Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 


SỐNG ĐẠO

Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu

1. Vô vi vô bất vi
2. Sống đạo
3. Ý thức trong cuộc sống đạo
4. Căn bản và điểm cao của Đạo là thờ
5. Sống đạo bằng tình cảm
6. Một cuộc lữ hành
7. Các khổ nhọc đều là ơn Chúa
8. Đời sống con người luôn có một tỉ thí
9. Vài cảm nghĩ về quyền lực của tiền bạc
10. Nên thánh
11. Suy niệm về hiệp nhất
12. Hiệp thông
13. Sám hối

ĐỨC GIÁM MỤC
GIACÔBÊ NGUYỄN VĂN MẦU

Giám mục Giáo phận Vĩnh Long 1968 - 2001

ĐỨC GIÁM MỤC GIACÔBÊ NGUYỄN VĂN MẦU

Sinh tại Bà Rịa: ngày 21-01-1914
Ngày 21-09-1940: Thụ phong Linh Mục tại Sài Gòn
Ngày 12-09-1968: Tấn phong Giám mục tại Sài Gòn
Ngày 19-09-1968: Nhận cai quản Giáo Phận Vĩnh Long
Ngày 07-07-2001: Hưu tại nhà hưu dưỡng Vĩnh Long

VÔ VI VÔ BẤT VI

Nhìn qua quyển Đạo Đức Kinh chúng ta có thể nghĩ: Lão Tử muốn trao lại cho đời một thứ kỷ thuật chính trị, để an bang tế thế.

Đặc điểm của ông là nhìn Đạo, thấy nơi Đạo, một đường lối trị dân bình thiên hạ. Ông thấy Đạo là “Tịnh” và ông thấy đó là “vô vi”. Nhưng Đạo khởi động là Mẫu, thì sinh nên tất cả. Như thế là không có chi mà Đạo không làm: vô bất vi.

Cái “tĩnh” và cái “động” là một. Ông nhìn đó là Huyền Đồng: cái hiệp nhất huyền bí.

Đạo là căn nguyên cho tất cả, vậy sao ta không nhờ vào Đạo để đặt nền tảng cho lề lối trị quốc, bình thiên hạ.

Do đó, ông đặt nền tảng cho kỳ thuật chánh trị của ông bằng hương ngôn: vô vi vô bất vi.

Chúng ta cố tìm hiểu.

Dĩ nhiên, theo thiển ý của mình, vì những lời của ông viết thường theo lối tiêu cực, nghịch thường, lại bí ẩn, có thể làm cho độc giả hiểu mỗi người mỗi cách.

Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận định: vô vi nhi vô bất vi nghĩa là làm mà như không làm. Có thể hiểu là làm tất cả cách kín đáo, bề ngoài ra vẻ tiêu cực, dường như không làm chi cả. Đúng ra chúng ta không thấy Đạo làm bất cứ việc gì (vô vi).

Kín đáo: về phần chánh trị gia, noi gương Đạo phải làm bất cứ việc gì, nhưng không làm cách ồn ào, nhộn nhịp, không làm theo sở thích tư dục của mình (làm theo sở tư dục thì rơi vào tánh cách tương đối). Do đó, dường như làm cách tiêu cực: không tranh đua, muốn đứng đàng sau, làm tốt công việc cũng không tỏ mình là chủ, là đứng trước. Đó là khởi từ vô vi mà đạt vô bất vi: không ai tranh nổi với mình, không ai đứng trước mình. Hiệu quả công việc mình phải tốt thôi.

Ông còn nêu lên tánh cách sâu xa hơn, xem ra tiêu cực nhưng thích dụng: Nhà cửa xây dựng tùm lum mà cái gì thích dụng? Chính là những chỗ trống. Cái chén? Chỗ thích dụng chính là khoảng trống trong chén. Do đó mà ông đề xướng: không những theo gương đạo (kín đáo, xem ra tiêu cực) mà tất cả mọi vật đều phải về lại với đạo. Vật đều phải phản phục(hồi về với Đạo) để được nên một với đạo (bảo nhất: bảo vệ nên một).

Việc làm theo gương Đạo, như Đạo, với Đạo, thì việc mới tốt, mới hoàn hảo.

Ngược lại, làm lối hữu vi, nghĩa là không theo đường lối của Đạo, thì không hoàn hảo và cũng không tốt được vì rơi vào giới tương đối: thiện ác, tốt xấu, khó dễ, cao hạ… tương sanh (hữu vô tương sanh, hiểu là đối chọi nhau) không còn đơn nhất, bất biến.

Con người tự do, trên nguyên tắc phải tùy Đạo, phải hướng về Đạo và tiến đến hiệp nhất với Đạo. Nhưng bởi không áp đặt, bắt buộc, nên con người hành vi theo ý riêng của mình, dành riêng cho mình…, sinh ra muốn lên mặt tranh đua. Do đó, không làm theo ý Đạo, giống như Đạo. Ngay việc mà đời có thể cho là đức, là tốt, nhưng nếu không giống Đạo, thì không còn tốt nữa.

Làm như thế, có thể gọi là hữu vi: dạy người ta khôn khéo, đưa người đến xảo trá, trọng người hiền, trọng của quý, làm cớ cho người ta ham danh, ham tiền. Dùng cường lực để thắng người thì có thể gây oán ghét. Dùng binh lực (hữu vi) có hại hơn là lợi, nên thánh nhân không dùng. Nhưng lại dùng bất ngôn chi giáo (dạy không lời): nhu thắng cương, nhược thắng cường. Bất tranh nhi thiện thắng (không tranh đua thì tất thắng).

Lối bề ngoài thấy là tiêu cực, nhưng đúng là noi gương Đạo, gần Đạo, để việc làm được tốt và được bảo nhất, nên một trong Đạo, tuyệt đối không còn biến chuyển, không còn tương đối.

Về phản phục, bảo nhất (về với Đạo, hợp nhất với Đạo), Lão Tử nói theo lối bí ẩn của ông: mìn hmuốn nên như “con đỏ” (xích tử), rắn rít không cắn được, chim không xớt được, hùm không cắn xé được. Và ai biết cách nhiếp (dưỡng) sinh, thì đi đường không gặp thú dữ, vào trận không bị đao thương.v.v… vì không có chỗ chết. Về sau, đồ đệ lại hiểu cho cuộc sống hiện tại, tương đối: biết cách nhiếp sinh thì được trường sinh bất tử.

Đúng ra, kết hợp với Đạo thì không còn sợ những tai họa hổn loạn – như xích tử (con đỏ) – lại được giống như Đạo, không còn tương đối, biến chuyển. Tử nhi bất vong giả thọ: Chết mà không mất, đó là thọ!

Kỷ thuật vô vi nhi vô bất vi vẫn còn chỗ sâu xa, và cũng có vẻ đẹp đáng mến.

Bất ngờ nhìn vào bữa tiệc cưới Cana, chúng ta thấy Mẹ Maria và chính Chúa Giêsu cũng “vô vi nhi vô bất vi”. Cả hai vị, nói được, cùng tác động cho nước thành rượu: vô bất vi (cả hai vị cùng làm).

Chúng ta thấy tánh cách kín đáo, tế nhị và ẩn khuất nữa. Mẹ Maria thưa với Chúa: Chủ đám hết rượu rồi. Chúa nói: Giờ con chưa đến (cách vô vi). Nhưng Mẹ Maria nói với những người chiêu đãi: Chúa bảo các anh làm chi, thì cứ vâng mà làm như thế. Chúa bảo: Các anh hãy đổ nước cho đầy lu (đầy là cách vô vi nhi vô bất vi: làm cách kín đáo ẩn khuất). Rồi Chúa bảo tiếp: hãy múc trao cho anh trưởng chiêu đãi…thế thôi!

Ở đây chúng ta thấy Chúa Giêsu không chút đề cao mình, dường như không để cho người ta biết mình, không tranh với ai, không ở lại để được hãnh diện, không kể mình là chủ bắt người khác phải tùy thuộc hoàn toàn theo ý mình.

Nước thành rượu rồi, nói được, Chúa rút lui. Phúc Âm không nói chi đến Chúa nữa! Công thành thân thối (xong công việc rồi thì rút lui, không ở lại).

Chúng ta thấy đường lối vô vi nhi vô bất vi, tuy không diễn tả rõ, nhưng hàm chứa tánh các tự do của con người. Mặc dầu Chúa tạo dựng, Chúa có quyền và con người phải phục tùng, nhưng Chúa vẫn để tự do.

Dầu tự do, nhưng cứ lý thì phải hành động giống như Đạo, mới đúng, mới tốt. Hành động giống Đạo, hiệp với Đạo thì mới mong chính động lực của Đạo làm cho việc chắc đúng và tốt hơn.

Chúng ta có thích đường lối vô vi nhi vô bất vi không? Xem ra Chúa Giêsu sống cả đời cách vô vi nhi vô bất vi.

Tháng 2 – 2006

SỐNG ĐẠO

Đạo chúng ta có thể hiểu là đường, là lề lối, có thể là một kỷ luật đòi chúng ta phải giữ. Chính việc giữ đạo như thế đòi phải có nguyên năng, nghĩa là phải có nguồn gốc cho chúng ta tác động, chúng ta giữ. Nguyên năng đó chúng ta gọi là sự sống.

Chúng ta cố gắng tìm hiểu về sự sống.

Thông thường chúng ta thấy vật nào có khả năng lớn lên, lớn đầy đủ rồi thì đến truyền sinh, chúng ta kể đó là một sinh vật, vật có sự sống.

Cao hơn bực có những sinh vật lại còn được thêm cảm giác.

Cao hơn nữa có những sinh vật không những có cảm giác mà còn được có những tri thức, cảm mến.

Con người chính là sinh vật Chúa ban cho gồm cả ba phương diện: sống lớn lên, sống cảm giác và hiểu biết (nhân chi linh).

Con người được kể là điểm cao cả của tạo dựng. Chúa đặt con người phần nào làm chủ vũ trụ, còn cho vạn vật trong vũ trụ đạt mục đích Chúa chỉ định giúp cho vạn vật nên tốt hơn, trở thành vật thích dụng hơn. Nhất là giúp cho vạn vật hướng về mục đích nghĩa là hướng về Chúa. Vật vô tri nhờ con người hữu tri để cùng nhau hướng về Chúa là Đấng Tạo Dựng (Alpha).

Con người đáng được tôn trọng vì là tiểu vũ trụ, lại có phận sự phần nào điều khiển vũ trụ, con người còn là trung gian làm gạch nối giữa hữu hình và vô hình.

Bất ngờ hơn nữa, vì Chúa đã nhắc con người lên trên cao như bậc thần thánh, cho con người được làm nghĩa tử, được tham dự vào Thần Tính của Chúa. Đó là việc Chúa ban cho con người sự sống siêu linh hơn cái bình thường, hơn cái hiểu biết thông thường, chúng ta thường gọi là sống siêu nhiên, sống làm con Chúa, sống để được hưởng gia nghiệp của Chúa. Đó cũng chính là sống đạo. Chỉ sống bằng tinh thần, sống mà không có việc làm, thì cũng chưa gọi được là sống đạo.

Chúng ta vẫn biết Chúa đã mặc khải Đạo. Hội Thánh đã trình bày cho chúng ta biết: Những điều phải tin, phải giữ, phải thích dụng. Tóm lược Mười Điều Răn chỉ bảo chúng ta biết phận sự:

- Một là tôn thờ Chúa.
- Hai là trách nhiệm liên đới với xã hội.
- Ba là bổn phận với người và chứa đựng ý nghĩa phận sự với vạn vật.

Vậy sống đạo trước tiên là phải nhìn biết Thiên Chúa là chủ tể tuyệt đối. Do đó, chúng ta phải tôn thờ nghĩa là nhìn nhận Chúa cao cả tuyệt đối và đồng thời (vì Chúa là ĐẤNG Tạo Dựng) nhìn nhận mình hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa. Cũng vì thế mà chúng ta biết hoàn toàn nương tựa vào Chúa.

Điều răn thứ hai tôn kính Thánh Danh Chúa, đúng ra là nhắc chúng ta một chi tiết của tôn thờ. Còn điều răn thứ ba thì Chúa và Hội Thánh chỉ cho chúng ta một htời gian phải dùng để thờ Chúa. Những điều răn không áp đặt, nhưng chỉ định cho các con cái, vì thương nên phải nhận thấy đó là phận sự là nhu cầu phải thực hiện.

Xin Chúa cho chúng ta biết sống đạo, biết và ham mộ thờ phượng Chúa.

Sống đạo thuần khiết

Nhân chi linh ư vạn vật, nhờ lý trí tìm xét lý luận, nhìn nhận có Thiên Chúa, Thượng Đế Tuyệt đối, và nhờ Chúa mạc khải (mở màn) dạy cho biết tính thiên Chúa, công trình Chúa.

Mạc khải đạo nghĩa là dạy cho biết mối tương quan giữa người và Chúa, giữa người với xã hội và giữa người với nhau, và cả với vũ trụ nữa. Lề lối hay luật lệ giúp sống tốt các mối tương quan đó, chúng ta thường gọi là đạo. Sống đạo là giữ đạo có ý thức, có tinh thần. Giữ đạo là bề ngoài, sống đạo mới là nguồn gốc tâm linh.

Nhắc đến những điều này để đưa tâm trí chúng ta đến việc nhận định sống đạo là cần thiết.

1.Đối với Thiên Chúa, cần phải tôn thờ, tạ ơn, nương nhờ, tùy thuộc… Đó là thể hiện phận sự của vật thọ tạo đói với Đấng tạo dựng, cũng có phận sự tôn thờ thay thế cho vũ trụ vô tri nữa.

2.Đối với xã hội, luật Chúa dạy mình phải liên kết, cộng tác cho Giáo Hội nên tốt, nên phương tiện thích hợp cho con người thăng tiến.

3.Người đối với người: Chúa có chỉ thị cho biết phải tôn trọng thương yêu nhau, nâng đỡ nhau, sống đúng với nhân phẩm.

4.Đối với vạn vật: vốn vô tri nhưng phải biết dùng đến vạn vật theo ý Chúa, đó là giúp vạn vật đạt chính mục đích Chúa định cho chúng.

Đạo của chúng ta đừng nghĩ là một định luật ép buộc chúng ta phải thi hành, nhưng là một ý thức trong yếu tính cho ta nhận thấy mình cần phải sống đạo. Chúng ta hãy xác tín sống đạo là cần thiết. Sống đạo mới gìn giữ và gia tăng phẩm giá của mình, sống đạo mới bảo vệ được mục đích tối chung của mình.

Để thêm xác tín, mình có thể nhìn qua hiện trạng vô đạo. Có thể nói vô đạo là vô thần, vô luân, … không nghĩ đến nguồn cội và mục đích của con người, tự nhận mình tự chủ, tự do. Vì đó, khó có tâm trạng tôn trọng, thương yêu. Không có thần, Phật nào hướng dẫn kềm chế, thì khó tránh tâm trạng tự mãn, tự kiêu, khinh người, đàn áp thiên hạ. Tiền tài, danh vọng, thú vui là mục đích. Có khi thực hiện công trình bác ái để biểu lộ tài sản, uy quyền…biến người nghèo thành như nô lệ, người ăn xin mạc kiếp…chứ không phải vì yêu thương phục vụ.

Với tâm trạng tranh chấp danh lợi thì ngay trong người họ không ổn, cho nên đối với xã hội có thể gây nên hổn loạn. Những giặc giả từ xưa tới nay có thể nói, vì con người vô đạo, hay phần nào quên đạo, xuyên tạc đạo.

Sống đạo là cần thiết. Chúng ta thường sống đạo theo truyền thống, theo lệ thói. Có xác tín đạo là cần mới chú tâm nhiều hơn, cố gắng hơn cho công trình sống đạo.

Tham gia công trình xây dựng xã hội công bằng:

Hội Thánh không thích và có thể cấm giáo sĩ, tu sĩ trực tiếp tham gia chánh trị; vì tu sĩ, giáo sĩ đã hiến đời mình cho đạo, cho tập đoàn giữ đạo là Hội Thánh, có thể nói là Nước Chúa, mà Nước Chúa không thuộc trần gian. Vậy nếu giáo sĩ lao mình vào chánh trị thì đi lạc đường rồi. Bận chánh trị thì thiếu thời giờ cho đạo. Nhất là chánh trị đảng phái! Giáo sĩ là người của mọi người, cho mọi người, nên đứng về một phía thì gây chia rẻ, phản với bản tính.

Nhưng đối với tín hữu, vì cũng là một công dân của một quốc gia, nên có quyền và có phận sự như mọi người. Vì thế, phải cộng tác với công trình xây dựng xã hội. Dĩ nhiên tùy cảnh, tùy tài năng, trực tiếp tham dự, không ai cản, cấm.

Nhưng Thư Mục Vụ cũng lưu ý phải xây dựng xã hội công bằng, yêu thương, nghĩa là xã hội tốt. Tạo được những lợi ích tốt, và giúp được cho con người nâng cao nhân phẩm. Đạo đức luân lý là khẩn thiết, là nền tảng cho xã hội tốt. Người Công giáo chúng ta dẫu cần tham gia xây dựng, không được quên hay phản bội với đạo đức luân lý.

Trước một xã hội bề ngoài xem ra con người được tự do, kinh tế phát triển mạnh, tạo được nhiều tiện nghi, xem ra chú trọng đến người nghèo. Nhưng nếu nhìn kỷ, thì khi quá đề cao tự do, chắc khi xây dựng xã hội, sẽ tìm qui tụ một tập đoàn để bảo vệ danh vọng và quyền lợi của mình, không có uy quyền nền tảng nào kềm chế, hướng dẫn, để có công bằng, bác ái.

Chúng ta cũng biết chắc rằng không có một thể chế nào hoàn hảo về mọi phương diện, mặc dầu cũng có thể quả quyết: chánh thể nào cũng có điểm tốt, nhưng đến khi thực thi, con người vì không có đạo đức cách mạng, và cũng vì quá cao vọng, nên trở thành quá khích.

Trước tình trạng xã hội chung chung hiện thời, thì cũng đòi mỗi công dân tùy khả năng tham gia công tác để bớt khuyết điểm, tăng ích lợi thiện hảo hơn, trực tiếp tham gia cộng tác.

Còn tu sĩ, giáo sĩ, không trực tiếp nhưng gián tiếp, vì đạo đức luân lý cần phải có trong xã hội. Giáo sĩ giúp đạo đức, luân lý tốt. Đó là giúp cho xã hội, giúp cho người người, và giúp cho xã hội nên tốt. Đó là phận sự, nói được là sứ mạng Chúa giao cho tín hữu. Không làm chi được cho xã hội, thì ít ra phải làm tín hữu tốt, công dân tốt, tín hữu, công dân tiêu biểu.

Ý THỨC TRONG CUỘC SỐNG ĐẠO

Nhìn thoáng qua những lối sống đạo, chúng ta thấy nhiều lối mâu thuẩn, không tốt và có khi tai hại nữa. Chúng ta cũng nhận thấy sống đạo phải siêu nhiên, nhưng không thể đến mức hoàn hảo được (hoàn hảo như Cha trên trời). Vì thế chúng ta phải luôn gắng sức tiến lên mãi. Trước tiên, đề nghị chúng ta nên lưu ý:

1.Ý thức trong lối sống đạo:

Thật ra, trong cuộc sống đạo, phần đông không mấy ai suy nghĩ: tại sao mình tin Chúa, thờ Chúa, giữ luật Chúa (nghĩa là tại sao tôi sống đạo?). Thấy được những lý do, nhờ đó mình tin, mình thờ… thì đạo có nền tảng. Nếu không ý thức được lý do thì sống đạo chỉ theo tình cảm, vì ông bà mình giữ đạo, thì mình cũng giữ. Hay vì cảm tình với linh mũ, với bạn bè… thấy đạo hay hay, theo cho vui (chưa ý thức sâu hoặc nhờ Chúa, Đức Mẹ ban cho những ơn đặc biệt, cảm mến ơn… rồi theo đạo.

Tôi biết một anh, con nhà đạo dòng, có bằng tiến sĩ, có địa vị cao trong xã hội… trước những thử thách, mặc dầu vẫn giữ đạo nhưng thắc mắc “Tại sao Chúa để như thế?” Một người khác trong giai đoạn kháng chiến bị bắt và đem ra xử bắn cùng với mười người. Người nầy âm thầm van xin: nếu con thoát nạn thì con xin theo đạo… Phi thường, chín người ngã gục, người thứ mười lại được tha. Anh đã giữ lời nên theo đạo, đặc biệt sau đó có một người con làm linh mục.

Sống đạo theo tình cảm, với ơn Chúa cũng có thể đạt đức tin sâu xa, và giữ đạo đều độ, anh dũng, sẵn sàng chịu chết vì Chúa. Nhưng nếu dựa vào cảm tính mà sống đạo… khi gặp cơn thử thách tình cảm, thiện cảm không còn, khi gặp cái vui, cái lợi, cái vừa sở thích nơi khác thì dễ sang ngang (Một gia đình lúc thịnh thời hay mời linh mục, tu sĩ… đến lúc suy sụp, đến nhà tu mượn gạo… nghe nhà tu nói với nhau: không biết có trả nổi không?

Chạm tự ái nên cả nhà đều bỏ đạo.

Ý thức biết rõ, biết sâu, xác tín thì mới có thể nhiệt tâm sống đạo. Nhưng cũng còn phải có:

2.Ý thức trong chính việc sống đạo:

Nếu mình giữ đạo theo lệ thói, người ta làm, mình bắt chước làm theo, như máy móc thì chưa nói được là sống đạo.

Tình trạng sống đạo theo lệ, sống như máy, lan rộng khá nhiều trong tín hữu. Có thể cũng có nhiều nhà tu sống như thế. Thuở nhỏ, chúng ta được dạy cho đọc kinh, dạy làm việc lành, nhưng kể như không được dạy ý nghĩa. Rồi đến lớn, đọc kinh, làm lành… nhứt là đọc kinh ngày này qua ngày khác, làm cho chúng ta quên đặt để ý thức vào kinh vào việc. Đáng lý ra, khi đọc kinh chúng ta phải ý thức: đó là tiếp xúc với Chúa, để tôn thờ, tâm sự với Chúa.

Ý thức Chúa trước mặt: có thể diện đối diện, ý thức nghĩa lời kinh, mặc dù mượn của Hội Thánh, mình phải ý thức như lời của mình và mình có thể tự phát những lời của tâm sự.

Khi tác động thì phải ý thức: Mình làm theo ý Chúa, làm cho vui lòng Chúa (chứ không theo trắc ẩn tự nhiên, hay phô trương tài năng làm theo sở thích).

Nếu làm theo lệ thì tỏ ra mình chưa trưởng thành: chưa biết sống đạo, và có thể nghĩ mình chưa hẳn là con người vì chưa biết sử dụng lý trí.

Xin Chúa ban cho chúng ta trong công trình sống đạo, biết dùng lý trí để ý thức được đạo và sống đạo.

CĂN BẢN VÀ CAO ĐIỂM CỦA ĐẠO LÀ THỜ

Một nhu cầu khẩn thiết:

Trên đời, gần như cả nhân loại đều có đạo. Người thờ Thiên Chúa, người thờ Thần Phật, thờ Ông Bà, có người lại thờ cầm thú, cây cối, vì thấy có một thứ thần lực nào đó. Chứng tỏ nhân loại đồng nhìn nhận: có giới thiêng liêng, cao siêu đòi phải tôn vinh, phụng thờ.

Tiếng THỜ có nhiều nghĩa:

a)Thờ Thiên Chúa (có thể hiểu thờ Ông Trời) là nhìn nhận Chúa cao cả tuyệt đối, và là Đấng tác tạo vạn vật. Do đó, con người và các tạo vật đều hoàn toàn lệ thuộc Chúa.

b)Thờ Thần Phật là tôn kính đặc biệt (=hơn các người, các vật khác) vì có quyền lực, có tài năng cao siêu, hay đã dạy đường lối hoặc nghề nghiệp cho đời.

c)Thờ linh thú hay linh vật, vì thấy những điềm linh thiêng lạ thường… cho nên sợ,…cúng kiến, để khỏi hại, để được may mắn.

d)Thờ cha mẹ… là biểu lộ lòng Kính Hiếu.

Theo Công Giáo thì THỜ phải hiểu là nhìn nhận Đấng tuyệt đối tạo dựng, và do đó, con người và vạn vật đều phải hoàn toàn lệ thuộc Chúa.

Thờ Chúa là khẩn thiết: Thờ Chúa đúng lối, thì phải biết thể cách, lề lối tôn thờ. Thể cách, lề lối đó, thường người ta hay gọi là Đạo.

Thờ là cần, là cốt yếu, thì Đạo là phương tiện để đạt cốt yếu, cho nên Đạo là cần, là nhu cầu khẩn thiết cho con người, cho xã hội.

Con người giữ đạo, sống đạo thì không những giữ được phẩm giá, tăng trưởng thiện hảo nơi mình, mà cũng góp phần cho xã hội được an ổn, vui sống!

Trái lại, đời vô đạo sẽ đưa cá nhân đến tự do không giới hạn, thì dễ đưa con người đến trụy lạc, suy đồi, đến bạo ngược, gây hỗn loạn.

Đấng tạo dựng con người và cũng nói được xây dựng xã hội, đã muốn cho nhân loại, cho xã hội được tốt lành, được phước lạc.

Chúa đã mạc khải, chỉ đường, nhưng vì trọng tự do, nên Chúa không áp đặt như bắt nô lệ phải tuân giữ, nhưng đón nhận đường lối Chúa mạc khải (Đạo), là đón nhận Đạo, giữ Đạo.

Khẩn thiết vì nhờ Đạo, ta:

1.Được biết Chúa rõ hơn, sâu hơn.

2.Biết phẩm giá của mình.

3.Biết kỷ thuật thể hiện tương quan tốt với Chúa, với mình, với xã hội.

4.Giữ đạo làm cho mình được thiện hảo, và cộng tác với công trình xây dựng xã hội.

5.Giữ đạo là tạo phúc cho mình, cho xã hội: ngay nơi trần thế, và bảo đảm cho chân hạnh phúc vĩnh cửu.

Giữ đạo, sống đạo thế nào?

Có sợ vô đạo không? Hay sống đạo như trang trí, như lệ thói? Phải nhớ: Đời người không đạo là không đáng sống. Đạo chính là nhiệm vụ khẩn thiết đối với Chúa, với mình và đối với cả vũ trụ.

Đạo có thể hiểu là một lề lối, một luật lệ hướng dẫn con người sống đúng, sống tốt với Trời, với người, với xã hội và cũng có thể với mọi vật…

Điểm cao nhất của đạo là việc tôn thờ. Chúng ta hiểu tiếng thờ Chúa nghĩa là nhìn nhận Chúa là Tuyệt đối, là Đấng lớn lao cao trọng hơn hết. Không người nào, không thần thánh nào bằng Chúa được. Chúa là Chủ tể.

Tương quan với việc nhìn nhận Chúa là Tuyệt đối, là Chủ tể, thì cũng phải nhìn nhận mình hoàn toàn lệ thuộc Chúa. Hai điểm tương quan đi đôi với nhau. Thờ thì phải tuân phục hoàn toàn mới gọi đợc là Thờ (quân sử, thần tử, thần tất tử … thần bất tử, bất trung).

(Thờ theo Đạo mình hiểu thì khác với tiếng thờ theo nghĩa tiếng Việt. Thờ cha mẹ, thờ thần phật, ngay việc thờ vua, thường là có nghĩa: cung kính đặc biệt, hơn việc cung kính thông thường).

Khi nói Chúa Tuyệt đối, Chúa Chủ tể và con người lệ thuộc, có lẽ tâm trí chúng ta đặt vấn đề: “Còn đâu là tự do của con người?”. Tự do là yếu tố căn bản của nhân vị.

Thật ra Chúa dựng nên chúng ta, Chúa đã ban cho được tự do, mặc dầu Chúa đặt luật lệ, nhưng không áp đặt, không đàn áp. Vì trong tự do nên Chúa tế nhị mạc khải, để chỗ cho con người tìm kiếm, Chúa cũng không nghiêm khắc phạt ngay, để cho con người tìm kiếm, Chúa cũng không nghiêm khắc phạt ngay, để cho con người có thể tự do cảnh tỉnh.

Chúa ban tự do để con người không là nô lệ, mà là người con tìm thấy trách nhiệm, tự do tuân phục và do đó mới có công đáng thưởng. Chúng ta phải hiểu: tự do không phải muốn làm chi thì làm, mà tự do phải nằm trong khuôn khổ. Chúa có quyền định đặt khuôn khổ, mà người khác, vật khác, vì cũng có quyền lợi riêng, nên cũng đặt khuôn khổ cho tự do chúng ta. Chúng ta không có quyền vượt trên tự do quyền lợi của người khác. Tự do thờ phượng nghĩa là làm cho con thuận ý tôn thờ, không phải nô lệ, bị bắt buộc.

Nói những điều trên nầy dể nhắc chúng ta nhớ: mình không nên tôn thờ Chúa theo lệ thói, theo máy móc, theo cảm tính,… thiếu ý thức.

Và vì do thiếu ý thức, mình phạm tội dễ dàng…quên Chúa là Chủ tể, quên mình hoàn toàn lệ thuộc. Thường thường, người ta đấm đá mình thì mình đấm đá lại. Dầu chưa nghĩ đến nhưng thật sự mình quên Chúa!

Vậy trước vấn đề thờ phượng, chúng ta không nên tự phụ: Tôi là người đạo dòng, tôi là con Chúa, là người lành, người thánh. Thật ra, điểm sơ khởi (mặc dầu là điểm cao) chúng ta chưa chu toàn, chưa biết sống theo ý Chúa.

Xin Chúa cho chúng ta biết thờ Chúa và cố gắng nhờ ơn Chúa tiến mãi.

Tháng 9 – 2006

SỐNG ĐẠO BẰNG TÌNH CẢM

Tháng năm chúng ta kính nhớ lời thưa vâng của Mẹ Maria, và cũng thấy tác động của Giuse tuân phục, lãnh sứ mạng. Hai Ngài có phải vì cảm tình, ham làm Mẹ Chúa, làm Đấng bảo trợ Chúa…cho nên Vâng và Phục. Cả hai Đấng đều đòi dấu, chứng lý lẽ thích hợp mới lãnh nhận.

Trong vấn đề sống đạo chúng ta cũng phải tìm thấy khía cạnh hợp lý, nếu chỉ do tình cảm thôi, thì nói được giữ đạo chưa mấy tốt, và cũng có thể không có nền tảng vững chắc.

Chúng ta hãy thử tìm nhận định, thế nào là giữ đạo theo tình cảm? Phải đặt vấn đề, vì thực tế có thể quả quyết đa số tín hãu Việt Nam thường là giữ đạo theo tình cảm. Cho đến nay trong chúng ta có mấy ai đặt vấn đề. Tại sao tôi tin có Chúa? Nhờ đâu tôi được hiện hữu ở đời, và tôi sống để làm gì, đi về đâu, vì lẽ nào mà tôi phải tuân giữ luân lý….Đa số chúng ta không mấy ai đặt vấn đề nhưng vẫn giữ đạo. Tại sao giữ đạo?

1.Vì mình là con nhà có đạo, cha mẹ đạo thì con cũng đạo, thế thôi.

2.Khi còn bé, mẹ cho bú, cho ăn để sống; bé không biết gì; cha mẹ đi nhà thờ đọc kinh, mình theo đó sống, không biết gì! Thấy làm sao, thì làm theo như vậy. Lớn hơn một ít, cha mẹ bảo quét nhà, thì quét nhà, không nghĩ tại sao quét nhà, quét nhà để làm gì?

3.Đến giai đoạn dậy thì (có thể nói là giai đoạn lý trí, ý chí bắt đầu tác động) nhận định phân biệt được lành dữ, tốt, xấu, chưa vận dụng lý trí, ý chí đúng mức. Thấy người lành làm việc lành, thì ham bắt chước. Đó là chỉ theo tình cảm. Thanh niên nam nữ mới gặp nhau, không biết do đâu mà nảy sinh ra tiếng sét ái tình (yêu nhau tha thiết) tình cảm lay động mạnh!

Hình ảnh cuộc sống tự nhiên giúp chúng ta nhận định về sống siêu nhiên.

Sống tình cảm:

1.Nói được là sống vô ý thức, ấu trĩ.

2.Sống chưa trưởng thành, chưa tràn đầy là con người, vì chưa dùng lý trí, ý chí.

3.Ít nhiều còn là nô lệ, giữ luật vì người ta dẫn, người ta bắt buộc.

4.Giữ đạo theo tình cảm thì thiếu nền tảng “vô tri bất mộ”. Tình cảm phai nhạt có thể đưa đến nghịch cảm (khác thiện cảm), rồi đến đổ vỡ.

5.Chúng ta nhớ dầu là tình cảm cũng phải có lý do để cảm, để yêu (Le coeur a des raisons que la raisons ne connait pas!).

Sống đạo do tình cảm, theo tình cảm chưa đủ, chưa tốt lắm!

Chúng ta biết giữ đạo bề ngoài thì không gọi là sống đạo. Giữ đạo theo lệ thì cũng chưa phải là giữ đạo. Còn giữ đạo do tình cảm, theo tình cảm thì chúng ta phải nhận định như thế nào? Thế nào là do tình cảm, theo tình cảm?

Khi còn bé, mẹ dạy mình thuộc kinh, thuộc cả những câu thiệu nói về Chúa, thuộc mà cũng không biết và cũng không hiểu chi cả.

Đến tuổi Rước Lễ, Thêm Sức, nghe cha thầy dạy, mình cũng nghe, cũng thuộc, nói thì mình tin? Như thế cũng nói được phần nào là sống đạo; nhưng thực ra, phần lớn chúng ta chưa suy nghĩ tới: người lớn, người thông đã nói thì mình nhận, thế thôi!

Thấy ông bà cha mẹ, hoặc những thần tượng (như Dì phước chẳng hạn) giữ đạo nhiệt thành, nên mình có chút cảm nhận: Giữ đạo là tốt, thấy người ta giữ đạo thì bắt chước; cũng có trường hợp bị bát buộc, không giữ đạo thì đòn. Giữ đạo nhưng thiếu suy nghĩ!

Đến giai đoạn trưởng thành, biết dùng lý trí nhiều rồi, đáng lý phải tự suy nghĩ tạo sao tôi tin có Chúa, tại sao tôi giữ đạo, nhưng vì từ nhỏ đã bị uốn nắn, nằm trong khuôn khổ nên bây giờ cảm thấy tốt, là giữ thôi! Tóm tắt lại: giữ đạo vì nghe người ta dạy, thấy hay hay mình giữ, mình bắt chước (cũng có thể giữ để được lợi).

Cũng có người lầm tưởng: cảm động, cảm xúc, lúc suy nguyện về cuộc tử nạn, hay tình yêu Chúa, rồi rơi lệ và cho đó là sốt sắng, là giữ đạo nhiệt thành. Không đúng.

Qua cái nhìn trong thực tế cuộc sống do tình cảm, theo tình cảm, chúng ta có thể quả quyết, giả như không có hại, thì ít nữa giữ đạo, sống đạo như thế là chưa đủ, chưa tốt hẳn.

Sao nói được như thế?

Xin nêu lên một vài ý nghĩ: Tình cảm chưa hẳn là tình yêu! Đạo chúng ta là thương yêu và kết hợp, mà tình cảm chưa hẳn là tình yêu. Nếu nghĩ về thú tính thì cảm xúc chỉ là một nhu cầu, còn con người thì nói được có chút ít tình yêu. (Le coeur a des raisons que la raisons ne connait pas! Trái tim có những lý lẽ mà lý trí không biết).

Dầu sao tình cảm không thôi, thì không có nền: Vô tri bất mộ, không biết đối tượng thì yêu thể gì! Không biết người ta thiện hảo, người ta cần cho mình thì làm sao yêu?

Kinh thánh cũng bảo: Justus ex fide vivit: người công chính (có thể hiểu người được Chúa yêu và yêu Chúa) sống bởi đức tin; đức hiểu biết). Cần có biết mới yêu.

Trường hợp đặc biệt như Thánh Phaolô trên đường Đamát, có thể nói đây là tiếng sét ái tình mà Chúa ban cho ngài: vừa biết, vừa yêu.

Tình cảm của dân chúng trong cuộc Chúa huy hoàng tiến vào Giêrusalem, đã bị cải biến hoàn toàn trong vài ngày sau đó.

Tình cảm của Maria Mađalêna ở Bêtania khá dồi dào, ngồi cạnh chân Chúa và đến khi Chúa sống lại, nghe tiếng Chúa, Maria rung động quá nên đã nhào đến ôm chân Chúa! Chúa phản ứng thế nào? Chúa bảo: đừng làm thế, Ta chưa về với Chúa Cha! Chúa không nói rõ, nhưng chúng ta cũng có thể hiểu, đừng để cảm xúc lôi cuốn, tình yêu phải cao siêu, linh thiêng hơn!

Vậy, việc sống đạo của chúng ta không nên chỉ dựa vào tình cảm, mà phải sống hiểu biết, ý thức, nhờ đức tin nâng đỡ soi sáng.

Kết luận:

Thường nên kiểm điểm đời sống của mình, lối sống đạo của mình.

Không nên dựa vào những cảm tình trong lối giữ đạo mà cho mình là tốt, là sốt sắng. Cảm tình, động lòng trong lối giữ đạo chưa phải là đạo chính đáng.

Cố gắng tìm hiểu sâu về đạo và thấy được những lý do tin Chúa, lý do giữ đạo. Giữ đạo không những với tình cảm mà cũng phải sống với lý trí.

Xin Chúa thêm đức tin cho con, để chúng con tin mến nhiệt thành, nhờ đó bảo đảm cho chúng con được mục đích tối chung là kết hợp với Chúa, sáng Danh chúa và hạnh phúc đời con

Tháng 05 – 2007

MỘT CUỘC LỮ HÀNH

Chúa tạo dựng con người có nhân vị riêng biệt, tách rời khỏi Chúa; nhưng Chúa muốn cho con người quy hướng về Chúa, kết hợp với Chúa. Do đó, chúng ta quả quyết được sống đạo là một cuộc lữ hành và cũng quả quyết được là phận sự phải đi, đi mãi để về được nhà Cha (tử qui: chết thì về).

Đáng lý có một đường thôi, nhưng nhiều nhà tu đức thường nói có ba đường: thanh đạo, minh đạo, hiệp đạo. Có thể hiểu đó là đường sạch tội (thanh đạo), đường tiến đức (minh đạo) và sau cùng đến đích là kết hợp (hiệp đạo).

Chúng ta có thể mượn hình ảnh của nhà Bêtania để nhận định rõ về ba lối sống đạo và dĩ nhiên, dầu có năm đường bảy lối sống đạo thì cũng qui về một mối là kết hiệp (hiệp đạo).

Chúng ta nhìn qua những tâm trạng, những cử chỉ của Martha, Maria và của Lazarô:

Martha: linh động hoạt bát…đón Chúa tâm trạng rất vui, tìm mọi cách làm cho Chúa vui, dĩ nhiên, cố tránh những gì Chúa không hài lòng. Có thể đó là hình ảnh của khởi sinh (bắt đầu sống đạo), thấy cần tiếp đón Chúa, ra sức tránh tội, làm vui lòng Chúa (thanh đạo). Dầu sao cũng còn khuyết điểm. Chúa nhắc nhở Martha “Con lo nhiều chuyện quá, hãy cố chú tâm đến điểm cao siêu hơn).

Maria: ngồi cạnh chân Chúa, cả thế giới xem ra không còn chỗ cho Maria để tâm. Maria bám vào Chúa, Chúa là thần tượng…muốn nên giống Chúa, không rời Chúa. Đó là hình ảnh của minh đạo. Đạo phải có đức. Đức chính là Chúa, là nguyên nhân gương mẫu: nhìn Chúa, nên giống Chúa, bám vào Chúa mới có thể có đức. Đạo có đức thì mới là minh đạo.

Lazarô: còn Lazarô? Phúc Âm không nói chi cả; làm sao chúng ta nhận định ngài là tấm gương hiệp đạo?

Những nhà tu chiêm niệm thường đề cao Lời Chúa: Maria chọn phần nhứt hảo! Thật ra, Maria đã đạt tình trạng đón tiếp Chúa với tình yêu liên kết, nhưng vẫn còn ít nhiều thứ tình yêu cảm xúc (ôm chân Chúa).

Lazarô đón tiếp Chúa vì Chúa là lẻ sống, chính là cái sống của Lazarô (Chúa đã cho Lazarô sống lại). Tiếp đón giao tình, sau đó thương yêu. Sau hai giai đoạn nầy (hai khoảng đường nầy) mới đến cuộc kết hợp. Đến lúc kết hợp thì không còn lời nữa. Lazarô thing lặng trong kết hợp!

Sống đạo là đường, là thời gian mà người tín hữu đón tiếp, giao thiệp rồi lần lượt thương yêu, sau cùng kết hợp. Đúng ra là một cuộc lữ hành tiến về quê. Chúng ta nhận định sống đạo thế nào? Chúng ta đã đến đoạn đường nào? Nếu chúng ta không tiến triển, thì có thể chúng ta chưa biết đạo, hay ít ra chưa sống đạo!

CÁC KHỔ NHỌC LÀ NHỮNG THỬ THÁCH
TẤT CẢ ĐỀU LÀ ƠN CHÚA

Đời là bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê như thi sĩ đã diễn tả ý nghĩ của Phật giáo: đời là bể khổ. Tứ diệu đế quả quyết đời là khổ, nguyên nhân cái khổ (tật) là sinh lão bệnh tử. Cần phải diệt khổ (diệt), sống tu luyện. Sau cùng giác ngộ (đạo), tọa thiền, là tâm tư diệt tất cả những chi vô thường (không còn mãi, những chi tạm qua) để đạt thường còn (những chi còn mãi).

Đạo chúng ta không nhận định về khổ theo quan niệm của Phật giáo, nhưng quả quyết: những khó nhọc ở đời do Chúa để xảy đến trong đời sống chúng ta, chính là để thử thách, để chúng ta chứng tỏ mình trung tín theo ý Chúa, nhiệt thành mến yêu Chúa.

Vì thế những khổ nhọc, chúng ta vẫn chân nhận là khổ nhọc, nhưng nhận thấy đó là ơn Chúa. Tất cả đều là ơn Chúa; sinh dưỡng là ơn Chúa; sức khỏe, năng lực là ơn Chúa; bình an, phúc lạc là ơn Chúa. Mọi phương tiện giúp chúng ta nên lành thánh, đạt kết hợp với Chúa, thì lý do nào của chúng ta không nói được là ơn Chúa.

Sau nguyên tội, nguyên tổ đã đem khổ nhọc, đau phiền vào cuộc sống của nhân loại, kể được là hình phạt Chúa trừng trị nguyên tổ, lại truyền cho mọi người.

Chúa ra đời cứu chuộc, biến đổi hình phạt khổ nhọc, đau phiền, thành phương tiện chứng tỏ niềm tin, thể hiện tín thác, và cao siêu hơn, là tỏ lòng thương mến… Tôi khổ nhọc đau phiền, tôi đành chịu, quyết ý không trái bỏ lòng tùng phục, luôn vâng theo ý Chúa. Tôi yếu đuối nhưng tin tưởng vào ơn Chúa, vào quyền lực Chúa. Tôi có khả năng chịu bất cứ thứ khổ nhọc nào. Đặc biệt vì tôi mến Chúa, nên dùng những khổ nhọc đau phiền để nói lên tôi thương Chúa.

Nếu không có khổ nhọc, đau phiền…những điều không vừa thích với bản năng hèn hạ của tôi, thế tôi làm gì, nói gì để tỏ lòng tôi mến Chúa. Gieo trong nước mắt gặt trong vui mừng! Cho nên nói được phần nào khó nhọc đau phiền, vẫn hàm chứa vui phúc.

Không có khổ nhọc, thì chúng ta cũng thiếu phương tiện lánh tội, tập nhơn đức; nhờ khổ nhọc chúng ta có được môi trường lãnh tội và gặp Chúa. Chúng ta có đủ lý do để nói: những khổ nhọc đau phiền là ơn Chúa. Tất cả đều là ơn Chúa.

Vậy trong đời sống chúng ta, đối với đau phiền khổ nhọc, tâm trạng chúng ta phải như thế nào?

Thờ Chúa để Chúa ban phúc, đó chưa phải là tôn thờ, càng không đúng là thương Chúa.

Chúa để cho đau phiền thì ráng chịu, nếu rầu rĩ thì thờ Chúa như nô lệ. Nếu chán ghét đau phiền…rồi phiền trách Chúa, có khi chửi Chúa nữa, thì đau phiền chính là hình phạt.

Dùng đau phiền để tin cậy mến Chúa, để được dịp đền tội, tu đức, mà nhứt là được yêu mến kết hợp với Chúa.

Ai muốn theo Thầy thì hãy vác Thập giá mà theo Thầy, Cha Thầy nhất định thương mến và cho cùng sống lại vinh hiển với Thầy.

ĐỜI SỐNG CON NGƯỜI LUÔN CÓ MỘT CUỘC TỈ THÍ

Mors et vita duello. Sống chết tỉ thí. Đó là lời trong ca tiếp liên lễ Phục Sinh! Tại sao thế? Chúa tạo dựng nguyên tổ trong trật tự, nhưng các ngài đã bỏ trật tự, đem hổn loạn vào trong tâm hồn, tạo ra có cuộc chiến đấu trong tâm hồn chúng ta.

Khởi điểm, Chúa ban cho con người có sống tự nhiên. Trên cái sống tự nhiên, Chúa lại cho có sống siêu nhiên. Sống siêu nhiên điều khiển và sử dụng sống tự nhiên trong trật tự. Nguyên tổ đã phá đổ trật tự, đem hỗn loạn vào trong tâm hồn.

Sống tự nhiên là sống thể xác và lý trí, vì chứa nguồn sống hỗn loạn, cho nên có tranh tiên, nắm chủ quyền, đàn áp sống siêu nhiên, dường như loại bỏ sống siêu nhiên.

Đời sống chỉ có lo ăn uống, vui sướng, thoả mãn tính dục, lên mặt với đời… không nghĩ đến sống thiện hảo, làm lành, tập đức hạnh, sống gần Chúa, kết hợp với Chúa. Lại thêm những thứ ngoại xâm, có thể là người, là vật, là cảnh, lôi cuốn mê hoặc mình ở nội tâm, để chúng ta chạy theo sống tạm mà loại trừ không cho sống siêu nhiên ngoi đầu lên.

Thực tế, chúng ta có nghĩ, có ý thức trong nội tâm mình có một chiến trường gần như thường xuyên, có ý thức không?

Trong những vấn đề nhỏ, không lưu ý thì không nói đến; còn những điều hệ trọng như giết người, như hiếp dâm, như ghét muốn làm hại người chúng ta có cảm thấy trong thâm tâm vẫn có một tiềm lực chống đối: làm thì là xấu là tội, là không tốt. Cho những tâm hồn tế nhị thì những vấn đề nhỏ cũng vẫn có tranh đấu tỉ thí.

Chúng ta có nghĩ đến hiệu quả của cuộc tỉ thí này không? Sống tự nhiên chiến thắng là thắng của cái tạm qua của cái chết, vì hạnh phúc của tạm qua không đầy đủ, không thỏa mãn hoàn toàn, lại có thể tạo nên bất mãn, đau phiền bịnh hoạn nữa, sau cùng là không vĩnh cửu, là không còn, là chết.

Còn sống siêu nhiên mà thắng – dĩ nhiên khởi điểm phải nhẫn nại, kiên trì tranh đấu - thì “dux vitae mortuus regnat vivus”. Tướng lãnh của sự sống chịu chết để thắng cái tạm qua, cái trần tục, thắng sự chết, và để được sống hạnh phúc và vĩnh cửu thống trị.

VÀI CẢM NGHĨ VÀ QUYỀN LỰC CỦA TIỀN BẠC

Tiền bạc là vật vô tri, con người dùng như phương tiện để trao đổi, xê dịch, giao tiếp dễ dàng hơn. Nhưng vì con người không biết sử dụng nó, quá đề cao nó, nên nó biến thành chủ nhân, ông tiên của xã hội và hành quyền chủ trị tâm hồn con người.

Nhìn vào xã hội hiện thời, có tiền mới có tất cả. Có tiền mới sống, có tiền mới chữa bịnh, mới sống khỏe, tiền lại mua được quyền hành, danh vọng, mua cả những khoái lạc sở thích. Người mình cũng nói: Có tiền mua tiên cũng được, có thể hiểu là mua đến những điều cao nhứt của khoái lạc…cũng được.

Xã hội bị tiền bạc đè bẹp, con người trở thành nô lệ của tiền bạc. Nhưng tiền tệ hại, tiền bạc bẻo, không mua sắm được cho con người hạnh phúc hoàn toàn đầy đủ, lại bỏ con người vào hố chán nản và bịnh hoạn nữa.

Suy cho kỹ, thì chúng ta có muốn làm nô lệ cho tiền bạc không?

Đối với tiền, Lão Tử quả quyết: Tri túc (tự túc) giả phú. Anh Thượng (người dân tộc) chỉ có cái khố, anh kể là đủ cho mình, không muốn gì thêm, đó là người giàu, tâm hồn giàu. Còn người kể là giàu, có nhiều áo, muốn có nhiều hơn nữa, có cả ngàn đôi giày mà còn kể là chưa đủ, muốn nhà, rồi muốn lầu, muốn biệt thự, muốn đền đài…còn muốn nữa, thì chính là người không tự túc, người còn thiếu, nói được là người nghèo.

Anh Thượng chỉ có cái khố, sau 4 năm quân dịch, áo quần đàng hoàng, nhưng khi về lại làng (buôn) thì lại đóng khố, có tiền sắm áo, nhưng tấm áo làm bận rộn, ở trần mát hơn, thoải mái hơn. Tiền không cần!

Có nhà hiền triết ở rừng trúc (Trúc lâm) ngụ trong chòi, sống lõa thể, có vài bằng hữu đến thăm, chê ông ta kỳ dị, ông trả lời: trời là nhà của tôi, còn cài lều nầy là cái quần của tôi, các anh chun vào đó làm gì. Tiền không có cà ram nào cả!

Đối với Lão giáo, tiền không có nghĩa lý gì hết! Còn đối với chúng ta, tiền có tệ bạc, tiền có bạc bẽo hay cũng có giá trị.

Chúa bảo: ai có lòng khó khăn đó là phước thật. Đó là bảo đừng ham, đừng bám vào tiền của, không được làm nô lệ nó, mà phải biết dùng nó.

Ai thương người đó là phước thật, dùng tiền, giúp cho kẻ đói ăn, khát uống, cho kẻ rách rưới áo mặc…Đó là tiền tạo hạnh phúc. Giakêu biết dùng tiền để được Chúa tha tội và ban phúc. Bà góa nghèo chỉ giúp có 2 xu vào hòm tiền mà Chúa đánh giá bằng ngàn vàng.

Còn chúng ta đối với tiền bạc cảm nghĩ như thế nào? Ngay giới tu trì và nhiều linh mục, nhà tu sợ thiếu tiền thì nhà dòng chết đói, quên mình có giá trị hơn chim sẻ, Chúa vẫn nuôi nó hằng ngày.

Còn linh mục thì nghĩ, không có tiền không làm sáng danh Chúa được, không cất nhà thờ cho có chỗ thờ phượng. Rồi Nhà thờ có trang hoàng tốt đẹp mới thu hút được tín hữu chiêm ngưỡng. Có tiền mới thi hành được việc từ thiện v.v… Tệ hơn nữa, có tiền mới tranh đua với anh bạn của mình. Thua tròi một vạn không bằng thua bạn một ly!

Đối với tiền bạc, tâm trạng chúng ta thế nào?
Chúng con sắp chìm, xin Chúa cứu vớt. Salva nos perimus!

Tháng 8 – 2009

NÊN THÁNH

Mỗi người chúng ta đều được mời gọi nên thánh. Nhưng thánh là gì? Sống thế nào để được gọi là người thánh, thường chúng ta không hiểu rõ.

Nhờ mạc khải chúng ta có thể nhận định: Sống thánh (người thánh) là sống thiện hảo hoàn hảo. Chí có Chúa là tuyệt thánh, ngoài Chúa ra không có người thánh, ngoại trừ những ai được Chúa thông ban, mới được là người thánh. Chúng ta mong nhờ ơn Chúa để tìm biết và sống thánh.

Nói chúng ta được Chúa gọi, nghĩa là Chúa muốn, Chúa chỉ định, nhưng không bắt buộc chúng ta như bắt nô lệ, nhưng để cho chúng ta dường như phải ham muốn và chịu khó… mới có thể nên thánh được.

Ngày chúng ta chịu phép rửa tội, chúng ta được Chúa ban cho thông phần sự sống của Chúa. Chính Chúa là Thánh, nên thông phần sự sống của Chúa, nói được là có phần thánh của Chúa. Khi Rửa tội xong, chúng ta kể được là người thánh; vì chúng ta có được ít ra là mầm mống căn nguyên sống thánh.

Ngay điều nầy chúng ta cũng chưa ý thức rõ rệt huống chi sống lớn lên, mức độ thế nào chúng ta cũng không thể hiểu, nhưng nhận định rằng cuộc sống siêu nhiên (thánh) phải lớn lên.

Thường chúng ta nghĩ thánh thì đầu tiên phải không có tội, sạch các thứ tội (mình nhận được khi chịu Rửa tội). Sau đó con người mà được thiên hạ gọi là thánh có thể kể những hạng người thiện hảo, quân tử… thực hiện được lối sống đức hạnh một cách anh dũng.

Cũng có giới người lầm tưởng: ai có khả năng làm phép lạ, sống khắc khổ, ăn chay, hãm mình đánh tội, thức khuya dậy sớm v.v… là hạng thánh (phép lạ chính đáng nếu Chúa không ban cho, thì không con người nào thực hiện được. Còn ma quỷ không ăn, không ngủ… khổ triền miên, nhưng không phải là thánh).

Thánh thật sự, thánh tiến triển lớn lên là chính sự sống siêu nhiên của Chúa ban. Sự sống đó lớn lên chúng ta nhận thấy được, nhờ ơn Chúa ban cho những tài năng chúng ta gọi là thiên phú đức. Những tài năng này hoạt động, đó là sự sống được biểu lộ. Biểu lộ mạnh thì tỏ ra sống lớn lên, sống khương cường; dĩ nhiên những thiên phú đức này bao gồm các đức khác.

Tác động sống siêu nhiên càng mạnh thì có thể nhận thấy sống siêu nhiên, lớn lên, mạnh lên. Còn lớn lên toàn thiện, toàn hảo, chỉ có nơi Chúa; không bao giờ chúng ta đạt tới, chỉ mong nhìn lên cao và cố gắng mãi.

Để nên thánh chúng ta cố gắng đơn giản hóa: Chúa Kitô có cả nguồn sống của Chúa Cha, lại là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha tỏ hiện nơi Chúa Kitô.

Vậy cho được nên thánh thì trước tiên chúng ta bám vào, kết hợp với Chúa Kitô để có sự sống. Tiếp đến chúng ta nhìn Chúa, noi gương hạnh Chúa để đạt đến viên mãn, giống hình ảnh Chúa…thì nói được chúng ta là thánh và – cuộc sống thánh của chúng ta được lớn lên, sống như Chúa. Càng kết hợp thì càng hưởng sức sống (thánh) nhiều hơn. Càng giống Chúa thì càng tỏ ra sống cao siêu hơn.

Chúng ta phải là người thánh và là thánh nêu gương, nên men cho đời.

SUY NIỆM VỀ HIỆP NHẤT

Qua tuần lễ hiệp nhất chúng ta cũng đã theo ý Hội Thánh cầu cho hiệp nhất. Hội Thánh lưu tâm đến hiệp nhất các Kitô giáo. Thực tế có nhiều trăm giáo phái tự xưng mình là Kitô giáo. Còn chúng ta có thể nghĩ về sự hiệp nhất như thế nào?

Thiết nghĩ bản tính của Chúa là một Chúa Ba Ngôi. Các vật Chúa dựng nên ít nhiều phải có hình ảnh Chúa.

Chúa dựng nên các vật thụ tạo, mỗi vật đều tách biệt nhau. Nhất là con người Chúa ban cho có biệt vị. Một biệt vị quy tụ nhiều khác biệt. Tuy nhiên các vật đều liên hệ nhau, ít nhiều tùy thuộc nhau. Dầu vậy các vật thọ tạo phải quy hướng về chúa.

Ngoài Chúa là căn nguyên tuyệt đối, căn nguyên duy nhất cho vật hiện hữu. Chúa không dựng nên những vật hiện hữu cho ai khác. Vì chỉ mình Chúa hiện hữu, cho nên điều đó không thể được! Mọi hiện hữu thụ tạo phải hướng về Hiện Hữu Tuyệt đối căn nguyên là Đấng Tạo Dựng.

Do đó có thể quả quyết: Chúa tạo dựng những khác biệt, và những khác biệt nầy phải hướng về Chúa. Đó là hiệp nhất đúng với ý Chúa.

Để hướng về Chúa có phần thích đáng, siêu nhiên hơn, Chúa dựng nên con người và con người được thụ hưởng quy tụ nơi mình các vật thọ tạo. Ngũ hành (kim, mộc, thủy, hỏa, thổ) đều có trong con người. Ngủ hành phải luôn hướng về Chúa nhưng chúng không có ý thức.

Con người vì quy tụ cả ngũ hành, nên có thể gọi là tiểu thiên địa, tiểu vũ trụ, lại được Chúa ban cho có ý thức, nên Kinh Thánh nói con người được Chúa ban cho làm vua vũ trụ, điều khiển ngũ hành, và mang nhiệm vụ hướng tất cả về Chúa nghĩa là thay thế vạn vật, tôn thờ Chúa, nhìn Chúa là chủ tể. Do đó, con người và vạn vật đều tùy thuộc vào Chúa, nói được hiệp nhất với Chúa.

Công trình này nguyên tổ đã phá vỡ vì không tuân lệnh Chúa. Chúa lại tái tạo bằng mầu nhiệm nhập thể, nhập thế.

Mầu nhiệm nhập thể nói lên tính cách vô cùng của Thiên Chúa. Việc chống đối Thiên Chúa Vô Cùng, thì tội phải kể là quá lớn. Con người dầu có khó nhọc đến đâu, dầu có chết cũng không đền, không chuộc lại ơn nghĩa được. Chính Chúa mới đền, mới chuộc được.

Nhưng nói Chúa đền, Chúa chuộc thì vô lý! Mầu nhiệm nhập thể giải quyết: Nhân tính thể hiện việc đền tội, và thiên tính làm cho việc đền tội có đủ giá trị.

Qua việc nhập thể, Chúa tái tạo công trình, tạo cách biệt, mà cách biệt lại quy căn. Có thể nói đó là tái tạo thể chế hiệp nhất, tái tạo loài người hiệp nhất và tiến đến hiệp nhất với Chúa. Đối với loài người, Chúa muốn tạo nên vương quốc quy tụ cả nhân loại, thần dân của Chúa lại và để có điểm liên kết đậm đà hơn, Chúa muốn cho nhân loại thành một đại Gia đình của Chúa.

Về mặt con người, để kết hợp với nhau chúng ta có giáo lý hiệp thông: Các tín hữu liên kết chặt chẽ với nhau, hiệp nhau nên một Nhiệm Thể Chúa Kitô, đến nỗi nói được: - chúng ta có cùng nguồn sống (sống siêu nhiên). Và mặc dù mọi người vẫn có sự sống siêu nhiên cá biệt nhưng hiệp thông chia sớt sức sống cho nhau.

Nhưng vấn đề hiệp nhất với Chúa, chúng ta không nhận định rõ được làm sao để nên một với Chúa. Kinh Thánh chỉ nói Chúa ở trong ta, ta ở trong Chúa. Chính cái kết hợp, kết hợp như thế nào, chúng ta không biết được, không hiểu được.

Có thể mường tượng vũ trụ hướng về Chúa, hoàn toàn lệ thuộc vào Chúa, con người có ý thức, đại diện, thay thế vũ trụ, hướng về Chúa, chúng ta thấy được có chút chi kết hợp với Chúa.

Con người được siêu nhiên hóa, thì hướng về Chúa không chỉ như là nhiệm vụ của vật thọ tạo, mà hướng về Chúa với tâm trạng làm con, hướng về Chúa với tình yêu Chúa ban. Liên kết với Chúa như con, như người tình thì vượt trên hiểu biết tự nhiên của chúng ta, nhất là mức độ sống siêu nhiên của tình yêu.

Dầu sao chúng ta cũng thấy được kết hiệp với Chúa là cốt yếu căn bản của đời sống tín hữu. Phải sống kết hợp, kết hợp, phải kết hợp sâu thẳm thêm mãi. Xác tín kết hợp là mục đích tối chung của chúng ta và cũng chính là hạnh phúc vĩnh hằng.

Tháng 02/2007

HIỆP THÔNG

Chúng ta biết: Thiên Chúa Nhất Thể Tam Vị. Ba Vị khác nhau nhưng là một Thiên Chúa Tình Yêu.

Chúa vì yêu nên mới tạo dựng muôn loài muôn vật. Tuy tạo dựng mọi vật và người khác biệt nhau, nhưng Chúa vẫn muốn luôn hợp nhất và thương yêu… Hiệu quả của yêu thương là hiệp thông.

Để được hiệp thông, trước tiên chúng ta phải tôn trọng nhau, phải muốn sự lành cho nhau, đón nhận những khác biệt của nhau, nhận chịu những phê bình chỉ trích của anh em, chịu những tranh chấp của anh em, cũng như chịu những hờn giận, ganh ghét của anh em, rốt cuộc chính mình không làm cho chia rẻ nhưng làm hết sức để hợp nhau nên một. Hiệp nên một rồi phải tìm cách chia trao những thiện hảo của mình cho anh em.

Chúa là Nhiệm Thể, Chúa là cội nho. Tất cả mọi người sống nhờ cội nho; cành tách rời ra sẽ chết. Tất cả các cành đều phải tháp vào cội nho. Do đó, trong cuộc sống chung, mọi tác động đều ảnh hưởng ít nhiều với cả cây nho. Sống xấu thì hại, sống tốt thì lợi ích.

Chia sẻ nhưng hiểu biết, những ý nghĩ, những công việc, những công trình, ngay cả những khiếm khuyết nhờ anh em giúp. Không ai có quyền sống như một hòn đảo.

Có lẽ cuộc sống đạo của chúng ta không mấy khi nghĩ đến hiệp thông. Xin Chúa sửa đổi tâm ý, và xin cho chúng con biết sống hiệp thông.

Sống hiệp thông

Chúng ta thường nói đến hiệp thông, mà chúng ta có hiểu hiệp thông là gì không?

Có thể có nhiều người hiểu, nhưng cũng có thể không mấy người thể hiện sống hiệp thông. Ngay giới giáo sĩ, tu sĩ không mấy người biết sống hiệp thông. Chúng ta có thể hiểu (hiệp thông): hiệp là liên kết nhau nên như một; còn thông là trao đổi chia sẻ cho nhau những tâm ý tác động, công trình, sáng kiến…tất cả những gì kể được là thiện hảo của nhau.

Mặc dầu Chúa ban cho mỗi người ngôi vị cá biệt, và cho tự do chọn lựa nhưng Chúa vẫn muốn con người sống hiệp thông.

Trong thực tế, nguyên tổ đã không vâng lịnh Chúa, đưa chia rẻ vào vũ trụ, làm cho loài người khó sống hiệp thông, lại lạm dụng tự do quá đáng, làm cho chia rẻ nên trầm trọng tai hại.

Gây chia rẻ trầm trọng vì người tự trọng, tự tôn quá đáng thì không nghĩ đến phẩm giá người khác cho mình là trên hết. Không chấp trên mình, luôn tranh đấu để hơn thiên hạ, khinh thường thiên hạ, khinh dễ, chê bai, xem thường, không thèm giao tiếp, như Pharisêu không thèm giao tiếp với Publicanô.

Ngay đối với bề trên có thẩm quyền, kẻ tự tôn cật vấn sao họ có quyền, họ chẳng có hơn gì tôi, lại có nhiều khuyết điểm! Do đó, họ chẳng những không tuân lệnh mà còn chỉ trích, cho là con người không đáng nắm quyền.

Như thế thì làm sao giữ được liên kết hiệp nhất, càng không thể chia sớt trao đổi, nghĩa là không thể thông trao cho nhau, những đặc điểm thiện hảo của mình. Chia cho người ta bằng mình hay hơn mình không thể được; giúp cho người ta lên chân thì còn gì là mình; người ta không phải bà con thân thiết với mình, dại gì giúp đỡ họ!

Lạm dụng tự do và sống cá biệt quá đáng thì không thể có hiệp thông và dĩ nhiên không đúng với ý Chúa.

Chúa muốn cho nhân loại nên một (một ràn và một chủ chăn). Chúa muốn mọi người vì đều là con Chúa nên phải sống tình huynh đệ và mến thương nhau.

Hiểu sống hiệp thông. Hiệp thông là hiệu quả đặc biệt của Thương yêu (chính đáng).

Tháng 06-2009

SÁM HỐI

Ăn chay để đền tội, để chế ngự những đòi hỏi: sám hối. Buồn khổ vì đã yếu đuối phạm tội, lại mong muốn và đè nén để khuynh hướng xấu không còn tác hại, ngoi lên nữa.

Chay tịnh là chế ngự. Muốn chế ngự đòi phải sám hối. Chế ngự giả định mình buồn khổ, mình không thích, mình ghét những lầm lỡ lúc trước, đồng thời chẳng những muốn không bao giờ thua điều ác, mà còn phải chiến thắng nó nữa.

Do đó, chẳng những phải chế ngự điều ác, mà còn phải đề phòng và xếp đặt mưu lược:

- Trước tiên phải cương quyết chiến thắng với bất cứ giá nào, chết thì chết chứ không chịu thua.

- Không tháo bớt rào cản. Khát nước mà cứ lởn vởn quanh ruộng dưa! Trong bụng còn rạo rực, mà lại rờ mò tay chân phụ nữ! ( Nam nữ thọ thọ bất thân)! Cần tránh dịp hiểm nghèo!

- Không liều mạng thử một chút. Sa ngã rồi thì vấn vương khó rời.

- Biết hối, biết dùng phương pháp để sửa đổi.

Sám hối phải đi đôi với chay tịnh; vì chay tịnh là đền tội, là chế ngự, mà đền tội, chế ngự thì đòi phải thống hối, ăn năn và dốc lòng.

Ăn chay để đền tội thì giả định có phạm tội, có thể phạm tội nhiều nữa. Đời chúng ta dầu có ơn Chúa và dù có cố gắng đến đâu đi nữa thì dường như không thể hoàn toàn không phạm tội. Tội trọng thì có thể nhớ và chừa tránh được, còn tội nhẹ thì không thể hoàn toàn tránh khỏi. Gần như mỗi ngày chúng ta vẫn có những hành vi, những tác động ngoài ý Chúa, không đúng với ý Chúa, dầu không có ý chống đối; nhưng qua cử chỉ của chúng ta, thì chúng ta lại không nhớ mình hoàn toàn lệ thuộc, ít nhiều không tôn trọng Chúa cho đủ.

Trong Bí Tích Giải Tội đòi chúng ta phải sám hối nghĩa là phải ăn năn dốc lòng thì bí tích mới đạt hiệu quả. Mùa chay buộc chúng ta chay tịnh, chay tịnh cũng đòi chúng ta ăn năn dốc lòng. Vì chay tịnh là đền tội và chế ngự tính xấu cho nên cũng nói được là chúng ta ăn năn dốc lòng.

Ăn năn là gì? Là đau buồn khổ tâm vì đã phạm tội mất lòng Chúa. Dĩ nhiên, mình nhận thấy mình đã phạm tội, tội chống đối Chúa cho nên nó là hèn xấu vô cùng; mình dại dột ngu muội đã làm việc phản nghịch xấu hại kể được là vô cùng…mình buồn khổ đau phiền vì đã làm mất lòng Chúa.

Nhưng nếu chỉ buồn khổ vì do tội mà làm cho nhân phẩm kém quá, nên hèn hạ (trường hợp của Giuđa) thì chưa đúng là ăn năn.

Lại nếu đi xưng tội mà còn bám vào tội ví dụ người sống chung không bí tích, muốn khỏi tội mà không rời nhau thì chưa có ăn năn.

Do đó việc dốc lòng chừa, phải đi kèm với việc ăn năn, cương quyết không phạm tội nữa!

Chúng ta biết, mặc dù thành thật ăn năn dốc lòng, nhưng con người yếu đuối có thể tái phạm, cũng có thể ăn năn dốc lòng để lại được nhờ bí tích hòa giải.

Về vấn đề dốc lòng chúng ta có thể có vài quan niệm khác. Có thể nói, đối với tội nhẹ, tội quên sót, tội vô ý thức chẳng hạn, như việc mình nổi cáu, phê bình chỉ trích, làm biếng, lo ra, ngủ gục phần nhiều là không ý thức, chúng ta dốc lòng không phạm nữa thì không thể được, do đó, nên dốc lòng nhờ ơn Chúa, cho bớt phạm lỗi, mặc dầu khổ tâm không làm được cho Chúa hài lòng hoàn toàn.

Dốc lòng không chỉ bằng ý thức mà cũng phải bằng việc làm, nghĩa là cầu xin Chúa, và tránh những dịp tội, có thể bàn hỏi cha giải tội, cha linh hướng hoặc những người bạn đã tiến sâu trong sống đạo.

Bao lâu, chúng ta còn sống, thì chúng ta còn phạm tội, ít ra là tội nhẹ; vì thế chúng ta phải tập biết ăn năn dốc lòng trong cuộc sống, để ít ra chúng ta được trong sạch, đến gặp Chúa, yêu Chúa, và kết hợp với Chúa.

MÙA CHAY VÀ VẤN ĐỀ ĐAU KHỔ

Đầu mùa chay Hội Thánh bảo giữ chay. Có thể hiểu là bảo chúng ta chịu khổ, dạy chúng ta biết chịu khổ.

Chúa tạo dựng con người, và đã muốn, đã xếp đặt cho con người được hạnh phúc. Vậy tai sao Hội Thánh muốn cho chúng ta chịu khó lại chịu khổ? Thử tìm hiểu khổ là gì?

Khổ là cái gì nghịch với cái sướng. Có hai thứ sướng:

Sướng giả và sướng thật.

Nghịch với sướng giả là khổ thật, còn với sướng thật thì khổ có thể hiểu là chưa được sướng thật, khổ như thế không hẳn là nghịch, không đẹp hơn được mà lại có thể là phương tiện để hưởng cái sướng chân thật. Sướng giả là sướng cho phần hạ, cho xác thể, sướng lệch lạc của tinh thần, còn sướng thật là sướng cao siêu, sướng vĩnh cữu.

Theo Phập học thì cái khổ sâu xa là cái vô thường. Đời sống con người gồm: sinh, lão, bệnh, tử. Vì là vô thường, nghĩa là không còn mãi mãi, thường xuyên biến chuyển, cho nên phải diệt khổ bằng lối sống siêu thoát. Dùng thiền (tọa thiền) để đạt tình trạng thường còn, hết biến đổi, hết khổ đạt phúc.

Một số người chỉ biết than van vì cái khổ! Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê. Ngay giới Công Giáo, và có thể một số người đã tin tưởng vào Phật, Thần, Thánh, hay vào một linh vật nào đó, cốt yếu là được khỏi khổ và được phước!

Chính Công Giáo của chúng ta không tìm cách thoát khổ, mà lại xin Chúa ban cho mình biết dùng khổ làm phương tiện, đón nhận khổ để được theo Chúa, giống Chúa: Ai muốn theo Ta hãy vác thập giá!

Đối với khổ, chúng ta nghĩ thế nào, áp dụng ra sao?

1.Thường chúng ta hay nghĩ khổ là hậu quả của tội. Sau khi ăn trái Chúa cấm, Adong phải làm lụng khổ nhọc, Eva đau đớn khi sinh nở.

Thiết nghĩ dầu không có nguyên tội, thì vật thọ tạo vì không hoàn hảo, cho nên phải có ít nhiều đau khổ. Vật có cảm giác biết đau để bảo vệ cuộc sống, vật có lý trí biết đau để việc hiến thân, hy sinh mới có giá trị.

2.Có thể nói đau khổ là tài sản riêng của con người. Vì ngoài đau khổ thì con người có được những gì? Tất cả đều do Chúa. Tài lực sinh hoạt chính là triển khai năng khiếu Chúa ban. Cái khổ nhọc đẩy năng khiếu tác động là của mình.

- Khổ nhọc kết hiệp với Chúa, có khả năng đền tội cho mình và cho người.

- Khổ nhọc cũng có được khả năng phần nào đòi Chúa trả công (lao công đáng giá).

- Khổ nhọc triệt để là cái chết dâng lên Chúa như dấu chứng tình yêu.

- Cái chết dâng lên Chúa là hy lễ toàn thiêu, vật thọ tạo (vừa là phần của mình mà cũng thể đại diện, thay thế vạn vật) dâng lên Chúa để tôn thờ, cám ơn.

Qua đó, chúng ta thấy không lý do phiền trách Chúa đã đẩy những khó nhọc vào đời sống con người.

Dòng Mến Thánh Giá, không coi khổ, mê khổ như mục đích (đó là một thứ bệnh hoạn!) mà thật sự Mến Thánh Giá như phương tiện và nhờ Thánh Giá (đau khổ) để nên thánh thiện và đạt phúc lạc thường hằng.

Tháng 04-2007

TÌNH YÊU

TÌNH YÊU là vấn đề thiên hạ thường bàn đến, chúng ta hãy cùng tìm hiểu.

Con người là nhân loại, là loài có nhân. Là con người thì phải có nhân và tình yêu. Không có tình yêu thì không còn là nhân.

Nói đến tình yêu… tôi nghĩ khi tôi thấy một người nào đó, tự nhiên tôi thích, không biết tại sao, đặc biệt là người khác phái? Có thể đó là bản năng tự nhiên: Âm dương tương thôi, trai gái thu hút lẫn nhau. Thu hút như thế gần với thú tính, chưa đủ là con người có lý trí. Ngoài cái thu hút đó, tôi còn cảm thấy trong con người tôi tiếp xúc có những đức tính, những đặc điểm tốt lành tôi muốn được có trong tôi. Dĩ nhiên, người tôi gặp cũng có những ý nghĩ như thế về tôi. Tôi cho đó là bắt đầu tình yêu của Chúa, ngoài Chúa không có tình yêu chân thật.

Thiên Chúa là Tình Yêu, Thánh Gioan đã định nghĩa về Chúa như thế! Để biểu lộ tình yêu tột đỉnh của mình cho loài người, Thiên Chúa đã cho Con Một xuống trần, sống kiếp con người, chịu chết thập giá để nói lên tánh cách lớn lao của tình yêu: yêu cho đến chết, yêu vô vị lợi!

Và khi lưỡi đòng của quân lính đâm thâu trái tim Chúa khiến những giọt nước và máu cuối cùng chảy ra trên thập giá, là lúc Chúa biểu lộ tình yêu hiến dâng cho đến cùng.

Vì muốn biểu lộ tình thương một cách khả giác nên Chúa đã nhập thể, lại mạc khải Trái Tim là hình ảnh của tình yêu của Chúa, Tình yêu có phần cảm xúc như tình của con người.

Chúng ta nhờ âm dương tương thôi, nam nữ thu hút lẫn nhau, chưa gọi được là tình yêu, nhận thấy những điểm tốt nơi đối nhân, mong được những điều tốt đó ở mình, còn đối phương cũng có cái nhìn, cái ý nghĩ tương đương, cùng nhau muốn trao đổi cho nhau, bổ túc cho nhau, để cả hai chấp nhận nên một. Đó là tình yêu.

Chúa nhập thể để biểu lộ vẻ hoàn thiện nơi nhân tính, để ghép nhân tính con người vào thiện hảo của Chúa, nhờ đó, nhân tính ít ra cũng hưởng được một phần kết hợp.

Tôn sùng Thánh Tâm là mến mộ tình yêu Chúa tỏ hiện nơi hình thể trái tim và muốn đàp lại bằng chút tình yêu nhỏ hèn của mình. Trao đổi như thế xem ra cũng có phần kết hợp được với Chúa.

Tương tự như hoàng tử đi tìm tình nhân là cô gái lọ lem để nên duyên, hoàng tử không những muốn giống mà còn muốn như đồng hóa với người mình yêu.

Chịu tất cả những trạng huống của con người sống ngắn ngủi, nhiều đau phiền, khổ nhọc, hơn thế nữa Chúa còn chết để tỏ tình yêu. Nhập thể và chịu chết để nên của lễ đền tội thích đáng và nên của lễ tận hiến, thượng tiến có giá trị hoàn hảo.

Hiến mình để đạt lại mình. Đó là những điều kể được là cao trí vô cùng, đúng với Chúa vô cùng và vượt trên mọi hiểu biết, tưởng tượng của chúng ta.

Chúng ta chỉ biết sắp mình thờ lạy và dâng hết tâm tình nhỏ hèn của chúng ta để đáp tình yêu vô tận của Chúa.

Vô cùng kết hợp với hữu hạn! Tuyệt thiện liên kết với đê hạ. Đó chính là công trình của Thiên Chúa liên kết hai thái cực.

Tháng 7 – 2009

ĐẠO TÌNH YÊU

Chúa là tình yêu. Vì yêu Chúa đã tạo dựng. Cũng bởi tình yêu vô cùng nên Chúa đã tái tạo nhân loại. Dĩ nhiên lề lối hay lề luật hay đạo dẫn dắt con người sống đúng nhân phẩm, đúng với mối tương quan con người đối với Thiên Chúa và con người đối với con người, phải là đạo tình yêu.

Không sống yêu thương thì có thể nói là chưa sống đạo. Chúng ta thử kiểm điểm xem có tôn thờ Chúa không?

1.Bề ngoài xem ra tôi giữ đạo, tôi thờ Chúa nhưng thật sự tôi không thờ. Tôi thờ Chúa để Chúa ban cho sức khỏe, ban cho tôi làm ăn thịnh đạt, phúc lạc ở thế trần. Như thế, đâu có phải là thờ Chúa, đúng hơn là bắt Chúa phục vụ mình.

2 Giữ đạo, tôn thờ và ý thức thiên hạ giữ thì mình cũng giữ, thế thôi! Sao gọi được là sống đạo.

3.Nhận định đạo là tốt, mình giữ đạo thì mình nên người tốt, thiên hạ tôn trọng mình, cũng chưa hẳn là sống đạo.

4. Mình giữ đạo, vì đạo lợi ích cho cá nhân, cho xã hội, Mục đích sống đạo cao siêu hơn, vượt trên những lợi ích của thế trần.

5.Tôn thờ thích đáng hơn là nhìn nhận Chúa tạo dựng mình, Chúa là Chủ tể, mình là vật thọ tạo phải tùy thuộc Chúa. Đúng nghĩa tôn thờ, nhưng chưa nói được là thiện hảo. Phải thờ Chúa với tình yêu, bằng tình yêu. Mến Chúa, yêu người là đặc điểm căn bản của Đạo bao gồm tất cả luật lệ luân lý. Không có thương yêu thì chưa hẳn là đạo. Thương Chúa, thương người, thương vật, có thể thương cả những biến cố diễn tiến dưới đời.

Chúng ta hãy cố gắng sống tình yêu, nếu không xuyên suốt nổi thì ra sức thể hiện nhiều lần trong ngày. Tất cả những ý nghĩ, những tác động, giờ ngủ nghỉ, phải thể hiện dưới năng lực của tình yêu.

Sống Đạo là sống Tình Yêu!

ĐẠO HỒNG ÂN

Đạo là hồng ân Chúa ban cho nhân loại. Đạo là tia sáng soi dạy cho con người biết có ông trời, có Đấng Tối Cao. Đạo cũng là đàng, là lề lối, là luật lệ, dạy cho chúng ta nhận biết phải liên kết với Trời, Đấng Tối Cao, liên kết với nhau, với xã hội, với mình, với vạn vật như thế nào cho thích đáng với phẩm giá của con người.

Hiểu đạo như thế thì phải nhận định: Đạo do Trời (Đấng Tuyệt Đối) ban cho. Đạo không thể do người được, vì đạo là tình trạng bao quát cả nhân loại; gần như không người nào là không có đạo.

Về hiện trạng vô thần, chúng ta có thể giải thích: con người tiến triển mạnh rồi tự phụ, quá trọng tự do.v.v.. do đó không muốn nhìn nhận có Đấng Tối Cao; tìm những lý lẽ mơ hồ để giải thích tình trạng vô thần.

Phải có Đấng bao quát, quyền năng trên vũ trụ, trên loài người mới có thể đặt vào tâm trạng của con người một nền đạo lý bao quát. Vả lại Chúa tạo dựng thì phải chỉ định cho có một mục đích. Mà đã ban cho mục đích thì cũng phải ban cho, chỉ dạy cho, đường lối đạt mục đích: đó là Đạo.

Mặc dầu Chúa trọng tự do của con người, nhưng cũng có quyền đòi con người phải giữ đạo. Con người với con người không có quyền như thế nên không thể đề xướng một nền đạo được. Chỉ có Chúa mới biết tường tận toàn năng của Chúa, biết phẩm giá của con người, của xã hội, và bản tính sự vật, thì mới có thể đưa ra một đạo chân thật thích hợp.

Đường lối dạy đạo, đúng là phi thường! Lúc Khởi Nguyên, Chúa dạy nguyên tổ như Cha dạy con: Đừng ăn trái cấm. Lúc loài người đông đảo Chúa dạy nhân loại truyền đạo với uy quyền, ra lệnh, đòi buộc, trong cảnh khói lửa, sấm sét vang rền, núi đồi rung chuyển. Sau cùng, Chúa ban Đạo là ban chính mình, ban chính Con Một là Chúa Kitô, là Đàng, là Sự Thật và là Sự Sống.

Chúa Kitô là Đàng (Đạo) là nguyên nhân gương mẫu, là phương tiện khẩn thiết duy nhất để đạt mục đích tối chung. Ngoài Chúa không thể có Đạo chính thật.

Chúa ban Đạo, nếu chúng ta trung thành giữ Đạo, mới được gặp Chúa, và tiến đến mục đích tối chung là kết hợp với Chúa.

THÁNG TRÁI TIM

Hội Thánh muốn chúng ta dùng tháng nầy để tìm hiểu tôn thờ và sùng mến tình yêu của Chúa.

Tôn thờ vì mầu nhiệm nhập thể đã làm cho nhân tính của Chúa được như đồng hóa với thiên tính, đáng cho chúng ta tôn thờ. Hình Thể Trái Tim để chúng ta nhận thấy tình yêu của Chúa.

Thiên Chúa là Tình Yêu. Bởi yêu nên tạo dựng những vật ngoài Thiên Chúa, cho tham dự vào sự hiện hữu của Chúa, từ vật vô tri đến vật có cảm giác, rồi đến con người có được linh tính. Hơn nữa, Chúa còn ban cho con người có sự sống, giống như sự sống của Chúa, để con người làm chủ vũ trụ và hướng vũ trụ về Chúa, nghĩa là vạn vật nhờ con người mà lệ thuộc Chúa. Còn chính con người còn được liên kết với Chúa.

Nhưng Adong nguyên tổ lại phá đổ chương trình của Chúa. Chúa lại tái tạo chương trình bằng một lề lối biểu lộ tình yêu siêu việt phi thường.

1.Chúa nhập thể để nhập thế, gần như bỏ trời để chạy tìm gặp tình yêu (Hoàng tử tìm cô gái lọ lem!).

2.Lãnh việc đền tội thay thế cho loài người, vì chính con người không có khả năng đền tội phạm đến Chúa.

3.Đền tội bằng thương yêu triệt để, chết thay cho con người mình yêu. Không việc thương yêu nào cao vời hơn.

4.Chết để nên của lễ thượng tiến cho Cha. Thờ phải có của lễ, con người có chi để dâng tiến Chúa. Con người dầu chết trăm ngàn lần cũng không xứng đáng. Chỉ có nhân tính Chúa làm của lễ mới tương xứng.

5.Nhờ của lễ tuyệt đối nầy kéo được mọi ơn lành của Chúa. Không ơn Chúa thì không sống và cũng không tác động có giá trị trước mặt Chúa.

6.Không có ơn cứu chuộc thì không thể được lại ơn làm con Chúa, sống như Chúa, kết hợp với Chúa và thông phần vinh hiển của Chúa.

7.Chúa không những ban ơn mà còn ban Mình nên của ăn nuôi linh hồn.

Tất cả vì tình yêu, tình yêu tuyệt đối! Chúng ta có mến Chúa không. Có dám nói không phục (như một số thiên thần), không yêu (như nguyên tổ)) không?

Chúng ta phải mến yêu, phải tin tưởng vào tình Chúa yêu, tin tưởng đến bên Chúa, nương tựa vào Chúa.

Tháng 06 – 2009

TẠI SAO GIỮ NGÀY CHÚA NHẬT

Giữ như thế nào?

Tông Thư của Đức Gioan Phaolô II, những đoạn dạy về giữ Chúa Nhật, lời dạy vừa cao siêu vừa bao quát. Xin đơn giản hóa để dễ thấy, dễ hiểu, và nhờ đó có thể dễ giữ hơn.

Tại sao giữ Chúa Nhật?

Chúng ta là vật thọ tạo, phải thờ Đấng tạo dựng, thờ nghĩa là nhìn nhận Chúa là Chúa tể trên hết, còn chúng ta hoàn toàn thuộc về Chúa.

Phần khác, những thứ ta có cũng do Chúa tạo dựng ban cho, nghĩa là Chúa cũng là Đấng làm ơn tuyệt đối; không giây phút nào Chúa không ban ơn. Hơi thở ra, thở vào cũng nhờ Chúa ban cho.

Vậy chúng ta phải thờ và trên pháp lý phải thờ thường xuyên. Nhưng trong thực tế, chúng ta không thể thờ phượng, tri ân thường xuyên được. Vì chính sự sống của chúng ta nói được là phức tạp. Đúng lý là có một sự sống nền tảng, nhưng có nhiều phương diện, nhiều bộ mặt. Sống thể lý, sống tâm linh, sống thiên nhiên. Mặc dầu hợp nhất, nhưng mỗi bộ mặt sống, còn giữ phần nào tính cách riêng biệt của nó. Nó đòi được ăn, đòi được nghĩ tưởng, nhưng trên nguyên tắc phải tùy thuộc sống siêu nhiên. Do đó, không thể thường xuyên tôn thờ. Vì vậy, Chúa mặc khải, chỉ bảo trong Cựu Ước: Phải dùng ngày Thứ Bảy để tôn thờ, nghỉ việc xác để tôn thờ. Dựa vào hình thức, Chúa tạo dựng trong 6 ngày, thứ 7 Chúa nghỉ ngơi (hiểu theo cách gợi ý, trừu tượng).

Hội Thánh ngày nay chuyển ngày Sabbat (thứ 7) sang Chúa Nhật để tưởng niệm Chúa sống lại, nhưng vẫn giữ một ý nghĩa: ngày tôn thờ, ngày nghỉ việc, và chỉ rõ những việc phải làm, phải giữ:

- Phải tham dự Thánh lễ.

- Phải kiêng việc xác.

- Thực hiện tánh cách liên kết, tình huynh đệ.

- Làm việc lành: nghĩa là nhớ đến, chú tâm đến đời sống siêu nhiên, sống đạo.

Thờ là phận sự của mỗi người, kể là cá nhân riêng biệt, mà cũng là phận sự của nhân vật đã thu nhận những tinh túy của vạn vật, trở thành đại diện thay thế cho vạn vật vô tri thờ Chúa.

Con người lại là vật sống xã hội. Chúa ban cho tâm ý sống xã hội, và hướng dẫn cuộc sống xã hội, nên nói được chính Chúa tạo nên xã hội. Do đó, xã hội cũng phải tôn thờ. Vì thế, xã hội cũng có phận sự tôn thờ. Nhờ Thánh lễ quy tụ nên cộng đoàn, nên đại gia đình của Chúa.

Phận sự tôn thờ, kể là quan trọng, khẩn thiết, cho nên không được để cho bận rộn của cuộc sống thể lý, làm trở ngại cho việc tôn thờ, vì thế phải kiêng việc xác, phải nghỉ ngơi, không phải để bồi dưỡng, nghỉ khỏe mà để làm việc lành. Nghĩa là lo nghỉ đến đời sống siêu linh và sống đạo, là làm những việc nâng cao, bảo vệ sống đạo.

Trong những điều nói trên đây giúp chúng ta nhận định rõ hơn về Tông Huấn. Luật giữ Chúa Nhật, chúng ta biết là luật trọng. Bỏ xem lễ …tâm trạng chúng ta kể là tội trọng. Nhưng luật Chúa Nhật là luật không nằm sâu trong bản tính: như luật cấm giết người. Chúa không ra luật chúng ta cũng biết. Còn giữ ngày Chúa Nhật, Chúa cần phải dạy tỏ mới biết, nên không buộc với trở ngại nặng (Vd: ở xa hay bệnh hoạn…) không xem lễ được thì không mắc tội.

Chúng ta giữ ngày Chúa Nhật như thế nào?

Dự lễ ra sao?

- Lễ cũng vui vui, mình đi dự, không dự có tội, nên cùng cực phải giữ.

- Tâm trạng như thế thì đứng ngoài nhà thờ cho khỏe, cho mát…không lạ gi!...Tệ hơn, là dịp để giao du.

Chúng ta nên nhớ, Chúa Nhật, Thánh lễ là trung tâm điểm của đời sống đạo, là phận sự quan trọng và là việc cao trọng trong đời.

Tháng 8-2007

ĐỜI TU

Tại sao tu?
Tu để làm gì?
Tu ích lợi gì?

A. Tại sao tu?

Chúa tạo dựng con người là thánh, là hạnh phúc. Sau nguyên tội, Chúa cứu chuộc, Chúa cũng ban thánh thiện cho nhân loại, cho mọi người, nhưng có phần biến chuyển.

Xưa thánh thiện hạnh phúc, trên nguyên tắc Chúa ban cho toàn thể tập thể (nhân loại).

Sau nguyên tội, Chúa cũng ban cho nhân loại, nhưng mỗi người cá biệt phải tự lãnh trách nhiệm: tìm đạt và bảo vệ thánh thiện, hạnh phúc.

Chung cho mọi người. Tại sao lại có đời tu? Nghĩa là đời thánh thiện hơn, hạnh phúc hơn? Chúng ta có thể nhận định:

- Thánh thiện hạnh phúc: có nhiều cấp bực, Chúa có thể kêu gọi một số người, sống thánh thiện hạnh phúc cách cao siêu hơn. Thánh như Chúa, thánh hạnh phúc trong chính việc kết hợp với Chúa. Đúng ra chúng ta chưa thể biết rõ việc kết hợp như thế nào, và cũng chưa có thể biết cái khoái lạc trong việc kết hợp đó ra sao.

B.Tu để làm gì?

Đúng ra, tu không hẳn là do ý con người muốn thôi. Tu là một ơn Chúa, là một tiếng Chúa kêu mời, không những để sống thánh thiện hơn người, nhưng Chúa còn trao thêm sứ mạng cộng tác với Chúa.

Sứ mạng của Chúa là cứu chuộc, là thánh hóa và qui tụ… để đưa về cho Thiên Chúa một đại gia đình. Chúa trao sứ mạng đó, hay đúng hơn, Chúa muốn cho đời tu tham gia chính sứ mạng đó. Có thể nói đơn giản hơn: Chúa muốn chúng ta nên muối, để nhân loại khỏi hư nát, chúng ta nên men làm cho nhân loại tốt hơn… để qui tụ mọi người cùng sống một sự sống của Chúa Kitô (chúng con nên một).

Đời tu, mặc dầu tín hữu vẫn kính trọng nhưng nghĩ xa hơn thì có thể thấy được một kiếp sống thật là cao siêu: sống với Chúa, tham gia công trình của Chúa.

Trên đây chỉ nêu một vài phương diện sứ mạng của Chúa, để thấy đời tu cần thiết cho Hội Thánh.

C. Tu ích lợi gì?

Đời tu, cách chung tín hữu chúng ta đều tôn trọng, nhưng thật sự chúng ta có xác tín: đời tu là khẩn thiết là lợi ích cho chúng ta, cho Hội Thánh không?

Khẩn thiết, không hẳn khẩn thiết “vô bất đắc” (không có không được), nhưng vẫn có thể nói: Hội Thánh cần có đời tu.

Có đời tu mới có được nhiều trung gian truyền chuyển ơn cứu chuộc, ơn tái tạo vào đời.

Có đời tu, nêu gương, kéo ơn Chúa xuống, tăng năng lực để con người có khả năng tăng trưởng đời sống thánh.

Bằng đời sống tu, những người sống thực hiện sứ mạng của Chúa, đã nêu gương sống không bám vào đời mà hướng về Chúa, để đạt chân hạnh phúc.

Nếu không có đời tu, thiết nghĩ mức độ sống đạo không tiến cao có thể làm nảy sinh tâm trạng ích kỷ. Sống đạo để được Chúa ban phúc lạc ở trần gian và đời sau.

Không chỉ sống đạo vì Chúa toàn năng tuyệt đối… mình phải hoàn toàn tuân phục. Chúa ban cho mình tất cả, Chúa là Chúa tình yêu nên mình phải sống đạo với tất cả tình yêu.

Hội đồng Giám Mục muốn nhắc sứ mạng cao siêu của đời tu để nhắc nhở chúng ta một lối sống tốt đẹp, nhứt là trong tình trạng thế giới có phần lung lạc hôm nay. Đời tu ngày hôm nay, phải có lực hơn những thời đại khác.

Đời tu kém… thế giới suy đồi.
Đời tu thánh…thế giới tinh tuyền.

Tu là hiệp nhất

Đời tu không tu riêng cho mình mà còn lãnh sứ mạng tham dự vào, hay cộng tác với sứ mạng của Chúa Kitô, sứ mạng có thể nói cao siêu nhất. Đời tu phải chú tâm nỗ lực thể hiện sự hiệp nhất, nhất là trong một thế giới khinh thường đạo đức luân lý. Hiệp nhất giữa Chúa với người và người với nhau: hiệu quả của thương yêu.

Qua việc Chúa tạo dựng các vật thọ tạo, chúng ta thấy ít nhiều hình ảnh của bản thể Chúa: Ba Ngôi một Chúa. Chúa tạo các vật từ vô tri, đều tri giác, đều linh thiêng, đều ở ngoài Chúa, cũng phải hướng về Chúa.

Liên kết do vật vô tri hướng về Chúa còn xa quá. Cho nên Chúa tạo dựng con người là tiểu vũ trụ, góp những chi trong vũ trụ nhờ có phần lý trí thiêng liêng nên đạt thành một ngôi vị. Chính ngôi vị này hiểu biết và nói được là mang cả vũ trụ hướng về Chúa. Qua đó, ta thấy được chút nào việc con người hiệp nhất với Chúa.

Chúa lại ban cho nguyên tổ mối hiệp nhất với Chúa cách thân tình hơn, kết hợp với Chúa như con với Cha, nhưng nguyên tổ đã làm mất đặc ân nầy.

Chúa Kitô nhận lãnh việc tái tạo chuộc lại ơn làm con. Đó là sứ mạng qui tụ nên một nước Thiên Chúa, hay dễ thấy hơn, Chúa qui tụ nên một đại gia đình, để kết hợp với Chúa và kết hợp với nhau. Đời tu, cộng tác, tham gia sứ mạng của Chúa Kitô, ta phải sống thế nào?

Với đời tu, không thánh quyền (không có chức thánh), ít ra Chúa muốn cho đời thấy tấm gương hiệp nhất, một đức tính đặc biệt của Hội Thánh (hình ảnh một Chúa Ba Ngôi), qui tụ những khác biệt thành một đơn nhất. Sống tập thể hiệp nhất, không những tránh dẹp những trái nghịch trở ngại cho sống chung hiệp nhất mà còn phải nhiệt thành sống thương nhau; nhiệt thành thương nhau để có phần sang sớt niềm thương cho anh chị em cùng thương; mình thương mà cũng làm cho anh chị em cũng thương mình. Đó là tham gia sứ mạng hiệp nhất của Chúa Kitô.

Với đời tu có thánh quyền (có chức thánh) thì việc tham gia vào sứ mạng hiệp nhất, không những sống như đời tu trong Hội dòng, mà còn lãnh trách nhiệm làm trung gian, làm dụng cụ cho hiệp nhất, qua bí tích, qua lời giảng dạy, làm dụng cụ cho hiệp nhất, qua bí tích, qua lời giảng dạy.

Đời tu, không gì tệ hại bằng phá hoại đời tu, lạm dụng sứ mạng, không những hại mình mà hại cho thế giới cho nhân loại.

Tu thiện hảo thì đem hòa bình và hạnh phúc cho thế giới, còn chính mình có thể đạt hiệp nhất tuyệt vời: hiệp nhất với nhân tính của Chúa Kitô, và do đó cũng nói được là hiệp nhất với chính Thiên Chúa.

Tháng 9-2009

ĐỌC KINH

Có lẽ không mấy dân tộc công giáo đọc kinh nhiều như dân tộc mình. Thời xưa không mấy gia đình bỏ đọc kinh hôm, kinh mai, thường lần chuỗi nữa.

Nhưng có phải đọc kinh nhiều là giữ đạo và sống đạo không? Không đúng.

Đọc kinh như cassette (máy thu thanh, phát thanh) phát lại những kinh Hội Thánh đặt ra “để tôn thờ, tin, cậy, mến, mà cầu và xin ơn, tạ ơn”.

Đọc nhiều mà đọc như cái máy, thiếu ý thức thì kể như không giá trị gì. Hội Thánh đặt ra kinh để giúp tín hữu, nhất là giới thơ ấu, chưa ý thức, bập bẹ phần nào tâm tình đối với Chúa và đối với vạn vật. Cho nên, việc đọc kinh đầu tiên là tập ý thức giao tiếp với Chúa.

Ý thức giao tiếp như thế nào

Đọc như máy là vô ý thức. Cần nhìn nhận đọc kinh là tiếp xúc với Chúa. Tiếp xúc là ở gần nhau, thấy nhau, chuyện trò với nhau.

Có Chúa trước mặt là điều kiện cần cho việc đọc kinh có giá trị. Thấy nhau, gặp nhau chưa đủ, phải biết giao tiếp, nói chuyện với nhau… Hội Thánh nhận định giáo hữu còn non trẻ, nên đã đặt những câu thiệu (kinh) để tín hữu có được phần nào những tâm tình tốt đối với Chúa. Nói phần nào là chưa hẳn đó là tâm tình của tín hữu mà chúng ta mượn tâm tình của Hội Thánh. Muốn có được tâm tình của Hội Thánh, lời kinh phải là lời của chúng ta, tình của chúng ta.

Ý thức là nhận thức những ý nghĩa những lời Hội Thánh phô diễn trong lời kinh. Không biết, không hiểu, thì không nói được là ý thức; còn ở trong tình trạng đọc như máy thì chưa đủ, chưa tốt.

Thấy ý nghĩa, thấy tâm tình Hội Thánh gợi lên, nêu lên, mặc dầu chưa hẳn là tâm tình xuất phát nơi mình, nhưng có thể “mượn” và “mong ước” tâm tình đó nên tâm tình của mình đáp lại phần nào tâm tình vô hạn của Chúa.

Chúng ta đã “đọc” kinh thế nào? Có dựa vào việc năng đọc kinh mà kể mình là người đạo đức sốt sắng.

Xin Chúa cho chúng ta biết đọc kinh, không đọc như máy mà đọc có ý thức, có tâm tình. Có thể nói đọc kinh là tiếp xúc với Chúa. Để lần lần Chúa ban cho chúng ta, khi tiếp xúc biết hầu chuyện (có những lời tự phát) tâm sự (tỏ tình) thân tình. Tiếp xúc là kết hợp.

THÁNG 10
THÁNG MÂN CÔI

Hội Thánh dùng tháng 10 để khuyến khích thúc đẩy tín hữu hâm mộ lần chuỗi Môi Khôi. Lần chuỗi là một việc tôn sùng, dĩ nhiên không hoàn toàn khẩn thiết, nhưng rất lợi ích.

Những thế kỷ trước không những ở Việt Nam mà cả thế giới ham lần chuỗi.

Cả đất nước mỗi nhà thờ, mỗi Chúa Nhật đều lần chuỗi Môi Khôi: sớm, trưa, chiều. Gia đình nào không dự được buổi trưa thì giờ kinh tối đọc một chuỗi 50.

Buồn thay! Hiện giờ, giáo hữu không còn giữ lòng ham mộ lần chuỗi. Có khi còn cho là việc kém giá nữa! Thời xưa giới Tin Lành thường xuyên tiếp xúc với Chúa (semper orare) thì đã đọc 150 Thánh Vịnh. Giới tính hữu bình dân thấy vậy ham quá nhưng không đọc Thánh Vịnh được nên thay vào đó đọc 150 Kinh Kính Mừng.

Thánh Vịnh, tôn thờ Chúa, tỏ tình với Chúa cách thông thái sâu rộng; còn lần chuỗi, vẫn có tình, dẫu đơn sơ, vẫn nồng ấm…

Về vấn đề thông thái sâu rộng thì Hội Thánh thêm vào kinh Tin Kính, Lạy Cha, Sáng Danh. Kinh Tin Kíh gồm các điều phải tin. Kinh Lạy Cha (Kinh chính Chúa đã dạy) là Kinh gồm tất cả các lời kinh. Sau cùng Kinh Sáng Danh là tuyệt đỉnh của công trình tạo dựng và cứu chuộc.

Đặc điểm của lần chuỗi là phần suy niệm: Đọc kinh, đọc Thánh Vịnh, dẫu sao cũng thường kể là khẩu nguyện. Còn lần chuỗi vừa là khẩu nguyện vừa là tâm nguyện. Ngoài miệng vừa đọc, mà tâm trí vừa nhìn vừa suy nghĩ về Chúa.

Nhìn như trong ngắm (gẫm)

- Đức Bà được truyền tin… Chúng ta có thể nhìn bức tranh Thiên Thần hiện đến, loan truyền Lời Chúa. Mẹ Maria bàn luận… Nhìn kể được là tâm nguyện. Nhờ biết nhìn mà Chúa chiếm lấy tâm hồn.

- Vừa đọc vừa suy niệm. Tại sao Chúa giáng trần, với hình thể một trẻ bé? Tại sao Chúa quá trọng một trinh nữ nghèo? Vì đâu mà Chúa trọng tự do của con người.v.v.

- Nhìn Chúa, suy nghĩ về Chúa để được biết Chúa hơn, để lần lượt nên người thân của Chúa và liên kết với Chúa.

- Nghe lời Mẹ Hội Thánh khuyến khích, chúng ta hãy ham mộ lần chuỗi. Việc tôn sùng lần chuỗi đã có lâu đời trong Hội Thánh. Mẹ Maria, những lần hiện ra ở Lộ Đức, ở Fatima cũng đã khuyến khích.

Việc lần chuỗi vừa đơn sơ, vừa cao siêu, nhiều lợi ích, có thể nói là trường học của nhiệm hiệp.

Tôn sùng Mẹ Maria qua việc lần chuỗi:

Có thể nói, gần như toàn thể các thánh đều tôn sùng Mẹ Maria, Đấng mà Chúa đã trối lại cho nhân loại “Này là Mẹ con”.

Thời xưa, lúc mới truyền đạo, các nhà thừa sai đã dạy, đã tập cho chúng ta mỗi tuần đọc nguyên chuỗi Môi Khôi (150 kinh).

Như thế có nói được là tôn sùng Đức Mẹ chưa? Tôn sùng vì mình thường chạy đến nương nhờ cầu xin, chưa đủ!

1. Trước tiên phải nhận thức việc mình làm, không làm theo lệ thói máy móc.

2. Đúng ra, phải là việc đạo đức, cho nên việc cầu xin để thi đậu, để hết bệnh, để được may mắn trong công ăn việc làm… chưa phải là tôn sùng mà có thể là lạm dụng.

3. Lần nhiều chuỗi để được tiếng là tôn sùng, chưa phải là tôn sùng.

4. Xin cho chính việc tôn sùng (lần chuỗi) được tốt hơn, đúng hơn, đẹp hơn…

5. Vì mộ mến đức hạnh của Đấng mình tôn sùng nên mong ước, noi gương, lại cũng vì mộ mến, nên thường giao tiếp cầu xin; xin giúp cho biết xem lễ, làm việc lành tốt hơn. Đó chính là tôn sùng đích thực.

Thật ra, chăm chú, ý thức thường xuyên đọc 50 kinh Kính Mừng, kể là quá tầm trí của con người. Cho nên, Hội Thánh ghép vào 15 mầu nhiệm Vui – Thương - Mừng chuyển đổi nhau. Khi nhớ kinh, khi nhớ Chúa.

Nhờ Mẹ giúp, nhìn Chúa, thân với Chúa và kết hợp với Chúa. Có người quả quyết: lần chuỗi không suy niệm là xác không hồn. Nếu biết dùng suy niệm trong “lần chuỗi” thì lần chuỗi là trường dạy chiêm niệm (kết hợp với Chúa).

Chúng ta lần chuỗi thế nào? Có dám quả quyết tôn sùng Mẹ Maria không? Thời nay, tín hữu lần lần quên hẵn việc lần chuỗi, có thể cho là phận khó nhọc trong cuộc sống đạo. Giá như còn giữ lệ thói của tiền nhân thì như máy móc.

Xin Chúa canh tân đời sống chúng ta, để chúng ta hiểu biết, dùng việc lần chuỗi, tôn sùng Mẹ Maria, nhờ đó, chúng ta tìm gặp Chúa, thân với Chúa và kết hợp được với Chúa.

Lạy Mẹ Maria, xin dẫn dắt chỉ dạy chúng con.
Nhờ Mẹ Maria đến cùng Chúa Giêsu.
(Per Maria ad Jesum!)

TÔN SÙNG

Trong cuộc giữ đạo, thỉnh thoảng chúng ta dùng tiếng tôn sùng. Dùng thế là dùng, nhưng ý nghĩa chúng ta không rõ lắm. Có thể hiểu: tôn là kính, sùng là hâm mộ việc tôn kính.

Thường thường, chúng ta không có được một cái nhìn bao quát, chỉ biết nhìn phiến diện, phân tách. Do đó, chúng ta thấy vị thánh này có khía cạnh dễ thương.

Ví dụ:

- Thánh Têrêsa Hài Đồng mình thấy tính cách thương yêu tín thác của trẻ thơ, mình thích, mình nói “mê phần nào”.

- Thánh Giuse đơn sơ khó nghèo, dễ mến quá.

- Thánh Phanxicô Assisi sống nghèo đặc biệt mình phục lắm.

Theo gương các ngài thì khó qua nên thường chạy đến bắt chước, nương nhờ các ngài. Như thế là tôn sùng, nghĩa là thấy gương đáng mến, cố gắng bắt chước, thấy mình hèn kém, nhờ Đấng thánh mình mến mộ giúp sức. Trong cuộc sống thiêng liêng, thường nhớ và mong đợi nơi Đấng thánh mình tôn sùng.

Tôn sùng chính đáng, đích thực nhằm đưa đến đời đạo đức thánh thiện, loại được một phần tính kiêu ngạo và ích kỷ của mình. Nói theo lối bình dân, tôn sùng một vị thánh nào, thì kể như mình có được bạn thân trên thiên quốc, thường gặp nhau, tiếp xúc với nhau và nhờ nhau để gặp Chúa, thân với Chúa và kết hợp với Chúa.

CHÚA LÊN TRỜI

Có thể công trình Chúa đã tròn đầy (viên mãn) nên Chúa về trời.

Khi trút hơi thở cuối cùng, Chúa đã tuyên bố: Đã hoàn tất (consumatum)! Xem ra Chúa không còn phải làm chi nữa; Chúa về trời, nghỉ ngơi toàn phúc.

Không hẳn như thế!

Chúng ta vẫn biết – primum movens non movetur – nguyên động (lực) thì không động. Do đó, chúng ta có thể nói ngược: không giây phút nào Chúa không động. Động mà không bị động.

Chúa lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Không phải để an nghỉ, nhưng để hiện thực thường xuyên công trình cứu chuộc, xin Chúa Cha tha thứ lỗi lầm, hoàn hảo hóa con người khuyết kém, uốn nắn con người tội lỗi, dẫn dắt con cái lỗi lầm.

Chúa về trời, đúng ra Chúa ở lại với chúng ta đến tận thế. Xem ra Chúa vẫn làm việc thường xuyên và chúng ta có thể hiểu: hễ sống thì phải có động. Do đó, Chúa quả quyết, Thầy ở cùng các con đến tận thế (cũng có thể Chúa ở trong chúng ta đến đời đời). Vậy lên trời để làm gì? Bài học cho chúng ta nhớ cuộc sống của chúng ta có trời và đất. Đất là tạm qua, trời là vĩnh cửu. Không được bám những cái tạm qua, phải mong ước đạt được vĩnh cửu.

Tạm qua, tự nó không đầy đủ và không trường tồn, có khoái lạc chút ít thôi. Cái khoái lạc tạm qua thường đưa con người đến đau khổ. Hạng người bi quan lại thường nói “Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê”. Như thế, xem ra đời vui ít khổ nhiều!

Nhưng trời sinh ra mình để chịu khổ thôi sao? Vô lý quá! Dĩ nhiên không đúng với công trình tạo dựng nguyên khởi. Nguyên tổ được tạo dựng trong tình trạng không chết và hưởng phúc. Nguyên tổ đã lật đổ chương trình. Chúa lại cải tạo và giao cho mọi người phải biết dùng cuộc sống tạm để - nhờ Chúa chuộc lại, được tham gia vào sự sống và hạnh phúc của Chúa - đạt cái vĩnh cửu đời đời.

Phải biết dùng đời tạm, đời tạm không phải là chờ khổ sai. Khó nhọc ở đời chính là phương tiện để sống thiện hảo. Có khó mới có công.

Chúa tình yêu đã về trời thì đòi người yêu phải thường nhớ và tiếp xúc với Chúa. Chúa lên trời bảo chúng ta: Đừng bám đời, mà dùng đời để tiến về Chúa và mến yêu Chúa.

HỌC ĐẠO

Vấn đề học đạo thuộc loại khẩn thiết trong đời sống con người. Từ mới sinh, đã bắt đầu học nhìn, học rờ, học bò, học lật, học đi, học đứng, học ăn, học uống…học cầm đũa nữa. v.v.

Lớn hơn một ít, bắt đầu học sử dụng lý trí, linh tính: học biết mẹ, học biết cha, học biết tốt xấu, lành dữ, học nhận biết sự vật, học thương mến, thiện hảo.

Nho giáo nói: người không học thì giống như cầm thú có mặc áo quần. Người không học là người ngu đần, không học không tri lý, nhất là không học thì không thể biết Đạo. Biết đạo, sống đạo thì mới có thể nên người Hiền, nên người quân tử.

Đối với người Công giáo chúng ta: cần phải học đạo để sống đúng nhân phẩm, đúng địa vị làm con Chúa. Chúng ta nghĩ thế nào?

Gần như toàn thể nhân loại cảm thấy cần pải học cho con người hiểu biết rộng sâu, và tìm học làm cho lối sống tạm qua này được thoải mái và được chút ít phước lạc. Họ không cảm thấy cần học Đạo để biết đường lối chính đáng, để bảo vệ phẩm giá và đạt chân hạnh phúc.

Riêng giới Công giáo chúng ta có cảm nhận học Đạo là khẩn thiết không?

Cần học để khỏi đi ngược lại với Phép Rửa Tội, để khỏi nghịch lại với ý cha mẹ, ông bà, để khỏi tách biệt với tập đoàn mình đang chung sống. Học Đạo để nhập đoàn, để thăng tiến, để đạt địa vị .v.v. Cần như thế chưa nói được là cần khẩn thiết, nghĩa là không Đạo thì con người không sao giữ được nhân phẩm chính đáng và mục đích tối chung, kết hợp với Chúa.

Trong thực tế, trẻ nhỏ học đạo, là vì áp lực cha mẹ, vì Cha Sở biểu. Học giáo lý cho đến Rước Lễ Bao Đồng, thì kể như xong nhiệm vụ, hay còn vớt vát nghe bài giảng Chúa Nhật, học như thế có đủ không?

Không học giáo lý có hại không? Để thoáng một chút, xin thuật lại câu truyện này, câu truyện có thật, không phải minh họa:

Cha xứ đến nhà một bậc khá giả nhắc bà con đi học giáo lý. Bà chủ trả lời: “Cần gì học giáo lý, nó cũng lớn lên tốt đẹp, cũng như loại cây ngoài vườn chúng có học gì đâu”.

Câu chuyện chìm vào dĩ vãng, có ngờ đâu thời gian sau, cậu bé lớn lên quá ngang ngược, chơi bời trụy lạc. Một hôm về nhà đòi mẹ cho tiền để đi chơi. Bà cương quyết từ chối. Cậu trai quá bực không chi kềm hãm được, cậu đã nhẫn tâm hạ sát chính đấng đã sinh nuôi mình.!!

Học đạo như xưa nay có đủ chưa? Chúa vô cùng thì dầu học cho đến chết, học mãi mãi cũng không sao biết Chúa hoàn toàn. Vả lại, học đạo phải theo ý Chúa hướng dẫn, theo chỉ dẫn của Huấn Quyền Hội Thánh. Học tự do thì có thể rơi vào lầm lạc, học theo sở thích tự nhiên hèn kém thì dễ bị lôi cuốn vào vòng trụy lạc.

“Nếu không theo Thầy thì theo ai”. Theo Thầy, học đạo và giữ đạo của Thầy thì đúng là xây nhà trên nền đá; gặp chống đối, thì đáp trả được, gặp thử thách nặng, thì cũng có được năng lực của Chúa để chiến thắng. Chúang ta có cảm nhận học giáo lý, học đạo là khẩn thiết không? Cần và cần mãi cho đến chết. Trong thực tế, chúng ta không thể thường xuyên hóa việc học. Ít ra phải muốn, phải dùng những đường lối Hội Thánh (Giáo Quyền) hướng dẫn:

1. Khuyến khích học Kinh Thánh.

2. Giảng dạy qua bài giảng, bài dạy ngày Chúa Nhật.

3. Tìm hiểu qua những buổi hội học.

4. Cũng có thể nhờ đọc sách thiêng liêng, Thơ Mục Vụ.

Học Đạo, Biết Đạo, Sống Đạo mới bảo vệ, tăng cao nhân phẩm, mới đạt mục đích tối chung, hạnh phúc vĩnh cửu. “Triêu vãn Đạo, tịch tử khả hỷ”: Sáng nghe đạo, chiều chết cũng vui.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tgmvl