|
|
Đức Thánh Cha khai mạc Năm Thánh Phaolô Tông Đồ ROMA - Lúc 6 giờ chiều 28-6-2008, ĐTC Biển Đức 16 đã chủ sự kinh chiều I trọng thể tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành để khai mạc năm kỷ niệm 2 ngàn năm sinh nhật của thánh Phaolô Tông đồ. Hiện diện trong biến cố này đặc biệt có Đức Thượng Phụ Bartomomaios I, Giáo Chủ Chính Thống Constantinople, cũng là vị thủ lãnh danh dự chung của Chính Thống giáo, 70 chức sắc đại diện các Cộng đoàn Kitô khác, Anh giáo và đông đảo các tín hữu ngồi chật thánh đường. Nhiều tín hữu tham dự từ bên ngoài vì nhà thờ không đủ chỗ. Mở đầu ĐTC cùng với Đức Thượng Phụ và đại biểu các Giáo Hội Kitô Anh Em, các Đan sĩ Biển Đức và đoàn giúp lễ đi rước trong khuôn viên Thánh Đường, trong khi ca đoàn hát kinh cầu các thánh. Khi đến trước tượng Thánh Phaolô, ĐTC đã thắp lên ngọn đèn đầu tiên đặt trong một lồng kính trên một bình mầu gạch, và sẽ được giữ cho cháy sáng trong suốt năm Thánh Phaolô. Tiếp đến, Đức Thượng Phụ Bartolomaios và Đức TGM Drexel Wellington Gomez của giáo tỉnh Anh giáo West Indies, đại diện Đức Giáo Chủ Anh giáo cũng thắp lên 2 ngọn nến trắng để đặt trong lồng kính như vậy. Rồi đoàn rước vào bên trong Thánh Đường, qua cửa Thánh Phaolô, tiến lên gian cung thánh. Tại đây, ĐTC và Đức Thượng Phụ xuống trước mộ thánh Phaolô dưới bàn thờ chính và cầu nguyện trong thinh lặng rồi xông hương. Trong gian cung thánh hai bên bàn thờ có hàng chục Hồng Y và đông đảo các Giám Mục. Hai hàng ghế đầu tiên dành cho các vị đại sứ và chính quyền thành Roma, đứng đầu là ông Đô trưởng Roman Alleman. Trong bài giảng, sau thánh ca, 3 thánh vịnh và bài đọc trích từ đoạn mở đầu thư thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Roma (1,1-7), ĐTC đã nêu bật một số nét nổi bật trong cuộc sống và hoạt động của Thánh Phaolô, ”Thầy của dân ngoại trong đức tin và chân lý, tông đồ và là người loan báo Chúa Giêsu Kitô”. ĐTC nhấn mạnh rằng thánh Phaolô, đối với chúng ta, không phải là một nhân vật quá khứ mà chúng ta tưởng niệm và tôn kính. Thánh nhân còn là vị thầy hiện tại của chúng ta, tông đồ và là người loan báo Chúa Kitô cho chúng ta”. ĐTC trưng dẫn 3 đoạn Kinh Thánh để trả lời câu hỏi: Phaolô là ai, Người đang nói gì với tôi?”. Trước tiên là câu thánh nhân viết trong thư gửi tín hữu Galát (2,20): ”Tôi sống trong niềm tin Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương và hiến mình vì tôi”. Tất cả những gì Thánh Phaolô làm đều xuất phát từ trung tâm ấy. Niềm tin của ngài là kinh nghiệm được Chúa Giêsu Kitô đặc biệt yêu thương, một tình yêu đánh động tận thâm tâm và biến đổi thánh nhân. Niềm tin của Ngài không phải là một lý thuyết, một ý kiến về Thiên Chúa và về thế giới. Niềm tin của thánh nhân là ảnh hưởng của Thiên Chúa trên con tim của ngài”. ĐGH và Thượng phụ Bartholomew I khai mạc Năm Thánh Cảm nghiệm được Chúa yêu thương đến cùng đã mở mắt thánh Phaolô về chân lý và về con đường cuộc sống của con người. Tình yêu ấy nay trở thành ”luật” cho cuộc đời của thánh nhân và cũng là tự do của ngài. Ai yêu thì sống hoàn toàn trong trách nhiệm về tình yêu ấy và không coi tự do như một cái cớ cho sự hành động độc đoán và ích kỷ. Câu Kinh Thánh thứ hai là lời Chúa hỏi thánh Phaolô trên đường Damas: ”Saulo, Saulo, tại sao ngươi bách hại Ta?”. Saulo hỏi: ”Lạy Chúa, Ngài là ai?”, Chúa đáp: ”Ta là Giêsu mà người đang bách hại” (TĐCV 9,4ss). Chúa Giêsu đồng hóa với Giáo Hội. Chúa Kitô không rút lui về trời, để lại một đoàn môn đệ tại thế mà ngài sai đi thi hành chính nghĩa của Ngài. Giáo Hội không phải là một hội đoàn cổ võ cho một chính nghĩa nào đó. Ở đây không phải là một chính nghĩa nhưng là chính con người của Chúa Giêsu Kitô, có xương có thịt, dù đã sống lại. Chúa đang hiện diện trong Giáo Hội của Ngài, Đầu và Thân Mình họp thành một chủ thể duy nhất. Từ ý tưởng trên đây, ĐTC nhắc đến nghĩa vụ tái tạo sự hiệp nhất của thân mình Chúa Kitô, như thể chính Chúa nói ”làm sao các con có thể xâu xé thân mình của Thầy?” Trước mặt Chúa Kitô, lời này đồng thời trở thành một lời kêu gọi cấp thiết: chúng ta hãy cùng nhau loại bỏ mọi chia rẽ. Hãy làm sao để ngày hôm nay thực tại mới này lại trở thành sự thực: Chỉ có một bánh, vì thế, chúng ta tuy nhiều, nhưng chúng ta là một thân mình duy nhất”. Câu nói thứ 3 của Thánh Phaolô được ĐTC nêu bật trong buổi hát kinh chiều hôm qua là lời thánh nhân nhắn nhủ môn đệ Timothê từ trong tù, trước cái chết: ”Con hãy cùng chịu đau khổ với Thầy vì Tin Mừng” (2 Tm, 1,8). ĐTC nói: ”Trách vụ rao giảng và lời kêu gọi chịu đau khổ vì Chúa Kitô đi song song không thể tách rời. Lời kêu gọi trở thành Thầy dậy dân ngoại đồng thời trong nội tại cũng là một lời kêu gọi chịu đau khổ trong niềm hiệm thông với Chúa Kitô, Đấng đã cứu chuộc chúng ta qua cuộc Khổ Nạn của Ngài. Trong một thế giới gian dối hoành hành mạnh mẽ, chân lý phải trả bằng đau khổ. Ai muốn tránh né đau khổ, đẩy ra đau khổ ra khỏi mình, thì cũng đẩy xa chính sự sống và sự cao cả của sự sống; họ không thể là người phục vụ chân lý và phục vụ đức tin. Không có tình yêu nào mà không có đau khổ - đau khổ vì phải từ bỏ chính mình, vì phải biến đổi và thanh tẩy cái tôi của mình để tiến tới tự do đích thực. Nơi nào không có gì đáng giá để phải chịu đau khổ, thì chính sự sống cũng bị đánh mất giá trị”. Và ĐTC kết luận rằng: ”Đau khổ mà thánh Phaolô phải chịu làm cho thánh nhân trở nên đáng tin cậy như bậc thầy chân lý, ngài không tìm lợi lộc, vinh danh bản thân và thỏa mãn cá nhân, nhưng dấn thân cho Đấng đã yêu thươgn và hiến mạng sống mình vì tất cả chúng ta”. Buổi hát kinh chiều kết thúc với kinh Magnificat và các ý nguyện cầu cho Giáo Hội có thêm nhiều Thợ Tin Mừng để muôn dân được cứu độ, và bảo vệ Giáo Hội khỏi mọi lo âu và sai lầm đang đảo lộn bộ mặt trái đất. Sau Kinh Lạy Cha, ĐTC và Đức Thượng Phụ Bartolomaios đã ban phép lành cho mọi người. (SD 28-6-2008) LM Trần Đức Anh, OP Bài Huấn Từ trong Giờ Kinh Tối Thứ Năm 28/6/2007 tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành Bài Huấn Từ trong Giờ Kinh Tối Thứ Năm 28/6/2007 tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành. Trong dịp này ĐTC công bố năm thánh dành đẻ kính Thánh Phaolô. "Thánh Phaolô biết ngài 'được kêu gọi để trở thành một vị tông đồ'” ĐTC Biển Đức XVI – Bài Huấn Từ trong Giờ Kinh Tối Thứ Năm 28/6/2007 tại Đền Thờ Thánh Phaolô Ngoại Thành Quí Hồng Y, Quí Huynh khả kính trong Hàng Giáo Phẩm và trong hàng Linh Mục, Ở Giờ Kinh Tối đầu cho Lễ Trọng Kính Thánh Phêrô và Phaolô này, chúng ta hãy tri ân tưởng nhớ tới hai vị Tông Đồ đã đổ máu mình ra, với máu của rất nhiều chứng nhân Phúc Âm khác, đã làm cho Giáo Hội Rôma sinh hoa kết trái. (ĐTC ngỏ lời chào các thành phần đặc biệt ở 4 đoạn ngắn) Đền thờ này, một đền thờ đã từng long trọng tổ chức những biến cố đại kết quan trọng, nhắc nhở chúng ta về việc quan trọng biết bao cùng nhau cầu nguyện để nài xin ơn hiệp nhất, một mối hiệp nhất đã được Thánh Phêrô và Phaolô hiến đời sống của mình cho đến độ hy sinh tận tuyệt bằng máu đào của mình. Truyền thống rất xa xưa từ thời các vị tông đồ đã cho rằng cuộc gặp gỡ cuối cùng của các vị trước cuộc tử đạo của hai vị thực sự xẩy ra không xa nơi chốn này: hai vị được cho rằng đã ôm lấy nhau và chúc lành cho nhau. Ở cửa chính của Đền Thờ này, các vị có một bức họa chung, với những cảnh của cả hai cuộc tử đạo. Như thế, từ ban đầu, truyền thống Kitô Giáo đã coi Thánh Phêrô và Phaolô bất khả tách biệt, cho dù mỗi vị có một sứ vụ khác nhau cần phải hoàn thành. Thánh Phêrô đã tuyên xưng đức tin của mình vào Chúa Kitô trước; Thánh Phaolô được ban cho khả năng để đào sâu những sự phong phú của đức tin ấy. Thánh Phêrô đã thành lập cộng đồng tiên khởi của thành phần Kitô hữu xuất thân từ Dân Tuyển Chọn; Thánh Phaolô trở thành Vị Tông Đồ Dân Ngoại. Với những đoàn sủng khác nhau, các vị đều hoạt động cho cùng một lý tưởng, đó là xây dựng Giáo Hội của Chúa Kitô. Trong Phần Các Bài Đọc, phụng vụ cống hiến cho việc suy niệm của chúng ta bản văn nổi tiếng của Thánh Âu Quốc Tinh: “Một ngày duy nhất được chỉ định để cử hành việc tử đạo của hai Vị Tông Đồ. Thế nhưng, hai vị này là một. Mặc dù cuộc tử đạo của hai vị xẩy ra vào những ngày khác nhau, các vị cũng là một. Thánh Phêrô trước, Thán h Phaolô sau. Chúng ta cử hành ngày lễ này là ngày được trở nên linh thánh đối với chúng ta nhờ máu của những vị Tông Đố ấy” (Sermon 295, 7, 8). Và Thánh lêô Cả đã nhận định như sau: “Về các công lênh và nhân đức của các vị, những gì vượt lên trên tất cả khả năng nói năng, chúng ta không được tách biệt chúng, vì các vị được chọn như nhau, khó nhọc như nhau, chết đi như nhau” (In natali apostol., 69, 7). Ở Rôma, từ những thế kỷ đầu tiên, mối liên hệ nối kết Thánh Phêrô và Phaolô lại trong sứ vụ của các vị đã có một ý nghĩa rất đặc biệt. Như Romulus và Remus, hai người anh em thần thoại này được cho là hạ sinh ra Thánh Phố đây thế nào, thì Thánh Phêrô và Phaolô cũng được coi là những vị thành lập nên Giáo Hội ở Rôma như thế. Nói về Thành Phố này liên quan tới đề tài ấy, Thánh Lêô Cả đã nói: “Các vị này là những Người Cha thánh thiện và là những mục tử thực sự của anh chị em, những vị đã cống hiến cho anh chị em những khai báo anh chị em được kể vào số những vương quốc thiên đình, và đã xây dựng anh chị em dưới sự che chở bao bọc tốt đẹp hơn và hạnh phúc hơn các vị, những vị có lòng nhiệt thành là nền tảng đầu tiên cho những bức tường thành của anh chị em” (Sermon 82, 7). Tuy nhiên, về lãnh vực nhân loại, các vị có khác nhau, và cho dù có những căng thẳng nơi mối liên hệ của các vị, Thánh Phêrô và Phaolô vẫn là những sáng lập viên của Thánh Phố mới mẻ này, một biểu hiệu cho một đường lối mới mẻ và chân thực trong việc làm huynh đệ, một đường lối khả dĩ nhờ Phúc Âm Chúa Giêsu Kitô. Vì thế, có thể nói rằng Giáo Hội ở Rôma đang cử hành ngày sinh nhật của mình hôm nay đây, vì chính hai vị Tông Đồ này đã đặt nền tảng cho nó vậy. Hơn thế nữa, Rôma trong thời đại của chúng ta nhận thấy một cách ý thức hơn cả sứ vụ của mình lẫn sự cao cả của mình. Thánh Gioan Chrysostom đã viết: “Tầng trời không quá sáng ngời khi mặt trời tỏa ánh quang của nó, cho bằng Thành Phố Rôma khi tỏa hai ánh sáng này (Thánh Phêrô và Phaolô) tới tất cả mọi phần đất trên thế giới… Bởi vậy, tôi ca ngợi Thành Phố này… vì những cột trụ này của Giáo Hội” (Homily on St Paul's Epistle to the Romans, 32, 24). Chúng ta sẽ tưởng niệm đặc biệt Thánh Phêrô ngày mai, cử hành Hy Tế Thần Linh ở Đền Thờ Vatican, đền thờ được xây ở địa điểm ngài tử đạo. Tối nay, chúng ta hướng về Thánh Phaolô, vị có hài cốt được gìn giữ hết sức cung kính ở Đền Thờ này. Ở đầu Bức Thư gửi Giáo Đoàn Rôma, như chúng ta vừa nghe, Thánh Phaolô đã chào cộng đồng Rôma, tự giới thiệu mình là “một người tôi tớ của Chúa Giêsu Kitô, được kêu gọi trở thành một vị tông đồ” (1:1). Thánh Phaolô sử dụng từ ngữ “tôi tớ”, theo Tiếng Hy Lạp là doulos, để ám chỉ một mối liên hệ hoàn toàn trọn vẹn thuộc về Chúa Giêsu; ngoài ra, nó là từ ngữ được dịch từ tiếng ‘ebed’ của Do Thái, nhờ đó ám chỉ những người tôi tớ cao cả đã được Thiên Chúa chọn lựa và kêu gọi tới một sứ vụ quan trọng và đặc biệt. Thánh Phaolô biết ngài “được kêu gọi để trở thành một vị tông đồ”, tức là, ngài đã không cho mình là một ứng viên, cũng không phải là một bổ nhiệm của loài người, mà hoàn toàn do lời kêu gọi và việc tuyển chọn thần linh. Vị Tông Đồ cho Chư Dân này lập lại mấy lần ở các Bức Thư của mình rằng trọn cuộc sống của ngài là hoa trái của ân sủng nhân hậu nhưng không của Thiên Chúa (cf. I Cor 15: 9-10; II Cor 4: 1; Gal 1: 15). Ngài được tuyển chọn để loan báo “Phúc Âm của Thiên Chúa” (Rm 1:1), để gieo vãi tin mừng về Ân Huệ thần linh là việc hòa giải trong Chúa Kitô giữa con người với Thiên Chúa, với chính họ và với kẻ khác. Căn cứ vào các Bức Thư của ngài, chúng ta biết rằng Thánh Phaolô không phải là một tay thuyết giảng giỏi giang; trái lại, ngài đã giống như Moisen và Giêrêmia thiếu khả năng ăn nói. Thành phần thù địch của ngài đã nói về ngài rằng: “Sự hiện diện về thể lý của ngài thì yếu đuối, và khả năng nói năng của ngài chẳng có gì đáng kể” (II Cor 10: 10). Những thành quả tông đồ phi thường mà ngài đã có thể chiếm được, bởi thế, không thể qui về những pháp thuật ngôn từ nẩy lửa hay biện giải và truyền giáo tài ba. Sự thành đạt nơi việc tông đồ của ngài trước hết lệ thuộc vào việc ngài dấn thân loan báo Phúc Âm hoàn toàn vì Chúa Kitô; một sự dấn thân không sợ hiểm nghèo, khó khăn hay bạch hại. Ngài đã viết cho Kitô hữu Rôma rằng: “Dù chết hay sống, dù là các thiên thần hay các thế lực, dù là hiện tại hay tương lai, dù là các quyền năng, dù đỉnh cao hay vực thẳm, dù bất cứ sự gì khác nơi tất cả tạo vật, sẽ không thể nào phân rẽ tôi khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta” (8:38-39). Từ điều này chúng ta có thể rút tỉa được một bài học đặc biệt quan trọng đối với hết mọi Kitô hữu. Hoạt động của Giáo Hội chỉ khả tín và hiệu nghiệm chỉ khi nào những ai thuộc về Giáo Hội sẵn sàng đích thân trả giá cho lòng trung thành của mình với Chúa Kitô trong mọi hoàn cảnh. Khi sự sẵn sàng này bị hụt hẫng thì lý lẽ chủ yếu về sự thật là những gì chính Giáo Hội phải tùy thuộc cũng bị thiếu vắng. Anh chị em thân mến, như trong thời sơ khai, cả ngày nay nữa, Chúa Kitô cần đến những tông đồ sẵn sàng hy sinh bản thân mình. Người cần những chứng nhân và tử đạo như Thánh Phaolô. Thánh Phaolô, một tên bách hại Kitô hữu trước đó, khi bị ngã xuống đất trước ánh sáng thần linh chói lòa trên đường đi Damascus, đã không ngần ngại đứng sang bên của Đấng Tử Giá và theo Người cách dứt khoát. Ngài đã sống và làm việc cho Chúa Kitô, vì Người ngài đã chịu khổ và đã chết đi. Ngày nay gương sáng của ngài hợp thời biết bao! Chính vì lý do này tôi hân hoan chính thức tuyên bố rằng chúng ta sẽ giành một Năm Mừng đặc biệt Thánh Tông Đồ Phaolô, từ ngày 28/6/2008 tới 29/6/2009, nhân dịp hai ngàn năm sinh nhật của ngài, ngày sinh nhật được các sử gia cho rằng ở vào giữa khoảng năm 7 và 10 sau Chúa Giáng Sinh. Sẽ có thể cử hành “Năm Thánh Phaolô” này một cách đặc biệt ở Rôma là nơi quan tài bằng đá, một quan tài, theo ý kiến nhất trí của các chuyên gia và truyền thống không thể chối cãi, giữ hài tích của Tông Đồ Phaolô, đã được bảo trì ở bên dưới Bàn Thờ Giáo Tông nơi Đền Thờ này qua 20 thế kỷ. Như thế sẽ có thể thực hiện một loạt những biến cố về phụng vụ, về văn hóa và đại kết ở Đền Thờ Giáo Tông này cũng như tại Đan Viện Biển Đức sát cạnh, cùng với những hoạt động khác nhau về mục vụ và xã hội, tất cả đều theo chiều hướng linh đạo của Thánh Phaolô. Ngoài ra, phải đặc biệt chú trọng tới những cuộc hành hương thống hối được tổ chức tới viếng mộ vị Tông Đồ này để tìm thấy nơi ấy ích lợi thiêng liêng. Cũng phải cổ võ phát động những hội nghị học hỏi và những ấn hành đặc biệt để phổ biến rộng rãi hơn bao giờ hết kho tàng mênh mông chất chứa nơi giáo huấn này, một gia sản thật sự của nhân lolại được Chúa Kitô cứu chuộc. Ngoài ra, ở các nơi trên thế giới, những sáng kiến tương tự sẽ được áp dụng ở các giáo phận, các đền thánh và những nơi thờ phượng, bởi thành phần Tu Sĩ và những tổ chức giáo dục cũng như những trung tâm trợ giúp xã hội mang tên Thánh Phaolô hay được ảnh hưởng bởi ngài và giáo huấn của ngài. Sau hết cần phải chú ý tới một khía cạnh đặc biệt trong thời gian cử hành những thời điểm khác nhau của việc mừng kỷ niệm 2000 năm Thánh Phaolô: tôi muốn nói tới chiều kích đại kết. Vị Tông Đồ Chư Dân này, vị đặc biệt đã dấn thân mang Tin Mừng cho tất cả mọi dân tộc, đã không ngừng hoạt động cho mối hiệp nhất và hòa hợp giữa tất cả mọi Kitô hữu. Xin ngài thương hướng dẫn và bảo vệ chúng ta trong việc cử hành hai ngàn năm này, giúp chúng ta tiến bộ trong việc khiêm tốn và chân thành tìm kiếm mối hiệp nhất trọn vẹn của tất cả mọi phần tử thuộc Nhiệm Thể của Chúa Kitô. Amen. Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch trực tiếp từ mạng điện toán toàn cầu của Tòa Thánh NĂM KÍNH NHỚ THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ "NĂM THÁNH PHAOLÔ" Ngày 28-6-2007, trong buổi hát Kinh Chiều I, tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, Rôma, Đức Thánh Cha Beneđictô XVI đã loan báo dành một năm để kính nhớ Thánh Phaolô Tông đồ, bắt đầu từ ngày 29-6-2008 đến hết ngày 29-6-2009, nhân dịp kỷ niệm 2000 năm sinh nhật Thánh Phaolô Tông đồ. Cửa vào Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành sẽ được mở vào chiều ngày 28- 6-2008. Đức Thánh Cha sẽ bước qua cửa này và khai mạc Năm Thánh Phaolô Tông đồ, gọi là "cửa Thánh Phaolô". Năm này không phải là Năm Thánh như thường lệ cứ 25 năm cử hành một lần. Và cửa Thánh Phaolô cũng không phải là cửa thánh như được nói tới trong các Năm Thánh. 1. Năm Thánh Phaolô là gì? Vậy Năm Thánh Phaolô là gì? Đây là một năm đặc biệt dành kính Thánh Phaolô Tông đồ, để kỷ niệm ngày sinh của Thánh nhân cách đây 2000 năm. Cho dù chúng ta không biết rõ ngày sinh của ngài là ngày nào, nhưng các nhà chuyên môn đã dự đoán là Thánh nhân sinh ra vào khoảng giữa năm 7 và năm 10 sau Chúa Kitô. Như trên đã nói, đây không phải là Năm Thánh mà truyền thống vẫn nói tới, cứ 25 năm Đức Thánh Cha ban bố mở Năm Thánh một lần, hoặc là những dịp đặc biệt khác. Đức Thánh Cha cũng không mở hay đóng cửa thánh trong Năm Thánh Phaolô. Vì những lý do trên, Đại Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành ở Rôma (Basilica San Paolo fuori delle Mura, Roma) sẽ là điểm quy tụ chính yếu trong Năm Thánh Phaolô này. Hiện nay, ngôi thánh đường này đang được trùng tu, như tu sửa lại toà cho Đức Thánh Cha, tu sửa khung chung quanh bàn thờ chính (baldaquin) của nghệ sĩ Arnolfo di Cambio, sơn phết lại tiền đình tứ quan, là lối để khách hành hương đi vào nhà thờ. Về các di tích của Thánh Phaolô tại Vương cung Thánh đường này, khách hành hương đã có thể chiêm ngắm một phía của hòm chôn Thánh Phaolô. Phần mộ này được xây vào giữa thế kỷ thứ IV và thứ V tại vùng Ostia. Vì vùng Ostia hay có lụt lội do sông Tevere, nên người ta phải xây tường để chắn nước và bảo vệ ngôi mộ này. Hiện tại, cần nhiều thời gian để có thể trưng bày tất cả cỗ hòm chôn Thánh nhân cho công chúng kính viếng và chiêm ngắm. Từ khi cho công chúng thấy một phần của ngôi mộ này, con số của khách hành hương đã tăng lên nhiều. Nhưng các nơi khác trong Giáo Hội cũng sống Năm Thánh Phaolô này, nhất là những nơi mang tên Thánh Phaolô, vì Năm Thánh Phaolô có tầm mức phổ quát cho toàn thể Giáo Hội. 2. Mục đích Năm Thánh Phaolô Đức Thánh Cha Beneđictô XVI đã nói rõ hai mục đích của Năm Thánh Phaolô. Mục đích thứ nhất là để tín hữu khắp nơi biết về Thánh Tông đồ Phaolô. Đây là một vị truyền giáo trứ danh và vĩ đại. Nhưng rất tiếc là nhiều người Công giáo biết rất ít về Thánh nhân, cũng như họ không biết về sức mạnh của lời rao giảng và việc làm chứng của ngài về Chúa Kitô. Người ta có thể nói tới mấy điểm chính về giáo huấn của Thánh Phaolô trong các thư ngài viết như sau : • Một sự gắn bó trọn vẹn, sống chết với Chúa Kitô. Ngoài ra, người ta còn có thể nói tới: • Niềm tin sâu xa vào biến cố Phục sinh của Chúa Kitô. Mục đích thứ hai nhắm vào công việc đại kết. Từ đây, chúng ta nhận ra ý nghĩa việc thiết lập một nhà nguyện đại kết trong Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành. Tóm lại, ý nghĩa và mục tiêu của Năm Thánh Phaolô có thể được tóm gọn như sau: đây là một dịp để nhận ra việc làm chứng mạnh mẽ của Thánh Phaolô, và từ đó, tín hữu lấy đà dấn thân cách hăng say hơn trong đời sống đức tin và trong các hoạt động đại kết. Đây là một thời điểm quan trọng để tái khám phá một bộ mặt phi thường của Kitô giáo thời kỳ đầu. Đây là công việc trở về nguồn của Kitô giáo. 3. Lịch các buổi cử hành Năm Thánh Phaolô Tại Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành có những buổi cử hành sau đây: - Các buổi cử hành phụng vụ: mỗi tháng có một buổi cử hành phụng vụ, do một vị Hồng y chủ sự. Luật định về việc lãnh Ơn Toàn xá khi viếng các Vương Cung Thánh đường lớn tại Rôma được quy định như sau: “Ban Ơn Toàn xá cho tín hữu khi họ sốt sắng đến viếng 1 trong 4 Đại Vương cung Thánh đường tại Rôma, và đọc Kinh Lạy Cha và Kinh Tin Kính, trong các dịp : 1) Ngày lễ tước hiệu. Tại Đền thờ Thánh Phaolô cũng có tổ chức các cuộc gặp gỡ cho từng giới như sau: Năm 2009: 5. 16 nơi tại Rôma liên hệ tới Thánh Phaolô 6. Khách hành hương đến Rôma Hiện tại mỗi ngày có 4.000 khách hành hương đến Rôma. Nhưng trong Năm Kính Thánh Phaolô, con số này sẽ tăng lên hơn nhiều. Việc đón tiếp khách hành hương được tổ chức như sau: a) Các đan sĩ Đan viện Thánh Beneđictô sẽ giúp các buổi cầu nguyện cho các nhóm hành hương. Các nhóm đông khoảng 500 người, có thê cử hành tại Bàn thờ phía sau bàn thờ chính. Các nhóm đông hơn phải cử hành ở bàn thờ chính và ở giữa lòng nhà thờ. Sẽ có bàn giấy để giúp đặt chỗ trước cho các nhóm. c) Khi khách hành đi vào nhà thờ, họ đi từ tiền đình tứ quan, thắp một cây nến. Sau đó, họ đi vào cửa gọi là cửa Thánh Phaolô, và thực hiện một việc thống hối và hiệp thông trong đền thờ này. 7. Nhà nguyện đại kết Một điểm mới tại Đại Vương cung Thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành, đó là nhà nguyện đại kết. Như chúng ta đã đọc trên đây, một trong hai mục tiêu của Năm Kính Thánh Phaolô là cổ vũ phong trào đại kết. Từ đó có việc thiết lập một nhà nguyện đại kết. Nhà nguyện này nằm tại nơi mà trước đây là giếng rửa tội của đền thờ. Đây là một phần của ngôi nhà nguyện cũ bị phá huỷ và được tu sửa vào các năm 1928-1930, do kiến trúc sư Arnaldo Foschini. Nhà nguyện này mang những đặc tính sau đây: • Là một nhà nguyện dành cho các Cộng đồng Kitô giáo không phải là Công giáo có thể đến cầu nguyện. 8. Các sáng kiến có tính cách văn hoá, nghệ thuật Ngoài những buổi cử hành phụng vụ và cầu nguyện, Năm Thánh Phaolô còn có những sáng kiến văn hoá và nghệ thuật nữa. Sẽ có những buổi diễn thuyết, gặp gỡ, học hỏi. Sau cùng, Uỷ ban Năm Thánh Phaolô cũng lo xuất bản Sách Công vụ Tông đồ và các thư Thánh Phaolô. 9. Dõi theo bước chân truyền giáo của Thánh Phaolô Trong Năm Thánh Phaolô, những nơi khác gắn liền với cuộc đời của Thánh Phaolô cũng có những sáng kiến tương tự. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, các Giám mục Công giáo sẽ viết cho các Kitô hữu thuộc các Lễ nghi khác nhau, và sẽ tổ chức một cuộc hành hương đi Rôma. Tại Tarso, quê hương của Thánh Phaolô, không có một nhà thờ, nhà nguyện vĩnh viễn để cử hành Thánh Lễ và các buổi cử hành phụng vụ khác. Khi muốn làm lễ tại một nhà nguyện mà bây giờ biến thành bảo tàng viện, người ta phải xin phép chính quyền địa phương và phải trả lệ phí. Vì thế, các Giám mục Công giáo đã cùng với các vị chức sắc của các Giáo hội thuộc các Lễ nghi khác và các Cộng đồng Kitô giáo ngoài Công giáo và Chính thống đã xin với chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ để dùng Nhà nguyện này cách tự do, hay được xây cất một nhà nguyện tại đây. Hy vọng trong Năm Kính Thánh Phaolô, sự việc sẽ được giải quyết. Tại Siria, Công giáo Hy Lạp Melkiti sẽ đưa ra những sáng kiến cử hành, học hỏi và hành hương trong Năm Thánh Phaolô, vì tại đây có Đamascô, nơi Thánh Phaolô trở lại, chịu Phép Rửa Tội. Tại Giêrusalem, Đức Sứ thần Toà Thánh tại Israel đã đề nghị biến Giêrusalem thành nơi cử hành các lễ nghi tưởng niệm trong Năm Thánh Phaolô. Tại Malta, nơi hang Rabat mà Thánh Phaolô đã cư ngụ 3 tháng sau khi bị đắm tàu, các buổi cử hành phụng vụ, cũng như các cuộc hành hương trong Năm Thánh Phaolô sẽ được thực hiện tại đây. Chương trình và lịch cử hành tại các nơi này sẽ được các nơi này công bố sau. Roma, ngày 22-12-2007 (Viết theo bài Phỏng vấn của Đức Hồng y Andrea Cordero Lanza di Montezemolo, Giáo sĩ trưởng coi sóc Đền thờ Thánh Phaolô ngoại thành, Roma, và các tài liệu khác, trong báo L’Osservatore Romano, thứ tư, ngày 19-12-2007, tr. 8). THÁNH PHAOLÔ Lời Tựa I. “Kẻ bắt đạo và con người bạo lực” (1Tm 1,13) Nguyên Tác: St. Paul , From “Presecutor and Man of Violence” to “Greatest Model of Patience” (Francesco Gioia - Libreria Editrice Vaticana, 2004) Lời Tựa Từ ngữ “kiên nhẫn-patience”, với nhiều sắc thái khác nhau, phần lớn vẫn được hiểu theo nghĩa thụ động, có nghĩa là sự sẵn sàng đón nhận đau khổ và bất công, hay là từ khước đấu tranh để thay đổi một tình trạng không vừa ý. Thực vậy, kiên nhẫn là sự chiến thắng của lý trí vượt lên trên cảm xúc và là lý trí được soi sáng bởi đức tin. Thoáng nhìn về lịch sử của nhân loại, kiên nhẫn nổi bật trong mọi cuộc cách mạng đem lại nhiều lợi ích cho thế giới: Từ cuộc đánh giá lại toàn bộ những giá trị của con người do Đức Giêsu thành Nazareth đem lại, Đấng đã tuyên bố rằng người nghèo khó, người than khóc và người bị bách hại là những người được chúc phúc (Xc. Mt 5,3; Lc 6,20-23), cũng là Đấng đã rao giảng sự tha thứ cho kẻ thù, như gương mẫu Người để lại (Xc. Mt 18,21-22; Lc 23,34), cho tới chủ trương bất bạo động của Gandhi (1869 -1948), người đã dạy rằng “bất bạo động không phải là thái độ thụ động cũng không làm phát sinh từ tình trạng này, trái lại, đó là sức mạnh chủ động nhất trong thế giới. Đó là luật lệ của loài người, và là luật lệ vô cùng lớn lao vượt lên trên sức mạnh tàn bạo. Đó là sức mạnh mà mọi người đều có thể vươn tới, dù là trẻ em, thiếu niên, nam cũng như nữ, giúp họ có được niềm tin sống động vào Thiên Chúa tình yêu và vì thế nuôi dưỡng một tình yêu bình đẳng đối với mọi người. Kiên nhẫn là “nhân đức của những người có sức mạnh” như vẫn thường được hiểu trong các thư của thánh Phaolô. Thường thì đời sống bấp bênh chắc chắn đòi phải có sự tập luyện cam go và lâu dài về đức kiên nhẫn. Nếu không có sức mạnh của đức kiên nhẫn, con người sẽ không thể có được bình an nội tâm, nhất là khi gặp những hoàn cảnh khổ đau, hay hoang mang trong nỗi cô đơn, hoặc những bất công dy vị tinh thần, hay đơn giản vì “ngày đã xế và bóng chiều đã ngả” (Gr 6,4). Những tình cảnh như thế đòi một cái gì hơn nữa, chứ không chỉ là sự nhẫn nại có khả năng vượt lên trên sự nóng giận thình lình ập đến vào lúc bất hạnh, cũng không đơn thuần chỉ là một sự tự kiềm chế giúp mỗi người có lựa chọn hợp lý, biết đáp ứng thế nào cho phù hợp trước những yếu tố không biết trước trong những thách đố của cuộc sống. Vì thế, cần phải có nhân đức kiên nhẫn. Kiên nhẫn - patience, theo nghĩa là kiên trì, là sự bền vững, là sức mạnh, là chịu đựng, là quảng đại, nhẫn nại, là điều cần phải có trong cuộc sống của người Kitô hữu. Thánh Phêrô nhấn mạnh: anh em hãy đem tất cả nhiệt tình, làm sao để khi đã có lòng tin thì có thêm đức độ, có đức độ là thêm hiểu biết, có hiểu biết lại thêm tiết độ, có tiết độ lại thêm kiên nhẫn, có kiên nhẫn lại thêm đạo đức, có đạo đức lại thêm tình huynh đệ, có tình huynh đệ lại thêm bác ái” (2 Pr 1,5-7). Thánh Phaolô nhấn mạnh sự liên kết giữa đức kiên nhẫn và ba nhân đức đối thần là Tin – Cậy – Mến khi khuyên các tín hữu Rôma: “Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện” (Rm 12,12). “Chúng ta tự hào khi gặp gian truân, vì biết rằng: ai gặp gian truân thì quen chịu đựng; ai quen chịu đựng thì được kể là người trung kiên; ai được công nhận là trung kiên thì có quyền trông cậy”. Theo Thánh Phaolô, kiên nhẫn phát xuất từ đức tin và được nâng đỡ trong đức cậy. Đó là mối dây liên kết giữa điều đang có và điều đang hình thành, từ điều đã đạt được với điều chưa hoàn thành: “nếu chúng ta trông mong điều mình chưa thấy thì đó là chúng ta bền chí đợi chờ” (Rm 8,25). Không có đức cậy, đức tin sẽ chết; không có đức tin, đức cậy sẽ tan biến. Thánh Giacôbê cũng khuyên nhủ: “Thưa anh em, anh em hãy tự cho mình là được chan chứa niềm vui khi gặp thử thách trăm chiều. Vì như anh em biết: đức tin có vượt qua thử thách mới sinh ra lòng kiên nhẫn. Chớ gì anh em chứng tỏ lòng kiên nhẫn đó ra bằng những việc hoàn hảo, để anh em nên hoàn hảo, không có chi đáng trách, không thiếu sót điều gì” (Gc 1,2-4). Chỉ có đức kiên nhẫn dựa trên đức tin, đức cậy và đức mến mới đem lại ý nghĩa cứu độ cho mỗi khoảnh khắc của cuộc sống. Từ viễn tượng này, mỗi biến cố được xem như việc thực hiện cách diệu kỳ chương trình của Thiên Chúa chứ không phải là kết quả rủi ro do vận mệnh mù quáng. Như lịch sử minh chứng, nhân đức kiên nhẫn là nền tảng của thái độ lạc quan, cho phép con người tiến về phía trước với niềm xác tín rằng sự dữ sẽ phải tan biến dù rằng không ai biết khi nào và như thế nào, đồng thời cũng biết rằng mỗi tình trạng đen tối cũng sẽ có một kết thúc tốt đẹp và tương lai sẽ tốt hơn hiện tại. Bởi vì như thánh Phaolô khẳng định: “chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người” (Rm 8,28). Chính từ nhãn quan này của thánh Phaolô mà Manzoni đã đọc câu chuyện bi thương của Renzo và Lucia, những người, lúc đầu, được coi như những nạn nhân của bất công, khi ông giải thích: “Thiên Chúa không bao giờ được vui vì con cái của Người trừ khi để chuẩn bị cho họ niềm vui chân thực và bền vững hơn”. Như thế, người thực sự kiên nhẫn sẽ không bị bấn loạn vì sự công chính có thể bị trì hoãn, là người hoàn toàn nhận biết rõ ràng rằng “sự thật là biết thinh lặng khi đó là thời gian phải thinh lặng, và chính trong sự thinh lặng mà sự thật hơ vang: hy kiên nhẫn”. Trong mọi lúc, người kiên nhẫn luôn vững vàng chờ đợi sự can thiệp của Thiên Chúa để tái lập tình trạng an bình đã bị gián đoạn do bất công và đau khổ. Người nào muốn đi vào cuộc phiêu lưu trn con đường “nhân đức” của “kẻ mạnh”, phải biết quên sự mất kiên nhẫn của ngày hôm qua và bắt đầu cuộc đời mới mỗi ngày theo mẫu gương thánh Phaolô viết cho tín hữu Philíp: “Quên đi chặng đường đã qua, để lao mình về phía trước. Tôi chạy thẳng tới đích để chiếm được phần thưởng từ trời cao Thiên Chúa dành cho kẻ được Người kêu gọi trong Đức Kitô Giêsu” (Pl 3,13-14). Vào lúc khởi đầu và kết thúc của tiến tình này, mỗi người chỉ có thể đạt tới đức kiên nhẫn qua một xác tín mãnh liệt rằng “người kiên nhẫn là người nhẫn nại với sự bất kiên nhẫn của mình”. Với những người như thế này có thể nói một cách đúng đắn: “người được gọi là hạnh phúc chính là những người kiên định” (Gc 5,11). Nỗ lực khó khăn để biết kiên nhẫn với chính sự bất kiên nhẫn của mình có thể được trợ giúp nhờ việc nhìn lại hành trình dài và đầy gian khổ đã biến Tông Đồ Phaolô từ một “người bách hại và bạo lực” (1Tm 1,13) thành một “mẫu gương vĩ đại nhất về đức kiên nhẫn” như Đức Giáo Hoàng Clêment đã diễn tả rất đúng trong thư gửi giáo hữu Côrinthô, được viết vào khoảng năm 96. Với những ai có ước nguyện tiến bước trong đức kiên nhẫn, thánh Phaolô dùng cùng một lời khuyên thường được nhắc lại trong các thư của thánh nhân: “Anh em hãy bắt chước tôi như tôi bắt chước Đức Kitô” (1Cr 11,1; Xc. 1Cr 4,16; Pl 3,17; 1Tx 1,6; 2,14; 2Tx 3,7). Ông Timôthê là một trong những người đã cố gắng noi gương thánh Phaolô, như thánh nhân đã diễn tả rõ ràng: “phần anh, anh đã theo sát đạo lý, cách sống, dự định của tôi; anh đã thấy lòng tin, sự nhẫn nại, lòng yêu mến, sự kiên trì của tôi; anh đã biết những cơn bắt bớ, những sự đau khổ tôi đã gặp” (2Tm 3,10-11). Bí quyết của việc theo sát thánh Phaolô hệ tại xác tín rằng: “nhờ Đức Kitô anh em đã được phúc chẳng những là tin vào Người, mà còn được chịu đau khổ vì Người” (Pl 1,29). Cuốn sách này, bao gồm nội dung từ hai tác phẩm trước đây của tôi về vị tông đồ dân ngoại. Cuốn sách này có mục đích thu lượm từ các thư của thánh nhân sứ điệp về đức kiên nhẫn với hy vọng có thể gợi lên cảm hứng mỗi ngày để noi theo mẫu gương của thánh nhân là kiên nhẫn hơn với chính sự không kiên nhẫn. + Francesco Gioia, Tổng Giám mục Chương I: Kẻ bắt đạo và con người bạo lực (1Tm 1,13) Phần ông Sao-lô, ông tán thành việc giết ông Tê-pha-nô. Hồi ấy, Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội. Ngoài các Tông Đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giu-đê và Sa-ma-ri. Có mấy người sùng đạo chôn cất ông Tê-pha-nô và khóc thương ông thảm thiết. Còn ông Sao-lô thì cứ phá hoại Hội Thánh: ông đến từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục (Cv 8,1-3) Phaolô, cũng được gọi là Saolô (Xc. Cv 13,9) không phải là người có tính khí ôn hòa để dễ dàng thực thi đức kiên nhẫn. Trước khi trở lại, ông là người “hằm hằm đe dọa giết các môn đệ Chúa” (Cv 9,1). Thánh Luca xác định ông Saolô “tán thành việc giết ông Stêphanô” (Cv 8,1), như chính ông xác nhận khi công khai bày tỏ với những người Do Thái ở Giêrusalem: “khi máu của ông Stêphanô, chứng nhân của Chúa, đổ ra, thì chính tôi cũng có mặt, tôi tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy” (Cv 22,20; Xc. 7,58). Sau cái chết của ông Stêphanô, Hội Thánh ở Giêrusalem bị bắt bớ dữ dội”, còn ông Saolô thì “vào từng nhà, lôi cả đàn ông lẫn đàn bà đi tống ngục” (Cv 8,2-3). Điều này được Đức Giêsu xác nhận, khi Người đặt câu hỏi với ông Saolô trên đường đến Damas: “Saun, Saun, sao ngươi bắt bớ Ta?”. Ông hỏi: “thưa Ngài, Ngài là ai?”. Người đáp: “Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ!” (Cv 9,4-5). Trong lần biện hộ đầu tiên trước những người Do Thái ở Giêrusalem, ông Phaolô khiêm nhường thú nhận: “tôi đã bắt bớ Đạo này, đến nỗi giết kẻ theo đạo, đã xiềng xích và tống ngục đàn ông cũng như đàn bà, như cả vị thượng tế lẫn toàn thể đoàn kỳ mục làm chứng cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em, và tôi đã đi Đamat để bắt trói những người ở đó, giải về Giêrusalem trừng trị” (Cv 22,4-5; Xc. 9,1-2). Còn ông Khanania, người được Chúa mời đi tới Damas để đặt tay trên ông Saun và làm cho ông Saun nhìn thấy được, đã ngần ngại hỏi Chúa: “Lạy Chúa, con đã được nghe nhiều kẻ nói về người ấy về tất cả những điều ác người ấy đã làm cho các thánh của Chúa tại Giêrusalem. Còn ở đây, người ấy được các thượng tế cho quyền bắt trói tất cả những ai kêu cầu danh Chúa” (Cv 9,13-14). Quá khứ của ông Saolô là trở ngại trong bước khởi đầu đi rao giảng, như chính Đức Giêsu mạc khải cho ông khi ông đang xuất thần cầu nguyện trong đền thờ: “mau lên, hãy rời khỏi Giêrusalem gấp, vì chúng sẽ không chấp nhận lời anh làm chứng về Thầy đâu… Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đi xa, đến với các dân ngoại”. Và ông Phaolô hăng hái đón nhận: “Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đây đã đến từng hội đường bắt giam và đánh đòn những kẻ tin vào Chúa. Khi máu của ông Stêphanô, chứng nhân của Chúa, đổ ra, thì chính con cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy” (Cv 22,18-21). Trong lần biện hộ thứ ba trước vua Agripa, ông Phaolô xác nhận: “về phần tôi, trước kia tôi nghĩ rằng phải dùng mọi cách để chống lại Danh Giêsu người Nazarét. Đó là điều tôi đã làm tại Giêrusalem. Được các thượng tế ủy quyền, chính tôi đã bỏ tù nhiều người trong các thánh; và khi họ bị xử tử, tôi đã bỏ phiếu tán thành. Nhiều lần tôi đã đi khắp các hội đường, trừng trị để cưỡng bức họ nói phạm thượng. Tôi đã giận dữ quá mức đến nỗi sang cả các thành ở nước ngoài mà bắt bớ họ” (Cv 26,9-11). Mối ân hận vì đã bách hại các môn đệ Chúa Kitô luôn giày vò tâm hồn ông, như có thể đọc thấy trong thư gửi giáo đòan Côrintô: “tôi là người hèn mọn nhất trong số các tông đồ, tôi không đáng được gọi là tông đồ, vì đã bắt bớ Hội Thánh của Thiên Chúa” (1Cr 15,9). Đồng thời, ông ôn tồn ý thức rằng “Thiên Chúa đã dành riêng tôi ra ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ” (Gl 1,15). Khi chống lại những kẻ muốn làm lung lạc đức tin của các tín hữu thành Philíp về vấn đề phép cắt bì, ông đã kể lại thái độ cực đoan của mình trong quá khứ và nói rõ ông là người “hăng say ngược đãi Hội Thánh” (Pl 3,6). Ông cũng nhắc lại điều này với các tín hữu Galát: “Anh em hẳn đã nghe nói tôi đã ăn ở thế nào trước kia trong đạo Do Thái; tôi đã quá hăng say bắt bớ và những muốn tiêu diệt Hội Thánh của Thiên Chúa; tôi đã tiến xa trong đạo Do Thái, vượt nhiều đồng bào cùng lứa tuổi với tôi, vì quá đỗi nhiệt thành với các truyền thống của cha ông” (Gl 1,13-14). Sau đó ông kể lại cho họ biết rằng “các Hội Thánh trong Đức Kitô tại miền Giuđê không biết mặt ông, nhưng cũng nghe biết ông là người bắt bớ những ai tin theo Đức Kitô” (Xc. Gl 1,22-23). Ông còn thú nhận với môn đệ Timôthê: “Trước kia tôi là kẻ nói lộng ngôn, bắt đạo và ngạo ngược”, và ông cũng cảm tạ Chúa bởi ông đã được Chúa “thương xót, vì tôi đã hành động vô ý thức, khi chưa có lòng tin” (1Tm 1,12-13,16). Tất cả những ai biết ông đều lo ngại về quá khứ của ông. Thật vậy, sau cuộc trở lại khi ông công bố giữa hội đường rằng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, “mọi người nghe ông giảng đều sửng sốt và nói: “Ông này chẳng phải là người ở Giêrusalem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu Danh Giêsu sao? Chẳng phải ông đã đến đấy với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?” (Cv 9,21). Để hiểu được tinh thần mà vì thế ông Phaolô bách hại Hội Thánh, cần phải nhớ rằng ông từng là thành viên của phái Pharisêu, phái “nghiêm nhặt nhất” trong Do Thái Giáo, nhóm tuyên bố rằng mình là đại diện cho Israel đích thực (xc. Cv 26,5-6). Chính ông thú nhận mình đã từng thuộc phái Pharisêu, giữ luật như người Pharisêu (Xc. Pl 3,5), quá đỗi nhiệt thành với các truyền thống của cha ông” (Gl 1,14). Phaolô luôn tự nhận mình là thành phần dân Israel. Ông luôn khao khát rằng “Dân của lời hứa” (xc. Rm 15,8; Cv 13,32; 26,6) có thể lãnh nhận ơn cứu độ được ban cho Israel và mọi dân khác, qua tác vụ của ông (xc. Rm 11,13-14). Nỗi khao khát ấy thiêu đốt ông đến nỗi ông mong muốn đi đến tận cùng, ước gì “bị tru diệt, xa lìa Đức Kitô vì các anh em đồng bào của tôi theo huyết thống” (Rm 9,3). Biến cố trên đường Damas là biến cố làm đảo lộn, tác động hoàn toàn tâm trạng của Phaolô. Đó là sự thay đổi toàn diện và tức khắc: từ nhiệt thành với lề luật, ông chuyển sang lòng nhiệt thành với Đức Kitô (xc. Gl 1,15-17), làm mọi sự có thể để đáp lại lời mời của Đức Kitô (xc. Pl 3,12-14). Chương II: Anh em hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường (Mt 11,29) Ông Sao-lô vẫn còn hằm hằm đe doạ giết các môn đệ Chúa, nên đã tới gặp thượng tế xin thư giới thiệu đến các hội đường ở Đa-mát, để nếu thấy những người theo Đạo, bất luận đàn ông hay đàn bà, thì bắt trói giải về Giê-ru-sa-lem. Vậy đang khi ông đi đường và đến gần Đa-mát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông. Ông ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với ông: “Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông nói: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Người đáp: “Ta là Giê-su mà ngươi đang bắt bớ. Nhưng ngươi hãy đứng dậy, vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì.” Những người cùng đi với ông dừng lại, sững sờ: họ nghe có tiếng nói, nhưng không trông thấy ai. Ông Sao-lô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đa-mát. Suốt ba ngày, ông không nhìn thấy, cũng chẳng ăn, chẳng uống. (Cv 9,1-9) Ngay sau khi trở lại, ông Phaolô đã nhận được giáo huấn từ Đức Giêsu là Thầy như Người đã được mọi người nhìn nhận (xc. Ga 13,13; Mt 19,16; 22,16,36; Mc 9,5,17,38; Lc 7,40; 17,13; Ga 3,2; 11,28). Thật vậy, chỉ một mình Đức Giêsu là Thầy chân thật (xc. Mt 23,8). Ông Phaolô đã đón nhận toàn bộ tư tưởng của Thầy đến nỗi ông có thể nói lên: “tôi sống, nhưng không còn phải là tôi mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Để hiểu được toàn bộ cuộc đời của Phaolô, với những khoảnh khắc anh hùng về lòng kiên nhẫn và sứ điệp của ông về nhân đức này, cần phải nhắc lại chứng cớ và giáo huấn của Thầy Giêsu về đề tài này. Không ai có thể sánh với Đức Giêsu trong việc thực thi đức kiên nhẫn. Do vậy, chính Người nêu lên Người là mẫu gương của sự kiên trì: “anh em hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Rất nhiều đoạn Tin mừng minh họa chân lý này. Đức Giêsu trách mắng hai ông Giacôbê và Gioan vì không đủ nhẫn nại và muốn trả thù khi muốn xin lửa từ trời xuống đốt cháy ngôi làng Samaria đã không đón nhận Thầy của các ông (xc. Lc 9,51-55). Người cũng có thái độ tương tự khi ông Phêrô chém đứt tai phải của Mancô trong Vườn Cây Dầu (xc. Ga 18,10). Đức Giêsu tỏ ra nhẫn nại vô bờ khi sống với các môn đệ, những người thường tỏ ra là kém đức tin (xc. Mt 6,30; 8,26; 14,31; 16,8; Lc 8,24-25; 12,28; Mc 4,39-40; 8,17) và tràn đầy sợ hãi (xc. Mt 8, 25-26; Mc 4,39-40; 6,49; 9,32; Lc 24,37,41; Ga 6,19). Một số người trong họ cho rằng sứ điệp của Thầy khó chấp nhận và lìa bỏ Người (xc. Ga 6,60, 66). Ông Phêrô cũng thường phản đối (xc. Mt 16,22; Ga 13,8). Hai anh em ông Giacôbê và Gioan muốn tìm chỗ nhất (xc. Mt 20,20-23; Mc 10,35-40), nhưng đến khi ở Vườn Cây Dầu, các ông không thể tỉnh thức để chia sẻ với Thầy, người đang “buồn đến chết được” (xc. Mt 26,38-40). Khi Đức Kitô chịu khổ nạn, tất cả chạy trốn, bỏ lại Người một mình (xc. Mt 26,56; Ga 16,21). Họ “chưa hiểu, chưa thấu” và “lòng chai đá” (xc. Mc 8,17-18). Giuđa phản bội Người (xc. Mt 27,47-50) còn Phêrô thì chối Thầy (xc. Mt 26,69-74). Các ông không tin câu chuyện ngôi mộ trống do Maria Macđala thuật lại (xc. Mc 16,11,14), coi đó là “chuyện vớ vẩn” (xc. Lc 24,11), vì các ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giêsu phải sống lại từ cõi chết” (Ga 20,9; XC. Lc 24,25-27, 44-46). “Các ông hoài nghi”, khi Đấng Phục Sinh hiện ra với các ông ở Galilê (xc. Mt 28,17). Ông Tôma nhấn mạnh phải có chứng cớ về sự phục sinh (xc. Ga 20,24-25). Các môn đệ trên đường Emmaus “buồn rầu” và không chút hy vọng (xc. Lc 24,17, 21). Tuy nhiên, Đức Giêsu “đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó” (Cv 10,38). Người đón tiếp các tội nhân với lòng thương cảm và yêu mến (xc. Mt 9,10-11; 11,19; Lc 15,12), dù rằng Người bị coi như là “dấu chỉ của sự mâu thuẫn” (xc. Lc 2,34), “vì Người mà đám đông đâm ra chia rẽ” (xc. Ga 7,43; 10,19). Người không chống lại khi người ta cáo buộc là “bị quỷ ám” (xc. Ga 10,20; 7,20; 8,48,52; Mt 12,24; Mc 3,22) hay là “tên bịp bợm” (xc. Mt 27,63), “điên khùng” (xc. Ga 10,20; Mc 3,21), “kẻ lộng ngôn” (xc. Ga 10,33; Lc 5,21; Mt 9,3; 26,65; Mc2,6), “người xách động” (xc. Lc 23,2), “là người Samari – tức là lạc giáo” (xc. Ga 8,48), “tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi” (xc. Lc 7,34), là “người có tội” (xc. Ga 8,46). Nhất là Đức Kitô tỏ ra kiên nhẫn cách lạ thường khi chịu khổ nạn. Trong Vườn Cây Dầu, sau khi xin với Cha cứu Người khỏi đau khổ, Người khiêm tốn đặt mình hoàn toàn tuân phục thánh ý Cha, với sự cam chịu tột cùng: “xin cho ý Cha được thể hiện” (Mt 26,42), và “xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn” (Mc 14,36). Đức Giêsu “không làm điều gì sai trái” (Lc 23,41). Thật vậy, ngay cả Philatô cũng “không tìm thấy lý do gì để kết tội Đức Giêsu” (Ga 19,6). Mặc dù Người hoàn toàn vô tội (xc. Mt 26,61; 27,12), nhưng khi bị vu cáo (xc. Mt 26,61; 27,12), bị chế nhạo, bị xỉ nhục (xc. Mt 27,39-44; Lc 22, 63-65), và bị khạc nhổ (xc. Mt 26,67-68; 27,30; Mc15,19; Lc 22,63; Ga 18,22), Người vẫn giữ “yên lặng”, như bốn sách Tin mừng đã làm chứng (xc. Mt 27,14; Mc 14,60; Lc23,10; Ga 19,8). Các Tin mừng đều lặp đi lặp lại đức kiên nhẫn của Đức Giêsu qua giáo huấn của Người. Chương trình về kiên nhẫn do Đức Giêsu công bố, được bày tỏ trong “Tám mối phúc thật” hay còn được gọi là “Đại Hiến Chương của Kitô giáo”. Bài giảng trên núi cho thấy có những loại người được chúc phúc: đó là những người có tinh thần nghèo khó, “vì Nước Trời là của họ”; những người sầu khổ “vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an”; Những người hiền lành “vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp”; những người khát khao nên công chính “vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng”; những ai xót thương người “vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương”; những ai có tâm hồn trong sạch “vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa”; những ai xây dựng hòa bình “vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”; những ai bị bách hại vì sống công chính “vì Nước Trời là của họ”. Đức Giêsu đặc biệt nói đến loại người cuối cùng này, như muốn nhấn mạnh rằng những ai muốn theo Người phải biết thực thi đức kiên nhẫn, nhất là trong khi bị bách hại: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta xỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5,3-11). Những người môn đệ Đức Kitô phải bày tỏ lòng yêu mến những kẻ bách hại mình: “anh em đã nghe luật dạy rằng: hãy yêu đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,43-44). Họ không được nuôi lòng giận dữ với anh em mình, vì “ai giận anh em mình, thì đáng bị đưa ra tòa”… “nếu khi anh sắp dâng lễ vật trước bàn thờ, mà sực nhớ có người anh em đang có chuyện bất bình với anh, thì hãy để của lễ lại đó trước bàn thờ, đi làm hoà với người anh em ấy đã, rồi trở lại dâng lễ vật của mình” (Mt 5,22-24). Kitô hữu phải biết cách kiên nhẫn đón nhận mọi điều bất công. Khía cạnh mới của sứ điệp Tin mừng trong tương quan với giáo huấn truyền thống (của người Do thi) được sng tỏ trong cách đáp trả sự ngược đãi của thù địch: “anh em đã nghe Luật dạy rằng: mắt đền mắt, răng đền răng, còn Thầy, Thầy bảo anh em: đừng chống cự người ác; trái lại, nếu bị ai vả má bên phải thì hãy giơ cả má bên trái ra nữa” (Mt 5,39). Đức Giêsu cũng cho thấy những khía cạnh khác nhau của đức kiên nhẫn qua một số dụ ngôn. Trong dụ ngôn cỏ lùng, Đức Giêsu muốn dạy cho các môn đệ của Người biết kiên nhẫn trước mầu nhiệm sự dữ. Còn trong dụ ngôn cây vả không ra trái, Người muốn gợi lên sự nhẫn nại thông cảm. Trong dụ ngôn mười trinh nữ cầm đèn đi đón chàng rể, Người muốn khuyến khích các thính giả biết kiên trì chờ đợi. Câu chuyện người gieo giống tung gieo hạt giống ở mọi nơi cho thấy sự kiên trì cuối cùng sẽ được ân thưởng. Đức kiên trì cũng được thể hiện nơi người mục tử và người đàn bà khi cố công tìm kiếm con chiên lạc cũng như đồng bạc bị đánh rơi (Lc 5,4-10). Lòng kiên nhẫn của Thiên Chúa và sự thiếu kiên nhẫn của con người được minh họa rõ ràng trong dụ ngôn quen thuộc “người con hoang đàng”, một trong những kiệt tác về văn chương của thế giới (xc. Lc 15,11-32). Cũng vậy, dụ ngôn về tên đầy tớ không có lòng thương xót cũng làm rõ sự tương phản giữa một Thiên Chúa nhân từ kiên nhẫn với con người không có lòng xót thương. Những kẻ nào không biết đợi chờ thì không thể có đức kiên trì. Trong bữa ăn tối cuối cùng với các môn đệ, Đức Giêsu nói với các ông: “anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp thử thách gian nan”, và do đó Người bảo đảm với các ông là họ xứng đáng gia nhập Vương Quốc[8]. Và để tránh mọi sự hiểu lầm, Người thêm: “Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình” Chương III: Một thứ ôn dịch, chuyên gây nổi loạn giữa mọi người Do Thái (Cv 24,5) Rồi ông ăn và khoẻ lại. Ông Sao-lô rao giảng tại Đa-mát. Ông ở lại Đa-mát với các môn đệ mấy hôm, rồi lập tức ông bắt đầu rao giảng Đức Giê-su trong các hội đường, rằng Người là Con Thiên Chúa. Mọi người nghe ông giảng đều kinh ngạc và nói: “Ông này chẳng phải là người ở Giê-ru-sa-lem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giê-su sao? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?” (Cv 9,19-21) Một thời đã từng là người hung hăng bách hại Giáo Hội, chính Phaolô cũng bị người Do Thái, những người không tin và những người giả danh Kitô hữu truy đuổi (xc. 2Cr 11,26). Vì vậy trong các lá thư, thánh nhân cũng thường ám chỉ đến cuộc truy bắt của những người Do Thái (xc. Rm 15,31; 2Cr 11,24-26; Gl 5,11; 1Tx 2,14-16), và nói rõ đó là những thời khắc khó khăn nhất phải chịu đựng. Khi nói về cuộc bách hại do những người Do Thái đưa ra để chống lại Giáo Hội sau khi ông Stêphanô bị giết, có lẽ thánh Luca muốn cho thấy bạo lực quần chúng có thể xảy ra trong bất cứ thể chế tôn giáo nào, khi nó cảm thấy bị đe dọa
bởi một phong trào mới. Trong những tình huống như vậy, hội đường công bố các cá nhân là lạc đạo, rồi sau đó truy bắt và giết những ai không chia sẻ giáo huấn chân truyền, như trường hợp của Đức Giêsu, các ông Stêphanô và Phaolô. Trong các lá thư, Thánh Tông Đồ liệt kê rất nhiều lý do khác nhau của những cuộc bách hại như thế. Chắc chắn rằng, lý do đầu tiên là “loan báo Tin Mừng về đức tin mà trước đây ông muốn tiêu diệt” (Gl 1,23). Làm như thế, thánh nhân thách thức những yếu tố nền tảng của Do thái giáo, mà ông coi như “vô giá trị” so với đặc tính tuyệt vời là biết Đức Kitô (xc. Pl 3,4-8). Yếu tố chính yếu là lời rao giảng của Phaolô khi ông tuyên bố rằng thành phần dân Thiên Chúa không đòi buộc phải chịu cắt bì (xc. Gl 3,1-5; X. 5,11; Cv 15,8-11), hay tuân giữ những quy định của lề luật về sự thanh sạch theo luật (xc. Gl 2,11-21). Cuối cùng, ông bị tố cáo là không coi trọng các đòi hỏi luân lý, một cáo buộc mà ông bác bỏ như một lời vu khống (xc. Rm 3,7-8). Vì những lý do trên, người Do Thái đã kể ông “như một thứ ôn dịch, chuyên gây nổi loạn giữa những người Do Thái khắp mọi nơi” (Cv 24,5; X. 16,20; 17,6). Vì thế, theo như sách Công Vụ thuật lại, họ liên tục truy đuổi ông. Tại Damas, ngay sau khi gặp Đức Kitô và lần đầu tiên ông làm chứng Đức Giêsu là Đấng Kitô, người Do Thái giận dữ đến nỗi “cùng nhau bàn kế giết ông” (xc. Cv 9,22-23). Ngay cả ở Giêrusalem, họ cũng “tìm cách giết ông” (xc. Cv 9,29). Trong hội đường Antiôkia ở Pisidia, khi ông Phaolô cùng với ông Banabê công bố rằng “điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện đầy đủ cho chúng ta là con cháu của các ngài khi làm cho Đức Giêsu sống lại… người Do Thái đầy lòng ghen tức, họ dùng lời phạm thượng mà phản đối những điều ông Phaolô nói… họ khích động những phụ nữ thượng lưu tôn thờ Thiên Chúa và những thân hữu trong thành, xúi giục họ bắt bớ ông Phaolô và ông Banaba, và trục xuất hai ông ra khỏi lãnh thổ của họ. Hai ông… đi tới Icônio” (Cv 13,32-33, 45,50-51). Tại Icôniô, “những người ngoại và những người Do thái, cùng với các thủ lãnh của họ, mưu toan làm nhục và ném đá hai ông. Biết thế, hai ông lánh xa các thành miền Lycaonia là Lytra, Đecbê, và các vùng phụ cận; Tại đó, các ông tiếp tục loan báo Tin Mừng” (Cv 14,5-7). Tại Lytra, có những người Do Thái từ Antiôkia và từ Icôniô đến, “thuyết phục được đám đông dân chúng. Họ ném đá ông Phaolô rồi lôi ông ra ngoài thành, vì tưởng là ông đã chết” (Cv 14,19). Tại Philíp, Phaolô cùng với Sila, đã trừ quỉ cho một người tớ gái, người đã làm cho các chủ của cô kiếm được nhiều lợi lộc. Khi thấy hy vọng kiếm lợi của mình đã tiêu tan, các ông chủ của cô liền bắt hai nhà truyền giáo, điệu đến trước quan tòa và tố cáo: “những người này gây xáo trộn trong thành phố chúng ta; Họ là người Do Thái và họ truyền bá những tập tục mà người Rôma chúng ta không được phép chấp nhận và tuân theo. Đám đông nổi lên chống hai ông. Các quan toà, sau khi đã cho lột áo hai ông, ra lệnh đánh đòn. Khi đã đánh nhừ tử, họ tống hai ông vào ngục và truyền cho viên cai ngục phải canh giữ cẩn thận. Được lệnh đó, người này tống hai ông vào phòng giam sâu nhất và cùm chân lại”. Sáng ngày, khi biết các ông là công dân Rôma, và không được đánh đòn hai ông, các quan toà buộc phải xin lỗi hai ông (Cv 16,14-39). Tại Thessalônica, người Do Thái “sinh ghen tức” vì có một số người đã tin theo và nhập đoàn với ông Phaolô và ông Xila; một số rất đông những người Hy lạp tôn thờ Thiên Chúa và một số phụ nữ quý phái cũng làm như vậy, nên họ quy tụ một số du đãng đầu đường xó chợ, họp thành đám đông gây náo loạn trong thành. Họ lôi hai nhà truyền giáo ra trước nhà chức trách thành phố, tố cáo hai ông “làm ngược các chiếu chỉ của Hoàng Đế, và công bố “một vua khác là Giêsu”. Sau khi đã nộp tiền bảo lãnh, các ông được thả ra (Cv 17,4-9; X. 1Tx 2,14). Phaolô kể lại kinh nghiệm đau buồn này trong lá thư thứ nhất gửi tín hữu Thessalônica: “Như anh em đã biết, chúng tôi đã đau khổ và bị làm nhục tại Philíp; nhưng dựa vào Thiên Chúa chúng ta mà chúng tôi đã mạnh dạn rao giảng Tin Mừng của Thiên Chúa cho anh em, trong một cuộc chiến đấu gay go” (1Tx 2,2). Tại Beroia, “khi những người Do Thái ở Thêxalonica biết là ông Phaolô cũng loan báo Lời Thiên Chúa ở Beroia nữa, thì họ lại đến khuấy động và gây xôn xao trong đám đông dân chúng”, buộc Thánh Tông Đồ phải rời đó để đi Athêna (xc. Cv 17,13-15). Những người Do Thái ở Côrintô, khi nghe chính Thánh Tông Đồ công bố Đức Giêsu là Đấng Kitô, thì đã nhất tề nổi dậy chống ông Phaolô; họ đưa ông ra tòa và nói: “tên này xúi giục người ta tôn thờ Thiên Chúa trái với Lề Luật” (Cv 18,5-6, 12-13). Phaolô ở Êphêsô hai năm, “khiến mọi người sống ở Asia, người Do Thái cũng như người Hy Lạp đều được nghe Lời Chúa”. Nhưng một số người thợ bạc trong thành phố, sợ rằng lời giảng của Thánh Tông Đồ có thể gây ảnh hưởng xấu trong việc bán “mô hình đền thờ nữ thần Artêmi bằng bạc”, nên đã xúi giục dân chúng chống lại Thánh Tông Đồ và buộc ông phải đi đến Makêđônia (xc. Cv 19,10, 23; 20,1). Khi các kỳ mục từ Êphêsô đến gặp ông tại Milêtô, lúc ông đang trên đường đi Giêrusalem, ông thú nhận: “khi phục vụ Thiên Chúa, tôi đã hết lòng khiêm tốn, đã phải rơi lệ, đã gặp thử thách do những âm mưu của người Do Thái” (Cv 20,19). Tại Giêrusalem, đám đông dân chúng bị những người Do Thái từ Asia đến khuấy động, nên “tìm cách giết ông”. Ông đã được cứu thoát nhờ sự can thiệp của toà án, qua việc “bắt và lấy xiềng còng ông lại” (Cv 21,31, 33-36). Người Do Thái, tức giận vì lời lẽ ông Phaolô kể lại ơn gọi và sự công chính do việc ông làm, đã hò hét trước toà: “hãy bứng khỏi mặt đất loại người như thế! Nó không đáng sống”. Nhờ là công dân Rôma, ông đã thoát khỏi bị đánh đòn, nhưng buộc phải ra trước Thượng Hội Đồng. “Thượng tế Khanania ra lệnh cho các phụ tá đánh vào miệng ông. Bài diễn văn của ông đề cập đến việc sống lại gây ra tranh luận giữa người Pharisêu và nhóm Xa-Đốc. Viên chỉ huy sợ rằng “họ có thể xé xác ông Phaolô”, nên đã lôi ông và đem về đồn. Tuy nhiên, người Do Thái vẫn giữ ý định. Một nhóm trên 40 người “đã bày mưu tính kế và thề rằng sẽ không ăn uống gì cho đến khi giết được ông Phaolô” (xc. Cv 21, 22-23, 23,14). Để giúp cho ông Phaolô thoát khỏi âm mưu những người muốn ám hại ông, viên chỉ huy đã cho người hộ tống ông đến Xêdarê; tại đó, ông bị giam tù hai năm, dù rằng ông đã được đưa ra trước tổng trấn Phêlich (xc. Cv 21,23, 23,24, 27). Vì là công dân Rôma (xc. Cv 22,25-27 16,37), ông Phaolô đã kháng cáo lên Hoàng Đế, và vì vậy ông đến Rôma (xc. Cv 25,11-12). Qua nhiều gian nan vất vả, kể cả bị đắm tàu (xc. Cv 27,9-43), cuối cùng ông Phaolô đến Rôma (xc. Cv 28,15). Tại đây, ông bị giam giữ tại nhà riêng hai năm, có lính canh bên ngoài, và ông “rao giảng Nước Thiên Chúa và dạy về Chúa Giêsu Kitô” (Cv 28,16, 30-31). Dầu vậy, ngay tại Rôma, vào cuối đời ông đã phải tranh đấu với một số người Do Thái, “những kẻ rao giảng Đức Kitô vì đố kỵ và cãi cọ…, vì tranh chấp, không có lòng ngay, thường là gây gian nan cho tôi, trong lúc tôi bị xiềng xích”. Nhưng, ông không màng chi chuyện đối kháng: “có can gì không? trừ ra điều này là Đức Kitô được rao giảng cách này hay cách khác, với ý xấu hay ý lành, thế là tôi vui mừng rồi” (Pl 1,15, 17-18). Chương IV: Gian truân sinh nhẫn nại, nhẫn nại sinh trung kiên (Rm 5,3) Khi tới Giê-ru-sa-lem, ông Sao-lô tìm cách nhập đoàn với các môn đệ. Nhưng mọi người vẫn còn sợ ông, vì họ không tin ông là một môn đệ. Ông Ba-na-ba liền đứng ra bảo lãnh đưa ông Sao-lô đến gặp các Tông Đồ, và tường thuật cho các ông nghe chuyện ông ấy được thấy Chúa hiện ra trên đường và phán dạy làm sao, cũng như việc ông ấy đã mạnh dạn rao giảng nhân danh Đức Giê-su tại Đa-mát thế nào. Từ đó ông Sao-lô cùng với các Tông Đồ đi lại hoạt động tại Giê-ru-sa-lem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa. Ông thường đàm đạo và tranh luận với những người Do-thái theo văn hoá Hy-lạp. Nhưng họ tìm cách giết ông. Các anh em biết thế, liền dẫn ông xuống Xê-da-rê và tiễn ông lên đường về Tác-xô. (Cv 9,26-30) Đức kiên trì anh hùng của Thánh Phaolô qua nhiều cơn thử thách và nỗi khổ cực trong suốt cuộc đời đã được thánh nhân kể ra nhiều lần trong các lá thư của mình. Chứng từ được biết đến nhiều nhất được tìm thấy trong lời bào chữa chi tiết và mãnh liệt về tính chính thống và hợp pháp trong công việc truyền giáo của ngài, và trong những lời đả kích dũng cảm và thường là quyết liệt của thánh nhân, chống lại những người đặt vấn đề về sứ vụ của thánh nhân với tư cách là một tông đồ, nhất là vì những khốn khó thánh nhân đã chịu (xc. 2Cr 4,7-15; 6,3-10; 11,23-33), tình trạng yếu đuối thể lý (xc. 2Cr 10,1,10; 1Cr 2,1-5), sự thiếu thốn về quyền uy ân sủng (xc. 2Cr 12,12; 13,3), và trách nhiệm của thánh nhân là tự do rao giảng Tin Mừng[1]. Một số các đối thủ của thánh nhân thuộc về cộng đoàn Kitô hữu ở Côrintô (xc. 2Cr 10,10; 11,4,12-15, 21-23), số khác không thuộc cộng đoàn đó (xc. 2Cr 13,5-10). Trong phần tự biện hộ cho mình, Phaolô hoàn toàn ý thức rằng, một đàng huênh hoang về những việc làm của mình và những thành công là “điên rồ” (xc. 2Cr 11,1,16-21; 12,11), đàng khác, ngài có quyền tự hào vì vinh quang của ngài chỉ dựa trên sự yếu đuối (xc. 2Cr 11,30; 12,5; 13,9), bởi vì rõ ràng những thành công trong công tác tông đồ không phải do ông, nhưng chỉ do Đức Kitô mà thôi (xc. 2Cr 12,9; 4,7; 1Cr 1,27-31; 3,6). Dựa trên khẳng định này, Phaolô cũng nói rõ “chúng tôi đang sống trong xác phàm, nhưng không chiến đấu theo tính xác thịt. Thật vậy, vũ khí chiến đấu của chúng tôi không thuộc về xác thịt, nhưng nhờ Thần Khí, có sức mạnh đánh đổ các đồn luỹ. chúng tôi đánh đổ các kiểu lý luận và mọi thái độ kiêu căng đưa mình lên chống lại sự hiểu biết Thiên Chúa. Chúng tôi bắt mọi tư tưởng phải đầu hàng mà tuân phục Đức Kitô” (2Cr 10,3-5). Mục đích của việc biện hộ của ông là chiếm lại những người tín hữu đã bị các đối thủ lừa gạt và đã ngã gục dưới sức mạnh của họ. Dựa trên sự hiền lành và khiêm nhường của Đức Kitô, Phaolô kêu gọi họ hoà giải trước khi ông dùng quyền uy mà can thiệp (xc. 2Cr 10,1-11). Ông tuyên bố rằng khi ông nại đến quyền uy của mình, thì “không phải chính ông truyền lệnh”, “nhưng chỉ tự hào trong Chúa”, và về điều mà chính Thiên Chúa hoàn tất qua ông như để làm chứng rằng ông là một tông đồ do chính Thiên Chúa “truyền lệnh” (xc. 2Cr 10,17-18). Ông quyết tâm chỉ hành động “theo quyền hành Chúa đã ban cho ông để xây dựng, chứ không phải để phá đổ” (2Cr 13,10). Đoạn Kinh Thánh về phần biện hộ của ông Phaolô, khởi đầu với lời nhập đề ngắn gọn nhắc đến nguồn gốc Do Thái đích thực của ông[2], được chia thành năm phần, mỗi phần kể đến một nỗi khổ ông phải chịu với tư cách là “thừa tác viên của Đức Kitô”, hơn hẳn các đối thủ của ông. Phần đầu tiên nói về nỗi đau khổ thể lý: “Tôi còn hơn họ nữa…, vất vả nhiều hơn, ở tù nhiều hơn, chịu đánh đập hơn gấp bội, suýt chết nhiều lần. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một; ba lần chịu đánh đòn, một lần bị ném đá” (2Cr 11,23-25). Trong phần hai, Thánh Tông Đồ kể đến những chuyến đi để loan báo Tin Mừng: “Ba lần bị đắm tàu; một ngày một đêm trôi giạt giữa biển khơi. Hành trình nhiều chuyến, nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, nguy hiểm trong sa mạc, nguy hiểm ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tại Damas, tổng đốc của vua Arêta đã cho canh gác thành để bắt tôi. Nhưng qua một cửa sổ, tôi đã được thả xuống dọc theo tường thành, và tôi đã thoát khỏi tay ông ta” (2Cr 11,25-26, 32-33). Phần thứ ba kể đến một số vất vả do sứ vụ: “vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng” (2Cr 11,27). Trong phần bốn, “không kể những điều khác”, ông nói về những nỗi khổ tinh thần, phát xuất từ nhiệt tâm tông đồ: “nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh. Có ai yếu đuối mà tôi không yếu đuối? Có ai vấp ngã mà lòng tôi không cháy bừng?” (2Cr 11,28-29). Trong phần năm, Thánh Phaolô bày tỏ những nỗi khổ sâu xa nhất liên hệ đến “những thị kiến và mạc khải của Chúa”, và việc ông “được đưa lên tầng trời thứ ba”. Nhằm ngăn ngừa tính kiêu căng về điều này, thánh nhân xác định: “để tôi khỏi tự cao tự đại vì những mặc khải phi thường ấy, tôi đã bị một cái dằm đâm vào thân xác, đó là sứ giả của Xatan để nó đánh tôi, cho tôi khỏi phải tự cao tự đại. Về điều này, đã ba lần tôi xin Chúa đưa nó xa tôi, nhưng Người nói với tôi: “ơn của Thầy đủ cho anh rồi, vì quyền năng được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12,1-9). Thánh Phaolô coi sự yếu đuối của mình như một yếu tố đặc biệt để nói lên sự trổi vượt trên các đối thủ: “nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những điều cho thấy sự yếu đuối của tôi. Thiên Chúa, Đấng được chúc tụng muôn đời, là Thân phụ Chúa Giêsu, biết rằng tôi không nói dối… Về chính tôi, tôi sẽ chỉ tự hào về những yếu đuối của mình. Tôi rất thích tự hào hơn về những yếu đuối của tôi, để quyền năng của Đức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui mừng khi mình yếu đuối, khi bị xỉ nhục, khốn quẫn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Đức Kitô. Quả thật, khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 11,30; 12,5,9-10). Sau cùng, ở cuối lá thư, thánh nhân nhấn mạnh: “chúng tôi vui mừng khi chúng tôi yếu” (2Cr 13,9). Gần cuối lá thư gửi tín hữu Côrintô, thánh nhân viết: “tôi chẳng thua kém gì các vị siêu tông đồ kia, dù tôi chẳng là gì. Các dấu chỉ của tông đồ được thực hiện giữa anh em: nào là đức kiên nhẫn hoàn hảo, nào là những dấu lạ điềm thiêng và phép lạ” (2Cr 12,11-12). Các điều ấy chứng tỏ rằng thánh nhân đích thực là người được Chúa sai đến. Thánh nhân cũng nói với các tín hữu Côrintô: “Khi đến miền Makêđônia, thân xác chúng tôi chẳng được thảnh thơi chút nào; trái lại, ở đâu cũng gặp gian nan: bên ngoài phải chiến đấu, bên trong phải lo sợ” (2Cr 7,5). Ngay cả bệnh tật, điều vẫn là một ẩn số đối với mọi người, cũng không thể ngăn cản thánh nhân rao giảng cho người Galát (Gl 4,13-14). Thánh nhân thực thi sứ vụ của mình qua việc “kiên trì chịu đựng khi bị gian nan, khốn quẫn, ngặt nghèo, đòn vọt, tù tội, khi gặp biến loạn, bị nhọc nhằn, vất vả, mất ăn mất ngủ”. Các hành động của Thánh nhân được thực thi bằng cách ăn ở trong sạch, khôn khéo, nhẫn nhục, nhân hậu, bằng một tinh thần thánh thiện, một tình thương không giả dối, bằng lời chân lý, bằng sức mạnh của Thiên Chúa; lấy sự công chính làm vũ khí tấn công và tự vệ, khi vinh cũng như khi nhục”. Thánh Phaolô không bận tâm về điều thiên hạ nghĩ về mình, điều đáng kể là sự thật: “Bị coi như bịp bợm, nhưng kỳ thực chúng tôi chân thành; như vô danh tiểu tốt, nhưng chúng tôi được mọi người biết đến; như sắp chết, nhưng chúng tôi vẫn sống; như bị trừng phạt, nhưng chúng tôi không bị giết chết; như phải buồn phiền, nhưng chúng tôi luôn vui vẻ; như nghèo túng, nhưng chúng tôi làm cho bao người trở nên giàu có; như không có gì, nhưng chúng tôi có tất cả” (2Cr 6,4-10). Nỗi khổ lớn nhất của Thánh Phaolô xuất phát từ sự không hiểu biết của giới cầm quyền trong đạo Kitô tại Giêrusalem (xc. Cv 21,17-21), và những người Do Thái trở lại. Những người này muốn theo ông Môsê, coi trọng Lề Luật, đền thờ, việc cắt bì, và những thực hành đạo đức khác; bằng chứng về sự kiện này có thể thấy, một cách nào đó, trong quyết định của cái được gọi là Công Đồng Giêrusalem (xc. Cv 15,23-25). Những người này nại đến uy thế của ông Giacôbê (xc. Gl 2,12) và theo dõi ông Phaolô cách sít sao nhằm ngăn cản cuộc khởi hành của ông, chống lại sứ điệp của ông và nghi ngờ về tính hợp thức trong sứ vụ tông đồ của ông (xc. 2Cr 11,5-12; 12,11). Những thử thách gian khổ luôn đe doạ sự bình an tinh thần và nhẫn nại của thánh nhân, nhưng thánh nhân tìm được sức mạnh của mình nhờ lòng yêu mến Đức Kitô: “Tôi có sức chịu đựng được hết, nhờ Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13). Trong thư gửi tín hữu Rôma, Thánh nhân đặt câu hỏi: “ai sẽ tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? chẳng lẽ là gian nan, ngặt nghèo, bắt bớ, đói khát, trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo?” Từ kinh nghiệm cá nhân, thánh nhân xác định: “không, trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta”. Thánh nhân xác tín mạnh mẽ: “tôi tin chắc rằng, cho dù sự chết hay sự sống, thiên sứ hay quản thần, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hoặc bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,35-38). Thánh Phaolô đi từ thành phố này sang thành phố khác để loan báo Đức Kitô, đầy kiên nhẫn chịu đựng nhiều nỗi khốn khó và thái độ không thông cảm của dân chúng: “cho đến giờ này, chúng tôi vẫn chịu đói khát, trần truồng, bị hành hạ, và lang thang phiêu bạt; thì chúng tôi phải vất vả tự tay làm lụng… Cho đến bây giờ, chúng tôi đã nên như rác rưởi của thế gian, nên như đồ phế thải của mọi người”. Phản ứng của thánh nhân trước tất cả những điều này phát xuất trực tiếp từ Tin Mừng: “Bị nguyền rủa, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi cam chịu; bị vu khống, chúng tôi đem lời an ủi” (1Cr 4,11-13). “Chúng tôi chịu đựng tất cả mọi sự để khỏi gây trở ngại cho Tin Mừng của Đức Kitô” (1Cr 9,12). Thánh Phaolô không bao giờ chán nản, tuyệt vọng: “chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp; hoang mang nhưng không tuyệt vọng; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt. Chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu” (2Cr 4,8-10). Vì luôn mang trên mình những dấu tích của Đức Giêsu (xc. Gl 6,17), nên Thánh nhân luôn “chứa chan niềm an ủi và tràn ngập nỗi vui mừng trong mọi cơn gian nan khốn khó” (2Cr 7,4). Thánh Phaolô hãnh diện về những khốn khó của mình: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài Thập Giá Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta! Nhờ Thập Giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào Thập Giá đối với tôi và tôi đối với thế gian” (Gl 6,14). Thánh nhân so sánh mọi khốn khó của mình với cuộc rước khải hoàn của người Rôma, trong đó người thắng trận dẫn những tù nhân như là những nô lệ đến chỗ chết. Thánh nhân nhấn mạnh rằng Đức Kitô cũng xử với ông như vậy (xc. 2Cr 2,14). Thánh nhân nói với người Côrintô rằng ông là người Thiên Chúa đã đặt “ở chỗ chót”, như Người “mang án tử” trong đấu trường của người Rôma (xc. 1Cr 4,9; X. 2Cr 1,9). Hy vọng rằng việc kể ra những khốn khó mình đã trải qua không làm nản lòng những độc giả, thánh nhân viết: “tôi xin anh em đừng nản chí khi thấy tôi phải gian truân vì anh em”. Thánh nhân cũng cho họ biết lý do để không được chán nản: những gian truân ấy là “vinh quang của anh em” (Ep 3,13), tức là tôi được hưởng lợi vì ơn cứu độ của anh em. Thánh nhân cũng tạ ơn Chúa vì có cơ hội hiến dâng những đau khổ của mình vì ơn cứu độ người khác: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân phụ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi nhân ái và là Thiên Chúa hằng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết nâng đỡ những ai lâm cảnh gian nan khốn khó. Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Kitô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi. Chúng tôi có phải chịu gian nan, thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi có được an ủi thì cũng là để anh em được an ủi, khiến anh em có sức kiên trì chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu. Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, vì biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng sẽ được thông phần an ủi như vậy” (2Cr 1,3-7). Thánh nhân cũng muốn kết hợp chính mình với những đau khổ của Đức Kitô nhân danh người khác: “giờ đây tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24). Chính vì sự kiên nhẫn được thực thi qua bao nhiêu thử thách trong suốt thời gian thi hành tác vụ và trong khi chịu đựng muôn vàn khổ đau, Thánh Phaolô thật xứng danh là vị “Tông Đồ Vĩ Đại”, như người ta vẫn gọi, hay có thể gọi Thánh nhân là “Con Người của Đức Kiên Trì Cao Cả”. Chương V: Hãy khiển trách, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng kiên nhẫn và chủ tâm dạy dỗ (2Tm 4,2) Được vị chỉ huy cho phép, ông Phao-lô đứng trên bậc thềm giơ tay làm hiệu cho dân. Mọi người im phăng phắc; ông Phao-lô nói với họ bằng tiếng Híp-ri: “Thưa quý vị là những bậc cha anh, xin nghe những lời biện bạch tôi nói với quý vị bây giờ đây.” Khi nghe thấy ông nói với họ bằng tiếng Híp-ri, họ càng yên lặng hơn. Ông nói tiếp: “Tôi là người Do-thái, sinh ở Tác-xô miền Ki-li-ki-a, nhưng tôi đã được nuôi dưỡng tại thành này; dưới chân ông Ga-ma-li-ên, tôi đã được giáo dục để giữ Luật cha ông một cách nghiêm ngặt. Tôi cũng đã nhiệt thành phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiện nay. Tôi đã bắt bớ Đạo này, không ngần ngại giết kẻ theo Đạo, đã đóng xiềng và tống ngục cả đàn ông lẫn đàn bà, như cả vị thượng tế lẫn toàn thể hội đồng kỳ mục có thể làm chứng cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em ở Đa-mát, và tôi đi để bắt trói những người ở đó, giải về Giê-ru-sa-lem trừng trị. “Khi trở về Giê-ru-sa-lem, đang lúc tôi cầu nguyện trong Đền Thờ, thì tôi xuất thần và thấy Chúa bảo tôi: ‘Mau lên, hãy rời khỏi Giê-ru-sa-lem gấp, vì chúng sẽ không nhận lời anh làm chứng về Thầy đâu.’ Tôi thưa: ‘Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đây đã đến từng hội đường bắt giam và đánh đòn những kẻ tin Chúa. Khi người ta đổ máu ông Tê-pha-nô, chứng nhân của Chúa, thì chính con cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy.’ Chúa bảo tôi: ‘Hãy đi, vì Thầy sẽ sai anh đến với các dân ngoại ở phương xa.’” (Cv 21:40;22:1-5.17-21) Mặc dù không xác định rõ ràng cá nhân mình “là thầy dạy”, trừ trong các thư gửi ông Timôthê (xc. 1Tm 2,7; 2Tm 1,11), Thánh Phaolô vẫn nhận mình là một trong những người hoàn thành tốt đẹp vai trò này, vừa cảnh báo lẫn khích lệ, vừa khen ngợi lẫn sửa bảo. Mỗi khi thánh Phaolô tuyên dương các tín hữu trong các thư ngài gửi cho họ, ngài đều dùng những lời lẽ hăng say và chan chứa những lời nói tốt đẹp. Ngài nói với những người Thessalônica: “chúng tôi hãnh diện về anh em trước mặt các Hội Thánh của Thiên Chúa, vì lòng kiên nhẫn và lòng tin của anh em trong mọi cơn bắt bớ và gian truân anh em phải chịu” (2Tx 1,4). Rồi thánh nhân tạ ơn Thiên Chúa, khen ngợi họ “vì lòng tin, vì nỗi khó nhọc họ gánh vác, vì lòng yêu mến”, và vì “sự kiên nhẫn chịu đựng do lòng trông cậy vào Chúa chúng ta là Đức Giêsu Kitô”. Về đề tài “quyên tiền giúp các thánh” (xc. 1Cr 16,1), thánh nhân cho thấy sự “khó nghèo cùng cực” của các Hội Thánh tại Makêđônia (Philíp, Thessalônica, Bêroa) đã biến họ thành những người giàu lòng quảng đại (2Cr 8,2). “Tôi xin làm chứng rằng theo khả năng của họ, và quá khả năng của họ nữa, một cách tự nguyện, họ khẩn khoản nài xin chúng tôi cho họ được phúc tham dự vào việc phục vụ các thánh. Họ đã vượt quá điều chúng tôi mong ước là tự hiến mình trước tiên cho Chúa, rồi cho chúng tôi…” (2Cr 8,3-5; X. Gl 4,15; Pl 1,5; 4,14-16; 1Tx 1,8; 2Tm 1,4-5). Thánh nhân viết cho các tín hữu Côrintô: “tôi rất tin tưởng anh em, tôi rất hãnh diện về anh em” (2Cr 7,4). Thánh nhân dành cho họ tình cảm đặc biệt: “tôi sẽ rất vui lòng tiêu những gì tôi có, và tiêu hao tất cả con người tôi vì linh hồn anh em” (2Cr 12,15). Dầu vậy, thánh nhân không ngần ngại nói rõ họ chưa phải là gương mẫu và đáng tin, mà vẫn còn là những người “sống theo xác thịt, những trẻ nhỏ trong Đức Kitô” (1Cr 3,1) giữa họ vẫn có những chia rẽ (xc. 1Cr 1,10-13; 2Cr 12,20); họ là những người kiêu ngạo (xc. 1Cr 4,18-19), sống gian dâm (xc. 1Cr 5,1), một số người khác lại kiện cáo nhau, để cho những người ngoại đạo xét xử (xc. 1Cr 6,1-7); và họ đã có những lạm dụng nghiêm trọng trong việc cử hành Thánh Thể (xc. 1Cr 10,14-30). Thoạt đầu, Thánh Tông Đồ giữ thái độ kiên nhẫn và yên lặng, tuy nhiên, thái độ ấy không đạt được mục đích mà còn kích động thêm những người gây rối loạn, họ tố cáo thánh nhân là yếu nhược. Vì thế thánh nhân đổi thái độ, xác định rằng khi đến nơi, thánh nhân sẽ chỉ cho họ thấy “ý nghĩa lời lẽ nghiêm khắc trong các thư” (xc. 1Cr 10,10). Thánh nhân cũng xác định rằng, “sẵn sàng sửa trị mọi sự bất tuân” (2Cr 10,6), và như ngài đã đe, sẽ không loại trừ việc sử dụng roi vọt (1Cr 4,21). Dù vậy, thánh Phaolô cảm thấy cần phải bày tỏ lý do trong việc nghiêm khắc sửa trị: “tôi viết những lời đó không phải để làm anh em xấu hổ, nhưng là để khuyên bảo anh em như những người con yêu quý của tôi” (1Cr 4,14). Thánh nhân còn giải thích thêm: “tôi đã phải gian nan nhiều, con tim se thắt, nước mắt chan hòa khi viết cho anh em: tôi viết không phải để làm cho anh em buồn phiền, nhưng là để cho anh em biết tôi hết lòng yêu mến anh em” (2Cr 2,4). Thánh nhân còn viết: “tôi khuyên bảo anh em như những người con yêu quý của tôi. Thực vậy, thánh nhân xác định: “tôi đã cho anh em uống sữa” (1Cr 3,2); cho dẫu anh em có ngàn vạn giám hộ trong Đức Kitô, anh em cũng không có nhiều cha đâu, bởi vì trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” (1Cr 4,14-15). Và như một người cha, thánh Phaolô sẵn sàng tha thứ. Lý do duy nhất đẻ ngài mạnh tay xử phạt là hy vọng làm cho các con cái của mình biết hồi tâm nghĩ lại (2Cr 3,12). Thánh nhân không ân hận vì đã khiển trách họ: “dù trong bức thư trước tôi có làm cho anh em buồn phiền, tôi cũng không hối tiếc. Mà giả như có hối tiếc – vì thấy rằng bức thư ấy đã làm cho anh em buồn phiền, tuy chỉ trong một thời gian ngắn -, thì nay tôi lại vui mừng, không phải vì anh em đã buồn phiền, nhưng vì nỗi buồn phiền đó làm cho anh em hối cải” (2Cr 7,8-9). Với các tín hữu Thessalônica, thánh Phaolô cư xử dịu dàng, như người mẹ hiền với các con của mình. Thánh nhân quan tâm nhiều đến họ đến nỗi sẵn sàng chia sẻ với họ không những Tin Mừng của Thiên Chúa mà cả mạng sống của mình nữa, vì họ đã trở nên những người thân yêu của ngài (xc. 1Tx 2,7-8). Thánh nhân khuyên bảo họ “như cha đối với con” (1Tx 2,1-11). Tuy nhiên thánh nhân không nương tay với những người làm xáo trộn đời sống cộng đoàn, như được chứng tỏ trong cách sử dụng các từ ngữ: “những kẻ giả danh là anh em, những kẻ dò xét (Gl 2,4), những kẻ xuyên tạc Lời Chúa (2Cr 2,17), những tông đồ giả, thợ gian giảo, đội lốt tông đồ của Đức Kitô, đồ đệ của Satan, những kẻ đội lốt người phục vụ sự công chính” (2Cr 11,13-15). Mặc dầu thánh Phaolô coi những người Galat như những người con bé nhỏ mà ngài phải vất vả cho đến khi “Đức Kitô hình thành nơi họ” (Gl 4,19), và mặc dù họ rất quý trọng thánh nhân, đến nỗi họ có thể móc mắt hiến cho ngài (xc. Gl 4,15), thánh nhân cũng không ngần ngại gọi họ là “những người ngu xuẩn” và “không hiểu biết” (Gl 3,1,3). Thánh nhân viết cho họ cách rõ ràng đầy kinh ngạc: “nếu có ai loan báo cho anh em một Tin Mừng khác với Tin Mừng anh em đã lãnh nhận, thì chớ gì kẻ ấy bị tru diệt” (Gl 1,9). Thánh nhân châm biếm “những kẻ gây xáo trộn” trong cộng đoàn hãy tiếp tục thực hành việc cắt bì và tự hoạn chính mình: “phải chi những kẻ làm cho anh em bị rối loạn, hãy tự thiến cho rồi!” (Gl 5,12). Thánh nhân khuyến khích mọi người thực thi đức bác ái; nhưng nếu họ không làm như vậy, thánh nhân châm biếm họ: “nếu anh em cắn xé và ăn thịt nhau, thì hãy coi chừng, kẻo anh em tiêu diệt lẫn nhau đấy!” (Gl 5,15). Thánh Phaolô cũng dùng một số lời nghiêm khắc với người Philíp, cảnh báo họ đừng để bị mê hoặc bởi những người rao giảng sự cắt bì: “anh em hãy coi chừng quân chó má! hãy coi chừng bọn thợ xấu! hãy coi chừng những kẻ cắt bì giả hiệu!” (Pl 3,2). Thánh nhân kêu mời môn đệ Timôthê noi gương ngài: “hãy rao giảng Lời Chúa, cứ lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện; hãy khiển trách, ngăm đe, khuyên nhủ với tất cả lòng kiên nhẫn và chủ tâm dạy dỗ” (2Tm 4,2). Người mục tử đích thực không để mình bị ngã gục vì những bất mãn; không được nản lòng vì những trì trệ ban đầu, nhưng phải có sức mạnh tinh thần và lòng kiên nhẫn để bắt đầu lại trong lòng tin. Không phải lúc nào Thánh Phaolô cũng dùng những lời lẽ tâm tình như vậy; nhiều lúc thánh nhân không thể không nóng giận trước sự chống đối của những kẻ “giả danh là anh em” (xc. Gl 2,4) Tuy nhiên, trong chuyện này, thánh nhân không xử sự vì mất kiên nhẫn, nhưng chỉ vì lòng nhiệt thành khi nhìn thấy công việc loan báo Tin mừng của mình bị phá hoại một cách bất công (xc. Gl 3,1-4; Pl 3,2). Thánh nhân còn tìm kiếm những cách khác nhau để loan báo Tin Mừng (xc. Pl 1,18), nhưng không phải là trình bày một Đức Kitô khác; cũng không phải là ông Môsê thay thế Đức Kitô (xc. 2Cr 11,4; Gl5,1-4). Mối bận tâm duy nhất của ngài là chân lý và ơn cứu độ. Vì thế, thánh nhân không thể yên lặng; nhưng trong những gì có liên quan đến ngài, ngài khiêm tốn và nhẫn nại đón nhận đau khổ và nhục nhã. “Bị nhục mạ, chúng tôi chúc lành; bị bắt bớ, chúng tôi chịu đựng; bị vu khống, chúng tôi đem lời an ủi” (1Cr 4,12-13). Thánh nhân sẵn sàng dùng “roi vọt” (dùng sức mạnh) nếu đó là vấn đề bảo vệ sự toàn vẹn của sứ điệp Kitô giáo, dầu vậy, ngài vẫn ưa thích “tình yêu và lòng hiền hòa hơn” (1Cr 4,21). Sức mạnh tinh thần của thánh Phaolô được thể hiện qua nhiều đường lối trái ngược nhau. Khi thấy anh em không tuân theo Tin mừng, thánh nhân sẵn sàng, nếu cần, “đối đầu với Kêpha (Phêrô)”, tuỳ theo hoàn cảnh, và tố cáo ông Kêpha cũng như ông Barnabê vì thái độ giả hình (xc. Gl 2, 11-14), nhưng thánh nhân lại trở nên không quyết đoán khi phải bày tỏ quan điểm của mình… Để không làm giảm đi cơ hội loan báo Tin Mừng (xc. Cv 22,25-29), thánh nhân né tránh để không bị đánh đòn, nhưng ngài chấp nhận yêu cầu của giám mục Giêrusalem (Giacôbê) để đi vào đền thờ và đồng hành với bốn người đồng hương, những người muốn hoàn tất ước nguyện của dân thành Nazaret (xuống tóc) mặc dù ngài cho rằng điều đó không còn cần thiết nữa (xc. Cv 21,23-24). Thánh nhân không ngần ngại trao nộp một người anh em lầm lạc cho Xatan (xc. 1Cr 5,5), nhưng nếu đó là việc cứu với một người anh em, hay không đặt ngăn trở cho đức tin của anh ta, thì thánh nhân sẵn sàng hiến cả mạng sống của mình cách vô điều kiện: “nếu của ăn mà làm cớ cho người anh em tôi sa ngã, thì tôi sẽ không bao giờ ăn thịt nữa, để khỏi làm cớ cho người anh em tôi sa ngã” (1Cr 8,13). Chương VI: Lòng yêu mến thì nhẫn nhục (1Cr 13,4) Đêm ấy Chúa đến bên ông Phao-lô và nói: “Hãy vững lòng! Con đã long trọng làm chứng cho Thầy ở Giê-ru-sa-lem thế nào, thì con cũng phải làm chứng như vậy tại Rô-ma nữa.” (Cv 23,11) Các thư của thánh Phaolô áp dụng giáo huấn của Đức Kitô về đức kiên nhẫn vào những hoàn cảnh cụ thể của các cộng đoàn Kitô hữu thời sơ khai. Thánh nhân nói cho Giáo Hội tại Côrintô biết rằng đức ái là phương tiện hữu hiệu nhất để giải quyết những chia rẽ (xc. 1Cr 1,10-12), nguồn gốc của sự đổ vỡ giữa các nhóm (xc. 1Cr 6,1-6; 11,18-22) và các cá nhân (xc. 1Cr 8,13; 10,23,29). Trong “bài ca đức ái” thời danh, Thánh Tông Đồ kể đến đức kiên nhẫn như là đặc tính đầu tiên của đức ái Kitô giáo: “lòng yêu mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không kiêu ngạo, không làm điều khiếm nhã, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nghĩ điều xấu, không vui mừng trước sự bất chính, nhưng vui mừng vì điều chân thật. Lòng yêu mến dung thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1Cr 13,4-7). Trong bài ca này, Thánh Phaolô họa lên hình ảnh về chính mình: “điều ngài đã học được từ chính Đức Kitô và cách hành động của Người. Theo thánh Phaolô, đức kiên nhẫn là thành phần của cuộc sống được ghi dấu bởi tình yêu, như được nhấn mạnh qua lời khuyến khích sau đây: “lòng yêu mến không được giả dối…, hãy thương mến nhau với tình huynh đệ…, hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa… Đừng lấy ác báo ác, hãy quan tâm làm điều thiện trước mặt mọi người. Anh em hãy làm tất cả những gì có thể, để sống hoà thuận với mọi người. Anh em yêu quý, đừng tự mình báo oán, nhưng hãy để cho cơn thịnh nộ của Thiên Chúa làm việc đó… Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12,9-10,14,17-21). Sau cùng thánh nhân khích lệ các độc giả hãy luôn nhìn ngắm mẫu gương là Đức Kitô và khơi dậy lòng trông cậy nhờ đức kiên nhẫn (hypomoné) (xc. Rm 15,4). Thánh nhân nhắc nhở họ: “Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được hiệp lòng hiệp ý với nhau, như Đức Kitô đòi hỏi” (Rm 15,5). Thay vì cãi lý với nhau, thì điều cần thiết là “hãy chiều theo sở thích người thân cận, nhằm mục đích tốt” (Rm 15,2) và đón nhận người khác như Đức Kitô đã làm, tức là trở thành người phục vụ kẻ khác (xc. Rm 15,7-8). Lý do tối thượng của lòng kiên nhẫn là mẫu gương và giáo huấn của Đức Kitô. Chỉ trong Đức Kitô mới có được sự kiên trì (hypomoné) của các thánh (Kh 13,10; 14,12). Thánh Tông Đồ nhắc lại rằng trước Đức Kitô, đền thờ là nơi “Thiên Chúa thể hiện lòng khoan dung (anoché) (Rm 3,26), tức làThiên Chúa hết lòng kiên nhẫn chịu đựng” (Rm 9,22) đối với mọi người để bày tỏ lòng thương xót. Sau đó thánh nhân khẳng định là muốn được cứu độ cần phải kiên trì làm điều thiện” (Rm 2,7) và cảnh báo các cộng đòan “không được khinh thường lòng nhân hậu, khoan dung, kiên nhẫn dồi dào của Thiên Chúa” (Rm 2,4) bởi vì “từ trời, Thiên Chúa mặc khải cơn thịnh nộ của Người chống lại mọi thứ vô đạo và bất chính của những người lấy sự bất chính mà giam hãm sự thật” (Rm 1,18) và “của những người không vâng phục Người Con” (Ga 3,36). Sứ điệp Kitô giáo dựa trên đức tin vào Thiên Chúa đồng thời trên đức khiêm nhường và lòng yêu mến đối với người khác. Một cuộc sống hài hoà đòi buộc phải có khả năng trao đổi với mọi người thuộc mọi nguồn gốc, mọi nền giáo dục và đào tạo khác nhau. Thật ra, sống hòa đồng với nhau không phải là chuyện dễ dàng đâu; điều này đòi phải biết chờ đợi và thông cảm. Về vấn đề này, thánh Phaolô nhắc nhở các tín hữu Thêssalônica “hãy kiên nhẫn với mọi người”, nhất là với những người vô kỷ luật, nhút nhát, yếu đuối và cả với những người (theo mạch văn) gây ra sự đau khổ (1Tx 5,14). Với những người được coi là kẻ thù, người Kitô hữu không xử sự theo cảm tính, nhưng do tình yêu tức là lòng kiên nhẫn, sự thông cảm và tính quảng đại: “Đừng có ai lấy ác báo ác, nhưng hãy luôn cố gắng làm điều thiện cho nhau cũng như cho mọi người” (1Tx 5,15; X. Rm 12,17; 1Pr 3,9, 11,17). Sau cùng thánh nhân cầu chúc cho mọi người: “Xin Chúa hướng dẫn tâm hồn anh em, để anh em yêu mến Thiên Chúa và kiên nhẫn chịu đựng như Đức Kitô” (2Tx 3,5). Các hành động của người khác, dù sai lầm và bất chính, cũng không thể làm xáo trộn sự an bình sâu xa của người có lòng tin. Bất kể mọi sự, người Kitô hữu luôn chứng tỏ họ có niềm vui (xc. 1Tx 5,16) và luôn nỗ lực trong lời cầu nguyện và tạ ơn (xc. 1Tx 5,17-18). Ngay cả khi chứng kiến cái chết của người thân, người Kitô hữu cũng không đánh mất niềm hy vọng, hay rơi vào tình trạng bất an (xc. 1Tx 4,13). Ở phần cuối, thánh Phaolô kết luận với lời khẩn cầu: “Xin Thiên Chúa là nguồn bình an thánh hoá toàn diện con người anh em” (1Tx 5,23). Bình an là nét riêng của tâm hồn người Kitô hữu, ngay cả trong những thời khắc đen tối nhất. Thực vậy, đời sống của người tín hữu tại thành phố Thessalônica không phải là dễ dàng, nhưng đức tin và lòng mến của họ vẫn không thiếu. Họ đã được vững mạnh nhờ những bách hại và thử thách “xảy đến cho họ vì Tin Mừng” (xc. 1Tx 1,3-4). Tình hình có thể trở nên xấu và tệ hơn, nhưng người Kitô hữu không ngừng thực thi điều tốt theo lời khuyên rõ ràng của thánh Phaolô: “đừng nản chí khi làm điều thiện” (2Tx 3,13), và lời cầu nguyện: “bình an mọi lúc về mọi phương diện” (2Tx 3,16). Bình an là bằng chứng của tâm hồn tràn đầy hiền hoà, bao dung và kiên nhẫn. Thánh Phaolô cũng nhận thấy tín hữu Galat đang cần có bình an, vì hiện có tranh luận về tương quan giữa Do thái giáo và Kitô giáo. Mối tương quan này đã nóng lên đến mức những người trong cuộc “cắn xé và ăn thịt nhau” (Gl 5,15). Thánh nhân kêu gọi họ “từ bỏ những việc do tính xác thịt”, tức là mọi thứ tật xấu (xc. Gl 5,19), và “bước đi nhờ Thần Khí”, được Thần Khí hướng dẫn, với những hoa trái là : “bác ái, hoan lạc, bình an, kiên nhẫn, nhân hậu, hảo tâm, trung tín, hiền hoà và tiết độ” (Gl 5,18, 22,25). Chỉ trong đường lối này mà chương trình đời sống của thánh Phaolô được hoàn thành: “Anh em hãy mang lấy gánh nặng của nhau” (Gl 6,2). Trong thư gửi tín hữu Êphêsô, thánh nhân trở lại với đề tài này và yêu cầu: “Tôi khuyên nhủ anh em hãy sống cho xứng với ơn kêu gọi anh em đã nhận được. Với tất cả lòng khiêm tốn, hiền hoà và kiên nhẫn, anh em hãy lấy lòng yêu mến mà chịu đựng lẫn nhau. Anh em hãy thiết tha duy trì sự hợp nhất mà Thần Khí ban cho nhờ mối dây liên kết là sự bình an. Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng khi anh em được kêu gọi” (Ep 4,1-4). Để hiệp nhất, cần phải “phục tùng lẫn nhau vì lòng kính sợ Đức Kitô”. Cách đặc biệt, vợ chồng hãy tùng phục lẫn nhau (xc. Ep 5,21-25), và con cái phải vâng phục cha mẹ (xc. Ep 6,1). Nô lệ cũng phải chấp nhận tình trạng của mình “với lòng đơn sơ” và cam chịu, xác tín rằng mình đang thi hành thánh ý Chúa (xc. Ep 6,5-8). Thánh Phaolô không nghi ngờ gì khi khuyên dân chúng đón nhận tình trạng hiện tại với lòng cam chịu và yêu mến, coi đó như là ý Thiên Chúa. Vì thế thánh nhân không ngần ngại trình bày và nhấn mạnh đề nghị của mình. Đang khi Thánh Phêrô nêu lên lý lẽ thần học về sự tùng phục: ngài khuyên những người nô lệ hãy kiên nhẫn với những người chủ của mình, dù rằng có “khó khăn”. Nếu vì lòng tin kính Thiên Chúa mà chấp nhận những nỗi khổ phải chịu một cách bất công thì đó là ân huệ (1Pr 2,19). Chịu đựng đau khổ như mình đáng chịu thì chẳng có công trạng hay lợi ích gì. Còn Thánh Phaolô kêu mời dân chúng chuẩn bị sống kiên nhẫn như ơn gọi Kitô hữu đòi hỏi: “anh em hãy loại trừ mọi chua cay, gắt gỏng, giận hờn, hay la lối thoá mạ, cùng với mọi thứ gian ác. Hãy đối xử tốt với nhau, có lòng thương xót và tha thứ cho nhau, cũng như Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4,31-32). Rồi thánh nhân thêm: “chớ để mặt trời lặn mà cơn giận vẫn còn” (Ep 4,26). Giận dữ là dấu chỉ của thái độ không kiên nhẫn. Đức kiên nhẫn là yếu tố cần thiết để mỗi người tiếp cận với các biến cố của cuộc sống, và càng trở thành yếu tố quan trọng hơn trong cuộc sống hằng ngày của mỗi Kitô hữu nếu họ muốn được bình an và hợp nhất. Như thế, đức kiên nhẫn được nối kết với “đức hiền hòa” và “lòng khiêm hạ” nhằm xây dựng cộng đoàn (xc. Ep 4,2,12). Thánh nhân nói thêm: “hãy sống trong lòng yêu mến”, theo mẫu gương Đức Kitô để lại (Ep 5,2). Sự dữ có thể tạo nên bất hòa. Vì vậy, phải “tỉnh thức và chuyên cần cầu xin” (Ep 6,18). Do đó, kiên nhẫn là động lực hướng dẫn sự hòa hợp trong cộng đoàn và trong đời sống trung thành với Tin Mừng. Khước từ đón nhận những biến cố và gánh nặng của cuộc sống sẽ dẫn tới bất ổn và sẽ chẳng có bác ái lẫn bình an. Trong thư gửi tín hữu Côlôsê, thánh Phaolô vẫn quan tâm tới chiều hướng thần học và mục vụ. Có ai đó muốn gieo rắc sự lầm lạc trong những thành viên của cộng đoàn (xc. Cl 2,8), nên thánh nhân kêu gọi các tín hữu hãy chú ý, đồng thời nhắc lại cho họ biết điều Thiên Chúa muốn về họ. Họ được kêu mời để “biết” và “am tường” về Thánh Ý Người, và cố gắng “sống xứng đáng với Thiên Chúa”. Điều quan trọng chính là hiểu biết sâu xa về “sự thật” (Tin Mừng) (xc. Cl 1,6,9), đừng để mình đi lạc vào những lý luận triết học, mà là hành động đúng đắn, làm việc lành (xc. Cl 1,10), không mệt mỏi và không bao giờ bỏ cuộc. Hành động như thế đòi phải có sức mạnh và trên hết là “kiên trì và nhẫn nại” (xc. Cl 1,11). Kiên nhẫn là điều thiết yếu để các hoạt động bên trong của cộng đoàn không bị hư hoại. Trước kia, con người được phân biệt tuỳ theo loại (nô lệ hay tự do, Do Thái hay Hy Lạp, người cắt bì hay không cắt bì, người man di, mọi rợ) còn điều làm cho trở thành “con người mới” là từ bỏ “nếp sống cũ và các thực hành của nó”, tức là giận dữ, phẫn nộ, độc ác, thóa mạ, ăn nói thô tục”, để mặc lấy “tâm tình thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và kiên nhẫn,… chịu đựng lẫn nhau… và tha thứ cho nhau” (Cl 3,8,12-13). Kiên trì là nhẫn nại trong nếp sống mới này; đó là bao dung và quảng đại đối với những người trở thành bạn đồng hành mới trong cuộc sống thường ngày, những người thuộc các nguồn gốc khác nhau và chưa sống đúng với ơn gọi của họ. Trong hai lá thư gửi cho ông Timôthê và trong lá thư gửi ông Titô, kiên nhẫn được kể đến như một đặc trưng của người chăm sóc các linh hồn. Ông Timôthê là “người của Thiên Chúa” nên không được kiêu căng, tự cao tự đại, cũng không được tranh luận bằng những lời lẽ “gây đố kỵ và bất đồng”. Ông phải theo đuổi “sự công chính, lòng đạo đức, lòng tin, lòng yêu mến, lòng kiên trì, và lòng hiền hậu” (1Tm 6,11). Trên tất cả, giám mục phải là “con người mới”, có nghĩa ông phải là “người quản lý của Thiên Chúa”, phải là người “không ngạo mạn, không nóng tính, không hiếu chiến”, mà ngược lại, phải là người “công chính và biết tự chủ” (Tt 1,7-8). Các cụ ông được khuyên nhủ cách riêng là hãy “sống tiết độ, đàng hoàng, chừng mực, có lòng tin, lòng mến, và lòng kiên trì lành mạnh” (Tt 2,2). Cách xử sự như thế là điều thiết yếu trong việc xây dựng một nếp sống Kitô hữu qui chiếu về tình yêu. Lối sống ấy sẽ không thể có được nếu không loại trừ những thái độ đê hèn, công kích, bất công và không trung thực. Loại trừ tính giận dữ và tìm kiếm cách giải quyết các tranh chấp là bằng chứng về sự can đảm chịu đựng giữa người này với người kia. Lòng yêu mến đối với Thiên Chúa và người khác sẽ giúp cho mỗi người vượt qua những thử thách không thể tránh khỏi của cuộc sống thường ngày cũng như những thử thách gắn liền với ơn gọi Kitô hữu. Một lần nữa, đó chính là bước theo chân Đức Kitô, như Thánh Tông Đồ gợi lên cho ông Timôthê: “nếu ta kiên tâm chịu đựng, ta sẽ cùng hiển trị với Người” (2Tm 2,12). Lời khuyên tiếp theo phát xuất trực tiếp từ tâm hồn của thánh Phaolô: “Hãy tránh xa các đam mê tuổi trẻ”, bao gồm, dù rằng không nói ra, sự nóng giận; hãy ‘theo đuổi sự công chính, lòng tin, lòng mến, và sự bình an, cùng với những ai kêu cầu Chúa với lòng trong sạch. Còn những tranh luận điên dại và ngu dốt, anh hãy loại xa, vì biết rằng những thứ ấy sinh ra xung đột. Thế mà người tôi tớ Chúa thì không được xung đột, nhưng phải dịu dàng với mọi người, có khả năng giảng dạy, biết chịu đựng gian khổ. Người ấy phải lấy lòng hiền hoà mà giáo dục những kẻ chống đối, may ra Thiên Chúa ban cho ơn hối cải để nhận biết sự thật” (2Tm 2,22-25). Thánh Phaolô nói rõ rằng chỉ trong đường lối ấy, con người mới có thể có tương giao thật sự với Thiên Chúa bằng lời cầu nguyện: “Tôi muốn rằng đàn ông hãy cầu nguyện ở bất cứ nơi nào, tay thánh thiện giơ lên, tâm hồn không giận hờn, không xung khắc” (1Tm 2,8). Lá thư gửi tín hữu Do Thái (Hipri) được viết cho những người gốc Do Thái, trong đó có nhiều người là các tư tế của luật cũ. Đức tin của họ đang bị lung lay, vì thế cam kết của họ cần phải được củng cố. Vì thế, tác giả mời gọi họ nhớ lại nhiệt tình thưở ban đầu khi mới gia nhập Kitô giáo. Trên hết, thánh nhân nhắc nhớ họ về lòng kiên trì họ đã có vào thưở ấy: “xin anh em nhớ lại những ngày đầu, lúc vừa được ơn chiếu sáng, anh em đã phải đối phó với bao nỗi khổ đau dồn dập. Khi thì anh em bị lăng nhục và hành hạ trước mặt mọi người, khi thì phải liên đới với những người cùng cảnh ngộ. Quả thật, anh em đã thông phần đau khổ với những người bị tù tội, và đã vui mừng chấp nhận bị tước đoạt của cải, bởi biết rằng mình có những của vừa quý giá hơn và bền vững hơn. Vậy anh em đừng đánh mất lòng tin tưởng mạnh dạn của anh em; lòng tin tưởng đó sẽ mang lại một phần thưởng lớn lao”. Rồi thánh nhân kết luận: “anh em cần phải kiên nhẫn, để sau khi thi hành Thánh Ý Thiên Chúa, anh em được hưởng điều đã hứa” (Dt 10,32-36). Thánh nhân cảnh báo họ về sự kém lòng tin và “thái độ uể oải”, đồng thời khuyến khích họ “noi gương những người nhờ đức tin và lòng kiên nhẫn mà được thừa hưởng các lời hứa”. Có bước khởi đầu tốt đẹp chưa được kể là đã đủ, điều cần thiết là tiến tới trên con đường tốt lành, chống lại mọi cám dỗ muốn sống ngược lại. Tác giả nhắc đến mẫu gương của ông Abraham, người đã nhận được lời hứa vì đã kiên nhẫn đợi chờ” (Dt 6,12. 15). “Mặc dù không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin” (Rm 4,18; X. 4,2-3; Dt 11,8,17; Gl 3,6,9; Gc 2,21). Ông hoàn toàn tin tưởng lời Thiên Chúa hứa sẽ ban cho ông một dòng dõi (xc. St 13,16; 15,5-6; 17,4-7) mặc dù ông đã già (xc. St 12,4; 16,16; 17,1,24; 18,11), và bà Sara vợ ông cũng lớn tuổi (xc. St 21,2; 17,17; Dt 11,11; Rm 4,19) và hiếm muộn (xc. St 16,2; 18,11). Kiên trì là chờ đợi ngày mà chương trình của Thiên Chúa được tỏ hiện. Thái độ kiên trì chờ đợi như thế đã hoạt động trong đời sống các vị tổ phụ, nơi Ông Abel và những nhân vật trong suốt lịch sử Israen cho tới sau này (xc. Dt 11,2-38). Thật vậy, ông Môsê, dù phải chống lại những người đầy thế lực như Pharaô, “vẫn luôn vững vàng, không nao núng, vì như thể xem thấy Đấng vô hình” (Thiên Chúa) (Dt 11,27). Do đó, “phần chúng ta được ngần ấy nhân chứng đức tin như đám mây bao quanh, chúng ta hãy cởi bỏ mọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua đang ở phía trước chúng ta, mắt chăm chú nhìn vào Đức Giêsu là Đấng khai mở và kiện toàn đức tin. Vì niềm vui đang chờ mình ở phía trước, chính Người đã chịu khổ hình thập giá” (Dt 12,1-2). Để an ủi, thánh nhân trấn an họ: “Thiên Chúa không bất công mà quên việc anh em làm và lòng yêu mến anh em đã tỏ ra đối với danh Người, vì anh em đã phục vụ và còn đang phục vụ các thánh” (Dt 6,10). Kiên trì là một nhân đức đặc biệt trong đời sống Kitô hữu, bởi vì nó nâng đỡ những ai đi trên hành trình gian khổ, dù mục tiêu (đích đến) vẫn rõ ràng, nhưng không thể thấy trước được những khó khăn. Tin là tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa, như ông Abraham đã làm, khi ông vâng nghe tiếng gọi mà “ra đi dù không biết mình đi đâu” (Dt,11,8). Ông đã lìa bỏ mảnh đất của tổ tiên (Xc. St 12,1-4), và chỉ mang theo mình “lời hứa sẽ được thừa hưởng thế gian làm gia nghiệp…, hoàn toàn xác tín rằng điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện” (Rm 4,13,21). Lòng tin của tổ phụ Abraham đã được thử nghiệm khi Thiên Chúa yêu cầu ông sát tế người con duy nhất của ông, là Isaac (Xc. St 22,1-19), đứa con của lời hứa (Xc. Rm 9,7-9). Ông Abraham đã vâng nghe vì “ông nghĩ rằng Thiên Chúa có quyền năng cho người chết chỗi dậy” (Dt 11,19; X. Rm 4,17). Nhờ vậy, trước mặt Thiên Chúa, ông là cha của chúng ta trong đức tin, cha của nhiều dân tộc (Rm 4,16-18), và “được gọi là bạn hữu của Thiên Chúa (Gc 2,23). Theo triết gia Kierkegaard, tổ phụ Abraham trở thành vĩ đại “vì biết đợi chờ”, hay nói cách khác chính là biết kiên nhẫn. Thực vậy, có người trở thành vĩ đại vì đang trông chờ điều có thể; người khác trở thành vĩ đại vì biết trông chờ điều vĩnh cửu; nhưng người vĩ đại nhất là người đã trông chờ điều không thể[1]. Tổ phụ Abraham “vì đã tin vào điều vô lý” và vì thế đã trở thành người vĩ đại nhờ sức mạnh của lòng tin, mà sức mạnh của ông chính là sự bất lực; ông vĩ đại vì sự khôn ngoan, mà điều thâm sâu của sự khôn ngoan ấy lại là sự dốt nát; ông vĩ đại bởi niềm hy vọng của mình mà cách thức của niềm hy vọng ấy thì khác thường. “Đang khi dõi bước tổ phụ chúng ta là ông Abraham trên đường đức tin” (Rm 4,12), Thánh Tông Đồ dân ngọai, từ lúc trở lại theo Chúa cho đến lúc bị cầm tù và trảm quyết vì Tin Mừng, vẫn luôn trung tín với sứ mạng của mình, như một người lính trung thành với lệnh truyền đã lãnh nhận (Xc. 2Tm 2,4). Thánh nhân đã đón nhận tất cả những đau khổ trong sứ mệnh với một lòng kiên nhẫn đầy anh hùng, bởi vì, thánh nhân đã được thúc đẩy bởi một ước nguyện duy nhất là nhằm cứu độ chính các anh em của mình: “cam chịu mọi sự (hyponéno), để mưu ích cho những người Thiên Chúa đã chọn” (2Tm 2,10): đó là vinh dự của thánh nhân, đồng thời cũng là chương trình sống ông để lại cho tất cả những ai có lòng thiện chí, nhất là cho mọi người tin vào Đức Kitô Giêsu. Phaolô Biến Đổi Cuộc Đời Rao Giảng Đức Kitô Bài 1: SƠ YẾU LÝ LỊCH THÁNH PHAOLÔ Bản tự khai của Phaolô Tên 1. Saoulos (Saul - Sa-un - Saolê): nghĩa đen là "người được hỏi" • Là tên do thái được đặt khi mới sinh 2. Paulus (Phaolô) • Là tên Rôma. Paulus nghĩa là "Ít, nhỏ" Diaspora • Gia đình ngài sinh sống ở thành phố Tarsô (nay thuộc nước Thổ Nhĩ Kỳ). Ngoài lãnh thổ Palestine, gọi chung là diaspora. Công dân Rôma • Rất ít người có quyền này (thống kê thế kỷ I: chỉ 1/5 dân số của đế quốc) Phái Pharisêu • Thời đó có nhiều hệ phái: (1) Sađóc: mất uy tín; (2) Pharisêu: uy tín nhất; (3) Essêni: tuy đạo đức nhưng sống xa cách nên không ảnh hưởng nhiều; (4) Zêlốt: quá khích và thiên về chính trị, quân sự. Rabbi, đệ tử của Rabbi Gamaliel • Cv 22,3: Phaolô xưng mình là đệ tử của Rabbi Gamaliel. SUY NGHĨ Với sơ yếu lý lịch như vậy, Phaolô có một tương lai hết sức rực rỡ. Bài 2: BIẾN CỐ ĐAMÁT Nếu chú ý tìm hiểu kỹ một số chi tiết trong các bài tường thuật của Sách Công vụ, chúng ta sẽ hiểu thêm nhiều điều rất sâu sắc về biến cố Đamát. A. Động cơ khiến Phaolô đi Đamát Cv 26,12 ghi lời Phaolô kể rằng "Sau khi được các Thượng tế trao quyền và ủy nhiệm, tôi lên đường đi Đamát". Thực ra, theo Chantal Reynier (Pour Lire Saint Paul, nxb Cerf, Paris 2008), chưa chắc là các Thượng tế ở Giêrusalem có quyền đến tận Đamát là thủ đô nước Syria, nơi ấy thời đó chỉ có uy quyền duy nhất của đế quốc Rôma đô hộ. Việc các Thượng tế vượt quá quyền hạn của mình như thế chứng tỏ họ rất muốn tiêu diệt các tín hữu của Đức Kitô. Và việc Phaolô tích cực thực hiện ý định của các Thượng tế cũng cho thấy Phaolô thù ghét các tín hữu Đức Kitô đến mức nào. Hoàn cảnh chính trị thời đó cũng phức tạp: Từ năm 30 đến năm 34, Thành phố Đamát là trung tâm của những xung đột giữa phe Hêrôđê và phe Nabatê. Đến Đamát là đi vào chốn nguy hiểm. Nhưng Phaolô cũng bất chấp. Như thế động cơ khiến Phaolô lên đường đi Đamát cũng là sự thù ghét rất mạnh mẽ đối với các tín hữu Đức Kitô. Tuy nhiên, dựa vào tác phong và cách sống quen có của Phaolô, ta biết ông không phải là một kẻ tiểu nhân. Do đó cho dù việc ông đi lùng bắt các tín hữu Đức Kitô là do thù ghét, nhưng sự thù ghét này không phải vì những lý do thấp hèn, chẳng hạn như lòng đố kỵ hay sợ mất ảnh hưởng. Đó là sự thù ghét vì ý ngay lành vì Phaolô xác tín rằng những tín hữu ấy đang lầm lạc và nếu cứ để họ phát triển thì sẽ tác hại lớn lao đến niềm tin Do thái giáo. B. Ngã xuống đất 1. Thị kiến mà Phaolô thấy trên đường Đamát không phải là một ảo giác của Phaolô, cũng không phải là một "huyền thoại" mà tác giả sách Công vụ mượn để diễn tả ý tưởng thần học của mình. Đó là một sự thật đã xảy ra. Bằng chứng là cuộc đời Phaolô đã hoàn toàn thay đổi sau biến cố ấy. 2. Có một chi tiết cần làm sáng tỏ: Ngày nay khi thuật lại biến cố này, người ta thường kể rằng Phaolô bị té từ trên ngựa xuống đất. Nhiều bức họa cũng vẽ cảnh Phaolô té xuống từ trên lưng ngựa. Tuy nhiên không có bằng chứng gì chính xác: • Thời đó người ta ít cỡi ngựa. Chỉ những chiến binh ra trận mới dùng ngựa mà thôi. C. Mù và lại sáng mắt Cv 9,3 kể: "Đang khi ông đi đường và đến gần Đamát, thì bỗng nhiên có một luồng ánh sáng từ trời chiếu xuống bao phủ lấy ông" Luồng ánh sáng chọi lọi ấy trước tiên khiến Phaolô bị mù (Cv 9.8: "Ông Saolô từ dưới đất đứng dậy, mắt thì mở nhưng không thấy gì. Người ta phải cầm tay dắt ông vào Đamát") Phaolô bị mù, nghĩa là ông không thấy gì nữa với cặp mắt, với cái nhìn và với suy nghĩ cũ của ông. Sau khi vào thành Đamát và được Khanania đặt tay lên đầu. "Lập tức có những cái gì như vảy bong ra khỏi mắt ông Saolô, và ông lại thấy được" (Cv 9,18). Phaolô mở mắt lại. Mở mắt lại, Phaolô đã nhìn mọi sự một cách khác hẳn. Phải nhớ bối cảnh biến cố Đamát thì mới hiểu hết ý nghĩa những lời Phaolô nói sau này. Như: "Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô. Vì Người , tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người" (Pl 3,8-9) "Tất cả mọi sự" mà trước đó Phaolô coi là "mối lợi" nhưng sau đó ông lại "coi như rác" và còn là "thiệt thòi" nữa là gì? Thưa cụ thể là Luật và những việc đạo đức theo Luật. • Trước biến cố đó, Phaolô đã dành hết tâm huyết để sống theo Luật: Ông học Luật, ông hết sức tuân thủ những điều Luật dạy, ông có bắt bớ các tín hữu Đức Kitô thì cũng vì muốn bảo vệ Luật. Ông đã tưởng rằng càng nhiệt thành với Luật thì ông càng có nhiều công đức, và "mối lợi" của ông càng to lớn. • Nhưng khi gặp được Đức Kitô tỏ mình ra sáng láng trên đường Đamát, ông chợt khám phá ra rằng tất cả những cố gắng của ông trước đây đều là công dã tràng, chẳng có một chút công đức gì (vì quả thực, đối với Chúa, tất cả những gì chúng ta làm được đều không đáng kể. Phaolô sẽ nói điều này trong thư Rôma và Galát). Điều duy nhất có giá trị, điều duy nhất khiến người ta được cứu độ chính là niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. D. Một lẽ sống mới Đấng uy quyền đã quật ngã Phaolô chính là Chúa Giêsu Kitô. Sau khi quật ngã ông, Đức Kitô ban cho ông một mặc khải: Giêsu đang hiện ra với ông không phải là một tên gian ác bị các Thượng tế dùng Luật Môsê để xử tử, mà là một Đấng sáng láng uy quyền đã được Thiên Chúa cho sống lại. Trong Pl 3,12, Phaolô thú nhận "Tôi đã được Đức Kitô Giêsu chiếm đoạt". Đức Giêsu chẳng những quật ngã Phaolô, chiếm đoạt ông, mà còn trở thành thần tượng cho ông tôn thờ. Trong Pl 2,10, Phaolô viết: "Khi vừa nghe Danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ". Trên đường Đamát, Phaolô đã "bái quỳ" để tôn thờ Danh thánh Giêsu. Tóm lại, ý nghĩa của biến cố Đamát là gì? Cuộc gặp gỡ Đức Giêsu trên đường Đamát là một bước ngoặc trong cuộc đời thánh Phaolô: • Trước tiên, biến cố ấy giúp Phaolô hiểu rằng mình đã lầm: Lầm vì đã quá cậy dựa vào Luật đạo Do thái; lầm vì đã quá tự mãn với những hiểu biết về Luật của mình; lầm vì quá tự hào về những cố gắng sống theo Luật từ trước cho tới lúc ấy. Biến cố ấy vạch trần một sự thật phũ phàng là tất cả những điều ấy đã không làm cho ông trở nên một người công chính như ông tưởng, trái lại chỉ đưa đến một kết quả tai hại là khiến ông thù ghét Đấng Công chính thật là Đức Giêsu và hung hăng bắt bớ các tín hữu của Ngài. BÀI HỌC CHO CHÚNG TA 1. Cần có một lẽ sống Phaolô là một con người luôn có một lẽ sống. Trong giai đoạn đầu, ông theo một lẽ sống của sai lạc (Luật), trong giai đoạn sau, lẽ sống của ông đúng đắn (Đức Kitô). Nhưng lúc nào ông cũng có lẽ sống để theo. Chính vì có lẽ sống nên lúc nào Phaolô cũng nhiệt tình, lúc nào Phaolô cũng cảm thấy đời mình có ý nghĩa. Không có lẽ sống, con người sẽ như lục bình trôi, sẽ sống buông thả, chẳng ích lợi gì cho mình mà cũng chẳng ích lợi gì cho người khác. Ngay cả bản thân cũng chẳng thấy đời mình có chút ý nghĩa nào. Là con người, là thanh niên, và nhất là ứng sinh linh mục, mỗi người chúng ta phải có một lẽ sống như thánh Phaolô. Chính cái lẽ sống ấy hướng dẫn đời mình và động viên mình, khiến cho mình sống và hoạt động hết mình cho bản thân và cho người khác. 2. Giá trị của cuộc sống Thánh Phaolô rất quan tâm đến điều làm cho cuộc sống và những việc làm của mình có giá trị. Ban đầu ông tưởng điều ấy là Luật nên ông đã hết mình sống theo Luật, và rất hãnh diện về những gì mình đã làm được theo quy định của Luật. Nhưng biến cố Đamát đã giúp cho Phaolô thấy rõ rằng giá trị của tất cả cách sống và những việc làm ấy đều là giá trị ảo. Giá trị thật duy nhất là niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Nếu không tin vào Đức Kitô thì tất cả đều như cỏ rác, tất cả đều là hư vô. Có lẽ chúng ta vẫn còn ở giai đoạn đầu của đời thánh Phaolô, Chúng ta vẫn còn sống dựa vào Luật, chúng ta vẫn coi trọng những việc tốt mình làm được. Chúng ta cần phải vượt qua giai đoạn ấy để đến được giai đoạn hai của Phaolô: Tất cả là nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô. Bài 3: TẠI SAO PHAOLÔ SAY MÊ RAO GIẢNG VỀ THẬP GIÁ "Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá" (1Cr 2,2). Thánh Phaolô đã tuyên bố như thế với cộng đoàn Côrintô. Quả là một "Tin Mừng" kỳ lạ! A. Ý nghĩa của thập giá trong nền văn hóa thế kỷ thứ nhất. 1. Đối với người Rôma Văn hào Cicéron đã viết rằng thập giá là "khổ hình tàn bạo nhất và sỉ nhục nhất dành cho những tên nô lệ" (Cicéron, Bài thứ hai chống Verrès V 163). Sở dĩ Cicéron đã viết như thế là vì một người công dân Rôma dù phạm tội đáng chịu xử tử nhưng cũng không phải xử khổ hình thập giá, vì nó quá đau đớn và nhục nhã. Người ta chỉ dùng hình khổ này cho những tên nô lệ mà thôi với tin tưởng là sự tàn bạo khủng khiếp của nó sẽ khiến dân nô lệ sợ hãi mà không dám nổi loạn nữa. Sự tàn bạo khủng khiếp của hình phạt này chẳng những do chính những đòn tra tấn dã man (đánh đòn, đóng đinh, treo lên, đập gãy ống chân, đâm vào cạnh sườn...) mà còn gia tăng do tâm lý bệnh hoạn của những tên lý hình cảm thấy thích thú khi hành khổ nạn nhân. Đây là một hình thức "bạo dâm" (chúng đã bắt Đức Giêsu chịu đội mão gai, mặc áo vua, khạc nhổ vào mặt, chế nhạo...) 2. Đối với người Do thái Sử gia Flavius Josèphe kể lại rằng quân lính Rôma, do lòng thù ghét dân Do thái, đã không ngại đóng đinh bất cứ người do thái nào chống lại họ. Ông viết: "Khi nổi giận hoặc do lòng thù ghét, những tên lính đã mang các tù nhân ra làm trò đùa và đóng đinh họ vào thập giá mỗi người theo một tư thế khác nhau" (Flavius Josèphe, Cuộc chiến tranh Do thái 5, 451). Điều này được chính Sénèque xác nhận: "Tôi nhìn thấy trước mặt tôi nhiều cây thập giá không cùng một kiểu dáng như nhau, nhưng khác nhau tùy ý người dựng chúng lên: có những nạn nhân bị treo ngược đầu xuống đất, những người khác bị đâm cọc xuyên qua đít, những người khác nữa bị đóng đinh vào hai tay giang rộng ra trên cây gỗ..." (Sénèque, Đối thoại 6). Vì hình khổ này quá khủng khiếp nên người Do thái đã loại nó ra khỏi danh sách những hình phạt. Thậm chí sách Đệ nhị luật còn cho rằng ai bị tử hình thập giá là không bị chính Thiên Chúa nguyền rủa (Đnl 21,29) B. Sự phi lý của một Đấng Messia bị đóng đinh thập giá. Khổ hình thập giá vừa tàn bạo, vừa sỉ nhục lại vừa là dấu chỉ bị Thiên Chúa nguyền rủa như thế. Vậy lời rao giảng về một Đấng Messia bị đóng đinh thập giá sẽ gây nên phản ứng gì? Đương nhiên sẽ bị người ta chống đối, nhạo cười và bỏ ngoài tai. Thế mà Phaolô lại dám rao giảng rằng ông Giêsu bị đóng đinh thập giá trên đồi Golgotha chính là Đấng Messia mà muôn dân trông đợi: "Trong khi người do thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Đấng Kitô bị đóng đinh..." (1 Cr 1,22-23a). Chính Phaolô cũng ý thức về sự "phi lý" của điều mình rao giảng. Ngài viết tiếp: "... điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ" (1 Cr,23b). 1. Tại sao người Do thái coi thập giá là ô nhục? Thứ nhất, khổ hình này rất phi nhân: một con người có nhân phẩm không thể bị giết chết một cách nhục nhã như vậy. Thứ hai, nó ngược lại mọi hình dung về Đấng Messia. Đấng Messia là người được Thiên Chúa sai đến nên luôn được Thiên Chúa hỗ trợ bằng những dấu chỉ quyền năng, vinh quang và chiến thắng. Vì thế, nói một kẻ bị đóng đinh là Đấng Messia thì đúng là một sự vấp phạm. Thứ ba, người Do thái coi thập giá là biểu tượng của quyền lực trấn áp của đế quốc Rôma. Là một người Do thái, hơn nữa còn là một người pharisêu, chắc chắn Phaolô cũng chia sẻ sự ghê tởm thập giá của những đồng bào và đồng phái của mình. Nhưng tại sao các Thượng tế Do thái lại đòi Philatô phải xử Đức Giêsu chịu đóng đinh thập giá? Ở đây chúng ta thấy được sự thâm độc của họ: họ biết rằng mọi người Do thái đều ghê tởm thập giá, họ cũng biết rằng một số người Do thái còn hy vọng rằng Đức Giêsu chính là Đấng Messia. Vậy khi vận động được với Philatô đóng đinh Đức Giêsu vào thập giá thì hy vọng kia sẽ lập tức biến thành ảo vọng, và mọi lời tuyên truyền về Đấng Messia Giêsu sẽ lập tức bị câm miệng! 2. Tại sao dân ngoại coi thập giá là điên rồ? Ngay cả trong đền Pantheon thờ đủ mọi thứ thần linh cũng không có một tượng thần nào bị giết chết một cách nhục nhã như thế. Theo suy nghĩ tự nhiên, đã là thần linh thì đương nhiên phải quyền phép, oai phong và vinh hiển. Thần thánh gì mà bị giết, và giết một cách thê thảm như vậy! Bởi thế chẳng có gì lạ khi Pline (năm 61-113), vào thế kỷ II, đã coi việc tôn thờ Đức Giêsu trên thập giá là "sự mê tín phi lý cực độ" (Pline, Các thư X, 96,4-8); còn sử gia Tacite (năm 56-120) đã cho rằng sứ điệp của Kitô giáo nên được xếp hàng đầu trong số "những sự mê tín đáng ghét" (Biên niên 15,44.3); và Suétone (năm 70-129) người chuyên viết tiểu sử đã coi sứ điệp ấy chỉ đơn thuần là "một thứ mê tín mới và nguy hiểm" (Néron 16,3). Tóm lại, rao giảng Đức Giêsu chịu đóng đinh thập giá là Đấng Messia là một điều hoàn toàn không chấp nhận được về tất cả mọi phương diện nhân bản, lý luận, thẩm mỹ và đạo đức... Thế nhưng tại sao Phaolô lại rao giảng như thế và còn cho rằng đó là một Tin Mừng? C. Thập giá cho thấy những gì? Trước khi lên đường đi Đamát, Phaolô cũng ghê tởm thập giá và thù ghét Đức Giêsu chết trên thập giá. Nhưng ánh sáng của biến cố Đamát đã làm cho tất cả những kiểu thấy trước đó của Phaolô thành "mù", sau đó lại làm cho Phaolô "sáng mắt" thấy được những điều ngược lại. 1. Đức Giêsu không phải là kẻ tội lỗi bị Thiên Chúa nguyền rủa Trước đó, chỉ dựa vào cách hiểu theo nghĩa đen câu sách thánh Đnl 21,23 ("Kẻ bị treo là kẻ bị Thiên Chúa nguyền rủa") mà Phaolô coi Đức Giêsu là một kẻ tội lỗi. Nhưng trong biến cố Đamát, Phaolô lại thấy Đức Giêsu hiện ra vinh quang sáng láng. Đó chính là bằng chứng cho ông hiểu rằng Đức Giêsu không bị Thiên Chúa nguyền rủa, trái lại Ngài là người được Thiên Chúa cho sống lại. Ngài chính là Con yêu dấu của Thiên Chúa. 2. Thập giá là bằng chứng cho thấy tình yêu vô biên của Đức Giêsu. Đức Giêsu là Con yêu dấu của Thiên Chúa, nhưng tại sao Ngài chịu đóng đinh thập giá? Phaolô hiểu rằng tất cả chỉ vì tình yêu: • Trước hết là tình yêu đối với loài người: (1) Vì yêu thương loài người nên Đức Giêsu đã nhập thể chia sẻ thân phận làm người như chúng ta. Chỉ nguyên sự việc nhập thể đã là một dấu chỉ tình yêu hạ mình xuống. Nhưng tình yêu của Đức Giêsu chưa lấy thế làm đủ. Ngài còn hạ mình đến mức tột cùng để chia sẻ thân phận hèn hạ nhất mà con người có thể chịu. Thánh Phaolô viết: "Người đã chịu đóng đinh vì mang thân phận yếu hèn" (2 Cr 13,4). Thật vậy, trong cơn hấp hối trước khi đi vào con đường thập giá, Đức Giêsu đã ý thức rõ về "sự vấp phạm" và "sự điên rồ" của Thập giá. Nhưng Ngài đã tự nguyện đón nhận ("Xin vâng ý Cha"). Dù chẳng có tội gì, nhưng Ngài chấp nhận cái chết thập giá để rồi bị coi là "tội nhân" (2 Cr 5,21: "Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người"), và bị coi là "đồ bị nguyền rủa" (Gl 3,13: "Vì chúng ta, chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa"). Yêu thương là cho đi, yêu thương là dám mất mát, yêu thương là chấp nhận khổ đau nhục nhã. Càng cho đi nhiều chừng nào, mất mát nhiều chừng nào, nhục nhã nhiều chừng nào thì càng chứng tỏ một tình yêu bao la chừng ấy. Hình ảnh Đức Giêsu trên thập giá cho thấy tình yêu bao la vô bờ bến của Ngài đối với loài người chúng ta. • Thập giá cũng cho thấy tình yêu của Đức Giêsu đối với Chúa Cha. Yêu thương ai là làm theo ý người đó. Đức Giêsu yêu thương Chúa Cha nên đã vâng lời Chúa Cha, "vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và chết trên thập giá" (Pl 2,8) • Thập giá cũng cho thấy tình yêu vô biên của Chúa Cha: Người ta thường có một hình ảnh đáng sợ về Thiên Chúa, một Thiên Chúa công bình, một Thiên Chúa thánh thiện. Công bình và thánh thiện quá đến nỗi không thể chịu được tội lỗi và không thể tha thứ người có tội. Nhưng thập giá đã cho thấy được hình ảnh đích thực của Thiên Chúa: Ngài là tình yêu, Ngài chỉ là tình yêu, nên Ngài sẵn sàng tha thứ tội lỗi và vẫn luôn yêu thương tội nhân. Yêu thương đến nỗi để cho Con Một của mình chịu chết để đền các tội lỗi thay cho các tội nhân. Phaolô còn hiểu rằng cái chết của Đức Giêsu trên thập giá là điều chính Thiên Chúa yêu thương đã định sẵn trong kế hoạch của Ngài: "Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ... Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử... nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được tha thứ tội lỗi..." (Ep 1,4.5.7) Quan điểm này của thánh Phaolô cũng giống với quan điểm của Tin Mừng thánh Gioan. Khi sắp chịu chết trên Thập giá, Đức Giêsu đã nói với Chúa Cha: "Lạy Cha, giờ đã đến, xin Cha tôn vinh Con, dể Con tôn vinh Cha" (Ga 17,1); "Tôn vinh" là làm cho người ta biết sự thật. Thập giá đã mặc khải cho biết sự thật về Tình yêu bao la: Tình yêu của Đức Giêsu đối với loài người, tình yêu của Đức Giêsu đối với Chúa Cha, và tình yêu của Chúa Cha đối với nhân loại tội lỗi. Những sự thật về tình yêu mà thánh Phaolô thấy được nơi thập giá Đức Giêsu đã khiến ngài nghẹn ngào và biến đổi hoàn toàn cuộc sống của ngài: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi. Hiện nay tôi sống trong xác phàm là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi" (Gl 2,20). Và cũng chính vì thế mà thánh Phaolô dốc hết toàn lực để rao giảng về Thập giá cho dù đó là một điều hết sức phi lý đến mức lạ lùng. "Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ" (1 Cr,23) . Thậm chí ngài còn viết: "Tôi không muốn biết đến chuyện gì khác ngoài Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá" (1 Cr 2,2). ĐỂ KẾT Trong quyển "Những kẻ khốn cùng" (Les misérables, 1862), văn hào Victor Hugo kể chuyện tên tù vượt ngục Jean Valjean lẻn vào nhà một vị Linh mục định ăn cắp những chân đèn bằng vàng nhưng bị bắt gặp. Vị linh mục ấy chẳng những không tố cáo anh mà còn mời anh ăn tối và tặng luôn cho anh những chiếc chân đèn quý giá đó. Đây là một cuộc gặp gỡ bất ngờ và xúc động. Jean Valjean đã có một cảm nghiệm sâu sắc về lòng nhân ái. Cảm nghiệm ấy đã biến đổi hẳn cuộc đời anh, và từ đó đến chết anh luôn nhớ và sống theo lòng nhân ái. Cũng tương tự như vậy, Thánh Phaolô đã có một cảm nghiệm không ngờ về Tình yêu của Đức Kitô trên Thập giá. Chính vì vậy, chẳng những đời ngài đã hoàn toàn thay đổi, mà ngài còn hăng say rao giảng về Thập giá Đức Kitô, dẫu biết rằng đó là một sứ điệp lạ kỳ đối với suy nghĩ thường tình của con người. Lm. Carolo KINH KÍNH THÁNH PHAOLÔ TÔNG ĐỒ Lạy Thánh Phaolô Tông Đồ đầy nhiệt tâm, Vì tình yêu Chúa Kitô đã đổ máu hy sinh, Xin chuyển cầu cho chúng con một niềm tin sâu xa, một niềm hy vọng bền vững, một lòng mến Chúa nồng nàn, để chúng con có thể cùng nói với Ngài: "Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20) xin giúp chúng con trở nên tông đồ phục vụ Giáo Hội với một lương tâm trong sáng, chứng nhân của Chân-Thiện-Mỹ, giữa thời đại hôm nay. Cùng với Ngài, chúng con tung hô Thiên Chúa là Cha, đầy vinh quang, trong Giáo Hội và trong Đức Kitô, đến muôn đời. Amen. THÁNH PHAOLÔ, TÔNG ĐỒ DÂN NGOẠI MẪU GƯƠNG CỦA GIÁO LÝ VIÊN (Bài thuyết trình của Đức ông Giuse Đinh Đức Đạo tại Đại hội Giáo lý X, ngày 12-14.06.2009, Baton Rouge, Louisiana) I. Tinh thần truyền giáo của thánh Phaolô II. Thương yêu tha nhân III. Lòng say mến Chúa Giêsu Nhập đề Với lòng qúi mến rất chân thành, tôi xin chào qúi Sơ và quí Anh Chị Giáo Lý Viên cùng với quí Cha Tuyên Úy. Có nhiều Sơ và Anh Chị tham gia công việc trong vườn nho của Chúa vào giờ thứ 9, người khác vào giờ thứ 12 hay vào lúc 3 giờ chiều. Nhưng tất cả cùng chung niềm vui và hân hạnh được Chúa mời gọi cộng tác trong việc thông truyền sứ điệp Tình Yêu của Người. Chúng ta cần trân trọng công tác đã lãnh nhận và cùng nhau cảm tạ Chúa. Chúng ta đã bắt đầu Đại Hội bằng Thánh Lễ, cử hành mầu nhiệm tình yêu tuyệt hảo của Chúa, suối nguồn của cuộc đời và công việc của mỗi giáo lý viên. Chúng ta cầu xin để những ngày này là những ngày của ân phước, chảy xuống đầy tràn như một dòng suối cứ chan hòa chảy tràn lan khắp nơi, vào tận thâm cung thầm kín trong lòng mỗi người để gột rửa, tưới mát và biến đổi tâm hồn thành những thửa vườn mầu mỡ, làm cho mọc lên cây cối tươi xanh và đâm hoa nở trái cho thiên hạ được chiêm ngắm vẻ đẹp và thưởng thức hương thơm ngọt ngào của sự thánh thiện. Nói về thánh Phaolô, các nhà chuyên môn nói đêm, nói ngày cũng không hết. Ở đây, tôi chỉ xin được chia sẻ đôi tâm tình thiêng liêng rất đơn sơ rút tỉa từ đời sống của thánh Phaolô. Xin quí Sơ và quí Anh Chị đón nhận như món quà trong tình thân, chứ không như lời nói uyên bác của các nhà chuyên môn. Tôi xin mượn lời của thánh Phaolô khi ngài nói với giáo đoàn Corintô: “Thưa anh chị em, khi tôi đến với anh chị em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý cao siêu mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa… Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ khôn khéo hấp dẫn, nhưng chỉ dựa vào bằng chứng xác thực của Thần Khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin của anh chị em mới không dựa vào lẽ khôn ngoan người phàm, nhưng dựa vào quyền năng Thiên Chúa.” (1 Cor 2,1-5). Cầu mong qua đôi lời chia sẻ của tôi, góp phần với những giờ học hỏi và chia sẻ do các chuyên viên hướng dẫn, được nâng đỡ bởi bầu khí linh thiêng của của các Thánh Lễ và những giờ cầu nguyện, mọi người sẽ hiểu sâu xa hơn các hoạt động truyền giáo của thánh Phaolô để chiếu soi cho công tác giảng dạy giáo lý của mình và nhất là được bổ dưỡng tâm hồn, khơi lên niềm vui mừng và lòng hăng say thông truyền sứ điệp của Chúa cho mọi người. Và bây giờ chúng ta sẽ tìm kiếm đôi yếu tố trong cuộc đời truyền giáo của thánh Phaolô để từ đó tìm ra một vài ánh sáng chiếu soi cho cuộc sống và công việc tông đồ của các giáo lý viên. I. Tinh thần truyền giáo của thánh Phaolô 1. Đôi nét chấm phá về công việc truyền giáo của thánh Phaolô Khi nói đến công cuộc truyền giáo của thánh Phaolô, các nhà chuyên môn thường nói đến 3 hành trình truyền giáo. Hành trình I: năm 45 – 48; hành trình II: năm 49 – 51; hành trình III: năm 53 – 58. Thực ra, cả thời gian tù tội từ năm 58 và sau đó bị giải đến Roma và ở đó, chết tử đạo vào quãng năm 67/68, cũng phải coi là một hành trình dấn thân truyền giáo. Vì vậy, có thể nói là thánh Phaolô đã làm 4 hành trình truyền giáo. Ba hành trình đầu tiên, có thể tạm nói thánh Phaolô là người khởi xướng; hành hình truyền giáo thứ bốn là do chính Chúa Thánh Thần khởi xướng và chuẩn bị cho ngài để ngài dõi theo. Lần theo vết chân truyền giáo của thánh Phaolô, chúng ta thấy có mấy điểm đặc trưng gợi chú ý. Thứ nhất là tâm hồn rộng mở, ôm ấp cả thế giới. Trên 20 năm truyền giáo, ngài bôn ba khắp vùng Địa Trung Hải, xuyên qua Á Châu, Trung Đông và Hy Lạp và sau cùng sang tận Roma, lúc đó là thủ đô Đế Quốc Roma và cũng là trung tâm thế giới. Đối với khả năng hiểu biết lúc đó, thánh Phaolô đúng là đã đi tới tận cùng trái đất để loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân, đáp lại lời ký thác của Chúa Giêsu cho các môn đệ của Người: “Các con sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giêrusalem, trong khắp các miền Giuđêa, Samaria và cho đến tận cùng trái đất.” (Cv 1,8). 2. Áp dụng vào đời sống và công tác tông đồ của giáo lý viên Dõi theo gương thánh Phaolô, Tông Đồ Dân Ngoại, các giáo lý viên là môn đệ và tông đồ của Chúa hôm nay cũng cần mở lòng ôm ấp tất cả thế giới với con tim của Chúa Giêsu để chia sẻ niềm vui Tin Mừng với mọi người, nhất là những anh chị em chưa biết Chúa Giêsu. Đây là một công tác mênh mông, trời bể, vì những người chưa nhận biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế còn là một đoàn lũ đông đảo, trên 4.500.000.000 người (xem biểu đồ). Anh chị em lương dân, thuộc nhiều thành phần khác nhau về chủng tộc, ngôn ngữ, về chính kiến, về niềm tin, về tôn giáo, về học thức, về khả năng chuyên môn và kinh tế, và về thái độ đối với Chúa Giêsu và Giáo Hội. Tất cả những người này, môn đệ của Chúa đều có sứ mệnh phải loan báo và truyền đạt niềm vui ơn cứu độ đến cho họ. Đối với các giáo lý viên trong trách nhiệm dạy giáo lý tại các giáo xứ, ngoài những khó khăn của chính công tác dạy giáo lý, còn có những bận tâm của công ăn việc làm và những nhu cầu của gia đình hay cộng đoàn, nếu là nữ tu. Có lẽ thách đố truyền giáo đầu tiên đối với giáo lý viên là phải biết chu toàn công tác dạy giáo lý và các trách nhiệm khác, mà không để chúng gò bó tâm hồn đến độ không còn khả năng vươn lòng trí ra cánh đồng truyền giáo mênh mông của Giáo Hội. Trái lại, chính trong khi lo lắng chu toàn những nhiệm vụ hằng ngày, vẫn còn biết ấp ủ tất cả thế giới trong lòng để thông truyền cho các em trong giờ dạy giáo lý hoặc cho những người thân yêu trong gia đình, giúp họ mở lòng vươn ra cánh đồng truyền giáo của Giáo Hội để chia sẻ niềm vui ơn cứu độ với anh chị em lương dân. Trong những năm gần đây, Bản Tin các giáo phận bên Âu Mỹ liên tục đưa tin các giám mục quyết định đóng cửa nhà thờ. Sức sống của Giáo Hội mỗi ngày cứ co cụm lại và như đang dãy chết. Tình trạng này làm tôi nhớ lại cuốn sách “Love in action” đã đọc nhiều năm trước đây. Cuốn sách nói về Cộng đoàn Methodist tại Sydney bên Úc được thành lập năm 1812 và đã phát triển rất mạnh. Số giáo dân tăng thật nhanh. Cộng đoàn tổ chức nhiều sinh hoạt, nhiều công tác phục vụ và hai lần phải mua nhà thờ lớn hơn. Rồi xã hội thay đổi, giáo dân bỏ đi xa, di dân tới nên cộng đoàn rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng. Đến năm 1884, cộng đoàn chỉ còn 18 thành viên. Trong cuộc họp cuối năm, người ta tính bán nhà thờ và giải tán cộng đoàn. Nhưng trước khi bỏ phiếu quyết định, vị mục sư già có mặt lên tiếng đề nghị trước khi quyết định bán nhà thờ, xin tìm một mục sư trẻ có khả năng rao giảng Tin Mừng để làm sống lại cộng đoàn. Người ta đồng ý và mời mục sư W. G. Taylor. Mỗi Chúa nhật, thay vì ngồi trong nhà thờ chờ dân chúng và giam mình trong văn phòng làm việc bàn giấy, mục sư W. G. Taylor ra ngoài rao giảng Tin Mừng, tổ chức các buổi rước kiệu, tổ chức công tác phục vụ, mời gọi dân chúng nhập đạo… Một năm sau, thay vì nói đến việc bán nhà thờ vì không có giáo dân, người ta phải bàn tính mua một nhà thờ lớn hơn. Đến năm 1958, một lần nữa, hoàn cảnh kinh tế, xã hội thay đổi, cộng đoàn lại khủng hoảng lần nữa. Một mục sư khác, tên là Alan Walker, nhưng cũng với tinh thần truyền giáo, không những giữ vững cộng đoàn, mà còn làm cho phát triển thêm. Nếu có được những giáo lý viên có tinh thần truyền giáo và hăm hở xông pha như hai mục sư W.G. Taylor và Alan Walker, chắc các giáo phận Âu Mỹ sẽ không phải tính truyện đóng cửa nhà thờ, mà phải mua nhà thờ lớn hơn, và còn có khả năng gửi người đi khắp năm châu, đem Tin Mừng của Chúa đến muôn dân. a. Nhu cầu ưu tiên của Giáo Hội: một thế hệ tông đồ quả cảm và nhiệt thành Trong hoàn cảnh hiện nay, nhiệm vụ làm chứng cho Chúa Giêsu và đem Tin Mừng của Người thấm nhuần vào mọi môi trường sống và làm việc, thực vô cùng khó khăn và phức tạp. Nhiệm vụ này đòi phải có những suy tư thần học mới, tìm những phương pháp mới và sử dụng những phương tiện tân tiến, thích hợp thời đại. Nhưng trước tiên, Giáo Hội cần có một thế hệ tông đồ, mới trong tinh thần và lòng nhiệt thành, dám dấn thân và sẵn sàng chịu đựng mọi thiệt thòi vì Chúa Giêsu và Tin Mừng để làm chứng cho Người và trình bày cho thế giới tiêu chuẩn và cách sống của Người. Giáo Hội không chỉ cần có nhiều giáo lý viên, nhưng cần những giáo lý viên hạnh phúc được là giáo lý viên và nhiệt thành, hăm hở đem niềm vui của Chúa đến cho mọi người. Loại tông đồ truyền giáo này, trong thời đại chúng ta đang sống cũng không thiếu. Có một khuôn mặt được nói đến nhiều trong thời gian gần đây. Đó là cha Pio Ngô Phúc Hậu. Tôi muốn ghi lại một kinh nghiệm truyền giáo ngài viết trong cuốn “Nhật Ký Truyền Giáo”: Cà Mâu, Chúa nhật 17.8.1988: Hôm nay mình bước lên giảng đài một cách hiên ngang hơn bao giờ hết. Mình dõng dạc tuyên bố: Năm nay chúng ta sẽ mừng ngày truyền giáo một cách long trọng. 1. Mỗi người lớn bé già trẻ đều mời bạn lương dân của mình đế dự lễ. Người lương dân tới thì người đạo nhường ghế ngay. Đạo đời hiểu nhau sẽ dễ dàng gây tình đoàn kết dân tộc. 2. Mỗi người hãy hỏi bạn lương dân xem họ thắc mắc điều gì và gửi thắc mắc đó cho cha sở biết trước để giải đáp trong thánh lễ. 3. Sau thánh lễ mỗi người hãy mời bạn lương dân của mình ghé quán hoặc về nhà liên hoan mặn nhạt tùy nghi. Yêu thương nhau thì phải ăn uống với nhau. Trong bữa liên hoan hãy hỏi xem bạn lương dân có cám tưởng gì về thánh lễ. 4. Để bạn lương dân khỏi bỡ ngỡ, nên nhắc họ: - Đứng và ngồi như người công giáo cho vui. - Nhưng khi người công giáo qùi, thì bạn lương dân cứ ngồi, vì qùi là cử chỉ thuần túy tôn giáo và dành cho người có niềm tin. 5. Mỗi gia đình hãy nhắc nhau cầu nguyện cho anh em lương dân sẽ tham dự thánh lễ truyền giáo. Nên noi gương Đức Gioan 23, xin trẻ em, ông bà già và người bệnh tật cầu nguyện tiếp vì lời cầu nguyện của họ đáng được Chúa chấp nhận hơn hết. 6. Nhà thờ phải được trang trí đẹp tối đa. Ca đoàn phải tập dượt để hát thật hay. Phụng vụ Giáo hôi được tổ chức chu đáo sẽ là bối cảnh thuận lợi đưa tâm hồn lương dân vào khung cảnh thần linh. Người lương dân sẽ cảm thấy đứng tim khi mọi ngườ cùng hát và bất ngờ mọi ngườ im lặng như tờ. 7. Chính Chúa Giêsu hiện diện trong thánh 1ễ sẽ đưa các tâm hồn lên với Chúa Cha. Ngài sẽ chinh phục các tâm hồn cứng cỏi mà ta không đủ sức chinh phục. Đó là kinh nghiệm của Philip. Philip hí hửng khoe với Natanaen rằng: “Tôi đã gặp Đấng mà Môsê và các tiên tri loan báo, đó là Đức Giêsu con ông Giuse, người làng Nadarét”. Natanaen cả cười làm Philip cụt hứng: “Ở Nadarét! Nadarét thì có gì hay ho đâu”. Bí lối, Philip chỉ còn biết trả lời: "Thì anh đến mà xem". Quả thật khi Natanaen đến gặp Chúa thì ông bị chinh phục ngay tức khắc. Cà Mau, Chúa nhât 24.8.1988 Hôm nay mình bước lên giảng đài ủ rũ như con gà trống bị dầm mưa. Hết một tuần rồi mà chưa nhận được một lời thắc mắc nào của lương dân gửi tới. Chưa thấy người giáo dân nào mời bạn lương dân đi dự lễ ngày truyền giáo. Mình không giấu diếm nỗi thất vọng ngay trên giảng đài này, nơi mà cách đây một tuần mình đã hí hửng như con nít xách đèn trung thu đi dạo phố. Phải có một kế hoạch cụ thể hơn nữa. 1. Phải tiếp xúc với một số người nồng cốt như giáo viên, công nhân viên bệnh viện... trao đổi với họ về cách thức mời lương dân, cách thức xin những câu thắc mắc và cách thức trao đổi trong bữa liên hoan. 2. Phải tiếp xúc ngay với một số người lớn tuổi, năng nổ để đốc thúc họ và nhờ họ đôn đốc bạn bè. 3. Phải nhờ các khu trưởng đến thăm những người bệnh hoạn tật nguyền để xin họ mỗi ngày lần một chuỗi Môi Khôi cho lương dân. 4. Cứ mỗi ngày Chúa nhật phải nhắc lại chương trình tổ chức lễ truyền giáo như một điệp khúc. Cà Mau, Khánh nhật truyền giáo 1998 Chiều nay sân nhà thờ tấp nập khác thường. Người công giáo và không công giáo tay trong tay đi dạo xung quanh nhà thờ. Các bà các cô khoe những chiếc áo dài mới may, may để đi dự lễ. Hôm nay mình không ngồi tòa, nên đi lượn khắp khuôn viên nhà thờ. Thấy mình, người giáo dân cười toe toét giới thiệu lia chia: - Cha, bạn lương dân của con nè! Chuông nhà thờ đổ hồi. Dòng người tràn vào nhà thờ như thác lũ. Bạn đạo dành chỗ cho bạn lương. Các bà phước, các ông bà trưởng khu lăng xăng đi tìm chỗ cho người lương dân đến trễ. Lâu lâu 1ại có một người đứng dậy nhường chỗ cho một người mới tới... Hết chỗ! Có những bàn tay giơ lên, lắc lắc tỏ vẻ thất vọng. Một bà phước dẫn theo hai người lương đến chỗ có hai chú nhí. - Tụi con đứng dậy nhường chỗ cho người lương đi! Đọc kinh nghiệm truyền giáo của cha Hậu thấy hay quá. Đúng là đồ đệ của thánh Phaolô, đầy nhiệt huyết, đem lại nhiều hứng khởi, chảy tràn lan sang giáo dân của ngài, cả mấy chú nhí cũng vui và hãnh diện đi mời bạn lương dân của mình đến dự lễ. Thực ra, tại nhiều nước có dịp viếng thăm, tôi đã được gặp nhiều người, rất nhiều người đầy nhiệt huyết, tinh thần truyền giáo hăng say và quả cảm, nhưng ít được ai biết đến. Có lẽ vì việc viết lách, văn tự không đến đâu; sống nhiều, làm nhiều, dấn thân nhiều, nhưng nói ít, viết lách thì coi như không có, nên ít người biết đến họ và hiểu được lòng của họ. Nhưng có lẽ đấy cũng là chương trình Chúa Quan Phòng. Để chiếu sáng khắp không gian, cần đặt một vài ngọn đèn pha trên mái nhà, nhưng cũng cần rất nhiều các ngọn đèn nho nhỏ, nhiều cỡ, nhiều loại trong các căn phòng, dưới hầm cầu thang, và ngay cả dưới tầng hầm, nơi để đồ đạc ngổn ngang, đầy bụi bặm… Cả những nơi đó cũng cần có những ngọn đèn chiếu sáng! Trong những năm tôi có bổn phận thăm viếng các cộng đoàn, các dòng tu, các phong trào, hội đoàn của chúng ta tại hải ngoại, và đôi lần trở về Quê Hương, tôi cũng gặp rất nhiều linh mục, tu sĩ, giáo lý viên và nhiều giáo dân phục vụ ở nhiều lãnh vực khác nhau, có tâm hồn rất đáng cảm phục. Chúng ta cần khích lệ nhau sống kết hợp với Chúa, sống theo con đường của Chúa để loan báo và làm chứng cho Chúa. Hai năm trước đây, tôi có dịp về thăm Quê Hương. Hôm đó đi với Đức Tổng Kiệt lên Lạng Sơn. Tôi đang đi dạo cuối nhà thờ, thấy có 2 ông và 1 bà đến. Đó là đôi vợ chồng và một người bạn của đôi vợ chồng. Tôi đang đứng nói truyện với họ thì ĐT Kiệt tới; ngài chỉ vào 3 người này và giới thiệu: “Ba ông bà này là cách mạng đấy. Bây giờ về hưu, trở lại, cả ngày chỉ đi truyền giáo thôi”. Tôi hỏi ba người: “Vậy bây giờ các ông bà thấy thế nào, có vui không?”. Người đàn bà nhanh miệng trả lời ngay: “Hạnh phúc nhất đời. Chúng con chẳng muốn gì hơn.” Trên mấy giáo phận miền Bắc, các bà, nhất là Dân Tộc, truyền giáo mạnh lắm. Các bà bảo: “Các ông ở nhà, để đàn bà chúng tôi đi truyền giáo cho. Các ông đi, thôi thì ăn, uống, lại còn hút nữa, mất giờ lắm. Đàn bà chúng tôi ăn ít, nói nhiều, chúng tôi truyền giáo cho”. Cứ cái gùi đeo trên lưng, các bà đi ngày đêm, đi khắp nơi. Đó là hình ảnh của thánh Phaolô. Đi và đi, không phải là đi chơi, nhưng là đi để gặp gỡ, để nối một nhịp cầu, để chia vui sẻ buồn với anh chị em, nhất là anh chị em lương dân và nói cho mọi người biết là có một niềm vui vượt trên mọi niềm vui. Đó là niềm vui gặp gỡ Chúa Giêsu, niềm vui của người đã tìm được viên bích ngọc, tìm được kho tàng quí báu chôn cất dưới đất (x. Mt 13:44-46). Chúng ta cần học cách trân trọng, quí mến nhau để hun đúc cho nóng hơn, cho bừng sáng tinh thần truyền giáo. Lắm khi cũng không cần đi đâu xa cả. Có lẽ cũng vẫn đến những nơi thường đến, gặp những người vẫn thường gặp, nhưng bây giờ ra đi gặp gỡ mà mang trong lòng niềm vui gặp gỡ Chúa Giêsu đễ thông truyền niềm vui, niềm an bình dào dạt trong lòng. Như vậy, các giáo lý viên sẽ là hiện thân của thánh Phaolô, Tông Đồ Dân Ngoại. Dù ở vị thế và hoàn cảnh nào, chúng ta cũng có thể là những ngọn đèn chiếu sáng tâm hồn, đem an bình và niềm vui vào lòng người và vào môi trường sống, thứ an bình và niềm vui chỉ có Chúa mới ban cho được (x. Ga 14,27). II. Thương yêu tha nhân Trong hoạt động tông đồ truyền giáo, ba nguồn mạch có sức mạnh thúc đẩy và hướng dẫn thánh Phaolô là tình yêu say mến Chúa Giêsu, sự hiện diện và tác động của Chúa Thánh Thần và tình yêu sâu đậm đối với tha nhân. Bây giờ chúng ta nhìn qua sức mạnh thứ ba là tình yêu đối tha nhân. 1. Tình yêu tha nhân nơi thánh Phaolô Đọc các thư của thánh Phaolô, ai cũng cảm thấy được đánh động bởi tâm tình của ngài đối với các cộng tác viên và ngay cả với những người mới quen biết. Chúng ta có thể đọc một vài đoạn trong các thư của ngài sau đây: - “Tôi cảm tạ Thiên Chúa của tôi, mỗi lần nhớ đến anh em. Tôi luôn vui sướng mỗi khi cầu nguyện cho anh em hết thảy, vì từ buổi đầu cho đến nay, anh em đã góp phần vào việc rao giảng Tin Mừng. Tôi tin chắc rằng: Đấng đã bắt đầu thực hiện nơi anh em một công việc tốt lành như thế, cũng sẽ đưa công việc đó tới chỗ hoàn thành cho đến ngày Đức Ki-tô Giê-su quang lâm. Tôi có những tâm tình như thế đối với tất cả anh em, đó là điều hợp lý, bởi vì tôi mang anh em trong lòng tôi. Khi tôi bị xiềng xích, cũng như lúc tôi bênh vực và củng cố Tin Mừng, anh em đều thông phần vào ân sủng tôi đã nhận được. Có Thiên Chúa làm chứng cho tôi: tôi hết lòng yêu quý anh em tất cả, với tình thương của Đức Ki-tô Giê-su. Điều tôi khẩn khoản nài xin, là cho lòng mến của anh em ngày thêm dồi dào, khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, để nhận ra cái gì là tốt hơn. Tôi cũng xin cho anh em được nên tinh tuyền và không làm gì đáng trách, trong khi chờ đợi ngày Đức Ki-tô quang lâm.” (Fil 1,3-10). - “Tôi luôn luôn tạ ơn Thiên Chúa, khi nhớ đến anh trong lời cầu nguyện, bởi được nghe nói về lòng mến và lòng tin của anh đối với Chúa Giê-su: lòng mến và lòng tin ấy có ích cho mọi người trong dân thánh. Chớ gì lòng tin mà anh chia sẻ với chúng tôi trở nên hữu hiệu, giúp anh hiểu biết tất cả những gì tốt chúng ta có thể làm để phục vụ Đức Ki-tô. Thật thế, tôi rất vui mừng và lấy làm an ủi, khi thấy đức bác ái của anh, bởi vì, thưa anh, anh đã làm cho lòng trí các người trong dân thánh được phấn khởi. Vì thế, mặc dầu nhờ kết hợp với Đức Ki-tô, tôi có đủ mạnh dạn để truyền cho anh làm điều anh phải làm. Nhưng tôi thích kêu gọi lòng bác ái của anh hơn, để xin anh làm điều đó. Tôi, Phao-lô, một người đã già và hơn nữa, một người đang bị tù vì Đức Ki-tô Giê-su, tôi van xin anh cho đứa con của tôi, đứa con tôi đã sinh ra trong cảnh xiềng xích, đó là Ô-nê-xi-mô, kẻ xưa kia đối với anh là vô dụng, thì nay đã thành người hữu ích cho cả anh lẫn tôi, tôi xin gửi nó về cho anh; xin anh hãy đón nhận nó như người ruột thịt của tôi. Phần tôi, tôi cũng muốn giữ nó ở lại với tôi, để nó thay anh mà phục vụ tôi trong khi tôi bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng tôi chẳng muốn làm gì mà không có sự chấp thuận của anh, kẻo việc nghĩa anh làm có vẻ miễn cưỡng, chứ không phải tư nguyện. Nó đã xa anh một thời gian, có lẽ chính là để anh được lại nó vĩnh viễn, không phải được lại một người nô lệ, nhưng thay vì một người nô lệ, thì được một người anh em rất thân mến; đối với tôi đã vậy, phương chi đối với anh lại càng thân mến hơn biết mấy, cả về tình người cũng như về tình anh em trong Chúa. Vậy, nếu anh coi tôi là bạn đồng đạo, thì xin anh hãy đón nhận nó như đón nhận chính tôi. Nếu nó đã làm thiệt hại anh hoặc mắc nợ anh điều gì, thì xin để tôi nhận cả... Chính tôi, Phao-lô, tự tay viết điều này: tôi sẽ hoàn trả lại. Tôi khỏi cần nói với anh là anh còn mắc nợ tôi: món nợ đó là chính anh. Phải, thưa anh, xin anh cho tôi được hưởng niềm vui đó trong Chúa. Anh hãy làm cho lòng trí tôi được phấn khởi trong Đức Ki-tô. Tôi viết thư này cho anh với niềm tin tưởng là anh sẽ nghe theo. Tôi biết rằng anh sẽ còn làm hơn những gì tôi xin nữa. Đồng thời, xin anh dọn cho tôi một chỗ ở, bởi vì tôi hy vọng là nhờ lời anh em cầu nguyện, tôi sẽ được trở về với anh em. Anh Ê-pa-pha, người bạn tù với tôi trong Đức Ki-tô Giê-su, gửi lời chào anh, cùng với các cộng sự viên của tôi là Mác-cô, A-rít-ta-khô, Đê-ma và Lu-ca. Cầu chúc anh em được đầy tràn ân sủng của Chúa Giê-su Ki-tô. A-men.” (Fm 4-20). - “Không kể các điều khác, còn có nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh! Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng rúng động?” (2 Cor 11, 28-29) - “Khi nào tôi sai anh A-tê-ma hay anh Ty-khi-cô đến với anh, thì hãy liệu mau đến với tôi ở Ni-cô-pô-li, vì tôi đã quyết định ở lại đó suốt mùa đông. Anh hãy lo tiễn đưa luật gia Dê-na và anh A-pô-lô cho chu đáo, đừng để họ phải thiếu thốn gì. Các anh em của chúng ta cũng phải học cho biết trổi vượt về những việc tốt đẹp, để đáp ứng những nhu cầu cấp bách; như vậy họ không phải là không sinh hoa kết quả.” (Tit 3,12-14). - “Về việc quyên tiền giúp các thánh, tôi đã truyền dạy cho các Hội Thánh ở Ga-lát như thế nào, thì anh em cũng làm như vậy. Ngày thứ nhất trong tuần, mỗi người trong anh em hãy để riêng ra những gì đã may mắn thu góp được, chứ đừng đợi khi tôi đến rồi mới quyên. Khi tới, tôi sẽ cử những người được anh em chấp thuận đi Giê-ru-sa-lem, mang thư và quà anh em đã rộng rãi quyên tặng. Và nếu xét là tôi nên đi, thì họ sẽ cùng đi với tôi.” (1 Cor 16,1-4) Qua mấy đoạn trích dẫn trên, chúng ta thấy một số đặc điểm trong tình yêu của thánh Phaolô như sau: - Tâm tình thương yêu nơi thánh Phaolô rất người, nhưng đồng thời cũng rất thần thánh. Trong những liên hệ với tha nhân, thánh Phaolô có những câu nói, những diễn tả hết sức tình nghĩa, rất âu yếm, nhưng cũng hết sức siêu thoát. Hai yếu tố nhân loại và thần linh hòa lẫn vào nhau làm thành một thực tại và do đó, tình nghĩa không đọa ra tình cảm suông, cũng không chỉ là lịch sự và tình yêu thiêng liêng không biến ra trừu tượng, lơ lửng trên không. - Tình yêu nơi thánh Phaolô vừa cụ thể, vừa phổ quát. Một đàng, ngài để ý đến nhu cầu của cộng đoàn và các cá nhân cụ thể, đàng khác ngài mở lòng ôm ấp tất cả mọi người, mọi cộng đoàn không phân biệt. - Tình yêu không chỉ chú ý đáp ứng các nhu cầu, mà còn sẵn sàng chấp nhận đau khổ vì người mình thương yêu nữa. “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Col 1,24). “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó. Vì cũng như chúng ta chia sẻ muôn vàn nỗi khổ đau của Đức Ki-tô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi. Chúng tôi có phải chịu gian nan, thì đó là để anh em được an ủi và được cứu độ. Chúng tôi có được an ủi, thì cũng là để anh em được an ủi, khiến anh em có sức kiên trì chịu đựng cùng những nỗi thống khổ mà chính chúng tôi phải chịu” (2 Cor 1,3-6). 2. Giáo lý viên theo mẫu gương thánh Phaolô Nhìn vào mẫu gương thánh Phaolô, nhiệm vụ giảng dạy giáo lý không chỉ đòi giáo lý viên hiểu biết giáo lý phải giảng giải, cắt nghĩa, mà còn đòi phải có khả năng thương yêu: thương yêu chính những người mình có bổn phận dạy dỗ, thương yêu Giáo Hội, thương yêu anh chị em lương dân. Đây là khả năng tuyệt vời Thiên Chúa là Đấng Tạo Hoá đã phú bẩm vào lòng mỗi người. Do đó, con người ta, bất cứ thuộc chủng tộc, tôn giáo nào, khi sinh ra là khao khát thương yêu và được thương yêu. Tôi muốn đọc lại đây một kinh nghiệm yêu thương: Đầu cá chốt, Cao Thị Ni - 16/01/2008: Tôi nhớ rõ năm ấy ba tôi bị bệnh ho ra máu (còn bây giờ người ta gọi là lao phổi) tôi cũng chẳng biết bệnh đó có nguy hiểm không, có chết không, nhưng mỗi lần ba ho khạc ra máu là me lại khóc, thấy mẹ khóc rồi mấy chị em tôi cũng khóc theo. Ba bệnh lâu ngày không có tiền chạy thuốc, mẹ chỉ đâm lá thuốc nam cho ba uống nhưng không khỏi, ngày qua ngày ba càng ốm yếu xanh xao hơn, vì năm đó thuốc lao chưa xuống địa phương như bây giờ. Mẹ nghe hàng xóm bảo nếu muốn hết bệnh thì phải lo tiền đi bệnh viện Hồng Bàng ở Sài Gòn mới có thuốc trị. Mẹ nghe vậy quyết định bán hết mấy giạ lúa cuối cùng trong nhà cho ba làm lộ phí lên Sài Gòn trị bệnh, còn mẹ thì ở nhà lo ruộng rẫy và để chờ ngày ba tôi xuất viện trở về. Tôi nhớ lúc ấy sáng ngày nào mẹ tôi cũng xách cái thau và cây cân ra chợ mua cá đi bán lại để kiếm tiền lời, và còn có cá cho các con ăn, đến trưa về nhà lúc nào mẹ cũng đem một mớ cá chốt, chớ chẳng có thứ cá nào ngon hơn. Mỗi lần mẹ làm cá tôi hay ngồi gần nhìn mẹ làm và hỏi: “Mẹ ơi sao làm cá chốt mẹ không chặt bỏ đầu, đầu xương không ăn sao được hả mẹ?” Mẹ tôi cười bảo: “Có ít cá mẹ hà tiện để đầu kho xong mình lấy đầu cho con chó con mèo ăn cũng đỡ con à”. Câu nói của mẹ, tôi cũng vô tình không để ý tới, mà thật sự ngày nào tôi đi học về, mẹ dọn cơm cho mấy chị em tôi ăn cũng cá chốt kho và dĩa rau luộc mẹ hái cạnh sau nhà, tôi chỉ biết ăn say sưa chớ chẳng để ý tới cá chốt kho như thế nào. Vô tình một ngày nọ tôi được nghỉ hai tiết học cuối nên về nhà sớm hơn mọi ngay. Khi bước vào nhà, tôi tình cờ thấy mẹ tôi ngồi ăn cơm một mình với dĩa rau luộc và một chén cá kho toàn là đầu cá chốt. Thì ra bấy lâu nay mẹ ăn cơm trước, chỉ ăn đầu còn để dành khúc mình cho các con. Tôi đứng lặng trước mâm cơm của mẹ mà nghe nghèn nghẹn ở cổ, tôi chẳng nói được câu nào với mẹ chỉ sợ không cầm được giọt nước mắt. Như hiểu được ý tôi, mẹ bảo: “Ba con đang bị bệnh, mẹ con mình ở nhà phải ăn cần ở kiệm dành dụm tiền còn lo thuốc men cho ổng nữa con à, chừng nào ba con hết bệnh về làm có tiền thì nhà mình ăn sẽ ngon hơn”. Nghe mẹ nói tôi thấy mủi lòng rồi khóc như mưa. Nhưng mẹ ơi những gịot nước mắt con rơi lúc ấy không phải buồn vì nhà mình nghèo, mình khổ mà vì con cảm thấy thương mẹ, thương nhất trên đời mẹ ơi, cả cuộc đời mẹ đã vì chồng vì con mà chẳng nghĩ đến bản thân mình, lúc ấy con chỉ biết thầm cầu trời khấn phật cho ba mau hết bệnh để về nhà cùng mẹ chung sức lo cho đàn con thơ dại. Tôi xin viết những dòng chữ này gởi đến mẹ thân yêu như những lời cảm ơn mẹ đã vì chị em tôi mà cực khổ và chịu đựng hy sinh cả cuộc đời của mẹ, đến bây giờ tôi đã làm mẹ càng thấm thía hơn câu thơ của một nhà văn đã viết: Biển cả mênh mông không đong đầy tình mẹ Đến bao giờ các giáo lý viên mới yêu được các em mình dạy dỗ như bà mẹ trong câu truyện trên? Dĩ nhiên câu truyện trên nói đến kinh nghiệm tình máu mủ, mẹ con. Nhưng, trong mầu nhiệm cứu chuộc, Chúa đã thanh luyện tình yêu tự nhiên cho thêm tinh tuyền và còn ban ơn cứu chuộc để thánh hóa, làm cho tình yêu tự nhiên vươn lên để biết yêu như chính Chúa (Ga 13,34-35). Thánh Phaolô đã thương yêu các cộng tác viên, thương yêu các giáo đoàn, cả Giáo Hội và mọi người. Đó là những người chẳng có liên hệ máu mủ với ngài. Vậy mà ngài đã sẵn sàng và còn vui mừng chịu khổ vì họ, để họ được bổ dưỡng, được xây đắp. Đó là tấm gương cho các giáo lý viên. “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Col 1,24). Tình yêu đối với Giáo Hội, với các phần tử của Giáo Hội là một thách đố rất lớn đối với mọi người, dĩ nhiên cũng đối với các giáo lý viên. Giáo Hội đang gặp khó khăn trăm phần. Nhiều khó khăn đến từ bên ngoài. Xem như các sức mạnh của thế gian đang hợp lực đánh phá Giáo Hội, trên mọi trận tuyến. Nhưng trầm trọng hơn, có lẽ là những khó khăn phát xuất từ chính trong lòng Giáo Hội. Các lỡ lầm, yếu đuối của con cái Giáo Hội cứ lồ lộ trước mắt, mà nhiều khi cả những con cái ưu tú, được tuyển chọn nữa. Rồi tệ nạn chia rẽ, gièm pha, gây hoang mang, ngờ vực, tạo ra trăm bè bảy mối. Cứ như thể làm như vậy là trưởng thành, là công bằng, là yêu mến Giáo Hội. Người ta không có khả năng phân biệt ranh giới giữa quyền tự do ngôn luận, cần phải có để thăng tiến và việc nói hành, nói xấu, và vu vạ cáo gian. Để phân biệt được sự khác biệt, cần phải có tinh thần khiêm nhượng và thành thực (honest) để nhận diện những tình cảm, những ý nghĩ thầm kín trong lòng mình và gọi chúng với chính tên của chúng. Nhiều lý do nói ra để biện minh thì hay lắm, nhưng lý do thực trong bụng thì có thể chỉ là ghen ghét hay tham vọng, lợi lộc. Tình yêu đối với Giáo Hội đòi phải có tinh thần khách quan, tìm hiểu sự thật. Nếu thấy một phần tử của Giáo Hội bị oan, phải biết cảm thông nỗi đau khổ và bênh đỡ. Nếu thấy có tội, không đứng như kẻ ngoài cuộc mà tố khổ, nhưng phải biết lãnh trách nhiệm trong tình liên đới và nếu cần, cộng tác để đền trả các thiệt hại do sự yếu đuối của các phần tử của Giáo Hội gây ra, vì đây là Giáo Hội của tôi và đó là anh chị em của tôi. Tôi không phải là người ngoài cuộc, nhưng là anh em trong nhà. Đó là tâm tình của thánh Phaolô khi ngài viết cho giáo đoàn Colosê: “Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Col 1,24). Đó là mẫu sống của mỗi kitô hữu đích thực, nhất là kitô hữu đó lại là một giáo lý viên. III. Lòng say mến Chúa Giêsu 1. Bí quyết lòng hăng say dấn thân truyền giáo của thánh Phaolô: lòng say mến Chúa Giêsu Một điểm đặc biệt kéo sự chú ý của chúng ta là khi đã lãnh nhận sứ mệnh truyền giáo, thánh Phaolô lập tức lao mình đem Tin Mừng vào mọi môi trường. Chúng ta có thể nhận ra 4 môi trường khác nhau: môi trường đa chủng tộc và đa văn hóa (Tarso và Corintô); môi trường trí thức của văn hóa Hy Lạp (Athen); môi trường quyền lực (Roma); môi trường lao tù (Giêrusalem và Roma). Ngoài ra, trên đường truyền giáo, thánh Phaolô đã gặp muôn vàn khó khăn, thử thách. Chúng ta có thể kể ra một số khó khăn chính sau đây: - Những tranh luận, bàn cãi chung quanh việc cắt bì những người dân ngoại muốn tin theo Chúa Giêsu (Cv 15,1-12); Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do-thái đập ba mươi chín cú; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị đắm tàu; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đói khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng.” (2 Cor 11,18-27). - Hoàn cảnh cô đơn, trơ trọi một mình đứng trước khó khăn thử thách, như ngài đã viết cho người môn đệ yêu quí của ngài: “Lần thứ nhất khi cha phải ra biện hộ trước tòa án, chẳng có ai bênh vực cha. Tất cả đều đã bỏ rơi cha. Con đừng chấp nhất với họ. Nhưng có Chúa ở bên cạnh cha, Người đã ban sức mạnh cho cha, để nhờ cha mà việc rao giảng được hoàn thành, và tất cả các dân ngoại được nghe biết Tin Mừng.” (2 Tm 4,16-17). Cho dù gặp trăm ngàn khó khăn, nguy hiểm và chiến đấu với bao thử thách, thánh Phaolô không bao giờ nản chí, thay đổi mục đích hay than thân, trách phận; ngược lại, ngài luôn kiên trì dấn thân và còn biết biến khó khăn thành cơ hội mới để rao giảng Tin Mừng. Đâu là bí quyết của ngài? Bí quyết của Thánh Phaolô là sức mạnh nội tâm, kín múc từ 4 nguồn mạch: lòng say mến Chúa Giêsu; sự nhậy cảm và vâng lời tuyệt đối các tác động của Chúa Thánh Thần; tâm tình yêu mến Giáo Hội và, sau cùng, tình yêu sâu đậm đối với anh chị em lương dân. Chúng ta đã suy gẫm về tình yêu mến Giáo Hội và anh chị em lương dân. Bây giờ chúng ta tìm hiểu lòng say mến Chúa Giêsu nơi thánh Phaolô. Đây cũng là nguồn mạch chính yếu, làm nền tảng cho các nguồn mạch khác. Thánh Phaolô không chỉ yêu mà say mến Chúa Giêsu. Đối với ngài, Chúa Giêsu không phải là một lý thuyết để bàn cãi, hay chỉ là đối tượng để chiêm ngắm, nhưng là sự sống, là tiêu chuẩn hướng dẫn chọn lựa, là đối tượng phục vụ, là nguồn gợi hứng cho các hành động. Lòng say mến Chúa được diễn tả bằng nhiều cách. a) Tâm tình của thánh Phaolô: để hiểu lòng say mến Chúa Giêsu, chúng ta chỉ cần nghe một vài tâm tư của ngài diễn tả trong các thư ngài gửi các giáo hữu của ngài: - “Đối với tôi, sống chính là Chúa Kitô” (Pl 1,21) b) Cách thức giới thiệu chính mình Nhìn qua cách thức thánh Phaolô tự giới thiệu mình, chúng ta cũng có thể hiểu thêm tâm tình say mến Chúa Giêsu của ngài. Ngài là người Do Thái, dòng dõi nhóm Pharisêu, có quốc tịch Roma, tiến sĩ luật thuộc trường nổi tiếng nhất lúc đó. Tất cả những danh hiệu đó là lý do để tự hào, nhưng từ khi gặp được Chúa Giêsu, thánh Phaolô chỉ xưng mình là: tông đồ của Chúa Giêsu Kitô, môn đệ của Chúa Kitô, đầy tớ của Chúa Kitô, đầy tớ của Thiên Chúa, tù nhân của Chúa Giêsu Kitô. Dù dưới danh hiệu nào, cũng vẫn là người thuộc về Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là thẻ căn cước, là giấy thông hành định nghĩa căn tính của ngài. Trong lòng ngài, Chúa Giêsu sống động, là sức mạnh thúc đẩy, là lý do vì sao ngài chấp nhận hy sinh, chịu đựng hiểu lầm, khổ cực… Đúng là một tâm hồn say mến Chúa Giêsu. Tôi muốn nói đến lòng say mến chứ không chỉ tình yêu, tình bạn. Một lúc người ta có thể yêu nhiều người, nhưng chỉ có thể say mê một người và những người mình yêu không ảnh hưởng hoàn toàn đến cuộc đời của mình, nhưng người mình say mê thì chi phối cuộc đời mình. c) Sẵn sàng hy sinh vì Chúa Giêsu: “Tất cả vì Chúa và vì Tin Mừng của Ngài” (1Cor 9,23) Lòng say mê Chúa Giêsu nơi thánh Phaolô không phải là thứ tình cảm suông hay những xúc động bồng bột trong đôi lúc nhất thời, nhưng là tình nghĩa thân thương, lòng cảm phục kính mến đến độ ngài đã sẵn sàng hy sinh tất cả vì Chúa, để bảo vệ tình nghĩa với Chúa. Để hiểu tâm tình của thánh Phaolô, chúng ta có thể đọc lại một vài lời của ngài: - “Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Kitô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đã chấp nhận mất hết, và tôi coi tất cả như rác rưởi, để được Đức Kitô và được kết hợp với Người. Được như vậy, không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Môsê đem lại, nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Kitô, tức là sự công chính do Thiên Chúa ban, dựa trên lòng tin. Vấn đề là được biết chính Đức Kitô, nhất là biết Người quyền năng thế nào nhờ đã phục sinh, cùng được thông phần những đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hy vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cõi chết.” (Pl 3,7-11). - “Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do-thái, tôi đã trở nên Do-thái, để chinh phục người Do-thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã trở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật (Môsê), tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật (Môsê), dù tôi không sống ngoài luật Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Ki-tô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng.” (1Cor 9,19-23). Điều đáng được chú ý ở đây là thánh Phaolô không chỉ sẵn sàng hy sinh, mà hy sinh TẤT CẢ vì Chúa Giêsu. Dâng hiến tất cả, dâng hiến trọn vẹn cho Chúa, không giữ lại một chút nào cho mình. Đây chính là bí quyết của lòng hăng say, của những kết quả truyền giáo của thánh Phaolô và cũng là cái khó cho những ai muốn dõi theo tinh thần của ngài. Yêu Chúa không khó, phục vụ Chúa không khó, hy sinh vì Chúa cũng không khó. Cái khó nằm ở chỗ, “yêu Chúa với tất cả con tim, tất cả tâm hồn, tất cả sức lực và tất cả trí khôn” (Lc 10,27), phục vụ chỉ duy mình Chúa thôi và do đó, chấp nhận mất tất cả vì Chúa (Pl 3,7-11). Điều đó không có nghĩa là khinh chê tất cả, nhưng là nhìn và chọn lựa tất cả dưới ánh sáng và trong mối tương quan với Chúa Giêsu và do đó, trân trọng tất cả một cách chân thực. Trong thực tế, ít khi có giáo lý viên nào chống đối hay hoàn toàn chối bỏ Chúa. Cái khác giữa các giáo lý viên ở chỗ một giáo lý viên coi Chúa là một giá trị như trăm ngàn giá trị khác, còn giáo lý viên khác thì đặt Chúa Giêsu làm ưu tiên và qua đó chấp nhận và soi sáng tất cả các giá trị khác. Đó là trường hợp Thầy Giảng Anrê Phú Yên. Ta có thể diễn tả sự khác biệt theo mô hình dưới đây. Trong thời đại chúng ta, một khuôn mặt sáng ngời, lôi cuốn đông đảo dân chúng và cũng có thể nói là hình ảnh của thánh Phaolô, Tông Đồ Dân Ngoại, là ĐTC Gioan Phaolô II đáng kính. Suốt 26 năm trong sứ mệnh chủ chăn Giáo Hội Hoàn Vũ, ngài đã vượt trùng dương loan báo Tin Mừng cho mọi dân tộc, mọi tầng lớp. Chính cái chết của ngài cũng là một lời loan báo Chúa Giêsu một cách hùng hồn. Chắc chắn mọi người đã theo dõi đầy đủ các tin tức và hình ảnh chung quanh cái chết và Thánh Lễ an táng của ngài. Con xin được nhắc lại đây 4 sự kiện: - Ngay sau khi ngài qua đời, không ai bảo ai, không ai tổ chức, tự nhiên dân chúng ùn ùn kéo về đền thờ Thánh Phêrô kính viếng thi hài của ngài. Người ta nói là có chừng 4 triệu người. Để có thể vào đền thờ, đi qua trước thi hài của ngài trong giây lát, người ta phải nối đuôi chờ đợi 12 giờ, hay có thể 14 giờ đồng hồ, chịu đựng ban ngày trời nóng, ban đêm khí hậu lạnh. Họ là mọi thứ bậc người: đàn ông, đàn bà, già, trẻ, lớn, bé; họ là các giáo hữu, con cái của Giáo Hội Công Giáo, nhưng cũng có nhiều người thuộc các giáo hội Chính Thống, Tin Lành và ngay cả các tín hữu của các tôn giáo khác như Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo, và có thể cũng có những người vô thần hoặc thù địch với Tin Mừng của Chúa… - Hiện diện trong Thánh Lễ an táng, có đầy đủ thủ lãnh các quốc gia và của các tôn giáo. Họ xin đến chứ không phải được mời và họ phải ngồi ở hàng ghế đã được Toà Thánh xếp theo vần thứ tự tên các nước theo tiếng Pháp. Cho nên có sự kiện thủ lãnh các quốc gia kình địch với nhau ngồi bên nhau và cũng bắt tay chào hỏi nhau! - Các hãng truyền hình đã đồng loạt loan báo tin tức về cái chết và các sự kiện diễn tiến sau khi ngài qua đời. Có những đài truyền hình phát hình 24/24 giờ một ngày. - Cỗ quan tài gỗ trơn đơn sơ được đặt nằm ngay trên nền của công trường đền thờ Thánh Phêrô. - Trong Thánh Lễ, tự nhiên có một cơn gió mạnh nổi lên, tư từ lật mở từng trang, từ đầu đến cuối cuốn Thánh Kinh đặt trên quan tài của ngài. Cái chết của ĐTC Gioan Phaolô II là một lời loan báo hùng hồn và vĩ đại về Chúa Giêsu. Ngài đã lôi kéo bao nhiêu người, không phải chỉ những người về Roma, mà còn bao nhiêu người theo dõi tin tức và các lễ nghi qua các phương tiện truyền thông. Sức mạnh nào đã lôi kéo người ta, đoàn lũ đông đảo như vậy? Sức mạnh nào đã qui tụ được các thủ lãnh các quốc gia và đại diện các tôn giáo và có sức hoà giải tất cả như vậy? Đây không thể là kết quả của sức người phàm, nhưng phải là sức mạnh linh thiêng của Thiên Chúa, có sức thúc đẩy, hàn gắn và qui tụ lòng người. Về phía ĐTC Gioan Phaolô II, ngài đã là một dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Thiên Chúa, diễn tả qua khẩu hiệu của ngài: “Totus Tuus”. “Tất cả con là của Mẹ” và phần thứ II hiểu ngậm: “để tất cả con thuộc về Chúa Giêsu”. Yếu tố quan trọng ở đây nằm ở chữ “Totus”, có nghĩa là “tất cả”, ‘trọn vẹn”. Cỗ quan tài bằng gỗ đơn sơ đặt trên nền công trường đền thờ Thánh Phêrô cũng kéo sự chú ý của nhiều người. Lý do không phải vì nói lên sự nghèo khó. Nghèo khó thì có gì mà hấp dẫn? Sức hấp dẫn nằm ở sự lựa chọn của ngài, là lý do của sự nghèo hèn đơn sơ: Ngài đã chọn duy chỉ mình Chúa, đã sống hoàn toàn cho Chúa và vì Chúa. Đúng là “Totus Tuus”. Chính vì thế, qua sự nghèo hèn và đơn sơ của ngài, Chúa đã thể hiện được tất cả sức mạnh của ơn thánh và tình yêu của Người. Sự kiện cơn gió nổi lên, như thể một ngón tay từ từ lật giở từng trang, từ đầu đến cuối của cuốn Thánh Kinh đặt trên cỗ quan tài: có người cho đó là tình cờ, người khác cho đó là sự can thiệp trực tiếp của Chúa. Ai muốn cắt nghĩa theo chiều hướng nào tùy ý. Nhưng sự kiện đó có nói lên một điều quan trọng của cuộc đời thiêng liêng của ĐTC Gioan Phaolô II. Đó là ngài đã sống theo Tin Mừng; cuộc đời của ngài đã được thấm nhuần bằng Lời Chúa; ngài đã sống theo tất cả sứ điệp Ơn Cứu Độ. Đúng là “Totus Tuus”. Sự kiện này giúp chúng ta hiểu rõ hơn một khía cạnh tế vi của tinh thần truyền giáo của thánh Phaolô, Tông Đồ Dân Ngoại. Đó là sự dâng hiến tất cả cho Chúa không phải chỉ có nghĩa là sẵn sàng từ bỏ tất cả vì Chúa và chịu thiệt thòi vì Chúa, mà còn có nghĩa là để cho lòng mình được thay đổi theo tinh thần của Chúa và mọi khía cạnh của con người mình đều được thấm nhuần bằng tinh thần của Chúa Giêsu để trở thành hương thơm của Người như lời ngài viết trong thư gửi giáo đoàn Corintô: “Tạ ơn Thiên Chúa, Đấng cho chúng ta tham dự cuộc khải hoàn trong Chúa Kitô, và đã dùng chúng ta mà làm cho hương thơm của sự nhận biết Chúa Kitô lan toả khắp nơi trong thế giới. Thực vậy, chúng ta là hương thơm của Chúa Kitô dâng kính Thiên Chúa, toả ra giữa những người được cứu độ cũng như những kẻ bị hư mất.” (2Cor 2,14-15). Trong lịch sử Giáo HộiViệt Nam đã có một giáo lý viên làm sống động lại tinh thần say mến Chúa Giêsu của thánh Phaolô. Đó là Thầy Giảng Anrê. Trở lại đạo lúc 15-16 tuổi. Sau đó gia nhập nhóm thầy giảng đầu tiên của cha Đắc Lộ. Đến năm 19 tuổi, Thầy bị bắt và sau đó được phúc Tử Đạo. Khi quan nghè Bộ dụ dỗ, đe dọa bắt Thầy bỏ đạo, Thầy trả lời: “Chúa Giêsu đã thương yêu tôi, đã chết vì tôi, làm sao tôi có thể chối bỏ Người? Tình yêu đáp trả tình yêu, mạng sống đáp trả mạng sống”. Và theo chứng từ của Cha Đắc Lộ và nhiều người có mặt khi Thầy chịu tử đạo, lúc đầu Thầy bị chém và đã ngả ra, người ta vẫn còn thấy nơi cổ họng Thầy phát ra 3 lần tên cực trọng: “Giêsu, Giêsu, Giêsu”. Bức hình vẽ đầu tiên cuộc tử đạo của Thầy đã diễn tả sự kiện này. Ước chi trong hàng các giáo lý viên hôm nay, có nhiều người là hiện thân của thánh Phaolô, như Thầy Giảng Anrê Phú Yên, yêu mến Chúa Giêsu hết lòng và thấm nhuần tinh thần của Người nên làm lan tỏa hương thơm của Người để ướp thế gian. Gặp được một giáo lý viên là người ta ngửi được một mùi thơm ngào ngạt: “mùi Giêsu”. d) Trung kiên rao giảng Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh và sống lại Trong hành trình rao giảng Tin Mừng cho các giáo hữu đã tin theo Chúa, cũng như cho anh chị lương dân, thánh Phaolô đã không ngần ngại loan báo sứ điệp Chúa Giêsu Kitô Chịu Đóng Đinh; cho dù biết là người ta không muốn nghe, nhưng ngài vẫn loan báo. Chỉ khi say mến Chúa Giêsu, cảm nghiệm và xác tín là Chúa Giêsu là kho tàng quí báu và là viên bích ngọc (x. Mt 13,44-46), là nguồn sống của nhân loại, mới dám chèo ngược dòng nước và kiên trì trong sứ mệnh như thánh Phaolô đã làm. Ta có thể nghe đời lời tâm sự của thánh Phaolô: - “Khi ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết điều gì khác, ngoài Chúa Giêsu Kitô, và là Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh” (1Cor 2,2). - “Trong khi người Do-thái đòi xem những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy-lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng Chúa Kitô chịu đóng đinh, điều mà người Do thái coi là ô nhục không thể chấp nhận, và dân ngoại cho là điên rồ. Nhưng đối với những ai được Thiên Chúa kêu gọi, dù là Do thái hay Hy lạp, Đấng ấy chính là Đức Kitô, sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa thì mạnh hơn cái mạnh mẽ của loài người.” (1Cor 1,22-25). Xem ra chúng ra đang sống trong môi trường văn hóa cũng tương tự như môi trường thánh Phaolô nói trong thư gửi giáo đoàn Corintô. Nhiều người cho sứ điệp Chúa Giêsu chịu đóng đinh nghe chói tai và có tính cách bi quan sầu thảm. “Chói tai” thì có thể có, vì chúng ta đang sống trong một nền văn minh phản Thánh Giá. Có rất nhiều trào lưu tư tưởng và nếp sống đi ngược hoàn toàn với sứ điệp Thánh Giá, với lý tưởng trở thành Hy Lễ. Trào lưu tư tưởng và nếp sống đầu tiên là coi thành công, ích lợi, hiệu quả (tất cả phải đo lường được, phải nhìn thấy được) là tiêu chuẩn đánh giá các dự án, hoạt động và ngay cả giá trị con người. Cách nghĩ và nếp sống thứ hai là tìm tiện nghi, thoải mái và đồng hóa thú vui với hạnh phúc. Về lý thuyết, người ta coi cuộc sống dễ dàng, thoải mái như lý tưởng và ngược lại, những khó khăn, hy sinh, đau khổ là bất nhân. Trong thực tế, cuộc sống dễ dãi không còn phải là giấc mơ mà là điều có thể thực hiện được nhờ phương tiện vật chất dồi dào, nhờ các phương pháp và dụng cụ do khoa học kỹ thuật cung cấp… Trong bầu khí văn hóa và môi trường sống nói trên, không những người ta không chấp nhận những khó khăn, đau khổ khi xảy đến cho mình mà còn coi bất cứ đau khổ nào, ngay cả những đau khổ của Chúa Giêsu là vô ích, bất nhân. Cách suy nghĩ hôm nay đã thay đổi rất nhiều. Nhưng nói sứ điệp Chúa Kitô chịu đóng đinh là bi quan, sầu thảm thì nhất định không phải, vì đây là diễn tả tình yêu tuyệt hảo hai chiều: đối với Chúa Cha và đối với nhân loại. Đối với Chúa Cha: vâng lời tuyệt đối (tình yêu chung thủy), phó thác. Đối với nhân loại: vẫn tiếp tục thương yêu, tha thứ cho dù không được thương yêu lại, hơn nữa, còn bị chà đạp bất công, bị xỉ nhục, bị tra tấn đau đớn vô ngàn; chấp nhận gánh chịu mọi hình phạt mà đáng lẽ loài người phải chịu để đền trả tội lỗi nhân loại. Chúa Kitô chịu đóng đinh đúng là sức mạnh vô song của tình yêu thần linh và vì vậy Người đã biến Thánh Giá thành nguồn ơn cứu độ, đem lại sự an bình và niềm vui cho tâm hồn con người. Mỗi khi chúng ta cử hành Thánh Lễ là chúng ta nhắc lại cái chết bất công, nhục nhã của Chúa chúng ta, mà chúng ta không sầu thảm, không căm phẫn, thù hận những người đã chối bỏ Chúa, đã giết Chúa, mà ngược lại, trong lòng chúng ta cảm thấy phơi phới và cùng nhau hát “Vinh danh Thiên Chúa…”, “Alleluia”… Khi chúng ta cử hành lễ kính các thánh Tử Đạo, môn đệ của Chúa Kitô chịu đóng đinh, bầu khí cũng vui tươi như vậy. Như thế thì Chúa Kitô chịu đóng đinh đâu có gì là yếu đuối, là sầu thảm, bi quan, mà ngược lại, như thánh Phaolô nói, là “sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa”. Đó là lý do vì sao Chúa Giêsu đã mời gọi các môn đệ cùng uống chén với Người: Mc 10,38-40: “Các con không biết các con xin gì! Các con có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” Các ông đáp: "Thưa được." Chúa Giêsu bảo: “Chén Thầy sắp uống, các con cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, các con cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Thiên Chúa Cha đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được.” Thánh Phaolô cũng đã chấp nhận lời mời gọi này: “Giờ đây, được Thánh Thần Chúa thuyết phục và thúc đẩy, tôi lên Giêrusalem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi ở đó, trừ ra điều này, là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng đáng giá gì, miễn sao tôi đi hết hành trình của tôi, chu toàn sứ vụ Chúa Giêsu đã phó thác nơi tôi, là làm chứng cho sứ điệp ân sủng của Thiên Chúa.” (Cv 20,22-24). e) Biến khó khăn thành cơ hội mới để rao giảng Tin Mừng “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta. Trong Đức Ki-tô, từ cõi trời, Người đã thi ân giáng phúc cho ta hưởng muôn vàn ơn phúc của Thánh Thần. Trong Đức Ki-tô, Người đã chọn ta trước cả khi tạo thành vũ trụ, để trước thánh nhan Người, ta trở nên tinh tuyền thánh thiện, nhờ tình thương của Người. Theo ý muốn và lòng nhân ái của Người, Người đã tiền định cho ta làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô, để ta hằng ngợi khen ân sủng rạng ngời, ân sủng Người ban tặng cho ta trong Thánh Tử yêu dấu. Trong Thánh Tử, nhờ máu Thánh Tử đổ ra chúng ta được cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi theo lượng ân sủng rất phong phú của Người. Ân sủng này, Thiên Chúa đã rộng ban cho ta cùng với tất cả sự khôn ngoan thông hiểu. Người cho ta được biết thiên ý nhiệm mầu: thiên ý này là kế hoạch yêu thương Người đã định từ trước trong Đức Ki-tô. Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô.” (Ep 1,3-10). Lá thư gửi giáo đoàn Ephêsô là lá thư thánh Phaolô viết trong tù ngục. Tù đầy là thời gian đầy đau khổ, nhục nhã và có thể gây ra chán nản và thất vọng, nhưng ngài đã không sờn lòng nản chí, hoặc buồn sầu trách móc, chửi rủa; ngược lại, ngài đã lợi dụng thời giờ và hoàn cảnh để viết thư khích lệ và hướng dẫn các giáo hữu và ngài bắt đầu bức thư bằng những lời chúc tụng. Ngài đã biến đau khổ thành lời chúc tụng và biến khó khăn thành cơ hội mới để loan truyền Tin Mừng. Không ai không gặp khó khăn trong cuộc sống và trong nhiệm vụ dạy giáo lý, cộng tác với nhiều người, cũng sẽ có những lúc xảy ra khó khăn, không thực hiện được chương trình như dự tính và do đó, đôi tâm tình chán nản, bất mãn cũng có thể xuất hiện trong đầu óc. Lúc đó, nếu giáo lý viên biết theo gương thánh Phaolô biến đau khổ thành lời chúc tụng và biến khó khăn thành cơ hội mới để loan truyền Tin Mừng thì tâm tình và thái độ sẽ loan báo mầu nhiệm cứu chuộc (mầu nhiệm tử nạn và sống lại) của Chúa một các mạnh mẽ và xây đắp tâm hồn và cộng đoàn gắp trăm lần các bài giảng dạy uyên bác. 3. Hành trình thanh luyện nội tâm, dõi theo tinh thần truyền giáo của Thánh Phaolô a) Mâu thuẫn giữa ước vọng say mến, phục vụ Chúa và thực tại của cuộc sống Trong lòng con người có một sự giằng co, mâu thuẫn rất sâu đậm. Chính trong lúc muốn tôn thờ yêu mến Chúa, lại thấy nổi lên trong lòng một sức mạnh chống đối, từ khước Chúa. Nhiều khi không dám nói rõ ràng từ khước Chúa, nhưng bịt tai, giả vờ như không biết gì; chính trong lúc ao ước say mến, phục vụ Chúa và tha nhân, lại thấy nổi lên ước vọng danh giá, lợi lộc; chính trong lúc muốn thương yêu mọi người vô vị lợi, lại thấy lòng mình bực bội, ghét bỏ người nọ người kia nên ganh tị, dèm pha, nói xấu… Mỗi người cảm thấy trong lòng một sự giằng co giữa sự thiện và sự ác và rất nhiều khi sức mạnh của sự ác chiến thắng. Đó là kinh nghiệm sống thánh Phaolô nói trong thư gửi giáo đoàn Roma: “Điều tốt tôi muốn làm, tôi lại không làm, trong khi tôi đi làm điều xấu tôi không muốn làm” (Rom 7,15). b) Lý do * Tội nguyên tổ Hành trình dõi theo thánh Phaolô trong lòng say mến Chúa Giêsu, chúng ta phải nhìn với con mắt thực tế. Đó là hoàn cảnh của những người thừa hưởng một bản tính nhân loại đã bị ô nhiễm bởi tội nguyên tổ và những hậu quả của nó, gây ra một sự rạn nứt rất sâu sa trong lòng mỗi người. Đoạn sách Sáng Thế diễn tả những sự rạn nứt đó như sau: “Rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi giống vật ngoài đồng, mà ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà: “Có thật Thiên Chúa bảo: “Các ngươi không được ăn hết mọi trái cây trong vườn không? Người đàn bà nói với con rắn: “Trái các cây trong vườn, thì chúng tôi được ăn. Còn trái trên cây ở giữa vườn, Thiên Chúa đã bảo: “Các ngươi không được ăn, không được động tới, kẻo phải chết.” Rắn nói với người đàn bà: “Chẳng chết chóc gì đâu! Nhưng Thiên Chúa biết ngày nào ông bà ăn trái cây đó, mắt ông bà sẽ mở ra, và ông bà sẽ nên như những vị thần biết điều thiện điều ác.” Người đàn bà thấy trái cây đó ăn thì ngon, trông thì đẹp mắt, và đáng quý vì làm cho mình được tinh khôn. Bà liền hái trái cây mà ăn, rồi đưa cho cả chồng đang ở đó với mình; ông cũng ăn. Bấy giờ mắt hai người mở ra, và họ thấy mình trần truồng: họ mới kết lá vả làm khố che thân. Nghe thấy tiếng ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa đi dạo trong vườn lúc gió thổi trong ngày, con người và vợ mình trốn vào giữa cây cối trong vườn, để khỏi giáp mặt ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa. ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa gọi con người và hỏi: “Ngươi ở đâu? “ Con người thưa: “Con nghe thấy tiếng Ngài trong vườn, con sợ hãi vì con trần truồng, nên con lẩn trốn.” ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi: “Ai đã cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Có phải ngươi đã ăn trái cây mà Ta đã cấm ngươi ăn không? “ Con người thưa: “Người đàn bà Ngài cho ở với con, đã cho con trái cây ấy, nên con ăn.” ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa hỏi người đàn bà: “Ngươi đã làm gì thế? “ Người đàn bà thưa: “Con rắn đã lừa dối con, nên con ăn.” (St 3,1-13). Đoạn sách Sáng Thế cho thấy, trong lòng mỗi người đã có mầm mống rạn nứt trong 4 mối liên hệ thiết yếu: với Thiên Chúa, với tha nhân, với vũ trụ vạn vật và với chính mình. Do đó, để thực sự sống tình say mến Chúa Giêsu, cần phải dõi theo hành trình hòa giải 4 mối liên hệ để tìm lại sự an hòa nội tâm. Để nhìn và hiểu vấn đề cách rõ ràng hơn, chúng ta có thể cắt nghĩa sự rạn nứt sâu đậm trong nội tâm mỗi người theo hai mô hình dưới đây. Mô hình bên trái diễn tả tình trạng nội tâm an hòa trước tội nguyên tổ. Mô hình bên phải diễn tả tình trạng nội tâm rạn nứt sau tội nguyên tổ. * Hoàn cảnh gia đình, học đường, môi trường sống trong thời thơ ấu và niên thiếu - Vết thương lòng: sống với nhau là con người tội lỗi, ai cũng có những yếu đuối, thiếu sót và do đó, ghễ gây cho nhau những vết thương để lại tâm khảm và chi phối cuộc đời. - Vai trò trong gia đình: tương quan cha mẹ - con cái; vợ - chồng; phái tính: con trai, con gái. Khi vì hoành cảnh, các vai trò bị lẫn lộn, người ta sẽ lẫn lộn hoặc mất căn tính và gây ra sự hỗn độn trong tâm lý. - Hoàn cảnh, tình trạng đặc biệt của gia đình. Những hoàn cảnh hay tình trạng đặc biệt của gia đình để lại một dấu vết rất sâu đậm trong tâm khảm mỗi người. Cũng cần để ý là tuy hai gia đình cùng trải qua một hoàn cảnh tương tự, nhưng thái độ và phản ứng của các phần tử của hai gia đình có thể cũng rất khác nhau, tùy theo bầu khí sống và đường hướng giáo dục trong gia đình. Ví dụ hai gia đình cùng phải trải qua hoàn cảnh lầm than, nghèo đói, túng quẫn. Gia đình I luôn thủ thế, dè sẻn lo cho ngày mai; gia đình II, tìm cách hưởng thụ, vì “biết ngày mai thế nào?” Xuất thân từ gia đình I, người ta sẽ dễ hà tiện, dễ nhận mà khó cho; xuất thân từ gia đình II, người ta dễ phung phí, tiêu xài xả láng… * Môi trường, xã hội, lịch sử tập thể Anh hùng tạo thời thế nhưng thường thì thời thế tạo anh hùng. Mỗi người có thể ảnh hưởng đến xã hội, nhưng xã hội cũng ảnh hưởng rất nhiều đến mỗi cá nhân. Ngoài ra, còn những sức mạnh, tuy vô hình nhưng có một ảnh hưởng rất lớn trên cách suy nghĩ, thái độ, hành động của mỗi cá nhân: lịch sử, văn hóa của tập thể. Dưới đây là một số tâm thức văn hóa và trào lưu xã hội tân tiến hiện nay có thể trở thành chướng ngại vật, ngăn cản cuộc sống kitô của giáo lý viên: - Coi danh dự (thể diện) cá nhân hay tập thể như một giá trị tuyệt đối hay ít nữa, giá trị quan trọng nhất. c) Hành trình mở lòng thắng lướt chướng ngại vật để đón nhận ơn Chúa, thay đổi con người của mình và thấm nhuần tinh thần của Chúa * Cơ cấu tâm linh sinh động của con người Lý trí: có 2 khả năng: suy nghĩ, lý luận và tưởng tượng. Cần dùng cả hai khả năng để hiểu thêm về mầu nhiệm và áp dụng vào cuộc sống để chiếu soi, thay đổi ý tưởng, tình cảm và thái độ, hành động. Nguyên nhân chính yếu làm mất an bình nội tâm và cản trở sống hạnh phúc và hiệp thông thì nhiều, nhưng nguyên nhân chính yếu và trầm trọng nhất là tình cảm. Các tình cảm nếu không được hóa giải, chúng sẽ tụ tập lại dày xéo tâm can và làm mất an bình nội tâm. Các loại tình cảm chính yếu Các tình cảm gây khốn khổ cho cuộc sống, cho chính mình và cho tha nhân, nhất là những người gần gũi thì nhiều, nhưng tựu trung có thể gom lại thành 3 loại chính: Nguồn gốc của tình cảm Ý tưởng - Tình cảm tức giận nảy sinh khi mình nhìn sự vật hay người khác như một chướng ngại vật. Hành trình hòa giải nội tâm - Không chối bỏ, không chạy trốn, nhưng khiêm nhượng nhìn nhận sự hiện hiện cả tình cảm đó, cho dù nó có làm cho xấu hổ đến đâu. Chặng 4: Cách nhìn mới: Một trong hai nguồn gốc căn bản của tình cảm là ý tưởng. Muốn thay đổi tình cảm, phải thay đổi ý tưởng. Chặng 5: Nhìn với con mắt của Chúa: Vẫn theo định luật tâm lý nói trên, nếu biết nhìn với con mắt của Chúa thì sẽ thay đổi hoàn toàn tình cảm của mình (Ga 10,10-27; Lc 15,4-7). Chặng 6: Sống trong lòng xác tín đức tin là được Chúa thương yêu vô điều kiện: Tình yêu hàn gắn, chữa lành tất cả. Khi một người cảm nghiệm là được thương yêu vô điều kiện, được say yêu thì tâm hồn được an bình ( Is 43,1-5; Is 49,15). iii. Huấn luyện lại ý chí: tập quyết định và thực hiện điều đã quyết định. Ba điều cần để ý: Suy nghĩ, bàn hỏi, cân nhắc hơn thiệt trước khi quyết định. Bắt đầu bằng những điều nhỏ và dễ để từ từ tiến đến những quyết định khó và phức tạp hơn. Cần phải có một qui luật sống và cố gắng sống theo qui luật ấy. Đ.Ô. Đinh Đức Đạo Lm. Ant. Nguyễn Đức Khiết Hoạt động truyền giáo đòi một linh đạo đặc biệt. Linh đạo này liên hệ tới những người được Thiên Chúa mời gọi để trở thành nhà truyền giáo. Đức Phaolô VI phác hoạ linh đạo truyền giáo trong chương VII của tông huấn Loan báo Tin Mừng (30). Đức Phaolô II trực tiếp đề cập tới linh đạo này trong chương VIII của Thông Điệp Sứ vụ Đấng Cứu Thế (31). Ngài cũng nhắc đến nhiều lần trong Giáo hội tại Á Châu (32) và mới đây trong hai Tông Thư Bước vào ngàn năm mới (33) và Kinh Mân Côi của Đức Trinh Nữ Maria (34). Chúng ta chia sẻ với nhau linh đạo này. I. ĐỂ CHO CHÚA THÁNH THẦN HƯỚNG DẪN Chiêm ngắm dung nhan Chúa Giêsu để "Chèo ra chổ sâu" (Duc in altum) là chủ đề của Tông Thư Bước vào ngàn năm mới (Novo Millennio inuente). Chiêm Ngắm Đức Giêsu, chúng ta khám phá ra chân lý này: Ngài đã là sứ giả Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất, là sứ giả Tin Mừng đã để cho Thần Khí hướng dẫn. Thần Khí đã xuống trên Đức Giêsu Nazarét vào lúc Ngài chịu thanh tẩy và được Chúa Cha giới thiệu là Con Chí Ái của Người (x.Mt 3,17). Chính vì "được Thần Khí dẫn đưa" (Mt 4,1), mà Ngài đã trải qua trong sa mạc cuộc chiến đấu quyết liệt và một cuộc thử thách lớn lao nhất trước khi bắt đầu sứ mệnh loan báo Tin Mừng. Chính "với quyền năng của Thánh Thần" (Lc 4,14) mà Ngài đã trở về Galilê và mở đầu tại Nadarét công cuộc rao giảng, khi áp dụng đoạn sách tiên tri Isaia cho chính mình: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi". Ngài công bố: "Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh này" (Lc 4,18-21: x. Is 61,1). Nhờ quyền năng của Thần Khí, Chúa Giêsu chữa lành các bệnh nhân và xua đuổi ma quỷ, như một dấu chỉ Nước Thiên Chúa đã đến (Mt 12,28). Vào buổi chiều Phục Sinh, Ngài thổi hơi trên các môn đệ sắp được phái đi mà nói với họ: "Các con hãy nhận lấy Thánh Thần" (Ga 20,22). Từ việc chiêm ngắm Chúa Giêsu, sứ giả Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất đã để cho Thần Khí hướng dẫn, ta thấy linh đạo truyền giáo được thể hiện trước hết qua việc nhà truyền giáo để cho con người của mình trở nên con người hoàn toàn dễ dạy đối với Chúa Thánh Thần, một sự dễ dạy để cho Chúa Thánh Thần uốn nắn con người bên trong càng ngày càng nên giống Chúa Kitô. Không thể rao giảng và làm chứng về Chúa Kitô cũng như Tin mừng của Ngài nếu bản thân nhà truyền giáo không phản ánh gương mặt Chúa Kitô. Gương mặt Chúa Kitô sẽ trở nên sống động trong chúng ta nhờ ân sủng và hoạt động của Thánh Thần. Ngoài ra, sự dễ dạy đối với Thánh Thần còn làm cho chúng ta đón nhận được những ân huệ khác của Ngài, đặc biệt là ơn can đảm và biện biệt. Hai ân huệ này là những nét cốt yếu của linh đạo truyền giáo. Trường hợp của các tông đồ là một điển hình: trong sứ vụ công khai của Đức Giêsu, dù đã yêu Chúa nồng nàn với một tấm lòng quảng đại, dù đã được Chúa huấn luyện trong nhiều năm, các tông đồ vẫn tỏ ra là những con người tối trí và chậm hiểu. Nhiều lần Chúa Giảng dạy mà các ngài chẳng hiểu gì hết, nhất là khiếp sợ theo Chúa trên đường khổ nạn. Biến cố thập giá chiều thứ Sáu tuần thánh đã làm tiêu tan niềm tin và hy vọng của các ngài vào Đức Giêsu. Chúa Thánh Thần đã biến đổi các tông đồ trở nên những chứng nhân can đảm cho Đức Giêsu và những người loan báo cách rõ ràng lời Ngài. Chính Thánh Thần đã hướng dẫn các ngài trên những nẻo đường gian khổ và mới mẻ của sứ mạng truyền giáo. Đức Phaolô VI đã nhấn mạnh về vai trò của Chúa Thánh Thần trong công cuộc loan báo Tin Mừng khi đọc lại những ngày đầu của Giáo hội sơ khai: "Sẽ không bao giờ có thể Phúc âm hoá được nếu không có tác động của Chúa Thánh Thần...". Thật ra, chỉ sau khi Chúa Thánh Thần đến, ngày Hiện Xuống, các tông đồ mới lên đường đi đến khắp các chân trời trên thế giới để khởi sự công cuộc Phúc Âm hoá của Giáo hội, và thánh Phêrô giải thích biến cố như đã thực hiện của lời tiên tri Giôel: "Ta sẽ đổ Thần Khí Ta" (Cv 2,17). Thánh Phêrô được đầy Thánh Thần để nói với dân chúng về Đức Giêsu Con Thiên Chúa (Cv 4,8). Thánh Phaolô cũng thế "được đầy Thánh Thần" (Cv 9,17) trước khi hiến thân cho sứ vụ tông đồ; thánh Stêphanô cũng vậy, khi được chọn để làm phó tế và sau đó đã đổ máu làm chứng (Cv 6,5.10;7,55). Thần Khí khiến Phêrô, Phaolô hay nhóm Mười Hai lên tiếng và soi sáng cho họ những lời lẽ phải nói thì cũng ngự xuống "trên tất cả những người đang nghe Lời Thiên Chúa" (Cv 10,44). Chính nhờ Chúa Thánh Thần nâng đỡ mà Giáo hội tăng tiến (Cv 9,31). Ngài là linh hồn của Giáo hội này. Chính Ngài giải thích cho tín hữu hiểu ý nghĩa thâm sâu của Lời Đức Giêsu. Ngày nay cũng như vào buổi đầu của Giáo hội, Ngài là Đấng hoạt động trong mỗi sứ giả Tin Mừng, nếu họ chịu thuộc về Ngài và để Ngài hướng dẫn mình, Ngài đặt nơi môi miệng họ những lời mà một mình họ không thể nào tìm ra được, và đồng thời chuẩn bị cho tâm hồn người nghe biết cởi mở đón nhận Tin Mừng và Triều Đại được loan báo. Có những kỹ thuật Phúc Âm hoá là điều tốt, những kỹ thuật hoàn hảo nhất vẫn không làm sao thay thế được tác động âm thầm của Thần Khí. Không có Ngài thì sứ giả Tin Mừng có sửa soạn hết sức tinh tế cũng chẳng làm được gì cả. Không có Ngài thì biện luận thuyết phục nhất cũng không ảnh hưởng gì được trên trí tuệ con người. Không có Ngài, những lược đồ xã hội và tâm lý học được soạn thảo kỹ lưỡng nhất cũng chóng tỏ ra vô giá trị. Chúng ta đang sống trong Giáo hội những giờ phút đặc biệt của Thần Khí. Đâu đâu người ta cũng tìm biết Ngài hơn, đúng như Kinh Thánh mạc khải. Người ta sung sướng tự đặt dưới quyền lực Ngài. Người ta họp nhau quanh Ngài. Người ta muốn để Ngài hướng dẫn mình. Vậy, nếu Thần Khí Thiên Chúa có một vị trí ưu việt trong toàn thể đời sống Giáo hội, thì chính trong sứ mệnh Phúc Âm hoá của Giáo hội là chỗ Ngài hoạt động hơn cả. Không phải tình cờ mà cuộc khởi đầu vĩ đại đi Phúc Âm hoá đã xảy ra vào sáng ngày Hiện Xuống, dưới hơi thổi của Thần Khí" (35). Như vậy, chúng ta có thể nói rằng Chúa Thánh Thần là tác nhân chính của hoạt động truyền giáo của Giáo hội, là tác giả đầu tiên của việc đối thoại giữa Giáo hội và tất cả các dân tộc, văn hoá và tôn giáo (36). Chính Ngài thúc đẩy mỗi người loan báo Tin Mừng, chính Ngài từ chiều sâu ý thức, làm cho người ta đón nhận và hiểu Lời cứu độ (37), và chính Ngài tiếp tục gieo các hạt giống chân lý giữa các dân tộc, tôn giáo, văn hoá và triết học của họ. Nhờ Chúa Thánh Thần, Vị Thầy Nội Tâm, gương mặt và giáo huấn của Chúa Kitô sẽ tỏ hiện lên trong lòng người đón nhận và đặc biệt hơn trong chính cuộc đời và bản thân nhà truyền giáo. Ngày nay cũng như ngày xưa, công cuộc truyền giáo vẫn có nhiều khó khăn và phức tạp. Ngày nay cũng như ngày xưa, nó đòi hỏi lòng can đảm và ánh sáng của Thánh Thần. Chúng ta vẫn thường sống trong thảm kịch của các Kitô hữu tiên khởi khi họ thấy đám đông bất tín và thù nghịch "đang rập mưu đồ chống lại Đức Chúa và chống lại Đấng Người đã được xức dầu phong vương" (Cv 4,26). Cũng như ngày xưa, chúng ta phải cầu nguyện để Thiên Chúa ban cho chúng ta lòng can đảm loan báo Tin Mừng, để bước đi trên những nẻo đường huyền nhiệm đầy bất ngờ của Thiên Chúa và để cho Chúa Thánh Thần hướng dẫn đến chân lý vẹn toàn (Ga 16,13). II. SỐNG MẦU NHIỆM ĐỨC KITÔ "ĐƯỢC SAI ĐI" Sống hiệp thông với Đức Kitô là một yếu tố căn bản của linh đạo truyền giáo. Người ta không thể hiểu cũng như không thể sống sứ mạng truyền giáo nếu không quy chiếu về Đức Kitô như Đấng được sai đi để loan báo Tin Mừng. Thánh Phaolô đã nói về tâm tình của Đức Kitô, Đấng được Thiên Chúa sai đến trong bài thánh thi thời danh: "Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ là phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự" (Pl 2,5-8). Trong bài thánh thi này, thánh Phaolô chiêm ngưỡng và suy tư về mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Chuộc. Các mầu nhiệm này được diễn tả như một sự hoàn toàn từ bỏ bản thân, dẫn Đức Giêsu đến việc sống hoàn toàn như con người và gắn bó với chương trình của Chúa Cha cho tới cùng. Đây là mầu nhiệm tự huỷ mang dấu ấn của tình yêu và diễn tả tình yêu. Sứ mạng truyền giáo cũng đi trên con đường này, một con đường cuối cùng dẫn tới chân thập giá. Sứ mạng này đòi hỏi nhà truyền giáo "từ bỏ chính mình và những gì mình có, để trở nên tất cả cho mọi người". Sự từ bỏ thể hiện qua nếp sống nghèo khó trong sự thanh thoát của nội tâm. Nếp sống này làm cho nhà truyền giáo được tự do để loan báo Tin Mừng. Tự do để trở nên người anh em của tất cả mọi người mà ngài được sai đến để đem Chúa Kitô, Đấng Cứu Độ cho họ. Đó là linh đạo truyền giáo mà thánh Phaolô đã sống trên những nẻo đường truyền giáo và muốn chia sẻ lại cho chúng ta: "Tôi đã trở nên yếu với những người yếu để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để được phân chia phần phúc của Tin Mừng" (1Cr 9,22-23). Rõ ràng vì được sai đi, nhà truyền giáo cảm nghiệm được sự hiện diện đầy an ủi của Đức Kitô đang đồng hành với mình mọi giây phút của cuộc đời. "Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh, vì Thầy ở với con" (Cv 18,9-10). III. YÊU MẾN GIÁO HỘI VÀ CON NGƯỜI NHƯ CHÚA KITÔ ĐÃ YÊU MẾN Linh đạo truyền giáo còn được thể hiện bằng tình yêu của người tông đồ dành cho Giáo hội và cho con người. Người có tinh thần truyền giáo sẽ chiêm ngắm Đức Giêsu, vị Mục Tử tốt lành biết chiên của mình, tìm kiếm chiên và hy sinh mạng sống vì đàn chiên (Ga 10) mà bày tỏ tình yêu đối với các tâm hồn và đối với Giáo hội. Nhà truyền giáo được thúc bách nhờ "lòng nhiệt thành vì các tâm hồn", một khi được tình yêu của chính Đức Kitô soi chiếu, sẽ biết chú tâm, nhẹ nhàng, thương cảm, đón tiếp, có một con tim sẵn sàng và cởi mở, biết lưu tâm đến những vấn đề của người khác. Như Đức Giêsu, nhà truyền giáo tiên vàn là con người của tình thương. Để có thể loan báo cho mỗi người trong anh em rằng họ được Thiên Chúa yêu thương và họ có thể yêu thương Thiên Chúa thì nhà truyền giáo phải làm chứng về tình thương đối với mọi người bằng cách hy sinh mạng sống mình vì người khác. Nhà truyền giáo là "người anh em của tất cả" (frère universel), ngài mang trong mình tinh thần của Giáo hội, sự cởi mở và quan tâm của Giáo hội đối với mọi dân tộc và toàn thể nhân loại, đặc biệt đối với những người bé nhỏ nhất và nghèo khổ nhất. Ngài phải vượt qua mọi ranh giới và khác biệt về chủng tộc, giai cấp xã hội hay ý thức hệ. Ngài là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa trong thế giới, nghĩa là một tình yêu không loại trừ ai cũng như không thiên vị người nào. Ngày nay người ta thường hay lặp đi lặp lại rằng: thế kỷ này khao khát sự trung thực. Nhất là khi nói tới giới trẻ, người ta quả quyết rằng họ ghê tởm những gì là giả tạo, giả mạo và tìm kiếm chân lý và sự trong sáng trên tất cả. Chúng ta phải tỉnh táo trước những "dấu chỉ thời đại" ấy. Âm thầm hay lớn tiếng, thiên hạ luôn luôn vặn hỏi chúng ta: các ngươi có thực sự tin điều các ngươi loan báo không? Các ngươi có sống điều các ngươi tin không? Các ngươi có rao giảng thực sự điều các ngươi sống không? Hơn bao giờ hết, làm chứng bằng đời sống đã trở thành một điều kiện thiết yếu để việc rao giảng có hiệu quả thâm sâu. Bằng ngả này, chúng ta lại chịu trách nhiệm, đến một mức độ nào đó, về bước tiến của Tin Mừng mà chúng ta công bố. Ở đầu bài suy niệm này, chúng tôi đã tự hỏi: "Mười năm sau khi Công Đồng kết thúc, Giáo hội hiện như thế nào?" Giáo hội phải chăng đã cắm neo giữa lòng thế giới và phải chăng tuy vậy vẫn khá tự do và độc lập để lên tiếng nói với thế giới? Giáo hội có chứng tỏ mình có liên đới với loài người không và có đồng thời làm chứng cho sự Tuyệt Đối của Thiên Chúa không? Giáo hội có nồng nhiệt hơn trong việc chiêm niệm và thờ phượng, mà cũng nhiệt thành hơn trong công việc truyền giùáo, bác ái, giải phóng không? Giáo hội phải chăng đang dấn thân hơn mãi vào những nỗ lực nhằm tái lập sự hiệp nhất hoàn toàn giữa các Kitô hữu, sự hiệp nhất vốn cần để việc làm chứng thêm hiệu lực "ngỏ hầu thế giới tin". Chúng ta tất cả đều có trách nhiệm về những câu trả lời mà người ta có thể đem lại cho các câu hỏi trên" (38). Công cuộc truyền giáo giả thuyết nhà truyền giáo có một lòng thương yêu ngày càng lớn hơn mãi đối với anh chị em mà mình được sai đến để nói với họ về Thiên Chúa Tình yêu, về Tin Mừng Cứu Độ. Thánh Phaolô, sứ giả Tin Mừng mẫu mực đã viết cho tín hữu Thessalônica lời sau đây là một chương trình cho tất cả chúng ta: "Chúng tôi đã thương anh em thắm thiết đến nỗi muốn giao phó cho anh em không những Tin Mừng của Thiên Chúa mà còn chính mạng sống chúng tôi nữa, bởi chưng anh em đã trở nên chí thân chí thiết với chúng tôi" (1Tx 8,2;Pl 1,8). Tình thương yêu mà thánh Phaolô biểu lộ ở đây rõ ràng là tình thương yêu của một người cha, và còn hơn nữa, của một người mẹ (1Tx 2,7-11; 1Cr 4,15; Gl 4,19). Chắc chắn, Thiên Chúa mong thấy tình thương yêu như thế ở mỗi người rao giảng Tin Mừng. Chúng ta sống trong lục địa Á Châu, một lục địa mà đại đa số là người nghèo, cho nên, ta không ngạc nhiên gì khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhấn mạnh đến việc phục vụ người nghèo qua việc đề cao mẹ Têresa Calcutta trong Tông huấn Giáo hội tại Á Châu: "Mẹ là hình ảnh của sự phục vụ mạng sống mà Giáo hội đang dâng hiến tại Á Châu, can đảm đi ngược lại nhiều quyền lực đen tối đang hoành hành trong xã hội" (39). Ngài suy nghĩ rằng trong bối cảnh của Á Châu với đông dân nghèo và bị áp bức, thì ơn gọi đặc thù của Giáo hội tai Á Châu là bày tỏ cách riêng trong việc phục vụ đầy tình yêu đối với các người nghèo và người cô thế cô thân (40). Người ta dễ tin hơn tình liên đới với kẻ nghèo, nếu chính những Kitô hữu sống đơn sơ, theo gương Đức Giêsu. Sự đơn sơ trong cách sống, đức tin sâu xa và tình yêu không giả dối đối với mọi người, nhất là người nghèo và người bị loại trừ, đó là những dấu chỉ Tin Mừng trong hành động. Tình thương yêu nơi nhà truyền giáo không chỉ được diễn tả qua hình ảnh người bạn, người cha, người mẹ mà còn qua nhiều dấu chỉ khác nữa được Đức Phaolô VI nhắc đến trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng: "Một dấu chỉ của tình thương yêu là mối quan tâm cho người khác chân lý và đưa vào sự hiệp nhất. Một dấu chỉ nữa là hy sinh trọn vẹn và dứt khoát cho việc loan báo Đức Giêsu Kitô. Chúng tôi xin kể thêm vài dấu chỉ khác của tình thương yêu kia. Trước tiên là sự tôn trọng hoàn cảnh tôn giáo và tinh thần của những con người đang được Phúc Âm hoá. Tôn trọng nhịp điệu riêng của họ, không thúc ép quá đáng. Tôn trong lương tâm và những xác tín của họ, không can thiệp thô bạo. Một dấu chỉ khác của tình thương yêu kia là biết lo tránh làm tổn thương người khác, nhất là khi họ còn yếu đức tin (1Cr 8,9-13) bằng những quả quyết có thể là sáng sủa đối với những ngưởi đã thông thạo, nhưng đối các tín hữu thì lại có thể là nguồn giao động và cớ vấp phạm, như một vết thương trong tâm hồn. Một dấu chỉ nữa của tình thương yêu là biết cố gắng truyền đạt cho các Kitô hữu, không phải những ngờ vực là những điều mập mờ phát sinh từ một sự học rộng mà không tới nơi tới chốn, nhưng là những điều chắc chắn vững vàng vì được neo vào Lời Thiên Chúa. Các tín hữu cần những điều vững chắc ấy cho đời sống Kitô giáo của họ; họ có quyền được những điều chắc chắn ấy, với tư cách là con cái Thiên Chúa phó thác mình hoàn toàn cho những đòi hỏi của tình thương yêu trong tay Ngài." Cuối cùng, như Đức Kitô, "đã yêu thương Giáo hội và hiến mình vì Giáo hội" (Ep 5,25), nhà truyền giáo phải yêu mến Giáo hội. Tình yêu của Chúa Kitô đối với Giáo hội, một tình yêu đến nỗi trao ban mạng sống, sẽ là tấm gương soi và điểm quy chiếu cho nhà truyền giáo. Đức Gioan Phaolô II nhấn mạnh rằng chỉ có một tình yêu sâu xa dành cho Giáo hội mới có thể nâng đỡ lòng nhiệt thành của nhà truyền giáo, như thánh Phaolô nói về nỗi ray rứt hàng ngày của ngài là "mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh" (2Cr 11.28) Đối với nhà truyền giáo, lòng trung thành với Chúa Kitô không thể tách rời với lòng trung thành đối với Giáo hội, bởi vì "có một mối liên hệ sâu xa giữa Đức Kitô, Giáo hội và làm việc loan báo Tin Mừng. Trong "thời của Giáo hội" này, chính Giáo hội có bổn phận Phúc Âm hoá. Bổn phận không thể hoàn tất mà không có Giáo hội, càng không thể hoàn tất nếu chống lại Giáo hội" (41). IV. NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐÍCH THỰC LÀ MỘT VỊ THÁNH Lời mời gọi truyền giáo tự bản chất phát xuất từ lời mời gọi nên thánh. Nhà truyền giáo chỉ thực sự là nhà truyền giáo khi ngài dấn thân trên con đường thánh thiện "sự thánh thiện là nền tảng cốt lõi và điều kiện không thể thay thế được để chu toàn sứ mạng cứu rỗi của Giáo hội". Ơn gọi phổ quát hướng tới việc nên thánh liên hệ mật thiết với ơn gọi phổ quát hướng tới sứ mạng truyền giáo, bởi vì mỗi người tín hữu được mời gọi nên thánh và truyền giáo. Linh đạo truyền giáo là con đường dẫn tới sự thánh thiện. Sức năng động mới hướng tới muôn dân (Ad Gentes) đòi hỏi nhà truyền giáo thánh thiện. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắc đến điều này với một, lòng xác tín: "Thật không đủ khi chúng ta chỉ nghĩ tới việc đổi mới các phương pháp mục vụ cũng như làm thế nào để tổ chức nhân sự và tài lực tốt hơn hay đào tào nền tảng Kinh thánh và thần học của đức tin. Phải gợi lên một sức năng động mới về sự thánh thiện nơi các nhà truyền giáo và trong từng cộng đoàn Kitô hữu đặc biệt nơi những người cộng tác gần gũi nhất của các nhà truyền giáo. Chúng ta hãy nhớ lại sức năng động truyền giáo nơi các cộng đoàn tín hữu sơ khai. Mặc dù lúc bấy giờ còn thiếu phương tiện vận chuyển và truyền thông, nhưng việc loan báo Tin Mừng đã sớm đi đến mọi miền thế giới. Và cho dù đó là một tôn giáo của một Người đã chết trên thập giá, "một cớ vấp phạm đối với người Do Thái và sự điên rồ đối với dân ngoại" (1Cr 1,23). Tự nền tảng của sức năng động truyền giáo này, ta thấy có sự thánh thiện của các cá nhân và của các cộng đoàn tín hữu sơ khai" (42). Trong mọi trường hợp, rõ ràng là không có sự rao giảng Tin Mừng đích thực, nếu người Kitô hữu không sống chứng tá phù hợp với sứ vụ rao giảng: "Hình thức chứng tá thứ nhất là chính đời sống của vị thừa sai, của gia đình Kitô hữu và của cộng đồng Giáo hội, một cộng đồng bày tỏ một nếp sống mới... Mỗi người trong Giáo hội, khi cố gắng bắt chước Vị Thầy Thần Linh, thì có thể và làm chứng theo kiểu này; trong nhiều trường hợp, đó là phương cách duy nhất có thể được, để trở thành nhà truyền giáo" (43). Nhà truyền giáo phải là một nhà "chiêm niệm trong hành động". Khi tiếp xúc với các vị đại diện cùa các truyền thống thiêng liêng ngoài Kitô giáo, nhất là của Á Châu, Đức Thánh Cha xác tín rằng tương lai của việc truyền giáo tuỳ thuộc phần lớn vào sự thánh thiện. Nhà truyền giáo, nếu không phải là nhà chiêm niệm thì không thể loan báo Chúa Kitô một cách khả tín được. Điều này chắc chắn đúng trong bối cảnh Âu Châu, nơi mà dân chúng được thuyết phục do đời sống thánh thiện hơn là do luận chứng tri thức (44). Như thế, để là chứng nhân cho kinh nghiệm về Thiên Chúa, nhà truyền giáo phải có kinh nghiệm về Thiên Chúa, "Điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng... về Lời Hằng Sống... chúng tôi đã loan báo" (1Ga 1,1-3) Đức Thánh Cha chia sẻ với các giáo hội tại Á Châu rằng trong bối cảnh của Á Châu, quê hương của các tôn giáo lớn, nơi mà các cá nhân cũng như toàn dân khao khát cái thiêng thánh,Giáo hội được kêu gọi trở nên một Giáo hội cầu nguyện. Tất cả các Kitô hữu cần một tu đức truyền giáo thực sự gồm có cầu nguyện và chiêm niệm (45). Đức Thánh Cha còn ghi nhận rằng các Giáo Phụ Thượng Hội Đồng Giám Mục Á Châu đã nhấn mạnh nhiều đến chổ đứng của chiêm niệm trong công cuộc truyền giáo: "Việc công bình, bác ái và thương xót phải gắn bó mật thiết với đời sống chiêm niệm và cầu nguyên đích thực, và thực vậy, chính cũng một tu đức này là nguồn suối của mọi công trình rao giảng Tin Mừng của chúng ta" (46). Sự thánh thiện nơi bản thân nhà truyền giáo được nhìn thấy trong trong nếp sống của Tám Mối Phúc. Nhà truyền giáo là con người của Tám Mối Phúc. Trước khi sai các tông đồ đi rao giảng, Đức Giêsu đã huấn luyện nhóm Mười Hai bằng cách cho họ thấy những con đường của truyền giáo: khó nghèo, hiền lành, chấp nhận đau khổ và những bách hại, khao khát sự công chính và hoà bình, bác ái, hay nói khác đi là con đường Tám Mối Phúc (Mt 5,1-12). Trong khi sống Tám Mối Phúc, nhà truyền giáo có kinh nghiệm và cho thấy một cách cụ thể rằng Nước Thiên Chúa đã đến và chính bản thân Ngài đã đón nhận nước ấy. Sự thánh thiện không chỉ là lòi mời gọi của Chúa, nhưng nơi bản thân của nhà truyền giáo, nó còn là sự chờ đợi của thế giới hôm nay, như Đức Phaolô VI nhận định: "Thế giới tuy có vô vàn dấu hiệu từ khước Thiên Chúa, nhưng một cách nghịch thường vẫn tìm kiếm Ngài bằng những đường nẻo bất ngờ và vẫn xót xa cảm thấy cần đến Ngài, thế giới ấy cần có những sứ giả Tin Mừng nói về một Thiên Chúa mà họ biết và gần gũi như thể họ đã từng thấy Đấng không thể thấy (Dt 11,27). Thế giới đòi hỏi và chờ đợi ở chúng ta đời sống giản dị, tinh thần cầu nguyện, lòng yêu thương đối với mọi người nhất là đối với những kẻ bé mọn và nghèo khó, đức vâng phục và khiêm tốn, sự siêu thoát và từ bỏ chính mình và mọi sự. Không có dấu hiệu về sự thánh thiện như thế, lời chúng ta nói sẽ khó đi vào lòng của con người thời nay. Nó có thể thành vô ích và vô hiệu" (47). Một trong những nét đặc sắc của cuộc đời nhà truyền giáo là niềm vui nội tâm phát xuất từ đức tin. Trong một thế giới đầy lo âu và bị áp bức của trăm ngàn vấn đề, một thế giới dễ làm cho con người bi quan, thì người loan báo Tin Mừng phải là người tìm thấy nơi Đức Kitô nguồn hy vọng đích thực. Đức Phaolô VI nhận xét rằng công cuộc truyền giáo trong thời đại chúng ta gặp nhiều trở ngại bởi vì sự thiếu nhiệt tình và niềm vui nơi bản thân người tín hữu. Nó càng trầm trọng bởi lẽ nó phát xuất từ bên trong; nó biểu lộ trong sự mệt mỏi và chán nản sự làm lấy lệ và hững hờ. Đức Thánh Cha khuyến khích tất cả những người có trách nhiệm Phúc Âm hoá với tư cách nào và ở bậc cấp nào cũng vậy, hãy nuôi dưỡng nhiệt tình cho tâm thần mình (Rm 12,11). "Chúng ta hãy giữ cho tinh thần được nhiệt thành, chúng ta hãy giữ niền vui dịu dàng và khích lệ trong công việc Phúc Âm hoá, ngay cả khi phải gieo trong nước mắt. Ước gì đó là một nhiệt tình mà không ai và không gì có thể dập tắt được nơi chúng ta, cũng như nơi thánh Gioan Tẩy giả, nơi thánh Phêrô và thánh Phaolô, nơi các thánh Tông đồ khác, nơi vô vàn Sứ Giả Tin Mừng đáng khâm phục trong suốt lịch sử Giáo hội. Ước gì đó là niềm vui lớn lao cho những cuộc đời của chúng ta đã được hiến dâng. Và ước gì thế giới thời đại của chúng ta, đang tìm kiếm, khi thì trong lo âu, khi thì trong hy vọng, có thể nhận được Tin Mừng, không phải từ những sứ giả Tin Mừng buồn rầu và chán nản, nôn nóng hay bứt rứt, nhưng là từ những thừa tác viên của Tin Mừng có đời sống toả ấm nhiệt tình, đã nhận sẵn niềm vui của Đức Kitô trong bản thân mình và chấp nhận đánh đổi mạng sống mình lấy việc Triều Đại được loan báo và Giáo hội được đưa vào giữa lòng thế giới". V. XÂY DỰNG HIỆP NHẤT Đây là mối ưu tư đặc biệt của Đức Gioan Phaolô VI, vị giáo hoàng của đại kết và đối thoại. Mối ưu tư này được nói lên một cách mạnh mẽ trong Tông Huấn Loan báo Tin Mừng: "Sức mạnh của việc Phúc Âm hoá sẽ bớt đi nhiều nếu những người loan báo Tin Mừng lại chia rẽ nhau bằng đủ thứ gãy vỡ. Phải chăng đó là một trong số những vướng víu lớn nhất cho việc Phúc Âm hoá ngày nay? Thật vậy, nếu Tin Mừng mà chúng ta công bố lại cho thấy bị xâu xé bởi những cãi cọ về giáo thuyết, những phân cực ý thức hệ hay những kết án lẫn nhau giữa các Kitô hữu, tuỳ theo những cách họ nhìn khác nhau về Đức Kitô và về Giáo hội, và ngay cả về những cách họ quan niệïm khác nhau về xã hội và các thể chế phân loại, thì làm sao những người được chúng ta rao giảng lại khỏi bị giao động, lạc hướng nếu không nói là bị vấp phạm? Di chúc thiêng liêng của Chúa nói với chúng ta rằng sự hiệp nhất giữa các môn đồ của Người không phải chỉ là bằng chứng chúng ta thuộc về Người mà còn là bằng chứng Người do Chúa Cha sai đến, là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Kitô hữu và của chính Đức Kitô. Là những sứ giả Tin Mừng, chúng ta cần hiến cho các tín hữu của Đức Kitô, không phải hình ảnh những con người chia lìa nhau vì những tranh chấp không chút xây dựng nhưng là hình ảnh những con người chính chắn trong đức tin, có khả năng gặp gỡ nhau bên trên những căng thẳng thực tế, nhờ việc cùng nhau tìm kiếm chân lý một cách chân thành và vô vị lợi. Phải, số phận công cuộc Phúc Âm hoá chắc chắn được gắn liền với việc Giáo Hội làm chứng cho sự hiệp nhất. Đó là một nguồn trách nhiệm mà cũng là một nguồn khích lệ". Như vậy nhà truyền giáo là sứ giả của hoà bình và người thợ xây dựng sự hiệp nhất và đối thoại. VI. NƠI TRƯỜNG HỌC CỦA ĐỨC MARIA, NHÀ TRUYỀN GIÁO ĐẦU TIÊN Trong thông điệp đầu tiên Redempto Hominis (Đấng cứu Chuộc con người), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết rằng chỉ trong một bầu khí cầu nguyện sốt sắng mới có thể "đón nhận Chúa Thánh Thần ngự xuống trên chúng ta và nhờ đó trở nên những nhân chứng của Đức Kitô cho đến tận cùng trái đất, giống như những người ra khỏi phòng tiệc ly tại Giêrusalem vào ngày lễ Ngũ Tuần". Tháng Mười năm ngoái, khi bước vào năm thứ 25 sứ vụ giáo hoàng, với Tông Thư Rosarium Virginis Mariae (Kinh Mân Côi của Trinh Nữ Maria), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã công bố một năm đặc biệt, gần như một sự tiếp nối lý tưởng của Năm Thánh, dành cho việc tái khám phá Kinh Mân Côi, là kinh nguyện rất thân thiết với truyền thống Kitô giáo; một năm cần được sống dưới cái nhìn của Đấng, theo kế hoạch nhiệm mầu của Thiên Chúa, như lời "Xin Vâng", đã làm cho việc cứu độ loài người có thể được thực hiện. Đồng thời Ngài đặt Đức Trinh Nữ rất thánh làm thầy dạy các tín hữu trong việc chiêm ngắm khuôn mặt Chúa Kitô để từ đó ra đi truyền giáo trên đại dương bao la của thế giới. Đức Thánh Cha ước mong rằng Năm Mân Côi sẽ tạo nên một cơ hội thuận lợi để các tín hữu trên mọi lực địa đào sâu ý nghĩa của ơn gọi Kitô hữu. Dưới mái trường của Đức Trinh Nữ và noi gương Ngài, mỗi cộng đoàn sẽ có thể làm nổi bật hơn chiều kích "chiên niệm" và "truyền giáo" của mình. "Kinh Mân Côi cũng là một con đường loan báo và hiểu biết ngày một hơn, trong đó mầu nhiệm của Đức Kitô được trình bày đi, trình bày lại ở nhiều mức độ khác nhau của kinh nghiệm Kitô giáo. Đó là một trình bày mang tính cầu nguyện và chiêm ngưỡng, có khả năng đào tạo người Kitô hữu theo trái tim của Đức Kitô... Kinh Mân Côi vẫn giữ được sức mạnh của nó và tiếp tục là một tài nguyên mục vụ có giá trị tốt đẹp cho mọi người loan báo Tin Mừng" (48). Đức Thánh Cha chia sẻ với Giáo hội rằng sự tin tưởng chạy đến cùng Đức Maria, qua việc đọc Kinh Mân Côi hằng ngày và việc suy niệm các mầu nhiệm đời sống Chúa Kitô, sẽ nhấn mạnh rằng sứ mạng truyền giáo của Giáo hội trước hết phải được nâng đỡ bằng việc cầu nguyện. Thái độ "lắng nghe" mà Kinh Mân Côi gợi lên, đem người tín hữu lại gần Đức Maria, Đấng "hằng ghi nhớ mọi điều ấy và suy đi nghĩ lại trong lòng" (Lc 2,19). Việc siêng năng suy niệm Lời Chúa luyện tập cho chúng ta sống hiệp thông sống động với Đức Giêsu. Dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Đức Maria giúp chúng ta đạt được "sự dạn dĩ thanh thản" làm cho chúng ta có khả năng thông truyền cho người khác kinh nghiệm về Đức Giêsu. Dưới mái trường của Đức Maria, Giáo hội chiêm ngưỡng dung nhan đầy lòng thương xót của Đức Giêsu nơi những người anh chị em, đặc biệt nơi những người nghèo khó và thiếu thốn. Với sự ân cần từ mẫu mà Mẹ đã tỏ ra ở tiệc cưới Cana (Ga 2,1- 5), Đức Maria dạy nhà truyền giáo biết sống tế nhị, yêu thương và quan tâm đến những vấn đề của con người. Hình ảnh Đức Maria, nhà truyền giáo đầu tiên đã để cho Thánh Thần thúc đẩy mà vội vã tiến bước (Lc 1,39-56) đem Chúa Giêsu trong cung lòng mình đến cho bà Elizabeth mời gọi các sứ giả Tin Mừng không được để cho nhiệt tình tông đồ suy giảm đi, đặt biệt trong sứ vụ truyền giáo "đến với muôn dân" (Ad Gentes). Vào buổi sáng ngày Hiện Xuống, ai cũng biết là Mẹ Maria đã có mặt với các tông đồ, hiệp nhất "cùng một lòng trong lời cầu nguyện" (Cv 1,14) trong cộng đoàn tiên khởi được quy tụ sau khi Chúa lên trời, trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần hiện xuống. Đức Maria đã tham dự vào buổi khởi đầu công cuộc Phúc Âm hoá dưới tác động của Chúa Thánh Thần: ước gì Ngài là ngôi Sao Sáng của công cuộc Phúc Âm hoá luôn được làm mới lại mãi mà Giáo hội, thừa lệnh Chúa, phải xúc tiến và thực hiện, nhất là vào thời buổi vừa khó khăn vừa đầy hy vọng này. VII. KẾT LUẬN Chúng ta vừa làm công việc tổng hợp một linh đạo truyền giáo được nói đến trong một số văn kiện của các Đức Giáo Hoàng. Chúng ta hy vọng rằng linh đạo truyền giáo sẽ làm cho lòng chúng ta bừng cháy lên nhiệt tình loan báo Tin Mừng. Truyền giáo khởi sự bằng cuộc sống và con tim cuộc sống và con tim đòi hỏi các môn đệ Chúa Kitô sống có tấm lòng. Tấm lòng với mọi người và với Giáo hội, một tấm lòng "dễ dạy" đối với Chúa Thánh Thần, một tấm lòng mới như của Đức Maria. Lm. Ant. Nguyễn Đức Khiết Đức Thánh Cha công bố kết quả thăm dò quan tài của Thánh Phaolô WHĐ (29.06.2009) / ZENIT.org - Một cuộc thăm dò đã được thực hiện bên trong quan tài của Thánh Phaolô - tại Đền thánh Phaolô ngoại thành, và Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI thông báo: các kết quả đã xác nhận truyền thống từ nhiều thế kỷ qua. ĐTC đã kết luận như trên vào buổi chiều nay, tại Vương cung thánh đường Thánh Phaolô ngoại thành, Năm Thánh Phaolô, trong giờ kinh chiều I trọng thể lễ kính hai thánh Phêrô và Phaolô, quan thày của Giáo hội Roma. Một năm đánh dấu kỷ niệm lần thứ hai ngàn ngày sinh của vị Tông đồ dân ngoại. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã xác định điều đã được dư luận nói đến từ tháng 5 năm 2007: một cuộc thăm dò đã được thực hiện bên trong quan tài bằng đá nằm dưới bàn thờ và tán che bàn thờ. ĐTC nói: "Chiều nay đã kết thúc Năm kính nhớ Thánh Phaolô. Chúng ta tập hợp bên ngôi mộ của Thánh Tông đồ mà chiếc quan tài của ngài, được gìn giữ dưới bàn thờ của giáo hoàng, mới đây đã trải qua một cuộc phân tích khoa học nghiêm túc" ĐTC mô tả cuộc thăm dò và kết quả như sau: "Người ta đã khoan một lỗ thủng rất nhỏ để đưa một dụng cụ thăm dò đặc biệt vào bên trong chiếc quan tài, vốn không hề được mở từ bao nhiêu thế kỷ qua. Nhờ dụng cụ thăm dò này, người ta đã lấy được những dấu vết của một loại vải quý bằng lanh đỏ thắm, dát vàng mịn và của một loại vải màu xanh với sợi lanh". Chưa hết. ĐGH còn cho biết thêm là người ta còn thấy có "những hạt hương đỏ", "chất prôtêin và chất vôi" và "những mảnh xương". Người ta đã lấy ra một phần để "cho các nhà chuyên môn" thử theo phương pháp carbon 14. "Các nhà chuyên môn này không được cho biết trước xuất xứ các mẫu vật được đưa tới cho họ phân tích". Và họ đã kết luận đây là những mảnh xương của "một người đã sống vào giữa thế kỷ thứ nhất và thứ hai". Đối với ĐTC, "điều này xem ra xác nhận truyền thống thống nhất và không tranh cãi rằng đây là thánh tích của tông đồ Phaolô". ĐTC thổ lộ: "Tất cả sự kiện này làm tôi cảm động hết sức. Trong nhiều tháng qua, nhiều người đã dõi theo các con đường - bên ngoài và cả nội tâm - mà vị Tông đồ đã trải qua trong cuộc đời của ngài: con đường Đamas, với cuộc gặp gỡ Đấng Phục sinh, những con đường ngang qua thế giới Địa trung hải ngài đã vượt qua với ngọn đuốc của Tin Mừng, được ủng hộ hay bị chống đối, cho tới cuộc tử đạo, qua đó ngài vĩnh viễn thuộc về Giáo hội Roma" Nên nhắc lại rằng người ta đã đào tới quan tài bằng đá vào tháng 12 năm 2006, sau một đợt khai quật khảo cổ học kéo dài bốn năm, với các nhà khảo cổ học của Vatican dưới sự điều khiển của Giorgio Filippi. Cuộc khai quật đã để lộ hàng chữ bằng tiếng Latinh: "Tông đồ Phaolô tử đạo" ("Paulo Apostolo Mart"). Nhưng quan tài bằng đá dầy khoảng 25cm đã không được mở ra. Đức Hồng y Andrea Cordero Lanza di Montezemolo, Tổng linh mục Vương cung thánh đường giáo hoàng, hôm thứ sáu vừa qua, đã cho thấy là các công cuộc khai quật đòi hỏi phải di dời bàn thờ và tán che, và do đó đã không thể tiếp tục trong Năm Thánh Phaolô. "Chúng tôi đã chụp X quang, nhưng thành của quan tài bằng đá quá dày, không thể thấy được chút gì bên trong", linh mục nhấn mạnh trong buổi họp báo tổng kết năm thánh Phaolô và dành cho ĐTC việc công bố kết quả chính xác của các cuộc thăm dò được thực hiện vào tháng 5 năm 2007. Tấm đá cẩm thạch mang tên vị tông đồ được khoan thủng ba lỗ để lấy ra khăn hay đồ vải thánh Phaolô thường dùng khi ngài còn sống như sách Công vụ tông đồ mô tả: "Thiên Chúa đã dùng tay Phaolô làm những việc quyền phép phi thường, đến nỗi người ta lấy cả khăn cả áo đã đụng đến da thịt ông mà đặt trên những kẻ ốm đau, và bệnh tình họ đã biến, thần dữ phải xuất ra" (Cv 19, 11-12). PV (Theo Zenit) TÀI LIỆU HỌC HỎI VỀ NĂM THÁNH PHAOLÔ Lời dẫn nhập Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đề nghị Hội thánh Công giáo từ ngày 28.6.2008 cho đến ngày 29.6.2009 là NĂM THÁNH PHAOLÔ để kỷ niệm 2000 năm thánh nhân được sinh ra. Với đề nghị như thế, các HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC toàn thế giới đều hưởng ứng để học hỏi VỊ THÁNH TÔNG ĐỒ DÂN NGOẠI, nhất là tư tưởng của Ngài qua các lá thư. Hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Giáo Hoàng, HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC ĐỨC đã ra một website cho năm Thánh Phaolô; thêm nữa địa phận MŨNSTER có bổn mạng là thánh Phaolô, nên cũng có một website riêng cho địa phận. HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC PHÁP cũng đưa ra một website giúp Giáo hội Pháp học hỏi về thánh nhân. Chúng ta có những mạng đó như sau: www.dbk-paulusjahr.de - www.anneesaintpaul.fr Chúng tôi thấy HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC ĐỨC có đưa ra những bài học rất bài bản, vì thế xin dịch ra để mọi người có thể học hỏi thêm. “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9,19) A. CUỘC ĐỜI CỦA THÁNH PHAOLÔ Trong các lá thư, thánh Phaolô đã không đưa ra những niên biểu ngày tháng cho biết cuộc đời của mình. Cái nhìn của ngài là công tác chứ không phải tiểu sử; vì thế trong các lá thư của ngài chỉ thấy ghi những khoảng cách thời biểu giữa những sự kiện quan trọng. Một thời biểu duy nhất cho tiểu sử thánh Phaolô là nêu danh vị Tổng trấn JUNIUS GALLIO (Cv 18,12), người anh em của triết gia SENECA, nhờ một bia đá tìm được ở DELPHI ghi thời gian ông ta trấn nhậm ở Achaia, tức là vào mùa xuân năm 51-52 Tất cả những niên biểu khác nằm trong sách Công Vụ Tông đồ hay trong các lá thư đều chỉ là suy đoán và cũng khó xác định theo lịch sử; vì thế các niên biểu cứ phải tranh luận trên hai ngàn năm nay và cũng chưa đưa ra kết luận chính xác. VÀI NIÊN BIỂU VỀ THÁNH TÔNG ĐỒ PHAOLÔ - ? sinh tại TARSUS Viết thư Rôma Từ Korintho về Giêrusalem để đem tiền quyên góp B. CÁC THƯ CỦA THÁNH PHAOLÔ “Anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta tỏ lòng kiên nhẫn chính là để anh em được cứu độ, như ông Phaolô, người anh em thân mến của chúng ta, đã viết cho anh em, theo ơn khôn ngoan Thiên Chúa đã ban cho ông. Ông cũng nói như vậy trong tất cả các thư của ông, khi bàn đến các vấn đề này. Trong các thư ấy, có những chỗ khó hiểu; những chỗ ấy cũng như những chỗ khác trong Kinh Thánh, bị những kẻ vô học và nông nổi xuyên tạc, khiến chúng phải chuốc lấy họa diệt vong” (2 pr 3,15-16). Thánh Phaolô là người viết rất là nhiều thư, Ngài gửi nhiều thư cho các giáo đoàn quan trọng trong thời đầu Kitô giáo. Ngài nổi tiếng ngay lúc còn sống. Ngài trích lấy ý kiến rất phổ biến trong các giáo đoàn tiên khởi: “Có kẻ nói rằng: “Trong thư thì nghiêm khắc và hùng hổ” (2 Cr 10,10). Các thư của thánh Phaolô rất sống động; có một giọng điệu không thể lẫn lộn được và có một hình thức đặc thù mà nhiều người sau này bắt chước. Trong các lá thư, vị Tông đồ rao giảng đức tin; ngài lý luận và tranh luận; ngài cầu nguyện và van xin, khuyến khích và cảnh cáo; ngài đưa kinh nghiệm của chính mình ra là mẫu gương và giúp các các tín hữu uốn nắn theo kết luận của ngài. Cho đến hôm nay, các thư của thánh Tông đồ được đọc trong các phụng vụ như “Lời của Thiên Chúa hằng sống”. Trong trình tự các bài đọc của Giáo hội Công giáo có tất cả các thư của thánh Phaolô. Các thư của thánh Phaolô là một phần quan trọng của Thánh Kinh Công giáo. Mười ba trên hai mươi bảy tác phẩm trong Tân Ước mang tên của thánh Phaolô. Trong các thủ bản viết tay và trong các sách Thánh Kinh, các thư của ngài luôn nổi bật. Đối với một ít người bên ngoài, các lá thư này bị tranh luận. Một số người cho thánh Phaolô quá ư Do Thái; một số khác lại cho rằng Ngài quá cởi mở với người ngoại giáo. Nhưng phần đông Kitô hữu mọi thế hệ vẫn cho thánh Phaolô nổi bật, không cần phải đặt vấn đề gì cả. Các thư của thánh Phaolô là các tế bào gốc và tạo nền tảng vững chắc cho Tân Ước. Sách Công Vụ Tông đồ diễn tả thánh Phaolô là nhà truyền giáo được đầy ân sủng, đã mang Tin Mừng đến cả Âu Châu. Các lá thư minh chứng ngài là một nhà thần học đại tài, như một người chăn dắt linh hồn rất nhạy cảm, là ngôn sứ phê phán và là người chiến đấu kiên cường cho chân lý Tin Mừng và tự do của đức tin. Vào thời của vị thánh Tông đồ, thư từ là phương tiện truyền thông tân tiến nhất. Thánh Phaolô sử dụng với mục đích giữ liên lạc với các cộng đoàn do ngài thành lập và tạo những liên hệ mới. Ngài viết các lá thư để giải quyết những vấn đề trong cộng đoàn và động viên các tín hữu luôn theo con đường đức tin. Ngài thường tự mình giải quyết mọi vấn đề. Nhưng đôi khi bàn tay ngài bị trói buộc: có thể do quá nhiều việc phải làm; đôi khi vì niềm tin phải ngồi tù; cũng có khi đường xá xa xôi ngài không thể đến thăm. Thánh Phaolô thường tự mình đọc và viết. Ngài đã lợi dụng sự liên hệ rộng lớn. Trước khi trở lại, ngài là một người Pharisêu ham học hỏi (Pl 3,5). Các lá thư cho thấy ngài có một tầm hiểu biết Thánh Kinh của Israel thật rộng rãi. Thường ngài đọc cho người ta viết một lá thư. Điều này là chuyện thông thường trong thời Cổ đại. Có một trường hợp, chúng ta biết được tên người thư ký: vào cuối lá thư Rôma, Tertius là người thư ký, đã chào hỏi mọi người (Rm 16,22). Trong một trường hợp khác, chúng ta đọc được: “ Anh em thấy những chữ to này: chính tay tôi viết cho anh em đó” (Gl 6,11: so với 1Cr16,21;Plm 19). Có thể thánh Phaolô đã phát thảo, trước khi lá thư được viết ra. Nhiều đoạn thư, người ta nhận ra thư được viết do thánh nhân đang đọc. Đôi khi, người ta thấy được thánh nhân đang suy nghĩ. Vài đoạn, có những câu không trọn vẹn; nhiều nơi khác, có những tư tưởng nhảy vọt. Sự sống động của các thư thánh Phaolô không phải vì thế mà bị đứt quãng. Các thư của thánh Phaolô được gửi đến những người ngài tin tưởng. Các môn đệ của ngài là Timotheus (1Cr 4,17) và Titus (2Cr 8,16-24) đã đón nhận những trách nhiệm. Trong trường hợp thư Rôma, hình như Phoebe, nữ phó tế của một thành phố cảng ở Korinth, đã cầm lá thư vào thủ đô Korinth và đã đọc lá thư tại đó (Rm 16,1). Không phải tất cả thành phần trong cộng đoàn đều được nghe các thư của thánh Phaolô; vì thế thánh nhân khuyến cáo những người có trách nhiệm trước cộng đoàn: “Nhân danh Chúa, tôi yêu cầu đọc thư này cho tất cả các an hem” (1Tx 5,27). Các thư của thánh Phaolô là những trung gian quan trọng của đức tin. Chúng mở rộng, mời gọi thảo luận, suy niệm và suy tư. Trong các cộng đoàn, các lá thư này rất được tôn trọng. Các cộng đoàn đều trao đổi các thư từ này cho nhau. Trong thư gởi giáo đoàn Kolosser đã ghi: “sau khi đọc thư này, xin liệu sao cho Hội thánh Laodikia cũng được đọc nữa. Xin anh em cũng đọc thư của tôi gửi cho Hội thánh Laodikia” (Cl 4,16). Các thư của thánh Phaolô đầy ấn tượng. Thư thứ hai thánh Phêrô đã ghi nhận rõ ràng: “Trong các thư ấy, có những chỗ khó hiểu” (2Pr 3,16). Nếu các thư này không gây ấn tượng, sẽ không có gì để nói. Các thư này là chứng cứ đầu tiên của đức tin, những nguồn quan trọng cho lịch sử Kitô giáo và lương thực tinh thần cho những ai muốn lắng nghe Lời Chúa trong lời của Thánh Kinh. Chuyển ngữ Linh mục Aug.Nguyễn Văn Trinh Tài Liệu Học Hỏi về Thánh Phaolô Của Hội Đồng Giám Mục Đức LÁ THƯ THỨ NHẤT GỞI GIÁO ĐOÀN CORINTHÔ Lá thư thứ nhất là bản văn trả lời mục vụ với những suy tư thần học sâu xa. Đó là dấu chứng của thần học về thập giá và phục sinh. Việc phân chia lá thư thứ nhất Corinthô không được rõ ràng, cho thấy thánh nhân đi vào từng điểm mà cộng đoàn Korinth nêu lên cho ngài: 1,1-3 Lời mở đầu Thánh Phaolô đã thiết lập cộng đoàn này trong cảng Achia trong lần truyền giáo thứ hai của ngài, khoảng năm 50 (khi ngài viết lá thư thứ nhất Thêssalonika).Phần đông cộng đoàn gồm các Kitô hữu gốc ngoại giáo, phát triển rất mạnh; nhờ đó đã có thêm một nhóm nhỏ Kenchreae nằm phía trước cảng (Rm 16,1-11). Thánh Phaolô nghe được tin tức của giáo đoàn do hai hướng: qua những người Chloê đến tường trình (1 Cr 1,11;so 5,1;11,18; cả 15,12) và qua một thư từ với những vấn nạn và đề tài mà những người Corinthô viết cho ngài (1 Cr 7; so 8,1; 12,1;16,1.12). Hoàn cảnh của cộng đoàn bị xáo trộn vì những đối kháng về mặt thần học, đưa đến những vấn đề thực hành. Trong thành Korinth nổi cộm lên một nhóm nhỏ kitô hữu, nhưng có lẽ nhóm có ảnh hưởng lớn vì được những đặc sủng (1 Cr 12) nghĩ rằng mình có thể thấu hiểu những mầu nhiệm của sự kiện Đức Kitô (x.1Cr 2,6-16) như thế là đã được tràn đầy ơn cứu độ (x. 1Cr 4,7-13). Vì thế họ cho rằng họ là những người được đầy tràn Thánh Thần (x.1Cr 2,13.15; 3,1; 12,1; 14,23) “những người khôn ngoan” (1Cr 1,20.29; 3,18-19) “những người mạnh mẽ” (1Cr 4,10; so 10,22 và 8,1.9; 10,23) và là những người “ toàn thiện” (1Cr 2,6; so 4,8) vì thế phải tách biệt với “ những người chưa trưởng thành (x. 1Cr 3,1), “những người thuộc thể xác” (1Cr 3,1) và “ những người yếu đuối” (1Cr 4,10; 8,7tt). Đoạn 1Cr 13,1-3 phản ánh hoàn cảnh này. Những dấu chứng đặc biệt của nhóm nhiệt thành (Enthusiasmus) này như sau: Có nhiều yếu tố đưa đến sự phát triển này: một mặt là những căng thẳng xã hội (1Cr 1,26tt), mặt khác là những tư tưởng của thánh Phaolô, thêm vào đó là ảnh hưởng của các tôn giáo huyền bí (Mysterien) và đặc thù là sự khôn ngoan của Do Thái giáo. Thánh Phaolô viết thư này từ Ephesus (1Cr 16,8), báo trước ngài sẽ đến thăm viếng ( đó là cuộc truyền giáo lần III theo Cv 18,23-21,17). Tại Ephesus, ngài chưa bị bắt cầm tù. Tại đây ngài nhận được những tin tức từ Korinth. Có lẽ đó là năm 55; chính thánh Phaolô nói về ngày lễ Ngũ Tuần sắp đến (1Cr 16,8). LÁ THƯ CÓ NHỮNG ĐƯỜNG HƯỚNG THẦN HỌC NỀN TẢNG NHƯ SAU: Thánh Phaolô trình bày Tin Mừng là “Lời của thập giá”(1Cr 1,18) Thập giá cho chúng ta thấy sự khó hiểu và ô nhục của cái chết Đức Giêsu (1Cr 1,23). Như thế, thánh Phaolô nhắc đến kết luận của người Do Thái cũng như của người Hy Lạp về án phạt thập giá: án phạt này là án tử hình ô nhục và kinh khủng nhất (x.Đnl 21,23;11 QTR 64; Cicero, Pro Rabirio 5,16). Ngược lại, chính thập giá lại là cách biểu lộ mang tính cách chung của sự “ khôn ngoan” và của ý muốn cứu độ của Thiên Chúa vào thời sau hết (1Cr 1,18-25). • Cái chết thập giá cho thấy tính chất xác quyết “hiện hữu vì kẻ khác – Proexistenz” (1Cr 1,13) và qui về Thiên Chúa (Theozentrilk – 1Cr 3,23) của Đức Giêsu. THẦN HỌC THẬP GIÁ ĐƯA ĐẾN NHỮNG HỆ LUẬN THUỘC NHÂN BẢN NHƯ SAU: • Niềm tin sẽ giúp con người không còn tự khoe khoang trước mặt Thiên Chúa và thay vào đó chỉ biết tìm ơn cứu độ trong ân sủng của Ngài (1Cr 1,29tt; so 1,21; 2,5; 2,9) Thần học về Thánh Thần xuất phát từ thần học thập giá Thánh Phaolô đón nhận một động lực cơ bản đang thúc đẩy người Corinthô, hướng động lực này vào chiều kích Thánh Thần học theo Thánh Kinh và chuyển vào thần học thập giá: Đấng bị đóng đinh đã được chỗi dậy là nền tảng cho mọi hy vọng, chỉ vì Người là “ Trưởng tử”, là “khởi điểm”, là nền tảng cho việc người chết sống lại vào cuối thời gian mà mọi ngừơi đang trông ngóng. Thánh Thần chính là sức lực sáng tạo của Thiên Chúa, sức lực này không những Thiên Chúa sử dụng trong sáng tạo, nhưng cả trong việc cứu độ loài người. Vì sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa tập trung vào con người Đức Giêsu, nên thánh Phaolô có thể viết: “Adam cuối cùng là thần khí ban sự sống” (1Cr 15,45). Những hệ luận thuộc nhân bản xuất phát từ thần học Thánh Thần: Niềm tin do Thiên Chúa linh hứng, giúp con người có thể hiểu lời thập giá là Tin Mừng – với tất cả mọi hệ luận (1 Cr 2,6-16); và tình yêu nhờ sức mạnh của Thánh Thần trong Đức Kitô, có thể tiếp tục đem lại tất cả những gì tình yêu cảm nghiệm về Thiên Chúa như là Tình yêu qua Đức Giêsu. Thánh Phaolô nêu lên một thứ luân lý tình yêu Thánh Phaolô nói với nhóm người “yếu đuối” (1Cr 8-10) – dù nhóm “mạnh mẽ” đứng về mặt thần học có lý. Thánh Phaolô lập luận đạo đức tình dục bằng thần học sáng tạo theo Cựu Ước (1Cr 5-6); lập luận về luân lý hôn nhân (1Cr 7) và trong tranh luận về Tiệc của Chúa (1 Cr 11) dựa theo tinh thần Đức Kitô, trong thần học về đặc sủng cho một Giáo hội học trong sự chia sẻ và liên kết (1Cr 12.14), đỉnh cao là “Bài ca tình yêu” trong 1Cr 13. Tình yêu mà thánh Phaolô nói tới, là tình yêu của Thiên Chúa, biểu lộ trong việc sai Đức Giêsu và qua Đức Giêsu. LÁ THƯ THỨ HAI GỞI GIÁO ĐOÀN CORINTHÔ Người ta tranh luận về sự thống nhất trong lá thư thứ hai gởi giáo đoàn Corinthô. Thư cho thấy những sự đứt đoạn rõ ràng giữa các đoạn 2Cr 2,13 và 2,14 cũng như 2Cr 7,4 và 7,5. Thư cho thấy trong đoạn 2Cr 2,4 và 7,8 nói về một lá thư trước đó, mà không thể là lá thư thứ nhất được. Các nhà Thánh Kinh cho rằng hoặc do biên soạn những lá thư hoàn toàn độc lập hay do lịch sử xuất phát rất lộn xộn. Lá thư trong Kinh Bộ được chia như sau: Vì không thấy sự thống nhất của lá thư, nên người ta chia phần ra như sau: - Biên hộ (2Cr 2,14-7,4) Như lá thư thứ nhất gửi giáo đoàn Corinthô, thánh Phaolô cũng gửi lá thư đến giáo đoàn này. Đương nhiên các vấn đề tại giáo đoàn này cũng không được giải quyết rốt ráo; đặc biệt là sứ vụ tông đồ (so 1, Cr9) vẫn còn tranh luận; có lẽ những người Corinthô cũng cảm thấy bị bỏ rơi. Thánh Phaolô gặp thấy những lệch lạc, nhất là khi đi truyền giáo, mà thánh nhân đã giải thích; thánh Phaolô viết thư vì hoàn cảnh có những sự xung khắc, đụng chạm đến sứ vụ của ngài. Vì không nhìn thấy sự hợp nhất, nên thánh Phaolô: • Đã viết một bài “biện hộ” để loại bỏ những suy nghĩ lệch lạc về phận vụ tông đồ của ngài. Lá thư giao hoà mà thánh Phaolô đưa ra cho Titus đem đi, có lẽ đã được viết từ Makedonien, cũng có thể từ Philippi (2Cr 7,3tt; 9,4-5), sau khi ngài thoát khỏi một số nguy hiểm tại Asien (2Cr 1,8) và rời bỏ Troas, nhưng không thiết lập cộng cộng đoàn tại đây (2Cr 2,13-14). Theo giả thuyết, lá thư đã gom góp nhiều lá thư đã viết từ lâu, cũng có thể là tại Ephesus, khi bị giam cầm. lúc đó vào khoảng năm 56. Cho dù lá thư không có sự thống nhất, nhưng chúng ta cũng nhận ra được những nét thần học của thánh Phaolô. Thánh Phaolô xem sứ vụ tông đồ của mình như việc “phục vụ sự giao hoà” Trong phần “biện hộ”, thánh Phaolô triển khai thần học sứ vụ tông đồ đưa đến cái nhìn giúp hiểu tính chất tông đồ của Hội thánh: • Tông đồ, được Thiên Chúa đóng ấn, được chính Thiên Chúa thiết đặt để công bố sự chiến thắng của Tin Mừng (2Cr 2,14-17) Lá thư liên kết gắn chặt với thần học Thập giá (2Cr 12 – 13). Đức Kitô “đã chịu đóng đinh vì mang thân phận yếu hèn, nhưng nay Người đang sống nhờ quyền năng của Thiên Chúa” (2Cr 13,4). Vì thế “khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,10). Thánh Phaolô triển khai một thần học của Cựu Ước và Tân Ước Trong đoạn 2Cr3 thánh Phaolô nói về vinh quang của Cựu Ước, vĩ đại đến độ ông Môsê, từ khi trên núi xuống (Xh 34) phải che mặt trước những người Do Thái – dù Lề Luật không đưa đến sự sống, nhưng chỉ là chữ viết chết đối với kẻ tội lỗi (2Cr 3,6). Đối lại, vinh quang của Tân Ước còn vĩ đại hơn nhiều, vì chính Thánh Thần, nhờ qua Tin Mừng, mới đem lại sự sống (2Cr 3,17). Ai tin, sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa cách tỏ tường trên gương mặt của Đức Kitô, như thánh Phaolô đã thấy trong ơn gọi của mình (2Cr 4,16). Thánh Phaolô nhìn thấy đau khổ của sứ vụ tông đồ của mình “Lá thư đầy nước mắt” 2Cr 10 – 13 được viết với đầy xúc cảm, làm nổi bật thần học của thánh nhân cho những người Corinthô thấy được đau khổ, mặt khác trưng ra sự thần bí của sứ vụ tông đồ. Thần học Thập giá đã liên kết rõ ràng trong cái nhìn này: “khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2Cr 12,20) vì trước đó đã có lời hứa: “Người đã bị đóng đinh trong sự yếu đuối của mình, nhưng nay sống trong quyền năng của Thiên Chúa” (2Cr 13,4). Lá thư có lời mở đầu và lời kết rất giống thư Philêmon; nhưng cách chia theo phần “tín lý” và phần “luân lý” lại thích ứng với thư Galát và thư Rôma. 1,1-2 Lời mở đầu Lá thư nhắm vào “những anh em thánh thiện ở Côlôxê” (Cl 1,1), theo Cl 4,16 lá thư cũng nên đọc tại Laodizea. Hierapolis cũng được nêu tên (Cl 4,13). Không phải chính thánh Phaolô thiết lập giáo đoàn này, nhưng ngừơi cộng sự của ngài là Epaphras (Cl 1,3-8) – tương tự như những cộng đoàn khác ở Lykoszea. Thánh Phaolô nói với những người Côlôxê như những người Kitô hữu gốc ngoại giáo (Cl 1,27; 2,13), nhưng ngài cũng đã thấy trước những ảnh hưởng của Do Thái giáo (Cl 2,11.16). Tacitus (ann.XIV 27,1) có tường trình về một cuộc động đất rất mạnh trong năm 60/61 đã tàn phá Laodizea rất nhiều. Có lẽ dân Côlôxê cũng đã phải chịu tai ương này (Orosius, adv. Pag.VII 7,12); người ta có thể nói rằng lá thư đã được viết trước tai họa này. Dù người Côlôxê rất vững trong đức tin (Cl 1,4tt), nhưng hình như có một số người đã theo một thứ “triết học” đòi buộc các Kitô gốc ngoại giáo phải tuân thủ các luật về lương thực (Cl 2,16.21), tuân giữ ngày sóc và ngày Sabbat, có lẽ cả nghi thức cắt bì (Cl 2,11). Đây không phải là dấu chứng cho việc tuân thủ Lề Luật, nhưng để phục vụ cho các “yếu tố vũ trụ” (Cl 2,8; so Gl 4,3.9) – đó là lửa, nước, đất, khí và những liên hệ của những yếu tố này xác định sự xoay chuyển vũ trụ theo lý thuyết của Pythagor. Các “triết gia” dựa theo sự “khôn ngoan” của bản thân (Cl 2,23) cho rằng họ đã cảm nghiệm trong thị kiến và trong liên lạc với các thiên thần (Cl 2,18). “Triết học” này là một thứ tôn giáo tổng hợp về ơn cứu độ, đón nhận các yếu tố của Do Thái giáo, liên hệ cả niềm tin vào Đức Kitô. Lá thư cảnh cáo thứ triết học này. Người ta vẫn còn tranh luận về tác giả của lá thư này. Để chống lại sự xác thực do thánh Phaolô người ta lại đến những điểm về ngôn ngữ (từ ngữ thường dùng; thường sử dụng cách sở hữu 9Genitiv), ít có các từ liên hệ) nhưng về mặt thần học thì không có gì tranh cãi. Kitô học theo chiều kích vũ trụ (die Kosmische Christologie) nổi bật trong thánh thi. Cách chung học cũng hiện diện như trong các thư từ quan trọng (Cl 3,1; so Cl 2,12.13). Đức Kitô không phải là thân thể của Hội thánh (1Cr 12,12-28), nhưng là đầu của thân thể (Cl 1,18). Hội thánh không những được suy nghĩ theo chiều kích phổ quát, nhưng còn theo chiều kích vũ trụ. Những người đại diện cho lý thuyết chính xác tác giả là thánh Phaolô đã căn cứ vào sự phát triển thần học của thánh nhân. Chắc chắc tác giả là một người theo trường phái thánh Phaolô. Người ta còn tranh luận, tác giả có phải là một thư ký của thánh nhân, khi ngài còn sống? Thời điểm và vị trí không được rõ ràng. Nhiều ngừơi cho là tại Ephesus (trường phái thánh Phaolô) và có lẽ rất trễ vào năm 70 sau Công nguyên. Lá thư không đá động gì đến cuộc động đất; vì thế có thể lá thư phải được viết trước năm 61. NHỮNG NÉT THẦN HỌC CĂN BẢN RẤT DỄ NHẬN RA: Đức Kitô là Đấng trung gian của Đấng Sáng Tạo và của ơn cứu độ Thánh thi Côlôxê 1,15-20 nêu lên chu kỳ từ sáng tạo ngang qua việc quan phòng cho đến cứu độ, không những của con người mà cho toàn thể vũ trụ. Giữa sáng tạo và cứu độ có một liên hệ Kitô học: phải đi đến sự giao hòa trọn vẹn, chỉ vì vũ trụ được sáng tạo “qua Người và nhắm hướng vào Người” (Cl 1,16). Các Kitô hữu là những con người mới Mỗi người có thể trở thành Kitô hữu: “Hy Lạp hay Do Thái, cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do”, chỉ vì “ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người” (Cl 3,11). Bí tích Thánh Tẩy đưa mọi người vào cộng đoàn hiệp thông với Đức Kitô trong Hội Thánh (Cl 3,1-4). Con ngừơi phải sống cuộc sống mới. Kitô hữu là dấu chứng cho sự biết ơn và niềm vui Vì Thiên Chúa đã tạo tất cả sự cứu độ trong Đức Kitô và ban tặng cách rộng rãi, không điều kiện, đó là nền tảng cho sự biết ơn ngay trong đau khổ. Việc biết ơn dẫn đến niềm vui trong niềm tin và trao ban sức mạnh nội tâm. Luật lệ gia đình (Cl 3,8-4,1; so Ep 5,22 – 6,9; 1Pr 2,18 – 3,7) có hiệu quả nơi ngày xưa trong vấn đề liên hệ phái tính, nhưng khác với ngày hôm nay. Chuyển ngữ Linh mục Aug.Nguyễn Văn Trinh Tài Liệu Học Hỏi Về Thánh Phaolô Của Hội Đồng Giám Mục Đức Thư Galát là chứng cứ cổ nhất về giáo lý Công Chính hoá được thánh Phaolô suy nghĩ rất kỹ. Lá thư cho thấy vị Tông đồ phải đối kháng với cộng đoàn về sự “tự do của đức tin” Thư Galát là chứng cứ cổ nhất về giáo lý Công Chính hoá được thánh Phaolô suy nghĩ rất kỹ. Lá thư cho thấy vị Tông đồ phải đối kháng với cộng đoàn về sự “tự do của đức tin” Lá thư được viết trong sự đau khổ vì đối kháng, nhưng có một lược đồ lý luận rất chặt chẽ: 1,1-5 Lời mở đầu Các nhà Thánh Kinh tranh luận về vấn đề người nhận, có hai chức năng: + Giả thuyết các vùng phía nam Galát: Pisidien, một phần của vùng Lykien, Phamphylien và Kilikien. Thánh Phaolô đã thiết lập cộng đoàn trong chuyến truyền giáo thứ nhất và thứ hai (Cv 16,6), như thế vào khoảng năm 49/50 và khởi đầu chuyến truyền giáo thứ ba, khoảng năm 52/53, thêm một lần thăm viếng (Cv 18,23; so Gl 4,12b-20). Người Galát (ít là phần đông) là những người kitô hữu gốc ngoại giáo (Pagano-Christen). Duyên cớ là lá thư chính là sự xuất hiện nhiều nhà truyền giáo kitô hữu, theo như cách đánh giá của thánh Phaolô, có lẽ họ đã rao giảng một “Tin Mừng khác” (Gl 1,6-7). Họ đòi buộc các kitô hữu ngoại giáo phải cắt bì (Gl 6,12) và tuân giữ Lề Luật của ông Môsê (Gl 4,21), phải tuân giữ nghiệm nhặt (Gl 5,3; 6,13), tuân giữ cả luật phụng vụ theo lịch ngày lễ Do Thái (Gl 4,10), tuân giữ các vật ô uế của Luật cũng như phải tuân giữ Luật thanh sạch (Gl 2,11-16), phải vâng phục những hướng dẫn của sách Lề Luật. Ngoài ra, họ nghi ngờ tính hợp pháp của sứ vụ thánh Phaolô về việc ngài ngăn cấm việc cắt bì và rao giảng sự tự do của Tin Mừng, vì sự dửng dưng về mặt đạo đức của Tin Mừng mà ngài rao giảng (Gl 2,17), bị cho ra xa rời với Tin Mừng của cộng đoàn nguyên thuỷ. Căn cứ vào lời của những kẻ rao giảng, người Galát thấy cần phải được cắt bì (Gl 5,2-3), phải thực hành tuân giữ Lề Luật (Gl 4,21) và bắt đầu phục vụ “các yếu tố thế gian”, nhất là trong sự đạo đức dựa theo lịch (Gl 4,9-12). Người ta tranh luận hai khả năng để xác định vị trí và thời gian: + Lá thư Galát, như là lá thư đầu tiên của các thư quan trọng, có lẽ được viết tại Ephesus trước cả lá thư thứ nhất gửi cho giáo đoàn Corinthô vào đầu năm 54/55. Theo trường hợp thứ nhất, giáo thuyết về công chính hoá cũng phải có trước việc trình bày các thư Corinthô; trong trường hợp thứ hai thì không buộc như thế. Khả năng thứ hai cho thấy, chương nói về mẫu gương quyên góp ở Galát (1Cr 16,1-4) và thánh Phaolô từ Ephesus có thể tự mình giải quyết các vấn đề (x.Gl 4,20). Nhưng câu trả lời vẫn còn phải tranh luận. Thư gửi giáo đoàn Galát cho thấy những nét thần học căn bản của thánh nhân mà thư Rôma đã lấy lại phần lớn và tiếp tục triển kha Chuyển ngữ Linh mục Aug.Nguyễn Văn Trinh Thư gửi giáo đoàn Philípphê thuộc vào các lá thư tù ngục. Trong lá thư này người ta cũng tranh luận về sự thống nhất. Điểm đặc biệt nhất không những là sự liên lạc mặn nồng dựa vào sự biết ơn của giáo đoàn Philippi, nhưng còn sự chú tâm tinh thần mà thánh Phaolô muốn đặt thành đề tài cho cái chết và đau khổ của ngài vì Tin Mừng. Lá thư phân chia một cách rõ ràng: Thánh Phaolô đã thiết lập cộng đoàn trong thành phần nhỏ này, xưa là một đồn trú của Rôma từ năm 31 trước Công nguyên trên con đường Via Egnatia, trong lần truyền giáo thứ hai vào năm 49 (x.Cv 16,11-40; 1 Tx 2,2). Cộng đoàn gặp gỡ nhau trong nhà của các bà bán vải Lydia (Cv 16,13tt.40). Việc thu hút được những kẻ tôn thờ Thiên Chúa và người ngoại giáo đã đưa đến việc bách hại thánh nhân như là người Do Thái (1 Tx 2,2). Lá thư “tù ngục” đươc viết để biểu lộ cám ơn và để chăm sóc cộng đoàn giữa vị Tông đồ và cộng đoàn. Đoạn Pl 3 là một lời chỉ trích nặng nề đối với người tuyên truyền phải cắt bì. Dựa theo sách Công vụ tông đồ, thánh Phaolô bị nhốt tại Giêrusalem (Cv 21,18 -23.22), Caesarea (Cv 23,23 – 26,32) và Rôma (Cv 28,16-31). Theo truyền thống, người ta cho lá thư này được viết tại Rôma, vào khoảng sau năm 58. Thế nhưng việc liên lạc mật thiết với Makedonien lại không đồng thuận như thế. Về hoàn cảnh xuất phát lá thư theo như các nhà Thánh Kinh ngày nay đều cho rằng lá thư được viết tại Tiểu Á. Thời gian có lẽ lúc thánh Phaolô dừng chân tại Êphêsô ( khoảng năm 55/56), về điểm này sách Công Vụ không cho đó là cuộc dừng chân lúc bị giam cầm. Vì có một đứt đoạn giữa Pl 1,2 và Pl 3, người ta tranh luận; không biết rằng lá thư Philipi được viết một mạch hay chỉ lá sắp xếp nhiều lá thư của thánh Phaolô lại với nhau. Thư Philípphê lá chứng cứ đầy giá trị cho thần học Tân Ước: Đoạn Pl 2,6-11 thuộc về những bản văn Kitô học vĩ đại của Tân Ước, vì ở đây nói đến sự tiền hiện hữu (Praexistenz -2,6), mầu nhiệm nhập thể (2,6-8: kenosis), cái chết thập tự (2,8), sự phục sinh và tôn vinh (2,9-11) và sự viên mãn (2,10-11) liên kết trong một không gian vũ trụ: Đấng tiền hiện hữu tự hạ; Đấng tự hạ được Thiên Chúa nâng lên trên tát cả mọi người. Lá thư tù ngục là chứng cứ niềm vui trong đau khổ Thánh Phaolô phấn đấu cật lực với sự đau khổ trong nhiệm vụ tông đồ, nhưng lại khám phá trong đó sự hiệp thông với Đức Kitô khổ đau và đạt được sức mạnh nội tại từ hy vọng vào sự viên mãn cũng như từ việc chia sẽ vào đau khổ của Đức Kitô. Thánh Phaolô tự đặt mình làm mẫu gương cho kẻ tội lỗi được công chính hóa và hơn nữa, như người tín hữu được kêu gọi để sống kết hợp với Chúa Kitô. Không phải Lề Luật cứu thoát, nhưng là Đức Kitô; vì thế không phải công việc, nhưng là đức tin mới công chính hóa chúng ta. Chuyển ngữ Linh mục Aug.Nguyễn Văn Trinh Tài Liệu Học Hỏi về Thánh Phaolô Của Hội Đồng Giám Mục Đức Thư gửi tín hữu Rôma trở thành “di chúc” thần học của thánh Phaolô (G.Bornkamm). Thư này là hoa trái chín tới của thần học thánh Phaolô, nó là “tổng hợp” thần học của thánh Phaolô (E.Lohse). Thư này đứng hàng đầu trong các lá thư của thánh Phaolô trong Kinh Bộ (Canon), vì nó đưa cả chương trình toàn bộ bài đọc cho các lá thư của thánh Phaolô. Thư Rôma đúc kết nội dung rất chặt chẽ: Thánh Phaolô viết cho các Kitô hữu đang trú ngụ trong thủ đô Rôma. Giáo đoàn này không do ngài thành lập. Giáo đoàn đã gặp một cơn khủng hoảng do sắc chỉ của hoàng đế Claudius (năm 49scn: đuổi người “Do Thái” ra khỏi thủ đô). Giáo đoàn biết rõ sự xung khắc nội tại giữa “người mạnh” và “ kẻ yếu”, có liên hệ với sự đánh giá Lề Luật (Rm 14). Thánh Phaolô nhìn thấy những người Kitô hữu gốc Do Thái và những người Kitô hữu gốc ngoại giáo (Rm 11,17-18). Thánh Phaolô viết cho những người Rôma, không phải để giải quyết các vấn đề nơi họ, nhưng là để chuẩn bị cho sứ vụ đã lên kế hoạch truyền giáo ở Tây Ban Nha (Rm 15,24). Ngài cần sự hỗ trợ của người Rôma cho công tác này. Ngài phải đi từ những chống đối – có thể có ở ngay Rôma – chống lại thần học ân sủng của ngài (so Rm 6,1.15; so 3,1). Lá thư mang tính cách gián tiếp tranh luận với họ. Thư này có liên hệ đặc biệt với thư giáo đoàn Galat. Chính trong giáo đoàn này nảy sinh cuộc tranh luận gay gắt về ân sủng và sự công chính, Lề Luật và tự do, đức tin và tình yêu; tất cả những điểm này được lá thư Rôma lấy lại, phân tích và hướng dẫn thêm. Thánh Phaolô viết lá thư này trước khi đi Giêrusalem để đem tiền quyên góp, sau khi đã quyên góp tại Makedonien và Achaia (Rm 15,25-26). Như thế là vào khoảng mùa đông 55/56 tại Korinth. Điều này cũng thích hợp với lời dạy bảo cho nữ trợ tá ở Kenchraea là Phoebe, mang lá thư và trình bày lá thư cho cộng đoàn (Rm 16,1). LÁ THƯ KÈM THEO NHỮNG NÉT THẦN HỌC CĂN BẲN NHƯ SAU: Tin Mừng mạc khải sự công chính của Thiên Chúa Thánh Phaolô lấy thuật ngữ chính yếu của Cựu Ước làm thành thuật ngữ chính yếu của thần học Tân Ước. Sự công chính của Thiên Chúa không phải là sự công chính Thiên Chúa đòi buộc chúng ta, cho bằng sự công chính Thiên Chúa minh chứng cho chúng ta (Augustinus, Thomas, Luther). Sự trung tín của Thiên Chúa với các lời hứa thuộc về sự công chính. Sự công chính thể hiện trong việc kết án kẻ tội lỗi, nhưng hơn nữa trong các việc gia ân cho kẻ tội lỗi nhờ qua cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu (Rm 3,21-25). Việc công bố sự công chính của Thiên Chúa cho thấy tội lỗi của người Do Thái và dân ngoại Mọi người đều phạm tội. Tội lỗi phải bị kết án. Tội lỗi là bất chính, xuất phát từ việc phủ nhận thiên tính của Thiên Chúa. Dân ngoại phạm tội, khi họ chống lại lương tâm; người Do Thái phạm tội, khi họ hành động chống lại Lề Luật. Lề Luật không thể cứu người Do Thái, sự công chính của Lề Luật nằm ở chỗ kết án kẻ vi phạm. Việc công bố sự công chính nhằm vào đức tin và sự công chính hóa người Do Thái và dân ngoại Đức tin là sự kết hợp việc tuyên xưng và phó thác (Rm 10,9-10). Sự tuyên xưng liên kết độc thần thuyết với Kitô học. Sự phó thác là điều xác định cả cuộc sống của mình. Việc khuyên nhủ tập trung vào việc chu toàn Lề Luật nhờ tình yêu. Việc thực hiện sự công chính đưa đến ơn cứu độ cho toàn thể Israel Thánh Phaolô phải chạm trán vấn đề: một số đông người Do Thái từ chối tin vào Đức Kitô; ngài phê phán ý kiến thịnh hành cho rằng vì thế “ Israel” bị loại bỏ và gợi nhớ những người Kitô hữu gốc ngoại giáo về việc họ liên hệ đến gốc rễ Do Thái và công bố cách tiên tri về ơn cứu độ của “toàn thể Israel” (Rm 11,26) “Thiên Chúa không ruồng bỏ dân Người đã tuyển chọn từ trước” (Rm 11,2). Ngay trong cái nhìn về Đức Giêsu và về sự viên mãn của Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa đã tuyển chọn Israel từ trước (Rm 9,3-5); đương nhiên việc tuyển chọn này không phải là việc của xác thịt, nhưng của tinh thần (Rm 9,6-13) và, vì sự tuyển chọn này hoàn toàn dựa vào sự tuyển chọn ân sủng của Thiên Chúa, nên cũng không loại bỏ sự tuyển chọn dân ngoại, nhưng được thu tóm vào trong đó (Rm 9,14-29). Lòng nhiệt thành đối với Thiên Chúa (10,2) lại đưa một số đông người Do Thái từ chối Tin Mừng của Đức Giêsu, dù Tin Mừng này mới có thể cứu họ (Rm 10,5-15). Trong sự phủ nhận này phản ánh sự ý thức chống đối của dân Thiên Chúa đối với lời Ngài trong các ngôn sứ (Rm 10,16-20), bây giờ hiện thực trong sự cứng lòng của Israel (Rm 11,1-12). Vì sự cứng lòng của mình, Israel không vì thế mà bị loại và bị bỏ quên. Ngược lại: vì Thiên Chúa không hối hận vì ân sủng của mình, Người sẽ cứu độ “ toàn thể Israel”, chính nhờ “ Đấng cứu độ từ Zion” (Rm 11,25-26). Kết Thúc Năm Thánh Phaolô Tại Rôma Ngày Chúa Nhật 28.06.2009, Đức thánh cha đã chủ sự hai buổi cầu nguyện với cộng đồng Dân Chúa: lần thứ nhất lúc đọc kinh Truyền tin vào hồi 12 giờ trưa tại quảng trường thánh Phêrô, và lần thứ hai lúc 6 giờ chiều khi chủ sự buổi hát kinh chiều Một của lễ trọng hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô tại đền thánh Phaolô ngoại thành. Một đề tài huấn giáo nối kết cả hai buổi cầu nguyện là Năm thánh Phaolô, nhưng với điều đặc biệt là bài huấn dụ vào ban trưa thì nhấn mạnh đến năm các linh mục vừa bắt đầu, còn vào buổi chiều thì điểm qua những thành quả của một năm sắp kết thúc. Như quý vị đã biết, năm các linh mục đã được khai mạc với kinh chiều vọng lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, ngày 19/6, và đức Bênêđictô XVI đã dành buổi tiếp kiến chung hôm thứ tư vừa qua để nhắc lại ý nghĩa của nó. Bài huấn dụ trưa hôm qua muốn móc nối tư tưởng giữa Năm thánh Phaolô và năm các linh mục, đặc biệt là mẫu gương của thánh Phaolô cho các linh mục. Sau đây là nguyên văn bài huấn dụ. Anh chị em thấn mến, Với buổi kinh chiều Một Lễ Trọng kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô mà tôi sẽ chủ sự chiều nay tại vương cung thánh đường thánh Phaolô ngoại thành, sẽ kết thúc năm thánh Phaolô được mở ra nhân dịp hai ngàn năm sinh nhật của vị Tông đồ muôn dân. Thật là một mùa hồng phúc, nhờ những cuộc hành hương, những buổi huấn giáo, những ấn phẩm được xuất bản và nhiều sáng kiến khác, bức chân dung của thánh Phaolô lại được trưng bày cho toàn thể Giáo hội, và sứ điệp hùng hồn của Người đã khơi dậy lòng say mê với Chúa Giêsu và với Tin mừng. Vì thế chúng ta hãy dâng lời tạ ơn Thiên Chúa vì Năm thánh Phaolô và vì những hồng ân thiêng liêng mà nó mang đến. Chúa quan phòng đã xếp đặt để một năm đặc biệt khác được mở ra cách đây mấy bữa, ngày 19 tháng 6, lễ kính Thánh Tâm Chúa Giêsu, năm Linh mục, nhân dịp 150 năm tạ thế của thánh Gioan Maria Vianney, cha sở họ Ars. Tôi tin rằng đây sẽ là một sự thúc đẩy mới về tinh thần và mục vụ mang lại nhiều ơn ích cho dân Chúa và cách riêng cho các linh mục. Mục đích của năm Linh mục là gì? Như tôi đã viết trong bức tâm thư gửi các linh mục vào dịp này, năm Linh mục nhằm góp phần vào việc cổ võ cuộc đổi mới tâm linh của tất cả các linh mục ngõ hầu làm chứng tá mạnh mẽ hơn và quyết liệt hơn cho Tin mừng trong thế giới hôm nay. Thánh Phaolô tông đồ là một mẫu gương sáng ngời đáng bắt chước, không những về cuộc sống cụ thể - phải nhận ràng cuộc sống của Người quả là phi thường - mà còn trong việc bắt chước Chúa Giêsu, trong nhiệt tâm loan báo Tin mừng, trong sự tận tụy phục vụ cộng đoàn, trong việc phác hoạ những toát lược về thần học mục vụ. Thánh Phaolô là một tấm gương của một linh mục hoàn toàn đồng hóa với sứ vụ của mình - cũng như thánh Vianney về sau này - , ý thức rằng mình mang trong mình một kho tàng vô giá, đó là sứ điệp cứu độ, nhưng mang nó trong một "chiếc bình sành" (xc. 2Cr 4.7); vì thế Người vừa mạnh mẽ lại vừa khiêm tốn, xác tín tận thâm tâm rằng tất cả đều là do ân sủng của Chúa. Thánh Phaolô viết: "Tinh yêu Chúa Kitô chiếm đoạt tôi". Điều này cũng có thể trở nên châm ngôn cho hết mọi linh mục, nghĩa là Thánh Linh đã "trói buộc" (xc. Cv 20,22) mình để biến thành một người quản nhiệm trung tín của các mầu nhiệm của Chúa (xc. 1Cr 4,1-2): linh mục phải là một con người thuộc trọn về Chúa Kitô, thuộc trọn về Giáo hội; linh mục được mời gọi dành trót con tim không chia sẻ để phục vụ Giáo hội, giống như một người chồng trung thành với người bạn trăm năm của mình. Các bạn thân mến, cùng với các thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta hãy nhờ Mẹ Maria cầu bầu để xin Chúa ban muôn phúc dồi dào cho các linh mục trong năm Linh mục vừa bắt đầu. Thánh Gioan Maria Vianney rất sùng kinh và cổ động cho các tín hữu yêu mến Dức Mẹ. Xin Mẹ giúp cho mỗi linh mục làm sống lại hồng ân Chúa ban khi thụ phong, nhờ đó ngài tăng tiến trong đường thánh thiện và mau mắn làm chứng, kể cả bằng việc tử đạo, cho vẻ đẹp của cuộc dâng hiến toàn thân và dứt khoát cho Chúa Kitô và cho Giáo hội. Tại Rôma năm thánh Phaolô được khai mạc và bế mạc với Kinh Chiều Một của lễ hai thánh Phêrô và Phaolô vì lý do dễ hiểu. Vào chính ngày lễ, Đức Thánh Cha phải chủ sự thánh lễ trọng thể tại trên mộ thánh Phêrô, vì thế không thể hiện diện tại đền thánh Phaolô nữa. Trong bài giảng tiếp theo bài đọc Lời Chúa, Đức Thánh Cha đã nhắc nhở rằng tuy rằng năm thánh Phaolô kết thúc, nhưng thánh tông đồ vẫn đồng hành với chúng ta trong việc hiểu biết Chúa Kitô, để từ đó cuộc sống chúng ta được chiếu sáng và đổi mới. Tư tưởng "canh tân đổi mới" được phân tích dựa trên vài đoạn văn tiêu biểu của các thư thánh tông đồ. Đoạn văn thứ nhất là thư gửi tín hữu Rôma, chương 12 câu 2: "Anh em đừng rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa...". Đoạn văn này nhấn mạnh đến việc "cải biến" và "đổi mới". Chúng ta cần phải trở nên những con người mới, được biến đổi bằng một nếp sống mơi. Người ta luôn luôn thích đi tìm điều mới lạ, và không thỏa mãn với hiện tại. Thánh Phaolô nói cho chúng ta biết rằng: đừng mong gì sẽ gặp một thế giới mới nếu không có những con người mới. Chừng nào có những con người mới, thì mới có thế giới mới, một thế giới được đổi mới và tốt hơn. Cần bắt đầu với việc đổi mới con người. Điều này cần được áp dụng cho mỗi cá nhân, Chỉ khi nào chúng ta trở nên mới, thì thế giới mới đổi mới. Điều này có nghĩa là chúng ta không được rập theo đời này, không được chạy theo não trạng của thời đại. Nhưng thế nào là đổi mới? Liêụ chúng ta có sức đổi mới không? Đoạn văn thứ hai, trích từ thư thứ hai gửi Corintô (chương 5,17) giúp cho chúng ta một chìa khóa, khi thánh Phaolô thuật lại cuộc đổi đời của mình nhờ gặp gỡ Đức Kitô phục sinh: "Phàm ai ở trong Đức Kitô đều là thọ tạo mới. Cái cũ đã qua và cái mới đã có đây rồi". Cuộc gặp gỡ ấy đã gây ra một sự xáo trộn trong cuộc đời của Phaolô, đến nỗi Người viết: "Tôi đã chết rồi" (Gl 2,19; xc Rm 6). Người đã trở nên mới, một con người khác, bởi vì không còn sống cho chính mình và sống nhờ sức của mình, nhưng sống cho Chúa Kitô và trong Chúa Kitô. Trong suốt cuộc đời, thánh Phaolô nhận thấy rằng cuộc canh tân và biến đổi là một tiến trình kéo dài. Chúng ta sẽ trở nên mới nếu chúng ta để cho Chúa Kitô chiếm đoạt và nhào nặn nên người mới. Đức Kitô là Con người mới. Thánh Phaolô tiếp tục nói về sự đổi mới khi nói đến sự biến đổi trong lề lối suy tưởng. Người sử dụng từ ngữ Hy lạp "nous", có nghĩa là "tinh thần, tâm thức, tâm tình, lý lẽ và đường lối suy tư". Thánh nhân nói rằng chúng ta cần phải thay đổi cách thức lý luận. Thực ra hơi lạ, bởi vì chúng ta tưởng rằng chỉ cần thay đổi vài cách thức hành sử là đủ, nhưng Người muốn đi sâu xa hơn. Cần phải thay đổi tận gốc cách thức mà chúng ta nhìn thế giới, đánh giá thực tại. Lối suy tư cũ của người đời thường là nhắm đến sự chiếm đoạt, hưởng thụ, địa vị, quyền thế, danh giá. Nhưng cái nhìn đó quá thiển cận, bởi vì đặt cái "tôi" làm trung tâm. Cần phải đi xa hơn, đó là đi tìm cái gì là tốt đẹp đối với Chúa, đi tìm ý Chúa. Điều này đòi hỏi sự biến đổi toàn diện con người chúng ta. Chúng ta cần để cho tư tưởng và ý muốn của Thiên Chúa điều khiển cuộc đời chúng ta. Có như thế thì chúng ta mới nên con người mới, và từ đó nổi lên một thế giới mới. Đức Thánh Cha trưng dẫn một đoạn văn nữa của thánh Phaolô để suy gẫm về sự đổi mới, đó là Ephêsô chương 4. Thánh tông đồ nhắn nhủ các tín hữu là trong đức Kitô, chúng ta đã đạt được tuổi trưởng thành. Vì thế đừng nên cư xử như những kẻ ấu trĩ, bị cuốn theo chiều gió. Đức tin trưởng thành có nghĩa là chấp nhận đạo lý đã được truyền thụ từ các thánh tông đồ, chứ không phải là thời trang của thế gian. Điều này đôi khi có nghĩa là đi ngược lại với sự tuyên truyền của dư luận, chẳng hạn như tôn trọng sự sống của thai nhi chứ không hủy diệt nó, tôn trọng sự chung thuỷ vợ chồng. Đức tin tưởng thành có nghĩa là hành động theo "sự thật trong bác ái" như thánh tông đồ viết ở câu 15. Đường lối tư duy mới có nghĩa là hướng theo sự thực, đối lại với gian dối. Dù sao, nếu muốn đổi mới cách tư duy, chúng ta cần phải nhìn lên Thiên Chúa, Đấng vừa là sự thật vừa là tình thương, cả hai đi đôi với nhau. Tình thương là tiêu chuẩn đo lường sự thực, và sự thực làm cho chúng ta biết yêu thương thật tình. Trong phần cuối của bài suy niệm, đức thánh cha nêu bật rằng cuộc canh tân đổi mới là một tiến trình trong cuộc đời chúng ta. Điều này đòi hỏi sự củng cố con người nội tâm, như thánh Phaolô viết trong thư gửi Ephêsô 3,16. Một trong những nguyên nhân của cuộc khủng hoảng thời đại hôm nay là sự trống rỗng nội tâm. Vì thế cần phải củng cố con người nội tâm, để có khả năng để đánh giá mọi vật với lý trí và con tim, để hành động trong lý trí và bác ái. Điều này đòi hỏi chúng ta phải sống thân mật với Thiên Chúa, qua việc gặp gỡ Chúa nhờ việc cầu nguyện và các bí tích. Nhờ đó, chúng ta sẽ hiểu biết tất cả chiều dài rộng cao sâu của tình yêu Chúa. Thánh Irênê giải thích bốn chiều kích đó như là thập giá của Chúa Kitô, chiều sâu của cái chết, chiều cao của sự tôn vinj, và hai chiều dài rộng để kéo dài ôm ấp tất cả nhân loại và vũ trụ. Tình yêu Chúa Kitô đã ôm ấp tất cả chúng ta. Bình Hòa |
|
|
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tgmvl |