thường về phá hoại, dân chúng tổ chức lấy thân cau làm rào vây cọp lại, rồi báo cho tỉnh mang súng về bắn chết. Do vậy mà nơi đây có tên này. - Địa danh Mỏ Cày cũng được dân gian Bến Tre giải thích liên quan đến sự tích về cọp: ngày xưa ở đây có rất nhiều cọp, do đó khi đi làm, người dân phải mang theo mõ, để vừa cày vừa đánh mõ làm cho cọp sợ trốn không dám ra làm hại người. Do đó người ta gọi xứ này là Mỏ Cày (chữ mõ biến thành Mỏ). Ở Bến Tre còn có những địa danh như Giồng Ông Hổ, Giồng Rọ (một loại bẫy cọp), bưng Hai Hổ, miếu Ông Hổ... - Ở Sa Đéc còn tên đất gọi là Hổ Cứ. - Bãi Hoàng Dung (ở phía tây bắc hạ lưu sông Hậu), do ở đây có nhiều cọp nên dân gian cũng gọi nơi này là Hổ Châu (cù lao Ông Hổ). Đây cũng là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng (xã Mỹ Hòa Hưng - thuộc thành phố Long Xuyên), hiện nay có Đền thờ Bác Tôn ở đây và là nơi du lịch của An Giang. - Đồi Ngũ Hổ ở Hà Tiên, hình dạng như dáng cọp ngồi khum lưng cúi đầu, biểu tượng phong cách hổ phục là vị thế “tượng chầu hổ phục” - chỉ nơi có hệ thống phòng thủ thiên nhiên kiên cố, chính là nơi cứ điểm trọng yếu. Thờ cọp Ở Nam bộ còn có dạng tồn tại khác về cọp là miếu thờ cọp. Phần lớn các đình làng ở Nam bộ đều có miếu thờ, tượng thờ ông Hổ. Miếu thờ ông Hổ (Long An) “Ở Long An cọp được thờ ở đình làng như một vị thần, cọp thờ ở Long An là biểu thị một sức mạnh thiên nhiên có thể hại người mà cũng có thể giúp người, cụ thể hóa thành con thú có vằn đen xưa kia sống quanh xóm làng”. - Đình làng Quới Sơn (Châu Thành, Bến Tre) còn thờ cả cái sọ cọp. - Miễu thờ Cọp Bạch (ở trại ruộng Phước Điền - xã Thới Sơn - huyện Tịnh Biên - An Giang) là một ngôi miếu thờ Sơn quân thường thấy ở đình làng Nam bộ. Tuy nhiên, việc thờ cọp bạch ở đây gắn liền với công đức của Phật Thầy Tây An và ông Tăng Chủ Bùi Thiền Sư (người được Phật Thầy Tây An giao cho coi sóc trại ruộng Thới Sơn - đất hương hỏa của chùa Tây An). - Đình Ông Hổ (ở xóm 1, Cửa Lấp, xã Dương Tơ, huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang), theo lời truyền khẩu, có mấy ông hổ thường bơi vượt biển qua đảo Phú Quốc để tìm mồi. Một hôm có một ông bơi qua biển, bị cá mập táp cụt mất một chân, nên ở luôn tại Phú Quốc, từ đó rất hiền lành, không bắt gia súc, gia cầm hay hại dân làng. Dân chúng cho rằng cọp đã tu, nên lập đình để thờ. Tất cả dạng chuyện kể về cọp nêu trên đã cung cấp cho chúng ta những nhận thức về lịch sử của buổi ban đầu khai sơn phá thạch vùng đất Nam bộ - công cuộc chinh phục thiên nhiên đầy gian lao nguy hiểm, cùng với phong tục tập quán của người dân trên vùng đất mới. Nhưng điều quan trọng hơn hết là nó đã giúp chúng ta hiểu được những bí ẩn trong tình cảm và tâm hồn của người dân ở đây; một mặt họ vừa sợ vừa kiêng nể cọp và phải thờ cọp làm “sơn quân chi thần” và mặt khác là phải đánh cọp để tự vệ, để bảo vệ cuộc sống. Rõ ràng, trong thực tế ở vùng đất mới, yêu cầu bảo vệ cuộc sống, phát triển sản xuất và mở rộng địa bàn lân - ấp - làng - xã là rất bức thiết; việc đánh cọp, giết sấu là việc to lớn của thời kỳ đó. Đó là những việc làm và những thành tích của tập thể mà nổi bật là những cá nhân xuất sắc đại biểu cho lòng can đảm và ý chí chiến thắng của người dân Nam bộ và nó trở thành những truyền thuyết phổ biến sâu rộng và bền bỉ trong ký ức người dân. Bức tranh cọp ở chùa Như Lai, Tây Ninh Hình tượng và biểu tượng cọp Đối với cư dân Nam bộ thời xa xưa, cọp không có nghĩa dữ dằn mà chỉ là con vật hiền lành như mọi thú nuôi khác, cọp gần gũi với người nông dân, nên đồng dao có câu: “Cọp rừng Sác moi ốc bắt cua Cọp ngoài đời trở thành con vật gần gũi, qua hình tượng nghệ thuật, cọp còn mang cả yếu tố tâm linh, được thần thánh hóa, vẽ thành tranh thờ cúng. Đối với nhân dân miền Nam, cọp trong ký ức của họ tuy kinh khủng nhưng chỉ tồn tại trong ký ức xa xưa, còn trong tình cảm cọp vẫn có sự gần gũi, thân thương như chính sự gắn bó giữa thiên nhiên với con người. Cọp vẫn mãi là hình tượng đẹp để trang trí, để tôn thờ, để ngợi ca về sự dũng mãnh, về sức mạnh kiêu hùng... Trí Quang- tổng hợp NĂM CANH DẦN: BÀN VỀ NGƯỜI TUỔI HỔ Nguồn: tet.vietnamnet.vn Người phương Đông cho rằng: Hổ biểu hiện cho sức mạnh, quyền lực, nhiệt tình và dũng cảm. Người tuổi Hổ thường là người thích cách mạng, dễ gây chú ý với người khác và luôn có gì đó khó hiểu. Người tuổi Hổ được kính trọng và không có ít người sợ họ giống như sự cọp. Nhà có người tuổi Hổ thường giúp gia đình họ tránh được tai nạn như: lửa, trộm cắp và ma quỷ. Nếu bạn quen được tính cách "Hổ vồ" của họ thì bạn sẽ thật may mắn khi có họ bên mình. Người tuổi Hổ có sức lôi cuốn về sức sống và tính lạc quan, họ có thể khơi dậy nhiều cảm tình giữa đám đông và phá bỏ được sự lạnh nhạt nếu có. Người tuổi Hổ thường say sưa không biết mệt mỏi nên họ có cái gì đó như là "thô lỗ" vậy, họ thường hành động rất nhanh và bạo liệt, bản tính họ hoài nghi, bất định nên quyết định nhiều khi có phần chưa chín muồi, họ thường không tin ở người khác, cũng khó che dấu tình cảm của mình, nhưng người tuổi Hổ lại là người trung thực, ân tình và khảng khái, nên thường là người có lòng trắc ẩn sâu sắc. Bề ngoài có vẻ cứng rắn nhưng họ luôn là người nhân từ, yêu thương con trẻ, động vật hoặc thích một vật gì đó gợi cho họ những hoang tưởng xa vời, khi họ đã chú ý một việc gì thì mọi thứ khác đều không làm họ chú ý tới, thậm chí không thay đổi cả tư thế của mình nữa. Khi họ làm việc gì đó thường tập trung toàn bộ tinh lực của mình để hoàn thành công việc. Người tuổi Hổ tính tình phóng khoáng, tính cách này ở một số người cho đến già cũng không thay đổi. Họ thích tỏ rõ bản lĩnh của mình, thường có thái độ coi thường, mỉa mai thậm chí chửi rủa những thứ mà họ không thích, nhất là đối với những ràng buộc và tập tục của xã hội. Nếu nói đó là khuyết điểm của họ thì đúng vậy, nhưng khuyết điểm này lại được hầu hết mọi người ngưỡng mộ! Nhiều người chê tuổi Hổ "lỗ mãng" nhưng lại bị hấp dẫn bởi tính cách ấy. Khi người tuổi Hổ buồn rầu, họ cần sự đồng tình của người xung quanh nhưng đó là sự đồng tình chân thực và tròn đầy, họ không thích hời hợt, hay an ủi vỗ về như với em nhỏ. Khi họ buồn, không thể nói tình lý, logic gì với họ, càng không cần phân tích sai đúng, mà cần chỉ cho họ con đường đi sắp tới bằng lòng chân thành và trí tuệ của bạn. Khi họ nhận ra họ sẽ làm theo đúng từng lời chỉ dẫn của người khuyên họ. Khi người tuổi Hổ cáu giận, hãy để mặc cho họ gào thét đến khản cổ, lạc giọng, đến khi xả hết, họ sẽ tự nhìn lại mình và làm lành với bạn. Nếu thỏa thuận công việc với họ, bạn cần phải chốt vấn đề nhanh trước khi họ kịp cáu giận, khi bạn về rồi, họ sẽ làm đúng như thỏa thuận. Khi người tuổi Hổ bị đè bẹp bởi thất bại, bởi công kích và dày vò, họ sẽ tự bò dậy từ tả tơi và nhen nhóm lại ngọn lửa từ những đốm than rơi rớt, rồi sau đó họ biến thành người khác với sức mạnh tinh thần và tình cảm cao sâu hơn nhiều. Người phụ nữ tuổi Hổ là người đảm đang, họ có thể kết hợp tài tình giữa công việc gia đình và công tác xã hội, họ hoạt bát, vô tư giống như một con mèo nhỏ đáng yêu nên thường được mọi người đánh giá cao. Nhưng xin đừng bao giờ chế diễu phụ nữ tuổi Hổ, nếu không bạn sẽ được nếm những móng vuốt sắc của họ thường được giấu rất kín. Phụ nữ tuổi Hổ có khả năng diễn đạt tốt, phong cách tự do tự tại, thích thời trang, mỹ phẩm và ưa làm đẹp. Họ có thể buồn rầu lê thê vì một bộ cánh không vừa ý, họ thích chơi với con cái, biết kể chuyện và lắng nghe con mình, thường được con gần gũi, tin cậy, con của họ thường trội hơn con cái người khác về học hành, có lẽ là kết quả của "năng lượng" tình yêu của người mẹ tuổi Hổ dành cho con họ. Giống như Rồng và Gà, tuổi Hổ rất tự ái. Nếu lòng tự ái của họ bị tổn thương thì tiền bạc, quyền lợi hay danh vọng đều là thứ bỏ đi, khi gặp những bất trắc, trở ngại họ bỗng dưng trở nên xấu tính lạ lùng, và có thể biến thành kẻ báo thù đê tiện nhất, có thể làm bất cứ chuyện gì như đốt phá nhà cửa. Cái người tuổi Hổ không thể chịu đựng được là: Bị người khác khinh rẻ. Những người tuổi Hổ thành đạt là những người kết hợp nhuần nhuyễn tính thô lỗ và mềm mỏng quyết đoán. Nội tâm người tuổi Hổ thường rất lãng mạn nhưng tính chiếm hữu và ghen tuông của họ ghê gớm hơn người khác. Nếu là vợ - chồng hay bạn tình của họ bạn hãy chú ý cá tính này. Người tuổi Hổ chỉ sống yên ả khi còn nhỏ, khi lớn lên họ phải học cách khống chế tính thô bạo của mình, vì đó là tính xấu có thể hủy diệt họ. Khi thanh niên hay tráng niên, họ vùi đầu theo đuổi mộng tưởng của mình. Nếu không biết cách vứt bỏ những tham vọng thì khi về già, họ sẽ khó có những tháng ngày yên ả, hạnh phúc cuối đời, mà luôn bị dằn vặt bởi những hối hận, những nuối tiếc... Tóm lại: Người tuổi Hổ là người vui buồn thất thường, nhưng họ không cần ai thương hại, họ luôn tự tìm niềm vui của mình, đó là sự khám phá và đấu tranh không ngừng. Người tuổi Hổ ở với người tuổi Lợn rất tốt. Sự thành thật, đức tính tốt của người tuổi Lợn sẽ làm cho tính thô bạo của người tuổi Hổ dịu đi, khiến cho họ có một tâm trạng ổn định. Người tuổi Hổ có thể sống cùng với người tuổi Chó cũng rất tốt. Sự thực tế và đức tính trung thành của người tuổi Chó có thể hạn chế sự thô bạo và giúp cho tuổi Hổ cảnh giác hơn. Người tuổi Hổ có thể sống cùng người tuổi Chuột, Dê, Gà hoặc Hổ cũng dễ dàng, và người tuổi Hổ không bao giờ nghĩ đến chuyện gây hấn với cấp trên là người tuổi Trâu. Vì nếu đối địch với quyền lực ở tuổi Trâu, tuổi Hổ dễ lâm vào tử địa. Người tuổi Hổ cũng không nên làm bạn với người tuổi Rắn vì cả hai đều đa nghi ghê gớm. Người tuổi Rắn thường ôn hòa, lạnh lùng và nhát gan không thể chịu được sự ồn ào liều lĩnh của tuổi Hổ. Người tuổi Hổ cũng không nên làm bạn với người tuổi Khỉ. Họ là kẻ thù không lộ mặt và khó nắm bắt của nhau. Sự linh lợi nghịch ngợm của tuổi Khỉ thường gây cho tuổi Hổ bực mình, sự đối phó không ngừng nghỉ với tuổi Khỉ gây cho tuổi Hổ mệt mỏi và cáu kỉnh! Người tuổi Bính Dần: Hổ trong rừng (thuộc Hỏa) Thường học hành rất nhiều mà thành công không như ý, tính tình bất định, nói năng thẳng thắn, tính thật thà, đời nhàn nhã, hay lam hay làm, lợi về quan tước, gần người quyền quý, phụ nữ hiền lương, về già vẫn tinh tường lanh lợi. Người tuổi Mậu Dần: Hổ qua núi (thuộc Thổ) Người mạnh mẽ, bạo liệt, nóng lạnh thất thường, cần kiệm phát đạt sớm, tính lanh lợi thông minh, nếu biết giữ gìn và lễ độ trong đối xử thì càng già càng hạnh phúc và giàu có. Người tuổi Canh Dần: Hổ xuất sơn (thuộc Mộc) Vô tâm, tính tình thất thường, không tình cảm, giàu có nhưng không ổn định những năm đầu đời, về già của cải đầy nhà. Phụ nữ vượng phu ích tử Người tuổi Nhâm Dần: Hổ qua rừng (thuộc Kim) Là người tính tình thẳng thắn, mau mồm mau miệng, nam nữ đều phải lập gia đình muộn. Trẻ tuổi công việc không yên, càng già càng yên ổn, giàu có. Phụ nữ tuổi Nhâm Dần giữ được của, phát phúc. Người tuổi Giáp Dần: Hổ đứng (thuộc Thủy) Thành thật, gần người sang, gia đạo hưng thịnh bền vững, đủ ăn đủ mặc, của hết rồi có, cha mẹ có thể có tật, là người hiếu đế, vợ tuổi này quát được chồng, chồng tuổi này hay sợ vợ. Đời có nhiều thay đổi, con cái đề huề, sống lâu. NĂM CỌP ÐIỂM MẶT "CHÚA SƠN LÂM" Nguồn: tuoitre.com.vn Lịch của người Trung Hoa và ta theo thuyết thập nhị thần cầm tượng mà đặt cho mỗi năm một con vật tượng trưng cho năm đó. Như năm Tý là năm con Chuột, năm Sửu là năm con Trâu, năm Dần là năm con Cọp, năm Mão là năm con Mèo (Người Việt lấy con Mèo, còn người Trung Hoa thi lấy con Thỏ), năm Thìn là năm con Rồng, năm Tỵ là năm con Rắn, năm Ngọ là năm con Ngựa, năm Mùi là năm con Dê, năm Thân là năm con Khỉ, năm Dậu là năm con Gà, năm Tuất là năm con Chó, và năm Hợi là năm con Heo. Trong số 12 con vật tượng trưng cho 12 năm thì có một con thuộc loài cầm điểu (Dậu), 2 con thuộc loài bò sát (Thìn và Tỵ), 9 con còn lại thuộc loài hữu nhũ có xương sống. Năm 2010 là năm Canh Dần, tức năm con Cọp, vậy ta thử tìm hiểu về con vật đựơc tôn vinh là Chúa Sơn Lâm nầy. Các nhà sinh vật học đặt cho cọp tên khoa học là Panthera Tigris, còn người Việt ta đặt cho con thú nầy nhiều tên như Cọp, Hùm, Hổ, Kễnh, Con Khái, Ông Ba Mươi, Ông Thầy, Sơn Quân, Chúa Sơn Lâm. Cọp thuộc loài động vật có xương sống, lớp hữu nhũ, bộ ăn thịt, họ nhà mèo (miêu khoa hay cat family). Sinh vật hoc chia loài cọp ra làm bảy loại để dễ nghiên cứu là cọp Bengal, cọp Caspian, cọp Siberian, cọp Chinese, cọp Sumatran, cọp Javan và cọp Bali. Trong bảy loài cọp nầy thì loài cọp Bali có lẽ đã bị diệt chủng. Cọp là loài thú dữ, lớn con, chạy và phóng nhanh, có sức khỏe phi thường để săn mồi, thân mình dài từ 6 đến 9 feet (từ 1m80 đến 2m70), không kể cái đuôi dài khoảng 90cm, nặgn từ 500 đến 600 pounds (từ 250kgs đến 300kgs), cọp cái thường nhỏ con hơn cọp đực. Cọp có bộ lông vằn vện được tô điểm bởi ba màu đen, nâu và xám. Ðôi khi người ta cũng còn tìm thấy loài cọp với bộ lông toàn màu trắng mà người Việt gọi là bạch hổ hay loài cọp với bộ lông toàn màu đen ta gọi là hắc hổ. Mùa chịu đực của loài cọp thường từ tháng 12 đến tháng 3, cọp cái mỗi lứa sinh khoảng 2 hay 3 hoặc 4 cọp con. Loài cọp không theo chế độ đa thê như sư tử, chi sống một vợ, một chồng chung tình, chung thủy cho đến ngày "đầu bạc răng long". Loài cọp cũng có cuộc sống tình cảm rất là nồng nàn, âu yếm. Chàng và nàng cũng vuốt ve, mơn trớn nhau, liếm lông, liếm bụng nhau, dụi mắt nhau, vờn nhau đủ kiểu gợi tình, gợi cảm, rất lãng mạn. Khi nàng có bầu chàng đóng vai "người hùng" luôn luôn săn sóc, bảo vệ nàng, đi đây đi đó tìm hang động rộng rãi, an toàn để cho người đẹp ở cữ. Cọp cái có bầu khoảng 150 ngày thì khai hoa nở nhụy, lúc nầy cọp cái trở nên dữ tợn, không cho chồng lại gần, không phải nàng mắc cỡ vì có bầu mà nàng sợ chồng nàng nổi "lòng lang dạ thú" ăn thịt con của nàng. Cọp cái không bao giờ ăn thịt con mà trái lại bảo vệ con, thể hiện tình mẫu tử cao độ. Ai mà muốn làm hại con nàng, trước hết phải "bước qua xác chết của nàng". Sinh khoảng hai tuần lễ thì cọp con mở mắt, cọp mẹ nuôi nấng, săn sóc con cho đến khoảng hai năm. Trong suốt khoảng thời gian nầy cọp mẹ huấn luyện và truyền những kinh nghiệm săn bắt mồi cho đám cọp con. Khoảng hai tuổi thì cọp con khôn lớn, có vóc dáng bằng mẹ và có đủ kinh nghiệm nên giã từ mẹ để sống cuộc đời tự lập. Sau khi đàn con giã từ, cọp bố và cọp mẹ lại ngấp nghé tính chuyện "Tái hồi Kim Trọng" rồi mang bầu, rồi sinh lứa khác. Theo các nhà sinh vật học thì tuổi thọ của loài cọp là khoảng 25 năm. Các loài thú thuộc họ nhà cọp gồm có sư tử, sư tử núi, beo, báo, mèo rừng, mèo nuôi ở nhà (lion, mountain lion, leopard, cheetah, jagua, puma, cougar, lynx, cat). Trước kia loài cọp sống rất nhiều trên quả địa cầu, vào tiền bán thế kỷ thứ 19, nội nước Ấn Ðộ có đến khoảng 40.000 con cọp nhưng đến ngày nay loài cọp bị giảm dần đến mức các nhà sinh vật học phải báo động về nguy cơ diệt chủng của loài thú nầy. Theo thống kê, hiện nay ở Ấn Ðộ chỉ còn khoảng 2.500 đến 3.700 con, ở Việt Nam ta chỉ còn khoảng từ 200 đến 300 con, ở Cao Miên chỉ còn khoảng từ 100 đến 200 con, Thái Lan còn khoảng từ 250 đến 600 con và Trung Hoa còn khoảng từ 20 đến 30 con. Loài cọp thường bị loài người săn bắt để bán cho các sở thú, các gánh xiệc hay bán cho các tư nhân hoặc săn bắt để lấy bộ da. Riêng người Trung Hoa và một số người Á Châu chủ đích săn cọp để lấy bộ da, còn các bộ phận khác dùng để chế dược liệu. Ngoài ra, các bậc quyền quý, vương giả, những người giàu có cũng thường săn cọp như một trò giải trí. Có một nhà quyền quý nọ, trong suốt cuộc đời của ông ta, ông đã săn được 1.100 con cọp.. Ngày nay, trước mối đe dọa diệt chủng của loài cọp nên một số quốc gia trên thế giới ra đạo luật cấm săn cọp, nếu vi phạm sẽ bị trừng phạt nặng nề. Ở Trung Hoa và Việt Nam, cọp đã đi vào đời sống dân gian nên ta thường nghe nhắc đến cọp từ dược liệu, truyện cổ tích, truyện dã sử, truyện truyền kỳ, lịch sử cho đến văn chương, ca dao, tục ngữ ...v...v. Về dược liệu, y học đông phương thường dùng ba dược liệu chính là thực vật, khoáng vật và động vật. Các y sĩ đông phương dùng rất nhiều động vật vào việc trị liệu như rắn, kỳ nhông, ve sầu, mật ong, mật gấu, mai mực, nhím, chim bìm bịp... Tuy nhiên, ít có con vật nào mà hầu hết các bộ phận trong cơ thể lại được dùng làm dược liệu như con hổ, ngoài hổ cốt (xương hổ) mà người ta dùng dưới hai hình thức "tinh hổ cốt" (xương chưa chế biến) và "hổ cốt giao" (cao hổ cốt) rất thông dụng. Các y sĩ đông phương còn dùng "hổ nhục" (thịt hổ) để trị bệnh phong thấp, bệnh nhức mỏi và bổ khí lực; còn "hổ đồ" (dạ dày hổ) thì được dùng để trị bệnh ói mửa; "hổ huyết" (máu hổ) dùng tăng cường sinh lực; "hổ nha" (răng hổ) mài với sữa để bôi vào các vết lở, ngứa hoặc vết thương chó cắn; "hổ trảo" (vuốt hổ) được bịt vàng, bịt bạc để cho trẻ con đeo trừ gió độc và tà ma; "hổ tinh" (mắt hổ) được dùng để trị bệnh cuồng trí, loạn trí; "hổ thận" (thận hổ) trị chứng tràng nhạc; "hổ bì" (da hổ) dùng để cho người bệnh nằm lên trị tà khí, an định tâm thần; "hổ tị" (mũi hổ) dùng trị bệnh kinh phong; "hổ chi" (mỡ hổ) dùng để thoa bóp các vết bầm, trị bệnh ghẻ lở lói, trị bệnh tê bại, trị bệnh trĩ, trị vết chó cắn hay trị bệnh sói tóc; "hổ đàm" (mặt hổ) dùng để trị bệnh đau nhức, xoa bóp các vết thương, trị kinh phong, trị tâm thần bất an; "hổ thỉ" (phân hổ) được dùng để trị bệnh ghẻ lở. Còn "hổ tu" (râu hổ) được dùng để trị đau nhức răng. Về râu hổ, người ta đồn rằng đem râu hổ cắm trên măng tre sẽ sinh ra một loài sâu cực độc, rồi dùng loài sâu nầy hoặc phân của nó làm thuốc độc để đầu độc kẻ thù. Sau dược liệu, ta thử đọc qua truyện Tàu liên quan đến hổ. Về đời Tam Quốc, khi Lưu Bị lên ngôi, ông có sắc phong cho 5 viên kiện tướng là Quan Công, Trương Phi, Triệu Vân, Mã Siêu và Hoàng Trung là "Ngũ Hổ Ðại Tướng Quân". Tuy nhiên, khi sắc phong mang đến dinh Quan Công thì Quan Công không chịu nhận, lấy cớ rằng trong "ngũ hổ" có Hoàng Trung không xứng đáng. Nguyên Hoàng Trung là một lão tướng trước theo giúp Hàn Huyền và đã bị Quan Công đánh bại. Sứ giả phải giảng giải mãi Quan Công mới chịu nhận. Rồi khi Quan Công trấn thủ ở Kinh Châu, Ngô chủ là Tôn Quyền cho người sang cầu thân xin Quan Công gả con gái cho con trai của Tôn Quyền. Quan Công không chịu gả mà còn mắng rằng: "Con ta là cọp lẽ nào lại gả cho chó bao giờ". Câu trả lời đó là một trong những nguyên nhân đưa đến việc Kinh Châu bị thất thủ và Quan Công tử trận. Sau này Lưu Bị khởi binh đánh Ðông Ngô để báo thù cho Quan Công và Trương Phi, lúc chọn người lãnh ấn tiên phong thì có hai viên tướng trẻ hăng hái ra xin lãnh ấn. Hai viên tướng trẻ nầy đều tinh thông võ nghệ, giỏi tài cung kiếm. Khi thi bắn thì cả hai đều xuất sắc, người bắn trúng hồng tâm, kẻ bắn trúng con nhạn đang bay trên trời. Hai viên tướng trẻ nầy là Quan Hưng, con của Quan Công và Trương Báo, con của Trương Phi. Lưu Bị thấy tài của hai người đã khen rằng: "Thật là hổ phụ sinh hổ tử". Cũng truyện Tàu, trong Thủy Hử có một tay võ lâm của Lương Sơn Bạc là Võ Tòng. Ta có một vở tuồng "Võ Tòng Sát Tẩu", kể chuyện Võ Tòng giết chết người chị dâu bất nghĩa, lăng loàn. Sau khi giết chết chị dâu, sợ tội giết người nên Võ Tòng phải chạy trốn vào rừng. Khi đến núi Cảnh Ðường, Võ Tòng bị một con hổ dữ nhảy ra vồ nhưng với võ công thâm hậu, Võ Tòng đã cầm cự với con hổ quyết liệt và sau cùng đánh chết được con hổ, cấu thành chuyện "Võ Tòng Ðả Hổ". Truyên Tàu còn có Tiết Nhân Quý, một danh tướng đời Ðường, cầm tinh bạch hổ. Nhiều khi ông ngủ tướng binh hiện về, quân hầu vô trướng phục dịch chẳng thấy chủ tướng đâu, chỉ thấy một con bạch hổ lù lù nằm trên giường. Cũng vì vậy nên con trai của Tiết Nhân Quý là Tiết Ðinh San giương cung bắn cọp mà không biết đó là cha ruột của mình. Tiết Nhân Quý chết dưới mũi tên của Tiết Ðinh San cắm trên thi thể. Trở lại Việt Nam ta, về chuyện cổ tích thì ta có "Chú Cuội Ngồi Gốc Cây Ða" ở cung trăng cũng liên quan đến cọp. Chuyện kể rằng một hôm chú Cuội, một chàng trai tinh nghịch vác búa vào rừng đốn củi. Khi đi ngang qua cái hang đá tình cờ thấy mấy cọp con đang ngủ, vốn tính tinh nghịch chú bèn lấy búa đập chết đàn cọp con. Ngay lúc ấy bỗng nghe tiếng cọp mẹ gầm vang, Cuội ta lanh chân leo tuốt lên ngọn cây ẩn trốn. Cọp mẹ về hang thấy cọp con chết hết nên giận dữ gầm thét chấn động cả rừng thẩm âm u rồi chạy đến cây đa thấp gần đó cắn một mớ lá về nhai nhỏ ra vừa đắp lên vết thương vừa mớm cho mấy con cọp con ăn. Kỳ diệu thay, chỉ giây lát cả đàn cọp con sống lại khỏe mạnh như thường. Bị động ổ, cọp mẹ bèn dẫn đàn cọp con tìm nơi khác kín đáo, an toàn hơn. Sau khi cọp mẹ dẫn cọp con đi xa chú Cuội liền tuột xuống đất, sẵn búa đào ngay cây đa thần dược đem về trồng. Có cây đa thần dược hồi sinh ấy nên chú Cuội đã cứu sống nhiều người trong vùng. Nhưng một hôm nọ vợ Cuội đang làm việc đồng áng cạnh cây đa, vô tình đi tiểu dưới gốc cây đa thần. Vì bị ô uế nên cây đa thần tự trốc gốc bay bổng lên trời. Chú Cuội đang làm việc cạnh đấy nhìn thấy hốt hoảng chạy đến cố níu cây đa thần lại nhưng cây đa cứ bay bổng mang theo cả chú Cuội lên cung trăng. Thế là từ đấy, cứ đến đêm rằm sáng trăng nhìn lên Cung Quảng ta thấy bóng chú Cuội ngồi dưới gốc cây đa. Nhân chuyện cổ tích nầy, nhà thơ trào phúng Trần Tế Xương có làm bốn câu thơ hài hước như sau: Tôi có nghe người ta nói rằng. Lại chuyện cổ tích khác cũng liên quan đến cọp mà ta đã học trong sách "Quốc Văn Giáo Khoa Thư" của chương trình tiểu học trước đây. Chuyện như sau: Một bữa nọ, ở ngoài cánh đồng bên sườn núi, bác nông phu đang thúc trâu cày ruộng thì có một chú cọp đi ngang qua tỏ vẻ ngạc nhiên nên hỏi bác nông phu rằng: - Tại sao con trâu to lớn như thế mà chịu để cho bác sai khiến dễ dàng như vậy?" Nóng lòng muốn xem trí khôn của loài người nên cọp bằng lòng ngay. Thế là sau khi trói cọp vào gốc cây bằng dây thừng, bác nông phu mới cầm roi đánh liên tu bất tận vào thân mình cọp, vừa đánh bác vừa nói "Trí khôn của loài người đây! Trí khôn của loài người đây!". Người Việt ta vốn giàu óc tưởng tượng nên cho rằng cọp bị đánh lằn ngang, lằn dọc bằng roi thành thử bộ lông cọp mới vằn vện như ngày nay. Còn về chuyện truyên kỳ, ta nghe kể chuyện "Thanh Ngưu Tướng Quân" có công giết hổ an dân. Chuyện được kể như sau: Trước kia trên con đường mòn Yên Bái đi Tuyên Quang từ huyện Trấn Yên đến châu Hàm Yên thường có cọp ra vồ người ăn thịt nên mỗi lúc có việc đi qua con đường nầy người ta tụ họp thành đám đông, đem theo nồi niêu đánh lên ầm ĩ để xua đuổi cọp mới dám đi. Hai bên đường có lập nhiều miếu thờ "Ông Ba Mươi" và khách đi đường thường dừng lại thắp nhang, van vái, cúng trái cây để đi đường được bình an. Tuy van vái nhưng đoàn người qua chặng đường nầy thỉnh thoảng cũng bị cọp tấn công. Rồi chợt xuất hiện một thanh niên khỏe mạnh, võ công cao cường, mỗi lúc có cọp bên đường nhảy ra vồ người thì chàng thanh niên ấy rất lanh lẹ xông tới xáp chiến với cọp và cuối cùng cọp phải thua bỏ chạy, người thanh niên ấy cũng vụt biến mất vào rừng. Yên được một thời gian, ngày kia người ta lại thấy một con hổ thành tinh rất dữ tợn từ đâu phóng tới tấn công đoàn người đi đường và người thanh niên kia cũng bất thần xuất hiện. Lần nầy, hai bên chiến đấu rất gay go mà vẫn bất phân thắng bại. Cuối cùng người thanh niên kia biến thành một con trâu xanh to lớn, dùng sừng nhọn đâm, húc tới tấp khiến con cọp thành tinh bị thương nặng gầm lên những tiếng đau đớn rồi bỏ chạy tuốt vô rừng thẳm. Tục truyền, người thanh niên kỳ lạ ấy là "Thần Trâu Xanh" hay "Thanh Ngưu Tướng Quân" theo pháp lệnh của Ðức Phật Quan Âm xuất hiện đánh đuổi cọp dữ để cứu thế an dân. Cũng chuyện truyền kỳ, theo Ðại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6, đời vua Gia Long có chép rằng tại làng Xuân Sơn, quận Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi thường xuất hiện một con bạch hổ chuyên cứu giúp dân chúng của làng nầy bằng cách bạch hổ đánh đuổi người Thượng thường xuống quấy phá dân làng hoặc đánh đuổi những con hổ khác về làng bắt trâu, bò hay bắt người ăn thịt. Con bạch hổ nầy tục gọi là Kha Hổ và được bầu làm "Ông Cả" trong thôn. Khi Kha Hổ chết, dân làng có lập đền thờ, hàng năm tổ chức cúng tế bằng đầu heo hoặc đầu bò. Về chuyện truyền kỳ liên quan đến cọp còn rất nhiều, nào là chuyện vua Lý Trần Tông hóa thành cọp vào năm Thiên Chương Bảo Tự thứ tư, nào là chuyện Thái sư Lê Văn Tịnh hóa cọp, nào là chuyện Bà Chúa Ba, tức Phật Bà Nam Hải Quan Thế Âm (Chùa Hương có thờ vị Phật nầy), con vua Trang Vương, khi bị vua cha ép duyên đã được một con cọp cõng chạy vào động Hương Tích, nào là chuyện cọp trả ơn người cứu sống bằng cách bắt dã thú mang về trước cửa nhà để đền ơn...vân...vân... Bước qua lịch sử nước nhà liên quan đến cọp thì ta có liệt sĩ lừng danh Hoàng Hoa Thám, được tôn xưng là "Hùm Thiêng Yên Thế". Liệt sĩ họ Hoàng, tục danh là Ðề Thám lập chiến khu chống Pháp xâm lăng trên miền núi rừng Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang, Bắc Việt. Trong gần 30 năm, từ năm 1886 đến năm 1914, cụ Hoàng Hoa Thám chiêu mộ hào kiệt, huấn luyện binh sĩ, tích trữ lương thực, khí giới chờ ngày cử hành đại sự. Nhưng tiếc thay "Muôn sự tại nhân, thành sự tại thiên" cũng như vận nước chưa thông, anh hùng mạt lộ, liệt sĩ bị một người bạn thân gốc Tàu là Lương Tam Kỳ vì tiền thưởng mà phản trắc, chỉ điểm cho bọn tay sai của Pháp nửa đêm lẻn vào chiến khu ám sát họ Hoàng khi đang ngủ. Ngày đau thương ấy là ngày 18 tháng 3 năm 1913, kết liễu cuộc đời ngang dọc, oanh liệt của vị anh hùng dân tộc Hoàng Hoa Thám mệnh danh "Hùm Thiêng Yên Thế", để lại cho các thế hệ sau tấm gương sáng ngời về tinh thần bất khuất, lòng yêu nước thiết tha, đem cả cuộc đời hiến dâng cho Tổ Quốc. Cũng là hùm nhưng "Hùm Thiêng Yên Thế" được nhân dân và lịch sử yêu mến, kính trọng bao nhiêu thì "Hùm Xám Cai Lậy" lại bị đồng bào và lịch sử nguyền rủa, khinh bỉ bất nhiêu. Nguyên khi ông Nguyễn Văn Tâm giúp việc cho thực dân Pháp, được Pháp cử giữ chức quận trưởng Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho thì ông tỏ ra quá hăng hái để lập công với quan thầy Pháp bằng cách lùng bắt gắt gao các nhà cách mạng Việt Nam. Ai mà bị "Hùm Xám Cai Lậy" hỏi thăm sức khỏe thì không bị què quặt cũng bị ốm đau suốt đời đến nỗi "bác sĩ phải chê" vì những màn tra tấn cực kỳ hung bạo của ông ta. "Hùm Xám Cai Lậy" đã quên câu tục ngữ "Hùm chết để da, người ta chết để tiếng" mà người Trung Hoa cũng có câu tương tự "Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh" Về văn chương, các văn nhân, thi sĩ mượn cọp để tượng trưng cho sự dũng mãnh, oai phong. Các vị tướng đánh giặc giỏi, hùng dũng được gọi là "hổ tướng" cho nên khi tả Từ Hải, cụ Nguyễn Du đã viết: Râu hùm, hàm én, mày ngài, Và khi Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến lừa bất thần tấn công, Từ Hải quyết chiến đến hơi thở cuối cùng thì Nguyễn Du đã so sánh Từ Hải với con cọp lúc sa cơ: Ðang khi bất ý chẳng ngờ, Còn nữ sĩ Hồ Xuân Hương, cũng một nhà thơ trào phúng với những bài thơ "lời tục, ý thanh" cũng có nói đến hùm trong thơ của bà. Người ta kể rằng bà có dựng lên một cái quán nước, buôn bán theo kiểu văn nghệ để có cơ hội tiếp xúc với giới văn nhân thi sĩ, đồng thời để...kén chồng. Một trong những người thường lui tới và chiếm được cảm tình của nữ sĩ là ông Phạm Ðình Hổ, tục gọi Chiêu Hổ. Cả hai đều mang bản tính phóng khoáng và ưa đùa, cho nên đùa lâu trai gái như rơm gần lửa thì bén. Một hôm cả hai đang ngồi bên bờ hồ ngắm cảnh, ngâm vịnh. Trước phong cảnh hữu tình, không biết ông Chiêu Hổ nổi hứng, "tay chân táy máy" thế nào khiến nữ sĩ nghiêm mặt trách móc: Ông Chiêu Hổ hơi ngượng vì bị cự tuyệt, lại còn bị bà Hồ Xuân Hương lên lớp với giọng "đàn chị" song vẫn gượng đáp bằng bốn câu thơ cũng có chữ hùm: Nào ai tinh hay nào ai say, Và Thế Lữ, một nhà thơ tiền chiến, đã sáng tác bài "Nhớ Rừng", một bài thơ khá nổi tiếng tả tâm trạng của một con hổ sa cơ bị bắt bỏ vào vườn bách thú để cho loài người xem giải trí: Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt, Qua đến văn xuôi, bàng bạc trong văn chương ta cũng thấy nhắc nhiều đến cọp như nhà văn tiền chiến Ðái Ðức Tuấn với bút hiệu Tchya (viết tắt của các chữ "Tôi Chưa Hề Yêu Ai" nhưng một vài bạn bè của ông cho biết Tchya là viết tắt của các chữ "Tôi Chỉ Yêu Angel" vì ông có yêu say đắm một cô gái người Pháp rất đẹp, tên Angel. Nhà văn Ðái Ðức Tuấn mất ở Sài Gòn năm 1960). Tchya viết một chuyện về "Thần Hổ" đăng trên bán nguyệt san Phổ Thông trước đây. Câu chuyện truyền kỳ về một con hổ thọt đã được Tchya kể lại bằng một lối hành văn hấp dẫn, lâm ly, ly kỳ, rùng rợn đã thu hút rất nhiều độc giả. Lại thêm Lê Văn Trương, một nhà văn chuyên viết chuyện đường rừng cũng có nói về hổ không kém phần hấp dẫn và các sách của Lê Văn Trương bán chạy như tôm tươi vào thời đó. Ngoài ra, cọp cũng còn đi vào ca dao, tục ngữ của dân gian, về cao dao ta có "Gió đưa bụi chuối tùm lum. Mẹ anh như hùm ai dám làm dâu", "Cọp giết người cọp nằm ngủ. Người giết người thức đủ năm canh". Còn tục ngữ ta có " Cọp chết để da, người ta chết để tiếng", "Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh", "Họa hổ, họa bì, nan họa cốt. Tri nhân, tri diện, bất tri tâm", "Mãnh hổ nan địch quần hồ","Nam thực như hổ, nữ thực như miêu", "Hổ phụ sinh hổ tử", "Cọp Khánh Hòa, ma Bình Ðịnh", "Cọp dữ không ăn thịt con", "Dữ như cọp cái", "Namh hùm, nọc rắn","Hai cọp không sống một rừng", "Thả hổ về rừng", "Không vào hang cọp làm sao bắt được cọp con","Vuốt râu hùm", "Ðã lỡ leo lên lưng cọp", "Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm"... vân...vân... Ðể kết thúc bài Cọp của năm Dần, ngườii viết xin kể thêm chuyện "Bà Mụ Ðỡ Ðẻ Cho Cọp Cái" ở Cà Mau và "Cọp Nhà Bè". Cách nay hơn một trăm năm, Cà Mau, U Minh là những vùng hoang dã, rừng thiêng nước độc. trên rừng nhiều thú dữ như cọp, beo, heo rừng, trăn, rắn còn dưới sông rạch đầy cá sấu. Có một số người tiền phong đi khẩn hoang lập ấp đã bỏ mạng vì các loài thú dữ nầy, nhất là bị cọp vồ ăn thịt cho nên người ta cữ không dám dùng chữ cọp mà gọi tôn kính là "Ông Thầy". Vào thời đó, tại Rạch Bàn thưộc Cái Nước có một bà tên Trần Thị Hoa, ngoài việc ruộng rẫy để sinh sống bà còn làm nghề bà mụ để giúp các sản phụ trong xóm và các xóm lận cận nên được gọi là Bà Mụ Tư. Ở vùng nầy, sau khi mặt trời lặn là ai ở nhà nấy, cửa đóng then gài, sợ thú dữ. Rồi vào một đêm nọ, trong khi cả xóm đang ngủ yên bỗng giật mình thức giấc vì tiếng cọp gầm ở phía nhà Bà Mụ Tư. Dân trong xóm vội đốt đuốc, tay cầm dao mác, cung nõ, kẻ đánh mõ, người đập thùng thiếc để xua đuổi cọp loạn rừng vế quấy phá dân làng. Khi đến nhà Bà Mụ Tư thì thấy cửa bị phá sập, mở toang, chung quanh nhà đầy dấu chân cọp, mọi người đều yên trí Bà Mụ Tư đã bị cọp vồ nên chia nhau đi tìm nhưng không có kết quả. Về phần Bà Mụ Tư, đêm đó bà đang ngủ thì bỗng nghe tiếng cọp rống rồi cánh cửa bị mở tung, một con cọp nhảy đến cõng bà chạy tuốt vô rừng giữa đêm khuya. Cọp chỉ cõng bà thôi nên bà không bị thương tích chi cả song bà cũng bị điếng hồn, bủn rủn tay chân. Khi đến nơi cọp ở, cọp thả bà xuống, cạnh đó là một con cọp cái có bầu, bụng to đang nằm rên rỉ, vẻ đau đớn. Trong khi Bà Mụ Tư đang điếng hồn không biết phản ứng ra sao thì con cọp đực dùng mũi đẩy bà đến gần con cọp cái đang rên rỉ. Với sự thông minh tối thiểu, Bà Mụ Tư biết cọp muốn gì nên bà lấy lại tinh thần, xắn tay áo và với lương tâm của một bà mụ cùng với kinh nghiệm đỡ đẻ lâu năm, bà tận tình giúp cọp mẹ sinh được hai cọp con đều khỏe mạnh và cọp mẹ cũng tỏ vẻ bớt đau đớn. Khi công việc đỡ đẻ cho cọp hoàn tất thì trời cũng đã gần sáng. Xong xuôi, cọp đực bèn cõng Bà Mụ Tư trở về. Cọp không cõng bà về đến tận nhà mà chỉ thả bà xuống ở bìa rừng vì cọp sợ vào xóm sẽ làm náo loạn dân làng. Sau khi được cọp thả xuống, Bà Mụ Tư đi bộ về nhà, một vài người thấy bóng dáng bà từ bìa rừng đi vô xóm tưởng hồn ma của bà hiện về nên ai cũng sợ cho đến khi Bà Mụ Tư đến gần bằng xương, bằng thịt cả xóm túa ra hỏi han bà về chuyện bị cọp vồ mà không chết. Bà mới thuật lại câu chuyện đỡ đẻ cho cọp để mọi người nghe. Cách mấy ngày sau, sáng ra bà vừa mở cửa thì thấy một con heo rừng to lớn bị cọp vồ chết nằm chình ình trước nhà. Xóm làng được tin nầy đều bảo rằng đó là quà của "Ông Thầy" đền ơn bà mụ. Từ đấy, thỉnh thoảng cọp mang đến đền ơn bà khi thì con nai, khi thì con heo rừng, khi thì con mễn cho đến khi bà mãn phần mới thôi và cũng từ đấy dân trong xóm nầy sống bình an không còn bị cọp hay thú dữ về quấy phá. Cho đến nay đồng bào vùng Bạc Liêu - Cà Mau còn truyền tụng và có người viết thành sách về chuyện "Bà Mụ Ðỡ Ðẻ Cho Cọp Cái" nầy. Về "Cọp Nhà Bè", trước đây khoảng đời vua Duy Tân, có ông tên Trần Ðiềm, tục gọi là "Ông Hai Cọp", một người có võ nghệ, lấy vợ ở Nhà Bè và làm nghề đốn củi. Trong lúc đi đốn củi, ông Ðiềm tình cờ bắt được một con cọp con đem về nuôi và đặt tên cho nó là "Thằng Út", còn lối xóm gọi nó là "Thằng Út Cọp". Nó sống quen với gia đình ông Ðiềm nên rất hiền ngoan. Có một lần, khi Út Cọp còn nhỏ nó rượt gà của hàng xóm, ông Hai Ðiềm thấy được bèn kêu nó vô đánh cho mấy roi mây và từ đó Út Cọp sợ luôn không dám quấy phá chó, mèo, heo, gà, vịt của lối xóm nữa. Nó cũng biết tên của nó là "Thằng Út", mỗi lần ông Ðiềm hay người nhà gọi Út là nó chạy đến hoặc tới bữa cơm mà nó còn mãi mê chơi ở ngoài vườn hay bên hàng xóm, ông Ðiềm gọi "Út, về ăn cơm mầy" thì nó cũng biết, nó chạy về ăn cơm. Cọp là loài ăn thịt nhưng gia đình ông Ðiềm nghèo nên không có tiền mua thịt cho nó ăn, bữa ăn chỉ có cơm với cá mắm vậy mà Thằng Út vẫn vui vẻ ăn như thường và nó vẫn lớn lên khỏe mạnh như những con thú khác. Chỉ những khi nó theo cha là ông Ðiền lên rừng, trong khi ông Ðiềm đốn củi, nó đi săn may mắn bắt được dã thú thì bữa ăn mới có thịt mà thôi. Thường ông Ðiềm đi đâu nó cũng đi theo như cha với con, về phần ông Ðiềm cũng thương nó như con vậy. Ông Trần Ðiềm về sau tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp nên bị truy lùng gắt gao, ông phải trốn lên rừng ẩn náo, Thằng Út cũng theo cha lên rừng. trên rừng ông Ðiềm dựng một túp lều tranh vách lá để hai cha con ở, Út Cọp mỗi ngày đi săn thú rừng để nuôi cha. Nhưng rồi nơi ẩn trốn của ông Ðiềm và Thằng Út cũng bị phác giác. Một hôm Pháp đem quân đến bao vây nơi ông ẩn trốn và nổ súng khiến ông Ðiềm bị trúng đạn tử thương còn Thằng Út chạy thoát đươc. Thấy cha chết, Út Cọp kêu gào thảm thiết và từ đó mỗi năm đến ngày giỗ của ông Hai Ðiềm Thằng Út lẻn về thăm ngôi nhà tranh cũ có đem theo thú rừng để làm giỗ cha. Rồi chẳng may trong một lần về thăm nhà như thế có kẻ trông thấy bèn đi báo với chánh quyền Pháp để lãnh thưởng. Pháp đem một số vệ binh với súng ống đến bao vây ngôi nhà tranh, Út Cọp hết đường lẫn trốn bèn phóng mình ra thoát thân nhưng cũng không tránh được những phát đạn oan nghiệt. Thế là Út Cọp cũng ngã gục dưới lằn đạn của những kẻ mà nó chưa hề thù oán, kết liễu cuộc đời của một con hổ nặng tình hiếu nghĩa với loài người! Ngày Xuân góp nhặt dông dài," Kính chúc quí độc giả một năm Canh Dần Lê Thương NĂM DẦN KỂ CHUYỆN CỌP Ở THẤT SƠN Nguồn: thanhnien.com.vn “Thất Sơn huyền bí” là cụm từ mà nhân dân cả nước dùng để nói về những điều bí hiểm của một vùng đất biên thùy cực Nam vào những năm đầu thế kỷ 20 trở về trước. Đây là giang sơn của ác thú và bệnh tật hoành hành. Nhưng đó cũng là nơi các đạo sĩ, nhà sư đến tu tập hoặc hành thiện cứu đời, giúp nước trong ách thống trị của ngoại bang. Nhận xét về miền Thất Sơn, học giả Pháp P.Gourou đã viết trong quyển L’utilisation du sol en Indochine Francaise, rằng đây là một nơi độc đáo mà toàn cõi Nam kỳ không có địa thế nào giống như vậy. Đúng vậy, miền đất này thuở ấy là một nơi bí hiểm với nhiều chuyện ly kỳ nên người đời gọi là “Thất Sơn huyền bí”. Trong bối cảnh ấy, con người và ác thú, nhất là cọp, đã “gặp” nhau tạo nên những câu chuyện huyền thoại. Nhân năm Canh Dần, xin kể một vài chuyện ngày nay hiếm người biết, trước tiêu khiển, sau ngẫm nghĩ về việc “tương sanh” giữa con người và con thú. Thất Sơn còn được gọi là Bảy Núi, tên gọi rất quen thuộc với người địa phương và của cả nước. Theo cố bô lão Lương Văn Phụng thì Thất Sơn gồm 7 ngọn: núi Kéc (Anh Vũ Sơn), núi Giài Năm Giếng (Ngũ Hồ Sơn), núi Cấm (Thiên Cẩm Sơn), núi Tượng (Liên Hoa Sơn), núi Nước (Thủy Đài Sơn), núi Dài (Ngọa Long Sơn) và núi Tô (Phụng Hoàng Sơn). Còn trong tác phẩm Thất Sơn huyền bí, nhà văn Hồ Biểu Chánh cho rằng Thất Sơn gồm: núi Trà Sư, núi Kéc, núi Dài, núi Tượng, núi Bà Đội Om, núi Tô và núi Cấm. Đại Nam nhất thống chí thì ghi Thất Sơn là núi Tượng, núi Tô, núi Cấm, núi Ốc Nhâm, núi Nam Vi, núi Châm Biệt và núi Nhân Hòa. Cho nên nhà văn Sơn Nam trong quyển Danh thắng miền Nam bảo: “Con số bảy này không căn cứ vào thực tế, có thể đến hai mươi hoặc ba mươi ngọn núi to nhỏ, nhưng Bảy là dựa vào phong thủy”. Người địa phương thì coi Thất Sơn bắt đầu từ núi Kéc và chấm dứt tại núi Tô, trong địa phận hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (thuộc tỉnh An Giang ngày nay). Đó là một khu vực rộng mà tiền nhân đã ca ngợi: “Trước ba sông thêm rạng chí tang bồng Học giả Nguyễn Văn Hầu phác họa khung cảnh Thất Sơn vào lúc bấy giờ trong tác phẩm Nửa tháng trong miền Thất Sơn như sau: “Xa xa một vài sóc Thổ (*) mà mỗi sóc thì đâu lối năm bảy mái tranh, còn bao nhiêu là rừng. Cọp beo, rắn độc cùng với những muỗi mòng, con ve, con vắt cùng nhau ngự trị một giang sơn riêng. Vậy mà có người vận động quần chúng vào đây để khai hoang lập ấp”. Đó là Phật Thầy Tây An. Phật Thầy Tây An chính danh là Đoàn Minh Huyên, sinh năm Đinh Mão (1807) ở làng Tòng Sơn, tổng An Thạnh Thượng, tỉnh Sa Đéc. Sau thời gian hành thiện, bị Pháp bắt, không phát hiện “tội” gì nên chúng tha, ngài tìm đến núi Sam tu trong ngôi chùa của phái Lâm Tế. Đó là Tây An cổ tự ngày nay. Tại ngôi chùa này, ngài khai hoang mở trại ruộng cho bổn đạo vừa canh tác vừa tu tập vừa là cơ sở chống Pháp. Hoạt động năng nổ nhất trong việc mở ruộng lập làng tại mảnh đất này là hai đại đệ tử của Phật Thầy Tây An: cụ Đình Tây (Bùi Văn Tây) và cụ Tăng Chủ (Bùi Văn Thân, cũng gọi Bùi Thiền Sư). Trong khi cùng dân khai khẩn đất hoang, lập trại bên chân núi Kéc, đã có truyền thuyết về răn cọp dữ giữ yên trại ruộng của Bùi Thiền Sư. Ông Tăng Chủ là một người hình vóc to lớn dị thường, miệng rộng, tai dài, hai bàn tay buông thõng phủ gối, tay chân đầy lông, tiếng nói vang vang như sấm động nhưng tâm tính là một con người thuần hậu. Đặc biệt, ông là một người võ nghệ cao cường. Nguyễn Văn Hầu kể chuyện Bùi Thiền Sư với cọp trong tác phẩm Nửa tháng trong miền Thất Sơn, như sau: “Một lần cọp về xóm vào chập tối, người ta rút lên trên gác đóng cửa kín mít, đánh mõ tre báo động vang trời. Ông Tăng một mình cầm mác thong (**) trèo xuống thang rượt cọp. Dưới ánh trăng mờ, cọp nhào tới phủ lên mình ông Tăng. Ông lẹ làng ngồi xuống, một tay dựng đứng mác thong lên, một tay thủ thế chờ cọp rơi xuống. Cọp hoảng hốt khi gặp tọa bộ của ông Tăng cùng ánh sáng lấp lánh của ngọn mác thong, liền né sang một bên. Trong lúc cọp mất thăng bằng chao mình trên lưng chừng, thì ông Tăng đấm lẹ vào hông nó một quả đấm thôi sơn và thuận chân bồi thêm vào hạ bộ nó một miếng đá nặng đòn. Cọp rống lên một tiếng vang rừng rồi ngã lăn bất tỉnh. Ông Tăng không giết cọp, bước tới vực nó dậy, miệng lẩm bẩm: Cọp gằm mặt xuống đất, kéo la lết cái chân què vào rừng và từ đó không dám bén mảng đến xóm nữa”. Chuyện đánh cọp và thu phục cọp của Tăng Chủ đâu chỉ một lần, mà cả năm ba lần. Vì vậy mà những khi thấy bóng dáng ông thì chúa sơn lâm đều lủi nhanh, chạy thục mạng vào rừng sâu. Điều đáng quan tâm là những khi bị tai nạn như sập bẫy hoặc đau bệnh gì đó, bọn ác thú này cũng đều tìm đến ông để được chữa trị. Nguyễn Văn Hầu kể tiếp chuyện ông Tăng Chủ trong quyển sách nêu trên: “Ở tại đình Xuân Sơn, một hôm ông Tăng đi thăm ruộng về thì trời đã tối. Khi đến gần cửa, ông trông thấy bóng một con cọp nằm lù lù bên mé đường mòn. Thấy ông, nó đứng dậy há miệng, quào cổ rồi cúi đầu tỏ vẻ đau đớn lắm. Ông Tăng hiểu ý nó, bảo: - Mắc xương rồi đó chớ gì! Sao không tới đây sớm tao cứu cho mà để đến nỗi ốm o quá vậy? Thôi, nếu quả mắc xương thì ngay cổ ra. Cọp riu ríu vâng lời. Ông Tăng co tay ấn vào cổ nó một cái. Lập tức nó sặc lên mấy tiếng rồi khạc ra một thỏi xương lớn. Vài hôm sau, cọp cõng tới trước sân trại ruộng ông Tăng một con heo rừng vừa vật chết để đền ơn cứu mạng”. Thất Sơn còn là nơi khai phát đạo Bửu Sơn Kỳ Hương. Bửu Sơn hay Bảo Sơn là hai tên gọi khác của miền đất biên thùy này. Vì vậy Bửu Sơn Kỳ Hương có nghĩa là mùi thơm quý lạ giữa núi báu. Đạo này do cụ Ngô Lợi (Ngô Viện, Ngô Tư Lợi) sáng lập. Vì giữ “tứ ân”, trọng “hiếu nghĩa” là: ơn tổ tiên cha mẹ, ơn đất nước, ơn tam bảo, ơn đồng bào và nhân loại nên còn gọi là đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa. Ngoài tu tập, đạo này còn là một phong trào nghĩa quân kháng Pháp. Về cụ Ngô Lợi, có một vài chi tiết liên quan tới cọp như cụ sinh năm Canh Dần (1830) (tại Dội, gần biên giới Việt Nam - Campuchia). Cụ Ngô Lợi liên lạc với cụ Quản cơ Trần Văn Thành - một đại đệ tử của Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên và là một lãnh tụ kháng Pháp. Vì vậy mà nhà cầm quyền thực dân bí mật theo dõi, tìm bắt nhưng không hoàn thành kế hoạch. Là vị khai sáng đạo Bửu Sơn Kỳ Hương nên khi cụ Ngô Lợi viên tịch (vào năm Canh Dần, 1890) trong lúc không đau ốm gì, được bổn đạo suy tôn là Đức Bổn Sư. Tương truyền, di hài cụ được một mãnh hổ cõng vào giấu trong một hang núi, đặc biệt xác không có mùi hôi thối, chỉ dần khô lại. Đó chỉ là một vài chuyện của vô vàn chuyện về Thất Sơn huyền bí. * Thổ: Tên gọi đồng bào Khmer Nam Bộ lúc bấy giờ. Nguồn: sưu tầm “Tuổi dần con cọp gớm ghê, a.Tuổi dần thuộc tuổi dương. Ta có 5 tuổi dần là: Bính dần, Mậu dần, Canh dần, Nhâm dần, Giáp dần. trong 5 tuổi dần, thì tuổi Nhâm dần là được kể tốt nhất. Có câu: “ Trai đinh nhâm, gái quý giáp”. Tuổi dần lại không thể có tuổi Đinh dần nên kể Nhâm dần là tốt nhất. Các cụ vẽ hình con cọp Nhâm dần đều có viết chữ nhâm ngay trán. Trong chữ nho, chữ nhâm ghép với chữ nhơn thành chữ nhậm có nghĩa là gánh vác. Người có tài gánh vác gọi là trách nhậm. Nghĩa là có địa vị trong gia đình và xã hội; gánh nặng gọi là trọng nhậm. Trọng nhậm là có chức vị cao. Trước đây nước ta có một vị tổng thống sanh năm 1901, tuổi Nhâm dần. Tuổi nhâm dần nếu không khắc cha thì cũng sát vợ. Mồ côi sớm thì dễ phát hơn. Sát ba người vợ rồi thì có công danh cũng muộn. “Tuổi dần con cọp gớm ghê” mà, huống gì là tuổi nhâm dần. Người tin vào tướng số, sanh con trai vào năm Nhâm dần đem cho người ta hết. Không biết cho thiệt hay cho giả, nhưng nhất định từ nhà sanh không đem thẳng về nhà. Con gái tuổi dần khó lấy chồng. Người ta cưới dâu, không ai muốn rước con cọp cái vào nhà. Nhất là trong gia đình có người tuổi hợi, cầm tinh con heo. Nói sanh khắc, tuổi dần xung với các tuổi thân, tỵ, hợi. Hợp với các tuổi ngọ, tuất. b.Con cọp trong rừng: Nói đến con cọp trong rừng, người ta không thể không nhớ đến bài “Hổ nhớ rừng” của Thế Lữ. Con cọp của Thế Lữ bị người ta bắt nhốt vào chuồng cọp, làm sao quên được thời oanh liệt của mình. “…Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ, c.Cọp và heo rừng Mồi mà cọp thích nhất là heo, dĩ nhiên là heo rừng. Nhưng bắt được heo rừng không phải là dễ dàng. Heo rừng có nanh, nanh heo mọc dài ra có khuynh hướng cong vào mép, mất tác dụng chiến đấu. Heo rừng đem nại nanh vào gốc cây, kẻ đá; bẻ gãy chót nanh và mài bén như gươm. Heo dùng đầu đánh tạt ngang qua lại, cọp nhảy vào rất dễ bị tét “dái”. Nên muốn vồ heo rừng, cọp phải bụm dái, mất hết một tay. Thế bắt thú của cọp là móc họng. Nếu móc phạm vào mang tai, cọp sẽ bỏ, không ăn thịt. Thợ rừng nói con cọp họ “Phạm”, nên đã phạm thì đói cũng không ăn. Ngoài cách mài nanh để chống cọp, heo rừng còn lăn chai. Trong rừng có một loại cây gọi là cây chai, người ta lấy mủ nó để trét ghe. Chai hơ nóng thì chảy mềm loãng ra, nhưng khi khô lại thì cứng, nước không thấm qua được. Heo rừng lăn vào mủ chai, da được bọc một lớp cứng, móng cọp không thể móc lủng. Tiếp xúc sát như vậy mà không móc được họng heo, cọp không chết cũng bị thương vì nanh và sức đánh tạt ngang của đầu heo. Con heo nào đánh với con cọp? – Con đực chiếc. Heo ăn thành bầy, heo nái, heo con ăn bình thường. Heo đực canh gác, nghe hơi cọp, heo “hộc” lên, heo nái, heo con gôm vào giữa. Heo đực nhanh thủ xung quanh. Cọp đi chơi chỗ khác. Trường hợp đó, cọp tiếp cận từ phía dưới gió, may lắm bắt được một con heo lứa mê ăn, đi lạc. Heo di chuyển có tổ chức. Heo nanh đi dẫn đầu và cản hậu. Khoảng giữa, lẫn với đám heo nái, heo con, còn có đám đực già. Vả, heo nái rừng chiến đấu cũng kịch liệt lắm. Tuy vậy cũng có những con heo đi ăn lẻ bầy, đó là những con “đực chiếc”. Con đực chiếc không sợ cọp. Muốn đi ăn riêng, đực chiếc phải tập phản ứng rất nhanh khi bị cọp tập kích phía sau. Đực chiếc phải tập làm sao, lúc ỉa phải kịp quay lại đánh tan cứt mình, không để kịp rơi xuống đất. Thành thục 100% thế đánh đó, heo mới dám đi ăn lẻ bầy một mình. Vả, trường hợp bị tập kích heo mới dùng thế đó. Biết có cọp đến gần, heo ngồi lún xuống đất mềm, lúc đó heo ở thế đứng, có thể xoay bốn phía. Và dĩ nhiên là cọp không thể nhảy vào một lần mà móc họng được heo. d. Cọp và trâu Con thú dám đương đầu với cọp là con trâu. Trâu có sừng to dài, có sức mạnh. Nhưng cọp đói quá trở thành hung dữ dám rình bắt cả trâu. Khác với heo, bầy heo đi len lỏi theo gốc cây, bụi cỏ, đằng này trâu bầy đi cắt thành luồng. Nhứt là ở những vùng đầm lầy cỏ hoang, trâu đi lâu ngày luồng biến thành lạch, có lạch biến thành ngòi, rạch nước chảy thành dòng. Muốn bắt trâu, cọp bám chặt trên những nhành cây thấp chìa ra phía trên luồng trâu đi. Trâu đi cũng có tổ chức như heo, nghĩa là trâu cầm bầy đi đầu, tiếp theo là đực tơ. Đực già đi cuối, trâu cái, trâu già, trâu nghé đi giữa. Nghe hơi cọp, trâu ra sức, cả bầy chạy về phía trước. May lắm cọp vói tay móc họng được một con nghé con. Ở thế này, cọp dễ chết hoặc bị thương, vì trâu chạy mạnh quá mà cọp thì một tay ôm cứng vào cây, tay kia vươn vào cổ trâu nhiều khi bị sút móng, tét nách. Sút móng thì thành tật nguyền, tét nách thì phải chết. Dù sao thì cọp cũng là chúa sơn lâm, giống thú dù mạnh như trâu cũng sợ cọp. Có lần con trâu cầm bầy, tối rồi không về chuồng, người ta nghĩ rằng trâu đang phải đánh với cọp. Sáng hôm sau, tập trung một số thanh niên trong xóm vác “xà no” đi cứu trâu. Tới chiều không tìm thấy đâu, đám thanh niên la hét động rừng mà không thấy trâu đâu cả. dĩ nhiên là xế chiều là phải ra khỏi rừng. Cọp đói chưa chắc đã sợ thanh niên. Xế chiều hôm sau mới tìm thấy được, trâu đụng ép một con cọp vào gốc cây, cọp gãy sườn chết từ hôm trước, ruồi bu mà trâu vẫn chưa dám buôn ra, một đêm hai ngày đói khát. Có người đến cứu, trâu bỏ xác cọp, vụt chạy đến hết sức ngã xuống chết luôn. Người ta nói vì trâu quá sợ, nếu lơi sừng ra, cọp chưa chết thì trâu bị móc họng liền. Thế mới biết con cọp ở trong rừng là oanh liệt đến dường nào. Đánh được cọp trâu cũng phải chết mà thôi. Cúng trâu cho cọp Ven theo biển đông, trong vùng đồng bằng Cửu Long có nhiều cồn rừng. Thuở con người chưa đông, chỉ khai thác đất ở vùng sâu nước ngọt, hay ở vùng nước lợ là cùng. Vùng tiếp giáp biển nước chua mặn còn là rừng hoang cỏ rậm. Trong vùng nước ngọt người ta phá rừng làm ruộng nước. Cấy xong người ta đuổi trâu thả vào rừng. Trâu tự tổ chức sống tập thể ở trong rừng. Mỗi ngày nắng lên, muỗi mòng tan, trâu kéo thành bầy vào rừng ăn cỏ. Chiều mát, muỗi mòng kéo ra, trâu kéo cả bầy trầm nghịch dưới đầm lầy, lăn xuống bùn sình, bọn muỗi mòng có thể tấn công vào mặt mũi, trâu có thể lặn xuống nước, chui vào bùn. Dĩ nhiên trâu cũng dùng được khả năng đuổi muỗi truyền thống của mình bằng cách quất đuôi vào mông và quật sừng vào hông. Gặt hái xong người ta dẫn trâu về đạp lúa và cho ăn cỏ đồng nước ngọt hợp với trâu hơn. Trâu kéo về chuồng cũ, chủ cũ; nghé nào theo mẹ nấy. Đám nghé mới được sanh ra trong rừng dĩ nhiên là không biết nơi đâu là chuồng cũ, nhưng cứ đi theo mẹ mình là xong. Nhưng đám đực tơ nổi cổ không chịu về. Có lần một con đực tơ, sau mấy tháng ở rừng đã nổi cổ, không chịu về, ở lại trong rừng, gặp người thì rượt chém, rất nguy hiểm. Trường hợp đó người cầu cứu con cọp. Người ta vái vang để ông bà chuồng đuổi trâu ra vùng cỏ thưa và vái cọp bắt trâu. Người ta kể lại, bữa trước ông chuồng bà chuồng linh thiêng ứng lời vái vang của chủ trâu , đã đuổi trâu ra ăn ở bìa rừng, nơi cỏ thấp để tiện cho cọp tiến hành thế võ tổ truyền của mình “móc họng trâu”. Nhưng cọp hoàn toàn thất bại vì trâu đực tơ không biết sợ cọp, cứ ăn cỏ bình tĩnh như không. Cọp vừa ra khỏi cây rừng liền bị trâu đuổi nà, múa sừng chém vù vù hốt vào hông cọp. Cọp đành vụt chạy nhanh lẩn trốn vào gốc cây rừng. Người ta thường nghe câu nói: “Cừu non không sợ cọp” nay còn thấy “trâu đực tơ rượt cọp” nữa. Hôm sau, cũng khoảng thời gian đó, cũng khoảng khu rừng đó, vẫn con trâu đực đó, nhưng người ta thấy xuất hiện hai con cọp. Con cọp xuất hiện trước bị rượt không chạy vào rừng mà chạy dọc bìa rừng, trâu vừa đuổi cọp vượt qua một gốc cây lớn, con cọp thứ hai từ phía đuôi trâu phóng lên lưng trâu. Trâu chưa kịp phản ứng thì bị cọp một tay ôm vai trâu, một tay móc đứt họng trâu. Trâu chưa kịp rống một tiếng đã ngã chỏng ngọng lên trời rồi. Hai con cọp hai bên, một tay nắm vào cạnh sừng trâu, ra sức lôi trâu vào rừng. Không lôi nổi, hai con cọp ngồi xuống liếm nách mình, một lát lại ra sức cùng kéo. Cuối cùng cọp cũng lôi khuất trâu vào rừng. Chờ đợi một lát lâu, liệu chừng cọp đã no nê, người ta kẻ mác người đuốc, kẻ gánh người bưng, quơ đuốc xách đèn cùng la hét kéo vào rừng. Cọp đã móc trái tim trâu ăn mất rồi, một số bộ phận như gan phổi cũng bị cắn xé, bao tử cũng bị xé, nhưng thịt trâu thì hầu như cọp chưa đụng tới. Kẻ soi đuốc, kẻ khua mỏ, đa số còn lại xẻ trâu khiên vác đem về, chỉ để lại để cúng cho cọp cái đầu trâu đã lấy hết óc ra rồi, và bốn chân trâu, từ gối trở xuống; để chụm bốn chân trâu lại, gác đầu trâu lên, vái cọp linh thiêng xin tạm hưởng phần đó. Ông chuồng, bà chuồng làm xong bổn phận, thay vì phù hộ cho trâu lại đi hại trâu, chắc là đã theo đám thịt trâu trở về ngự trị nơi chuồng trâu, chuồng gà của mình. Dù trâu giết được cọp, hay cọp giết được trâu thì cái lợi lớn nhất vẫn thuộc về con người. Người khôn hơn loài vật mà. Con cọp có mạnh cũng bị trí khôn con người qua mặt. e. Cũng còn chuyện cọp và trâu Sách quốc văn giáo khoa thư có kể câu chuyện “Người khôn hơn loài vật”. Đại khái như sau: Trâu thì to xác, người thì nhỏ con. Người bắt trâu kéo cày mệt bở hơi tai, không kịp thở. Người còn quất roi vào lưng trâu, la hét nặng lời. Thế mà trâu có vẻ hoàn toàn thuận phục. Cọp thấy cảnh đó lấy làm lạ. Nhơn lúc trâu được nghỉ, cọp lân la hỏi trâu: - Trâu thì to, người thì nhỏ, sao trâu đành để cho người ức hiếp như vậy. Cọp tò mò hỏi hỏi con người “Người kia, trí khôn của mày đâu. Tao muốn xem” - Trí khôn của tôi để ở nhà. Cọp muốn xem, thuận để cho trói. Trói xong, người lấy cán cày đánh cọp và bảo: “trí khôn của ta đây.” Cọp chưa thấy cụ thể trí không là cái gì đã phải chết, lòng không phục. f. Cọp và mèo chuột. Người ta nói mèo và cọp là bà con với nhau nên cọp không thích ăn thịt mèo, nhưng vốn là bà con nên luôn có hiềm khích. Cọp không ưa mèo, cọp bắt được mèo thì lót xuống đít và ngồi lên,; nhơn đó mèo nhảy thoát chạy mất. Sách luân lý giáo khoa thư có kể chuyện “Giúp người, người giúp” đại khái như sau: Chuột chạy tung tăng thế nào rớt vào vuốt cọp. Hôm đó cọp còn no, ngần ngừ chưa muốn ăn. Chuột tỉnh hồn mở lời ỉ ôi năn nỉ “Chúa sơn lâm ơi, xin ngài tha mạng tôi. Thân tôi nhỏ xíu đâu đáng một miếng ăn cho ngài, chẳng qua chỉ là nhét kẻ răng mà thôi.” Cọp lơ đãng trả lời: “mày nói lang man gì đó, đói tao ăn cả bù mắc. Mày không nghe người ta nói câu “cọp ăn bù mắt sao”. Mầy đâu kể là nhỏ. Chuột ráng cãi “Chúa sơn lâm ơi. Ngài ăn bù mắc là phải vì nó hút máu ngài. Tất cả các loài hút máu đều đáng giết. Còn thân tôi hèn mọn còn có mẹ già, vợ dại, con thơ. Chúa sơn lâm giết tôi, cầm bằng giết cả nhà tôi rồi. Xin rủ lòng thương tha mạng cho tôi. Tôi đội ơn ông suốt đời không quên. Cả nhà tôi cùng đội ơn ông.” Cọp nói: “Mày làm rầy tai quá. Tao tha cho mày đó.” Chuột được tha về đoàn tụ với gia đình, kể chuyện mình tưởng chết mà lại sống. Ai cũng nói lời cám ơn cọp. Ca tụng lòng nhơn của Chúa sơn lâm. Bẵng đi một thời gian, trên đường rình mồi, cọp bị rơi vào lưới thợ săn. Vùng vẫy thế nào cũng không thoát, đành nằm lỳ giao mạng cho số phận.” May thay, chuột đi ngang qua đó, thấy cọp bị nạn vội vàng chạy về hang ổ, kêu gọi cả họ nhà chuột ra cắn đứt hết các mắc lưới. Cọp thoát chết, không ngờ nhờ mình tha mạng chuột mà nay mình giữ được mạng mình. Bài dạy: Giúp người, người giúp, không cần phân biệt sang hèn. g. Chánh trị hà khắc dữ hơn cọp. Sách cổ học tinh hoa có chép bài “Hà chánh mãnh ư hổ”, đại khái như sau: Đức Khổng tử đưa học trò châu du thiên hạ. Một hôm đi ngang một vùng có nhiều rừng, thầy trò nghe có tiếng khóc kể thê thảm. Đức Khổng tử sai học trò đến hỏi vì đâu nên nổi. Người đàn bà nói: “Ông tôi bị cọp ăn, cha tôi bị cọp ăn, nay chồng tôi cũng bị cọp ăn nên lòng tôi thảm thiết như vậy.” Đức Khổng tử hỏi: “Đã ba đời bị cọp ăn sao không sớm bỏ xứ mà đi đi, cứ ở đây để bị cọp ăn là thể nào?” Người đàn bà đáp: “Ở đây có cọp dữ nhưng nhà cầm quyền tốt. Cọp dữ, năm ba người họp lại có thể chống được. Ở nơi khác, nhà cầm quyền độc ác, bốc lột thẳng tay, làm cho dân bỏ xứ trốn đi, chết bờ, chết bụi, trôi sông, chìm biển hàng trăm hàng ngàn, có khi đến cả trăm ngàn người. Năm ba người có thể chống lại nhà cầm quyền sao? Nghe xong câu chuyện Đức Khổng tử than: “Chánh quyền tham tàn quả là độc dữ hơn cọp. Cọp giết người chẳng qua là năm ba người, nhiều lắm là vài chục, người ta sẽ họp lại mà săn đuổi nó đi. Chánh quyền giết người hàng triệu. Đáng sợ hơn cọp thật!” h. Ông cả cọp: Mười hai hương chức hội tề, ông cả là đứng đầu. Tại sao phải cử ông cọp? Nói là để ông cả giúp đỡ thần nông, giữ an ninh cho ruộng đồng chống lại heo rừng, hươu nai, nhưng thật ra là để cầu khẩn ông cả đừng bắt heo chuồng, và nhứt là đừng “bắt người bẻ cổ tha về non cao”. Người ta nhắc với nhau rằng làm nhà sàn, làm chuồng heo đừng có đo thước tấc. Đo thước tấc, ông cả biết rõ chiều cao là bao nhiêu thì bao cao ông cả cũng nhảy qua được. Không đo, ông cả không biết bao nhiêu thì không dám nhảy vì quá cao sẽ té xẹp mũi. Dù ở xa trong rừng, dù dân có nói nhỏ với nhau trong làng, ông cả đều nghe và biết hết. Nhưng cũng may là sau một giấc ngủ, ông cả thức dậy vươn vai là quên mất hết. Dân ở trại, ở láng đâu có tường cao, cửa kín nên ông cả muốn bắt người không khó khăn lắm. Nhưng vì là ông cả, nhiều khi quá thèm, ông cả liếm đầu một người nào đó, đầu sẽ trụi như bị cạo, tóc sẽ không còn mọc lại. Ngồi trong bóng tối nhìn đôi vợ chồng trẻ dệt chiếu: Chồng chùi, vợ dệt chiếu bông, Đi phá rừng, khẩn đất, đồ đệ của con người là: con chó giữ nhà, con mèo bắt chuột, con trâu kéo cày, con ngựa kéo xe. Bốn con thú này không con nào dám lén phén với cọp, đành tôn cọp lên làm thần hổ, cử lên làm ông cả. Am của thần hổ nằm bên phải nền thờ thần nông. Như vậy thần hổ trên thần nông một bực. Vì bên hữu có nghĩa là bên trên, bên tả có nghĩa là bên dưới. Giúp từ phía hữu gọi là “hựu” như “thiên hựu”, “thần hựu”. Giúp bên tả gọi là ”tá” như “phò tá”, “phụ tá”. Cúng thần nông một con heo trắng (heo giết, cạo sạch long, để nguyên con không quay) thì thần hổ, là ông cả, cũng phải cúng một con heo trắng. Mỗi năm, ngày cúng đình, đổi tở cử mới. Ông cả về vác con heo đi, để tờ cử cũ lại, lấy tờ cử mới đi. Dân có rình xem chỉ thấy bóng. Không biết ông cả giữ tờ cử cách nào, tuy cũ nhưng luôn lành, sạch. Sau này nhiều thầy võ ra tranh chức ông cả, cọp về đón đường đánh nhau. Khi thì về một con, khi thì về hai con, nhưng đánh nhau bao giờ cũng đánh “sức một”, không bao giờ ỷ đông mà làm càng, ông cả cọp đàng hoàng là như vậy. k.Trời không cho hùm có dây Người xưa cho biết, con cọp tuy có bốn vú nhưng cũng như con trâu, con bò chỉ đẻ được mỗi lứa một con. Cọp con thôi bú thì cắn hết một vú của mẹ. Như vậy, một con cọp cái suốt đời không thể nuôi nhiều hơn bốn con cọp con. l. Con cọp bạch. Theo thuyết “tướng tinh” của Trung quốc xưa thì mỗi người vốn là một vì sao trên trời. Vì sao đó đầu thai xuống thế gian làm người. Sao hiền thì làm người hiền, sao dữ thì làm người dữ, không lôi thôi gì, cũng như người kép hát đóng vai tuồng trên sân khấu vậy thôi. Cặp sao nổi tiếng là sao Bạch hổ và sao Thanh long. Người có tướng tinh là hai sao này đều làm tướng tài. Nhưng sao Bạch hổ thì phò chơn chúa, còn sao Thanh long thì làm tướng gian. Truyện thuyết Đường nói, La Thành là sao Bạch hổ, còn Đơn Hùng Tín là sao Thanh long. Kết cuộc La Thành giết Đơn Hùng Tín. Đến truyện “Tiết Nhơn Quý chinh đông”, sao Bạch hổ đầu thai làm Tiết Nhơn Quý; sao Thanh long đầu thai làm Cáp Tô Văn. Kết cuộc Tiết Nhơn Quý cũng chém Cáp Tô Văn. Thầy pháp nói Tả Thanh long, Hữu Bạch hổ; Bạch hổ chủ tịnh, Thanh long chủ động cũng là nói đến hai vì sao đó. Truyện Thuỷ Hử nói đến một trăm lẻ tám vì sao, không biết Thanh long, Bạch hổ có đánh nhau không? NĂM DẦN NÓI CHUYỆN CỌP TRONG NGHỆ THUẬT Hiếu Lê WGPSG -- Năm Canh Dần sắp đến, hình tượng của Chúa Sơn Lâm lại lừng lững xuất hiện cách đặc biệt trong hơn 360 ngày sắp tới. Hình tượng oai phong này cũng trở thành nguồn cảm hứng để Hoạ sĩ Hiếu Lê viết nên bài cảm tác dưới đây: Chỉ còn ít ngày nữa chúng ta sẽ bước qua một năm âm lịch mới, năm Canh Dần, năm con Cọp! Theo luật tuần hoàn của Tạo hóa, Xuân, Hạ, Thu, Đông xoay vần: Trâu đi thì Cọp đến. Xưa nay cọp vẫn là một ác thú. Nó hung hãn nhất trong 12 con giáp. Nói về sự khôn ngoan, cọp không thể sánh với khỉ và chuột. Nói về sự kiên trì, sao cọp có thể sánh với trâu, nhanh không bằng ngựa, uy vũ sao sánh bằng Rồng, luồn lách và hiển độc không thể bằng rắn. Thế nhưng, trong 12 con thú, có lẽ cọp hội đủ các đặc chất: dũng mãnh, can trường, hiên ngang, dám tấn công cả những con thú to khỏe hơn nó. Nhờ những đặc chất ấy mà cọp là một trong những loài trở thành biểu tượng của sự hùng cường và sức mạnh vô song, vì thế nó được con người thần thánh hóa, không riêng ở nước ta mà cả nhiều nước khác cũng đưa cọp dự phần vào đời sống xã hội, văn hóa, và nghệ thuật. I/ TRONG VĂN CHƯƠNG Rất nhiều tác phẩm văn chương, những truyện ngụ ngôn, nói về cọp, như truyện ngụ ngôn Cọp và Trí khôn Con người, Ngũ Hổ Tướng trong Tam Quốc Chí của La Quán Trung, tiểu thuyết Cọp Trắng, và đặc biệt trong bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ: Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già, Ngôn ngữ trong thơ được dùng không cầu kỳ, không hoa mỹ, mà dung dị và táo tợn, ý tưởng chuyển biến nhịp nhàng nhưng dứt khoát, kết hợp nhuần nhị giữa Nỗi Nhớ và Rừng, tạo nên một con cọp độc đáo trong thi ca Việt Nam. II/ TRONG TRANH Hình tượng cọp có mặt trên các phù điêu bằng gỗ, đá, đồng, ở các đền đài, lăng miếu, trong dòng tranh Đông Hồ của phố Hàng Trống từ xa xưa, nhất là trong các đồ thủ công mỹ nghệ. Tranh vẽ Cọp rất phong phú, đa dạng, không chỉ giới hạn ở nơi thờ tự, trong cung đình, mà còn phổ biến ngoài dân gian. Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, cọp là con vật được tôn thờ từ lâu, tên của nó được thần hóa và được gọi là ‘Ngài, ‘Ông Ba Mươi,’ ‘Hổ.’ Nó được tạo dựng thành biểu tượng của sức mạnh của niềm tin. Tranh vẽ được biết đến nhiều nhất, qua nhiều thế hệ, là bức Ngũ Hổ của phố Hàng Trống, được vẽ trên giấy khổ 55 cm x 75 cm. Nó vẽ tả năm con cọp được bố cục cân đối trên không gian được định sẵn, mỗi con một dáng: con đứng, con ngồi, con lướt gió… Đây là loại tranh bản (khắc gỗ rồi in trên giấy). Nhưng cách thức của dòng tranh Hàng Trống là chỉ in bảng nét rồi dùng cọ lông để tô màu. Trong quá trình tô màu, các nghệ nhân vờn màu, tạo độ đậm nhạt, chuyển sắc sáng tối, âm dương, nên cọp trong tranh không còn là mảng bẹt như cách thể hiện của dòng tranh đương thời. Với cách thức sáng tạo độc đáo ấy, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nét đặc thù của dòng tranh riêng mà còn làm bật lên sức sống nội tại của tác phẩm. Người xem tranh rất dễ nhận ra điều này qua hình ảnh những con cọp: những khối thân chắc khỏe, dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong, đặc biệt là những cái đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn cong lên trước khi đập xuống đất để phóng mình lên. Độc đáo nhất phải kể đến đôi mắt cọp: hùng hực, ánh lên sức mạnh của loài chúa sơn lâm. Màu sắc trong bức Ngũ Hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh, nhưng vẫn hòa hợp với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm con cọp. Lối dùng màu này của các nghệ nhân thể hiện rõ một hàm ý và mang tính triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống: - Hoàng hổ: Cọp vàng, tượng trưng hành Thổ, ứng với trung ương chính điện. Và như thế, 5 con cọp được vẽ bằng năm màu khác nhau tượng trưng ngũ hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Quan niệm tạo hình, cách phối màu, mang tính ước lệ trong nghệ thuật dân gian xưa là phổ biến, mà nếu gạt qua cái vỏ ngoài của sự mê tín, dị đoan, thì đây là bức tranh có giá trị nghệ thuật cao. III/ TRONG TƯỢNG VÀ PHÙ ĐIÊU Tượng và phù điêu cọp bằng đá đã có từ thời nhà Trần, Lê, nổi tiếng ở các chùa, lăng tẩm, như Chùa Đại Bi (Hoài Đức, Hà Tây), và đặc biệt là Cọp Đá ở Lăng Trần Thủ Độ, Vũ Thư, Thái Bình. Đây là một tác phẩm điều khắc đẹp trong nền nghệ thuật cổ Việt Nam: Con cọp ở tư thế nằm, dáng vẻ ung dung, hai chân trước sải dài, hai chân sau thu gọn trong bụng, đầu ngẩng cao, đôi mắt lim dim, hai tai dỏng lên như đón nghe một tiếng động nào đó vọng về từ chốn xa xăm. Khối đá không to như con cọp thực ngoài đời, nhưng nghệ thuật cổ đã khắc dựng một hình tượng có sức lay động tình cảm người xem. Đứng trước tác phẩm, trong khung cảnh của công trình tưởng niệm người có công tạo dựng nhà Trần, giữ gìn sơn hà, xã tắc trên mảnh đất quê hương Việt Nam, ta thấy bùng lên chất sử thi bi hùng. Người tạc tượng đã thổi hồn vào đá, ban cho nó một sức sống tinh thần của một thời liệt oanh, của một con người trí dũng, toàn tâm, toàn ý, vì dân, vì nước. Cọp trong điêu khắc cổ Việt Nam thường là ‘cọp vồ mồi,’ ‘cọp ngắm trăng, ‘cọp và rồng,’ để diễn tả sức mạnh, ý chí, và khai thác chất thơ trong cái oai của chúa sơn lâm. Người ta không dùng ‘cương’ để biểu hiện sức mạnh, mà dùng ‘nhu’ để biểu hiện ‘chất hùng,’ ‘chất thép.’ IV/ VÀ TRONG NGHỆ THUẬT HIỆN ĐẠI Với sự tiến bộ như vũ bão của khoa học kỹ thuật, công nghệ thông tin, con người văn minh hơn, giàu có hơn, hưởng thụ nhiều hơn, và với sự ra đời của trường phái hậu hiện đại, bản thân cọp hầu như tuyệt chủng, vì ô nhiễm môi trường, phá hủy rừng để lấy gỗ. Cọp chỉ còn thấy ở các bảo tàng viện, phim ảnh, sách vở, hoặc trong những bộ sưu tầm của các đại gia giàu có, dưới dạng da hổ, cao hổ cốt, v.v… Và có lẽ đó chính là hình ảnh của nghệ thuật hậu hiện đại, được triễn lãm, trưng bày một cách khéo léo ở các… cửa hàng! http://tgpsaigon.net NĂM DẦN TRUYỆN CỌP Nguồn: quanvan.net 1. Năm Dần truyện cọp: Thần mắt vua Thành Thái trị cọp trắng Bách Thú Bài này trích tập hồi ký “Sejour enchenteur en Annam” của Jean Fauriel, đại tá, chánh võ phòng toàn quyền Paul Doumer trong đoạn về Hội Cầu (7-1902)... khi vua Thành Thái ngự giá Bắc Tuần đặc biệt là vụ nhà vua một mình vào chuồng hổ Bách Thú. Đây là một chuyện thật rất lạ. Tháng 7-1902 tức tháng 6 năm Nhâm Dần, Pháp mở hội Cầu linh đình mời vua Thành Thái ra Hanoi chủ tọa danh dư lễ khánh thành cầu sắt Đu-me dài nhất Á Châu hồi đó (gần 2 cây số) khởi công từ 1898 đến 1902. Sau cuộc lễ tại khán đài dài 100m dựng dưới bệ chân cầu (phía đầu dốc Hàng Khoai) vua Thành Thái được viên oàn quyền Đong Dương P.Doumer hộ giá đi ngự khán các thắng cảnh cố đô, thăm các đền Hai Bà, Bạch Mã, Ngọc Sơn, Đền Giám, Quan Thánh. Tại đây dân làng dàn đầy nghi trượng, nhang án bái mạng: các hương hào bô lão áo thụng xanh xếp hàng trước đền nghênh giá, rồi rước vua vào đền giữa tiếng nhã nhạc, chuông trống nổi lên. Vua không bước vào chính điện, tiến thẳng vào trong cung theo sau là đoàn quan khách Pháp Nam tùy giá. Đến trước bệ tượng thần Trấn Vũ khổng lồ đồng đen cao 4m gần đụng nóc, vua Thành Thái khựng lại đứng ngó thần tượng nghiêm giọng quở phán: - Từ Lê triều đến bản triều, thần tướng được sắc phong hàng Tứ thần Bắc thành, tri nhậm Bắc môn, vậy uy vũ thần thông đâu mà để ngọai quân xâm lấn thành đến 2 lần năm Dậu, Ngọ (1873 – 1882) khiến đất nước lệ thuộc há chẳng phải làm nhục mạng Triều đình sao ?” Vua dứt lời bổng gió lớn nổi lên làm đứt lơi tấm rèm đỏ từ trên mái rủ xuống sàn che trước tượng, đồng thời trên toàn khối đồng đen tượng hiện hiện lên lấm tấm những hạt nước óng ánh như giọt sương tên cỏ. Thoáng sau, các giọt nước lớn mọng lên bằng hột bắp rồi ròng ròng chảy xuống như mồ hôi vã trên da. Thấy vậy các hương lão kỳ mục và viên thủ từ quy xuống chắp tay vái lạy vua liên hồi, miệng kêu xin trả tội cho thần tướng (cũng là Thần Hoàng của họ). Không nỡ, vua bỏ ra ngoài. Lúc đó, tôi (J.Fauriel) đứng cách sau vua vài bước, bên toàn quyền Doumer, thấy vậy làm lạ, bèn hỏi con trai Cựu Kinh Lược Sứ (Hoàng Cao khải) là Ngự Tiền thông sự Hoàng Trọng Phu. Sau khi được Phu giải thích hiện tượng kỳ bí vừa xảy ra, tôi rút khăn tay, lau miết khô chổ mặt hia tượng ý muốn phối kiểm hiện tượng mà tôi cho là hơi ẩm ướt không khí đọng lại chứ không phải mồ hôi ông thần thoát ra như người sống. Nhưng rồi tôi sửng sốt khi toàn quyền Doumer cũng ngạc nhiên như tôi trước hiện tượng khó lý giải này. Dù chẳng muốn tin là hiện tượng thần bí cũng không được vì tôi đã lặp lại 2 lần việc lau khô một chổ khác trên vạt áo tượng. Nước lại đọng nữa như người toát dương lau ráo mồ hôi lại toát ra. Doumer khích khéo vua vào chuồng hổ Đoàn tùy giá theo vua ra khỏi đền Quan Thánh lên xe tới vườn Bách thú gần đó. Vua Thành Thái được hướng dẫn đi coi các chuồng thú và đi thuyền thăm cù lao Bách Cầm giữa hồ Bán Nguyệt nuôi các loại chim lạ, công, trĩ, phụng (paradisier) đây trong đoànủ màu sắc. Vua chợt nghe tiếng cọp gầm, đòi tới coi. Viên giám thị Tây trong đoàn tùy giá tâu: “ Từ hơn 10 ngày nay có một chuồng mãnh thú không được quét rửa vì một cọp lớn vừa bắt nhốt tại đây quá hung dữ phá chuồng không ai dám đến coi. Cọp này rất hiếm như voi trắng, khó bẫy, nên nấn ná không nỡ bắn bỏ, hy vọng ít ngày nó sẽ thuần hiền. Nhưng đến hôm nay nó vẫn hung hãn hầm hang như ngày mới đưa từ rừng về. Hể cứ thấy bóng người kể cả phu chuồng đem đồ ăn thịt sống đến là nó từ trong nhảy vọt ra coi như khong có trấn song sắt ngăn cản. Bị dội trở lại, nó cứ phóng tới phía người hoài như không biết đau đớn…cho tới khi không thấy ai đứng trước chuồng mới thôi. Thoạt đầu cho nó ăn 3 ký một ngày, sau 2 ký vì muốn cho nó đói sẽ bớt hung hăng. Nhưng cũng chẳng thấy bớt phần nào định rút còn một kỳ rưỡi lại sợ nó đuối sức chết, đàn để vậy. Tình trạng khiến chuồng nó quá ghê tởm, phân tiểu ruồi bọ nhơ nhớp, e ngài ngự tới coi sẽ không chịu nổi ? Thủ hiến Đông Dương mỉm cười nói: “Lúc này, ước gì có cặp mắt Nã-Phá-Luân (Napoleon) đại đế chế phục cọp dữ để phu vào quét dọn sạch sẽ trước khi bệ hạ tới ngự khán”. Vua Thành Thái hỏi:”Chẳng hiểu long nhỡn đại đế như thế nào, chứ trẫm thấy cặp mắt chớp điện của ngài Toàn quyền cọp thấy chắc cũng phải kinh oai”. Doumer lắc đầu mỉm cười: - Làm sao bản chức có được cặp nhỡn sấm sét như của đại đế Nã-Phá-Luân ? Chỉ có những bậc chân mạng thiên tử như Bệ hạ mới có thần nhỡn chế ngự mãnh thú mà có lẽ Bệ hạ cũng không ngờ. Câu nói của Doumer đã mơn trớn mặc cảm tự tôn của nhà vua, ngài phán: - Trẩm nghe tâu có bạch hổ bất trị, muốn tới coi cho biết cọp lạ này. Thực ra như ngài thủ hiến vừa nói, trẫm đã có vài lần chế phục thú dữ. Năm 10 tuổi sắp làm vua đã cứu phu nhân (mẹ để vua, tức phu nhân Thụy Quốc Công Dục Đức hồi đó) suýt bị con khuyển điên trong hưu mạc xúc phạm. Khuyển này của của ngục quan rượt cắn một cung nhân rồi nhào tới chổ sập phu nhân ngồi. Lúc đó còn nhỏ, hầu bên mẹ, thấy nguy. Trẫm vùng đứng lên không sợ sệt, nhảy xuống cản trước ác khuyển, lớn tiếng quát nạt. Con vật khựng lại nhe nanh gầm gừ rồi cúp đuôi lủi mất. Mấy năm sau, bên trại cấm binh, Thương vệ úy có một thới tượng già trên 100 tuổi, ngà sút lung lay muốn rụng. Quá đau nhức, voi ngày đêm rống la làm náo động kinh thành; phá chuống sút dứt đứt lòi tói xiếng sắt. Vệ úy chạy sang Cung Hiển Thánh tâu xin phép bắn hạ, nhưng trẫm không cho vì cấm lệ từ Cao Hoàng triều không được giết voi ngựa trận già trừ phi chúng nổi điên hại người. Rồi trẩm tới đó coi, thấy trẫm tiến đến trước chuồng, voi gục gặc đầu ngồi xuống nghênh giá. Trẫm vuốt ve trán, vòi nó, vỗ về cho nó biết trẫm không cho phép bắn nó. Voi đứng im nghe, 2 tai phe phẩy, co cẳng đu đưa, gật đầu liên hồi ra dấu tạ ơn trẫm khi nghe trẫm biểu nó sắp tới cõi về chầu tiên đế, hãy giữ trọn lành, chớ tạo ác nghiệp. Voi nhỏ lệ, cúi đầu nghe mệnh. Từ đó nó thôi gầm rống, hết phá chuồng; lúc quá đau nhức chỉ thở phì phò như kéo bể rồi nghếc đầu trên đống cỏ, nước mắt tràn rụa, hơn tháng sau mới chết. Doumer tâng bốc: - Bệ hạ quả là bậc chân mạng mới đủ thần oai cảm hóa được mãnh thú ! Như không để ý đến lời xưng tụng của viên toàn quyền, vua tới giám thị Phám đứng bên: “Trẫm tới coi bạch hổ ông hãy hối phu đến dọn chuồng đỡ dơ!” Viên giám thị có vẽ phân vân nghi ngại; vua phán tiếp: “Hãy cho phu tới dọn dẹp ! Có trẫm, cọp không dám hỗn”. Doumer đưa mắt ra dấu cho giám thị mau thi hành lệnh vua. Lát lâu sau, ba phu vườn tề tựu đồ nghề sẵn sàng bắt tay vào việc. Một gã leo lên móc, điều khiển vòng xoay răng cưa kéo cánh cửa sắt lên để dưới đất, trước chuồng, một gã khác lùa sao ne cọp vào căn trong trước khi khởi sự quét rửa. Một mình vua với cọp trắng trong chuồng. Lúc đó vua Thành Thái còn trẻ (24 tuổi). Quan Chưởng Phủ tùy giá Ưng Thân hiểu ý Doumer muốn khích vua vào chuồng hổ (hồi đó Pháp không ưa vua Thành Thái vì ngài tỏ ra không ưng thuận như Khâm Sứ Rheinard đã trông chờ) nên trên đường đi tới chuồng thú, quan tùy giá thấp giọng tâu can vua chớ để mắc mưu Pháp, vào chuồng cọp dữ. Ngài mỉm cười: - Biết lắm chứ ! Nhưng trẫm cần cho họ thấy vua Nam chẳng thua đại đế họ. Quan Chưởng sự có sắc lo ngại vì cọp bạch quá hung hãn và không lường trước được chuyện bất ngờ, có thể làm trò cười cho họ. Nhưng vua đầy tự tin, phán: - Cũng như bạch tượng, bạch hổ là giống giác linh, ắt không dám phạm giá: khanh chớ bận tâm! Vua dứt lời thì đoàn tùy gí cũng vừa tới khu chuồng mãnh thú hình móng ngựa. Con bạch hổ lớn như bò mộng, lông đã ngả mầu xám lợt, đang vờn qua vờn lại trước hàng trấn song sắt lớn hơn ngón tay cái. Bỗng nó khựng lại, vệnh tai, dớn dác rồi gầm như sấm nổ, chồm dựng hai cẳng lên bám song sắt khi thấy có bóng người và tiếng chân bước đến gần. Nó lồng lộng hầm hang thêm dữ hơn khi tấm cửa sắt ken két kéo lên chờ nó chun qua, nhất là lúc gã phu xuất hiện trước chuồng, tay cầm sào dài lùa qua trấn song dồn cọp vào căn trong. Bạch hổ hầm hè nhe nanh dựng đứng râu ria dễ sợ, lừ mắt không rời cây sào rồi, lẹ như chớp nó..cắn, dập cây tre hóp cứng hơn gỗ. Chưa hết, nó cong mình nhảy trái, phóng bàn móng sắc qua khe trấn cong, tát vào tay gã phu. Hoảng hồn, gã buông vội cây sào gãy, co giò dông mất. Vua thấy phu không dồn được cọp, ngài nhất quyết vào chuồng, làm việc đó cho họ. Cả đoàn tùy giá nhất tề can vua vì cọp quá dữ. Viên toàn quyền tỏ ý với vua là y hối tiếc đã vô tình nêu câu chuyện mắt đại đế Nã-Phá-Luân khiến vua muốn vào chuồng cọp để cho thấy đế mạng của ngài. Vua mỉm cười phán: - Ngài Thủ hiến và các khanh sợ cọp dữ nên can trẫm nhưng trẫm không sợ cọp nên không nghe can. Chẳng qua cọp cũng là thần tử nhu chư khanh. Trẫm không hại nó, làm sao nó dám phạm giá ? Dứt lời, vua phân biểm giám thị Pháp dẫn ngài đến cửa chuồng. Doàn ngư giá đi vòng ra phía sau khu chuồng móng ngựa. Không thấy bóng người nữa, cọp bớt lồng lộn phá chuồng, vờn qua vờn lại, trán mai miết trấn song như muốn tìm lối thoát một cách vô vọng. Thình lình, nó khựng lại gầm như sấm, dáo dác đôi mắt rực lửa ngó về sau chuồng. Nó vừa thóang thấy bóng người và tiếng bước đòan ngự giá, đi đầu là vua Thành Thái, uy nghi trong bộ bào vàng thọ đóa, đầu đội khăn hòang đọan thêu kim tuyến, quần vóc vàng chít ống bỏ trong đôi hia vàng thêu tản vân. Hông trái đeo bội kiếm ngắn, vua tiến đến trước cửa sắt, có giám thị theo sau. Viên này xách vòng chìa khóa, sẵn sàng để mở cửa chuồng. Sau giám thị là 2 thị vệ vua mang kiến tuốt trần cùng 2 cận vệ của tòan quyền tay cầm súng sáu. Chót cùng là Chưởng phủ sự Ung Thân lăm lăm trong tay thanh quất lưỡi cong. Kỳ dư đoàn tùy giá còn 7, 8 người đứng ngòai xa nhìn vào. Viên thủ hiến và chánh võ phòng Fauriel không có trong số này, đứng cả phía trước chuồng, thập thò chờ coi màn đối đầu có thể là hi hữu nhất đời họ giữa vua nước Nam và “ông Bạch” bách thú như người ta gọi hồi đó. Vua tiến đến cánh cửa sắt chừng một thước, dừng lại khóac tay cho giám thị bước lên mở cửa. Trong chuồng, cọp thấy người lồng lộn hầm hang, cào bàn móng xột sột trên nền gỗ, nghe hết hồn. Có điều kỳ lạ nó không nhảy vọt tới cửa nhưng vẫn nhào vào trấn song trước chuồng khi thấy bóng người lấp ló. Viên giám thị xoay 2 vòng chìa tong ồ khóa đọan lui lại vài bước, nhường chổ vua tiến lên tự tay mở vô. Ngài đưa tay nắm trấn song cửa, nhưng chưa kéo ra, day đầu về đòan tùy giá, vua xua tay ra hiệu hãy lùi ra thật xa, đứng thấp thóang đứng gần cửa chuồng. Mắc dù có lệnh vua họ đều băng khoăn do dự vì sứ mạng bảo giá, không không đàn để vua một mình với cọp dữ. Vua hiều ý nghiêm sắc phán rằng: cọp thấy nhiều người, súng gươm nai nịch có thể kinh tâm làm hỗn. Ngài muốn vào chuồng để dụ cọp chứ không dọa cọp. Và ngài nhủ mọi người hãy vững tin nơi ngài sẽ không có chuyện chi cũng như ngài tin nơi ngài nên không sợ hãi và khỏi cần sự trợ oai, hộ vệ. Khi đoàn tùy giá đã lùi xa khuất sau tường đá, vua Thành Thái mới ung dung đưa tay kéo mở cửa sắt. Cánh cửa ken két xoay gần nửa vòng, vua co cẳng bước vô, lại đặt xuống vì trên sàn chuồng tràn ngập phân dơ, tiểu cọp lênh láng, ròi bọ lúc nhúc, không có chổ ngài đặt hia trong khi xú uế xông lên nồng nặc. Tuy nhiên vua vẫn không lộ vẽ ghê tởm, nhăn mày bưng mặt như viên giám thị đứng sau luôn miệng nhổ xì xọet chờ vua mở cửa là lật đật tháo lui như bị ma đuổi. Không chùn bước trước cảnh dơ dáy, vua đóng cửa sắt lại, đứng trấn phía trước, ra lệnh cho 2 phu vườn lùa vòi nước qua trấn song xối mạnh rửa một góc chuồng lấy chổ ngày xê dịch dễ dàng. Đọan vua mở cửa bước vào trong chuồng đứng xọac cẳng trấn ngang bực thềm, hai tay chống nạnh thủ thế quan sát phản ứng mãnh hổ. Thật không ngờ ! Cọp chỉ gầm lên một tiếng, nhe nanh cào móng rồi chồm lên hạ xuống, đảo qua vờn lại trong góc chuồng như bị thần oai vua chế phục. Nó không hầm hang thu mình chụp móng nhào tới chụp vua như nó vẫn làm khi thấy có người. Tòan quyền paul Doumer, viên quan năm võ phòng và giám thị đứng nín thở trước họat cảnh đã ngó nhau sững sờ… Trong chuồng vua nhích bước lần đến gần cọp, mắt ngài vẫn đăm đăm như thôi miên không rời mắt ác thú. Còn cách 3 thước, bạch hổ bỗng chồm dựng 2 cẳng lên vịn vào trấn song dường như muốn tránh né thần mắt áp đảo của nhà vua, nhưng nó vẫn hầm hang nhe nanh ngóai cổ ngó chừng. Vua rút lê thanh bội kiếm chiếu mũi nhọn vào trán mãnh thú, nạt lớn như một lệnh truyền: Quỳ ! Bạch Hổ Quỳ ! Cùng lúc ngài chỏ mũi kiếm xuống sàn, ra dấu bắt nó quỳ. Khi vua lập lại lệnh này lần thứ ba, cọp gầm lên, buông 2 cẳng trên trấn song xuống rồi vươn mình về phía vua, đầu cúi xuống torng điệu bộ quỳ bái. Vua gật đầu khen: Hào a ! hảo ! Trẩm miễn lễ ! Miễn lễ ! Cọp bạch vẫn rạp đầu trên 2 cẳng ruỗi song song như vươn vai. Đến câu “miễn lễ” thứ ba dứt, nó đứng thẳng lên, mắt lấn lét vẫn ngó chừng thỉnh thỏang gầm gừ nhẹ rồi vờn qua vờn lại hướng về phía vua với dáng rụt rè, bớt hung hãn. Vua lại chĩa kiếm vào cọp, tay trái chỏ vào khung cửa sắt đã kéo lên, ra dấu cho nó chun qua; ngài lại hạ lệnh: Nhập ! bạch hổ cấp nhập ! Cọp hầm hè ngó vua rồi lại ngó về phía cửa sắt, đuôi ngoe nguẩy. Vua nạt lệnh lần nữa gắt hơn, mãnh hổ rống lên một tiếng, riu ríu bước đến khuôn cửa sắt, nhưng còn hơn thước, 2 cẳng nó bỗng chùn lại. Vua lại nạt nữa; cọp chần chừ e ngại, định chui vô lại thôi, cứ như thế 2 ,3 lần… Vua quát một tiếng thật lớn, đập nằm lưỡi kiếm xuống sàn xi măng vang lên tiếng thép chát chúa. Không cưỡng được nghiêm lệnh, cọp rống lên rồi thấp mình, cúp đuôi chui tọt qua. Cánh cửa lập tức hạ xuống. Thế là xong ! Bên ngòai, 3 viên chức Pháp tận mắt thấy từ đầu đến chót màn nghẹt thở giác đấu không đổ máu và mồ hôi này cũng vổ tay hoan hô nhà vua, đã dũng cảm phi thường dùng thần mắt, thần oai chế ngự được cọp dữ bách thú, một thành tích mà suốt 55 năm, từ năm Canh Tý (1900) khai lập sở thú Hanoi đến 9-10-54 ngày Pháp rút khỏi Bắc hà, chưa có người thứ hai làm được như vua Thành Thái. So sánh với thần mắt Nã-Phá-Luân Chiều hôm đó, trong bữa dạ tiệc tại biệt điện, tòan quyền lại một lần nữa tán dương thành tích xuất chúng của vua. Khiêm nhượng, ngài cho rằng đó không có gì đáng ca tụng. Người ta sợ cọp, thấy ai sai khiến được cọp thì cho là can trường táo bạo. Cũng như kẽ dạy thú không sợ thú mới dám vào chuồng biểu diễn sai khiến thú. Tất cả do “Tâm” mà ra, do “Tâm” có định hay không. Kẻ dạy thú tâm định vững tin nơi mình nên không sợ, khán giả tâm không định nên hỏang kinh. Các nhà tu đạo ở rừng núi một mình, không sợ thú dữ vì họ tâm định tin nên vô úy vô ngại. Chính âm định đó tạo nên cái oai khiến ác thú phải kiêng nể. Trẫm cũng do tâm định tin nơi mình mà dám vào chuồng cọp. Chắc đại đế Nã-Phá-Luân xưa vào chuồng sư tử cũng vậy. Rồi vua yêu cầu viên tòan quyền thuật lại thành tích của đại đế Pháp, Doumer kể: “ Nước Pháp gần 200 năm lịch sử chỉ có Nã-Phá-Luân đệ nhất, tay không vào chuồng sư tử một gánh xiếc Ý lớn nhất Âu châu ngày đó. Gánh này treo bảng thách thức bất cứ ai không khí giới, vào lồng sư tử đang trình diễn, hôn tay cô dạy thú (dompteuse), rời khỏi chuồng an lành sẽ lãnh 5000 Ý kim (bằng 3 triệu lires ngày nay) hoặc lãnh một cặp vợ chồng sư tử. Trong 4 năm gánh xiếc trở lại Ba-Lê 2 lần vẫn duy trì bảng thách đố mà chưa ai dán thi thố liều mạng. Ít lâu sau lễ đăng quang, đại đế nghe tâu về gách xiệc này và hay tin sờ thú Vincennes có 2 sư tử bị sét đánh chết. Vài ngày sau ngày cùng 2 cận vệ và trùm mật vụ Vidocq vi hành đến coi vào cuối chương trình đúng lúc lồng sắt dựng lên chuẩn bị màn mãnh thú. Vì vận thường phục đội cát-két kín trán không ai nhận ra, đại đế đến gỡ bảng móc ờ lồng sắt giữa tiếng vỗ tay hoan hô vang rền của khán giả. Sau thủ tục ký tờ cam đoan dưới tên Batholomes, chủ gánh dẫn ngài ra diễn trường giời thiệu với cử tọa và sau đó ngài mở cửa lồng vào lúc nữ nghệ sĩ bắt đầu cầm chĩa điều khiển mảnh sư đi trên trái cầu khổng lồ lăn vòng quanh diễn trường. Từng chập nó nhảy bổng lên cao..rớt xuống, 4 móng vẫn ôm lăn trái cầu, không mất thăng bằng, không té. Cánh cửa sắt chợt két mở, sư tử day lại thấy đại đế đóng cửa, tiến vào, mắt đăm đăm nhìn nó như thôi miên. Bờm cổ nó xù lên, râu dựng ngược, nhe nah phì phè dễ sợ như sắp phóng tới chụp người lạ. Nhưng đại đế không sợ sệt, vẫn bước đến bên nữ nghệ sĩ, vừa chăm chăm ngó nó bằng cặp mắt như phóng ra những tia điện chế ngự ác tính sư tử. Rồi bờm nó từ từ hạ xuống, thôi ngo ngoe nguẩy trong khi ngài cười chào cầm tay cô dạy thú hôn. Mãnh sư bổng gầm nổ, nhe nanh xù bờm. Đại đế cũng thét nạt một tiếng lớn cướp tinh thần sư tử muốn làm dữ. Ngài buông tay nữ nghệ sĩ mắt vẫn thôi miên nó, vừa bước trở lui về phía cửa, ra khỏi lồng giữa những tràng pháo tay rào rào hoan hô nồng nhiệt cửa cử tọa. Sau đó, hòang đế bỏ mũ nghiêng chào, khán giả mới nhận ra ngài, lại ran vỗ tay hoan hô “Muôn năm đại đế !” Nghe đến đây, vua Thành Thái thắc mắc nêu câu hỏi tại sao gánh xiệc không đặt đều kiện đòi người nhận thách đố phải sai khiến sư tử thực hiện một động tác nào đó ví dụ nhảy qua một ghế cao chẳng hạn hoặc phải vuốt bờm vuốt lưng hay đuôi nó hơn là đòi hôn tay người nữ dạy thú chẳng có gì là kho khăn nguy hiểm cả. Viên tòan quyền đáp: - Cuộc thách đố đó có vẻ không có gì là khó khăn, nguy hiểm nghĩa là chỉ cần đủ can đảm khơi khơi đi vào chuồng sư tử.. đến hôn tay cô dạy thú rồi trở ra là ăn giải nếu ác thù không là “khó dễ” đương sự torng chuồng. Thực ra, điều kiện “hôn tay: còn nguy hiểm hơn việc vuốt bờm, vuốt lưng hay đuôi sư tử. Chính điều kiện này đã làm toi mạng và mang tật trọn đời cho tất cả 9 người tại Âu Châu, Trung Đông và Bắc Phi torng đó có 5 người chuyên nghề dạy thú và biểu diễn thú (montreur). Vua Thành Thái chưa kịp phả hồi, Doumer lại tiếp: - Thoạt tiên, gánh xiệc đặt điều kiện “ôm hôm hai má nữ nghệ sĩ”. Do điều kiện “hôn má” này mà vua dạy thú Hồng Mao gánh Harmley nổi tiếng của Anh Quốc với gần ba chục tuổi nghề đã bị cắn đứt lìa cổ, đầu nát ngướu nằm gọn trong hàm sư tử. Vì tai nạn nghề nghiệp này mà chủ gánh đã phải hủy bỏ điều kiện “ôm hôn má” bằng “hôn tay”. Vua cười phán: Sư tử cũng cả ghen như người sao ? - Đúng vậy. Chủ gách xiệc đã khai thác máu ghen bệnh họan của sư tử mà đặt ra cuộc thách đố. Mãnh thú ghen luôn cả với vị hôn phu nữ nghệ sĩ. Tôi nhớ tên chàng này là Montebello cũng là tay dạy thú tên tuổi Tây Ban Nha, hồi đó cộng tác với một gánh lớn lưu diễn khắp thế giới. Tình cờ 2 gánh gặp nhau tại Ba-lê, Montebello tới thăm cô vợ sắp cưới. Con sư tử của nàng lại không chịu bất cứ ai bắt tay, chuyện trò, hôn hít cô thầy nó. Một hôm Montebello vô ý đứng dây lưng vào chuồng thú tình tự với nữ nghệ sĩ, không để ý đến con sư tử đang xù bờm trong chuồng. Đến lúc chia tay, chàng ôm hôn nàng. Bỗng một tiếng gầm vang. Montebello bị mãnh sư tát qua khe song sắt trúng vai rách trong 5 lần áo, cáo nát da thịt thấu xương máu ra lênh láng, phải đưa đi nhà thương, nằm 2 tháng chưa lành. Vua Thành Thái khen: Thực đáng bậc đại đế ! Ngài đã tay không đương đầu với mãnh sư chúa sơn lâm, một chúa sơn lâm biết hờn ghen như người còn khủng khiếp nguy hiểm hơn ! Trẫm xin bội phục và coi việc vào chuồng cọp sáng nay chẳng đáng kể gì. Lời vua thành thực nhưng Doumer lại cho là lời khen mát mẻ, đáp: “ Nếu phân tách tỉ mỉ thì không có sự hơn kém và cả 2 thành tích đều phi thường. Mỗi bên có những ưu điểm riêng mà bên kia không có. Bệ hạ đi đối đầu với cọp rừng, mới bắt về, chắc chắn là hung dữ - Nếu không hơn cũng bằng sư tử thuần nhưng cả ghen. Bệ hạ có bảo kiếm để trợ oai sai khiến cọp, còn Nã-Phá-Luân tay không lạ icó cặp mắt bất khả kham (regard insoutenable) chế ngự sư tử. Một bên bức cọp điên tuân lệnh, một bên khiêu khích lửa ghen mãnh sư. Vậy khó mà phân biệt bên nào hơn kém !” 2 tháng sau vụ này, toian quyền Beau sang thay Doumer. Sau khi vua Thành Thái hồi loan, quan phụ chánh Trương Quang Đản có phàn nàn với khâm sứ Rheinard về chuệyn tòan quyền Doumer khích khéo vua vào chuồng hồ. Và kế đó, trên tờ Lục Tỉnh Tân Văn tai Saigon do Phủ Chiếu (Gilbert Trần Văn Chiếu) chủ biên cũng khui lên vụ này, đã gây xúc động trong quần chúng Miền Nam hồi đó. Giám đốc chủ nhiệm tờ bào Pierre Jeantet, một Pháp kiều thân Việt cũng biên thư cho anh là Paul Jeantet, chủ tịch Hạ Viện Pháp, chỉ trích thái độ Doumer đã giảm uy tín nước Pháp bất lợi cho đường lối cai trị ờ Đông Dương ngày đó. Cao Hữu Bang (Trích trong báo Khoa học Huyền Bí – xuân 1974)
- Giáp Tí, Ất Sửu : Kim (Trâu đi…Cọp lại trở về) Trâu vừa mãn nhiệm, Cọp lên thay ************* Chua cay phận bạc kiếp ngựa trâu Nguyên Hà |
|
|
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tgmvl |