SỨ ĐIỆP NGÀY THẾ GIỚI
CẦU NGUYỆN CHO CÁC ƠN GỌI LẦN THỨ 47
Ngày 25 tháng Tư năm 2010 – Chúa Nhật thứ Tư Phục Sinh
Chủ đề : Đời sống chứng tá khơi dậy các ơn gọi.
Anh em Giám mục và Linh mục đáng kính,
Anh chị em thân mến !
Ngày Thế Giới cầu nguyện cho các Ơn gọi lần thứ 47 mà chúng ta sẽ cử hành vào ngày Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh – Chúa Nhật “Chúa Chiên Lành” – ngày 25/04/2010, cho tôi cơ hội đề nghị cho anh chị em suy niệm một đề tài rất phù hợp với Năm Linh Mục: Đời sống chứng tá khơi dậy các ơn gọi. Quả thế, sự phong nhiêu của việc cổ vũ ơn gọi trước tiên tùy thuộc vào hành vi nhưng không của Thiên Chúa; nhưng, như kinh nghiệm mục vụ xác nhận, nó cũng được trợ giúp bởi phẩm chất và bởi sự phong phú của chứng tá cá nhân và cộng đoàn của những người đã đáp trả lại tiếng gọi của Chúa trong thừa tác vụ linh mục và trong đời sống thánh hiến: chứng tá của họ có thể khơi dậy nơi những người khác, đến lượt họ, ước muốn đáp trả lại cách quảng đại tiếng gọi của Chúa Kitô. Bởi thế, đề tài này được liên kết chặt chẽ với đời sống và sứ mạng của các linh mục và của những người được thánh hiến. Đó là lý do mà tôi muốn mời gọi tất cả những ai mà Chúa đã kêu gọi làm việc trong vườn nho của Ngài, canh tân lòng trung tín của lời đáp trả của họ, đặc biệt trong Năm Linh Mục này được khai mở nhân dịp kỷ niệm lần thứ 150 ngày mất của Cha Sở thánh xứ Ars, mẫu gương linh mục và cha sở luôn thời sự.
Trong Cựu Ước, các ngôn sứ đã biết rằng họ được kêu gọi để làm chứng cho những gì họ loan báo bằng cuộc sống của họ, và họ sẵn sàng đương đầu ngay cả với sự hiểu lầm, sự chối bỏ, sự bách hại. Sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó cho họ hoàn toàn bao hàm chúng, họ như có “ngọn lửa cháy” trong tim mà không thể nén lại được (x. Gr 20, 9) và họ sẵn sàng không chỉ dùng tiếng nói của mình để phục vụ Chúa , nhưng còn tất cả các phương diện của cuộc sống của họ nữa. Khi tới thời viên mãn, Chúa Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến (x. Ga 5, 36), có nhiệm vụ làm chứng, bằng sứ mạng của Ngài, cho tình yêu của Thiên Chúa đối với tất cả mọi người không phân biệt, với sự quan tâm đặc biệt dành cho những người bé mọn nhất, những người tội lỗi, những người sống bên lề xã hội, những người nghèo khổ. Ngài là Chứng Nhân tuyệt vời về Thiên Chúa và về ý muốn của Người là mọi người đều được cứu rỗi. Vào buổi đầu của thời đại mới, bằng cuộc sống hoàn toàn được thánh hiến để chuẩn bị đường cho Chúa Kitô, Gioan Tẩy Giả đã làm chứng rằng các lời hứa của Thiên Chúa được hoàn tất trong người Con của Đức Maria thành Nazarét. Khi ông thấy Ngài đến ở sông Gio-đan, nơi ông đang làm phép rửa, ông đã giới thiệu Ngài như là “Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” cho các môn đệ của mình (Ga 1, 29). Chứng tá của ông phong nhiêu đến nỗi hai môn đệ của ông “khi nghe ông nói như thế, đã đi theo Chúa Giêsu” (Ga 1, 37).
Cũng thế, theo như những gì được Thánh sử Gioan kể lại, ơn gọi của Phêrô là thông qua chứng tá của anh của mình là Anrê, người mà sau khi đã gặp Thầy và đã đáp lại lời mời gọi của Ngài là ở lại với Ngài, đã cảm thấy nhu cầu thông báo ngay cho em của mình về những gì mà mình đã khám phá khi “ở lại” với Chúa: “Chúng tôi đã gặp thấy Đấng Messia – nói cách khác là Đấng Kitô – rồi ông dẫn em mình đến gặp Chúa Giêsu” (Ga 1, 41-42). Đó cũng là những gì đã xảy đến cho Nathanaël, tức là Bartôlômêô, nhờ chứng tá của một môn đệ khác là Philipphê, người đã vui mừng chia sẻ cho Nathanaël khám phá lớn lao của mình: “ Người mà luật Môisê và các Ngôn sứ nói đến, chúng tôi đã gặp Người: đó là Đức Giêsu con của ông Giuse, ở Nazareth” (Ga 1, 45). Sáng kiến tự do và nhưng không của Thiên Chúa gặp gỡ và chất vấn trách nhiệm nhân loại của những ai đón nhận lời mời gọi của Ngài trở nên những dụng cụ của tiếng gọi của Thiên Chúa nhờ chứng tá riêng của mình. Điều này vẫn còn xảy đến hôm nay trong Giáo Hội: Thiên Chúa dùng chứng tá của các linh mục trung thành với sứ mạng của mình để khơi lên những ơn gọi linh mục và tu sĩ mới để phục vụ dân Thiên Chúa. Đó là lý do mà tôi muốn nhắc lại ba khía cạnh của đời sống linh mục, mà theo tôi là thiết yếu cho một chứng tá linh mục hữu hiệu.
Tình bạn với Chúa Kitô là một yếu tố căn bản và có thể nhận thấy được của mọi ơn gọi linh mục và thánh hiến. Chúa Giêsu đã sống trong sự kết hiệp liên lỉ với Cha của Ngài, điều đã khơi lên nơi các môn đệ ước muốn sống chính kinh nghiệm đó, bằng cách học hỏi từ nơi Ngài sự hiệp thông và đối thoại không ngừng với Thiên Chúa. Nếu linh mục là “người của Thiên Chúa”, người thuộc về Thiên Chúa và là người giúp cho biết Ngài và yêu mến Ngài, thì linh mục không thể không vun trồng một sự thân mật sâu xa với Ngài, ở lại trong tình yêu của Ngài, bằng cách dành chỗ cho việc lắng nghe Lời của Ngài. Đời sống cầu nguyện là chứng tá đầu tiên khơi dậy các ơn gọi. Cũng như tông đồ Anrê đã loan báo cho em mình biết là đã gặp Thầy, thì người nào muốn làm môn đệ và chứng nhân cho Chúa Kitô cũng phải đã “gặp” Ngài cách cá nhân, đã biết Ngài, đã học biết yêu mến Ngài và ở lại với Ngài.
Việc trao hiến hoàn toàn chính mình cho Thiên Chúa là một khía cạnh khác của việc thánh hiến linh mục và của đời sống thánh hiến. Thánh Gioan Tông đồ đã viết: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em.” (1Ga 3, 16). Bằng những lời này, ngài đã mời gọi các môn đệ bước vào trong chính lôgíc của Chúa Giêsu, Đấng mà, trong suốt toàn bộ cuộc sống của mình, đã thực thi ý muốn của Cha cho đến hoàn toàn tự hiến trên thập giá. Lòng thương xót của Thiên Chúa được biểu lộ ở đó trong tất cả sự tròn đầy của nó: tình yêu thương xót đã chiến thắng bóng tối của sự dữ, của tội lỗi và của cái chết. Cử chỉ của Chúa Giêsu mà, vào bữa Tiệc Ly, đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, lấy khăn rồi thắt lưng, và cúi xuống để lau chân cho các Tông đồ, diễn tả ý nghĩa phục vụ và sự trao hiến được biểu lộ trong toàn thể cuộc sống của Ngài, trong sự vâng phục thánh ý Chúa Cha (x. Ga 13, 3-15). Bước theo Chúa Giêsu, toàn thể con người mà được kêu gọi sống một đời thánh hiến riêng biệt phải nỗ lực làm chứng cho sự trao hiến hoàn toàn chính mình này cho Thiên Chúa. Chính từ đó mà tiếp đến nảy sinh khả năng tự hiến cho những người mà Thiên Chúa Quan Phòng giao phó cho người ấy trong thừa tác vụ mục tử, bằng sự tận tâm trọn vẹn, thường hằng và trung tín, trong niềm vui trở nên bạn đồng hành với biết bao anh chị em, để họ mở mình ra cho sự gặp gỡ với Chúa Kitô và để Lời của Ngài trở nên ánh sáng trên đường đời của họ. Lịch sử của mỗi ơn gọi hầu như luôn được liên kết với chứng tá của một linh mục đã sống cách vui tươi sự trao hiến chính mình cho anh chị em của mình vì Nước Trời. Điều đó là bởi vì sự gần gũi và lời nói của một linh mục đều có khả năng làm nảy sinh những câu hỏi và có khả năng đưa đến những quyết định, thậm chí là dứt khoát (x. Gioan-Phaolô II, Tông huấn hậu Thượng Hội Đồng Giám mục Pastores dabo vobis, số. 39).
Sau cùng, sống hiệp thông là khía cạnh thứ ba mà không thể không làm rõ nét người linh mục và người sống đời thánh hiến. Chúa Giêsu đã chỉ ra sự hiệp thông sâu xa trong tình yêu như là dấu chỉ phân biệt của người muốn làm môn đệ của Ngài: “Mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35). Cách đặc biệt, linh mục phải là một người hiệp thông, mở ra cho hết mọi người, có khả năng làm cho tất cả đoàn chiên mà Chúa nhân từ đã giao phó cho mình bước đi trong sự hiệp nhất, bằng cách giúp cho đoàn chiên vượt qua những chia rẽ, khâu lại những chỗ rách, san bằng những mâu thuẫn và những hiểu lầm, tha thứ cho những xúc phạm. Khi gặp Hàng giáo sĩ của Aoste vào tháng Bảy năm 2005, tôi đã nói rằng nếu giới trẻ thấy các linh mục cô đơn và buồn bã, thì chắc chắn họ không cảm thấy được khích lệ đi theo mẫu gương của họ. Họ vẫn sẽ bối rối nếu họ bị khiến cho nghĩ rằng tương lai của linh mục là như thế. Trái lại, thật quan trọng việc thể hiện sự hiệp thông đời sống mà cho họ thấy vẻ đẹp của thiên chức linh mục. Khi đó, người trẻ sẽ nói: “Điều đó cũng có thể là một tương lai cho tôi, người ta có thể sống như thế” (Insegnamenti I, [2005], 354). Về chứng tá khơi dậy các ơn gọi, Công đồng Vatican II nhấn mạnh mẫu gương đức ái và hợp tác huynh đệ mà các linh mục phải mang lại (x. Sắc lệnh Optatam totius, số. 2).
Tôi muốn nhắc lại những gì mà vị Tiền nhiệm đáng kính của tôi là đức Gioan-Phaolô II đã viết: “ Đời sống của các linh mục, sự tận tâm triệt để cho dân Thiên Chúa, chứng tá phục vụ yêu thương của họ cho Chúa và cho Giáo Hội của Ngài – một chứng tá được đánh dấu bằng dấu chỉ thập giá, được chấp nhận trong niềm hy vọng và niềm vui phục sinh – , sự hòa hợp huynh đệ và sự nhiệt thành phúc âm hóa thế giới của họ là những nhân tố đầu tiên và thuyết phục nhất của sự phong nhiêu ơn gọi” (Pastores dabo vobis, 41). Người ta có thể nói rằng các ơn gọi linh mục nảy sinh từ sự tiếp xúc với các linh mục, theo kiểu một gia sản quý báu được truyền lại bằng lời nói, bằng gương sáng và tất cả cuộc sống.
Điều này cũng có giá trị cho đời sống thánh hiến. Chính cuộc sống của các nam nữ tu sĩ nói về tình yêu Chúa Kitô khi họ bước theo Ngài trong sự trung tín hoàn toàn với Tin Mừng và đảm nhận cách phấn khởi những tiêu chí phán đoán và hành xử của Tin Mừng. Họ trở nên “dấu mâu thuẫn” đối với thế gian, mà lôgíc của nó thường được gợi hứng bởi chủ nghĩa duy vật, bởi tính ích kỷ và chủ nghĩa cá nhân. Bởi vì họ để cho Thiên Chúa chinh phục mình qua việc từ bỏ chính mình, nên sự trung tín của họ và sức mạnh của chứng tá của họ tiếp tục khơi dậy nơi tâm hồn của biết bao bạn trẻ, đến lượt mình, ước muốn bước theo Chúa Kitô mãi mãi, cách quảng đại và triệt để. Bắt chước Chúa Kitô trong sạch, nghèo khó và vâng phục, và đồng hình đồng dạng với Ngài: đó là lý tưởng của đời sống thánh hiến, chứng tá cho sự tối thượng tuyệt đối của Thiên Chúa trong đời sống và lịch sử của nhân loại.
Mọi linh mục, mọi người nam nữ sống đời thánh hiến trung thành với ơn gọi của mình đều chia sẻ niềm vui phục vụ Chúa Kitô và mời gọi các kitô hữu đáp trả lại ơn gọi nên thánh chung. Do đó, mẫu gương của những ai đã nói lên tiếng « xin vâng » của mình với Thiên Chúa và với dự phóng cuộc sống mà Ngài có trên mỗi người, là không thể thiếu để thăng tiến các ơn gọi đặc thù cho thừa tác vụ linh mục và cho đời sống thánh hiến, để làm cho ơn gọi nên mạnh mẽ hơn và sâu sắc hơn. Chứng tá của bản thân, được thực hiện từ những chọn lựa hiện sinh và cụ thể, sẽ khích lệ các bạn trẻ, đến lượt họ, đưa ra những quyết định đòi hỏi khắc khe mà dấn thân tương lai của họ. Để trợ giúp họ, cần phải có nghệ thuật gặp gỡ và đối thoại có khả năng soi sáng cho họ và đồng hành với họ, nhất là nhờ tính chất gương mẫu của một cuộc đời được sống như là một ơn gọi. Đó là những gì mà Cha Sở Thánh xứ Ars đã thực hiện: khi tiếp xúc thường xuyên với các giáo dân của mình, ngài “đã dạy nhất là bằng chứng tá đời sống của mình. Theo gương của ngài, các giáo hữu đã học cầu nguyện” (Thư gởi các linh mục nhân dịp khai mạc Năm Linh Mục, ngày 16 tháng Sáu năm 2009).
Ước gì Ngày Thế Giới này một lần nữa có thể mang lại một cơ hội quý báu cho nhiều bạn trẻ để suy nghĩ về ơn gọi riêng của họ, cùng gắn bó với nó với lòng đơn sơ, tin tưởng và hoàn toàn sẵn sàng ứng trực! Nguyện xin Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ của Giáo Hội, che chở mọi mầm giống ơn gọi, dù nhỏ đến mấy, trong tâm hồn của những ai mà Chúa kêu gọi bước theo sát Ngài hơn; xin Mẹ thực hiện để nó trở nên một cây cao vững vàng, mang đầy hoa trái vì lợi ích của Giáo Hội và của toàn thể nhân loại! Tôi cầu xin cho điều đó và ban Phép Lành Tòa Thánh cho hết mọi người.
Vatican, ngày 13 tháng Mười Một năm 2009
BÊNÊĐICTÔ XVI, Mục tử của các mục tử.
MESSAGE DU SAINT-PÈRE
POUR LA XLVII JOURNÉE MONDIALE
DE PRIÈRE POUR LES VOCATIONS
25 AVRIL 2010 – IVe DIMANCHE DE PÂQUES
Thème: Le témoignage suscite des vocations.
Vénérables Frères dans l’Épiscopat
et dans le Sacerdoce, chers frères et sœurs!
La 47ème Journée Mondiale de Prière pour les Vocations que nous célébrerons le 4ème dimanche de Pâques – dimanche du «Bon Pasteur» – le 25 avril 2010, me donne l’occasion de proposer à votre méditation un thème qui est bien en harmonie avec l’Année Sacerdotale: Le témoignage suscite des vocations. En effet, la fécondité de la proposition vocationnelle dépend avant tout de l’action gratuite de Dieu; mais, comme le confirme l’expérience pastorale, elle est aussi favorisée par la qualité et par la richesse du témoignage personnel et communautaire de ceux qui ont déjà répondu à l’appel du Seigneur dans le ministère sacerdotal et dans la vie consacrée: leur témoignage peut susciter chez d’autres le désir de répondre à leur tour, avec générosité, à l’appel du Christ. Ce thème est donc étroitement lié à la vie et à la mission des prêtres et des personnes consacrées. C’est la raison pour laquelle je voudrais inviter tous ceux que le Seigneur a appelés à travailler dans sa vigne, à renouveler la fidélité de leur réponse, surtout en cette Année Sacerdotale ouverte à l’occasion du 150ème anniversaire de la mort du saint Curé d’Ars, Jean-Marie Vianney, exemple toujours actuel de prêtre et de curé.
Déjà dans l’Ancien Testament, les prophètes savaient qu’ils étaient appelés à témoigner par leur existence de ce qu’ils annonçaient, et ils étaient prêts à affronter même l’incompréhension, le rejet, la persécution. La mission que Dieu leur confiait les impliquait complètement, ils avaient au cœur comme un «feu dévorant» qu’on ne peut contenir (cf. Jr 20,9) et ils étaient prêts à mettre au service du Seigneur non seulement leur voix, mais aussi tous les aspects de leur existence. Dans la plénitude des temps, il appartiendra à Jésus, l’envoyé du Père (cf. Jn 5,36), de témoigner, par sa mission, de l’amour de Dieu à l’égard de tous les hommes sans distinction, avec une particulière attention aux plus petits, aux pécheurs, aux marginaux, aux pauvres. Il est, par excellence, le Témoin de Dieu et de sa volonté que tous soient sauvés. à l’aube des temps nouveaux, Jean-Baptiste, par sa vie entièrement consacrée à préparer les voies du Christ, témoigne que les promesses de Dieu s’accomplissent dans le Fils de Marie de Nazareth. Quand il le voit venir au Jourdain, où il baptisait, il le désigne à ses disciples comme «l’Agneau de Dieu, celui qui enlève le péché du monde» (Jn 1, 29). Son témoignage est si fécond, que deux de ses disciples «en l’entendant parler ainsi, suivirent Jésus» (Jn 1, 37).
De même, la vocation de Pierre, selon ce qu’écrit l’évangéliste Jean, passe par le témoignage de son frère André qui, après avoir rencontré le Maître et répondu à son invitation à rester avec lui, éprouve le besoin de lui faire part immédiatement de ce qu’il a découvert en «demeurant» avec le Seigneur: «Nous avons trouvé le Messie – autrement dit le Christ – et il l’amena à Jésus» (Jn 1, 41-42). C’est ce qui est arrivé aussi à Nathanaël, Barthélémy, grâce au témoignage d’un autre disciple, Philippe, qui lui communique avec joie sa grande découverte: «Celui dont parlent la loi de Moïse et les Prophètes, nous l’avons trouvé: c’est Jésus fils de Joseph, de Nazareth» (Jn 1, 45). L’initiative libre et gratuite de Dieu rencontre et interpelle la responsabilité humaine de ceux qui accueillent son invitation à devenir, par leur propre témoignage, des instruments de l’appel divin. Ceci arrive encore aujourd’hui dans l’Église: Dieu se sert du témoignage des prêtres qui sont fidèles à leur mission pour susciter de nouvelles vocations sacerdotales et religieuses au service du peuple de Dieu. C’est la raison pour laquelle je désire rappeler trois aspects de la vie du prêtre, qui me paraissent essentiels pour un témoignage sacerdotal efficace.
L’amitié avec le Christ est un élément fondamental et reconnaissable de toute vocation au sacerdoce et à la consécration. Jésus vivait en constante union avec son Père, ce qui suscitait chez les disciples le désir de vivre la même expérience, en apprenant de Lui la communion et le dialogue incessant avec Dieu. Si le prêtre est l’«homme de Dieu», qui appartient à Dieu et qui aide à le connaître et à l’aimer, il ne peut pas ne pas cultiver une profonde intimité avec Lui, demeurer dans son amour, en faisant place à l’écoute de sa Parole. La prière est le premier témoignage qui suscite des vocations. De même que l’apôtre André annonce à son frère qu’il a rencontré le Maître, celui qui veut être disciple et témoin du Christ doit l’avoir «vu» personnellement, doit l’avoir connu, doit avoir appris à l’aimer et à demeurer avec Lui.
Le don total de soi à Dieu est un autre aspect de la consécration sacerdotale et de la vie consacrée. L’apôtre Jean écrit: «Voici à quoi nous avons reconnu l’amour: lui, Jésus, a donné sa vie pour nous. Nous aussi, nous devons donner notre vie pour nos frères» (1 Jn 3, 16). Par ces mots, il invite les disciples à entrer dans la logique même de Jésus qui, dans toute son existence, a accompli la volonté du Père jusqu’au don suprême sur la croix. La miséricorde de Dieu se manifeste là dans toute sa plénitude: amour miséricordieux qui a vaincu les ténèbres du mal, du péché et de la mort. Le geste de Jésus qui, à la Dernière Cène, se lève de table, dépose ses vêtements, prend un linge dont il se ceint, et se penche pour laver les pieds des Apôtres, exprime le sens du service et du don manifestés dans son existence tout entière, en obéissance à la volonté du Père (cf. Jn 13, 3-15). à la suite de Jésus, toute personne appelée à vivre une consécration spéciale doit s’efforcer de témoigner de ce don total de soi à Dieu. C’est de cela que naît la capacité de se donner ensuite à ceux que la Providence lui confie dans le ministère pastoral, avec un dévouement complet, permanent et fidèle, dans la joie de se faire compagnon de voyage de tant de frères, pour qu’ils s’ouvrent à la rencontre avec le Christ et que sa Parole devienne lumière sur leur route. L’histoire de chaque vocation est presque toujours liée au témoignage d’un prêtre qui vit avec joie le don de lui-même à ses frères pour le Royaume des cieux. Ceci parce que le voisinage et la parole d’un prêtre sont capables de faire surgir des interrogations et de conduire à des décisions, même définitives (cf. Jean-Paul II, Exhort. ap. post-synod. Pastores dabo vobis, n. 39).
Enfin, vivre la communion est un troisième aspect qui ne peut pas ne pas caractériser le prêtre et la personne consacrée. Jésus a indiqué la profonde communion dans l’amour comme signe distinctif de celui qui veut être son disciple: «Ce qui montrera à tous les hommes que vous êtes mes disciples: c’est l’amour que vous aurez les uns pour les autres» (Jn 13, 35). De façon particulière, le prêtre doit être un homme de communion, ouvert à tous, capable de faire marcher dans l’unité tout le troupeau que la bonté du Seigneur lui a confié, en l’aidant à dépasser les divisions, à recoudre les déchirures, à aplanir les oppositions et les incompréhensions, à pardonner les offenses. Lorsque j’ai rencontré le Clergé d’Aoste en juillet 2005, j’ai dit que si les jeunes voient des prêtres isolés et tristes, ils ne se sentent certainement pas encouragés à suivre leur exemple. Ils restent perplexes s’ils sont amenés à penser que tel est l’avenir du prêtre. Il est au contraire important de réaliser la communion de vie qui leur révèle la beauté du sacerdoce. Alors le jeune dira: «Cela peut être un avenir également pour moi, on peut vivre ainsi» (Insegnamenti I, [2005], 354). à propos du témoignage qui suscite des vocations, le Concile Vatican II souligne l’exemple de charité et de collaboration fraternelle que doivent offrir les prêtres (cf. Décret Optatam totius, n. 2).
Je rappelle volontiers ce qu’a écrit mon vénéré Prédécesseur Jean-Paul II: «La vie des prêtres, leur dévouement absolu au peuple de Dieu, leur témoignage de service d'amour pour le Seigneur et son Église – un témoignage marqué du signe de la croix, acceptée dans l'espérance et la joie pascale –, leur concorde fraternelle et leur zèle pour l'évangélisation du monde sont les premiers et les plus convaincants des facteurs de la fécondité des vocations» (Pastores dabo vobis, 41). On pourrait dire que les vocations sacerdotales naissent du contact avec les prêtres, à la manière d’un précieux patrimoine qui est transmis par la parole, l’exemple et toute l’existence.
Ceci vaut également pour la vie consacrée. L’être même des religieux et des religieuses parle de l’amour du Christ quand ils le suivent en pleine fidélité à l’Évangile et en assument avec joie les critères de jugement et de comportement. Ils deviennent «signe de contradiction» pour le monde, dont la logique est souvent inspirée par le matérialisme, l’égoïsme et l’individualisme. Parce qu’ils se laissent conquérir par Dieu en renonçant à eux-mêmes, leur fidélité et la force de leur témoignage continuent de susciter dans le cœur de tant de jeunes le désir de suivre le Christ à leur tour et pour toujours, de façon généreuse et absolue. Imiter le Christ chaste, pauvre et obéissant, et s’identifier à Lui: tel est l’idéal de la vie consacrée, témoignage du primat absolu de Dieu dans la vie et l’histoire des hommes.
Tout prêtre, tout consacré, toute consacrée qui est fidèle à sa vocation communique la joie de servir le Christ et invite les chrétiens à répondre à l’appel universel à la sainteté. Par conséquent, l’exemple de ceux qui ont déjà dit leur «oui» à Dieu et au projet de vie qu’Il a sur chacun, est indispensable pour promouvoir les vocations spécifiques au ministère sacerdotal et à la vie consacrée, pour rendre plus fort et plus incisif l’appel vocationnel. Le témoignage personnel, fait de choix existentiels et concrets, encouragera les jeunes à prendre, à leur tour, des décisions exigeantes qui engagent leur avenir. Pour les aider, il faut cet art de la rencontre et du dialogue capable de les éclairer et de les accompagner, grâce surtout à l’exemplarité d’une existence vécue comme une vocation. C’est ce qu’a fait le Saint Curé d’Ars: en contact permanent avec ses paroissiens, il «enseignait surtout par le témoignage de sa vie. A son exemple, les fidèles apprenaient à prier» (Lettre pour l’Indiction de l’Année Sacerdotale, 16 juin 2009).
Que cette Journée Mondiale puisse offrir encore une fois une précieuse occasion à beaucoup de jeunes pour réfléchir sur leur propre vocation, en y adhérant avec simplicité, confiance et pleine disponibilité! Que la Vierge Marie, Mère de l’Église, protège tout germe de vocation, si petit soit-il, dans le cœur de ceux que le Seigneur appelle à le suivre de plus près; qu’elle fasse en sorte qu’il devienne un arbre robuste, chargé de fruits pour le bien de l’Église et de l’humanité tout entière! Je prie pour cela et j’accorde à tous la Bénédiction Apostolique.
Du Vatican, le 13 novembre 2009
BENEDICTUS PP. XVI