Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 
NĂM THÁNH LINH MỤC
KỶ NIỆM 150 NĂM NGÀY MẤT
CỦA CHA GIOAN MARIA VIANNEY

Năm linh mục 19-06-2009 đến 19.06.2010
Vì sao có năm Linh Mục
Đức Thánh Cha giải thích về năm Linh Mục
Thư của ĐTC Benêđictô XVI
Thư Của Bộ Giáo Sĩ
Sắc Lệnh Ban Ơn Xá Đặc Biệt
10 điều răn của linh mục
Kinh Năm Linh Mục do Bộ Giáo Sĩ soạn
Kinh cầu nguyện năm linh mục

Hai cột trụ của sứ vụ linh mục
Linh mục chứng nhân cho tình yêu
Linh Mục Người nối kết với cộng đoàn
Linh mục người nối kết với Giám mục
Linh Mục Nào Cho Ngày Mai
Giáo Hội yêu mến các linh mục
Gioan Maria Vianney
Một linh mục hiện đại-Thomas Merton
Thách đố trong cuộc đời L.Mục


“Năm linh mục”: từ 19-06-2009 đến 19-06-2010

“Năm linh mục” từ 19-06-2009 đến 19-06-2010. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI công bố một năm đặc biệt cho các linh mục

VATICAN CITY – Ngày 16.03.2009, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã tiếp các thành viên của Bộ Giáo sĩ trong phiên họp toàn thể với đề tài: “Căn tính thừa sai của linh mục trong Giáo Hội như một chiều kích nội tại của việc thực thi ba chức năng”

Đức Thánh Cha nói: “Chiều kích thừa sai của một linh mục phát sinh từ việc trở nên đồng hình dạng theo thể thức bí tích với Chúa Kitô là Đầu. Điều này đòi hỏi linh mục phải hoàn toàn gắn bó với điều mà truyền thống Giáo Hội gọi là “lối sống tông đồ” (apostolica vivendi forma); lối sống ấy hệ tại tham gia vào đời sống mới mà Chúa Giêsu đã khai mở và các Tông Đồ đón nhận làm lối sống của mình”.

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhấn mạnh rằng “mỗi linh mục thực sự phải nỗ lực trở nên hoàn thiện. Tính hữu hiệu của sứ vụ linh mục tùy thuộc chủ yếu vào sự hoàn thiện thiêng liêng này.” Đức Thánh Cha nói: “Để giúp cho nỗ lực ấy, tôi quyết định mở một năm đặc biệt, “Năm Linh mục” từ ngày 19 tháng sáu 2009 đến 19 tháng sáu 2010. Năm nay cũng đánh dấu “kỷ niệm 150 năm ngày thánh Gioan Maria Vianney, cha sở Ars qua đời, ngài là mẫu gương thực sự của một vị mục tử chăm sóc đoàn chiên Chúa Kitô.”

Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhấn mạnh đến nhu cầu “phải quan tâm đến việc đào tạo các ứng viên linh mục, việc đào tạo này phải duy trì “sự hiệp thông với Truyền thống không gián đoạn của Giáo hội.” Trong bối cảnh này, cần khuyến khích các linh mục, đặc biệt là các thế hệ trẻ, đọc các bản văn của Công đồng Vatican II một cách đúng đắn, được giải thích theo ánh sáng toàn bộ gia sản giáo thuyết của Giáo Hội.”

Đặt Chúa Giêsu làm trung tâm sẽ dẫn đến việc đánh giá đúng đắn về sứ vụ linh mục, mà nếu không có (linh mục) thì sẽ không có Thánh Thể, không có truyền giáo, không có cả Giáo Hội.

Đức Thánh Cha sẽ khai mạc Năm linh mục khi chủ sự giờ Kinh chiều ngày 19 tháng 6/2009, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu – ngày thánh hóa các linh mục tại Đền thờ thánh Phêrô; tại đây, di hài của thánh Vianney sẽ được Đức giám mục Guy Bagnard của giáo phận Belley-Ars mang đến. Năm linh mục sẽ bế mạc vào ngày 19 tháng 6/2010, trong Cuộc Gặp gỡ Thế giới Các linh mục tại quảng trường thánh Phêrô.

Trong Năm này, Đức Thánh Cha cũng công bố thánh Gioan Vianney là bổn mạng của tất cả các linh mục trên thế giới. Ngoài ra, tập sách “Hướng dẫn dành cho các cha giải tội và linh hướng” cũng được phát hành cùng với một tuyển tập các bài viết của Đức Thánh Cha về những khía cạnh chính yếu của đời sống và sứ vụ linh mục ngày nay.

(Theo VIS, CNA)

 

VÌ SAO CÓ NĂM LINH MỤC

VietCatholic News (24 Jun 2009 13:30)

Giám Đốc Cơ Quan Báo Chí Tòa Thánh ghi nhận những mục tiêu

VATICAN: (Zenit.org).- Giám Đốc Cơ Quan Báo Chí Tòa Thánh nói chức linh mục là một ân huệ cho nhân loại, nhưng chức linh mục lại chịu nhiều sự khó khăn, và Năm Linh Mục vừa được khai mạc nhằm xử lý tình trạng này, một phát ngôn viên Vatican nói.

Linh Mục Dòng Tên Federico Lombardi, giám đốc cơ quan báo chí Vatican, đã nói về Năm Linh Mục trong kỳ xuất bản mới nhất của đài Truyền hình Vatican “Octava Dies.”

“Việc phục vụ của linh mục có tầm quan trọng cơ bản trong đời sống Giáo Hội,” ngài nói. “Nhưng điều mầu nhiệm là ngày nay việc phục vụ này chịu không ít khó khăn.”

Cha Lombardi đã khẳng định rằng Năm Linh Mục, đã bắt đầu hôm thứ Sáu vừa qua và kéo dài cho tới tháng 6 năm sau, đáp lại những tranh đấu do nhiều nhân tố gây ra: “bầu khí chung của sự tục hóa trong những vùng rộng lớn thế giới, một sự đánh giá thấp về vai trò linh mục trong xã hội, những vết thương sâu sắc giáng xuống trên hình ảnh công khai các linh mục do cách cư xử bất xứng của một số linh mục, và còn do sự đánh giá cao của ơn gọi giáo dân trong Giáo Hội.”

Đối mặt với những khó khăn này, phát ngôn viên nói tiếp, “Đức Giáo Hoàng không đáp lại với những nhận xét có tính xã hội-tôn giáo, nhưng bằng sự cổ võ một sự dấn thân đổi mới nội tâm về phần các linh mục, ngõ hầu chứng từ Tin Mừng của các ngài trong thế giơi ngày nay nên mãnh liệt và nặng cân hơn.”

Lá thư Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI gởi các linh mục, lá thơ khai mạc năm này, "không bắt đầu từ bên ngoài, nhưng từ trung tâm ơn gọi linh mục, từ gương mẫu cụ thể của sự thánh thiện linh mục được cống hiến chúng ta do Cha Sở thánh họ Ars, Thánh Gioan Vianney,” Cha Lombardi nhận xét.

Điều đó có thể xem ra hầu như là một sự cổ võ trình bày như một điểm qui chiếu thiêng liêng cho các linh mục toàn thế giới, vị mục tử đã sống trong một thành phố nhỏ nước Pháp có 200 người, kẻ đã chết cách đây 150 năm”. Nhưng nếu linh mục thật sự sống Thánh Thể và phục vụ cho việc hoà giải giữa Thiên Chúa và con ngừoi, tức là, từ sự bày tỏ lòng thương xót của Chúa, bấy giờ thời gian và không gian biến thành phụ thuộc.”

Cha Lombardi nói, đó là lý do lá thư của Đức Giáo hoàng gởi các linh mục, “có một đụng chạm sâu sắc tới linh đạo, một cảm giác lớn về tình yêu đối với Chúa Giêsu và dân chúng, cách riêng đối với những kẻ sống xa Chúa về mặt thiêng liêng hay là sống trong những lúc khó khăn.”

“Phải chăng không đúng khi có một nhu cầu khẩn cấp và khủng khiếp cho tình yêu này, tình yêu cố gắng hiện diện trong tâm hồn mỗi người?” cha hỏi. “Đó là lý do Đức Giáo hoàng nói về linh mục như là một ân huệ cho Giáo Hội và cho chính nhân loại nữa.”

Đ.Ô Nguyễn Quang Sách

ĐỨC THÁNH CHA GIẢI THÍCH VỀ NĂM LINH MỤC

VATICAN - Trong buổi tiếp kiến chung 30 ngàn tín hữu hành hương sáng thứ tư, 24-6-2009, ĐTC Biển Đức 16 đã giải thích về ý nghĩa năm Linh Mục.

Trong số các tín hữu hiện diện đặc biệt cũng có phái đoàn hành hương 55 người thuộc Giáo Xứ Việt Nam ở Paris, thủ đô Pháp, do Cha Giuse Trần Anh Dũng hướng dẫn.

Trong bài huấn dụ tại buổi tiếp kiến, ĐTC tạm ngưng loạt bài về các giáo phụ và các học giả Kitô giáo, để quảng diễn ý nghĩa về Năm Linh Mục ngài mới khai mạc hôm 19-6-2009 vừa qua. Ngài nói tóm tắt như sau:

"Thứ sáu vừa qua, lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, một ngày theo truyền thống vẫn được dành để cầu nguyện cho sự thánh hóa các linh mục, đã đánh dấu khởi đầu Năm Linh Mục, kỷ niệm 150 năm qua đời của thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars, bổn mạng các cha sở. Năm Thánh Phaolô sắp kết thúc và năm Linh Mục hiện nay mời gọi chúng ta hãy để ý xem Thánh Phaolô Tông Đồ và cha sở khiên hạ của giáo xứ Ars đã hoàn đồng hóa với sứ của các vị thế nào, bằng cách cố gắng sống trong sự hiệp thông liên lỷ với Chúa Kitô. Ước gì Năm Linh Mục này giúp tất cả các linh mục tăng trưởng, tiến tới sự trọn lành thiêng liêng vốn là điều thiết yếu để sứ vụ của các vị được hữu hiệu và giúp các tín hữu ngày càng quí chuộng hoàn toàn hồng ân cao cả của chức linh mục: đối với chính các LM, Giáo Hội và cho thế giới chúng ta. Được trở nên đồng hình dạng với Chúa Kitô trong bí tích truyền chức Thánh, LM được mời gọi trở thành Alter Christus, Chúa Kitô thứ hai. Vì thế, sự kết hiệp bản thân với Chúa phải thống nhất mọi khía cảnh của đời sống và hoạt động linh mục. Trong năm Linh Mục này, chúng ta hãy phó thác tất cả các LM cho Mẹ Maria, là Mẹ Giáo Hội và cầu nguyện để các Linh Mục được tăng trưởng trong lòng trung thành với sứ vụ trở thành những dấu chỉ sống động về sự hiện diện và lòng từ bi vô biên của Chúa Kitô".

Thánh Phaolô và Vianney

Trước khi tóm lược bài huấn giáo bằng các thứ tiếng khác nhau, ĐTC đã diễn giải bằng tiếng Ý với nhiều chi tiết hơn về Năm Linh Mục và về chính ý nghĩa của Linh mục.

Trước tiên, ngài ghi nhận 2 thánh Phaolô và Vianney rất khác biệt nhau về cuộc sống: một vị đi từ miền này sang miền khác để loan báo Tin Mừng, vị khác đón tiếp hàng ngàn tín hữu và ở lại trong giáo xứ bé nhỏ của ngài. Tuy nhiên có một cái gì cơ bản làm cho hai vị giống nhau, đó là sự hoàn toàn đồng hóa của hai vị với sứ vụ của mình, sự hiệp thông của các ngài với Chúa Kitô, đến độ thánh Phaolô có thể nói: ”Tôi đã bị đóng đinh với Chúa Kitô. Không còn là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi” (Galát 2,20). Và thánh Gioan Maria Vianney ưa lập lại rằng: ”Giả sử chúng ta có đức tin, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa ẩn náu trong linh mục như ánh sáng đàng sau tấm kiếng, như rượu được hòa với nước”... Hiện nhiên điều kiện lịch sử và xã hội thời thánh cha sở họ Ars đã thay đổi, và chúng ta có lý để tự hỏi các LM ngày nay có thể bắt chước thánh nhân thế nào trong sự đồng hóa với sứ vụ qua những hoàn cảnh xã hội hoàn cầu hóa ngày nay. Trong một thế giới trong đó quan niệm chung về cuộc sống ngày càng bớt phần thánh thiêng, và thay vào đó, chức năng trở thành tiêu chuẩn duy nhất có tính chất quyết định, quan niệm của Công Giáo và chức LM có nguy cơ bị mất đặc tính tự nhiên, đôi khi cả trong ý thức giữa lòng Giáo Hội nữa. Nhiều khi, trong các giới thần học, cũng như trong việc thực hành mục vụ và huấn luyện giáo sĩ, người ta đặt hai quan niệm về chức LM đối nghịch nhau. Cách đây vài năm tôi đã nhận xét: một bên là những ngừơi quan niệm về chức LM theo khía cạnh chức năng xã hội và định nghĩa yếu tính của chức LM bằng ý niệm phục vụ: phục vụ cộng đoàn, chu toàn một chức năng, bên kia là quan niệm có tính chất bí tích và thực thể, không chối bỏ tính chất phục vụ của chức linh mục, nhưng coi chức này ăn rễ nơi chính yếu tính của thừa tác viên và đây là điều được xác định do một hồng ân Chúa ban qua trung gian của Giáo Hội (J. Ratzinger, Minestero e vita del Sacerdote, in: Elementi di Teologia fondamentale. Saggio su fede e ministero, Brescia 2005, p 165).

ĐTC cũng giải thích thế nào là rao giảng Tin Mừng đối với linh mục, và thế nào là chỗ đứng ưu tiên của việc rao giảng? Ngài nhấn mạnh rằng việc rao giảng ở đây không phải chỉ là công bố lời nói, nhưng là công bố Lời Chúa, và việc rao giảng này đồng hóa với chính con người của Chúa Kitô, tự bản chất Người cởi mở đối với quan hệ với Chúa Cha và vâng phục thánh ý Cha. Vì thế, một việc phục vụ đích thực dành cho Lời Chúa đòi Linh mục phải hướng tới sự từ bỏ mình, đến độ có thể nói như thánh Tông Đồ: "Không còn là tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”. LM không thể coi mình là chủ nhân ông của lời Chúa, nhưng là tôi tớ của Lời Chúa. LM không phải là lời Chúa, nhưng phải công bố Lời Chúa như Gioan Tây Giả là tiếng nói của Lời Chúa, "Tiếng nói kêu trong hoang địa: hãy dọn đường cho Chúa, hãy uốn thẳng đường” (Mc 1,3).

Vì thế, trở thành tiếng của Lời Chúa, không phải chỉ là một khía cạnh chức năng của linh mục, trái lại đòi LM phải "tiêu hao" bản thân trong Chúa Kitô, tham dự vào mầu nhiệm chết đi và sống lại của Chúa với tất cả con người của mình: trí khôn, tự do, ý chí, dâng hiến thân mình như lễ hy sinh sống động (Rm 12,1-2). Chỉ nhờ sự tham dự vào hy tế của Chúa Kitô, việc rao giảng của LM mới có tính chất chân thực.

Với đông đảo tín hữu hành hương nói tiếng Ý, ĐTC chào thăm các bạn trẻ, các bệnh nhân và các đôi vợ chồng mới cưới. Ngài nói: Hôm nay chúng ta mừng lễ sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả, được Thiên Chúa sai đến để làm chứng cho ánh sáng và chuẩn bị cho Chúa một dân tộc sẵn sàng. Hỡi những người trẻ, Cha cầu chúc các con tìm trong tình bạn với Chúa Giêsu sức mạnh cần thiết để luôn xứng đáng với những trách nhiệm đang chờ đợi các con. Hỡi anh chị em bệnh nhân, tôi khuyên nhủ anh chị em hãy coi những đau khổ và thử thách hằng ngày như một cơ hội Chúa ban để cộng tác vào việc cứu độ các linh hồn. Và hỡi các đôi vợ chồng mới cưới, tôi mời gọi anh chị em hãy biểu lộ tình yêu của Chúa qua sự trung thành với nhau và quảng đại đón nhận sự sống.

Trước đó, ĐTC đã nồng nhiệt chào thăm phái đoàn do Phó tổng thư ký LHQ quốc dẫn và là đại diện đặc biệt về các trẻ em trong tình trạng xung đột võ trang. Ngài nói: "Tôi nồng nhiệt đánh giá cao sự dấn thân của Ông Phó Tổng thư ký và các cộng sự viên trong nỗ lực bảo vệ trẻ em nạn nhân của bạo lực và võ khí, tôi nghĩ tới tất cả các trẻ em trên thế giới, nhất là những em đang phải sợ hãi, chịu cảnh bị bỏ rơi, đói khổ, lạm dụng, bệnh tật, và chết chóc. Tôi gần gũi tất cả những nạn nhân nhỏ bé và nhớ đến các em trong kinh nguyện”.

LM Trần Đức Anh, OP

THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA BENÊĐICTÔ XVI

Gửi các Linh mục nhằm thiết lập Năm Linh Mục nhân dịp kỷ niệm lần thứ 150 "Ngày Sinh" của Cha Sở Họ Đạo Ars

Anh em linh mục quý mến,
Vào ngày lễ kính trọng thể Thánh Tâm Chúa Giêsu sắp đến, thứ Sáu ngày 19 tháng Sáu năm 2009 - ngày mà truyền thống dành riêng cho việc cầu nguyện thánh hóa các linh mục -, tôi đã nghĩ khai mở cách chính thức một "Năm linh mục" nhân dịp kỷ niệm 150 năm "dies natalis" (ngày sinh) của cha Gioan-Maria Vianê, thánh bổn mạng của tất cả các cha sở trên thế giới. Một năm như thế, mà muốn đóng góp vào việc xúc tiến sự dấn thân canh tân nội tâm tất cả các linh mục để làm cho chứng tá Tin Mừng của họ trên thế giới hôm nay sâu sắc và mãnh liệt hơn, sẽ kết thúc cùng vào ngày lễ trọng thể của năm 2010. Cha Sở Thánh họ đạo Ars đã từng có thói quen nói: "Thiên chức linh mục, đó là tình yêu của thánh tâm Chúa Giêsu". Kiểu nói cảm động này trước tiên cho phép chúng ta gợi lên với lòng trìu mến và biết ơn hồng ân bao la là các linh mục không chỉ cho Giáo Hội, nhưng còn cho chính nhân loại. Tôi nghĩ đến tất cả các linh mục đang giới thiệu cho các tín hữu kitô và cho toàn thế giới lễ vật khiêm tốn và thường ngày những lời nói và cử chỉ của Chúa Kitô, đang nỗ lực gắn bó với Ngài bằng tư tưởng, ý chí, tình cảm và phong cách của tất cả cuộc sống của họ. Làm sao mà tôi không thể làm nổi bật sự vất vả tông đồ của họ, sự phục vụ dẻo dai và âm thầm của họ, đức ái phổ quát của họ được? Làm sao mà tôi không thể ca ngợi sự trung tín can đảm của biết bao linh mục mà, cho dầu phải đối diện với những khó khăn và những sự thiếu thông hiểu, vẫn trung thành với ơn gọi của mình: ơn gọi "làm bạn của Chúa Kitô", đã lãnh nhận từ Ngài một ơn gọi đặc biệt, đã được chọn gọi và sai đi ?

Chính tôi vẫn còn sống động mang trong tâm hồn kỷ niệm về vị cha sở đầu tiên mà tôi đã thực hiện thừa tác vụ linh mục trẻ của tôi bên cạnh ngài: ngài đã để lại cho tôi mẫu gương về sự tận tụy hoàn toàn với công việc mục vụ của ngài, đến độ đã qua đời đang khi ngài đang mang của ăn đàng cho một người bị bệnh nặng. Tôi cũng nhớ đến vô số anh em đồng nghiệp mà tôi đã gặp gỡ và tiếp tục gặp gỡ, ngay cả trong suốt những chuyến tông du mục vụ của tôi nơi nhiều nước khác nhau; tất cả đều quảng đại dấn thân trong việc thực thi hằng ngày thừa tác vụ linh mục của họ. Nhưng kiểu nói được Cha Sở Thánh sử dụng cũng gợi lên Trái Tim bị đâm thâu của Chúa Kitô và vòng gai trên đầu Ngài. Và như thế, tư tưởng của chúng ta hướng đến vô số những hoàn cảnh đau khổ trong đó biết bao linh mục đang đắm mình, hoặc là bởi vì chính họ chia sẻ kinh nghiệm đau khổ đa dạng của con người, hoặc là bởi vì họ không được thấu hiểu bởi những người hưởng ích từ thừa tác vụ của họ: làm sao chúng ta không nhớ đến biết bao linh mục bị nhạo báng trong phẩm giá của họ, bị ngăn cản thực hiện tác vụ của mình, thậm chí đôi khi bị bách hại cho đến độ cuối cùng làm chứng bằng máu mình ?

Bất hạnh thay, cũng tồn tại những hoàn cảnh, không bao giờ lấy làm tiếc đủ, mà chính Giáo Hội phải chịu vì sự bất trung của một số thừa tác viên của mình. Và đối với thế giới, đó là một cái cớ gương mù và khước từ. Trong những trường hợp như thế, những gì có thể là ích lợi cho Giáo Hội, đó không chỉ là nhận ra đầy đủ những yếu đuối của các thừa tác viên của mình, nhưng còn là một ý thức mới mẻ và phấn khởi về sự cao cả của ân huệ của Thiên Chúa, được cụ thể hóa nơi những hình ảnh sáng ngời của những mục tử quảng đại, những tu sĩ rực cháy tình yêu đối với Thiên Chúa và các linh hồn, những vị linh hướng sáng suốt và kiên nhẫn. Về phương diện này, những giáo huấn và những mẫu gương của thánh Gioan-Maria Vianê có thể mang lại cho mọi người một điểm quy chiếu có ý nghĩa: Cha Sở họ đạo Ars rất khiêm tốn, nhưng với tư cách là linh mục, ngài ý thức là một ân huệ bao la cho dân của ngài: "Một mục tử nhân lành, một mục tử theo lòng Chúa mong ước, đó là kho tàng lớn lao nhất mà Thiên Chúa nhân từ có thể ban cho một giáo xứ, và là một trong những ân huệ cao quý nhất của lòng thương xót của Thiên Chúa". Ngài đã nói về thiên chức linh mục như thể không thể dò thấu sự cao cả của ân huệ và nhiệm vụ được giao phó cho một thụ tạo: "Ô ! Linh mục là điều gì đó cao cả biết bao ! Nếu ngài hiểu mình, thì ngài sẽ chết...Thiên Chúa vâng lệnh ngài: ngài nói một vài lời thì nghe tiếng ngài, Thiên Chúa từ trời ngự xuống và tự giam mình trong bánh thánh nhỏ bé...". Và để giải thích cho các giáo dân của ngài tầm quan trọng của các bí tích, ngài nói: "Nếu chúng ta không có bí tích Truyền chức thánh, thì chúng ta sẽ không có Chúa. Ai đã đặt ngài ở đó, trong nhà tạm? Linh mục. Ai đã đón nhận linh hồn chúng ta lúc khởi đầu cuộc sống của nó ? Linh mục. Ai nuôi dưỡng linh hồn và tăng sức mạnh cho nó trên cuộc hành trình ? Linh mục. Ai sẽ chuẩn bị cho nó xuất hiện trước nhan Thiên Chúa, bằng cách rửa linh hồn này lần sau hết trong máu của Chúa Giêsu Kitô ? Linh mục, luôn là linh mục. Và xảy ra là nếu linh hồn chết [vì tội lỗi], ai sẽ làm cho nó sống lại, ai sẽ làm cho nó thanh thản và bình an ? Vẫn là linh mục... Sau Thiên Chúa, linh mục là mọi sự...Linh mục chỉ hiểu mình đúng ở trên trời". Những lời khẳng định này, vọt lên từ tâm hồn linh mục của vị cha sở thánh thiện, có thể dường như thái quá đối với chúng ta. Tuy nhiên, chúng biểu lộ sự cao trọng mà ngài dành cho bí tích của thiên chức linh mục. Dường như ngài đã bị ngập tràn bởi ý thức về một trách nhiệm vô hạn: "Nếu người ta hiểu rõ linh mục ở trần gian, thì người ta sẽ chết không phải vì sợ hãi, nhưng vì tình yêu... Không có linh mục, cái chết và cuộc thương khó của Chúa chúng ta sẽ chẳng có ích gì... Chính linh mục tiếp tục công trình Cứu chuộc trên trần gian... Dùng để làm gì một ngôi nhà đầy vàng, nếu anh chị em không có ai để mở cửa ? Linh mục có chìa khóa của những kho tàng trên trời: chính ngài mở cửa; ngài là vị quản gia của Thiên Chúa nhân lành, là người phân phát các của cải của Người... Hãy để một giáo xứ vắng bóng linh mục trong hai mươi năm: ở đó người ta sẽ thờ lạy các thú vật... Linh mục không phải là linh mục cho mình...ngài là cho anh chị em".

Ngài đã đến họ đạo Ars, một ngôi làng nhỏ với 230 dân cư, mà vị Giám mục báo trước là ngài sẽ gặp phải một hoàn cảnh tôn giáo bấp bênh: "Không có nhiều tình yêu Thiên Chúa trong giáo xứ này, cha sẽ mang nó vào đó". Bởi thế, ngài hoàn toàn ý thức rằng ngài phải đến đó để nhập thể sự hiện diện của Chúa Kitô, làm chứng cho sự yêu thương cứu độ của Người: "[Lạy Thiên Chúa của con], xin ban cho con sự hoán cải của giáo xứ này; con bằng lòng chịu đau khổ những gì mà Chúa muốn trong suốt đời con !" , chính bằng lời cầu nguyện này mà ngài đã bắt đầu sứ mệnh của mình. Cha Sở Thánh đã hiến mình cho sự hoán cải của giáo xứ của ngài bằng tất cả sức lực, dành chỗ nhất trong những ưu tư của mình cho việc đào tạo kitô giáo dân được giao phó cho ngài. Anh em linh mục quý mến, chúng ta cũng hãy cầu xin Chúa Giêsu ân sủng có thể học phương pháp mục vụ của thánh Gioan-Maria Vianê! Những gì chúng ta phải học hỏi trước tiên đó là sự đồng nhất hóa hoàn toàn bản thân ngài với thừa tác vụ của ngài. Trong Chúa Giêsu, Con người và Sứ mệnh hướng đến chỗ ăn khớp nhau: tất cả hoạt động cứu độ của ngài đã và đang là sự diễn tả "Bản Ngã làm con" ("Moi filial") của Ngài mà, từ đời đời, hiện diện trước nhan Cha trong một thái độ tuân phục tràn đầy tình yêu với ý muốn của Cha. Bằng một sự loại suy khiêm tốn nhưng hiện thực, linh mục cũng phải hướng đến sự đồng nhất hóa này. Vấn đề rõ ràng không phải là quên rằng tính hiệu lực chính yếu của thừa tác vụ vẫn độc lập với sự thánh thiện của thừa tác viên; nhưng người ta cũng không thể không biết sự phong nhiêu đặc biệt được sản sinh do sự gặp gỡ giữa sự thánh thiện khách quan của thừa tác vụ và sự thánh thiện, chủ quan, của thừa tác viên. Cha Sở Thánh họ đạo Ars đã tiến hành ngay công việc đồng nhất hóa khiêm tốn và kiên nhẫn này giữa đời sống thừa tác viên của mình và sự thánh thiện của thừa tác vụ được giao phó cho ngài, đi đến chỗ quyết định "ở" về mặt vật chất trong nhà thờ giáo xứ của ngài: Chúng ta có thể đọc thấy trong tiểu sử đầu tiên của ngài: "Vừa đến nơi, ngài đã chọn nhà thờ làm nơi ở của mình...Ngài vào nhà thờ trước bình minh và chỉ ra khỏi đó sau Kinh Truyền Tin buổi chiều. Chính ở đó mà phải tìm kiếm ngài nếu người ta cần đến ngài".

Sự thổi phồng đạo đức của người tận tâm soạn hạnh cách thánh không được khiến chúng ta quên đi sự kiện rằng Cha Sở Thánh cũng đã biết "ở" cách chủ động trong toàn địa hạt giáo xứ của ngài: ngài đã viếng thăm cách có hệ thống tất cả các bệnh nhân và các gia đình; ngài đã tổ chức những tuần đại phúc cho dân chúng và những ngày lễ bổn mạng; ngài đã nhận được và ban phát những tặng vật bằng bạc cho các công trình từ thiện và truyền giáo; ngài trang hoàng nhà thờ bằng cách trang bị cho nó những đồ thánh; ngài đã chăm lo cho các bé gái mồ côi của nhà "Providence" (Chúa Quan Phòng - một Viện mà ngài đã thành lập) và những phụ nữ dạy dỗ các em; ngài quan tâm đến viêc giáo dục trẻ em; ngài lập nên những hội và mời gọi giáo dân cộng tác với ngài.

Mẫu gương của ngài thúc đẩy tôi gợi lên những không gian hợp tác mà người ta phải luôn mở ra hơn cho các giáo dân, mà cùng với họ các linh mục hình thành dân tư tế duy nhất và các ngài ở giữa họ, vì chức linh mục thừa tác, "để dẫn dắt họ hết thảy đến sự hiệp nhất trong tình yêu 'thương mến nhau với tình yêu huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình' (Rm 12,10)". Trong bối cảnh này, nên nhớ làm thế nào Công đồng Vatican II đã nồng nhiệt khích lệ các linh mục "thành thật nhìn nhận và thăng tiến phẩm giá và vai trò riêng của giáo dân trong sứ mệnh Giáo Hội... Các ngài phải sẵn lòng lắng nghe giáo dân, cứu xét các nguyện vọng của họ trong tinh thần huynh đệ, nhìn nhận kinh nghiệm và khả năng chuyên môn của họ trong các lãnh vực khác nhau của hoạt động nhân sinh, để cùng với họ có thể nhận biết những dấu chỉ của thời đại".

Cha Sở Thánh đặc biệt đã dạy cho các giáo dân trong giáo xứ bằng chứng tá của đời sống của mình. Theo mẫu gương của ngài, các giáo dân đã học cầu nguyện, tự nguyện dừng lại trước nhà tạm để viếng Chúa Giêsu Thánh Thể. "Cha Sở đã giải thích cho họ: chúng ta không cần phải nói nhiều để cầu nguyện tốt. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa nhân lành hiện diện ở đó, trong Nhà Tạm thánh; chúng ta mở rộng tâm hồn cho Ngài; chúng ta vui thích trước sự hiện diện của Ngài. Việc cầu nguyện đó là việc cầu nguyện tốt nhất". Và ngài đã khuyến khích họ: "Hãy đến rước lễ, hãy đến với Chúa Giêsu, đến sống nhờ Ngài, để sống cho Ngài". "Quả thật, anh chị em không xứng đáng với Ngài, nhưng anh chị em cần đến Ngài !". Việc giáo dục các giáo dân trước sự hiện diện Thánh Thể và rước lễ mặc lấy một hiệu quả hoàn toàn đặc biệt, khi các giáo dân thấy ngài cử hành hy tế Thánh lễ. Những người tham dự đã nói "rằng về điểm này không thể thấy một khuôn mặt mà diễn tả sự thờ lạy... Ngài chiêm ngắm Mình Thánh với lòng yêu mến biết bao". Ngài nói: "Tất cả các công việc tốt lành hợp lại không tương đương được với hy tế thánh lễ, bởi vì chúng là những công trình của con người, và thánh lễ là công trình của Thiên Chúa". Ngài xác tín rằng tất cả sự nhiệt tâm của đời sống của một linh mục tùy thuộc vào Thánh lễ: "Nguyên nhân sự buông thả nơi linh mục, đó là người ta không chú tâm đến thánh lễ ! Than ôi ! Lạy Thiên Chúa của con ! Linh mục thật đáng thương biết bao khi ngài thực thi điều đó như là một điều tầm thường !" . Và khi cử hành thánh lễ, ngài đã có thói quen luôn dâng hy tế của cuộc sống của ngài: "Ô ! vào mọi buổi sáng, ước gì linh mục hiến dâng mình cho Thiên Chúa như là hy lễ".

Sự đồng nhất bản thân với hy tế Thập Giá này đã đưa ngài - bằng một chuyển động nội tâm duy nhất - từ bàn thờ đến tòa giải tội. Các linh mục không bao giờ được cam lòng nhìn thấy các tòa giải tội bi bỏ đi, cũng không được bằng lòng nhìn thấy sự mất lòng tin yêu của các tín hữu đối với bí tích này. Vào thời của Cha Sở Thánh, ở Pháp, việc xưng tội không dễ dàng hơn cũng không thường xuyên hơn vào thời chúng ta, vì sự kiện cơn bão táp Cách Mạng đã bóp nghẹt việc thực hành đạo trong thời gian lâu dài. Nhưng bằng mọi cách ngài đã nỗ lực: bằng việc rao giảng, tìm cách thuyết phuc bằng những lời khuyên, giúp các giáo dân tái khám phá ý nghĩa và vẻ đẹp của Bí tích Sám hối, bằng cách cho thấy làm thế nào nó là một đòi hỏi mật thiết của sự Hiện diện Thánh Thể. Như thế ngài đã biết tạo nên một giới đạo hạnh (cercle vertueux). Qua việc ngài ở thường xuyên lâu giờ tại nhà thờ, trước nhà tạm, ngài đã truyền cảm hứng cho các tín hữu bắt chước ngài, bằng cách đến đó để viếng Chúa Giêsu, và đồng thời họ chắc chắn tìm gặp cha sở của họ ở đó, sẵn sàng lắng nghe và tha thứ. Về sau, đoàn các hối nhân gia tăng đến từ khắp nước Pháp, giữ ngài ở tòa giải tội cho đến 16 giờ mỗi ngài. Lúc đó người ta nói rằng họ đạo Ars đã trở thành "đại bệnh viện của các tâm hồn". Người viết tiểu sử đầu tiên đã nói: "Ân sủng mà ngài đã đạt được [cho sự hoán cải của các tội nhân] mạnh mẽ đến nỗi nó đã đi tìm kiếm họ mà không để cho họ một lát nghỉ ngơi". Đó chính là những gì Cha Sở Thánh đã suy nghĩ khi ngài nói: "Không phải tội nhân trở về với Thiên Chúa để xin ngài tha thứ, nhưng chính Thiên Chúa chạy theo tội nhân và làm cho họ quay về với Ngài". "Đấng cứu độ nhân lành này ngập tràn tình yêu đối với chúng ta đến nỗi Ngài tìm kiếm chúng ta khắp nơi !".

Chúng ta hết thảy, là những linh mục, chúng ta cần nhận thấy rằng những lời mà ngài đặt trên môi miệng của Chúa Kitô đều liên quan đến chúng ta cách cá nhân: "Ta sẽ ủy thác cho các thừa tác viên của Ta loan báo cho họ rằng Ta luôn sẵn sàng đón nhận họ, rằng lòng thương xót của Ta là vô tận". Là những linh mục, chúng ta có thể học hỏi từ Cha Sở Thánh họ đạo Ars không chỉ sự tin tưởng vô tận vào bí tích Sám Hối đến độ thúc giục chúng ta đặt lại nó ở trung tâm của những bận tâm mục vụ của chúng ta, nhưng còn một phương pháp cho "sự đối thoại cứu độ" mà nó đòi hỏi. Cha Sở họ đạo Ars cư xử với các hối nhân khác nhau theo cách khác nhau. Người nào đến với tòa giải tội bởi mong mỏi sâu xa và khiêm tốn ơn tha thứ của Thiên Chúa sẽ tìm thấy nơi ngài sự khích lệ đắm mình vào "dòng thác của lòng thương xót của Thiên Chúa" mà cuốn đi mọi sự trong đà mãnh liệt của nó. Và nếu có ai sầu khổ về sự yếu đuối và tính hay thay đổi của mình, sợ có những sự tái sa ngã sắp đến, thì Cha Sở cho người ấy thấy bí mật của Thiên Chúa bằng một lối diễn tả về một vẻ đẹp làm cảm động: "Thiên Chúa nhân lành biết mọi sự. Ngài biết trước rằng sau khi anh chị em đã xưng tội, anh chị em sẽ phạm tội lần nữa, thế nhưng ngài tha thứ cho anh chị em. Thật lớn lao tình yêu của Thiên Chúa của chúng ta, Ngài đi đến chỗ muốn quên đi tương lai để tha thứ cho chúng ta !". Ngược lại, đối với người thú tội cách lạnh nhạt và hầu như dửng dưng, bằng nước mắt, ngài chứng minh sự đau khổ và tính nghiêm trọng mà một thái độ "tồi tệ" này đã gây ra, ngài nói: "Tôi khóc cho những gì mà anh không khóc". "Còn nữa, giá mà Thiên Chúa nhân từ đã không nhân từ như thế, nhưng mà Ngài là nhân từ như thế. Con người cần phải thô lỗ đối với một Thiên Chúa nhân từ như thế sao". Ngài đánh thức sự hối cải nơi tâm hồn của những người hờ hững, bằng cách giúp cho họ thấy, từ chính mắt của họ và hầu như « được nhập thể » trên khuôn mặt của linh mục đang giải tội cho ho, nỗi đau khổ của Thiên Chúa trước các tội lỗi. Trái lại, nếu có người đến với ao ước về một đời sống thiêng liêng sâu xa hơn và người ấy có khả năng về điều đó, thì ngài dẫn họ vào trong chiều sâu của tình yêu, cho thấy vẻ đẹp khó tả của việc có thể sống kết hiệp với Thiên Chúa và trước nhan Ngài: "Tất cả dưới ánh mắt của Thiên Chúa, tất cả với Thiên Chúa, tất cả để làm đẹp lòng Thiên Chúa... Ô ! thật đẹp làm sao !". Với những người đó, ngài dạy cầu nguyện: "Lạy Thiên Chúa của con, xin ban cho con ân sủng yêu mến Chúa chứng nào con còn có thể yêu mến Chúa" .

Vào thời ngài, Cha Sở họ đạo Ars đã biết biến đổi tâm hồn và đời sống của biết bao người, bởi vì ngài đã có thể làm cho họ nhận thấy lòng thương xót yêu thương của Chúa. Thời đại của chúng ta cũng có một nhu cầu cấp bách về một sự loan báo và làm chứng như thế về chân lý của Tình Yêu: Thiên Chúa là Tình yêu (Deus caritas est (1Ga 4,8)). Nhờ Lời và các Bí tích của Chúa Giêsu, cha Gioan-Maria Vianê đã biết xây dựng đoàn chiên của mình, cho dầu, ngài thường run sợ trước sự bất tài của bản thân, đến độ hơn một lần đã muốn thoát khỏi những trách nhiệm của thừa tác vụ giáo xứ mà ngài cảm thấy bất xứng. Tuy nhiên, bằng gương vâng phục, ngài đã luôn ở lại nhiệm sở của mình, bởi vì ngài được thiêu đốt bởi đam mê tông đồ vì ơn cứu rỗi của các linh hồn. Ngài đã nỗ lực gắn bó hoàn toàn với ơn gọi và sứ mạng của mình bằng cách thực hành một sự khổ chế nghiêm nhặt: "Nỗi bất hạnh lớn, đối với chúng ta những cha sở khác - cha thánh lấy làm tiếc -, đó là linh hồn trở nên uể oải" ; và vì thế ngài ám chỉ đến mối nguy hiểm đe dọa người mục tử là quen với tình trạng tội lỗi hay dửng dưng trong đó biết bao con chiên của ngài rơi vào. Ngài đã làm chủ thân xác của mình bằng những canh thức và ăn chay, để tránh việc nó nổi loạn chống lại tâm hồn linh mục của ngài. Và ngài đã không do dự buộc mình khổ chế vì lợi ích của các linh hồn được giao phó cho ngài và để đóng góp vào việc đền thay cho biết bao tội lỗi mà ngài đã nghe lúc giải tội. Ngài đã giải thích cho một người anh em linh mục: "Tôi xin nói với cha phương pháp của tôi. Tôi ra việc đền tội nhẹ cho họ và tôi đền tội thay cho họ phần còn lại" . Bên kia những việc đền tội cụ thể mà Cha Sở họ đạo Ars tiến hành, thì cốt lõi trọng tâm của giáo huấn của ngài vẫn luôn có giá trị cho mọi người: Chúa Giêsu đổ máu mình cho các linh hồn và linh mục không thể hiến dâng cho ơn cứu độ của họ nếu ngài từ chối tham dự cách cá nhân vào cái "giá cao" của ơn cứu độ.

Trong thế giới hôm nay, cũng như vào thời của Cha Sở họ đạo Ars, trong cuộc sống và trong hành động của mình, các linh mục cần phải nổi bật bởi sức mạnh chứng tá tông đồ của mình. Đức Phaolô VI đã nhận xét cách thích đáng: "Con người hiện đại muốn nghe những chứng nhân hơn là những thầy dạy, hay nếu họ nghe các thầy dạy, đó là vì các thầy dạy đã là những chứng nhân". Để tránh cho một sự trống rỗng hiện sinh nổi lên trong chúng ta và tính hiệu năng của thừa tác vụ của chúng ta không bị tổn hại, một lần nữa chúng ta cần phải tự vấn luôn: "Chúng ta có thật sự được thấm nhuần bởi lời Chúa chưa ? Lời Chúa có thực sự là lương thực làm cho chúng ta sống, còn hơn cả bánh và những thứ của trần gian này ? Chúng ta có thực sự biết Lời Chúa không ? Chúng ta yêu mến Lời Chúa không ? Tự nội tâm, chúng ta có bận tâm về Lời này đến độ nó tạc nên cuộc sống của chúng ta và hình thành tư tưởng của chúng ta ?" . Như Chúa Giêsu đã kêu gọi nhóm Mười Hai để họ ở với Ngài (x. Mc 3,14) và chỉ sau đó, ngài mới sai họ đi rao giảng, thì cũng thế, vào thời chúng ta, các linh mục được kêu gọi đồng hóa với "phong cách sống mới" này mà đã được Chúa Giêsu khơi mào và đã trở nên chính nếp sống của các Tông Đồ.

Chính cùng sự gắn bó hoàn toàn với "phong cách sống mới" này mà đã là dấu ấn của sự dấn thân của Cha Sở họ đạo Ars trong toàn bộ thừa tác vụ của ngài. Đức Gioan XXIII, trong thông điệp Sacerdotii nostri primordia, được công bố vào năm 1959 nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày mất của thánh Gioan-Maria Vianê, đã giới thiệu khuôn mặt khổ hạnh dưới dấu chỉ của "ba lời khuyên Phúc âm", mà ngài xem cũng là cần thiết cho các linh mục: "Nếu để đạt đến sư thánh thiện này của cuộc sống, việc thực hành các lời khuyên Phúc âm không bị áp đặt cho linh mục bằng vào bậc sống giáo sĩ của họ, thì thế nhưng nó được đề nghị cho linh mục, cũng như cho tất cả các môn đệ của Chúa, như là con đường triệt để của sự nên thánh kitô giáo". Cha Sở họ đạo Ars đã biết sống "các lời khuyên Phúc âm theo những hình thái thích ứng với hoàn cảnh linh mục của ngài. Quả thế, đức nghèo khó nơi ngài không phải là đức nghèo khó của một tu sĩ hay của một đan sĩ, nhưng là đức nghèo khó được đòi hỏi nơi một linh mục: dù hoàn toàn quản lý những số tiền lớn (vì các khách hành hương giàu nhất không quên quan tâm đến các công việc từ thiện của ngài), nhưng ngài biết rằng tất cả được cho là vì nhà thờ của ngài, vì những người nghèo, vì những trẻ mồ côi và vì những đứa trẻ của nhà "Chúa Quan Phòng" của ngài, và vì các gia đình túng thiếu nhất. Bởi thế, ngài "là người giàu có để trao ban cho người khác, và rất nghèo cho chính ngài". Ngài giải thích: "Bí quyết của tôi là rất đơn giản, đó là cho đi tất cả và không giữ lại gì". Xảy ra là khi ngài không có gì, thì ngài nói với những người nghèo gõ cửa nhà ngài: "Tôi cũng nghèo như ông/bà vậy; hôm nay tôi là một người trong số ông bà". Bởi thế, vào cuối đời, ngài đã có thể khẳng định bằng một sự thanh thản hoàn toàn: "Tôi không có gì nữa, Thiên Chúa nhân từ có thể kêu gọi tôi khi Ngài muốn".Đức khiết tịnh của ngài cũng là đức khiết tịnh được đòi hỏi đối với một linh mục vì thừa tác vụ của họ. Người ta có thể nói rằng nó hệ tại đức khiết tịnh cần thiết cho người mà phải thường ngày chạm đến Thánh Thể và chiêm ngắm Thánh Thể với tất cả sự sốt mến của tâm hồn và, bằng cũng chính lòng sốt sắng, trao ban nó cho các tín hữu. Người ta đã nói về ngài rằng "đức khiết tinh chiếu sáng nơi cái nhìn của ngài", và các tín hữu nhận thấy điều đó khi ngài hướng về nhà tạm với cái nhìn của một người đang yêu. Cũng thế, đức vâng lời của thánh Gioan-Maria Vianê hoàn toàn nhập thể trong sự gắn bó của ngài với mọi đau khổ gắn liền với những đòi hỏi thường ngày của thừa tác vụ. Người ta biết là ngài đã đau khổ như thế nào vì sự bất tài của ngài đối với thừa tác vụ giáo xứ và bởi ước muốn chạy trốn của ngài "để khóc trong sự cô đơn về đời sống nghèo nàn của ngài". Chỉ đức vâng lời, và lòng say mê các linh hồn của ngài, mới có thể chính phục ngài ở lại nhiệm sở. Ngài đã cho các giáo dân của ngài, cũng như cho chính ngài thấy rằng không "có hai cách thức tốt phụng sự Chúa chúng ta, chỉ có một mà thôi, đó là phụng sự Ngài như Ngài muốn được phụng sự". Đối với ngài, dường như quy luật vàng cho một cuộc sống vâng phục là quy luật này: "Chỉ làm những gì mà người ta có thể dâng cho Thiên Chúa nhân từ".

Trong bối cảnh của một linh đạo được nuôi dưỡng bởi việc thực hành các lời khuyên Phúc âm này, tôi xin gởi đến các linh mục, vào Năm được dành riêng cho họ này, một lời mời gọi thân ái, lời mời gọi biết đón nhận mùa xuân mới mà Thánh Thần đang khơi lên trong Giáo Hội vào thời chúng ta, đặc biệt nhờ những Phong trào của Giáo Hội và những Cộng đoàn mới. "Thánh Thần trong những ân huệ của Ngài mang nhiều hình dạng khác nhau... Ngài thổi đâu Ngài muốn. Ngài thực hiện cách bất ngờ, ở những nơi bất ngờ và dưới những hình thức mà không thể hình dung trước... Ngài cũng chứng mình cho chúng ta rằng Ngài đang hoạt động vì nhiệm thể duy nhất và trong sự hiệp nhất với nhiệm thể duy nhất".Về phương diện này, những gì mà Sắc lệnh Presbyterorum ordinis nói là có tính thời sự: "Nghiệm xem các tinh thần có phải từ Thiên Chúa đến hay không, các ngài [các linh mục] phải lấy tinh thần đức tin mà khám phá, vui mừng mà nhận biết, và chuyên cần phát triển những đặc sủng muôn hình của giáo dân".Chính những ân huệ này, mà thúc đẩy biết bao nguời đến một đời sống thiêng liêng cao hơn, là có ích lợi không chỉ cho các giáo dân nhưng còn cho chính các thừa tác viên. Chính từ sự hiệp thông giữa các thừa tác viên chức thánh và các đặc sủng mà có thể nảy sinh "một đà sống quý giá đối với sự dấn thân mới mẻ của Giáo Hội nhằm phục vụ cho việc loan báo và làm chứng cho Tin Mừng về đức cậy và đức mến khắp nơi trên thế giới". Trong đường hướng của Tông huấn Pastores dabo vobis của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II, tôi xin nói thêm rằng thừa tác vụ chức thánh có một "hình thức cộng đoàn" triệt để và nó chỉ có thể được thực hiện trong sự hiệp thông với các Giám mục của mình. Sự hiệp thông của các linh mục giữa họ và với Giám mục của họ này, được cắm rễ sâu trong bí tích Truyền Chức Thánh và được biểu lộ qua việc cử hành thánh lễ, cần được thể hiện trong những hình thức cụ thể khác nhau của một tình huynh đệ hữu hiệu và trìu mến.[49] Chỉ như thế, các linh mục sẽ có thể sống viên mãn ân huệ đời sống độc thân và sẽ có khả năng làm cho các cộng đoàn kitô hữu triển nở, ở đó các kỳ công của việc loan báo Tin Mừng đầu tiên được tái diễn.

Năm Phaolô sắp kết thúc mời gọi chúng ta nhìn xem lần nữa hình ảnh của vị Tông đồ dân ngoại trong đó chiếu sáng trước mắt chúng ta một khuôn mẫu linh mục sáng ngời hoàn toàn "được hiến trao" cho thừa tác vụ của mình. Ngài viết: "Tình yêu Đức Ki-tô thôi thúc chúng tôi, vì chúng tôi nghĩ rằng: nếu một người đã chết thay cho mọi người, thì mọi người đều chết" (2Cr 5,14) và ngài nói thêm: "Ngài đã chết thay cho mọi người, để những ai đang sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và sống lại vì mình" (2Cr 5,15). Có thể có chương trình tuyệt vời nào hơn được đề nghị cho một linh mục đang nỗ lực tiến triển trên con đường hoàn thiện kitô giáo như thế không ?

Các linh mục quý mến, việc cử hành 150 năm ngày mất của thánh Gioan-Maria Vianê (1859) đến ngay sau những cử hành được hoàn tất cách đây không lâu về kỷ niệm 150 năm Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức (1858). Vào năm 1959, chân phước Gioan XXIII đã nhận xét: "Chỉ trước khi Cha Sở họ đạo Ars hoàn tất sự nghiệp lâu dài đầy công trạng một chút, [Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm] đã hiện ra ở một vùng khác của Pháp cho một em bé khiêm tốn và trong sáng để truyền đạt cho em một sứ điệp cầu nguyện và đền tội, mà người ta đã biết tiếng vang vọng thiêng liêng bao la từ một thế kỷ nay. Quả thật, cuộc sống của vị linh mục thánh thiện là chúng ta kính nhớ, là một minh họa trước những chân lý siêu nhiên lớn lao đã được dạy cho cô bé thị kiến ở Massabielle ! Chính ngài cũng dành cho Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội một sự sùng kính rất mãnh liệt, chính ngài, vào năm 1836, đã hiến dâng giáo xứ của ngài cho Đức Marie Vô Nhiễm Nguyên Tội và đã vô cùng vui mừng đón nhận trong đức tin định tín của năm 1854".[50] Cha Sở Thánh luôn nhắc cho các tín hữu của ngài rằng "Chúa Giêsu-Kitô, sau khi đã trao ban tất cả những gì ngài có thể trao ban cho chung ta, vẫn còn muốn làm cho chúng ta thành những người thừa kế những gì còn quý báu hơn, đó là Thánh Mẫu của Ngài".

Tôi phó thác Năm linh mục này cho Đức Thánh Trinh Nữ, cầu xin Mẹ khơi lên trong tâm hồn của mỗi linh mục một sự canh tân quảng đại những lý tửong hiến thân hoàn toàn cho Chúa Kitô và cho Giáo Hội này, mà đã từng gợi hứng cho tư tưởng và hành động của Cha Sở Thánh họ đạo Ars. Đời sống cầu nguyện sốt sắng và tình yêu say mê Chúa Giêsu chịu đóng đinh đã nuôi dưỡng sự trao hiến hằng ngày và hoàn toàn của cha Gioan-Maria Vianê cho Thiên Chúa và cho Giáo Hội. Ước gì mẫu gương của ngài khơi lên, nơi các linh mục, chứng tá hiệp nhất với Giám mục, giữa họ và với giáo dân, mà rất cần thiết hôm nay, cũng như mọi thời. Bất chấp sự dữ đang hiện diện trong thế giới, lời của Chúa Kitô nói với các Tông đồ ở nhà Tiệc Ly vẫn luôn vang vọng hiện thực: "Trong thế gian, các con sẽ chịu đau khổ, nhưng hãy can đảm lên ! Thầy đã thắng thế gian" (Ga 16,33). Niềm tin vào Thầy ban cho chúng ta sức mạnh nhìn tương lai cách tin tưởng. Các linh mục quý mến, Chúa Kitô trông cậy vào anh em. Theo mẫu gương của Cha Sở Thánh họ đạo Ars, anh em hãy dể cho Ngài chinh phục và anh em cũng thế, trong thế giới hôm nay, anh em sẽ là những sứ giả hy vọng, hòa giải và hòa bình!

Cùng với phép lành của tôi.

Từ Vatican, ngày 16 tháng Sáu năm 2009

+ Benedictô XVI, Mục tử của các mục tử.

Lm. Võ Xuân Tiến chuyển ngữ.

THƯ CỦA BỘ GIÁO SĨ GỬI CHO CÁC LINH MỤC

Anh em linh mục thân mến!

Chỉ còn hai tuần nữa, vào ngày lễ kính trọng thể Thánh Tâm Chúa Giêsu, thứ Sáu 19-06, chúng ta sẽ cảm nghiệm thời điểm mãnh liệt của đức tin trong sự hiệp nhất chặt chẽ với Đức Thánh Cha và giữa chúng ta với nhau, khi chúng ta bắt đầu Năm Linh Mục bằng việc hát Kinh chiều lễ Thánh Tâm tại Vương Cung Thánh Đường thánh Phêrô tại Vatican.

Mỗi ngày, chúng ta đều được kêu gọi phải hoán cải, phải trở lại, nhưng chúng ta được kêu gọi cách đặc biệt trong năm nay, trong mối hiệp nhất với tất cả những ai đã lãnh nhận hồng ân chịu chức linh mục. Nhưng trở lại với cái gì? Thưa, trở lại để sống đúng với căn tính của mình hơn, trở lại với căn tính Giáo Hội vốn khơi nguồn cho thừa tác vụ của chúng ta, để một khi căn tính đó được nhận thức cách mới mẻ và vui tươi, thì nhận thức đó sẽ quyết định hoạt động của chúng ta, hay đúng hơn, nhận thức đó sẽ tạo khoảng trống cho Chúa Kitô Mục tử nhân lành sống trong ta và hoạt động qua ta.

Linh đạo của chúng ta không là gì khác hơn linh đạo của chính Chúa Kitô, Linh mục thượng phẩm duy nhất của Tân Ước.

Trong năm nay, năm mà theo sự quan phòng của Chúa, Đức Thánh Cha đã công bố là Năm Linh Mục, chúng ta sẽ cùng nhau tập trung vào căn tính của Chúa Kitô Con Thiên Chúa, trong mối hiệp thông với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, đã làm người trong cung lòng trinh khiết của Đức Maria, và tập trung vào sứ mạng của Chúa Kitô là sứ mạng mạc khải Chúa Cha và công trình cứu độ kỳ diệu của Ngài. Hàm chứa trong sứ mạng này của Chúa Kitô là việc xây dựng Hội Thánh: đây là Vị Mục tử nhân lành (x. Ga 19,1-21) đã hiến mạng sống cho Hội Thánh (x. Eph 5,25).

Vâng, chúng ta phải trở lại mỗi ngày để lối sống của Chúa Kitô ngày càng rõ nét hơn trong mỗi người chúng ta.

Chúng ta phải sống cho người khác, chúng ta phải sống với Dân Chúa bằng tình yêu thánh thiện và thần linh. Rõ ràng tình yêu này làm nên sự phong phú của đời độc thân thánh thiện. Tình yêu này đòi buộc chúng ta sống liên đới thực sự với những người đau khổ và những ai đang sống trong nhiều hình thái nghèo khổ khác nhau.

Chúng ta phải là những người thợ xây dựng Hội Thánh duy nhất của Chúa Kitô; chính vì thế ta phải sống cách trung thành và rõ ràng mối hiệp thông yêu thương với Đức Giáo Hoàng, với các giám mục, với anh em linh mục và với các tín hữu. Chúng ta phải sống mối hiệp thông với hành trình không ngơi nghỉ của Hội Thánh giữa lòng Thân Mình mầu nhiệm.

Trong năm nay, về mặt thiêng liêng, chúng ta cần phải mở rộng con tim, sống sao cho phù hợp với ơn gọi của mình, đến mức có thể thực sự nói rằng "Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi" (Gal 2,20).

Sự thánh thiện của linh mục mang lại lợi ích dồi dào cho toàn thể Thân Mình Giáo Hội. Do đó, thật là thích hợp khi tất cả chúng ta - chủng sinh, nam nữ tu sĩ, giáo dân - đều có mặt trong Vương Cung Thánh Đường Vatican để hát Kinh Chiều dưới sự chủ toạ của Đức Thánh Cha, sau khi tiếp đón thánh tích là trái tim của thánh Gioan Maria Vianney, mẫu gương linh mục tuyệt hảo.

Chúng tôi khuyến khích những ai không thể có mặt tại Roma cũng liên kết với chúng tôi cách thiêng liêng trong dịp này.

- Có mặt ở Vương Cung Thánh Đường từ 16g00
Tiếp đón thánh tích lúc 17g30, sau đó hát Kinh Chiều.
- Các linh mục mặc phẩm phục giáo sĩ, các tu sĩ mặc tu phục theo dòng của mình.
- Năm Linh Mục sẽ kết thúc bằng Đại Hội Quốc Tế tại Roma, các ngày 9,10,11 tháng 6 năm 2010.
Những thông tin về sự kiện này sẽ được công bố vào cuối tháng 6 này.

+ Mauro Piacenza

Tổng giám mục hiệu toà Vittoriana

...............Thư ký
(WHĐ chuyển dịch)

Sắc Lệnh Ban Ơn Xá Đặc Biệt Trong Năm Linh Mục,
Năm Kính Thánh Gioan Maria Vianney TÒA ÂN GIẢI TỐI CAO

SẮC LỆNH BAN ƠN XÁ ĐẶC BIỆT CHO THÀNH RÔMA VÀ TOÀN THẾ GIỚI

Những việc đạo đức đặc biệt thực hiện trong Năm Linh Mục, Năm kính Thánh Gioan Maria Vianney kèm theo Ơn Xá.

SẮC LỆNH

Gần tới ngày kỷ niệm 150 năm qua đời lành thánh của Thánh Gioan Maria Vianney, Cha Sở của Họ đạo Ars, là vị Thánh khi sống ở dưới trần gian đã nên gương sáng ngời của một vị Mục Tử chân chính phục vụ Đoàn chiên của Chúa Kitô.

Vì gương mẫu của Ngài cũng có khả năng làm phát sinh các tín hữu, và nhất là các linh mục để bắt chước các nhân đức của Ngài, nhân dịp này Đức Thánh Cha Beneđictô XVI đã quyết định một cách rõ ràng, từ ngày 19 tháng 6 năm 2009 tới ngày XIX tháng VI năm 2010, trong toàn thể Giáo Hội sẽ cử hành Năm Linh Mục để trong thời gian này qua các buổi suy niệm đạo đức, hay bằng các việc lành thánh, những sáng kiến khác thích hợp khác, các linh mục càng ngày càng được kiên vững trong việc trung thành với Chúa Kitô.

Quả thế Năm Linh Mục sẽ bắt đầu từ Lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, vẫn được chọn như là ngày thánh hóa các linh mục, Đức Thánh Cha sẽ cử hành Kinh Chiều với sự hiện diện của hài cốt Thánh Gioan Maria Vianney được Đức Giám Mục Giáo phận Belley Ars mang tới Rôma. Chính Đức Thánh Cha cũng sẽ kết thúc Năm Linh Mục này tại Quảng trường Thánh Phêrô, có sự tham dự của các linh mục trên thế giới tụ họp về Rôma, và trong lễ nghi này các linh mục sẽ nhắc lại lời đoan kết trung thành với Chúa Kitô cũng như mối dây huynh đệ ràng buộc các linh mục với nhau.

Vậy các linh mục hãy nhờ các lời cầu nguyện và các việc lành mà khẩn nài Chúa Kitô Vị Linh Mục tối cao đời đời để có thể làm chiếu tỏa Đức Tin, Đức Cậy và Đức Ái, cũng như các nhân đức khác, và qua đời sống cũng như cung cách bên ngoài để hoàn toàn hiến thân lo cho ích lợi thiêng liêng của đoàn dân; đó là điều Giáo Hội hằng tâm niệm lo lắng trên hết.

Để đạt tới mục đích rất mong muốn trên đây, việc lãnh nhận các Ơn Xá cũng sẽ trợ giúp nhiều, nên qua Sắc Lệnh này được công bố theo ý của Đức Thánh Cha, Tòa Ân Giải Tối Cao vui lòng ban trong suốt Năm Linh Mục này như sau đây:

A. Ban cho các linh mục thực tình thống hối, nếu trong bất cứ ngày nào, cử hành ít là Giờ Kinh Sáng và Kinh Chiều trước Thánh Thể, được đặt ra để chầu cách công cộng hoặc được lưu giữ trong nhà tạm, và với tâm hồn mau mắn và quảng đại bắt chước gương Thánh Gioan Maria Vianney, mà sẵn sàng cử hành các Bí Tích, nhất là Bí Tích Giải Tội, thì được lãnh Ơn Toàn Xá ban cho các ngài theo lòng từ bi của Chúa, và Ơn Xá này cũng có thể được chỉ cho các Anh Em linh mục khác đã qua đời theo cách thể chuyển cầu, như luật định, ngoài việc xưng tội, các ngài còn tham dự vào bàn tiệc Thánh Thể và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng.

Ơn Xá từng phần cũng ban cho các linh mục, và cũng có thể chỉ cho các Anh Em linh mục đã qua đời, mỗi lần các ngài sốt sắng đọc các kinh đã được chính thức chấp thuận để giúp thăng tiến đời sống thánh thiện và chu toàn cách thánh thiện các tác vụ thánh đã được trao phó cho các ngài.

B. Ban cho mọi tín hữu có lòng thống hối thực tình, mà đến nhà thờ hay nhà nguyện, sốt sắng tham dự Hy tế Thánh Lễ và dâng lên Chúa Giêsu Kitô, Linh Mục thượng phẩm và đời đời, các lời nguyện và bất cứ việc lành nào khác trong ngày đó để cầu cho các linh mục của Giáo Hội, xin Chúa thánh hóa các ngài và làm cho các ngài nên như Lòng Chúa mong muốn, thì cũng được Ơn Toàn xá, miễn là các tín hữu này hết lòng thanh tẩy các tội qua Bí Tích Giải Tội, và đọc kinh cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng: vào những ngày khai mạc và kết thúc Năm Linh Mục, ngày kỷ niệm 150 năm Thánh Gioan Maria Vianney qua đời, thứ năm đầu tháng bất cứ tháng nào và các ngày khác được Đấng Bản quyền địa phương định liệu theo như lợi ích cũa tín hữu.

Cũng rất nên thu xếp để tại các Nhà thờ chính tòa và nhà thờ các giáo xứ nơi các linh mục lo việc mục vụ, thì chính các linh mục này chủ sự các việc đạo đức trên đây, cũng như cử hành Thánh Lễ và ngồi tòa giải tội cho tín hữu.

Với các người già cả, ốm đau và mọi tín hữu bị cản trở cách chính đáng nào khác mà không thể ra khỏi nhà của mình, nếu họ chê ghét mọi tội và có ý định là khi nào gần nhất có thể để thi hành ba điều kiện như thường lệ, thì trong chính nhà ở của mình hoặc ở chính nơi mà họ bị cản trở, cũng được lãnh Ơn Toàn Xá cho họ, nếu trong các ngày đã nói trên đây, họ đọc các kinh để thánh hóa các linh mục và nhờ Đức Maria, Nữ Vương các Thánh Tông Đồ, mà tín cẩn dâng lên Thiên Chúa mọi đau khổ hoặc những phiền hà cực nhọc trong đời sống của mình.

Sau cùng Ơn Xá từng phần cũng được ban cho mọi tín hữu với mục đích cầu xin cho các linh mục biết sống trong trắng và thánh thiện, khi họ sốt sắng đọc năm Kinh Lạy Cha, Kính Mừng và Sáng Danh để tôn vinh Thánh Tâm Chúa Giêsu hoặc đọc các kinh khác được chấp thuận hợp pháp.

Các điều này có giá trị trong suốt Năm Linh Mục sắp tới. Bất chấp những gì trái ngược.

Ban hành tại Rôma, ở Trụ Sở Tòa Ân Giải Tối Cao, ngày 25 tháng 4 năm 2009, Lễ Kính Thánh Marcô, Thánh Sử, Năm Chúa Nhập thể thứ 2009.

+ Giacôbê Phanxicô Stafford,

Hồng Y của Giáo Hội Rôma

Trưởng Tòa Ân Giải Tối Cao

Giám Mục Phanxicô Girotti, OFM., Cap.

Hiệu Tòa Meta, Trưởng Lục Sự Tòa Án

10 ĐIỀU RĂN CỦA LINH MỤC

01. Những gì tôi sống trong tư cách là một Linh Mục, thì quan trọng hơn những gì tôi làm.

02. Những gì Chúa Kitô làm qua trung gian của tôi, thì quan trọng hơn những gì do chính tôi làm.

03. Những gì tôi với anh em Linh Mục cùng sống, thì quan trọng hơn những gì tôi làm một mình, dù hăng say tới mức suýt bị mất mạng.

04. Những gì tôi sống cho Kinh nguyện và Lời Chúa, thì quan trọng hơn những tổ chức sinh hoạt bên ngoài.

05. Những gì tôi sống vì lợi ích thiêng liêng của người cộng tác, thì quan trọng hơn những công việc tôi làm cho lợi ích của mình.

06. Hiện diện ít nơi nhưng thiết yếu để đem lại sức sống, thì quan trọng hơn có mặt khắp nơi nhưng vội vàng và nửa vời.

07. Hoạt động cùng với người cộng tác, thì quan trọng hơn là làm một mình, cho dù mình có nhiều khả năng hơn họ. Nói cách khác, hợp tác thì quan trọng hơn hành động riêng rẽ.

08. Hy sinh thập giá âm thầm bên trong, thì quan trọng hơn những thành quả đạt được bên ngoài.

09. Mở rộng tâm hồn đến những thao thức của cộng đoàn, Giáo phận và Giáo hội toàn cầu, thì quan trọng hơn chăm chú vào những bận tâm riêng, cho dù thiết yếu đến đâu đi nữa.

10. Làm chứng về Đức Tin trước mặt mọi người, thì quan trọng hơn tìm cách thoả mãn thị hiếu của họ.

ĐHY. Px. Nguyễn Văn Thuận

KINH NĂM LINH MỤC 19/6/2009 - 11/6/2010
(Bản văn do Thánh Bộ Giáo sĩ soạn)

Lạy Chúa Giêsu,

Chúa đã khấng ban cho Giáo Hội thánh Gioan-Maria Vianney / như hình ảnh sống động của chính Chúa / và như hiện thân của tình yêu Chúa là Mục Tử nhân hiền.

Xin giúp chúng con biết sống tốt đẹp năm linh mục này / cùng với Thánh Vianney và được mẫu gương của người trợ giúp.

Xin cho chúng con biết học với Cha Sở xứ Ars / niềm vui hiện diện lâu giờ trước Thánh Thể Chúa / khám phá Lời Chúa chỉ dạy chúng con thật gần gũi đơn sơ / cảm nghiệm tình yêu Chúa dịu hiền biết bao khi đón tiếp tội nhân hoán cải / niềm bình an phó thác trong tay Mẹ Vô Nhiễm từ ái/ và luôn tỉnh thức chống lại Ác Thần.

Lạy Chúa Giêsu / xin cho giới trẻ chúng con cũng biết học với cha Thánh / để họ nhận ra sự cần thiết của ơn gọi linh mục / một ơn gọi vinh quang và cũng thật khiêm hạ / mà Chúa muốn trao phó cho tất cả những ai mở lòng đón nhận.

Xin cũng làm nẩy sinh nơi các cộng đoàn chúng con / những công trình kỳ diệu của ân sủng / như ngày xưa nơi xứ Ars / Chúa đã thực hiện qua người linh mục "biết trọn niềm yêu mến giáo xứ của mình".

Xin cho các gia đình kitô hữu chúng con / cảm thấy ngôi Nhà Thờ như mái ấm / bởi luôn được gặp gỡ các thừa tác viên của Chúa / và xin cho chúng con cũng biết làm cho gia đình chúng con / thành xinh đẹp như một đền thánh.

Xin cho lòng mến của các mục tử / đốt lên và nuôi dưỡng lòng mến nơi mọi kitô hữu / để chúng con biết đón nhận và làm triển nở các ơn gọi / cũng như các đặc sủng mà Thánh Thần Chúa rộng ban.

Và lạy Chúa Giêsu / chúng con đặc biệt nài xin Chúa / ban cho chúng con tâm hồn sốt mến và chân thành / để chúng con có thể dâng lên Cha trên trời - chính lời kinh mà thánh Vianney đã từng cầu nguyện :

"Lạy Cha từ ái / con yêu mến Cha / và mong ước duy nhất của con / là được yêu mến Cha đến hơi thở cuối cùng.

Lạy Cha vô vàn đáng mến / con thà chết trong lòng mến yêu / hơn là sống một giây phút mà không yêu mến Cha.

Lạy Chúa Giêsu / con yêu mến Chúa / và con cũng chỉ xin Chúa một điều / đó là được yêu mến Chúa mãi không cùng.

Ôi lạy Thiên Chúa của con / nếu miệng lưỡi con không thể nói lên lòng yêu mến từng giây phút / thì con vẫn muốn thầm thĩ với Chúa trong từng hơi thở / bằng chính trái tim con.

Lạy Đấng Cứu Độ thần linh / con yêu mến Chúa / bởi Chúa đã chịu đóng đinh thập giá vì con/ và vì Chúa muốn con chịu đóng đinh thập giá vì Chúa / nơi trần gian này.

Ôi lạy Chúa / xin cho con được ơn khi từ giã cõi đời này / mà vẫn một lòng yêu mến Chúa mà thôi". Amen.

KINH CẦU NGUYỆN NĂM LINH MỤC

(Bản kinh chính thức, đã được Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Giáo Phận Đàlạt, Chủ Tịch HĐGMVN phê chuẩn ngày 20/8/2009)

Lạy Chúa Giêsu/ nơi Thánh Gioan Vi-a-nê / Chúa đã muốn ban cho Giáo Hội một hình ảnh cảm động về Đức Ái Mục Tử của Chúa /Xin cho chúng con / cùng với thánh nhân / và nhờ mẫu gương của người thúc đẩy / biết sống tròn đầy năm linh mục này.

Xin cho chúng con / theo gương mẫu của người / khi hiện diện trước Thánh Thể Chúa / biết cảm nhận Lời Chúa nói với chúng con / thật gần gũi đơn sơ / biết khám phá tình yêu Chúa dịu hiền biết bao khi đón tiếp tội nhân hoán cải / và biết cảm nếm niềm an ủi tín thác nơi Mẹ Vô Nhiễm.

Lạy Chúa Giêsu / nhờ lời chuyển cầu của cha sở xứ Ars / xin cho các gia đình kitô hữu / trở nên "những hội thánh bé nhỏ" / là nơi đón nhận và triển nở các ơn gọi và đoàn sủng / mà Thánh Thần Chúa thương ban / và lạy Chúa Giêsu / xin cho chúng con lại được dâng lên Chúa / với tấm lòng sốt mến của cha thánh / chính lời kinh người hằng cầu nguyện với Chúa :

Ôi lạy Thiên Chúa của con / con yêu mến Chúa / và mong ước duy nhất của con / là được yêu mến Chúa đến hơi thở cuối cùng.

Ôi lạy Thiên Chúa vô vàn đáng mến / con yêu mến Chúa / con thà chết đang khi yêu mến Chúa / hơn là sống chỉ một phút giây mà không mến yêu Ngài.

Lạy Chúa Giêsu / con yêu mến Chúa / và con cũng chỉ xin Chúa một điều / là được yêu mến Chúa luôn mãi.

Ôi lạy Thiên Chúa của con / nếu miệng lưỡi con không thể từng giây phút / nói lên lòng con yêu mến Chúa / thì con muốn trong từng hơi thở / trái tim con luôn thầm thĩ với Ngài / con yêu mến Chúa.

Ôi lạy Đấng Cứu Độ thần linh / con yêu mến Chúa / bởi Chúa đã chịu đóng đinh thập giá vì con / và bởi Chúa muốn con cùng chịu đóng đinh thập giá với Chúa trên trần gian này.

Ôi lạy Thiên Chúa / xin cho con được ơn / là khi từ giã cõi đời này / con đang yêu mến Chúa / và đang cảm nhận con mến yêu Ngài. Amen.

HAI CỘT TRỤ NỒNG CỐT CỦA SỨ VỤ LINH MỤC

ĐTC Bênêđictô XVI: ''Lời Chúa và Bí tích là hai cột trụ nòng cốt của sứ vụ Linh mục''

VATICAN - Trong buổi tiếp kiến chung 20 ngàn tín hữu sáng ngày 1-7-2009 tại Quảng trường Thánh Phêrô, ĐTC Biển Đức 16 đã quảng diễn ý nghĩa Năm Linh Mục mới khai mạc.

Chính ĐTC đã tóm tắt bằng tiếng Pháp cho các tín hữu: "Trong khi cảm tạ về Năm thánh Phaolo vừa kết thúc, chúng ta cám ơn Chúa Quan Phòng đang cho chúng ta cử hành Năm Linh Mục, nhân dịp 150 năm qua đời của thánh Cha Sở họ Ars. Hình ảnh của vị Linh Mục thánh thiện này sẽ hướng dẫn và giúp chúng ta ý thức hơn rằng chính từ Thiên Chúa, ơn canh tân tinh thần được ban cho chúng ta, cho các linh mục cũng như cho toàn thể Giáo Hội. Trước tiên, là làm sao để các Linh mục ngày càng tiến bước trong sự đồng hóa với Chúa Kitô, đảm bảo sự trung thành và chứng tá Tin Mừng phong phú. Nhờ sứ vụ của Linh Mục, hy tế thiêng liêng của các tín hữu được kết hiệp với hy tế của Chúa Kitô, là Đấng Trung Gian duy nhất. Đó chính là trọng tâm căn tính và sứ vụ của Linh Mục. Do sự thánh hiến, linh mục nhận được hồng ân đặc biệt là Linh mục trở thành chứng nhân về cuộc gặp gỡ với một Đấng là Chúa Kitô và mở ra cho Linh Mục những chân trời mới: linh mục là người loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích. Linh Mục là một người hoán cải, được đổi mới trong Chúa Thánh Linh, được Thiên Chúa kêu gọi để làm cho Lời Cứu Độ của Chúa được đi tới tận cùng trái đất. Trong năm nay, chúng ta hãy cầu nguyện cho sự thánh hóa linh mục, cầu cho các ơn gọi linh mục. Chúng ta hãy mở rộng không gian thinh lặng, cầu nguyện, Chầu Mình Thánh Chúa và lắng nghe Lời Chúa, để tiếng nói của Chúa có thể được nhiều người trẻ lắng nghe và quảng đại đón nhận.

Trong bài huấn dụ dài trước đó bằng tiếng Ý, ĐTC đã quảng diễn nhiều chi tiết liên quan đến Năm Linh Mục. Ngài cho biết cũng như trong năm Thánh Phaolô chúng ta đã luôn tham chiếu thánh nhân, thì trong Năm Linh Mục này, vào những tháng tới đây, chúng ta sẽ hướng nhìn trước tiên về thánh Gioan Maria Vianney, Cha Sở họ Ars, nhắc nhớ kỷ niệm 150 năm ngài qua đời. ”Trong thư tôi đã viết cho các Linh mục trong dịp này, tôi đã muốn nhấn mạnh điều sáng ngời nhất trong cuộc sống của vị Linh mục khiêm hạ này là: ”sự hoàn toàn đồng hóa của thánh nhân với sứ vụ của Ngài”. Thánh nhân ưa nói rằng ”một mục tử tốt lành, một mục tử theo trái tim của Thiên Chúa, đó là kho tàng quí giá nhất mà Thiên Chúa có thể ban cho một giáo xứ và là một trong những hồng ân quí giá nhất của lòng từ bi Chúa”.

Thực vậy, khi cứu xét hai từ "căn tính và sứ mạng”, mỗi linh mục có thể thấy rõ hơn sự cần thiết phải dần dần đồng hóa với Chúa Kitô, Đấng bảo đảm cho Linh mục lòng trung thành và sự phong phú trong việc làm chứng cho Tin Mừng. Chính đề tài của Năm Linh Mục - trung thành của Chúa Kitô, trung thành của Linh Mục - nêu bật món quà của ơn thánh Chúa đi trước mọi câu trả lời mà con người có thể đề ra, và mọi thực hiện về mục vụ, vì thế, trong đời sống Linh mục, việc rao giảng truyền giáo và việc phụng tự không bao giờ tách rời nhau, cũng như căn tính bí tích thực thể và sứ mạng truyền giáo không hề tách rời nhau. Vả lại, mục đích của mỗi sứ mạng truyền giáo mà Linh mục thi hành, đều có tính chất phụng tự, vì mọi người đều có thể tự hiến dâng cho Thiên CHúa như một lễ vật sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa (Rm 12,1).

ĐTC nói thêm rằng: "Anh chị em thân mến, đứng trước bao nhiêu bấp bênh và mệt mỏi cả trong việc thực thi sứ vụ linh mục, điều cấp thiết là phục vụ một phán đoán rõ ràng và chắc chắn về thế đứng tối thượng của ơn thánh Chúa, nhớ tới điều thánh Tomasô Aquino đã viết: "Hồng ân bé nhỏ nhất của ơn thánh cũng trổi vượt xa thiện ích tự nhiên của toàn thể vũ trụ” (S.T I-II, q.113, a.9, ad 2). Vì vậy, sứ mạng của mỗi linh mục tùy thuộc nhất là sự ý thức về thực tại bí tích của linh mục tùy thuộc ý thức về "con người mới” của mình. Sự hăng say mới mẻ của linh mục đối với sứ mạng tùy thuộc Linh mục ấy có chắc chắn về căn tính của mình, căn tính này không do sự xây dựng giả tạo, nhưng được Chúa ban nhưng không và được đón nhận.

"Sau khi đã lãnh nhận hồng ân đặc biệt với sự thánh hiến, các linh mục trở thành những chứng nhân trường kỳ về cuộc gặp gỡ của các vị với Chúa Kitô. Khởi hành từ ý thức nội tâm ấy của mình, các linh mục có thể thi hành trọn vẹn sứ mạng của mình, qua việc rao giảng Lời Chúa và cử hành các bí tích. Sau Công đồng chung Vtican 2, đây đó người ta có cảm tưởng rằng trong sứ mạng của linh mục thời nay, có một cái gì cấp thiết hơn; một vài người nghĩ rằng trước tiên cần phải kiến tạo một xã hội khác. Trái lại trang Tin Mừng về việc Chúa gọi các tông đồ chúng ta đã nghe đầu buổi tiếp kiến này, nhắc nhớ cho chúng ta 2 yếu tố nòng cốt của sứ vụ linh mục. Thời đó cũng như ngày nay, Chúa Giêsu sai các Tông đồ đi giảng Tin Mừng, và ban cho các ông quyền xua đuổi tà thần. "Loan báo” và “quyền bính”, nghĩa là "lời Chúa và bí tích là hai cột trụ nòng cốt của sứ vụ Linh mục, vượt ra những hình dạng khách nhau của sứ vụ này.

Trong phần kết của bài huấn dụ, ĐTC cổ võ các sáng kiến tại các giáo phận, giáo xứ và dòng tu, trong các hội đoàn, trên toàn thế giới, để cầu nguyện và chầu Mình Thánh Chúa cho sự thánh hóa hàng giáo sĩ và ơn gọi linh mục, đáp lại lời Chúa Giêsu mời gọi cầu xin Chúa sai nhiều thợ đến làm việc trong mùa gặt của Ngài. ĐTC không quên nhắc đến tình trạng khan hiếm linh mục ở một số nơi và ngài mời gọi các tín hữu đừng nản chí trước tình trạng đó, trái lại càng phải gia tăng những môi trường thinh lặng, lãnh nhận bí tích giải tội, để tiếng Chúa có thể được nhiều người trẻ lắng nghe và đáp lại, vì Chúa luôn tiếp tục kêu gọi và củng cố.

LM Trần Đức Anh, OP

LINH MỤC CHỨNG NHÂN CHO TÌNH YÊU

ĐTC khai mạc Năm Linh Mục: ''Giáo Hội đang cần những linh mục là chứng nhân đầy xác tín về tình yêu Thiên Chúa''

VietCatholic News (22 Jun 2009 18:25)

VATICAN - Lúc 6 giờ chiều thứ sáu 19-6-2009, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu cũng là Ngày Thánh Hóa các linh mục, ĐTC Biển Đức 16 đã chủ sự kinh chiều trọng thể tại Đền thờ Thánh Phêrô để khai mạc Năm Linh Mục kéo dài đến ngày 19-6 năm 2010 với chủ đề ”Trung thành trong Chúa Kitô, niềm trung thành của linh mục”.

Hiện diện trong đền thờ có 30 HY và 60 GM gồm các vị thuộc các cơ quan trung ương Tòa Thánh, và nhiều GM khác, đặc biệt là các GM Venezuala vẫn còn có mặt tại Roma nhân cuộc hành hương viếng mộ hai thánh Tông Đồ và các GM Công giáo nghi lễ Siri. Ngoài ra, có nhiều LM, các chủng sinh và tu sĩ nam nữ. Một số LM đến từ Việt Nam hoặc đang du học tại Pháp và Italia cũng hiện diện, cùng với nhiều nữ tu.

Trước đó vào lúc 5 giờ rưỡi, Đức TGM Mauro Piacenza, Tổng thư ký Bộ giáo sĩ đã ngỏ lời với mọi người và dẫn giải về diễn tiến buổi cử hành, trước khi ĐHY Angelo Comastri Giám quản Đền thờ Thánh Phêrô chủ sự nghi thức rước hòm đựng thánh tích là trái tim của Thánh Gioan Maria Vianney Cha sở họ Ars, bổn mạng các cha sở trong Giáo Hội, từ nhà nguyện Đức Mẹ Sầu Bi ở cuối Đền thờ tới Bàn thờ chính, rồi đặt tại Nhà nguyện cung nguyện. Cùng hướng dẫn đoàn rước có ĐHY Claudio Hummes, dòng Phanxicô, Tổng trưởng Bộ giáo sĩ, Đức cha Guy Bagnard, GM giáo phận Belley-Ars bên Pháp, nơi có Đền thánh Vianney.

Tôn kính thánh tích Thánh Gioan M. Vianney

Khi tiến vào Đền thờ, ĐTC đã đi thẳng vào Nhà nguyện cung nguyện để kính viếng thánh tích vị Thánh bổn mạng các cha sở, qua đời cách đây đúng 150 năm. Ngài cầu nguyện trong thinh lặng, xông hương thánh tích và đọc lời nguyện:

”Lạy Chúa Giêsu, nơi thánh Gioan Maria Vianney, Chúa đã muốn ban cho Giáo Hội một hình ảnh cảm động về đức bác ái mục tử của Chúa, xin ban cho chúng con sống trọn vẹn Năm linh mục này, cùng với thánh nhân và được sự nâng đỡ của Người.

"Xin cho chúng con, khi ở lại trước Thánh Thể như thánh Vianney, chúng con có thể được biết rằng lời Chúa dạy chúng con thật là đơn sơ và thường nhật dường nào; tình yêu của Người dịu hiền biết bao khi đón nhận các hối nhân; lòng phó thác tin tưởng của Người nơi Mẹ Vô Nhiễm của Chúa có sức an ủi dường bao.

"Lạy Chúa Giêsu, nhờ lời chuyển cầu của Thánh Cha Sở họ Ars, xin cho các gia đình Kitô trở thành những giáo hội nhỏ, trong đó tất cả ơn gọi và mọi đoàn sủng do Chúa Thánh Linh ban xuống, có thể được đón nhận và nêu cao giá trị. Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con có thể lập lại với cùng một lòng sốt sắng của Thánh Cha Sở những lời Người thường cầu nguyện với Chúa:

"Lạy Chúa của con, con yêu mến Chúa, và ước muốn duy nhất của con là yêu mến Chúa cho đến hơi thở cuối cùng của con. Lạy Thiên Chúa rất đáng yêu mến vô cùng, con yêu mến Chúa và con thà chết vì yêu mến CHúa còn hơn là sống một giây phút mà không yêu mến Chúa.

"Lạy Chúa, con yêu mến Chúa, ơn duy nhất con cầu xin Chúa đó là được yêu mến Chúa đời đời.

"Lạy Thiên Chúa của con, nếu miệng lưỡi con không thể nói với Chúa trong mọi giây phút rằng con yêu mến Chúa, con muốn trái tim của con lập lại điều ấy với Chúa mỗi khi con hô hấp.

"Lạy Chúa là Đấng Cứu Độ con, con yếu mến Chúa, vì Chúa đã chịu đóng đanh cho con, và Chúa cho con được chịu đóng đanh cùng Chúa dưới thế này. Lạy Chúa của con, xin ban cho con ơn được chết trong lúc yêu mến Chúa và biết rằng con yêu mến Chúa. Amen”.

Kinh chiều được bắt đầu với bài thánh ca phụng vụ, và 3 thánh vịnh, sau mỗi thánh vịnh có phần thinh lặng để mỗi người cầu nguyện riêng.

Bài giảng của Đức Thánh Cha

Trong bài giảng sau bài đọc ngắn trích từ thư thánh Phaolô gửi tín hữu thành Epheso nói về Thiên Chúa đầy lòng xót thương, ĐTC đã diễn giảng về mầu nhiệm lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa và nói rằng:

"Con tim của Thiên Chúa rung động vì cảm thương! Trong ngày lễ trọng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu hôm nay, Giáo Hội trình bày mầu nhiệm này cho chúng ta chiêm niệm, mầu nhiệm trái tim của một vị Thiên Chúa cảm động và đổ tràn tình thương của Ngài cho nhân loại. Qua các trang của Tân Ước, Tình Yêu này được trình bày cho chúng ta như sự say mê khôn lường của Thiên Chúa đối với con người. Chúa không đầu hàng trước sự vô ơn bạc nghĩa, kể cả trước sự từ chối của dân mà Ngài đã tuyển chọn, trái lại với lòng từ bi vô biên, Ngài sai Con Duy Nhất của Ngài xuống trần thế, để mang lấy số phận của một tình yêu bị hủy diệt; để sau khi đánh bại quyền lực của sự ác và sự chết, Chúa Con có thể trả lại cho loài người chức phận làm con, dù họ đã bị tội lỗi biến thành nô lệ. Tất cả những điều đó đã phải trả giá đắt đỏ: Con duy nhất của Chúa Cha đã tự hiến tế trên thập giá: ”Sau khi đã yêu thương con cái Ngài trong trần thế, Ngài yêu thương họ cho đến cùng” (cf Ga 13,1). Biểu tượng tình yêu ấy đi xa hơn cái chết chính là cạnh sườn của Chúa bị một lưỡi đòng đâm thâu qua. Về điểm này, chứng nhân tận mắt là thánh Tông đồ Gioan đã quả quyết: ”Một trong những người lính lấy đòng đâm vào cạnh sườn Người, và tức thì máu cùng nước chảy ra” (cf Ga 19,34).

Anh chị em thân mến, cám ơn anh chị em, vì đã đáp lại lời mời của tôi đến đây đông đảo trong buổi cử hành này, khai mạc năm linh mục. Tôi chào thăm các Hồng Y và GM, đặc biệt là ĐHY Tổng trưởng và Đức TGM Tổng thư ký Bộ giáo sĩ, cùng với các cộng sự viên, và Đức Giám Mục giáo phận Ars. Tôi chào thăm các linh mục và chủng sinh thuộc các chủng viện và học viện ở Roma; các tu sĩ nam nữ và tất cả các tín hữu. Tôi đặc biệt chào Đức thượng Phụ Ignace Youssef Younan, Thượng Phụ Antiokia của các tín hữu Siri, đến Roma để gặp tôi và công khai bày tỏ sự hiệp thông Giáo Hội mà tôi đã ban cho ngài.

"Anh chị em thân mến, chúng ta hãy cùng nhau dừng lại để chiêm ngắm Trái Tim bị đâm thâu qua của Đấng chịu đóng đinh. Chúng ta vừa nghe lại một lần nữa, trong bài đọc ngắn, trích từ thư thánh Phaolô gửi tín hữu thành Ephêso, rằng ”Thiên Chúa giàu lòng xót thương, vì tình yêu bao la của Ngài đối với chúng ta, Ngài đã làm cho chúng ta vốn đã chết vì tội lỗi, được sống lại với Chúa Kitô... Ngài đã cho chúng ta sống lại với Chúa Kitô và cho chúng ta được ngồi trên trời, trong Chúa Giêsu Kitô” (Ep 2,4-6). Trong Trái Tim Chúa Giêsu có biểu lộ nòng cốt của Kitô giáo; trong Chúa Kitô, một sự mới mẻ hoàn toàn, có tính chất cách mạng của Tin Mừng được biểu lộ và ban cho chúng ta: Đấng là Tình Yêu đã cứu thoát và làm cho chúng ta được sống ngay từ bây giờ trong sự vĩnh cửu của Thiên Chúa. Thánh Gioan Thánh Sử đã viết: ”Thực vậy, Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con một của Ngài để tất cả những ai tin nơi Người thì sẽ không phải hư mất, nhưng được sống đời đời” (3, 16). Trái tim thần linh của Ngài kêu gọi trái tim chúng ta, mời gọi chúng ta ra khỏi chính mình, để từ bỏ những điều chắc chắn phàm nhân của chúng ta, hầu tín thác nơi Ngài, biến chúng ta thành một dâng hiến tình yêu không chút dè dặt”.

"Nếu lời mời gọi của Chúa Giêsu ”ở lại trong tình yêu của Ngài” (Ga 15,9) được gửi tới mọi tín hữu đã chịu phép rửa, thì trong ngày Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, Ngày Thánh Hóa linh mục, lời mời gọi ấy càng vang vọng mạnh mẽ hơn đối với các linh mục chúng ta, đặc biệt là chiều hôm nay, long trọng khai mạc Năm linh mục mà tôi đã muốn ấn định nhân dịp kỷ niệm 150 năm Thánh Cha Sở họ Ars qua đời. Tôi nghĩ ngay đến lời quả quyết đẹp đẽ và cảm động của Thánh Nhân, như được trích lại trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, rằng: ”Chức linh mục là tình yêu của Trái Tim Chúa Giêsu” (số 1589). Làm sao ta không cảm động nhớ lại rằng chính từ Trái Tim Chúa đã trực tiếp nảy sinh hồng ân sứ vụ linh mục của chúng ta? Làm sao quên rằng các linh mục chúng ta được thánh hiến để phục vụ, một cách khiêm tốn và có thế giá, chức linh mục chung của các tín hữu. Sứ mạng của chúng ta là điều không thể thiếu được đối với Giáo Hội và thế giới, đòi phải trung thành trọn vẹn đối với Chúa Kitô và không ngừng kết hiệp với Chúa, nghĩa là đòi hỏi chúng ta phải liên lỷ hướng về sự thánh thiện như thánh Gioan Maria Vianney đã làm. Anh em linh mục quí mến, trong thư gửi anh em nhân dịp năm đặc biệt này, tôi đã muốn làm nổi bật một vài khía cạnh quan trọng trong sứ vụ của chúng ta, chiếu theo tấm gương và giáo huấn của Thánh Cha Sở họ Ars, mẫu gương và bổn mạng của tất cả các linh mục, và đặc biệt là các cha sở. Ước gì lá thư ấy của tôi là một trợ lực và khích lệ cho anh em trong việc biến năm này thành cơ hội thuận tiện để tăng trưởng trong cuộc sống thân mật với Chúa Giêsu, Chúa đang mong đợi nơi chúng ta là các thừa tác viên của Ngài để mở rộng và củng cố Nước Chúa. Và vì thế, theo gương Thánh Cha Sở họ Ars, như tôi đã kết luận lá thư, anh em hãy để cho Chúa chinh phục và như thế anh em cũng trở thành những sứ giả hy vọng, hòa giải và an bình trong thế giới ngày nay”.

"Để cho Chúa Kitô hoàn toàn chinh phục! Đó là mục đích toàn thể đời sống của Thánh Phaolô, Vị mà chúng ta đã đặc biệt chú ý trong Năm Thánh Phaolô sắp kết thúc; điều đó cũng là mục tiêu toàn thể sứ vụ của Thánh Cha Sở họ Ars, Vị mà chúng ta đặc biệt kêu cầu trong Năm Linh Mục; ước gì đó cũng là mục tiêu chính của mỗi người chúng ta. Để là thừa tác viên phục vụ Tin Mừng, điều chắc chắn hữu ích là việc học hành cùng với một sự thường huấn mục vụ kỹ lưỡng, nhưng điều còn cần thiết hơn nữa, đó chính là ”khoa học tình yêu” mà ta chỉ học được trong cuộc sống thân mật với Chúa Kitô. Thực vậy, chính Chúa đã kêu gọi chúng ta để bẻ bánh tình yêu của Ngài, để tha thứ tội lỗi và để hướng dẫn đoàn chiên nhân danh Chúa. Chính vì thế, không bao giờ chúng ta được xa lìa nguồn mạch Tình Yêu là Trái Tim Chúa chịu đâm thâu qua trên thập giá.

"Chỉ như thế, chúng ta mới có thể cộng tác hữu hiệu vào ý định mầu nhiệm của Chúa Cha làm làm cho Chúa Kitô trở thành trái tim của thế giới! Ý định này được thực hiện trong lịch sử, dần dần Chúa Giêsu trở thành Trái Tim của các con tim loài người, bắt đầu từ những người được kêu gọi ở gần Ngài hơn, tức là chính các linh mục. Những lời hứa khi chịu chức linh mục nhắc nhở chúng ta về nghĩa vụ liên lỷ ấy, những lời hứa ấy vẫn được lập lại mỗi năm trong thánh lễ làm phép dầu Ngày Thứ Năm Tuần Thánh. Cả những khiếm khuyết, những giới hạn và yếu đuối của chúng ta cũng phải dẫn chúng ta về cùng Trái Tim Chúa Giêsu. Thực vậy, nếu các tội nhân, khi chiêm ngắm trái tim Chúa, phải tìm được nơi Chúa sự đau đớn vì tội lỗi, dẫn đưa họ về cùng Chúa Cha, thì điều này càng được áp dụng cho các thừa tác viên thánh. Về vấn đề này, làm sao quên được rằng không có gì làm cho Giáo Hội, Thân Mình của Chúa Kitô, phải đau khổ cho bằng những tội lỗi của các mục tử Giáo Hội, nhất là những ngừơi biến thành những kẻ ”ăn trộm chiên” (Ga 10,1ss), hoặc làm cho đoàn chiên lạc hướng vì những giáo thuyết riêng của họ, hoặc xiết chiên bằng những giây tội lỗi và chết chóc? Các linh mục thân mến, lời mời gọi hoán cải và tìm đến Lượng Từ Bi của Chúa cũng được áp dụng cho chúng ta, và chúng ta cũng phải khiêm tốn tha thiết không ngừng cầu xin Trái Tim Chúa Giêsu để Ngài giữ gìn chúng ta khỏi nguy cơ kinh khủng là làm thiệt hại cho những người mà chúng ta phải cứu vớt.

Trong phần kết luận bài giảng, ĐTC nhấn mạnh rằng: ”Giáo Hội đang cần những linh mục thánh thiện; cần những thừa tác viên giúp các tín hữu cảm nghiệm lòng từ bi thương xót của Chúa và là những chứng nhân đầy xác tín về tình yêu này. Trong khi chầu Thánh Thể sau Kinh Chiều này, chúng ta hãy xin Chúa làm cho con tim của mỗi linh mục được nồng cháy tình bác ái mục tử, có khả năng đồng hóa cái tôi của mình với cái tôi của Chúa Giêsu linh mục, để có thể noi gương Chúa trong sự tự hiến hoàn hảo nhất. Xin Mẹ Maria cầu cho chúng ta được ơn này, Đấng mà ngài mai chúng ta sẽ chiêm ngưỡng Khiết Tâm của Mẹ với niềm tin nhiệt thành. Thánh Cha Sở Họ Ars vẫn có lòng kính mến con thảo đối với Mẹ, đến độ vào năm 1836, trước khi Tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm được tuyên bố, thánh nhân đã thánh hiến giáo xứ của Người cho Đức Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội. Thánh nhân vẫn giữ thói quen hiến dâng giáo xứ cho Đức Mẹ, và dạy các tín hữu rằng chỉ cần chạy đến cùng Mẹ để được nhậm lời, vì Mẹ mong ước thấy chúng ta được hạnh phúc. Xin Đức Trinh Nữ rất thánh là Mẹ chúng ta tháp tùng chúng ta trong Năm linh mục bắt đầu hôm nay, để chúng ta có thể là những người hướng đạo vững chắc và sáng suốt cho các tín hữu mà Chúa ủy thác cho chúng ta săn sóc mục vụ. Amen

Sau kinh chiều, ĐTC đã chủ sự cuộc Chầu Mình Thánh Chúa và ban phép lành Thánh Thể cho mọi người. Buổi phụng vụ kết thúc với bài Thánh Ca Salve Regina, Kính chào Nữ Vương!

LM Trần Đức Anh, OP

LINH MỤC– NGƯỜI NỐI KẾT VỚI CỘNG ĐOÀN

Để có thể kết nối với các “máy con” là mọi thành phần trong cộng đoàn dân Chúa cách có hiệu quả và vững bền hơn, người linh mục cần có “bộ xử lý” và “đường dẫn” tốt để khỏi bị “kẹt mạng”. Tương quan kết nối giữa linh mục với cộng đoàn dân Chúa cũng phải không ngừng được “nâng cấp” thường xuyên cho phù hợp với tiến bộ khoa học và sự phát triển nhanh chóng của thời đại thông tin cũng như sự phát triển dân trí. Nói cách khác, để máy chủ là “Alter Christus” không bị lỗi thời, người linh mục cần luôn cập nhật cho mình những đức tính tốt làm cho mạng luôn chạy với “tốc độ cao”, nó cũng là chương trình chống “vi-rút” gây chia rẽ, bè phái trong cộng đoàn. Hai “File hệ thống” chủ đạo cần được cập nhật thường xuyên là đời sống khó nghèo và đời sống khiêm nhường phục vụ.

1. Đời sống khó nghèo :

Chúa Kitô đã thực hiện công trình cứu độ con người qua con đường nghèo khó, vì thế Giáo Hội cũng được mời gọi đi vào con đường đó để thông ơn cứu rỗi cho mọi người (x. Lm. Thân Văn Tường, Suy niệm về Đời Sống và Chức Vụ Linh Mục, tr. 99).

Khó nghèo ở đây không được hiểu theo nghĩa chặt của nó một cách cứng nhắc. Vì lẽ nào người linh mục không được giữ cho mình các phương tiện cần thiết để phục vụ cộng đoàn giáo dân cho tốt hay sao ? Đức Kitô không đòi hỏi những ai theo Ngài phải sống khó nghèo như một quy luật, vì chính Ngài cũng cho phép mình đến dự tiệc tại nhà những người thượng lưu (x. Lc 7,36; 14,1); Ngài trú ngụ tại nhà chị em Matta và Maria ở Bêtania (x. Lc 10,38-42; Ga 11,1t; 12,1-8), và Ngài cũng chấp nhận sự trợ giúp của những người giàu có (x. Lc 8,2t). Công đồng Vatican II dạy: “Linh mục được phép cấp dưỡng xứng đáng cho mình để chu toàn chức vụ” ( PO số 17; MV, 71). Đời sống khó nghèo thiết nghĩ cần được hiểu theo nghĩa là tinh thần khó nghèo, nghĩa là trở nên người quản lý trung thành trong việc sử dụng hay phân phối của cải của mình. Của cải chỉ có giá trị bao lâu người linh mục biết dùng nó để phục vụ Nước Chúa và cộng đoàn trong lòng mến (x. 1Tm 6,17-19). Tắt một lời, tinh thần nghèo khó ở đây là tinh thần biết cho đi.

Tinh thần khó nghèo giúp ngài biết chia sẻ cho những gia đình còn gặp rất nhiều khó khăn trong giáo xứ (x. MV số 65,69), nâng đỡ họ để họ cũng có một cuộc sống tạm ổn, để họ có thời giờ sinh hoạt tâm linh cùng với xứ đạo. Sắc Lệnh “Chức vụ và đời sống linh mục” mời gọi linh mục thực hành các khổ chế như từ bỏ các tiện nghi riêng, không tìm kiếm tư lợi nhưng tìm lợi ích cho nhiều người, để họ được cứu rỗi (x. PO, số 14, Phần cuối).

Thường thì chúng ta dễ rơi vào tình trạng “khó mà nghèo”, vì linh mục thường được người ta yêu mến, sẵng sàng ban tặng vật chất. Bởi đó người linh mục cần nỗ lực trở nên nghèo khó bằng việc sống đơn giản hơn, đón nhận những gì mình có, không phải cho riêng mình nhưng là để chia sẻ, để rộng tay giúp đỡ mọi người. Linh mục giữ của cải như người quản lý, biết chia sẻ cách rộng rãi, tự do và quảng đại. Nhà xứ phải là nhà chung thật sự để tiếp đón mọi người và chia sẻ với bất cứ ai. Khó nghèo không phải là keo kẹt, mà là giảm thiểu nhu cầu đến mức tối thiểu, dành lại của cải của mình phân bổ cho người khác những gì mình có thể làm (x. Cv 2, 42-47).

Không phải chỉ cho đi vật chất mà thôi, nhưng còn cho đi cả đời sống cầu nguyện, đời sống đức Tin, đức Cậy và đức Mến; nói cách khác là cho đi cả con tim và tâm hồn nữa. Vì vậy, chúng ta có thể xin Chúa cho các linh mục có được sự dồi dào về vật chất, đi đôi với tinh thần nghèo khó thật sự để các ngài có thể san sẻ cho tha nhân, đặc biệt là những người túng thiếu. Xin cho các linh mục biết yêu thương những người nghèo khó và luôn sống tinh thần khó nghèo.

2. Đời sống khiêm nhường phục vụ :

Khiêm nhường không phải là không làm tất cả những gì mình biết, nhưng là làm tất cả những gì mình có thể làm được trong tinh thần phục vụ cộng đoàn, hoà mình với cộng đoàn và đồng hành với cộng đoàn trong tiến trình đi lên.

Khiêm nhường thường đi đôi với lòng cao thượng. Thiếu khiêm nhường, người linh mục rất dễ dàng ra vẻ kiêu căng và khinh miệt giáo dân. Trái lại, thiếu lòng cao thượng trong phục vụ, sự khiêm nhường có thể sinh ra nhu nhược. Sự khiêm nhường sẽ giúp người linh mục hãm bớt lại những hăng say quá mức, mà sự hăng say quá mức này đôi khi làm cho giáo dân không thể theo kịp, và dần dần đi đến chỗ linh mục xa lìa giáo dân, nếu không muốn nói là tách rời khỏi họ. Bởi thế, với lòng khiêm nhượng trong phục vụ, người linh mục dễ dàng đối thoại và làm việc với giáo dân, tạo điều kiện cho họ nhẹ nhàng cộng tác. Mẫu gương khiêm nhượng mà người linh mục cần học hỏi là chính Đức Maria. Mẹ chẳng bao giờ đề cao mình, trái lại Mẹ luôn khiêm tốn trong mọi cảnh huống của cuộc đời. Mẹ chỉ nói, chỉ ra mặt khi cần thiết và trong mức vừa đủ (x. Lm. Hồng Nguyên, Chúng Ta là linh Mục, 2004, tr. 57).

Khiêm tốn trong đời sống phục vụ để giới thiệu Chúa Kitô cho mọi người; và như thế, linh mục sẽ dễ quên đi chính mình, hầu sẵn sàng phục vụ tha nhân. Phục vụ bằng cả việc hiện diện với mọi người. Vì sự hiện diện của linh mục làm cho Chúa Kitô hiện diện với họ; linh mục phục vụ giáo dân như chính Chúa Kitô đang phục vụ (x. PO, số 9). Linh mục phải trở nên mọi sự cho mọi người để có thể cứu họ, đưa họ sống theo đường lối Chúa (x. Lm Nguyễn Hữu Tấn, Lịch Sử Linh Đạo, 2004, tr. 420).

Năm Linh Mục được mở ra là một cơ hội để người linh mục nhìn lại chính mình và điều chỉnh đời sống của mình. Để một khi triệt để sống tinh thần khó nghèo và tận tụy phục vụ cộng đoàn trong khiêm nhu, người linh mục sẽ trở thành điểm son tô thắm cuộc đời và là điểm tựa nối kết mọi thành phần dân Chúa trong xứ đạo của mình.

Gioan Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

LINH MỤC - NGƯỜI KẾT NỐI VỚI GIÁM MỤC

Nếu tương quan chiều cao là tương quan với Thiên Chúa, thì tương quan chiều rộng là tương quan với linh mục đoàn. Tương quan này làm nên tính đặc thù của linh đạo linh mục giáo phận và cũng là điểm phân biệt với linh đạo linh mục dòng. Trước hết là tương quan với vị Giám mục của mình.

Linh mục triều là linh mục làm mục vụ tại các xứ đạo trong Giáo phận. Các ngài là những cộng sự viên đắc lực của Giám mục, nên đời sống của các ngài phải kết nối với vị Giám mục Giáo phận mình. Kết nối với ngài trong tinh thần hiệp thông và vâng phục.

Tất cả các linh mục và Giám mục đều tham dự cùng một chức Tư Tế (Thừa Tác) duy nhất của Chúa Giêsu. Chính vì thế, đòi hỏi phải có sự hiệp thông phẩm trật giữa các ngài và Giám mục (x. LG số 28). Sự hiệp thông này là dấu chỉ cho sự hiệp thông hữu hình của Giáo hội. Các ngài liên kết với Giám mục của mình tạo thành linh mục đoàn duy nhất với nhiều chức vụ khác nhau. Sách Giáo Lý Công Giáo, số 1567 đã ghi rõ : “Trong mỗi cộng đoàn tín hữu địa phương, linh mục là hiện thân của Giám mục mà các ngài hằng liên kết với lòng tin tưởng và quảng đại. Lãnh nhận phần chức vụ, cùng chia sẻ nỗi lo lắng của các Giám mục và hằng ngày ân cần thi hành chức vụ ấy, các linh mục chỉ có thể thi hành phận vụ khi tuỳ thuộc vào Giám mục và hiệp thông với Giám mục” (GLCG số 1567).

Kết nối với giám mục trong tinh thần hiệp thông, người linh mục cũng phải nối kết trong tinh thần vâng phục. Lý do là vì các Giám mục lãnh nhận sung mãn bí tích truyền chức thánh, nên các linh mục phải tôn trọng nơi các ngài quyền bính tròn đầy của Chúa Kitô, Vị Chủ Chăn Tối Cao. Và vì thế các linh mục phải kết hiệp với Giám mục không những bằng tình yêu thương chân thành mà còn bằng lòng vâng phục. Đức vâng phục ấy đặt nền tảng trên chính việc tham dự chức vụ Thừa Tác của Giám mục, mà các linh mục đã lãnh nhận trong ngày chịu Chức Thánh và bài sai do chính Đức Giám mục trao (x. Sắc lệnh Chức Vụ và Đời Sống Linh Mục, số 7).

Tuy nhiên, vâng phục luôn là một thách đố đối với các linh mục, vì các ngài cũng là con người mang cái tôi ích kỷ hẹp hòi, thích làm theo ý riêng mình hơn là làm theo ý người khác. Bởi đó để sống đức vâng phục trong tinh thần tín thác, các ngài phải chấp nhận chết đi cho ý riêng của mình, chấp nhận trở nên nhỏ bé để thánh ý Chúa được lớn lên. Đức Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận trong cuốn Đường Hy Vọng đã nói: “Khiết tịnh là chết cho nhục dục, vâng phục là chết cho ý riêng”. Do vậy các linh mục cần phải có tinh thần cởi mở để đối thoại với Giám mục của mình với tư cách là một cộng sự viên trung thành, đồng thời sẵn sàng đón nhận ý muốn của Giám mục như là thánh ý Chúa trong tâm tình yêu mến của người con thảo. Có như thế, mối dây hiệp nhất, yêu thương và tin tưởng ngày một bền chặt và có sức mang lại hoa trái tốt đẹp cho Giáo hội và các linh hồn. Ngược lại nếu thiếu đức vâng phục, người linh mục sẽ đánh mất đi dung mạo tốt lành của Đức Kitô, “Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa đã hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên cây Thập giá”ù (Pl 2, 5-8). Cũng có thể nói, không có gì gây nên sự chia rẽ trong Giáo phận và tạo nên gương mù gương xấu cho giáo dân cho bằng thiếu đức vâng phục.

Ước gì trong năm linh mục này các linh mục ý thức hơn trong việc vun trồng mối tương quan gắn kết mật thiết với vị cha chung của mình là Đức Giám Mục giáo phận trong tinh thần hiệp thông và vâng phục. Có như thế đời sống của các ngài mới trở nên dấu chỉ hữu hình nói lên mầu nhiệm thông hiệp giữa Chúa Kitô và Giáo hội của Người.

Phan Thiết, Năm Linh Mục
Lm. Giuse Nguyễn Thành Long

LINH MỤC NÀO CHO NGÀY MAI ?

XBVN – Đức Bênêđictô đã làm ngạc nhiên khi đề nghị cha sở họ đạo Ars làm khuôn mẫu cho hàng giáo sĩ của thiên niên kỷ thứ ba.

Khi loan báo Năm linh mục, Đức Thánh Cha đã làm ngạc nhiên hai lần. Một mặt, bởi vì ít người được báo cho biết trước về điều đó, ngay cả ở Vatican. Mặt khác, bởi vì ngài muốn đặt Năm linh mục này dưới sự bảo trợ của thánh Gioan-Maria Vianê, đúng vào dịp kỷ niệm 150 năm ngày mất của ngài.

Việc chọn lựa vị linh mục miền quê của thế kỷ XIX này, nổi tiếng về tinh thần hy sinh "hai củ khoai mỗi ngày cho một khẩu phần duy nhất " và sự chiến đấu chống lại ma quỷ, quả là có gì đó làm ngạc nhiên. Sau công đồng Vatican II, mà nhìn nhận chỗ đứng cho các giáo dân trong Giáo Hội, cũng như sau cuộc khủng hoảng các ơn gọi (nhất là ở Châu Âu) mà bó buộc các linh mục suy nghĩ lại vài trò và ơn gọi của mình, thì mẫu gương thánh Vianê và tính đặc trưng linh mục của công đồng Trentô của ngài có thể mang lại điều gì ? Các linh mục trẻ sẽ có thể múc lấy ở đó điều gì để đáp lại cho những thách đố của xã hội thành thị và tục hóa hôm nay ?

Chắc chắn, cần phải khởi đi từ sự nghịch lý này. Cha Gioan-Maria Vianê là một linh mục lo giáo xứ, và chỉ là linh mục lo giáo xứ. Đối với Đức Bênêđictô XVI, đó là một cách thức muốn nói với các linh mục rằng họ phải trở về với điều cốt lõi của ơn gọi của mình. Vatican II, và đặc biệt Hiến chế Lumen Gentium, đã làm nổi bật ơn gọi của các giáo dân. Ơn gọi của các linh mục đã trở nên ít rõ ràng hơn, càng hơn thế nữa vì sự khan hiếm linh mục bắt buộc phải nghĩ ra những cuộc tổ chức lại giáo xứ.

Cuộc đấu tranh chống lại "một sự pha loãng chức linh mục thừa tác"

Chính Đức Thánh Cha đã cảnh giác như thế khi ngài loan báo Năm linh mục vào ngày 16/03/2009 trước Bộ Giáo Sĩ : "Cần thiết canh chừng để những cấu trúc mới" hay những tổ chức mục vụ không được suy nghĩ cho một thời kỳ mà người ta hẳn sẽ phải "thoát khỏi" thừa tác vụ chức thánh, bằng việc khởi đi từ một lối giải thích sai lầm về sự thăng tiến giáo dân đúng đắn”. Nếu không, ngài cảnh báo, "người ta hẳn sẽ đặt ra những điều kiện cho một sự pha loãng bổ sung chức linh mục thừa tác”.

Đối với Đức Thánh Cha, vấn đề là sửa chữa cuộc khủng hoảng căn tính thiêng liêng mà hàng linh mục đang trải qua : với Năm linh mục này, theo ngài, cần phải « tạo điều kiện cho việc hướng các linh mục đến sự hoàn thiện thiêng liêng mà trước tiên sự hiệu quả của thừa tác vụ của họ lệ thuộc”. Cuộc khủng hoảng này sẽ tìm thấy nguồn gốc của nó trong sự tục hóa, mà theo Đức Thánh Cha, đã làm tổn hại chính Giáo Hội, và do đó, làm tổn hại các linh mục.

"Từ khuôn mẫu Giáo hội này đến một khuôn mẫu khác"

Trong diễn văn trước các vị hữu trách các chủng viện, Đức cha Jean-Louis Bruguès, thư ký Bộ giáo dục Công giáo, đã nói về việc đi từ "một khuôn mẫu Giáo hội này đến một khuôn mẫu khác", ghi nhận rằng thế hệ các linh mục của những năm hậu công đồng, mà "đã đồng hóa việc mở ra cho thế giới với một sự trở lại với việc tục hóa", ngày nay được thay thế bằng những linh mục trẻ hơn, mà "đặc biệt tìm cách giữ khoảng cách đối với nó và đòi hỏi căn tính và những khác biệt của mình".

Cách căn bản hơn, Đức Bênêđictô XVI, người cực kỳ chú tâm đến hàng giáo sĩ, đến việc đào tạo, tình trạng luân lý và thiêng liêng của họ, đã xác định một mức độ rất cao, không do dự đòi hỏi họ vươn đến « sự hoàn thiện luân lý mà phải cư ngụ nơi mọi tâm hồn linh mục đích thực ». Theo quan điểm này, cha thánh Gioan-Maria Vianê chắc chắn đáp ứng những phẩm chất mà Đức Thánh Cha mong muốn nơi người linh mục. Như ngài xác định cho Bộ Giáo Sĩ, cần phải "đưa cha sở họ đạo Ars ra khỏi những củ khoai của ngài".

"Cha sở của những người nghèo"

Cần phải khử hình ảnh của ngài khỏi tất cả những gì gắn liến với thế kỷ XIX (thuyết thống khổ, chiến đấu trong một bối cảnh hậu cách mạng…) và tập trung vào các nhân đức của cha sở họ đạo Ars : vị "cha sở của người nghèo đã biết kết hợp đời sống chiêm niệm, cầu nguyện và hoạt động bác ái…Con người đơn sơ này, không nhiều trình độ trí thức, là một cha giải tội vĩ đại, theo ý kiến nhất trí của những người đương thời với ngài. Ngày nay, Rôma cũng nhấn mạnh việc trả lại bí tích hòa giải ở trung tâm sứ mệnh của linh mục".

Sau cùng, cha sở họ đạo Ars, với thể tạng yếu ớt, không hề là một "siêu anh hùng". Trái lại, cá tiểu sử đều nhấn mạnh đến nhiều khó khăn mà ngài đã gặp, sự đối lập ở nơi xã của ngài, của các đồng nghiệp nơi giáo xứ của ngài, và nhất là những cuộc chiến đấu nội tâm của một con người đang bị dày vò bởi những vấn nạn to lớn và những nghi ngờ thiêng liêng. Nói tóm lại, một linh mục yếu ớt, khiêm hạ giữa những người khiêm hạ, chỉ với vũ khí duy nhất là hoàn toàn tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa. Cha sở họ đạo Ars như thế là rất thời sự !

Theo Isabelle DE GAULMYN, La Croix


Hồng y Hummes: “Giáo Hội yêu mến các linh mục”
(Zenit trao đổi với Đức Hồng y phụ trách Bộ Giáo sĩ về Năm Linh mục)

Zenit: Thưa Đức Hồng y, xin ĐHY cho biết mục tiêu chính của Năm thánh Linh mục là gì?

Hồng y Hummes: Trước tiên là hoàn cảnh: Đây là một năm thánh mừng kỷ niệm 150 năm thánh Gioan Maria Vianney, quen gọi là cha xứ họ Ars, qua đời. Đó là cơ hội, nhưng lý do chính đó là Đức Thánh Cha muốn dành cho các linh mục một tầm quan trọng đặc biệt và bày tỏ cho thấy người yêu mến các linh mục như thế nào, người muốn giúp các linh mục sống ơn gọi và sứ vụ của các ngài với niềm vui và lòng sốt sáng như thế nào.

Đức Thánh Cha đưa ra sáng kiến này vào lúc mà một nền văn hóa mới đang phát triển mạnh mẽ. Ngày nay, một nền văn hóa hậu hiện đại, đô thị, đa nguyên, thế tục hóa, theo chủ nghĩa tương đối, phi giáo hội đang chiếm ưu thế và các linh mục phải sống ơn gọi và sứ vụ của các ngài trong nền văn hóa đó. Vấn đề là phải hiểu làm linh mục trong thời đại mới này là như thế nào, không phải để lên án mà là để cứu độ thế giới, như Chúa Giêsu, Đấng đã đến không phải để lên án mà là để cứu độ thế giới.

Linh mục phải thực hiện điều đó với tấm lòng của mình, cởi mở, không biến xã hội thành ma quỷ. Linh mục phải hòa mình vào xã hội với niềm vui của kẻ được sai đi mong muốn đem Chúa Giêsu Kitô đến với con người của xã hội này. Cần phải có cơ hội như thế này để mọi người cầu nguyện với, và cầu nguyện cho các linh mục, để quy tụ các linh mục để cầu nguyện. Cần phải làm điều này một cách tốt nhất có thể trong xã hội hiện tại và hơn nữa, tùy tình hình, đưa ra các sáng kiến để các linh mục sống ơn gọi và sứ vụ của các ngài với những điều kiện tốt nhất.

Đây là một năm tích cực và đầy hứa hẹn. Trước hết, không phải là vấn đề uốn nắn các linh mục. Có những vấn đề luôn luôn cần phải được uốn nắn và Giáo hội không thể nhắm mắt làm ngơ, nhưng chúng ta biết rằng đa số rất lớn các linh mục vẫn giữ được phẩm cách và gắn bó với thừa tác vụ và ơn gọi của mình. Các ngài hiến dâng cuộc đời các ngài cho ơn gọi các ngài đã sẵn lòng tiếp nhận.

Tiếc thay, chúng ta cũng đã được biết là trong những năm gần đây có nhiều vấn đề nổi cộm, liên quan đến nạn quan hệ tình dục với trẻ con và các tệ nạn tình dục trầm trọng khác. Nhưng có lẽ chỉ có khoảng 4% linh mục mắc phải các tệ nạn này. Giáo hội muốn nói với số 96% các linh mục khác là Giáo hội tự hào về các ngài, rằng các ngài là người của Chúa và Giáo hội muốn giúp đỡ các ngài và nhìn nhận tất cả những gì các ngài làm như một chứng từ của cuộc đời.

Đây cũng là lúc thích hợp để đẩy mạnh và đào sâu vấn đề làm linh mục như thế nào trong cái thế giới đang thay đổi này và được Thiên Chúa đặt trước chúng ta để cứu độ.

Zenit: Tại sao Đức Giáo hoàng lại đặt thánh Gioan Maria Vianney làm gương mẫu cho các linh mục?

Hồng y Hummes: Bởi vì từ lâu lắm rồi, thánh nhân đã là quan thày của các linh mục coi xứ. Ngài thuộc thế giới các linh mục. Chúng tôi cũng muốn khuyến khích các dân tộc và các Hội đồng Giám mục hay Giáo hội địa phương chọn một số linh mục gương mẫu của địa phương và giới thiệu các ngài với thế giới và cho người trẻ: những con người và linh mục vốn là những gương mẫu đích thực, những con người có thể gợi lên và thức tỉnh một xác tín về giá trị lớn lao và tầm quan trọng của thừa tác vụ linh mục.

Zenit: Đối với ngài, với tư cách một linh mục, khía cạnh đẹp nhất của ơn gọi của ngài là gì?

Hồng y Hummes: Câu hỏi này khiến tôi nghĩ đến một câu chuyện về thánh Phanxicô Assidi. Một lần nọ, ngài nói: “Nếu trên đường đi tôi gặp một linh mục và một thiên thần, tôi sẽ chào linh mục trước rồi mới chào thiên thần. Tại sao vậy? Bởi vì linh mục là người ban cho chúng ta Đức Kitô trong Thánh Thể”. Đó là điều căn bản và tuyệt vời nhất: linh mục có được ân huệ và ân sủng của Thiên Chúa để làm thừa tác viên của mầu nhiệm Thánh Thể vĩ đại này.

Chức tư tế là do Chúa Giêsu Kitô thiết lập trong bữa Tiệc ly. Khi Ngài nói “Hãy làm điều này để nhớ đến Thày”, Ngài ban cho tông đồ mệnh lệnh và đồng thời quyền năng để thực hiện mệnh lệnh này, làm chính điều Chúa Giêsu đã làm tại bữa Tiệc ly. Và đến lượt mình, các tông đồ đã truyền thừa tác vụ và quyền năng này của Thiên Chúa cho các giám mục và linh mục.

Đây là điều quan trọng nhất và là tâm điểm. Thánh Thể là tâm điểm của Giáo hội. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nói rằng Giáo hội sống bằng Thánh Thể. Linh mục là thừa tác viên của bí tích lớn lao này, vốn là cuộc kỷ niệm cái chết của Chúa Giêsu.

Chúng ta cũng còn có bí tích Hòa giải. Chúa Giêsu nói: “Anh em tha tội cho ai, thì tội họ được tha; anh em cầm giữ tội ai, thì tội họ bị cầm giữ” (Gioan 20, 23). Ngài đến để hòa giải thế giới với Thiên Chúa và con người với con người. Ngài ban Thánh Thần cho các tông đồ và hà hơi trên các ông.

Ngài ban cho các tông đồ nhân danh Thiên Chúa và nhân danh Ngài điều Ngài đã thu nhận được bằng máu và sự sống của Ngài trên thập giá, biến đổi bạo lực thành một cử chỉ của lòng yêu thương để thứ tha tội lỗi. Và Ngài nói với các tông đồ rằng các ngài sẽ là những thừa tác viên của sự tha thứ. Đây là điều căn bản đối với mọi người. Mọi người đều mong muốn tội lỗi của mình được tha thứ, được sống trong thuận hòa với Thiên Chúa và với người khác. Thừa tác vụ hòa giải này thật quan trọng trong đời sống của linh mục.

Có nhiều hoạt động khác, chẳng hạn rao giảng Tin Mừng, công bố chính Chúa Giêsu Kitô, đã chết và đã sống lại, và công bố Vương quốc của Ngài. Thế giới có quyền được biết và học hỏi về Chúa Giêsu Kitô và mọi ý nghĩa của Vương quốc của Ngài. Đó cũng là một thừa tác vụ đặc biệt của linh mục, vốn chia sẻ thừa tác vụ này với giám mục và hàng giáo dân là công bố Lời và dẫn đưa người ta tới gặp gỡ đích thân và sâu đậm với Chúa Giêsu Kitô.

Zenit: Theo Đức Hồng y, những khó khăn lớn nhất và những thách thức mới người trẻ muốn làm linh mục ngày nay phải đối diện là gì?

Hồng y Hummes: Tôi muốn nhắc lại rằng chúng ta không được biến thành ma quỷ nền văn hóa hiện nay vốn đang phát triển mỗi ngày mỗi rộng rãi và đang trở thành một nền văn hóa chiếm ưu thế trên toàn thế giới, mặc dù các nền văn hóa khác vẫn có đó.

Nền văn hóa mới này không còn muốn mang tính cách Kitô giáo hay tôn giáo, mà muốn mang tính cách thế tục, loại bỏ và muốn loại bỏ mọi quy chiếu tôn giáo. Các thanh thiếu niên đang ở trong một hoàn cảnh khác với hoàn cảnh chúng ta đã sống. Chúng ta vốn là những kẻ đã sinh ra trong một nền văn hóa rất tôn giáo, một nền tôn giáo được nhìn nhận là Kitô giáo và Công giáo. Nay thì không còn như vậy nữa.

Tôi nghĩ rằng đối với thanh thiếu niên, việc can đảm chấp nhận một lời mời gọi từ Thiên Chúa nảy sinh trong nội tâm của họ thực sự là có khó khăn hơn. Ngày nay, việc đáp lại [lời gọi] này quả có phức tạp hơn, bởi vì xã hội không còn đánh giá cao chức linh mục. Hồi trước, xã hội đánh giá cao chức linh mục. Tuy nhiên, một công việc của lòng tin và việc loan báo Tin Mừng vẫn luôn có thể, bởi vì Thiên Chúa luôn ban mọi ơn sủng khi Ngài kêu gọi để thực hiện.

Các giáo xứ phải tạo cơ hội cho thanh thiếu niên bày tỏ điều họ đang ôm ấp trong tim, nói về tiếng gọi này, bởi vì nếu họ không có cơ hội để nói với ai đó họ có thể tin tưởng được, tiếng gọi ấy sẽ biến mất dần dần. Ở đây, thừa tác vụ về ơn gọi có vai trò của mình và quả là cần thiết đối với chúng ta biết bao.

Một giáo xứ được tổ chức tốt có khả năng đứng ra gặp gỡ thanh thiếu niên và cho họ cơ hội để trình bày về ơn gọi họ cảm nhận được. Việc cầu nguyện cho các ơn gọi hiện nay quả là quan trọng hơn trong quá khứ.

Một lý do khác dẫn đến tình trạng ít có các ứng viên hơn, đó là bởi vì gia đình hiện nay không đông con bằng trước. Gia đình có ít hoặc không con cái. Tình trạng này gây khó khăn hơn. Con số các linh mục ở một số nước xuống quá thấp. Chúng tôi đặc biệt quan tâm tới tình hình này.

Zenit: Việc đào tạo ở chủng viện phải quan tâm tới các chiều kích con người, tâm linh, trí thức và phụng vụ, Đức Hồng y nghĩ sao? Theo ĐHY, yếu tố nào không thể thiếu?

Hồng y Hummes: Giáo hội nói đến bốn chiều kích phải được xây dựng nơi các ứng viên.

Trước hết, chiều kích nhân bản, tình cảm – toàn bộ vấn đề về con người – bản tính, phẩm cách và một sự trưởng thành bình thường về tình cảm. Điều này quan trọng bởi vì nó là căn bản.

Kế đó là chiều kích tâm linh. Ngày nay, chúng ta đang đứng trước một nền văn hóa không còn là Kitô giáo hay tôn giáo. Do đó, phát triển tốt chiều kích tâm linh của ứng viên càng cần thiết hơn nữa.

Tiếp theo là chiều kích trí thức. Cần phải học triết học và thần học để các linh mục ngày nay có thể nói và công bố Đức Giêsu Kitô và tín thư của Ngài tới mức bộc lộ được tất cả sự phong phú của cuộc đối thoại giữa lòng tin và lý trí con người. Thiên Chúa là Lời của mọi sự và Chúa Giêsu Kitô là sự giải thích Lời của Ngài.

Cuối cùng, dĩ nhiên, là chiều kích tông đồ, nghĩa là các ứng viên phải được chuẩn bị để trở thành mục tử trong thế giới hôm nay. Trong lĩnh vực mục vụ này ngày nay, căn tính thừa sai là điều rất quan trọng. Linh mục phải có không chỉ một sự chuẩn bị mà cả một động cơ thúc đẩy để không chỉ giới hạn mình vào việc tiếp nhận và giúp đỡ người tới với mình, mà còn phải đi tìm những người không tới với Giáo hội, nhất là những người đã chịu phép thánh tẩy nhưng xa cách, bởi vì không được Tin mừng hóa một cách đầy đủ, và những kẻ có quyền được Tin mừng hóa, bởi vì chúng ta đã hứa là đem Đức Kitô đến và dạy dỗ họ trong đức tin.

Điều này, nhiều lần đã không được thực hiện hay thực hiện quá ít. Linh mục phải lên đường thi hành sứ vụ và chuẩn bị cho cộng đoàn của mình để đi công bố Đức Giêsu Kitô cho dân chúng, ít là những người sống trong địa bàn giáo xứ của mình, và cả ở ngoài nữa.

Ngày nay, chiều kích thừa sai này rất quan trọng. Môn đệ trở thành thừa sai qua việc nhiệt thành và vui sướng gắn bó với Đức Kitô, có khả năng để cho Chúa Kitô chiếm trọn đời mình một cách vô điều kiện. Chúng ta phải nên giống như người môn đệ: sốt sáng, có tinh thần thừa sai và lòng vui sướng. Đó là chìa khóa, là bí quyết.

Zenit: Các hoạt động đặc biệt được trù tính cho các người trẻ và bản thân các linh mục trong năm này là gì?

Hồng y Hummes: Sẽ có những hoạt động ở cấp Giáo hội toàn cầu, nhưng Năm Linh mục cũng phải được cử hành ở cấp địa phương. Nghĩa là, tại các giáo hội địa phương, tại các giáo phận và giáo xứ, bởi vì linh mục là thừa tác viên của dân chúng, và phải bao gồm các cộng đoàn.

Các giáo phận phải thúc đẩy các hoạt động đi vào chiều sâu và các việc cử hành để linh mục hiểu được là Giáo hội yêu mến các ngài, tôn trọng, ngưỡng mộ các ngài và cảm thấy tự hào về các ngài.

Đức Thánh Cha sẽ khai mạc năm các linh mục vào ngày 19-06, ngày lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu, bởi vì đây là Ngày Thế giới cầu nguyện cho sự thánh hóa các linh mục. Sẽ có hát Kinh Chiều trọng thể tại Vương cung thánh đường Vatican, sẽ có sự hiện diện của thánh tích Cha xứ họ Ars. Trái tim của ngài sẽ hiện diện tại Vương cung thánh đường như một dấu chỉ về tầm quan trọng Đức Thánh Cha muốn dành cho các linh mục. Chúng tôi hy vọng rằng nhiều linh mục sẽ có mặt.

Năm Linh mục sẽ kết thúc một năm sau. Còn phải định rõ ngày, giờ dành cho một cuộc gặp gỡ lớn của Đức Thánh Cha với các linh mục. Tất cả các giáo phận đều được mời tới tham dự. Sẽ có nhiều hoạt động khác nữa. Chúng tôi cũng đang nghĩ tới việc tổ chức một hội thảo thần học quốc tế trong nhiều ngày trước khi kết thúc. Cũng sẽ có các việc đạo đức. Chúng tôi cũng hy vọng lôi kéo các Đại học Công giáo chẳng hạn vào việc đào sâu ý nghĩa của chức tư tế, và tất cả các chủ đề thấy là quan trọng đối với linh mục.

Zenit: Đức Hồng y có thể nói về những thách thức mà một linh mục phải đối mặt trong cái xã hội vốn có tính cách chống tôn giáo này? ĐHY nghĩ làm sao một linh mục có thể trung tín với ơn gọi của mình?

Hồng y Hummes: Trước hết, Giáo hội, qua các chủng viện và các nhà đào tạo của mình phải có một sự chọn lựa gắt gao các ứng viên. Sau đó cần phải có một nền đào tạo tốt, căn bản trong các chiều kích nhân bản, trí thức, tâm linh, mục vụ và thừa sai. Điều căn bản là phải nhớ rằng linh mục là một đồ đệ của Chúa Giêsu Kitô và chắc chắn được rằng linh mục có sự gặp gỡ sâu đậm, cá nhân và cộng đoàn, với Chúa Giêsu Kitô, Đấng linh mục muốn trung tín. Mỗi Thánh lễ có thể là một khoảnh khắc đặc biệt cho sự gặp gỡ này. Còn có việc đọc Lời Chúa nữa.

Như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói, có nhiều cơ hội thuận lợi để làm chứng cho sự gặp gỡ này với Chúa Giêsu Kitô. Là một thừa sai có khả năng hâm nóng lòng hăng say linh mục, cảm nhận được niềm vui sướng và xác tín về sứ vụ của mình và xác tín rằng sứ vụ này có một ý nghĩa căn bản đối với Giáo hội và thế giới, đó là điều căn bản.

Tôi luôn nói rằng linh mục không chỉ quan trọng về khía cạnh tôn giáo bên trong Giáo hội. Linh mục cũng có một trách nhiệm hết sức lớn lao trong xã hội, bởi vì linh mục cổ vũ cho những giá trị nhân bản lớn, thực sự gắn với người nghèo bằng tình liên đới, bằng mối quan tâm tới nhân quyền. Chúng tôi tin rằng chúng ta phải giúp các linh mục để các ngài sống ơn gọi này với niềm vui, với sự trong sáng và với cả tấm lòng, để các ngài được hạnh phúc, bởi có thể hạnh phúc trong hy sinh và trong vất vả.

Hạnh phúc không mâu thuẫn với đau khổ. Chúa Giêsu trên thập giá không phải là không hạnh phúc. Ngài đau đớn khủng khiếp, nhưng Ngài hạnh phúc, bởi vì Ngài biết rằng Ngài đang đau đớn vì tình yêu thương và rằng điều này có một ý nghĩa căn bản đối với việc cứu độ thế giới. Đó là một cử chỉ của lòng trung tín với Cha Ngài.

Zenit: Theo Đức Hồng y có vị thánh nào khác có thể là gương mẫu cho các linh mục ngày nay?

Hồng y Hummes: Chắc chắn, gương mẫu lớn vẫn luôn là Chúa Giêsu Kitô, Mục tử nhân lành. Còn các tông đồ, trên hết là thánh Phaolô. Chúng ta đã cử hành Năm thánh Phaolô. Chắc chắn ngài là dung mạo thực sự gây ấn tượng và có thể luôn luôn là một cảm hứng lớn đối với các linh mục, nhất là trong một xã hội vốn không còn là Kitô giáo. Ngài đã vượt quá ranh giới Israel để trở thành một tông đồ của dân ngoại, của lương dân. Trong một thế giới tự xem mình như xa lạ với mọi biểu hiện tôn giáo, gương của ngài quả là căn bản. Thánh Phaolô rất ý thức điều này: Chúa Giêsu đến để cứu độ, chứ không phải để kết án. Đây cũng chính là ý thức chúng ta phải có khi đối diện với thế giới ngày nay.

(Carmen Elena Villa thực hiện) NN. chuyển dịch

THÁNH GIOAN VIANNEY, linh mục, ngày 4/8
MỘT VỊ THÁNH VĨ ĐẠI

Người ta thường tưởng thánh Gioan Vianney là một vị thánh ít học, tầm thường, nhưng đó là sự lầm tưởng của con người và của những ai kém hiểu biết về Ngài. Đọc lại tiểu sử của Ngài, lần mở tủ sách của Ngài, người ta rất đỗi ngạc nhiên về cách làm việc, cách học hỏi và tìm hiểu của Ngài. Có những cuốn sách, Ngài đã đọc đi đọc lại nhiều lần đến nỗi có cả dấu tay của Ngài, Ngài đọc rất nhiều sách, nghiên cứu nhiều tác giả. Chính vì vậy, những lời nói, những lời giảng giải của Ngài rất có chất lượng, thâm sâu.

Thánh nhân sinh tại Dardilly thuộc địa phận Lyon nước Pháp. Ngài được diễm phúc sinh ra trong một gia đình nông dân đạo đức thánh thiện. Ngay từ còn nhỏ tuổi, Ngài đã tỏ ra rất thánh thiện, khiêm nhường. Vào lúc 8 tuổi vì gia đình nghèo, Ngài đã phải đi chăn chiên, chăn cừu, Ngài đã biết dậy các bạn cùng trang lứa quỳ cầu nguyện và lần hạt trước ảnh Đức Trinh Nữ Maria. Thánh nhân có tấm lòng quảng đại, thương người nghèo, Ngài đã tìm đủ mọi cách để giúp đỡ họ. Thánh nhân không được thông minh như người khác, nên Ngài đã gặp biết bao khó khăn trong việc tiến thân tới chức linh mục. Ngài không sờn lòng, không chán nản, Ngài chỉ biết cậy trông vào Chúa, cầu nguyện và chuyên chăm học hành. Ngài cố gắng học triết và thần học. Năm 1815, Ngài được trao sứ vụ linh mục. Năm 1818, Ngài được bổ nhiệm làm cha xứ họ Ars một giáo xứ nhỏ bé thuộc miền Dombes.

Tuy nhiên, Thiên Chúa luôn yêu thương những con người đơn sơ, bé mọn. Ngài yêu các môn đệ vì các môn đệ là những con người bé nhỏ, khiêm nhường, không mấy học thức, không mấy trổi trang. Thánh Gioan Vianney cũng thuộc vào hạng những con người nhỏ bé, hiền lành, khiêm nhượng. Thánh nhân đã rất cố gắng trong vai trò làm cha xứ coi sóc giáo dân. Ngài siêng năng dậy giáo lý, chuyên chăm đọc kinh nguyện, suy gẫm và lúc nào Ngài cũng sẵn sàng ngồi toà giải tội. Một con người bị các bạn đánh giá là kém cỏi, là ít học, đã mau chóng biến đổi giáo xứ Ars trở thành một giáo xứ mẫu thu hút mọi người trên thế giới và hằng năm đã thu hút biết bao con người kéo tới Ars. Mọi người tới Ars đều được đổi mới, đều được cải hoá nội tâm, họ tới đông đến nỗi tràn ngập đường phố và nhà thờ nhỏ bé của Ngài. Lúc nào Ngài cũng vui vẻ tiếp đón con chiên từ khắp nơi đổ về Ars, Ngài luôn hy sinh ngồi tòa từ sáng đến tối, có khi tận tới khuya. Ngài mệt mỏi kiệt sức hơn là tuổi tác. Ngài làm việc không ngừng, đêm khuya Ngài nghiên cứu, dọn bài giảng, người ta không thể ngờ rằng Ngài chịu khó, chuyên cần nghiên cứu, tra cứu, đọc sách. Phải tìm về thư viện, tủ sách của Ngài, người ta mới khâm phục một linh mục chịu khó biết chừng nào, khi cả ngày đã phải dậy giáo lý, kinh nguyện và giải tội. Ngài được Chúa yêu thương cho Ngài thấu suốt tâm hồn của những con người đến với Ngài. Do đó, Ngài kiệt lực vì phục vụ. Ngày nay, khi trở về Ars, người ta sẽ ngạc nhiên chiêm ngưỡng một vị thánh: chiếc giường đơn sơ, đôi guốc gỗ mộc mạc, nhà thờ nhỏ bé, với bục giảng và toà cáo giải cũng hết sức khiêm tốn, giản dị, nhìn ngắm các trang bài giảng với những nét chữ nguệch ngoạc có khi còn sai lỗi chính tả để hiểu rõ con người giản dị, khiêm nhu của Ngài, nhưng Thiên Chúa lại dùng những con người nhỏ bé, khiêm hạ như thế để làm những công việc vĩ đại cho Ngài.

Thánh Gioan Vianney quả thực là vị thánh vĩ đại vì Thiên Chúa đã nâng Ngài lên như Thiên Chúa đã cất nhắc Đức Mẹ. "Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhượng”( Lc 1, 52 ).

Thánh Gioan Vianney ra đi về nhà Cha ngày 4/8/1859. Thiên Chúa đã thưởng công cho Ngài bằng vô số phép lạ kèm theo. Đức Giáo Hoàng Piô X nâng Ngài lên bậc chân phước. Năm 1925 nhân dịp năm thánh, Đức Thánh Cha Piô XII phong Ngài lên bậc hiển thánh và đặt ngài làm bổn mạng các cha xứ.

Lạy thánh Gioan Vianney xin cầu bầu cùng Chúa cho chúng con để tất cả chúng con luôn có lòng nhiệt thành phục vụ Chúa không quản gian nan, khó khăn.

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

MỘT LINH MỤC HIỆN ĐẠI: THOMAS MERTON

Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI chọn năm thứ 150 ngày Cha Thánh Xứ Ars qua đời để mở Năm Linh Mục cho toàn thể Giáo Hội. Nói đến gương mẫu thánh thiện và gương sáng mục vụ, không ai có thể qua mặt vị Thánh đầy khiêm nhu này. Ngài quả là quan thầy mọi linh mục, dù cuộc sống linh mục hiện nay đã ra khác xa so với cuộc sống linh mục tương đối êm ả của hậu bán thế kỷ 19.

Thật vậy, các linh mục ngày nay vừa phải đấu tranh quyết liệt với bản thân vừa phải lao mình vào nhiều trận tuyến khốc liệt ngoài đời, ngoài xã hội, thuộc đủ mọi lãnh vực. Nói về các vị, không đơn giản như trước nữa. Một khuôn mặt linh mục có thể cho thấy cái tính phức tạp ấy hẳn phải là Thomas Merton.

Thomas Merton (1) là một nhà văn Công Giáo Mỹ thế kỷ 20, một đan sĩ Trappist tại Đan Viện Getsemani thuộc bang Kentucky, một thi sĩ, một nhà tranh đấu xã hội và là một người nghiên cứu tôn giáo học so sánh. Xem thế đủ biết người Mỹ này phức tạp hơn người ta nghĩ.

Một người "vô đạo" chịu cầu nguyện

Thực ra, khởi thủy, Merton không phải là người Mỹ. Ông sinh tại Prades, Pháp, rửa tội trong Anh Giáo. Cha ông là Owen Merton, một họa sĩ người Tân Tây Lan, nhưng phần lớn sống tại Âu Châu và Mỹ. Mẹ ông là Ruth Jenkins, người Mỹ, theo đạo Quaker, và là một nghệ sĩ. Tháng 8 năm 1915, gia đình rời cư qua Mỹ. Mẹ chết lúc Thomas lên 6.

Năm 1925, hai cha con trở lại Pháp sống tại Saint-Antonin. Năm 1926, Thomas vào học nội trú tại Montauban, nơi Chúa Nhật nào cũng có Thánh Lễ Công Giáo, nhưng Thomas không bao giờ tham dự.

Năm 1928, hai cha con qua Luân Đôn sinh sống. Thomas được gửi học tại trường nội trú Ripley Court School, nơi Chúa Nhật nào cũng có giờ phụng vụ của Anh Giáo mà các học sinh buộc phải tham dự. Nhờ thế, Thomas bắt đầu biết cầu nguyện thường xuyên. Tuy nhiên, sau khi rời trường này, ông đã bỏ thói quen tốt lành ấy.

Cha ông qua đời năm 1931, ông được vị y sĩ của cha và là bạn học của cha từ ngày còn ở Tân Tây Lan, là Tom Bennett, nhận giám hộ. Năm 1933, trước khi vào học tại Clare College, Cambridge, ông qua Rome du lịch, một cuộc du lịch sẽ thay đổi hướng đi của đời ông. Ông cho biết trước đây, với nhãn quan của một người Anglo-Saxon, Rome chỉ có nghĩa là tàn tích lịch sử xấu xí, những ngọn đồi và khu ổ chuột. Nhưng sau khi đi thăm các địa điểm lịch sử của Rome, ông bỗng thấy mình bắt đầu thích lui tới các thánh đường, chính ông cũng không hiểu tại sao. Tại một thánh đường kia, ông bị thu hút bởi một ảnh ghép hình Chúa Giêsu Kitô. Bức hình như dán vào mắt ông và ở lại mãi trong tâm trí ông. Ông bắt đầu nhìn ra một Rome khác hẳn: một Rome của Kitô Giáo Byzantine.

Ông mua một cuốn Thánh Kinh Phổ Thông (Vulgate) bằng tiếng La Tinh và ngấu nghiến hết phần Tân Ước. Một ngày kia, tại ngay nhà trọ, ông có cảm nghiệm như cha ông đang hiện diện với ông trong ít phút. Cảm nghiệm lạ lùng ấy khiến ông thấy ra sự trống rỗng của đời mình và lần đầu tiên trong đời, ông thực sự cầu nguyện và sau khi đi thăm một tu viện Trappist ở Rome, ông tự nhủ: mình phải trở thành một đan sĩ dòng Trappist, dù chưa gia nhập Giáo Hội Công Giáo.

Năm 1933, bỏ Rome, Thomas đáp tầu từ Ý qua Mỹ thăm ông bà ngoại trước khi trở lại Luân Đôn. Thoạt đầu, ông còn lưu giữ được một chút tinh thần như lúc còn ở Rome, tiếp tục đọc Bản Thánh Kinh Phổ Thông bằng tiếng La Tinh, và muốn đi nhà thờ. Tuy nhiên, ông vẫn còn nhiều nghi ngại đối với Đạo Công Giáo, nên ông thử tới một nhà thờ Episcopal rồi một nhà thờ Quaker, nhưng không thoải mái với các nhóm tôn giáo này.

Rồi sau đó, bị cuộc sống xô bồ của Nữu Ước lôi kéo. Đến giữa mùa hè năm đó, Thomas Merton mất hết thích thú đối với các tôn giáo có tổ chức. Cuối mùa hè này, ông trở lại Luân Đôn học tại Clare College thuộc Đại Học Cambridge, lúc 18 tuổi. Cũng chính ở đây, ông trở thành cô độc, bắt đầu say sưa, nhậu nhiều hơn học và sống khá buông thả về tình dục. Có người tin rằng ông đã có một đứa con rơi trong thời gian ở Cambridge và được Tom Bennett bí mật dàn xếp về phương diện tố tụng. Và cũng chính vì thế, Bennett buộc Thomas phải qua Mỹ sống với ông bà ngoại.

Tháng Giêng năm 1935, Thomas Merton ghi danh học năm thứ hai (sophomore) tại Đại Học Columbia ở Manhattan. Những năm ở đây giúp Merton trưởng thành và ông khám phá ra Đạo Công Giáo một cách đúng nghĩa. Ở đây, ông cũng chú ý tới chủ nghĩa cộng sản và từng tham gia Liên Đoàn Thanh Niên Cộng Sản; nhưng ông chỉ dự một buổi sinh hoạt duy nhất, sau đó bỏ luôn. Merton cũng tham gia các phong trào hòa bình tại địa phương, với chủ trương không ủng hộ bất cứ chính phủ nào tham chiến, và từng tham dự biểu tình ngồi tại Casa Italiana để phản đối việc Ý xâm lăng Ethiopia.

Tháng Hai năm 1937, nhờ đọc cuốn Tinh Thần Triết Học Trung Cổ của Etienne Gilson, Merton khám phá ra một lối giải thích về Thiên Chúa được ông coi vừa hợp luận lý vừa có tính thực tiễn. Ông mua cuốn này một phần vì lúc đó ông đang tham dự một lớp học về văn chương Pháp thời Trung Cổ, chứ không lưu ý tới hàng chữ “nihil obstat” (2) trong cuốn sách nói lên gốc gác Công Giáo của nó. Cuốn sách này hết sức chủ yếu trong việc dọn đường cho ông gặp gỡ Đạo Công Giáo. Ông cũng bắt đầu đọc cuốn Mục Đích Và Phương Tiện (3) của Aldous Huxley, một tác giả đã dẫn Merton vào huyền nhiệm học.

Năm 1938, Merton tốt nghiệp cử nhân Anh Văn tại ĐH Columbia. Ông quyết định tiếp tục học cao học tại trường này. Tháng Sáu năm ấy, ông được một người bạn giới thiệu gặp một tu sĩ Ấn Giáo, Mahanambrata Brahmachari, từ ĐH Chicago tới thăm. Ông rất cảm phục vị tu sĩ này, tưởng ông ta sẽ thuyết phục mình đi theo tôn giáo của ông ta, nhưng không ngờ, ông ta lại khuyên Merton nên khai thác chính truyền thống tôn giáo của mình, bằng cách đọc “Tự Thú” của Thánh Augustinô và Sách “Gương Phúc” của Thomas á Kempis. Nhờ đọc hai tác phẩm này, Merton bắt đầu cầu nguyện lại một cách thường xuyên. Và cũng từ đó, ông bắt đầu coi Đạo Công Giáo như một điều gì đó cần phải khám phá. Cuối cùng, vào tháng Tám năm đó, ông quyết định tham dự Thánh Lễ và tới Nhà Thờ Corpus Christi ở Nữu Ước, gần khuôn viên ĐH Columbia. Thánh Lễ xa lạ đối với ông nhưng ông lắng nghe một cách chăm chú. Cùng với cảm nghiệm này, danh mục các sách ông đọc càng ngày càng thiên về Công Giáo hơn.

Trở lại Công Giáo và ý định đi tu làm linh mục

Một buổi chiều tháng Chín, đang khi đọc một cuốn sách về việc Gerard Manley Hopkins (4) trở lại Đạo Công Giáo và sau đó làm linh mục, ông bỗng tha thiết muốn đi theo cùng một con đường như nhân vật kỳ diệu này. Ông mặc vội quần áo, lập tức tiến về phía nhà thờ Corpus Christi, gặp Cha George Barry Ford để xin gia nhập Giáo Hội. Ngày 16 tháng Mười Một năm 1938, Thomas Merton được rửa tội và rước lễ tại nhà thờ Corpus Christi.

Đầu năm 1939, ông tốt nghiệp M.A. tại Đ.H Columbia và quyết định ở lại trường để lấy Ph.D. Cũng thời gian này, ông theo một giảng khóa về Thánh Tôma Aquinô do Daniel Walsh giảng dậy và qua vị giáo sư này, ông làm quen với Jacques Maritain (5) và dự khóa giảng của triết gia này về Công Giáo Tiến Hành tại Câu Lạc Bộ Sách Công Giáo. Có điều lạ là Walsh lại thuyết phục được Merton tin rằng chủ thuyết Tôma không thích hợp với Merton.

Tháng Mười năm đó, nhân một đêm sinh hoạt tại câu lạc bộ nhạc Jazz, Merton cho bạn bè biết ý định làm linh mục của mình. Sau đêm đó, ông tìm gặp cha Ford tại nhà thờ Corpus Christi. Vị linh mục này khuyên ông nên làm linh mục triều, chứ dòng tu không thích hợp. Trái lại Walsh thì nghĩ khác. Theo ông, Merton nên làm linh mục dòng. Nhưng Dòng nào, Dòng Tên, Dòng Xitô hay dòng Phanxicô? Cảm tình đối với Thánh Phanxicô Assisi khiến Merton nghĩ tới Dòng Phanxicô trước nhất. Vị đại diện Dòng Phanxicô sẵn sàng chào đón ông, nhưng sau khi được ông thổ lộ hết ‘khúc nhôi’ dĩ vãng, đã cho rằng ông không thích hợp với ơn gọi của Dòng này.

Tuy vậy, sau đó ông đã nhận một chân dạy tại Đại Học Thánh Bonaventura vốn do Dòng Phanxicô điều khiển. Sở dĩ ông chọn ĐH này là vì ông vẫn muốn trở thành tu sĩ của Dòng này. Tháng Chín năm 1940, ông dọn vào ngụ tại ký túc xá của trường. Dù thời gian ngụ ở đây khá ngắn, nhưng đó là thời gian chủ yếu, giúp cuộc sống thiêng liêng của ông nở rộ, càng ngày càng đi sâu hơn vào cuộc đời cầu nguyện. Ông hoàn toàn từ bỏ uống rượu, hút thuốc lá, đi coi hát bóng và càng ngày càng chọn lựa cẩn thận các tài liệu để đọc. Theo một cách nào đó, ông quả đã từ khước hết mọi lạc thú trần đời. Tháng Tư năm 1941, ông dự tĩnh tâm Tuần Thánh tại Đan Viện Đức Bà Gethsemani gần Bardstown, Kentucky. Ngay tức khắc, ông thấy mình hoàn toàn bị nơi này cuốn hút, thấy tinh thần của mình lên cao hẳn.

Không biết nên chọn con đường tu trì nào, ông bèn nghĩ ra cách như người Việt Nam ta thường bói Kiều: nhưng thay vì Đoạn Trường Tân Thanh của Nguyễn Du, ông dùng cuốn Thánh Kinh Vulgate đã mua từ Ý năm 1933 làm ‘sách bói’. Đến lần thử thứ hai, ngón tay ông đụng vào câu của Phúc Âm Luca “Này, ngươi nên giữ im lặng”. Ông hiểu đó là ‘điềm’ Chúa muốn ông nhập Dòng Xitô.

Tuy thế, ông vẫn chưa có quyết định dứt khoát. Tháng Tám năm 1941, ông tham gia Nhà Thân Hữu của Catherine de Hueck ở Harlem, chuyên lo cho người nghèo và bị rẫy bỏ của khu Da Đen này. Ông hết sức ngỡ ngàng thấy cảnh sống của họ. Cảm nghiệm này gây tác động lớn đối với ông khiến ông sau này hay nhắc đến nó trong các trước tác của mình. Nhưng mặc dù được Hueck mời làm hội viên toàn thời gian của Nhà Thân Hữu, ông từ chối, với lý do bị lôi cuốn vào giấc mơ làm linh mục nhiều hơn.

Nhập Dòng Khổ Tu

Ngày 10 tháng Mười Hai năm 1941, Merton trở lại Đan Viện Gethsemani và ở đó ba ngày tại nhà khách của Đan Viện, chờ được nhận vào Dòng. Vị trông coi tập sinh sẽ ra phỏng vấn Merton xem ông có đủ thành thật và điều kiện hay không. Trong khi chờ đợi, Merton được phân công đánh bóng sàn nhà và lau chùi chen dĩa. Ngày 13 tháng Mười Hai, ông được Viện Phụ là Dom Frederic Dunne nhận làm thỉnh sinh (postulant) của Dòng. Mấy ngày đầu không được xuông xẻ lắm vì lúc còn ở nhà khách, ông bị cảm cúm do việc ngồi ngay ở cửa sổ mở toang để chứng tỏ lòng thành thật của mình. Nhưng sau đó, ông đã hiến mình hoàn toàn để thích ứng với lối sống nhiệm nhặt, rất vui với việc thay đổi hẳn lối sống. Trong mấy tuần đầu, ông buộc phải học ngôn ngữ dấu hiệu rất phức tạp của Dòng Xitô cũng như công việc và thói quen cầu nguyện hàng ngày.

Tháng Ba năm 1942, ông được chính thức nhận là đan sĩ tập viên của Dòng. Tháng Bẩy năm đó, Merton hết sức hân hoan khi em trai John Paul tỏ ý muốn trở lại Đạo Công Giáo và đã được rửa tội sau đó mấy ngày, trước khi lên đường nhập ngũ. Đó là lần cuối cùng hai anh em gặp nhau, vì John Paul tử trận ngày 17 tháng Tư năm 1943 khi máy bay của anh bị hỏng máy lúc đang bay trên Vịnh Anh Quốc. Ông có làm một bài thơ tặng em đăng ở cuối cuốn tự truyện The Seven Storey Mountain (6).

Nhà Văn

Merton viết nhật ký suốt thời gian ở Đan Viện Gethsemani. Thoạt đầu, ông thấy việc viết lách như không thích hợp với ơn kêu gọi của mình, lo lắng nó có thể khích lệ khuynh hướng tôn thờ cá nhân. Rất may, viện phụ Frederic nhận ra khả năng trí thức và năng khiếu viết văn của ông. Nên năm 1943, ông được trao nhiệm vụ phiên dịch các bản văn thánh cũng như viết tiểu sử các vị thánh cho đan viện. Ông hăng say thi hành nhiệm vụ này cũng giống như lúc làm việc tại nông trại của đan viện.

Ngày 19 tháng Ba năm 1944, ông được khấn tạm và chính thức được mặc áo dòng. Tháng Mười Một năm đó, cuốn thơ đầu tiên của ông được nhà New Directions xuất bản tựa là Ba Mươi Bài Thơ (7). Merton có cảm xúc lẫn lộn về việc xuất bản này, nhưng Dom Frederick vẫn cương quyết để Merton tiếp tục viết. Năm 1946, nhà New Directions in cuốn thơ thứ hai của Merton tựa là Một Người Trong Biển Phân Chia (8) được nhiều người hoan nghênh. Cùng năm đó, bản thảo cuốn tự truyện The Seven Storey Mountain được nhà Harcourt Brace & Company chấp nhận để xuất bản. Cuốn tự truyện này được viết tại Thư Phòng của đan viện trong hai giờ rảnh mỗi ngày.

Qua năm 1947, Merton thấy mình thoải mái hơn trong vai trò nhà văn. Tháng Ba năm đó, ông khấn trọn đời trong Dòng, tức cam kết suốt đời sống tại đan viện. Ngày 4 tháng Bẩy, tập san Công Giáo Commonweal cho đăng một khảo luận của Merton tựa là Thi Ca và Cuộc Sống Chiêm Niệm (9).

Chịu chức linh mục

Năm 1948, cuốn tự truyện The Seven Storey Mountain được xuất bản và được các giới phê bình văn học ca ngợi, thư từ của người mộ điệu ồ ạt gửi tới ông. Ngày 3 tháng Tám năm đó, viện phụ Frederic qua đời, để lại thiêng tiếc rất lớn cho Merton. Rất may, tân viện phụ là Dom James Fox vẫn khuyến khích ông viết văn. Đến lúc này, ông đã nổi tiếng ở bên ngoài đan viện. Ngày 21 tháng Mười Hai năm đó, ông chịu chức phụ phó tế.

Ngày 5 tháng Giêng năm 1949, ông đáp xe lửa đi Louisville nạp đơn xin nhập quốc tịch Mỹ. Cũng trong năm này, ông cho xuất bản các cuốn Seeds of Contemplation, The Tears of Blind Lions, The Waters of Siloe (10), và ấn bản Anh cuốn The Seven Storey Mountain dưới tựa đề Elected Silence (11).

Ngày 19 tháng Ba, Merton chịu chức phó tế trong Dòng và ngày 26 tháng Năm, nhằm lễ Thăng Thiên, ông thụ phong linh mục và cử hành thánh lễ đầu tiên vào hôm sau. Nhân ngày kỷ niệm 100 năm của đan viện vào tháng Sáu, Merton viết cuốn Gethsemani Magnificat (12) để kỷ niệm. Qua tháng Mười Một, ông bắt đầu dạy các tập sinh tại Gethsemani về thần học huyền nhiệm, một việc được ông rất yêu thích. Trong mấy năm tiếp theo, ông liên tiếp cho xuất bản nhiều tác phẩm khác và số độc giả của ông lên rất cao. Ông sửa lại cuốn Seeds of Contemplation nhiều lần, cho rằng lần xuất bản trước có nhiều lầm lỗi và non vụng. Chỗ đứng của người ta trong xã hội, quan điểm về đấu tranh xã hội, và các cách tiếp cận khác nhau đối với việc cầu nguyện và lối sống chiêm niệm trở thành các chủ đề thường hằng trong các trước tác của ông.

Tới thập niên 1960, ông đạt được một cái nhìn nhân bản khá rộng rãi, một cái nhìn biết quan tâm sâu sắc đối với thế giới và các vấn đề như hòa bình, khoan dung chủng tộc, và bình đẳng xã hội. Ông khai triển được cả một chủ nghĩa cấp tiến có tính bản thân mang lại nhiều hệ luận chính trị quan trọng nhưng không dựa trên ý thức hệ, mà trên hết bắt rễ từ bất bạo động. Ông cho rằng quan điểm của ông dựa trên tính “đơn giản” và sự nhậy cảm Kitô Giáo.

Đến lúc chịu chức linh mục, Merton đã rất nổi tiếng ở bên ngoài đan viện, cuốn tự thuật The Seven Storey Mountain của ông đã bán tới 150,000 bản. Suốt các năm sống tại đan viện Gethsemani, Merton thay đổi từ một đan sĩ trẻ hết sức say mê với cuộc sống nội tâm qua một nhà văn và một thi sĩ có tính chiêm niệm. Ông nổi tiếng về các cuộc đối thoại với các niềm tin khác và quan điểm bất bạo động của ông trong những cuộc nổi loạn chủng tộc và Chiến Tranh Việt Nam của thập niên 1960. Cuối cùng, Merton đã đạt ước nguyện được sống cô tịch trong một căn nhà ẩn tu ngay trong Đan Viện vào năm 1965. Trong những năm ấy, ông từng vận động để các vị viện phụ chịu để ông tự do ra ngoài đan viện, đáp ứng phần nào danh tiếng quốc tế và số lượng thư từ khổng lồ từ rất nhiều nhân vật nổi tiếng thời ấy. Cuối cùng, vị đan viện mới là Rev. Flavian Burns đã cho phép ông qua thăm Á Châu vào cuối năm 1968. Trong cuộc du hành này, ông đã gặp Đức Dalai Lama tại Ấn Độ. Ông cũng tới thăm Polonnaruwa, thuộc Tích Lan, nay là Sri Lanka. Tại đây, ông có một cảm nghiệm tôn giáo mạnh khi ngắm nhìn tượng Phật Thích Ca ở đó.

Cuộc sống bản thân

Theo cuốn The Seven Storey Mountain, lúc còn thanh niên, Merton rất thích nhạc jazz, nhưng khi bắt đầu đi dạy, ông đã bỏ cả chỉ nghe nhạc êm dịu mà thôi. Tuy nhiên sau này, bất cứ lúc nào được rời đan viện vì lý do sức khỏe hay lo việc cho đan viện, ông đều tìm dịp nghe nhạc jazz sống, cho bằng thích, đặc biệt ở Louisville và Nữu Ước.

Tháng Tư năm 1966, Merton phải giải phẫu để trị chứng đau lưng bất trị. Trong khi nằm dưỡng bệnh tại Bệnh Viện Louisville, ông si tình một nữ sinh viên y tá được chỉ định chăm sóc ông. Ông viết nhiều bài thơ tặng nàng và từng suy tư về mối liên hệ này trong “Nhật Ký Giữa Hè Cho M.” (13). Merton cố gắng duy trì các lời khấn của mình dù rất yêu người thiếu nữ này mà ông chỉ gọi tắt là “M”. Có thể đây là một thứ khủng hoảng nửa đời người của một tu sĩ tài hoa. Tuy nhiên, ông giữ được lời khấn độc thân, chưa bao giờ hoàn hợp mối liên hệ kia. Sau khi chấm dứt mối liên hệ ấy, ông lại tiếp tục cam kết sống các lời khấn của mình.

Buồn thay, chính trong cuộc du hành Á Châu trên, ông đã qua đời đột ngột tại Thái Lan, lúc đang tham dự cuộc hội thảo liên tôn tại đó, do vô tình đụng vào chiếc quạt máy bị mát điện. Xác ông được đưa về đan viện Gethsemani và được an táng ở đấy.

Tiếp xúc với Phật Giáo

Lần đầu tiên Merton biết đến và quan tâm tới các tôn giáo Đông Phương là lúc đọc cuốn Mục Đích Và Phương Tiện của Aldous Huxley vào năm 1937, một năm trước khi ông trở lại Đạo Công Giáo. Từ đó, song song với việc nghiên cứu khoa bảng và cuộc sống đan viện, ông tìm tòi về Phật Giáo, Lão Giáo và Ấn Giáo.

Ông không chú trọng tới học thuyết cũng như định chế của các tôn giáo này, mà chỉ quan tâm tới những điều họ nói về kinh nghiệm nhân bản. Điều ấy không hẳn có nghĩa các tôn giáo này không có những nghi lễ và thực hành có giá trị đối với ông cũng như các Kitô hữu khác, nhưng chỉ có nghĩa: về phương diện học thuyết, Merton hoàn toàn gắn bó với Kitô Giáo và đàng khác, ông cho rằng các tín hữu của các tôn giáo kia cũng gắn bó với các học thuyết riêng của họ đến nỗi bất cứ cuộc tranh luận nào về học thuyết cũng đều vô ích đối với mọi người liên hệ.

Ông tin rằng Kitô Giáo phần lớn đã đánh mất truyền thống huyền nhiệm của mình để tiếp nhận quan điểm của Descartes về việc “vật thể hóa ý niệm (14), ngẫu tượng hóa ý thức suy tư, trốn chạy hữu thể mà đi vào duy ngữ (15), toán học và thuần lý hóa”. Đối với Merton, các truyền thống Đông Phương hầu như không bị ố tạp bởi thứ suy tư ấy và do đó có nhiều điều để hiến tặng ta về phương diện phải suy tư và hiểu về mình ra sao.

Tuy nhiên, ông quan tâm và viết nhiều nhất về Thiền. Vốn nghiên cứu nhiều về các Giáo Phụ Sa Mạc cũng như các nhà huyền nhiệm Kitô Giáo khác, Merton hiểu rất rõ điều các vị này từng tìm kiếm và cảm nghiệm được. Ông thấy nhiều điểm song hành giữa ngôn ngữ của các nhà huyền nhiệm Kitô Giáo này và ngôn ngữ của triết lý Thiền học.

Năm 1959, Merton bắt đầu một cuộc đàm luận với D.T. Suzuki. Cuộc đàm luận này sau đó đã được in trong cuốn Zen and the Birds of Appetite (16) của Merton với tựa là “Wisdom in Emptiness” (17). Cuộc đàm luận này xẩy ra sau khi Merton đã hoàn tất cuốn The Wisdom of the Desert (18). Merton gửi một bản cho ông Suzuki, hy vọng ông ta sẽ nhận định về quan điểm của Merton cho rằng Các Giáo Phụ Sa Mạc và các thiền sư đều có những cảm nghiệm tương tự như nhau. Gần mười năm sau khi cho xuất bản cuốn Zen and the Birds of Appetite, Merton đã viết ở lời bạt rằng “bất cứ cố gắng nhằm xử lý Thiền bằng ngôn ngữ thần học nào đều sẽ chẳng đi đến đâu”. Ông thấy khó có thể hòa giải giữa khuynh hướng Tây Phương và Kitô Giáo lúc nào cũng muốn lên danh mục và phát biểu ra lời mọi cảm nghiệm bằng các ý niệm của nền thần học phủ định (19) và bản chất không thể diễn tả bằng lời của kinh nghiệm Thiền.

Đối với Merton, cần phải phân biệt một đàng là Phật Giáo Thiền Tông, một phát biểu của lịch sử và văn hóa, và Thiền. Theo ông, Phật Giáo Thiền Tông là một tôn giáo phát nguyên từ Trung Hoa và phát triển qua Nhật, với nhiều nghi lễ và định chế đi kèm. Thiền, trái lại, không bị cột vào một nền văn hóa, một tôn giáo hay một tín ngưỡng nào. Các trước tác sau này của Merton chịu ảnh hưởng của cái Thiền sau, một nền Thiền học không hẳn của Phật Giáo nhưng sẽ mang nhiều âm hưởng từ việc đào tạo đan viện trong truyền thống Kitô Giáo.

Merton để lại ít nhất cũng hơn 70 tác phẩm, chưa kể rất nhiều thư từ liên lạc. Cho đến nay các sách và bài vở viết về ông có đến hàng trăm, đủ cho thấy ảnh hưởng của ông sâu rộng ra sao. Từ ngày ông qua đời, ảnh hưởng ấy càng lớn mạnh hơn và ông được mọi người nhìn nhận là một nhà huyền nhiệm và tư tưởng Công Giáo quan trọng của thế kỷ 20. Việc lưu ý tới các công trình của ông đã góp phần vào việc gia tăng sự tìm kiếm tâm linh bắt đầu từ hai thập niên 1960 và 1970 tại Hoa Kỳ. Các thư từ và nhật ký của ông cho thấy lòng say mê cao độ của ông đối với các vấn đề công bằng xã hội, gồm cả các phong trào dân quyền và việc phổ biến vũ khí nguyên tử. Thêm vào đó, các trước tác của ông cũng gây nên phong trào học hỏi tư tưởng, thực hành Công Giáo và ơn gọi vào Dòng Xi Tô.

Để ghi nhận sự gần gũi giữa Merton và Đại Học Bellarmine ở Louisville, Kentucky, trường này đã cho thiết lập một địa điểm lưu giữ chính thức các văn khố về Merton tại Trung Tâm Thomas Merton. Paul Pearson, giám đốc trung tâm này, cho hay: yếu tính nền linh đạo của Merton là tính người của nó. Ông thực sự có khả năng nói với người thông thường. Không có gì mới lạ trong đó cả. Ông chỉ diễn tả các nhà cổ điển vĩ đại của nền linh đạo Kitô Giáo bằng một ngôn ngữ mà người bình dân có thể hiểu được và sống được. Pearson cho đó là một đóng góp lớn vì vào hai thập niên 1940 và 1950, nền linh đạo ấy chưa được một người bình dân nào nghe nói tới cả. Nó chỉ thuộc phạm vi của các tu sĩ, linh mục và giám mục. Người giáo dân thường thì lần chuỗi môi khôi ngay trong thánh lễ

Cũng theo Pearson, thoạt đầu xem ra Merton muốn quay lưng với thế giới tội lỗi ở bên ngoài đan viện. Nhưng càng sống kinh nghiệm đan viện, và sau sự thành công của cuốn tự truyện Núi Bẩy Tầng và rất nhiều thư từ nhận được sau đó cũng như việc giao tiếp với giới trẻ mà ông giảng dạy ngay bên trong đan viện khiến ông nghĩ rằng ông không thể để thế giới lại phía sau cổng đan viện, mà thực sự ông vào đan viện là vì chính cái thế giới ấy. Thế là nền linh đạo của ông thay đổi để bao hàm cả việc phải đối đầu với các vấn đề đang được mọi người trong thế giới quan tâm. Pearson gọi đó là nền linh đạo biết phối hợp cả chiêm niệm lẫn hành động. Các vấn đề ấy gồm: chiến tranh lạnh, thi đua vũ khí hạch nhân, chiến tranh và hòa bình, bất bạo động, rồi chiến tranh Việt Nam, dân quyền, nữ quyền, lạm dụng kỹ thuật, hiệu quả của truyền thông, sinh thái. Ông là người đầu tiên cho duyệt lại cuốn Silent Spring của Rachel Carson (20) và còn cho đọc nó tại phòng cơm đan viện, cũng như khuyên các đan sĩ phải lưu tâm đến vấn đề tái sinh rừng ngay trong đan viện.

Nhưng theo Pearson, khi quyết định không đơn thuần chỉ viết về linh đạo, Merton đã gây ra nhiều tranh cãi. Người ta vẫn chỉ muốn ông viết về linh đạo. Vì một đan sĩ, sống sau bốn bức tường đan viện, phỏng biết được bao nhiều về những chuyện ở đời, nhất là “đời” lúc ấy lại đang do một tổng thống Công Giáo đầu tiên cai trị. Chỉ trích chính phủ và Giáo Hội lúc ấy xem ra không hợp thời.

Nhận định về các tìm tòi đối với nền đan viện Đông Phương của Merton, Pearson cho rằng đó cũng là một đóng góp lớn, vào một thời điểm (thập niên 1960), ít người làm thế. Trước đó, trong thập niên 1950, Merton từng đã bắt đầu làm việc với các sinh viên thuộc các giáo phái khác như các chủng sinh của giáo phái Luthêrô tại Louisville hay các chủng sinh Baptist. Họ tới gặp để đối thoại với Merton và các đan sĩ khác của đan viện Gethsemani. Điều ấy không xẩy ra nhiều trước Vatican II. Sau đó, ông mở rộng, trước bằng thư từ, sau bằng tiếp xúc trực tiếp với người thuộc các tôn giáo khác, còn mời họ nói truyện với các tập sinh của đan viện và cả đan viện nữa.

Một số người, trong đó, có nhiều vị giáo phẩm, coi Merton như một thứ Tân Đại (New Age) nhợt nhạt. Tuy nhiên, theo Pearson, Merton quả đi trước cả thời gian, nhưng lại luôn bám trụ vào thánh truyền, nhất là các giáo phụ sa mạc, những người tuy ‘xa lánh’ thế gian, nhưng vua chúa thế gian vẫn lui tới vấn kiến.

Thầy Paul Quenon của Đan Viện Gethsemai, từng được “Cha Louis”, tên quen thuộc của Merton trong đan viện, linh hướng, cho hay: đối với Merton cầu nguyện cũng giống như cuộc vật lộn của Giacóp với Thiên Chúa. Khi ta gặp gỡ Thiên Chúa, Người không phải là một sự vật. Như thế có thể nói Thiên Chúa giống như không là gì cả. Và do đó, khi bạn buớc vào cầu nguyện sâu sắc, là bạn bước vào cõi không (nothingness). Theo thầy, điều ấy là chủ yếu trong nền linh đạo của Merton. Nghe như có cung giọng Thiền rõ rệt.

Tuy nhiên sau đó, thầy Quenon nhấn mạnh rằng tìm kiếm Thiên Chúa trong cô tịch chính là cốt lõi nền linh đạo của Merton và cũng là cốt lõi thẳm sâu của bản ngã ta. Merton cho hay chiêm niệm là trả lời một mời gọi, một mời gọi của Đấng không có tiếng nói nhưng lại nói trong mọi sự, nhất là trong thẳm sâu hữu thể ta. Do đó, theo Merton, có một mầu nhiệm về bản ngã, một mầu nhiệm giống như mầu nhiệm về Thiên Chúa. Cả hai đều là một mầu nhiệm duy nhất đối với ta. Chính trong diễn trình biết mình, ta biết được Thiên Chúa, hay đúng hơn, đạt được sự hiểu biết Thiên Chúa một cách trực tiếp là cách duy nhất ta biết được chính mình.

Không đề cập nhiều tới các trước tác không phải là linh đạo, thầy Quenon cho rằng Merton đã gây tác động tích cực lên lối sống đan viện. “Chúng tôi đã có được một tầm nhìn rộng lớn hơn về cuộc đời […]. Chúng tôi biết đánh giá tốt hơn nhiều ơn gọi khác nhau của cuộc sống đan viện. Chúng tôi đã khai triển được việc biết đánh giá cuộc sống đơn tu của nhà ẩn tu cũng như biết đánh giá các thách đố trí thức gặp thấy trong cuộc sống đơn tu, những thách đố mà trước đây các đan sĩ vốn bị coi là không nên ước ao. Nhưng rõ ràng Merton là một điển hình cho thấy điều người ta có thể làm trong bối cảnh đời sống đơn tu”.

Thầy cũng cho rằng cả các cố gắng trong việc bắt tay với các tôn giáo Đông Phương của Merton cũng là một điển hình cho cuộc sống đơn tu. Các đan sĩ tại Gethsemai đã tìm thấy một thứ tình họ hàng với các tu sĩ Phật Giáo. Họ tới đây từng nhóm nhỏ trong nhiều dịp khác nhau, cả Matthieu Ricard cũng tới đây, ông ta vốn làm việc với Đức Dalai Lama trong 17 năm nay. Theo thầy, các đan sĩ biết đánh giá phổ quát tính tốt hơn trước rất nhiều.

Viết về chức linh mục

Xem như thế, cuộc hiện sinh của một linh mục thời hiện đại đa dạng và nhiều khía cạnh phức tạp hơn trước nhiều lắm. Nhu cầu mục vụ càng ngày càng mang tới nhiều mẫu sống linh mục hết sức độc đáo và nhiều rủi ro. Điều ấy càng khiến Giáo Hội quan tâm nhiều hơn tới hàng ngũ linh mục, những người luôn ở hàng tiền đạo của mình. Sứ mệnh của Giáo Hội tùy thuộc phần lớn vào hàng ngũ này. Cầu nguyện cho hàng linh mục vì thế phải là hình thức hỗ trợ cần thiết nhất và cũng hữu hiệu nhất trong thời đại này.

Thomas Merton không phải chỉ chứng tỏ tính phức tạp và đầy thách đố của cuộc sống linh mục bằng chính cuộc sống mình, mà ông còn dùng ngòi bút trực tiếp nói lên các khía cạnh đó. Chúng tôi tạm trích 4 đoạn nhật ký của ông (21) viết vào bốn thời điểm khác nhau về chủ đề vừa nói:

1. Thứ ba tuần thánh, 17 tháng Hai năm 1953:

“Nhìn lên tượng chịu nạn treo trên bức tường trắng tại Nhà Thờ Thánh Anna, bỗng nhiên tràn ngập cả cõi lòng khi nhận ra mình là một linh mục, ơn này được ban cho mình để mình biết Thánh Giá có nghĩa gì, và nhà thờ Thánh Anna là một phần hết sức đặc biệt đối với ơn gọi linh mục của mình: sự im lặng của nó, các bụi cây, ánh sáng mặt trời, bóng tối, hình Chúa Giêsu, hình Đức Bà Cobre và thiên thần bé nhỏ trong tranh thiên đàng của Fra Angelico. Thế là mình đang là một linh mục với thế giới làm giáo xứ. Hay đó là một cơn cám dỗ, khi chỉ cần nghĩ như thế? Có lẽ mình không cần nhớ tới tính hoa trái tông đồ của sự im lặng này. Mình chỉ cần không là gì cả và sẵn sàng chờ đợi sự mạc khải của Chúa Kitô: bình an, khó nghèo và im lặng nơi một thế giới, trong đó mầu nhiệm sự ác cũng đang hành động và là nơi không còn sự mạc khải nào khác. Không, tại nhà thờ Thánh Anna, có sự bình an đến độ chắc chắn nó trở thành trung tâm của một trận chiến thiêng liêng đang được chiến đấu trong im lặng. Tôi, kẻ đang ngồi đây, đang cầu nguyện, đang suy tư và đang sống, tôi quả không là gì cả, và cũng không cần phải biết điều gì đang xẩy ra. Tôi chỉ cần hy vọng vào Chúa Kitô để nghe được tiếng chuông vọng sâu thật lớn đang bắt đầu rung lên và gửi âm vang thánh của nó tới tôi qua hàng bách tùng bé nhỏ”.

2. Ngày 19 tháng Giêng năm 1961:

“Cần phải thoát khỏi mọi can dự - đối với mọi phía. Cần cố gắng giữ thanh tĩnh mà mình vốn có nhiệm vụ rao giảng: không phải như một thứ xa xỉ mà như một điều cần thiết. Trong mấy năm qua, mình đã thay đổi không biết bao nhiêu ý niệm về vấn đề này. Không còn phải là vấn đề ‘thánh hóa’ nữa nhưng chỉ là chuyện sống còn, sống còn trong toàn vẹn tính mà Thiên Chúa đã ban cho mình.

Cần biết lúc nào, cách nào và với ai để nói chữ ‘không’. Nhiều rắc rối và khó khăn lắm ạ. Đừng có muốn làm ai thương tổn, chắc hẳn rồi, nhưng cũng đừng quá lo lắng làm vui lòng họ.

Người ta không ngừng tìm cách lợi dụng bạn trong việc giúp họ tạo ra một ảo tưởng để họ sống. Nhất là các ảo tưởng tập thể hết sức đa dạng. Vì lầm lỗi của chính tôi, tôi đã trở nên thành phần của quá nhiều ảo tưởng tập thể, tôi đã muốn trở nên như thế.

Trong lãnh vực yêu thương, cần có sự phân biệt. Tôi từng thoả mãn khi được nhiều người ‘nghĩ tốt’ về mình và mình nghĩ tốt về họ. Một thứ lòng tốt đầy ảo tưởng vốn giúp hết thẩy chúng ta cảm thấy an ổn.

Tôi phải hy sinh cái hào quang ảo tưởng của lòng tốt ấy và chỉ nên chú ý tới việc quan tâm chân chính đối với các cá nhân được Thiên Chúa dẫn tới với tôi mà thôi. Việc chăm sóc này là một can dự và là một can dự có tính sinh tử. Nhưng can dự ấy tốt và đúng, vì nó đặc thù, có tính bản thân. Nó không phải là một ‘phong trào’. Nó không tản mạn, mù xương, hao tốn, phi lý.

Vấn đề viết lách: nhất định là phải cắt giảm hoặc thay đổi.

Có người tố cáo tôi muốn làm ‘linh mục thượng phẩm’ của óc sáng tạo. Hoặc ít ra cũng để cho người ta coi tôi như vậy. Việc ấy có lẽ đúng.

Tội là muốn làm linh mục thượng phẩm (pontiff), muốn được người ta nghe, muốn có người cải đạo, muốn có đồ đệ. Vì ở trong tu viện kín, tôi nghĩ tôi không muốn điều ấy. Nhưng dĩ nhiên, tôi muốn thế, và ai cũng biết vậy.

Sách Nguyện tối nay nói rằng Thánh William, lúc gần chết, đã gỡ bỏ hết phẩm phục giám mục (không thể tưởng tượng được việc tại sao ngài lại phải mặc thứ phẩm phục đó ở trên giường bệnh!) và đã ráng hết sức bước xuống sàn nhà để qua đời ở đấy.

Tôi cũng như ngài, đang đội mũ tế (mitre) trên giường. Tôi sẽ phải làm gì với nó đây?

Một điều tôi phải thoát khỏi là hình ảnh về người Công Giáo nổi tiếng ở nước này. Tôi không hề là thứ người Công Giáo ấy, và tại sao tôi lại nên đem lại cho những người ấy cái ý niệm tôi là người gợi hứng đối với họ? Tôi không gợi hứng cho ai hết. Các giáo sĩ từng chống đối tôi sẽ hiểu ra điều ấy. Giữa họ và tôi có cả một hố thẳm.

Đồng thời lại có thứ cám dỗ tinh tế hơn, cơn cám dỗ làm người Công Giáo tiên phong kiểu Pháp, muốn có liên hệ tốt đẹp với giai cấp vô sản cánh tả. Muốn trở nên một ‘thành phần của tương lai’. Nhưng đó chỉ là một thứ huyền thoại khác. Và ở nhiều phương diện, còn là một thứ huyền thoại tệ hơn nhiều. Cơn cám dỗ ấy có tính thực tiễn, vì có cơ hội thành công hơn nhiều.

Tôi phải giáp mặt với sự kiện này là ở trong tôi, hiện đang có sự thèm muốn được sống còn trong tư cách linh mục thượng phẩm, tiên tri, và nhà văn, và thèm muốn ấy cần bị từ bỏ trước khi tựu chung, tôi có thể là chính mình.

3. Ngày 23 tháng Mười năm 1961:

Có lẽ tôi đang ở khúc quanh trong cuộc sống thiêng liêng của mình: có lẽ đang từ từ tiến tới điểm chín mùi, giải quyết được các nghi ngại và quên đi mọi sợ sệt. Đang bước vào một trận chiến được biết đến và có tính dứt khoát. Xin Chúa gìn giữ tôi trong trận chiến đấu ấy. Tờ Catholic Worker (22) vừa phát hành một thông cáo báo chí về bài viết của tôi, một vài viết rất có thể gây ra nhiều phản ứng, mà cũng có thể chả có phản ứng nào. Dù sao, xem ra tôi là một trong số ít các linh mục tại nước này dám không mơ hồ dấn thân vào một cuộc đấu tranh hoàn toàn không khoan nhượng cho việc bãi bỏ chiến tranh, cho việc dùng các phương thế bất bạo động để giải quyết các tranh chấp quốc tế. Từ đó, nó hàm ý không những chống lại việc dùng bom, chống lại việc thử hạch nhân, chống lại các tầu ngầm Polaris, mà còn chống mọi hình thức bạo lực. Điều ấy, tôi nhất thiết phải giải thích đầy đủ khi có dịp. Hành động bất bạo động chứ không phải là đơn thuần thụ động. Nhưng làm thế nào để có thể kịp thời giải thích và bênh vực được một quan điểm dứt khoát khi, một bài báo ngắn cũng cần đến hai,ba tháng, mới có thể vượt qua được các nhà kiểm duyệt của Dòng. Đó là vấn đề tôi không dám đưa ra câu trả lời.

Tôi nghĩ: xét về một phương diện nào đó, quan điểm của Dòng thực ra không thực tế chút nào mà còn vô lý nữa. (Quan điểm ấy cho rằng) Vào thời điểm như hiện nay, hình như không một ai trong Dòng nên quan tâm một cách thực tiễn tới các thực tại của tình hình thế giới, các đan sĩ nói chung, ngay cả các đan sĩ Biển Đức có thể lên tiếng một cách trọn vẹn, cũng chỉ nên chuyên chăm tới các vấn đề có tính bác học liên quan tới các nhà văn trung cổ và những bản văn ít quan trọng hơn đối với các học giả, một quan điểm như thế ngay trong thời điểm có cuộc khủng hoảng tinh thần trầm trọng nhất trong lịch sử con người, theo tôi là điều không thể hiểu nổi. Nhất là chính sách dứt khoát của Dòng Xi Tô chính thức chặn đứng hay ngăn cản bất cứ phát biểu quan tâm nào, bất cứ ý kiến dưới hình thức viết nào nhắc đến cuộc khủng hoảng kia. Điều ấy đối với tôi hết sức nghiêm trọng. Cho nên nêu vấn đề và tìm cách giải quyết vấn đề ấy hiển nhiên là điều vô dụng. Tôi từng nói truyện với Cha Clément de Bourmont, thư ký của Cha Bề Trên Cả, về vấn đề trên, và xem ra như nói truyện với một bức tường. Hoàn toàn không có hiểu biết và thiếu thiện cảm. Chính Cha Bề Trên Cả lại hiểu biết hơn và Dom James có đôi chút nhìn ra vấn đề (một cách đầy ngạc nhiên, các ngài đã cho phép bài Original Child Bomb (23) được phép công bố sau khi bị các vị kiểm duyệt khác cấm cản).

Các tu sĩ Dòng Tên không những ủng hộ, mà còn khuyến khích nữa, việc ngồi tại hầm tránh đạn với súng máy cầm tay để đuổi người khác đi khỏi! Xem ra đấy mới là điều tốt nhất mà nền thần học Công Giáo có nhiệm vụ phải cung hiến cho đất nước này.

Ít nhất, tôi cũng cảm thấy mình vô tội chưa tuyên bố quan điểm nào mới thực sự là quan điểm Công Giáo. Không phải quan điểm coi tự vệ là không chính đáng, nhưng còn có những viễn tượng bao quát hơn thế mà ta có nhiệm vụ phải xem sét. Không thể giải quyết các vấn đề của ta dựa vào căn bản ‘mọi người vì chính mình’ và phải cứu lấy da thịt mình bằng cách giết chết ngay người đầu hết đe dọa đến da thịt ấy.

Tôi vui mừng thấy mình đã bước một bước ngoặt, có lẽ là bước ngoặt cuối cùng của đời mình. Cảm thức từ bỏ và niềm vui về nhà, lòng yêu thương dành cho các tập sinh, những người tôi thấy như đang ngụ cư trong ánh sáng và phúc lành của Thiên Chúa khi cùng nhau về nhà. Ý tưởng ấy không tiêu cực cũng không phá hoại chút nào: nó hoàn toàn thoả mãn. Bất cứ điều gì xẩy ra cho thế giới, điệu vũ hiển linh muôn mầu muôn vẻ của nó vẫn tiếp diễn, hay có lẽ đang kết cục được biến hình hay hoàn thiện vĩnh viễn.

4. Ngày 26 tháng Năm năm 1963:

Hôm nay kỷ niệm năm thứ 14 ngày tôi thụ phong linh mục.

Ước chi tôi có thể nói rằng chúng là 14 năm thoả mãn, trật tự và hòa nhập mỗi ngày một hơn. Chẳng may, sự việc không đúng như thế. Bề mặt, chúng là những năm tương đối hạnh phúc và nhiều năng xuất, nhưng nay mỗi ngày tôi mỗi hiểu rõ hơn cái sâu xa trong nỗi thất vọng và tính chung cuộc rõ ràng trong thất bại của mình. Chắc chắn tôi không thích hợp với cái khuôn ước lệ hay truyền thống. Có lẽ đó là điều tốt. Tôi không phải là một nhân vật của J.F. Powers (24). Ấy thế nhưng nỗi thất vọng thì vẫn vậy. (Tôi không biết liệu mình có phải là một nhân vật của George Bernanos hay không. Nhưng nhất định không phải là một nhân vật của Graham Greene) (25). Nhưng cái việc thất bại kia thì quả có đó và xét theo một phương diện nào đó, tôi thấy có lẽ nó vĩnh viễn. Như thể, phần nào đó, cuộc đời linh mục của tôi đáng buồn và vô ích, là một bại trận và thất bại trong cuộc sống đan sĩ. (Có lẽ thôi. Vì dù sao, tôi cũng làm sao biết được?)

Tôi có được cảm thức rất chân thực này là cuộc đời ấy chỉ là một thứ nói dối, một trò đố chữ. Với mọi cố gắng đầy lầm lỗi ngớ ngẩn của tôi để được thành thực, tôi thực sự đã không làm gì để thay đổi được tình huống trên.

Chắc chắn tôi không phải là mẫu mực của đức hạnh linh mục. Tuy hình như tôi không cố ý phạm tội trong các vấn đề nghiêm trọng, nghĩa là không phạm tội với đầy đủ ý thức. Nhưng quả có những thất bại liên tiếp, những thất bại không đếm xuể, giống như những lỗ thủng xuất hiện chằng chịt trên tấm áo cũ. Không gì có thể vá lại một cách hữu hiệu được. Những con mối đã gậm nhắm trọn bản thân tôi trong khi tôi mù mờ ráng bám lấy điều đối với tôi xem ra có giá trị, quan trọng hay cần thiết để sinh tồn.

Từng có một nỗi thất vọng choáng váng trong các cố gắng bán ý thức muốn duy trì căn tính của tôi, trong khi tôi bị sói mòn bởi tính vô dụng, cứ đổi mới hàng ngày, của một cuộc hiện sinh chỉ đạt năng xuất nửa vời.

Tôi không luôn luôn điều độ. Nếu ra phố và có ai đó mời uống, tôi khó mà cưỡng được việc uống ly thứ hai hay ngay cả ly thứ ba. Và có khi tôi còn đi quá cả cái trivium perfectum, ‘cái ly thứ ba hoàn hảo’. Một đan sĩ mà như thế sao?

Có lẽ sự yếu đuối chính là thiếu can đảm thực sự để có thể chống đỡ được các áp lực của cuộc sống đan sĩ và linh mục. Dù gì, tôi cũng đã mỏi mệt. Tôi rất dễ bị ngã lòng. Các cơn trầm cảm mỗi ngày một sâu xa thêm, mỗi ngày một thường có hơn. Tôi đã gần 50. Người ta nghĩ tôi hẳn phải hạnh phúc.

Thánh Lễ của tôi vào mỗi buổi sáng chắc chắn là niềm vui lớn, và tôi nghiêm chỉnh tham dự Thánh Lễ ấy. Trong nó, đôi lúc tôi thấy một ý nghĩa cao cả mà lại giản đơn, cao cả hơn điều tôi có thể hiểu. Nhưng đôi khi cũng có những giây phút âu lo căng thẳng không tài nào nói ra được.

Cuối cùng theo tôi, điều tôi loay hoay xưa nay là chống lại việc cưỡng đặt một hình thức linh mục có sẵn, một khuôn mẫu đơn tu có sẵn. Tôi ương ngạnh nhất định tránh cho bằng được việc bị hấp thụ (absorbed) hòan toàn vào chức linh mục, và tôi không rõ liệu đó có phải là hèn nhát hay chính trực. Hình như không có cách gì thực sự giúp tôi trả lời rõ được điều đó.

Vũ Văn An

THÁCH ĐỐ NHÂN BẢN TRONG CUỘC ĐỜI LINH MỤC

VietCatholic

Theo truyền thống, linh mục được định nghĩa là “Alter Christus,” tức là một Kitô thứ hai. Ngài mang trách nhiệm rao giảng và sống tin mừng của Chúa qua ba bổn phận chính là tư tế, tiên tri và vương giả. Linh mục mang trong mình ơn gọi thiêng liêng là ơn thiên triệu. Thiên triệu tức là ơn gọi từ Trời. Để nhận ra ơn gọi hoặc ơn thiên triệu của mình, ứng viên phải trải qua thời kỳ huấn luyện dài trong chủng viện. Tại nhiều quốc gia như Việt Nam, khi xưa, trước khi bước vào đại chủng viện, tức là “làm thầy” chủng sinh trải qua thời gian tiểu chủng viện. Nơi tiểu chủng viện, chương trình “tập huấn” gian nan và nhiều thử thách có khi còn hơn đại chủng viện. Câu thơ của Cao đài đại đạo Tam kỳ phổ độ “Bao giờ chết bẩy còn ba, chết hai còn một mới ra thái bình” được sửa thành “Bao giờ đuổi bẩy còn ba, đuổi hai còn một mới ra làm thầy” kể cũng không sai cho lắm. Nhiều lớp tiểu chủng sinh, khi vào lớp sáu có 40 chú, đến hết lớp mười hai chỉ còn lại vài “mống loe ngoe.” Tuy hàng năm vẫn được “tân tuyển” thêm dăm ba chú, nhưng “gọi thì nhiều mà chọn thì ít” vẫn là câu châm ngôn cần thuộc lòng.

Làm sao biết mình có ơn gọi linh mục?

Thánh kinh kể đến một vài trường hợp đẹp và khá lãng mạn khi tiếng đáp trả của Samuel trở thành lời tuyên xưng dứt khóat: “Lậy Chúa, xin hãy phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe.” Câu truyện thật đẹp. Chú bé “giúp lễ” đang ngủ đêm, trong giấc mơ nghe thấy tiếng. Lúc đầu chú tưởng là vị tư tế, tức là cha xứ, gọi, nhưng sau mới biết là Chúa. Chàng cương qu‎yết trả lời “Lậy Chúa, xin hãy phán”.

Đẹp và lãng mạn không kém là thái độ của bốn chàng ngư phủ. Khi Chúa mời “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh trở thành những kẻ đánh cá người.” Bốn chàng “lập tức, các anh bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người” (Matthêu 5.; Mc. 1; và Luca 5). Ôi chao, nếu được Chúa hiện ra –dù trong giấc mơ bảo rằng “Hãy theo Ta” thì dễ dàng quá. Trên thực tế, mơ thì nhiều mà thấy Chúa chẳng được bao nhiêu, cho nên ơn thiên triệu vẫn luôn là điều bí mật.

Dấu hiệu ơn thiên triệu.

Từ sau công đồng Vatican II, người Âu Mỹ không dành chữ ơn gọi hoặc ơn thiên triệu riêng cho linh mục và tu sĩ nữa. Vatican II muốn nhắm đến ân sủng làm con cái và dân thánh Chúa qua bí tích rửa tội, nên định nghĩa rằng mỗi người đều có ơn gọi riêng. Người thì có ơn gọi làm cha mẹ, người khác làm linh mục, người nữa sống đời độc thân. Điểm quan trọng là mỗi người tìm ra ơn gọi của mình. Tuy Giáo hội không dùng chữ ơn thiên triệu thường xuyên như trước, nhưng tiến trình đào tạo chủng sinh vẫn tập trung vào cùng chủ đích. Chủng sinh, khi bước lên đại chủng viện, bên cạnh văn hóa và tầm hiểu biết trần thế, đặc biệt lưu tâm đến ba khía cạnh quan trọng khác là “huấn luyện tu đức, huấn luyện trí thức và huấn luyện mục vụ.” Nên lưu ý nơi đây, các thầy trải qua tiến trình huấn luyện chứ không phải chỉ giáo dục. Giáo dục chú tâm nhiều đến hiểu biết và thu đạt, còn huấn luyện tập trung không những đến hiểu biết, tức là trí thức, mà còn nhất là đến sự hòa nhập của chính người được huấn luyện vào với đối tượng của sự huấn luyện là Thiên Chúa. Không khác gì nơi quân trường, người tân binh không chỉ tập chào, đi, đứng, tập bắn súng cho chính xác, mà còn khiến họ trở thành lính. Giấc mơ, sinh hoạt và đời sống của họ là lính.

Cả ba khía cạnh này được hun đúc trên một chương trình huấn luyện khác: huấn luyện nhân bản. Đức giáo hoàng Gioan Phaolo II lưu tâm sâu xa tiến trình huấn luyện nhân bản trong thông điệp “Pastores dabo vobis.”

Không giống như chương trình huấn luyện trí thức và ngay cả mục vụ với môn học và bài bản cụ thể, sau đó là các bài thi kiểm soát, tiến trình nhân bản tùy thuộc nhiều vào sự tiếp thu của từng cá nhân. Loại huấn luyện này tương tự như mối tương giao sư phụ-đệ tử thời xưa. Cùng một bài giảng nhưng mỗi trò hiểu và cảm nhận khác nhau. Do đó, người ta không lạ, khi các linh mục, tuy xuất thân cùng một đại chủng viện, học chung một thầy, một chương trình, nhưng khi ra trường thì làm việc mục vụ và liên hệ với giáo dân khác nhau. Đương nhiên không ai phủ nhận rằng tâm tính cá nhân đóng vai trò rất quan trọng trong các quyết định, nhưng ảnh hưởng của huấn luyện nhân bản dìu dắt và hướng dẫn các giao tiếp này.

Đặt vấn đề

Giao tiếp và va chạm với trần thế, đôi khi linh mục “được khen” hay bị “chê” là “đi tu cho nên chẳng biết gì!” hoặc “sống một mình nên không quen giao tiếp theo kiểu người đời,” “cứ tưởng là ai cũng thành thật như mình…” Có lẽ những nhận xét trên không sai cho lắm. Nhiều vị sống đơn sơ như thiên thần, lúc nào cũng như trên mây, và hình như không hiểu rõ sinh hoạt trần thế, hoặc không kịp thích ứng với tiến triển của xã hội.

Gần đây, nhiều chủng viện Âu Mỹ quy định rõ mục tiêu và phương tiện của huấn luyện nhân bản cho cả chủng sinh và linh mục. Hội đồng Giám mục Hoa kỳ trong “Priestly Formation Program” (PPF) quy định mục đích của huấn luyện nhân bản là giúp ứng viên nhận ra rằng mình và tha nhân cùng là nhịp cầu nối kết với nhau chứ không cản trở nhau. Nói cách khác, mình không sợ tha nhân, và không coi bản thân mình hoặc tha nhân như cơn cám dỗ.

Điểm khó khăn cho huấn luyện nhân bản là tiến trình tùy thuộc rất nhiều vào văn hóa của từng quốc gia và từng miền. Trên thực tế, nhiều ưu điểm của Á châu có thể không hoàn toàn thích hợp với Âu Mỹ, và đương nhiên ngược lại. Người ta kể lại, vào đầu thập niên 1980, khi dân Việt còn chân ướt chân ráo mới đến định cư tại Hoa kỳ, một tân chức vì lo lắng người khác hiểu lầm, và cũng lo cho các “cám dỗ” của “nam nữ thọ thọ bất thân” theo lối Á đông, nên khi chúc bình an trong lễ mở tay, thay vì nói bình an với anh, với chị, ngài vừa ôm hôn vừa chào “Mỹ tí nhá.” Nghĩa là chúc bình an kiểu “hugging” là Mỹ thôi, chứ Việt không có vậy đâu!!! Tuy nhiên, không phải Đông-Tây không có điểm chung. Một điểm chung quan trọng cho cả Đông Tây là ảnh hưởng gia đình. Có lẽ vai trò gia đình quan trọng nhất cho nét hình thành nhân bản của mỗi người. Nơi gia đình cởi mở, hiếu khách, ân cần với tha nhân, nét nhân bản lộ rõ. Do đó tại sao các vị Giáo hòang thường nói rằng gia đình là nôi nuôi dưỡng ơn gọi và nuôi dưỡng con cái thành người. PPF chân thành nhìn nhận rằng với các ứng viên cứng cỏi, yêu mình quá độ, khó hòa đồng với xã hội, không tôn trọng thân xác mình, sợ hãi tính dục, mau nổi giận, chống lại quyền bính, mê thích vật chất, dễ nghiện ngập.. thì dù chương trình huấn luyện nhân bản có hay đến đâu chăng nữa, kết quả không tiến triển bao nhiêu.

Những thách đố nhân bản của đời linh mục.

Có nhiều đối kháng trong cuộc đời và sứ vụ linh mục.

Độc thân và Khiết tịnh. Trong khi trân qu‎ý bản năng tính dục như hồng ân Chúa ban, thì linh mục phải nhìn đến đời sống độc thân như sự kết hợp cao cả với Chúa và hy sinh cho tha nhân. Khi muốn chia sẻ cuộc sống với xã hội và với người khác, thì lại không được phép hòa nhập vào đời sống trần gian. Linh mục có bổn phận giảng về tình yêu, chủ sự các cuộc hôn nhân của tình yêu vợ chồng, nhưng không được sống tình yêu đó. Ngài phải biết và tôn trọng những khuynh hướng tình dục và tính dục để khuyên bảo và để giúp cho tha nhân hướng về Chúa, nhưng lại không có quyền sống những thử nghiệm này. Ngài phải biết yêu mọi người nhưng không được phép yêu một người.

Nhập thế. Ngài cùng đồng hành với tha nhân, cùng chia sẻ buồn đau với họ nhưng hình như khó có thể định rõ biên giới của đồng hành như bằng hữu và đồng hành như chủ chiên. Là người, vị linh mục cần tình bạn. Nhưng thế nào là tình bạn? Dựa trên văn chương như bạn văn? Dựa trên bàn tiệc như bạn nhậu? Dựa trên tình hàng xóm với người ở gần nhà thờ? Hay dựa trên vai trò lúc giảng Thánh Kinh mà thôi? Nếu ngài chỉ sống trong giới hạn của bổn phận, thì đương nhiên người khác cũng sẽ giới hạn bổn phận khi giao tiếp với ngài. Còn nếu ngài thực sự cùng chia sẻ nỗi đau, thăng trầm trong đời sống của họ, thì họ cũng sẽ cùng sống chết với ngài. Đến đây, một thách đố khác xẩy ra, ngài có nên dấn thân, vào đời cách mãnh liệt, hoặc xã hội có đồng ý “cho phép” như vậy không? Trước năm 1975, một vài dòng tu tại miền Nam Việt Nam thử nghiệm chương trình vào đời cho các thầy. Kết quả chưa rõ vì sau năm 1975, kết quả bị gián đoạn.

Việt Nam chúng ta có lời ví von rất hay và rất thực tế “gần chùa gọi Bụt bằng anh.” Nếu linh mục sống tách biệt khỏi xã hội thì bị chê là sống trong tháp ngà, xa rời thực tế, không thông cảm các khổ cực và đau khổ của người khác. Nếu ngài sống gần gũi với dân thì dù là Bụt còn bị gọi là anh, huống chi con người. Vậy, đâu là chỗ đứng trung dung, đâu là vị thế tương hợp?

Khó nghèo. Linh mục phải lo lắng cho tương lai của mình. Trên thực tế đã có những vị khi ra đi, việc an táng và nhà thương tùy thuộc vào lòng hảo tâm của người khác. Dân Việt chúng ta rất rộng rãi giúp đỡ các trường hợp trên, nhưng những thập niên kế tiếp, chắc gì còn dễ dàng thấy những lòng hảo tâm này? Linh mục không được thu tích của cải, ngược lại, cần biểu lộ tấm gương sống đơn giản và giúp đỡ người khác. Dĩ nhiên, với tâm tình phó thác, cần hoàn toàn trông cậy vào Chúa, thế nhưng, đâu là sự khôn ngoan cần thiết phải lo cho chính mình, nhất là khi có tuổi, về già? Phải hiểu thế nào với câu châm ngôn “Hãy giúp mình, Chúa sẽ giúp bạn sau.” Nhìn xa hơn, Thiên Chúa ban cho con người khả năng phát triển. Quốc gia Hoa kỳ tự hào vì Thượng đế ban cho nhiều tài nguyên thiên nhiên. Họ biết dùng sự khôn ngoan của con người –cũng là hồng ân Chúa ban- vào việc xử dụng tài nguyên thiên nhiên đó và trở thành cường quốc giầu mạnh nhất thế giới. Người da đỏ sở hữu những tài nguyên này hàng ngàn năm qua, nhưng không biết phát triển.” Vậy mình nên theo gương người da đỏ hay da trắng? Tại sao con người nói chung và các linh mục nói riêng không biết dùng khả năng Chúa ban vào việc phát triển của cải vật chất? Nhưng như thế, đâu là giá trị cần thiết của nhân đức thanh bần?

Vâng phục. Cùng theo những suy luận trên, Chúa cho mỗi người một trí khôn ngoan và tài lãnh đạo. Trí khôn ngoan và tài lãnh đạo cộng với khả năng phán đoán đúng sai, quả thực là hồng ân vĩ đại nhất mà trong số mọi sinh vật, chỉ con người và thiên thần mới có. Tuy nhiên, linh mục là người nêu tấm gương vâng phục và phó thác. Dĩ nhiên, vâng phục và phó thác vào Thiên Chúa thì rất hợp lý, vì Thiên Chúa là đấng dựng nên con người, nhưng linh mục phải vâng phục và phó thác vào một thụ tạo khác, có khi chưa hẳn đã thông minh và khôn ngoan bằng mình, đồng thời phải tin tưởng rằng người đó được lựa chọn để hướng dẫn mình. Sự thách đố này có lẽ khó khăn nhất. Khó khăn không kém là phải tuân phục người mình không thích và không bầu chọn làm lãnh đạo. Trong đời sống linh mục, khả năng, khôn ngoan, trí hiểu biết phải nhường cho nhân đức khiêm nhường, vâng phục và phó thác.

Thành công trong Mục Vụ. Bên cạnh đó, thành công trong việc mục vụ trở thành kẻ thù lớn. Nghe có vẻ hơi ngược đời. Phúc âm dậy dỗ môn đệ Chúa phải khiêm nhường; tuy nhiên, trong thiên chức, linh mục là người chịu thử thách về khiêm nhường hơn cả. Dân Chúa, kính trọng người đại diện Đức Kitô, người giúp mình lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích làm con Thiên Chúa, và bí tích lãnh nhận mình máu thánh Chúa, gọi vị linh mục là Cha. Đây là thói quen bên Âu Mỹ đã có từ lâu, khi áp dụng vào Á châu và Việt Nam, trở thành nguồn an ủi và cũng là cơn cám dỗ lớn. Đang từ “chức” chú trong tiểu chủng viện, đồng nghĩa với chú em, lên làm thầy, đồng nghĩa với thầy giáo dậy học. Từ thầy, sau ngày chịu chức, lên làm cha, ngang hàng với bậc phụ huynh trong gia đình. -Cũng nên nhắc nhở đặc tính văn hóa nơi đây. Người chủng sinh không được tiến chức vì lý do nào đó, bỗng dưng bị người chung quanh coi thường một cách oan uổng dù không làm gì sai trái-. Người Âu Mỹ khi gọi vị linh mục là cha biểu lộ yêu thương và quý mến hơn là đẳng cấp. Họ dùng các đại danh từ như “you và me” hoặc “vous và moi” là lối xưng hô bình thường sau chữ “father.” Việt Nam và nhiều nước Á châu, chịu văn hóa Khổng Mạnh với tam cương, ngũ thường, xác định, không chỉ giá trị, mà còn vị thế của người làm cha.

Cách gián tiếp, vị linh mục khi quen được gọi là cha, cách tích cực, phải hành xử cho đúng với cương vị của người cha hiền hậu và đáng kính. Tiêu cực, dễ bị cám dỗ, nghĩ rằng mình quyền thế và thông biết hơn người khác.

Luật bù trừ. Các nhà tâm lý học nhắc nhở nhiều đến luật bù trừ và đến luật sinh tồn. Theo họ thì theo bản năng tự nhiên, con người, kể cả linh mục và tu sĩ dù của bất cứ tôn giáo nào đều bị chi phối bởi luật bù trừ. Luật bù trừ là gì? Đó là phản ứng tự nhiên của con người. Khi bị thiếu thốn hoặc bị cấm đoán ở một điểm, sẽ tìm cách giải tỏa hoặc giải khuây ở điểm khác. Từ suy luận trên, người ta thấy có vị tu hành nghiện rượu, mê coi thể thao quá độ, thích đi du lịch quá thường xuyên. Đôi khi các vị dồn mơ ước của mình vào danh giá và quyền hành, cho nên tuy từ bỏ mọi sự -ngay cả chính bản thân mình- nhưng khó khăn khi phải lìa xa một chức tước như chánh xứ, giám đốc là những vị thế không đáng so với sự từ bỏ chính đời sống của mình.

Luật sinh tồn

Thiên Chúa phú thác cho mỗi người bẩm tính truyền sinh. Ai nấy đều muốn trông thấy cuộc sống của mình nối dài nơi con cái, nơi công trình, sự nghiệp, hoặc muốn để tiếng ngàn thu cho hậu thế. Nếu quá chú tâm đến sinh tồn dù vật chất hay tinh thần, linh mục dễ bị ràng buộc vào một đam mê nào đó, dù đam mê ấy trong sạch và hữu ích thí dụ như dậy học, nghiên cứu, thực thi dự án, hệ thống, chương trình xã hội. Các vị trở thành công chức hoặc chuyên viên, và không hành xử sứ vụ cũng như mục vụ linh mục. Các văn bản mục vụ, thần học, thánh kinh của giáo hội trở thành thứ yếu so với mục tiêu chuyên môn.

Huấn luyện nhân bản.

Để đạt được sự tự giác về nhân bản, trở thành một người biết lắng nghe tha nhân, trưởng thành tâm sinh lý, biết kính trọng, lo lắng trước hết cho bản thân mình, có thể liên hệ với người khác, cùng phái và khác phái, không coi thường người thiểu số, người di cư, người nghèo khổ, biết giá trị của đời sống hôn nhân cũng như độc thân, các vị có trách nhiệm trong chủng viện, nhìn nhận rằng chương trình huấn luyện thần học, thánh kinh và ngay cả mục vụ, chưa hoàn toàn trọn vẹn. Vị linh mục tương lai cần đến chương trình huấn luyện nhân bản cách cụ thể hơn nữa. Huấn luyện nhân bản cần thiết không chỉ cho chủng sinh mà còn cho linh mục.

Huấn luyện nhân bản sẽ giúp tu sĩ và linh mục hiểu biết và kính trọng thân xác như quà tặng Chúa ban. Sự phát triển tâm lý, thể lý và sinh lý của con người, nhu cầu của cả thân xác và tinh thần. Chúa sinh ra thân xác không phải để chúng ta hành hạ, nhưng để ca tụng Chúa. Vậy, nên hiểu thế nào về ăn chay, hãm mình, phạt xác? Trong cùng chiều hướng đó, đâu là giá trị của đời sống độc thân và đời sống gia đình? Nếu muốn sống độc thân trong cuộc đời linh mục, thì đâu là những phương cách, phương tiện giúp chúng ta? Tình bạn, tình yêu, cầu nguyện, linh hướng, khổ hạnh giúp nhân đức và lời khấn trinh khiết đến mức nào? Đâu là giá trị của suy niệm, của cầu nguyện, của những phương tiện tu đức?

Huấn luyện nhân bản cũng sẽ giúp linh mục tự chủ. Tự chủ không chỉ về phương diện tinh thần như làm thế nào đương đầu với cơn nóng giận, bực bội, đau khổ mà còn với vật chất. Về tự chủ và tự kiểm soát tinh thần, nhiều chủng viện từ lâu đã chú tâm đến chương trình CPE (Clinical Pastoral Education). Chương trình dành cho cả mục sư, linh mục và chủng sinh nhằm giúp các vị đối diện với tâm tình và cảm súc của mình khi giúp đỡ và giao tiếp với bệnh nhân trong nhà thương. Khi thấy người bệnh đau khổ, khi thấy họ sắp chết, mình có cùng chia sẻ cảm súc hay thờ ơ? Tại sao thờ ơ? Nếu cùng chia sẻ cảm súc với họ, chính mình có bị chán nản và suy nhược giống họ, giống gia đình họ?

Đào sâu chiều hướng nhân bản giúp cho vị linh mục không bỡ ngỡ và ngại ngùng khi cần đối diện với các thách đố của nội tâm chính mình cũng như khi giao tiếp với người khác. Vị linh mục không tự hào vì được gọi là Cha, là mục tử, là linh mục, nhưng tự tin khi biết rằng, sau khi đã hiểu biết các thách đố, đã so sánh và nhận ra rằng mình đã lựa chọn đúng. Biết mình đã lựa chọn đúng thì mới dễ tìm ra phương cách thích ứng sống lựa chọn của mình cách hạnh phúc và bình an. Nhiều giáo phận trong chương trình hậu huấn luyện, đã chú tâm cách mạnh mẽ, tổ chức các buổi huấn luyện cho linh mục phát triển thêm khía cạnh nhân bản.

Biết đâu là vấn đề, đâu là thách đố. Bước kế tiếp sẽ là sống thanh thản những lựa chọn này.

LM Anthony Đào quang Chính

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tgmvl