|
|
TÌM HIỂU HỌC THUYẾT XÃ HỘI GIÁO HỘI CÔNG GIÁO BÀI 1. TRONG MỘT TRUYỀN THỐNG LÂU DÀI Học thuyết xã hội của Hội Thánh Công Giáo – một cụm từ vừa nghe lạ tai vừa thấy phức tạp. Thật ra, khi liên hệ với quá trình lịch sử hình thành học thuyết hay xa hơn nữa, khi dựa vào Thánh Kinh để ôn lại toàn bộ lịch sử cứu độ, chúng ta sẽ thấy cụm từ ấy vừa quen thuộc vừa giản dị. 1. Lịch sử cứu độ -lịch sử của một Thiên Chúa can thiệp ngày càng sâu vào đời sống con người. Có thể lấy lịch sử cứu độ của dân Do Thái làm hình ảnh để khái quát hóa lịch sử cứu độ của toàn thể nhân loại. Và có thể lấy sự can thiệp của Thiên Chúa để cứu dân Do Thái khỏi nô lệ Ai Cập làm hình ảnh khái quát hóa tất cả những sự can thiệp của Ngài cho dân tộc ấy trong suốt dòng lịch sử của họ: “Ta đã thấy rõ cảnh khổ cực của dân Ta bên Ai Cập, Ta đã nghe tiếng chúng kêu than vì bọn cai hành hạ. Phải, Ta biết các nổi đau khổ của chúng. Ta xuống giải thoát chúng khỏi tay người Ai Cập, và đưa chúng từ đất ấy lên một miền đất tốt tươi, rộng lớn, miển đất tràn trề sữa và mật (…) Bây giờ, ngươi hãy đi! Ta sai ngươi đến Pharaô để đưa dân Ta là con cái Israen ra khỏi Ai Cập”. (Xh 3,7-8.10) Thiên Chúa không chỉ quan tâm tới con người khi họ gặp những sự cố đặc biệt bằng cách can thiệp tức thời, mà Thiên Chúa còn quan tâm tới con người trong đời sống thường ngày bằng cách đưa ra những nguyên tắc và luật lệ hướng dẫn. Chẳng hạn: “Người ngoại kiều, ngươi không được ngược đãi và áp bức, vì chính các ngươi đã là ngoại kiều ở đất Ai Cập. Mẹ góa con coi, các ngươi không được ức hiếp (…) Nếu ngươi cho một người trong dân Ta, một người nghèo ở với ngươi vai tiền, thì ngươi không được xử với nó như chủ nợ, không được bắt nó trả lãi. Nếu ngươi giữ áo choàng của người khác làm đồ cầm, thì ngươi phải trả lại cho nó trước khi mặt trời lặn (…) Trong vòng sáu năm, ngươi sẽ cày cấy ruộng đất ngươi gieo trồng và thu hoa lợi. Nhưng năm thứ bảy, ngươi sẽ để đất ngưng sinh hoa màu, để đất hưu canh; Những người nghèo trong dân ngươi sẽ được hưởng hoa màu đó, những gì còn lại thì bỏ cho giả thú ăn. Vườn nho và vườn ô liu, ngươi sẽ làm như thế”. (Xh 22,20-21.24-25; 23,10-11). Về sau trong lịch sử, tuy bớt can thiệp cách trực tiếp, Thiên Chúa vẫn không ngừng quan tâm đến con người bằng những con người và những cơ chế do Ngài đặt lên, từ các thủ lãnh, các vua, các ngôn sứ, các thượng tế. Nhưng qua những tuyên bố của ngôn sứ Amos, Thiên Chúa muốn dân Do Thái tổ chức lại đời sống cá nhân và xã hội: “Hãy nghe đây, hỡi những ai đàng áp người cùng khổ và tiêu diệt kẻ nghèo hèn trong xứ. Các ngươi thầm nghĩ: ‘Bao giờ ngày mồng một qua đi, cho ta còn bán lúa; Bao giờ mới hết ngày sa bát, để ta bày thóc ra? Ta sẽ làm cho cái đấu nhỏ lại, cho quả cân nặng thêm; Ta sẽ làm lệch cán cân để đánh lừa thiên hạ. Ta sẽ lấy tiền bạc mua đứa cơ bần, đem đôi dép đổi lấy tên cùng khổ; Cả lúa nát gạo mục, Ta cũng đem ra bán’. Đức Chúa đã lấy Thánh Danh là niềm hãnh diện của Gia Cóp mà thề: Ta sẽ chẳng bao giờ quên một hành vi của chúng” (Am 8,4-7) Nhưng dường như thế vẫn chưa đủ làm cho mọi người tin vào tình yêu của Thiên Chúa, vẫn chưa đủ xua tan nỗi nghi ngờ của nhiều người cho rằng những sự can thiệp của Ngài chưa thật lắm vì đó là những sự can thiệp từ trên cao chót vót và từ bên ngoài xa xôi. Chính vì thế, khi đến thời đến lúc, Thiên Chúa đã đến ở hẳn trong lịch sử của con người như bao nhiêu người khác. Từ nay Ngài có một tên gọi hẳn hoi là Giêsu, một gia đình với cha mẹ là Giuse và Maria, một sinh quán là Bêlem, một ngôi nhà ở Nagiaret, một nghề nghiệp ban đầu là thợ mộc và về sau là giảng đạo, ngày tháng sinh cũng như tháng qua đời… Chỉ có điều là trước sau vẫn như một, Thiên Chúa luôn quan tâm đến đời sống con người: Ngài không chỉ quan tâm cứu giúp họ mà còn đích thân trải nghiệm tất cả những gì người khác đã từng nếm cảm. Từ đó những nguyên tắc và luật lệ Ngài đưa ra để sửa chữa và kiện toàn các quan hệ giữa con người với con người trở nên thừa sức thuyết phục, vì chúng đều được đúc kết từ kinh nghiệm sống của chính Ngài, như “Anh em đã nghe luật dạy rằng: mắt đền mắt, răng đền răng. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: Đừng chống cự người ác, trái lại nếu bị ai vả bên phải thì giơ cả má bên trái nữa. Nếu ai muốn kiện anh để lấy áo trong của mình, thì hãy để cho nó lấy cả áo ngoài. Nếu có người bắt anh đi một dặm, thì hãy đi với người ấy hai dặm. Ai xin thì hãy cho; Ai muốn vay mượn thì đừng ngoảnh mặt đi” (Mt 5,38-42). Đức Giêsu đã lấy hình ảnh sau đây làm phương châm sống của Ngài: “Con người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người ” (Mc 10,45). Trước đó, Ngài đã tỏ ra hết sức quan tâm tới đời sống của con người bừng những sự can thiệp tức thời như Luca đã mượn lời ngôn sứ Isaia để tóm tắt: “Thần Khí Chúa ngự trên tội, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19). Ngài còn thỉnh thoảng can thiệp sâu hơn bằng cách cải tổ những quan niệm và những tập tục hoặc sai lầm hoặc lỗi thời về các vấn đề lớn trong đời sống con người như tục li dị trong đời sống hôn nhân chẳng hạn: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên Mô sê đã cho phép các ông li dị vợ, chứ từ thuở ban đầu, đâu có thế. Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai li dị vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 19,9-8). Hay về quan niệm và tập tục giữ ngày sa-bát hoặc các truyền thống khác: “Tại sao các ngươi dựa vào truyền thống của loài người mà vi phạm điều răn của Chúa?” (Mt 15,3) Nhưng quyết liệt hơn hết là Ngài đã tình nguyện chết thay cho mọi người và sống lại vì mọi người, để tạo cho tất cả mọi người tiền đề căn bản nhất của một cuộc sống hết sức nhân bản và hết sức thánh thiện: trước khi xây dựng một cuốc sống mới, cần phải được giải thoát khỏi mọi sự nô lệ trong cuộc sống cũ và cần phải được ban cho sự sống mới. Bằng chứng của sự sống mới có mặt nơi con người và thế giới là sự hiện diện của Chúa Thánh Thần và những biểu hiện của Ngài. “Hoa quả của Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23). “Những ai ở trong Đức Kitô Giêsu thì không còn bị lên án nữa. Thật vậy, luật của Thánh Thần ban sự sống trong Đức Kitô Giêsu, đã giải thoát tôi khỏi luật của tội và sự chết” (Rm 8,1-2) Sau khi Đức Giêsu sống lại và lên trời, Ngài để lại cho nhân loại một Giáo Hội cũng thi hành những nhiệm vụ như Ngài để phục vụ loài người: rao giảng Tin Mừng, cử hành phụng vụ và phục vụ ái (x. CvTđ 4,42.44- 47). Kể từ đó, qua nhiệm vụ thứ ba là phục vụ bác ái, Giáo Hội không bao giờ bỏ qua những sự can thiệp thích hợp vào đời sống vật chất và tinh thần của con người. Thậm chí Giáo Hội còn đặt ra hẳn cả một chức vụ cho hoạt động này (là chức phó tế), trao chức vụ ấy cho những người xứng đáng, không phải chỉ như người trên giao việc cho những người dưới, mà là chính Chúa đích thân trao nhiệm vụ ấy: “Họ đưa các ông ấy ra trước mặt các tông đồ. Sau khi cầu nguyện, các tông đồ đặt tay trên các ông” (CvTđ 6,6). Mỗi khi thành lập một giáo hội, Phaolô (và các tông đồ) luôn quan tâm đưa ra những chỉ thị để hướng dẫn và tổ chức đời sống gia đình và xã hội của mọi người, cụ thể như cho Giáo Hội Êphêxô (x. Ep 5,21-9), Giáo Hội Côlôxê (x. Cl 3,18-4,1). 2. Lịch sử ấy vẫn tiếp tục cho tới hôm nay Như thế, qua tâm tới đời sống con người không những qua những can thiệp tức thời mà còn qua những hướng dẫn mang tính nguyên tắc đã trở thành một trong những nhiệm vụ không thể thiếu của Giáo Hội, ở bất cứ nơi đâu và vào bất cứ thời nào, dù là Giáo Hội ở phương Tây hay Giáo Hội ở phương Đông, dù là Giáo Hội đang phát triển mạnh mẽ trong thời các giáo phụ và thời Trung Cổ hay là Giáo Hội đang gặp thử thách trong các thời bị cấm cách và coi thường, dù là Giáo Hội đã trưởng thành hay là Giáo Hội còn phôi thai. Thậm chí, dưới sự soi sáng và thúc đẩy của Chúa Thánh Thần trong những hoàn cảnh hết sức cụ thể và đặc thù, Giáo Hội không ngừng có những sáng kiến hữu hiệu – đôi khi rất táo bạo – trong việc phục vụ con người, từ những sáng kiến cứu giúp người nghèo tại các tu viện rồi tại các toà giám mục, đến những tổ chức được thành lập qui mô với những con người được đào tạo, những cơ sở đông đảo và những đường hướng rõ ràng nơi các dòng tu và nơi các cơ quan bác ái. Chính nhờ những tổ chức này, dưới sự hướng dẫn của các văn kiện Toà Thánh, Giáo Hội đã được biết đến như “một nhà vô địch về lòng nhân đạo” trên khắp thế giới. Trong tương lại, Giáo Hội cũng sẽ tiếp tục xuất hiện như thế, không phải để tranh thủ thiện cảm của mọi người hay để lôi kéo thiên hạ vào đạo, mà để trung thành với bản chất và sứ mạng của mình, cũng là trung thành với Đấng đã sáng lập mình: “Vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của con người ngày nay, nhất là của người nghèo và những ai đau khổ, cũng là vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng của các môn đệ Chúa Kitô, và không có gì thực sự là của con người mà lại không gieo âm hưởng trong lòng họ” (Vatican II, hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay, số 1). CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HIỂU BÀI
Bài 2. HỌC THUYẾT XÃ HỘI CÔNG GIÁO HIỆN NAY. 1. Học thuyết xã hội công giáo là gì? Song song với sự phát triển ngày càng nhanh và ngày càng phức tạp của thế giới, đặc biệt từ giữa thế kỉ 19, Giáo Hội nhận thấy những can thiệp tức thời bằng hành động hay bằng lời nói không đủ giúp các Kitô hữu cũng như các người thành tâm thiện chí cứu xét và giải quyết các vấn đề xã hội. Giáo Hội muốn đóng góp một cách căn bản và bền vững hơn, như đưa ra những chuẩn mực để người Kitô hữu dựa vào mà phê phán sự việc va những phương hướng cụ thể để người Kitô hữu có thể lần theo mà hành động; tất cả dựa trên những nền tảng chắc chắn là giáo lý Chúa dạy, được giáo hội tiếp thu và quảng diễn, tham khảo thêm những khoa học hiện đại có liên quan đến các vấn đề ấy. Giáo hội làm việc này mà thông qua các văn kiện chính thức của các Đức Giáo Hoàng, là thẩm quyền giảng dạy tối cao của giáo hội. Giáo huấn tổng hợp từ các văn kiện ấy và các văn kiện khác cùng loại sau này sẽ được coi là học thuyết xã hội công giáo. Nói cách khác, học thuyết xã hội công giáo là tổng hợp một cách hệ thống và mạch lạc quan niệm chính thức của giáo hội về các vấn đề lớn trong xã hội. 2. Đâu là những đặc điểm của học thuyết xã hội công giáo? Trước hết, không nên vội vàng cho rằng học thuyết xã hội công giáo chỉ là một lý thuyết nữa, bên cạnh các lý thuyết khác, bàn về các vấn đề xã hội. Tuy bao gồm những nguyên tắc lý thuyết nhưng học thuyết xã hội công giáo nhắm tới những hành động cụ thể của người Kitô hữu trong xã hội. Chẳng hạn, từ nguyên tắc con người là hình ảnh của Thiên Chúa, người ta sẽ đi tới những thái độ và việc làm cụ thể, như không những không giết các thai nhi, không giết những người tàn tật, bệnh hoạn và già nua, mà còn tôn kính và lo lắng chăm sóc họ…vì đi từ lý thuyết để tiến tới những hành động, nên học thuyết xã hội công giáo được coi như một phần của môn thần học luân lý, cũng bắt đầu từ những sự thật của đức tin để đi đến những việc làm cụ thể trong đời sống hằng ngày của các Kitô hữu. Ngoài ra, dù có thể giống với lý thuyết này hay lý thuyết kia về điểm này hay điểm nọ, nhưng học thuyết xã hội công giáo vẫn khác hẳn các lý thuyết ấy: nó không chủ yếu dựa vào những gì con người suy nghĩ hay sách báo nói, mà trên hết nó dựa vào giáo lý hội thánh- đầu tiên là những gì Chúa mạc khải trong Thánh kinh, được giáo hội tiếp thu và diễn giải, được các Đức Giáo Hoàng công bố và coi là lập trường chính thức của mình: nó cũng không chỉ nhắm hướng dẫn con người đến một số phận đẹp đẽ nào đó trên đời này, mà là tới hạnh phúc cuối cùng của con người. Từ đó, có thể nói đưa ra học thuyết xã hội công giáo là đưa ra một quan điểm thần học, chứ không chỉ là giới thiệu một quan điểm xã hội hay triết học, càng không phải là một quan điểm chính trị của một phe đảng nào đó. Thứ đến, cũng không nên coi đây là lý thuyết dành riêng cho người công giáo. Trái lại, do cùng mổ xẻ những vấn đề chung của xã hội, cho những con người có chung định mệnh sau cùng là được hạnh phúc trọn vẹn, dựa trên những phân tích không chỉ của Đức tin mà còn của lý trí, nên học thuyết xã hội này được gởi tới hết mọi người không phân biệt. Nói học thuyết xã hội công giáo mang tính phổ quát, chứ không mang tính cục bộ, là vì lý do đó. Sau cùng, những phân tích phê phán và đề xuất trong học thuyết này chỉ có giá trị qui phạm, tức là làm nền tảng để cứu xét, làm chuẩn mực giúp phê phán, làm chỉ thị để thi hành, khi chúng được chính Đức Giáo Hoàng hay thẩm quyền giảng dạy tối cao của Giáo Hội công bố qua những văn kiện chính thức; bằng không chúng chỉ có giá trị tham khảo hay đọc thêm cho biết. Cũng chính vì được trình bày chủ yếu qua các văn kiện của các Đức Giáo Hoàng kế tiếp nhau cho một thể giới luôn biến chuyển, nên học thuyết xã hội công giáo không bao giờ kết thúc, mà luôn luôn vừa cũ vừa mới, vừa có sự liên tục vừa có sự cắt đứt để vượt qua. 3. Học thuyết xã hội công giáo cho đến nay được trình bày qua các văn kiện nào? Có thể nói học thuyết xã hội công giáo qui cũ và hệ thống được bắt đầu với thông điệp “các hoàn cảnh mới” của Đức Giáo Hoàng Leô XIII (năm 1891). Đúng như mấy chữ bắt đầu thông điệp, hoàn cảnh xã hội ở Tây Phương vào cuối thể kỷ XIX là hoàn cảnh hết sức mới mẻ - mới mẻ từ những tiến bộ và phát minh của khoa học và kỷ thuật cho đến mới mẻ trong cách tổ chức sản xuất và kinh tế, mới mẻ trong đời sống xã hội và chính trị. Thông điệp rõ ràng đứng về phía người lao động hay bị thiệt thòi trong những hoàn cảnh mới mẻ ấy, bằng cách nhấn mạnh tới phẩm giá bình đẳng của người lao động so với các chủ nhân, và đòi hỏi quyền tư hữu cho hết mọi người, quyền thành lập các hiệp hội công nhân hay công đoàn. Nhưng, dù bênh vực người lao động tới mức nào, thông điệp cũng không chủ trương bất hợp tác hay kêu gọi công nhân đấu tranh bạo động để thay đổi trật tự xã hội; thông điệp kêu gọi tốt hơn nên hợp tác để cùng nhau giải quyết mâu thuẩn. Bốn mươi năm sau, tức năm 1931, Đức Giáo Hoàng Pio XI ban hành thông điệp “năm thứ 40”, tiếp tục bênh vực người lao động, đặc biệt trong việc cấp phát lương bổng (không chỉ đáp ứng nhu cầu của bản thân người lao động, mà còn giúp người ấy thoả mãn những nhu cầu căn bản của gia đình mình). Thông điệp còn đi xa hơn khi phân tích và phê phán tình hình các tập thể tài chính lộng quyền, các chính thể độc tài độc đoán ngày càng muốn thâu tóm tất cả của cải và quyền lợi vào tay một thiểu số, can thiệp quá sâu vào các công ty nhỏ, từ đó thông điệp đề xuất nguyên tắc “bổ trợ” (có nơi gọi là “phụ đới”). Một trong những “dấu chỉ thời đại” trong những năm 60 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII ghi nhận là mọi vấn đề xã hội hiện nay, từ lao động tới cách mạng công nghiệp và nông nghiệp, từ các nước đang phát triển cho tới vấn đề gia tăng dân số… đều trở thành những vấn đề không chỉ riêng của một địa phương hay một quốc gia, mà là của cả khu vực và thậm chí toàn thế giới. Chính vì thế, trong thông điệp “Mẹ và Thầy” (năm 1961) và “ hoà bình trên thế giới” (1963), Đức Giáo Hoàng đã nhiều lần sử dụng những cụm từ như “cộng đoàn”, “xã hội hoá”, “hiệp thông”… để nhấn mạnh tới bổn phận của con người và mọi tập thể, là phải hợp tác với nhau trong mọi sự, mới có hy vọng giải quyết được các vấn đề. Chen giữa các văn kiện của các Đức Giáo Hoàng là các văn kiện của Công Đồng Vatican II, đề cập đến các vấn đề xã hội nhưng đặt chúng trong một tổng thể rộng lớn hơn. Chẳng hạn các vấn đề xã hội như văn hoá, kinh tế, hôn nhân gia đình, chính trị, hoà bình…đều được Công Đồng Vatican II qua hiến chế “ Vui Mừng và Hy Vọng” (1965) cứu xét bắt đầu từ con người và hướng tới con người hoặc vấn đề tự do tôn giáo cũng được Công Đồng Vatican II qua tuyên ngôn “Phẩm Giá Con Người” (1966) cứu xét không chỉ dựa trên phẩm giá tự nhiên của con người mà còn dựa trên Mạc Khải của Chúa, khiến nó trở thành một quyền căn bản không chỉ trong xã hội dân sự mà còn cả trong giáo hội, không chỉ là quyền của mỗi cá nhân mà còn là quyền của cả tập thể có tôn giáo. Sau những chuyến công du thực tế tại các nước Châu Mỹ Latinh, Đức Giáo Hoàng Phaolo VI đã viết thông điệp “phát triển các dân tộc” (1967) để lưu ý mọi người rằng , một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến chiến tranh là tình trạng kém phát triển cách bất công của nhiều dân tộc. Nhưng ngài cũng đồng thời nhấn mạnh một sự phát triển đúng đắn phải là sự phát triển cho hết mọi người và cho toàn diện coon người. Phát triển là chuyển từ tình trạng thấp kém hơn sang tình trạng tốt đẹp hơn, không chỉ về mặt kinh tế và vật chất mà còn trong lĩnh vực văn hoá và tinh thần nữa. Cũng trong năm ấy, ngài đã thành lập Hội Đồng Giáo Hoàng Công lý Hoà Bình để đẩy mạnh sự phát triển toàn diện cho hết mọi dân tộc, bằng cách đốc thúc cải thiện tình hình công bằng xã hội khắp nơi. Qua đầu năm 1968, ngài còn có sáng kiến lấy ngày đầu năm dương lịch làm ngày cầu nguyện và hoạt động cho hoà bình thế giới. Rồi nhân kỉ niệm 80 năm ban hành thông điệp của Đức Giáo Hoàng Leo XIII, Đức Giáo Hoàng Phaolo VI viết một tông thư mang tên “tiến đến năm thứ 80” (1971) trong đó ngài điểm lại các vấn đề xã hội va nhận xét các vấn đề ấy càng ngày càng nhiều và càng ngày càng phức tạp- có nhiều vấn đề chưa xuất hiện thời Đức Giáo Hoàng Leo XIII như hiện tượng đô thị hoá, tình trạng sống của giới trẻ và phụ nữ, nạn thất nghiệp, kì thị chủng tộc, di dân, gia tăng dân số, ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông xã hội, vấn đề môi trường…ngài cũng thẳng thắn cho biết chỉ riêng các ý thức hệ thôi không đủ giải quyết các vấn đề ấy, cần phải tìm một học thuyết sâu rộng hơn. 90 năm sau thông điệp “các hoàn cảnh mới” của Đức Giáo Hoàng Leo XIII, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II giới thiệu một thông điệp mới mang tên “làm lao động” (1981). Mặc dù vẫn đề cập đến vấn đề cũ là lao động, nhưng ngài vừa cho biết tầm vóc lớn hơn của vấn đề này hiện nay vừa giới thiệu sự phân biệt cần thiết hai khía cạnh căn bản hay hai mặt thiết yếu của lao động, hướng tới một khoa tu đức cho những người làm lao động hay tổ chức lao động: khía cạnh cần được ưu tiên trên hết vì luôn nắm phần quan trọng và luôn tồn tại là lao động chủ quan bao gồm con người lao động và hoàn cảnh bản thân, gia đình, xã hội của người ấy; va khía cạnh thứ yếu hơn luôn có thể thay đổi tuỳ vào hoàn cảnh bên ngoài là lao động khách quan, bao gồm những yếu tố khách quan như tiền vốn, mặt bằng, máy móc, kĩ thuật hay công nghệ… Kỉ niệm 20 năm thông điệp “phát triển các dân tộc”, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II lại giới thiệu một văn kiện mới có tên “quan tâm đến vấn đề xã hội” (1987). Ghi nhận sự thất bại của thhế giới trong việc giúp các nước nghèo phát triển, Đức Giáo Hoàng cho rằng tình hình bi đát ấy một phần là do người ta đã không phân biệt đúng tiến bộ và phát triển. Sai lầm của người ta là ở chổ giản lược sự phát triển con người và việc gia tăng của cải hay vì quá chú ý tới việc “ sở hữu” (“có”) thay vì lưu ý nhiều đến việc “trở thành người” hay “làm người” hơn (“là”). Sau cùng, kỉ niệm 100 năm ban hành thông điệp “các hoàn cảnh mới”, đức giáo hoàng Gioan Phaolo II đưa ra thông điệp xã hội thứ ba của mình, mang tên “Bách Chu Niên” (Năm 1991) cho thấy sự liên tục trong giáo huấn xã hội của Hội Thánh Công Giáo suốt 100 năm qua. Một trong những bằng chứng cho thấy sự xuyên suốt ấy chính là sự lưu tâm và đề xuất bến bỉ của các đức giáo hoàng về việc liên đới giữa mọi người và giải quyết các vấn đề xã hội, dù mỗi đức giáo hoàng có thể gọi việc ấy bằng những tên khác nhau như “hữu nghị” (đức giáo hoàng Leo XIII), “bác ái xã hội” (đức giáo hoàng Pio XI), “văn minh tình yêu” (đức giáo hoàng Phaolo VI) “nguyên tắc liên đới” (đức giáo hoàng Gioan Phaolo II). Trước khi tiếp tục đi xa hơn, để đánh dấu một chặng đường phục vụ con người, Hội Đồng Giáo Hoàng Công Lý và Hoà Bình của Hội Thánh Công Giáo đã tổng hợp toàn bộ học thuyết xã hội của mình trong một tập sách mang tên là “Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội của Hội Thánh Công Giáo” (năm 2004). Uỷ Ban Bác Ái Xã Hội của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cũng đã hoàn thành bản dịch tiếng Việt năm 2007. Muốn có tập sách này, mỗi người có thể liên hệ với Uỷ Ban Bác Ái Xã Hội của HĐGMVN thông qua các toà giám mục hay tìm tại các nhà sách Công Giáo lớn tại Việt Nam. CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HIỂU BÀI. 1. Học thuyết xã hội công giáo có phải là lý thuyết chính trị- xã hội của các đảng phái hay của các quốc gia không? Tại sao không? 2. Bạn cảm thấy thế nào khi biết các cấp lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo liên đới giới thiệu các văn kiện xã hội như đã liệt kê tóm tắt trên đây?. BÀI 3. Ngày nay, có mấy chính quyền và có mấy nhà chính trị là không quả quyết các chính sách của mình đều là “cho dân và vì dân” , hay nói rộng rải hơn, tất cả là “cho con ng ười và vì con người” . Chỉ có đều là chưa mấy ai nghe quí vị ấy định nghĩa sát đáng thế nào là dân hay thế nào là con người. Giáo hội công giáo cũng khẳng định “xã hội loài người chính là đ ối tượng giáo huấn xã hội của giáo hội, vì giáo hội không đứng ngoài cũng chẳng đứng trên những con người liên kết thành xã hội, mà G iáo hội chỉ tồn tại nơi những con người và bởi đó, G iáo hội tồn tại vì những con người ”(Bộ Giáo Dục Công Giáo , “ Hướng dẫn học tập và giảng dạy học thuyết xã hội của Giáo Hội trong việc đào tạo linh mục”, số đời sống xã hội, con người nên và phải luôn luôn là chủ thể, là nền tảng và là mục tiêu của đời sống xã hội” ( Đức Pi-ô XI, “thông điệp truyền thanh ngày 24/12/1944”, số 5).Tuy nhiên, Giáo Hội đã xây dựng những điều mình vừa nói dựa trên cả một quan niệm về con người, được phản ảnh qua các nổ lực và công trình mình đã thực hiện cho con người. Nếu vậy, con người mà mọi lời nói và việc làm của Giáo Hội Công Giáo nhắm tới như đối tượng và mục đích là gì? Con người mà Giáo Hội Công Giáo muốn trao sứ mạng để thi hành một chủ thể là con người như thể nào? 1. Đa số các triết lý về con người hay các chính sách xã hội liên quan đến con người điều định nghĩa con người từ dưới lên, nghĩa là từ con vật và cộng thêm một nét đặc thù nào đó của riêng con người, như “con vật/có lý trí”, “con vật/biết làm kinh tế”, “con vật/biết làm chính trị”...Chính vì thế, có người nói đùa rằng thực hiện được một nữa trên đây, tức là làm con vật, đã là khá lắm rồi. Không lạ gì mọi môi trường có con người, từ gia đình đến các tập thể xã hội, quốc gia, quốc tế luôn mang dấu vết, đôi khi còn rất đậm và rất nhiều, của thú tính (bản tính của thú vật). Đó là chưa kể: “biết làm chính trị”, “biết làm kinh tế”, “có lý trí”...Có thật là tất cả nét riêng của con người không? Bằng không, người ta sẽ đánh giá con người dựa trên sự thông minh, óc kinh tế, khả năng chính trị...của mỗi người. 2. Đang khi đó, ngay từ trong những trang sách đầu của Thánh Kinh hay ngay từ ban đầu, Do Thái giáo, rồi Kitô giáo đều định nghĩa con người từ trên xuống, nghĩa là từ Thiên Chúa và giảm xuống, nghĩa là từ Thiên Chúa và giảm xuống, như con người là “hình ảnh của Thiên Chúa” (x St1,27). Chính vì thế càng là hình ảnh của Thiên Chúa, càng giống thiên Chúa, con người càng là người. cũng bởi đó , có lý trí tinh thông , làm kinh tế giỏi, làm chính trị khéo đến đâu cũng chưa chắc là hơn người, bao lâu những yếu tố ấy không làm con người giống Thiên Chúa, như hình ảnh của Ngài. Cũng trong những trang đầu tiên ấy, Thiên Chúa cũng xác định thế nào là giống Thiên Chúa hay Thiên Chúa vốn đã thế nào để con người bắc chước. Ngài tỏ mình là Thiên Chúa ở chổ sáng tạo và thống trị muôn loài (x. St 1-2). Bởi đó, con người sẽ giống Thiên Chúa ở chổ con người cũng được thông phần sáng tạo và làm chủ tất cả, từ bản thân mình đến muôn loài ( x. St 1,28). Miễn là đừng quên con người không sáng tạo từ không mà là thông phần sáng tạo, là sáng tạo từ cái đang có; cũng đừng quên con người không thống trị vạn vận như thể là chủ nhân độc quyền, mà chỉ thống trị dựa vào quyền năng Thiên Chúa, theo ý muốn của Thiên Chúa. Có giống Thiên Chúa đến đâu, con người cũng chỉ là hình ảnh, chứ không bao giờ là Thiên Chúa. Đây là điều các tác giả muốn ám chỉ khi cho biết Thiên Chúa cho phép con người được “ ăn” tất cả mọi trái cây trong vườn, nhưng luôn luôn ở trong giới hạn bằng cách không bao giờ ăn một loại trái cây nhất định, gọi là “trái cấm” (x. St 2,17). 3. Chỉ tiếc là ngay từ rất sớm, con người đã sử dụng tự do không đúng nên đã không dừng lại ở giới hạn của mình; trái lại con người đã vượt qua giới hạn ấy để đòi sáng tạo từ không và đòi thống trị cách độc quyền. Con người đã phạm tội. Và vì phạm tội trong tư cách là những con người đầu tiên, những người thay mặt tất cả nhân loại, nên tội ấy đã truyền lại cho đời sau, tương tự như những nét căn bản khác con người đầu tiên đã lãnh nhận thay mặt mọi thế hệ cũng được truyền lại cho hậu thế. Nói cách khác, hậu thế lãnh nhận cả tội của những cha ông lẫn hình ảnh Thiên Chúa mà cha ông mình đã nhận được. Mãi mãi con người vẫn là hình ảnh của Thiên Chúa, nhưng là hình ảnh đã bị thương tổn (x. St 3). Đến như sau này, Đức Giêsu đã khôi phục lại hình ảnh nguyên vẹn của Thiên Chúa nơi con người rồi, nhưng dấu vết mà tội để lại vẫn còn hay sự khôi phục của từng cá nhân vẫn phải được mỗi người tự nguyện chấp thuận thì mới hiệu quả và chỉ hiệu quả trọn vẹn trong kiếp sống mai sau. Hay nói cách khác, bao lâu còn sống, con người luôn là hình ảnh Thiên Chúa và vẫn phải luôn nổ lực cộng tác để hình ảnh ấy được ngày càng sáng nét và rỏ ràng hơn. Chính vì thế, dù có dang dở đến đâu, con người cũng không quá bi quan về bản thân mình và các việc mình làm; ngược lại, dù có đạt nhiều thành tích đến đâu, con người cũng không vội lạc quan để quên đi sự dang dở và bất toàn vẩn còn nơi bản thân mình và các việc mình làm. 4. Chính vì vẫn luôn luôn là hình ảnh Thiên Chúa, nên con người vẫn luôn luôn được kính trọng và yêu mến vì chính nó. Con người phải là mục tiêu hay đối tượng trước tiên người ta nhắm tới, mổi khi bắt tay làm việc gì. Hơn thế nữa, con người giống Thiên Chúa ở chổ cùng lãnh đạo mọi sự với Ngài. Thế nên, không chỉ là mục tiêu và đối tượng ưu tiên, con người còn phải là chủ thể-người chịu trách nhiệm và quyết định-của tất cả các việc ấy, dù không là chủ thể tối cao hay chủ thể độc quyền. Bao lâu con người chưa được phục vụ ưu tiên hay bao lâu chưa để con người nắm vai trò lãnh đạo trong các công trình, bấy lâu chưa thể kể công trình đó là công trình tốt đẹp và hữu ích thật sự. Mọi sự chăm sóc con người chưa làm con người phát triển tới mức con người làm chủ công việc ấy và vận mệnh của mình thì chưa đáng gọi là chăm sóc con người đúng nghĩa. Nhưng ngược lại, những sự chăm sóc con người tới mức suy tôn lên hàng thần thánh độc quyền và tuyệt đối chẳng những là những toan tính vô vọng mà còn làm hỏng con người. CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HIỂU BÀI 1. Định nghĩa của G iáo hội chúng ta về con người không giống với các định nghĩa khác đang phổ biến tại nước ta ở điểm nào? Nhờ điểm khác ấy, con người được đánh giá và tôn trọng thế nào? 2. Chúng ta có sợ định nghĩa của Giáo Hội chúng ta sẽ suy tôn con người quá đáng không? Trong lịch sử, có bao giờ con người hiểu sai định nghĩa ấy chưa? BÀI 4. CÁC KHÍA CẠNH KHÁC NHAU CỦA CON NGƯỜI Con người giống Thiên Chúa nhưng không bao giờ là Thiên Chúa. Con người là hình ảnh Thiên Chúa, chứ không là chính Thiên Chúa. Hai nét thường hằng ấy trong định nghĩa về con người sẽ được thấy trong mọi khía cạnh khác nhau của bản tính con người. Như con người vừa là hồn cũng là xác; con người vừa hướng lên siêu việt cũng bám chặt và thực tế; con người vừa rất tự dọ cũng bị giới hạn; con người vừa bình đẳng với nhau về phẩm giá cũng vừa khác nhau về các mặt khác; con người vừa mở ra với xã hội cũng vừa là bản thân mình. 1. Con người là hồn xác thống nhất: Con người vừa không chỉ là những gì trông thấy, cảm nhận, phân tích, nắm bắt được vì có cùng có hạn (xác), mà còn là những gì không trông thấy, không cảm nhận, không phân tích không nắm bắt được vì vô cùng vô hạn (hồn). Trong thực tế, hai yếu tố này không tách rời nhau mà lệ thuôc nhau, như không thể có thân xác con người mà không có linh hồn (bằng không đó chỉ là tử thi!) và không thể có linh hồn con người mà không có thân xác ( bằng không đó chỉ là ảo ảnh, không có mặt trên đời và chẳng ai biết, không thể giao tiếp và chẳng ai giao tiếp được !). Kết quả là không ai có thể tự hào là biết hết về con người và nắm bắt con người kể cả bản thân mình, vì nơi con người luôn luôn có một điều gì đó vuột khỏi tầm tay và trí khôn chúng ta: “con người vẫn luôn luôn là một mầu nhiệm”. Chính vì lý do đó, chúng ta chẳng những bao giờ được coi khinh và xài xể con người mà còn phải luôn kính trọng và yêu mến con người, bất luận mình có thể hiểu con nguời nhiều tới mức nào. 2. Con người vừa hướng lên siêu việt vừa bám vào thực tế Nhờ hồn con người là vô chất và thiêng liêng, là vô hạn và vô biên, nên con người có thể hướng lên một điều gì đó không phải thế giới hữu hình và vật chất, thậm chí đi vào được thế giới thiêng liêng và vô biên ấy để gặp gỡ và tiếp xúc với Thiên Chúa. Nếu vậy, hướng đến cõi tâm linh hay bước vào thế giới siêu việt, hay xa hơn nữa, giao tiếp với đấng là chủ tâm linh hay thế giới siêu việt ấy là một điều con nguời vừa có thể làm được vừa bị đòi hỏi phải làm. Nói cách khác, tôn giáo hay ít là hướng đến một thế giới khác và đấng làm chủ thế giới ấy vừa là điều con người có thể vừa là điều con người phải làm. Theo nghĩa ấy, vô thần tuyệt đối là điều không thể có. Nhờ xác con người là vật chất và khả giác là hữu hạn và có cùng, nên con người có thể bám vào thực tế trần gian, thậm chí không thể tách rời được trừ khi chết. Như vậy, bị tác động bởi thế giới hay tác động trên thế giới là điều con người vừa có thể vừa buộc phải chịu đựng cũng như tác động. Theo nghĩa ấy, không thể có thiêng liêng hay siêu thoát thật sự cách tuyệt đối. 3. Con người vừa rất tự do và bị giới hạn: Với linh hồn thiêng liêng và khả năng hướng tới siêu việt, con người có thể không bị nô lệ cho một cái gì và được tự do thật sự. Nhưng dù có được tự do tới mức nào, con người vẫn không thoát được những giới hạn đi đôi với thân phận con người, như những giới hạn của phái tính, không gian, thời gian…đó là chưa kể tới những giới hạn mà con người phải tự nguyện chấp nhận để được tồn tại và phát triển đúng đắn, như các giá trị vĩnh hằng, các chuẩn mực phổ quát, các luật lệ công bằng. Tuy nhiên, chẳng những không vì thế mà con người mất tự do mà còn nhờ đó vươn tới sự tự do đúng nghĩa hơn: tự do là khả năng làm được điều tốt và điều tốt nhất. 4. Con người vừa bình đẳng vừa khác nhau: Cùng là hình ảnh Thiên Chúa, cùng có chung những đặc điểm, cùng theo đuổi chung một định mệnh sau hết là trở nên giống Thiên Chúa và được hạnh phúc của Thiên Chúa, chắc hẳn mọi người đều bình đẳng với nhau về phẩm giá. Thế nên, mọi kỳ thị hay chia rẽ nhân danh một điều gì giữa người nam và người nữ, người thuộc dân tộc-thuộc tôn giáo-giai cấp-phe nhóm-trình độ này và người thuộc dân tộc, tôn giáo, giai cấp phe nhóm kia đều là bất công và sai lầm. Tuy nhiên, bình đẳng phẩm giá không có nghĩa là không còn khác biệt giữa con người với nhau về phái tính, tính tình, quan điểm, sở thích, công việc, trách nhiệm…thậm chí, có khác biệt như thế mới làm cho thế giới thêm phong phú và cuộc sống con người được sinh động một cách cần thiết. 5. Con người vừa có tính xã hội vừa là những cá nhân độc đáo: Không những vì có những khác biệt mà con người phải mở ra với người khác để được bổ túc và trở nên sung mãn, mà còn vì từ nguyên thuỷ con người đã được Chúa tạo dựng thành một xã hội-dù xã hội ấy nguyên gốc có thể chỉ có hai người. Con người vừa nhận được nhiều ơn ích từ xã hội vừa phải cống hiến nhiều cho xã hội. Tuy nhiên, dù có liên hệ mật thiết với nhau tới mức nào và dù xã hội có quan trọng với con người tới mức nào, mỗi người vẫn là mình. Người ta không thể rút gọn con người thành một con số giống mọi con số cũng không thể hy sinh mỗi người cho bất kỳ đề án nào của xã hội. Thậm chí xã hội còn có bổn phận tạo điều kiện cho mỗi người được phát triển.
Từ nét căn bản là hình ảnh Thiên Chúa và những đặc điểm quan trọng vừa kể của con người, người ta suy ra được những quyền lợi và nghĩa vụ căn bản và quan trọng nhất của con người, mà nếu không được tôn trọng và thi hành các điều căn bản đã được nêu ra trước đó sẽ không còn giá trị trong thực tế nữa. Tất cả quyền lợi và nghĩa vụ ấy đã được nhà luật họ người Pháp tên là Jean Cassien, đúc kết thành bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền, rồi được phê chuẩn bởi các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc tại phiên họp của Đại Hội Đồng 10.12.1948. Nói thế khôngc ó` nghĩa là chỉ từ năm ấy con người mới có những quyền lợi và nghĩa vụ căn bản. Các quyền lợi và nghĩa vụ này đã có sẵn trong bản tính con người, mà về sau con người đã phát hiện và công bố. Nếu vậy, nhân quyền là những quyền căn bản, phổ quát, bất biến, không thể sang nhượng, cắt xén hay huỷ bỏ mà mỗi người được hưởng, bằng không con người sẽ không là con người đầy đủ theo đúng ý Chúa khi tạo dựng con người. Đó cũng là những quyền lợi mà quốc tế, quốc gia, xã hội và mỗi cá nhân phải tôn trọng và giúp thực hiện. Các quyền căn bản này vừa có tính cá nhân (vì lợi ích của mỗi người và trong phạm vi cá nhân) vừa có tính xã hội ( vì lợi ích của tập thể và trong phạm vi xã hội) như quyền được sống, được chăm sóc và giáo dục, được tự do tìm kiếm sự thật, phát biểu-thực hành, quyền lao động và hường thành quả lao động, quyền kết hôn và tổ chức gia đình, quyền hội họp và lập hội, quyền tự do tôn giáo…các quyền này đã được hầu hết mọi quốc gia trên thế giới hiện nay nhìn nhận và chấp hành. Tuy nhiên, cũng phải thú nhận, từ nhìn nhận sang chấp hành không luôn luôn là điều dễ dàng, mà phải luôn phấn đấu để biến thành sự thật. CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HIỂU BÀI 1. Trong các khía cạnh trên đây của con người và đời sống con người, bạn cho khía cạnh nào cần chú ý nhiều nhất hiện nay, hoặc trong đời sống của cá nhân của mình hay trong đời sống tập thể: vì đã gặt háí được nhiều thành công vì đã gặp nhiều thất bại? 2. Khi được những khía cạnh vừa kể của con người và đời sống con người, đã được thực hiện thành công hay còn vướng nhiều trở ngại bạn có cảm thấy sung sướng khi được làm người và có muốn làm người tốt hơn nữa không? Giữa một thị trường nhốn nháo tìm thần tượng để đặt làm mục tiêu và đối tượng cho tất cả mọi cố gắng lớn nhỏ, chung riêng của con người hôm nay, xác định được mục tiêu và đối tượng ấy phải là con người – và là con người với đầy đủ các khía cạnh như đã được giới thiệu trong bài ba và bốn - đã là một hành vi can đảm và đã là một bước quan trọng rồi để thăng tiến con người và xây dựng xã hội. Tuy nhiên, dường như thành quả ấy vẫn bị thiên hạ lạm dụng làm chiêu bài che đậy nhiều điều trái ngược hẳn. Thế nên, học thuyết xã hội của Giáo Hội Công Giáo phải kể ra những giá trị sau đây làm những hàn thử biểu cụ thể đo mức độ phục vụ con người của các nỗ lực và công trình do xã hội hay cá nhân thực hiện, cũng như để đánh giá một cá nhân, tập thể hay xã hội là tốt hay chưa tốt. Đó là sự thật, tự do, công bằng và bác ái. Một dự phóng, một nỗ lực, một công trình chỉ phục vụ con người thật sự, khi nó tìm kiếm và thực hiện được bốn giá trị ấy. Một cá nhân, một tập thể hay một xã hội chỉ đáng được đánh giá cao vì đã phục vụ con người, khi nó tìm kiếm và thực hiện được bốn giá trị ấy. 1. Sự thật Một xã hội, một tập thể, một tổ chức hay một cá nhân được đánh giá là tốt dựa trên báo cáo không phải của chính mình mà còn của người khác, nhưng chỉ tiếc đó là những báo cáo thiếu sự thật, thì kể như các đánh giá ấy đều sai và xã hội, tập thể, tổ chức hay cá nhân ấy đều không thật sự tốt như mình tưởng. Một chính sách, một kế hoạch, một dự án, một sáng kiến hay một hoạt động nhằm phục vụ con người hay những gì liên quan đến con người, nhưng chỉ tiếc đó là những con người không được nhìn nhận đúng với sự thật của con người (chẳng hạn chỉ nhìn con người như những con vật biết làm kinh tế…) thì kể như chính sách, kế hoạch, dự án, sáng kiến và hoạt động ấy mới chỉ được coi là tốt một phần hay thậm chí không tốt nữa, nếu người ta vì thế mà bỏ rơi các khía cạnh khác của con người, thậm chí còn quan trọng hơn: đã phát triển con người cách què quặt như thế, có đáng gọi là phát triển nữa hay không? 2. Tự do Một xã hội, một tập thể, một tổ chức hay một cá nhân khó có thể sống trung thực, nếu không còn tự do để thực hiện mục tiêu của mình, luôn luôn bị áp lực từ đâu đó ; Một chính sách, một kế hoạch, một dự án, một sáng kiến hay một hoạt động khó có thể được gọi là phục vụ con người, khi người thực hiện hay người thụ hưởng hoặc cả hai không được sống trong tự do ; Vì chưng, tự do chính là một trong những nét đặc thù của con người và cũng là yếu tố làm nên giá trị cao cả của con người. Tuy nhiên, đừng hiểu một cách thiển cận tự do là có điều kiện và khả năng làm bất cứ điều gì mình muốn, bằng không có thể làm hại tới người khác hay làm hại cả chính mình. Tự do là có khả năng làm được điều tốt và tốt nhất ; dĩ nhiên một điều tốt bao giờ cũng là điều phù hợp với sự thật của người ấy và giúp phát huy sự thật của người ấy. Không thể gọi là điều tốt cho người kitô hữu khi đó là điều ngăn cản người ấy sống đức tin của mình. 3. Công bằng Một xã hội, một tập thể, một tổ chức hay một cá nhân chỉ có thể sống trung thực và tự do một cách lâu dài và căn bản, khi ở đó có sự công bằng, tức là khi các quyền lợi của các bên được tôn trọng ; Một chính sách, một kế hoạch, một dự án, một sáng kiến hay một hoạt động chỉ có thể được đánh giá là đã phục vụ con người thật sự và lâu dài, khi chúng bảo đảm được sự công bằng giữa các bên có liên quan, hay khi các quyền lợi của các bên có liên quan đều được tôn trọng. Làm sao xã hội, tổ chức, chính sách, dự án… có thể được gọi là tốt khi chỉ làm lợi cho một số đối tượng nào đó và làm thiệt hại quyền lợi của các đối tượng khác? 4. Bác ái (còn gọi là Tình Thương hay Liên Đới) Tuy nhiên, sẽ không bao giờ có sự công bằng tuyệt đối trong các xã hội, tập thể, tổ chức, hay trong các chính sách, kế hoạch, dự án, sáng kiến, hành động…,vì thế giới thay đổi không ngừng, đang khi đó khả năng nhận thức và ứng biến của con người lại giới hạn, khiến con người không bắt kịp các quyền lợi và bổn phận để bảo đảm Do đó, bên cạnh sự công bằng, mọi xã hội và tổ chức, mọi chính sách và kế hoạch… đều phải chừa chỗ cho sự bác ái hay liên đới, giúp các bên biết tương nhượng và hy sinh trong khi mưu cầu quyền lợi của mình. Ai cũng đòi sòng phẳng trong quyền lợi và nghĩa vụ có thể sẽ làm cho cuộc sống của mình và của người khác trở nên không thể sống được. CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HIỂU BÀI 1. Thử lấy một quyết định, dự án, kế hoạch hay chính sách nào đó của tổ chức (đạo hay đời) để xem xét bốn giá trị vừa kể đã được bảo đảm tới mức nào trong quyết định, dự án, kế hoạch, chính sách ấy, và từ đó kết luận về giá trị của chúng. 2. Thử phân tích một xã hội, một tập thể, một tổ chức, bất kể của đạo hay đời, để đánh giá mức thành công của xã hội, tập thể hay tổ chức ấy, căn cứ trên bốn giá trị vừa kể đã được thực hiện tới mức nào tại những môi trường ấy. BÀI 6. CÁC NGUYÊN TẮC HƯỚNG DẪN HÀNH ĐỘNG Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội Công Giáo không chỉ nêu ra các giá trị căn bản (sự thật, tự do, công bằng và bái ái) mà một xã hội cũng như một cá nhân phải phấn đấu thực hiện để làm cho xã hội cũng như bản thân mình ngày càng phát triển và thăng tiến. Học Thuyết ấy còn đề xuất các nguyên tắc, tuy tổng quát nhưng cũng rất cụ thể, hướng dẫn các cá nhân và tập thể hành động để phát triển xã hội và thăng tiến bản thân. Đó là nguyên tắc phẩm giá con người là mục tiêu tối thượng, nguyên tắc công ích, nguyên tắc về mục tiêu phổ quát của tài sản, nguyên tắc bổ trợ, nguyên tắc tham gia dân chủ và nguyên tắc liên đới. Những nguyên tắc này đều phải được áp dụng trong bất cứ hành động, sáng kiến, dự án, kế hoạch, chính sách nào của tập thể hay của cá nhân, đời lẫn đạo. 1. Nguyên tắc phẩm giá con người: Nguyên tắc này là nguyên tắc trên hết, đã được trình bày ở bài ba, cho biết mọi hành động, sáng kiến, dự án, kế hoạch hay chính sách, của tập thể lẫn cá nhân, phải lấy con người với đầy đủ phẩm giá của nó là mục tiêu thì mới có giá trị. Mọi hành động xúc phạm đến con người, dù có đem lại lợi ích kinh tế hay xã hội hoặc chính trị nhiều đến đâu, cũng đều không có giá trị đạo đức hay không có giá trị thật sự.Ngược lại, một sáng kiến hay dự án, tuy không đem lại lợi ích kinh tế hay xã hội hoặc chính trị nhiều, nhưng làm phẩm giá con người được tôn trọng, đều xứng đáng được coi là có giá trị thật. 2. Nguyên tắc công ích: Công ích là tất cả những điều kiện, vật chất lẫn tinh thần và thiêng liêng, cần thiết để con người và xã hội được phát triển theo đúng bản chất và mục tiêu của chúng. Thế nên, tuy không phải là giá trị cao nhất nhưng vì có liên quan mật thiết với hạnh phúc đích thực của con người và xã hội, nên một hành động, một sáng kiến, một dự án, một kế hoạch hay một chính sách phục vụ cho công ích lớn nhất của quốc tế hay quốc gia, hoặc cho công ích nhỏ hơn của các tập thể, đoàn hội, gia đình được đánh giá là tốt. Điều quan trọng là cần xác định công ích do các hành động và chính sách ấy mang lại có thực sự là điều ích lợi và cần thiết cho hạnh phúc của con người và xã hội hay không, hay chỉ là điều ích lợi theo như một số người nghĩ hay mới chỉ trên lý thuyết chứ chưa đi vào thực tế. 3. Nguyên tắc của cải là của mọi người: Từ ban đầu cho đến ngày nay, đạo Kitô luôn chủ trương thế giới và mọi của cải trong đó đều là của chung phục vụ mọi người. Mỗi người được quyền lấy trong đó những gì cần thiết cho mình và cho những người mình trách nhiệm. Còn mọi thứ khác, và ngay cả những cái mình có quyền lấy cho mình, đều phải được sử dụng thế nào để phục vụ mọi người. Bằng cách này, Kitô Giáo vừa bên vực quyền tư hữu vừa bảo vệ tính xã hội của mọi tài sản cá nhân. Hay nói cách khác, Kitô Giáo không chủ trương sự vô sản tuyệt đối, cũng không cổ xúy sự tư hữu vô hạn. 4. Nguyên tắc bổ trợ: Để giải quyết tương quan giữa tập thể lớn và tập thể nhỏ, giữa trung ương và địa phương, giữa chính quyền và nhân dân, giữa cấp lãnh đạo và cấp dưới, đức giáo hoàng Piô XI đưa ra nguyên tắc bổ trợ, còn gọi là nguyên tắc phụ đới. Theo nguyên tắc đó, tập thể lớn hay trung ương, chính quyền hoặc lãnh đạo phải tôn trọng và tạo điều kiện cho các tập thể nhỏ và địa phương, cho nhân dân và cấp dưới ngày càng tự trị và độc lập; và chỉ can thiệp vào khi cấp dưới, nhân dân, địa phương và các tập thể nhỏ không đủ năng lực thực hiện các công tác. Vì thế, một trung ương dành mọi quyền về mình, một chính quyền bao cấp hết tất cả, một tập thể lớn nuốt hết các tập thể nhỏ, một lãnh đạo làm thay tất cả… đều là những tổ chức và những cá nhân không đóng đúng vai trò của mình. 5. Nguyên tắc tham gia dân chủ: Một xã hội hay một tập thể trưởng thành là một xã hội hay một tập thể, trong đó không chỉ có một số người làm việc, còn những người khác chỉ là khán giả và là người tiêu thụ; trái lại, tất cả điều tham gia vào việc chung theo cương vị và khả năng của mình. Cũng thế, chính quyền hay cấp lãnh đạo có tinh thần trách nhiệm khi không bao cấp đã đành, mà còn tìm cách tạo điều kiện cho mọi thành phần trong xã hội hay tập thể tham gia đều hành xã hội hay tập thể ấy, theo khả năng và cương vị của họ. Bởi chưng, xã hội hay tập thể ấy không phải là tài sản riêng của một ai mà là gia sản chung của hết mọi người- mọi người dân điều có quyền làm chủ xã hội và mọi thành phần điều có quyền làm chủ tập thể. 6. Nguyên tắc liên đới: Càng sống lâu trong xã hội người ta càng nhận thấy rằng thoả mãn xong các đòi hỏi của đức công bằng theo pháp luật chưa thể cho phép chúng ta bàng quan và phủi tay đối với người khác vịnh cớ là đã thi hành các nghĩa vụ đối với họ. Giữa mọi cá nhân với nhau, giữa các xã hội với nhau, thậm chí giữa các quốc gia với nhau, luôn luôn có một sự ràng buộc sâu xa và vững bền. Không phải vì nợ nần nhau, mà chính vì cùng chia sẻ một bản tính và một định mệnh, một nguồn gốc và một cứu cánh, nên chúng ta phải liên đới với nhau, quan tâm và lo lắng cho nhau. Bằng không, không phải chỉ phía người thấp kém hơn phía xã hội thụt lùi hơn sẽ bị thiệt hại, mà cả những cá nhân và tập thể mạnh mẽ hơn cũng bị vạ lây. CÂU HỎI GIÚP HIỂU BÀI 1. Thử dựa vào một hay vài nguyên tắc trên đây để phê phán một hành động, một sáng kiến, một kế hoạch hay chính sách của một cơ quan hành chánh hay một công ty thương mại, hoặc của một giáo xứ hay một dòng tu. 2. Trong các nguyên tắc trên đây, bạn thấy nguyên tắc nào hay bị vi phạm nhiều nhất? có cách nào giúp bạn và người khác thi hành tốt hơn các nguyên tắc này? BÀI 7. GIA ĐÌNH, TẾ BÀO SỐNG ĐỘNG CỦA XÃ HỘI VÀ GIÁO HỘI Sau khi rảo qua một vòng lịch sử để tìm hiểu nguồn gốc sâu xa của học thuyết xã hội CG (bắt đầu là những sự can thiệp cứu độ của Thiên Chúa cho con người và vì con người, mà đỉnh cao là biến cố nhập thể cứu độ của Đức Giê-su Ki-tô, rồi được tiếp nối bằng những hành động và quan điểm của GH Ki-tô nhằm phục vụ con người, ngay từ những ngày đầu tiên của Giáo Hội, mà đúc kết tạm thời là học thuyết xã hội CG, còn gọi là nền nhân bản toàn diện và liên đới của GH CG – x. phần I, chương 1 và 2), Sau khi xác định nền tảng của học thuyết là quan điểm Ki-tô Giáo về con người, cũng như những nguyên tắc và những giá trị hướng dẫn hành động của con người (x. phần I, chương 3 và 4), Tác giả bộ sách Tóm Lược HTXHCG bắt đầu khảo sát từng lãnh vực một của đời sống con người để xem Giáo Hội đã ứng dụng những điều căn bản vừa nói ở phần I vào trong lãnh vực này thế nào (phần II). Và lãnh vực đầu tiên được chọn để khảo sát chính là GIA ĐÌNH (chương 5) 1. Gia đình quan trọng như thế nào trong cái nhìn và kinh nghiệm của Giáo Hội Ki-tô ? 1.1.Ngay từ những ngày đầu tiên của lịch sử nhân loại, Thiên Chúa đã quyết định con người chỉ có thể có mặt và lớn lên trong, nhờ và từ gia đình – gia đình A-đam và E-va. Không những trên bình diện sinh lý (con người là kết quả kết hợp của người đàn ông và người đàn bà, liên kết với nhau như vợ chồng, làm thành gia đình căn bản), mà cả trên bình diện tinh thần, đạo đức và tôn giáo (những bài học đầu tiên để hiểu biết và hành động như một con người và như một thụ tạo của Thiên Chúa luôn là những bài học đến từ gia đình, trong gia đình và nhờ gia đình). 1.2. Chính vì thế, dù từ rất sớm đã thấy có những sai hỏng và thậm chí đổ vỡ trong gia đình, Thiên Chúa vẫn không phế bỏ gia đình, mà còn tìm mọi cách để sửa chữa và hoàn thiện gia đình, cho nó trở thành môi trường tốt nhất để nuôi dạy con cái về mặt nhân bản lẫn tôn giáo. Nguyên chỉ đóng vai trò này thôi, gia đình đã góp phần hết sức quan trọng cho sự tồn tại và phát triển xã hội và Giáo Hội. Thiên Chúa sửa chữa và hoàn thiện gia đình qua những cơ chế bên ngoài mang tính hỗ trợ như xã hội và Giáo Hội, qua những lề luật mang tính bảo vệ như những lề luật liên quan đến hôn nhân và gia đình, qua cả những sự soi sáng và tác động của Thiên Chúa lên tâm hồn con người… Chẳng hạn Đức Giê-su đã giúp ổn định gia đình bằng cách khôi phục phẩm giá ngang hàng của nam nữ, bãi bỏ tục lệ đa thê và ly dị… Ngay cả khi công nhận và đề cao ơn gọi sống độc thân khiết tịnh vì Nước Trời, Đức Giê su cũng không coi đó là một sự cạnh tranh hay làm giảm giá trị của đời sống hôn nhân và gia đình, mà trao cho ơn gọi ấy sứ mạng phục vụ Nước Trời một cách trực tiếp qua sự chay tịnh và thờ phượng, và gián tiếp qua việc phục vụ đời sống nhân loại, trong đó có đời sống hôn nhân và gia đình. 1.3. Thậm chí, gia đình còn được nâng cao tới mức trở thành Hội Thánh tại gia. Chẳng những vì gia đình là nơi ưu tiên và thường xuyên cho các ki tô hữu thi hành các bổn phận rao giảng các giá trị Ki tô Giáo, thánh hóa con người và đời sống của mình cũng như của người khác qua kinh nguyện và hy sinh, lãnh đạo con người và môi trường qua sự tự chủ bản thân và hướng dẫn môi trường sống theo luật Chúa. Mà chính khi làm các việc ấy, kết hợp với Đức Ki tô, các ki tô hữu đã được cứu độ và góp phần cứu độ người khác. 1.4. Bởi thế, không lạ gì khi thấy Giáo Hội Công Giáo, ở cấp cao nhất là Tòa Thánh, đặc biệt trong thời gian gần đây khi gia đình đang vô tình hay hữu ý bị hiểu sai và thực hành lệch lạc, đã không ngừng can thiệp, qua các tuyên bố và qui định, qua những cơ chế và tổ chức, để bảo vệ phẩm giá và vai trò của gia đình, cũng như xác nhận và củng cố những điều kiện giúp bảo vệ phẩm giá và giúp thi hành vai trò của gia đình. Chẳng hạn như khẳng định gia đình được xây dựng dựa trên sự kết hợp bền vững và tự nguyện của hai người nam và nữ trưởng thành nhằm nâng đỡ nhau và nhằm sinh sản con cái, và vì thế không những ly dị mà cả những sự kết hợp của hai người cùng giới tính, không những các sự cố ý cản trở sinh sản bằng những phương pháp phá thai trực tiếp hay gián tiếp, bằng những phương pháp ngừa thai trực tiếp, mà cả những việc sinh sản không do sự kết hợp của hai vợ chồng đều cần phải được xét lại… 2. Gia đình dựa trên nền tảng nào ? 2.1. Nền tảng của gia đình là hôn nhân của hai vợ chồng, nhưng là hôn nhân hiểu đúng theo những gì đã được mặc khải trong lịch sử cứu độ và phản ảnh qua cơ cấu tâm sinh lý của con người. Từ sự ưng thuận và kết hợp tự nguyện và bền vững của hai người nam nữ trưởng thành đó, gia đình được thành hình và phát triển. Nói thế có nghĩa là không thể gọi là hôn nhân những sự kết hợp giữa hai người cùng giới, giữa hai người khác giới nhưng chưa trưởng thành đủ để hiểu biết và thi hành những đòi hỏi của hôn nhân và gia đình, giữa hai người trưởng thành khác giới nhưng không tuân theo bất cứ quy định nào của xã hội và Giáo Hội (bất chấp các ngăn trở theo dân luật và giáo luật chẳng hạn). Cũng không gọi là hôn nhân đúng đắn khi đó là sự kết hợp không bền vững hoặc là sự kết hợp cố tình không đưa đến sinh sản. 2.2. Nền tảng của gia đình, đặc biệt gia đình Ki tô Giáo, còn là hôn nhân của hai vợ chồng được vinh dự nâng lên thành dấu chỉ và phương thế (bí tích) giúp thực hiện sự kết hợp giữa Đức Ki tô và Hội Thánh ; và để làm được việc này, vợ chồng Ki tô Giáo được Chúa ban cho một ơn đặc biệt – ơn của bí tích hay sức mạnh của chính Thánh Thần – để có khả năng thực hiện yêu cầu ấy. Vợ chồng ki tô hữu có thể an tâm thi hành những bổn phận hay chu toàn những vai trò mà Thiên Chúa và Giáo Hội trao phó cho mình dựa vào ơn bí tích đã nhận được khi cử hành lễ hôn phối. Vợ chồng ki tô hữu cũng an tâm giúp nhau trau dồi bản thân cho xứng đáng ơn đã lãnh nhận qua bí tích hôn phối và coi đây là con đường nên thánh riêng của bậc vợ chồng. 2.3. Nền tảng cho gia đình dựa vào còn là sự hỗ trợ của xã hội và sự hướng dẫn của Hội Thánh : xã hội chẳng những không được phép phá hoại gia đình qua các chính sách và luật lệ, mà còn có bổn phận bảo đảm cho gia đình được phát triển theo đúng mục tiêu và bản chất của nó,. Làm như thế không những sẽ có lợi cho chính xã hội, mà còn bởi vì con người và gia đình mới chính là người làm chủ xã hội và là mục tiêu mà xã hội phải phục vụ. Giáo Hội cũng có bổn phận chăm sóc và dạy dỗ các gia đình vì sự phát triển Giáo Hội tùy thuộc vào sự thịnh vượng của các gia đình ; thậm chí gia đình chính là Hội Thánh thu nhỏ hay Hội Thánh cơ sở. Ngoài ra, chính các gia đình cũng phải biết phân tích, đánh giá và tận dụng những gì xã hội và Giáo Hội cung cấp như những phương thế hỗ trợ và bảo đảm cho mình được hạnh phúc. Sợ sệt và né tránh những sự cung cấp này chính là gián tiếp bỏ bê và phá hoại gia đình. 3. Đâu là những bổn phận hay vai trò lớn của gia đình ? Từ khi tạo dựng con người trong gia đình, Tạo Hóa đã an bài cho gia đình một bổn phận hay một vai trò quan trọng là giúp con người tôn vinh Thiên Chúa và từ đó, giúp nhau được cứu độ hay được hạnh phúc thật sự. Tuy nhiên, để chu toàn bổn phận này, cá nhân và gia đình phải giáo dục nhau làm việc ấy, phải tập cho nhau làm việc ấy. Thế nên, nói cho tới cùng, bổn phận chính của gia đình là giáo dục nhau tôn vinh Thiên Chúa và cứu độ con người. Tông huấn về gia đình của đức cố giáo hoàng Gioan-Phao lô II (năm 1982) đã nêu ra bốn bổn phận cụ thể mà cá nhân, xã hội và Giáo Hội phải giúp gia đình thi hành : Xây dựng gia đình thành một cộng đoàn của những ngôi vị (tức là những con người có tự do và ý muốn, được đối xử bình đẳng, được tôn trọng và yêu mến vì chính họ, chứ không chỉ vì một lợi ích nào đó do họ mang lại, càng không thể bị lợi dụng và hành hạ…) Xây dựng gia đình thành một môi trường bảo vệ và phát huy sự sống (và vì thế, không những không được hãm hại và cản trở sự sống – từ thai nhi, người thiểu năng cho tới người người già yếu – mà còn phải quan tâm tới sự phát triển đồng đều và toàn diện cho mọi thành viên trong gia đình, từ sức khỏe thể xác tới sự hiểu biết tinh thần, sự lành mạnh đạo đức và việc thực hành tôn giáo) Xây dựng gia đình thành một Hội Thánh thu nhỏ (nơi đó, các thành viên có cơ hội thi hành bổn phận tế lễ qua kinh nguyện thánh hóa đời sống và những hy sinh hãm mình ; có bổn phận giảng dạy cho nhau và cho người khác biết các giá trị của Tin Mừng ; có bổn phận điều khiển xã hội – bắt đầu từ gia đình mình – đi vào trong kế hoạch của Thiên Chúa…) Xây dựng gia đình thành một đơn vị phục vụ xã hội (không những bằng cách đào tạo cho xã hội những công dân tốt, mà còn góp ý kiến xây dựng luật lệ và cơ chế phục vụ tốt nhất cho cá nhân, gia đình và xã hội). Sau tất cả những suy nghĩ trên đây, chúng ta không lạ gì khi thấy mục vụ chăm sóc đời sống gia đình chiếm vị trí ưu tiên trong chương trình đào tạo và làm việc không phải chỉ nơi các gia đình Công Giáo, các giáo xứ, mà cả trong các chủng viện, dòng tu, giáo phận và giáo triều Rô ma. CÂU HỎI GIÚP HIỂU BÀI 1. Sau khi học bài này, tôi có thấy rõ hơn tầm quan trọng của gia đình không ? Quan trọng như thế nào ? 2. Để giúp gia đình mình và gia đình người khác sống xứng đáng với tầm quan trọng ấy, tôi có thể làm gì (trong tư cách một người trẻ, một người làm cha hay làm mẹ, một tông đồ giáo dân, một tu sĩ, một chủng sinh, một mục tử) ? BÀI 8. QUYỀN TƯ HỮU CỦA CON NGƯỜI Đã nói đến lao động mà không nói đến quyền tư hữu hay của cải con người sẽ tựa như nói tới cây mà không nói tới quả, nói tới vất vả mà không nói tới phần thưởng, cũng chẳng khác nào hô hào dấn thân và cổ võ đấu tranh mà không biết để được gì. Chắc sẽ có người phản đối rằng chủ trương như thế là dẫn con người tới chỗ ích kỷ và hưởng thụ, vụ lợi và nặng vật chất. Thật ra, nếu hiểu đúng và thi hành đúng quyền tư hữu, chúng ta sẽ thấy mình thừa sức vượt qua sự đối lập của hai quan điểm ấy. 1. Thế nào là tư hữu trong Thánh Kinh ? Giáo lý của Thánh Kinh, thời Cựu Ước lẫn Tân Ước, đều không tỏ ra sợ hãi và nghi kỵ của cải và tư hữu. Không những vì đó là điều kiện cần thiết để nuôi sống bản thân và người khác, phát triển cá nhân và xã hội, bảo đảm sự độc lập cần thiết của mỗi người, thậm chí còn có thể giúp chúng ta thực hiện cả những dự tính đạo đức và thiêng liêng như giúp đỡ kẻ nghèo, hỗ trợ các công trình tôn giáo, góp phần tôn vinh Thiên Chúa. Cũng chính vì thế, bổn phận của người lãnh đạo là giúp tôn trọng và bảo vệ của cải và tư hữu của kẻ khác, không những bằng cách ban hành các luật pháp công bằng mà còn tìm cách tạo điều kiện cho các luật pháp ấy được thi hành cách nghiêm minh, kể cả bằng vũ lực. Tuy nhiên, người Do Thái thời Cựu Ước và người ki tô hữu thời Tân Ước đều không quên sự giới hạn của quyền tư hữu và của cải. Một đàng, người ta luôn ý thức của cải xét cho cùng là quà tặng của Thiên Chúa, chứ không chỉ là kết quả lao động của riêng con người. Cũng chính vì thế, người ta không được sử dụng của cải tùy tiện, mà phải theo đúng ý muốn của Thiên Chúa. Ý muốn ấy là không ai độc quyền sử dụng của cải cho riêng mình và những người của mình, đồng thời của cải không chỉ để phục vụ các nhu cầu vật chất và trần thế, mà còn để chăm lo các nhu cầu tâm linh và mai sau nữa. Đàng khác, Thánh Kinh không quên giới thiệu nhiều giá trị khác – đôi khi còn cao quý hơn – bên cạnh của cải, như sức khỏe, danh dự, sự khôn ngoan, sự sống đời đời, sự cứu độ. Chính vì nhìn ra nguồn gốc và mục đích cuối cùng của tư hữu, nên Thánh Kinh đã không ngần ngại chỉ ra một số cách thể hiện cả hai đặc tính của tư hữu : vừa của con người vừa của Thiên Chúa, vừa của mình vừa của người khác, vừa bảo đảm các nhu cầu vật chất và trần thế vừa giúp chăm lo các nhu cầu tinh thần và Nước Trời. Chẳng hạn như không được thu hoạch hoa màu quá kỹ lưỡng quên mất nhu cầu của những người đi mót, không được quên giấc ngủ êm ấm mà người khác cần được bằng cách giữ vật cầm cố thiết thân của họ như áo choàng dùng làm chăn đắp, không được hưởng dùng các hoa lợi của đất đai mà quên mất nhu cầu của các người phụng thờ Chúa thay mình trong đền thờ, không được khai thác quá đáng đất đai của mình mà quên nhu cầu nghỉ ngơi của chính đất đai và nhu cầu cấp thiết của những người nghèo mỗi bảy năm, không được hưởng dùng điều gì quá mức mà quên mất những người khác cũng rất muốn được hưởng dùng điều ấy như cứ 25 năm hay 50 năm một lần các sở hữu chủ nên nhường lại quyền sử dụng đất đai, nhà cửa, ruộng vườn cho người khác – nhất là những chủ cũ của chúng. 2. Thế nào là tư hữu theo quan điểm của Giáo Hội từ những thế kỷ đầu tới nay ? Là nhũng môn đệ trực tiếp của các tông đồ, lại sống trong một thời đại còn nhiều bất công xã hội, các giáo phụ rất nhấn mạnh tới chiều kích xã hội của tư hữu. Thậm chí có giáo phụ đã mạnh dạn quả quyết : mọi của dư thừa là của người nghèo ; con người không có quyền sử dụng các của ấy mà không xét tới ích lợi của người nghèo hay mỗi người phải trả lại phần dư thừa ấy của mình (thánh Basiliô, thánh Ambrosiô). Cá biệt, còn nhiều giáo phụ từ khước những của cúng vào nhà thờ của những người chưa chu toàn nghĩa vụ đối với người nghèo. Giáo Hội Công Giáo chưa bao giờ quên nghĩa vụ công bằng và bác ái đối với những người kém may mắn trong của cải bằng cách tại tòa giám mục nào cũng có những dịch vụ và những nhân viên lo phục vụ bác ái xã hội. Thậm chí còn có cả những đoàn thể và những dòng tu ra đời hầu như chỉ để thi hành công việc này. Hoàng đế Julianô Bội Giáo có muốn tiêu diệt Ki tô Giáo đến đâu để lập một tôn giáo mới cũng phải công nhận đó là nét son của Ki tô Giáo mà ông ta sẽ giữ lại trong đạo mới của mình. Ngay cả trong những thời kỳ một số chức sắc trong Giáo Hội rơi vào thói tham lam của cải và thích chơi với người giàu có, Giáo Hội cũng không chủ trương dẹp bỏ quyền tư hữu. Khi chứng kiến sự cạnh tranh giữa chế độ tư bản và chế độ cộng sản, Giáo Hội cũng không bênh bên này bỏ bên kia, mà đúng hơn Giáo Hội đã nhân cơ hội ấy để nhắc lại quan điểm hết sức quân bình của mình về của cải : của cải cần thiết nhưng không phải cần thiết bằng mọi giá và trong mọi sự, tư hữu là một giá trị nhưng không phải là giá trị tuyệt đối… Học thuyết xã hội Công Giáo gọi đây là định mệnh phổ quát của tài sản, tính xã hội của tài sản. Trong tông thư “Bác ái trong sự thật” của đức giáo hoàng Biển Đức XVI, ban hành ngày 29 tháng 6 năm 2009, một lần nữa Giáo Hội nhắc lại nguyên nhân sâu xa của cuộc khủng hoảng tài chính và khủng hoảng kinh tế trên thế giới hiện nay là chính lòng tham của con người hay là sự thiếu vắng tinh thần khó nghèo – tinh thần vô vị lợi (hay vô cầu) – tinh thần liên đới nơi các cá nhân và xã hội. Muốn thu lãi vừa nhiều vừa nhanh, không muốn sống giản dị và tiết giảm, càng không tin vào tinh thần vô vị lợi, không mạnh dạn thể hiện tình liên đới xã hội… đó là những nguyên nhân sâu xa dẫn tới khủng hoảng tài chính và kinh tế hiện nay. Tình trạng này càng trở nên nghiêm trọng, khi xu thế kinh doanh hiện nay là gia tăng tài chính để có thể toàn cầu hóa các hoạt động sản xuất, thương mại và giao dịch. Quá tin vào tư bản (vốn), quá thiết tha tăng thêm tư bản (vốn), quá nóng vội xoay nhanh tư bản (vốn)… người ta đã chấp nhận những rủi ro cao – rủi ro trong đầu tư, rủi ro trong sản xuất, rủi ro trong giao dịch… và cuối cùng đã tạo ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng không chỉ tới bản thân những nhà kinh doanh ấy mà nhiều hơn và nghiêm trọng hơn, với những người nghèo trong xã hội, với những quốc gia nghèo trên thế giới. 3. Tư hữu đất đai Đã đành không phải chỉ mới gần đây mà từ lâu lắm, người ta đã biết tự do hóa sản xuất và thương mại, tự do hóa cạnh tranh và sáng kiến đúng là một con dao hai lưỡi : có thể đưa tới sự phát triển và thịnh vượng nhanh chóng và rộng lớn, nhưng cũng có thể gây ra sự phân cách khổng lồ giữa người giàu và người nghèo – giữa nước giàu và nước nghèo – đôi khi tới mức bất công không thể chịu nổi. Nhưng nếu vì thế mà đòi quốc hữu hóa tất cả mọi sự hay truất hữu tất cả những tài nguyên nào quan trọng như điện khí, nhiên liệu, khoáng sản, đất đai, tiền bạc… thì cũng khó lòng tránh khỏi tình trạng trì trệ vì đã tước mất động cơ làm việc của con người, hoặc tình trạng “tránh vỏ dưa lại gặp vỏ dừa” khi thay vì tập trung của cải vào một số cá nhân người ta lại tập trung của cải vào đảng phái cầm quyền, rồi vào tay một phe thắng thế trong đảng hay vào tay một số người lãnh đạo trong đảng. Tình trạng này còn tệ hơn tình trạng trước, vì nó được biện minh một cách bên ngoài là không dành cho bất cứ cá nhân nào độc quyền trên của cải quốc gia, nhưng kỳ thực đằng sau chiêu bài ấy, người ta đang cá nhân hóa quyền tư hữu tới mức tuyệt đối, thậm chí tư nhân hóa mà không chịu sự chi phối bởi chuẩn mực nào hay lực lượng nào. Ngược lại, nếu biết điều tiết việc tư nhân hóa các loại của cải vừa kể trong khuôn khổ công ích và luật pháp, có sự can thiệp đúng mức của Nhà Nước thì có thể tư nhân hóa đất đai và các bất động sản quan trọng khác lại mang lại ích lợi nhiều hơn. Đó là chưa kể đất đai hiện nay đã được kể là một trong những nguồn làm nên vốn của một sản phẩm hay mặt hàng hoặc dịch vụ. Tư nhân hóa các loại của cải quý giá ấy còn tránh được tình trạng độc tài và độc quyền của một số quốc gia trên các của cải ấy. 4. Nền kinh tế lý tưởng của Ki tô giáo Không phải là nền kinh tế không có cạnh tranh, không có đột phá, không làm ăn có lãi, càng không phải là nền kinh tế không sử dụng nhiều tiền bạc, nhiều công nhân, nhiều thiết bị và công nghệ. Mà đó là nền kinh tế có tất cả những yếu tố vừa kể và những yếu tố quen thuộc trong kinh tế, nhưng dựa trên những nguyên tắc không chỉ công bằng và liêm khiết mà còn bác ái và hy sinh, không chỉ độc lập mà còn liên đới, không chỉ mua bán độc quyền mà còn chia sẻ, không chỉ lợi nhuận mà còn vô cầu hay hướng tới những giá trị khác, thiêng liêng và rộng lớn hơn. Một nền kinh tế như thế đòi thế quân bình như của kiềng ba chân giữa thị trường tự do, các đoàn thể trung gian và Nhà Nước. Nếu chỉ có thị trường tự do thì sẽ xảy ra tình trạng thao túng của cá nhân hay tập thể nào đó và vô chính phủ ; nếu chỉ có các đoàn thể trung gian thì sẽ khó thu vào những lợi nhuận đáng kể ; nếu chỉ có Nhà Nước thì sẽ có sự độc tài bao biện, không có sự cạnh tranh và phát triển lành mạnh. Cả ba cơ quan này sẽ không chỉ hoạt động theo nguyên tắc lợi nhuận và phát triển vật chất, càng không thể hoạt động một cách phi đạo đức (vì bất cứ sinh hoạt nào muốn là của con người đều phải phù hợp với đạo đức hay phục vụ phẩm giá và định mệnh cao cả của con người) Nhưng cũng vì sự quân bình giữa ba mặt trận ấy quá lý tưởng nên chúng ta không đòi hỏi và kỳ vọng sẽ thấy ba khía cạnh ấy một sớm một chiều. Nó phải là kết quả của một nỗ lực lâu dài, đến từ nhiều phía, thậm chí với những sửa chữa và cải thiện không ngừng. CÂU HỎI GIÚP HIỂU BÀI 1. Thiên Chúa và sau đó, Giáo Hội Kitô Giáo ủng hộ hay chống đối việc làm kinh tế hay việc làm giàu (việc gia tăng của cải – “Dieu est-il pour ou contre l’économie”) ? Tại sao ? 2. Nếu của cải có tính xã hội, tôi phải làm gì với việc sử dụng tài sản của mình ? 1. Lao động và những giá trị của lao động Nói một cách thẳng thắn, điều đầu tiên mà con người nghĩ tới khi mở mắt thức dậy mỗi buổi sáng là việc làm và sau đó, là những thu nhập do việc làm ấy mang lại, từ tiền bạc tới các sản phẩm, các tiện nghi và các lợi thú khác. Mà không phải chỉ những người giật gấu vá vai mới có phản ứng ấy. Mọi người, không trừ ai, kể cả bậc vua chúa và bậc tu hành cũng khó thoát khỏi vòng cương tỏa này. Thật ra, chính Chúa cũng đồng cảm với con người về điều ấy, hay chính Ngài đã an bài cho con người như thế. Nói một cách hình ảnh theo sách Sáng Thế kể về thuở ban đầu của vũ trụ và con người, vừa khi tạo dựng xong con người, Thiên Chúa đã đặt con người vào vườn địa đàng để canh tác và chăm sóc (x. St 2,15). Như vậy, lao động không phải là hình phạt Thiên Chúa dành cho con người sau khi con người phạm tội. Lao động không phải chỉ để có cái ăn cái uống, mà còn để làm chủ thiên nhiên và mọi loài vật (x. St 1,28). Lao động đã trở thành phương cách thực hiện ơn gọi cao cả Thiên Chúa dành cho con người : đó là chia sẻ quyền thống trị của Thiên Chúa trên tạo vật. Và nếu làm chủ vạn vật là đặc điểm của Thiên Chúa thì khi cùng với Chúa cai quản thiên nhiên và mọi loài, con người trở nên giống Thiên Chúa hơn cả. Vì những giá trị vừa kể, nên từ thuở hồng hoang mù mịt tới thuở văn minh rực rỡ của nhân loại, lao động vẫn luôn luôn là bận tâm lớn nhất của con người. Đó là chưa kể : càng tham gia lao động, con người càng cảm thấy mình tiến bộ hơn từ trong hiểu biết đến trong nhân cách. 2. Lao động và những giới hạn của lao động Tuy nhiên, những kết quả trông chờ nơi lao động đã sớm biến mất khi con người quên mất giới hạn của lao động. Lao động có đẹp đẽ tới mức nào cũng chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích. Lao động giúp con người đạt tới mục đích là ngày càng trưởng thành hơn để cùng với Chúa cai quản mọi loài, trong đó có cả bản thân con người, thay vì nô lệ mọi sự. Bằng chứng là dù lao động có đẹp đẽ hay có cần thiết tới mức nào, chính Thiên Chúa, rồi con người, cũng phải “nghỉ ngơi” vào ngày thứ bảy (x. St 2,3 ; Đnl 4,9-10 ). “Nghỉ ngơi” hay có được tình trạng tự do trọn vẹn để sống hạnh phúc với Chúa và với mọi người, đó mới chính là cái con người nhắm tới và được tiền định hướng tới. Mục đích sau cùng ấy được báo trước và được nhắc nhở đều đặn qua ngày nghỉ cuối mỗi tuần. Lao động còn có giới hạn nữa là dù có giá trị và cần thiết tới mức nào, lao động cũng không thể được thi hành cách nào tùy ý. Bài học này cũng được diễn tả một cách hình ảnh trong câu chuyện tổ tiên con người đã đánh mất tất cả những ơn ích của lao động chỉ vì đã lao động không theo yêu cầu của Thiên Chúa hay rõ hơn, chỉ vì đã lao động với lòng tham và ích kỷ của cá nhân. “Cây trái cấm” là hình ảnh ám chỉ giới hạn mà con người không được phép vượt qua mỗi khi lao động. Và “ăn trái cấm” chính là hình ảnh con người tham lam muốn đốt giai đoạn để có được kết quả ngay lập tức thay vì phải kiên nhẫn chờ đợi tới ngày đạt tới tầm vóc của Thiên Chúa, và tham lam muốn tự sức mình đạt tới tầm vóc ấy thay vì phải đón nhận điều đó từ tay Thiên Chúa (x. St 3,6-8). Và hậu quả là chẳng những không đem lại những kết quả như con người muốn, lao động còn gây ra những hậu quả hết sức tai hại như chia rẽ giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với chính mình, giữa con người với nhau và giữa con người với thụ tạo. 3. Lao động theo gương Đức Giê-su Ý thức rằng lao động đã bị lâm nguy bởi lòng tham của con người, nhưng vẫn không quên những giá trị ban đầu của lao động, Đức Giê-su đã không gạt bỏ lao động và không coi đó như số phận của người nô lệ, nhưng cũng không lao động như xưa nay thiên hạ vẫn làm. Đức Giê-su vừa lao động vừa phục hồi và nâng cao các giá trị của lao động. Ngài không lao động miễn cưỡng hay vờ vĩnh. Nhưng Ngài cũng không lao động như một con nghiện lao động. Thế nên, Ngài vừa lao động nghiêm túc để nuôi thân và người khác (ban đầu bằng các nghề thủ công và nông nghiệp, về sau là giảng dạy) vừa làm nhiều điều khác nữa không phải là lao động mưu sinh (phục vụ miễn phí cho mọi người theo nhu cầu của họ – nhất là những người nghèo đói, ốm đau, dốt nát và tội lỗi – hoặc cầu nguyện và chay tịnh). Ngày nghỉ truyền thống của người Do-Thái không chỉ có ý nghĩa như một ngày nghỉ việc lao động mưu sinh, mà còn được coi là ngày được tự do để sống với Thiên Chúa và tha nhân, đồng thời cố gắng giúp người khác cũng được hưởng sự tự do cao quý ấy. 4. Lao động theo nhận xét và đề nghị của Hội Thánh Đức Lêô XIII là vị giáo hoàng đầu tiên đề cập một cách chính thức tới việc lao động của con người trong một văn kiện mang tên là “Các hoàn cảnh mới” (Rerum novarum, ban hành năm 1891). Do hoàn cảnh thay đổi - để sản lượng sản xuất tăng cao, tăng nhanh và tăng đồng bộ hầu thu nhập ngày càng nhiều, người ta phải từ từ lấy máy móc thay cho con người, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh quyết liệt giữa biết bao nhà sản xuất và nhà kinh doanh – lao động của con người ngày càng bị xem nhẹ, nếu không nói là bị bóc lột cách bất công. Vì thế, đức giáo hoàng đã lên tiếng bênh vực phẩm giá người lao động bằng cách không những đòi hỏi sự đối xử công bằng và tốt đẹp (phải cung cấp lương công bằng và các điều kiện khách quan để lao động), mà còn yêu cầu có nhiều tổ chức nghiệp đoàn thay mặt người lao động đứng ra đàm phán với giới chủ, chứ không vội mở những cuộc đấu tranh đổ máu để giành giật hoặc khai trừ nhau. Đến thời đức giáo hoàng Gioan-Phaolô II, tình hình kinh tế - xã hội còn thay đổi nhiều hơn nữa. Do công nghệ thông tin và công nghiệp vận chuyển tiến bộ tới mức làm cho mọi quốc gia trở nên gần gũi nhau như trong một ngôi làng hoàn cầu (hiện tượng toàn cầu hóa), do nhu cầu của đời sống ngày càng tăng cả về số lượng lẫn chất lượng, nên lao động con người phải thay đổi cả về tầm mức, cơ cấu và hình thức lẫn trong tính chất. Về tầm mức, như lực lượng lao động cần phải đông đảo tới mức không thể không nhập khẩu lao động từ mọi nước hay kết hợp các lao động với nhau thành một lực lượng khổng lồ tại các tập đoàn sản xuất lớn, lao động luân phiên để khai thác triệt để các máy móc, cũng như để sản xuất hàng hóa nhanh và nhiều tối đa, hoặc cần một lực lượng lao động tinh nhuệ cao tới mức phải trải qua một sự đào tạo hết sức tốn kém. Lao động có thể mang những cơ cấu và hình thức mới như lao động qua mạng thông tin trực tuyến ; lao động phân nhỏ thành những đơn vị chuyên trách một bộ phận có thể ở bất cứ nơi nào thuận lợi và không cần biết tới các lao động đang sản xuất các bộ phận khác ; lao động kết hợp với tư bản khổng lồ, đòi hỏi một nguồn tài chính dồi dào, các thiết bị và công nghệ thật tối tân và dĩ nhiên đắt đỏ… Đứng trước bộ mặt khách quan của lao động thay đổi nhanh chóng và sâu xa như thế đòi chúng ta phải thích nghi kịp thời, đức Gioan-Phaolô II vẫn không quên lưu ý chúng ta rằng bộ mặt chủ quan của lao động hay con người lao động dẫu vậy vẫn không thay đổi nhiều. Vẫn là những con người với những nhu cầu căn bản của đời sống, đang tham gia vào lao động với những nét riêng của lao động con người như lao động trong sự công bằng và liên đới, lao động với phẩm giá chung và những đặc điểm riêng của mỗi giới tính, lao động vừa vì con người và do con người, nhất là luôn luôn lao động không chỉ để thỏa mãn các nhu cầu trước mắt của con người và xã hội, mà chính là để theo đuổi mục tiêu cao cả của mọi người ở khắp mọi nơi trong mọi thời đại – đó là lao động để trở nên người nhiều hơn, để trở nên con Thiên Chúa nhiều hơn. Hai bộ mặt hay hai yếu tố căn bản này của lao động đã được ngài giải thích trong tông huấn “Lao Động” (‘Laborem exercens’, ban hành năm 1981). Trong hai bộ mặt hay hai yếu tố, phải luôn ưu tiên bộ mặt thứ nhất hay yếu tố thứ nhất, tức là yếu tố con người. 5. Quyền lợi và bổn phận liên quan tới lao động Quyền lao động và bổn phận lao động : Lao động đã có những giá trị cao cả như thế, nên lao động phải là một trong những quyền lợi và bổn phận trước tiên của con người. Một người có đủ tư cách, khả năng, điều kiện và nhu cầu, không thể bị cản trở không được lao động, nhân danh bất cứ điều gì (chủng tộc, tôn giáo, chính trị, xã hội, kinh tế, tính tình…), cũng như không được miễn lao động, trừ phi không có công ăn việc làm tại chỗ. Dĩ nhiên, mỗi khi nói tới lao động là phải hiểu đó là lao động nghiêm túc hay lao động có trách nhiệm, chứ không phải lao động bất kỳ nào. Nếu mỗi người có quyền lợi và bổn phận lao động thì Nhà Nước (với sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội và các cá nhân) có bổn phận tạo công ăn việc làm cho con người, dù không phải lúc nào cũng vừa ý và vừa với khả năng của hết mọi người. Nếu chưa cung cấp đủ việc làm, cũng chính Nhà Nước phải bù đắp lại bằng trợ cấp thất nghiệp. Quyền đào tạo để lao động và bổn phận đào tạo để lao động : Muốn lao động hữu ích cho con người và xã hội, con người có quyền được đào tạo để lao động hữu hiệu, qua các trường lớp, sách báo…, và ngược lại Nhà Nước (với sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội và các cá nhân) có bổn phận phải tạo điều kiện đào tạo ấy cho những người trong tuổi lao động. Một khi đã có những điều kiện ấy, mỗi người có bổn phận lao động cũng có bổn phận đào tạo mình để tham gia lao động. Quyền nhận lương công bằng và các bảo đảm an sinh xã hội : Sự hữu ích hay kết quả của lao động được đánh giá chủ yếu qua lương bổng người lao động nhận được. Dĩ nhiên, đó phải là lương công bằng, nghĩa là không chỉ bù đắp cách tương xứng những mất mát (thời gian, sức khỏe, tài năng…) của người lao động, mà còn giúp người ấy sống được trong xã hội của người ấy (một người độc thân sống được trong thành phố của mình hay trong làng quê của mình ; một người có gia đình sống được với gia đình gồm những người con còn phải lệ thuộc mình và chưa tự lập được, tại thành phố hay thôn quê). Nói một cách chuyên môn, lương ấy vừa hợp đức công bằng giao hoán vừa đáp ứng đức công bằng xã hội. Chưa kể, bên cạnh lương công bằng ấy, còn có những trợ cấp bảo đảm sự an sinh của người lao động, một mình hay với những người chưa đủ khả năng tự lập trong gia đình mình, như bảo hiểm sức khỏe và tai nạn trong lao động, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm khi về hưu… Quyền thành lập và tham gia các công đoàn : Để bảo vệ quyền lao động và những quyền khác đi đôi với lao động, người lao động còn có quyền tổ chức hoặc tham gia những hội lao động. Những hội này, tuy mang tính tự nguyện, đều được Nhà Nước công nhận và bảo vệ như một tổ chức độc lập chuyên bênh vực người lao động trong những gì liên quan đến quyền lợi lao động và kinh tế của họ. Quyền tổ chức và tham gia đình công : Cũng để bảo vệ quyền lao động và những quyền khác đi đôi với lao động, người lao động cũng có quyền tổ chức và tham gia đình công như biện pháp cuối cùng để bảo vệ quyền lợi kinh tế và lao động của mình. Quyền được tham gia việc quản trị và tổ chức lao động : Cũng để giúp lao động có hiệu quả hơn, người lao động có quyền được tham gia việc quản trị và tổ chức lao động thế nào để vừa có lợi cho phía đầu tư vừa không làm thiệt hại cho người lao động. Hiện nay, các tổ chức kinh tế được khuyến khích bán các cổ phần trong số vốn của tổ chức cho chính các người lao động của mình, để tăng sự tham gia của họ vào việc quản trị số vốn, tùy theo mức cổ phần của họ. Bằng cách đó, các người lao động sẽ làm việc tích cực hơn. Tất cả các quyền này đều phải được điều chỉnh lại tùy theo mức giúp ích hay làm thiệt hại cho các quyền lợi cao hơn của đất nước, khi thực thi các quyền của người lao động. Không thể vì phục vụ các quyền của người lao động mà làm hại nặng nề tới công ích của cả xã hội. Đó cũng là một cách thi hành sự công bằng xã hội. 6. Lý tưởng vẫn luôn ở phía trước Trong thực tế, không phải chỉ trước đây hay hiện nay, mà cả trong tương lai, các quyền lợi và bổn phận vừa kể liên quan đến lao động sẽ không bao giờ được thi hành một cách tuyệt hảo, không thể chê vào đâu được. Lý tưởng của lao động sẽ luôn luôn còn ở phía trước. Chính vì thế, chúng ta sẽ không thể chỉ thi hành đức công bằng trong các quan hệ lao động, mà còn phải thể hiện đức bác ái hay sự liên đới nữa, trong đó phải giả thiết có sự hy sinh và từ bỏ các quyền lợi của mình. Chính tình yêu tha nhân sẽ thúc đẩy chúng ta nhận ra những đòi hỏi của đức công bằng và nâng đỡ chúng ta vượt xa hơn đức công bằng nữa. Bằng không, chỉ đòi hỏi công bằng cách sít sao, chúng ta sẽ chỉ thấy bất công thôi. CÂU HỎI GIÚP HIỂU BÀI 1. Ki-tô Giáo suy tôn tối đa hay khinh rẻ tới cùng lao động của con người ? Thử lấy một vài chi tiết trong thuật trình sách Sáng Thế về việc tạo dựng loài người để dẫn chứng. 2. Theo bạn, tại địa phương của mình, quyền nào và bổn phận nào liên quan tới lao động đang bị lạm dụng nhiều nhất ? làm thế nào để quyền ấy và bổn phận ấy được thi hành đúng đắn Lm. Pr. Đặng Xuân Thành |
|
|
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tgmvl |