ĐÔI DÒNG GIỚI THIỆU
Linh mục Phêrô Nemesshagy, SJ, giáo sư Đại Học Công Giáo Sofia (Nhật Bản) và Giáo Hoàng Học Viện Pio X Đà Lạt (Việt Nam) đã viết cuốn “The Meaning of Christianity” khá lâu. Cuốn sách này đã được dịch sang tiếng Việt trước năm 1975 với sự đồng ý của chính tác giả. Người đã bỏ công sức và thời gian để dịch là linh mục Đoàn Sĩ Thục, gốc giáo phận Nha Trang, hiện đang sống và làm việc tại Australia. Vào những năm 1995-1997 linh mục Gioakim Đoàn Sĩ Thục giao cho tôi bản dịch của ngài và cho tôi toàn quyền xử dụng. Tôi đã đọc kỹ và hiệu đính lại cho tốt hơn mong có dịp cống hiến cho giáo dân Việt Nam.
Với sự hiểu biết sâu sắc về Thánh Kinh và với một lối hành văn thanh thoát, nhẹ nhàng và đầy chất tâm linh, cuốn “The Meaning of Christianity” chắc chắn sẽ là món ăn tinh thần làm thỏa mãn lòng khao khát biết Chúa và yêu Chúa, biết Giáo Hội và yêu Giáo Hội của nhiều giáo dân ngày nay. Bạn đọc sẽ tìm thấy trong mỗi đoạn, mỗi trang sách một bài đọc thiêng liêng (lecture spirituelle) cho những giờ phút trầm lắng và cầu nguyện.
Sách có bốn chương ngoài lời nói đầu vắn gọn. Ở cuối mỗi chương có những câu hỏi dành cho việc suy nghĩ và thảo luận. Bốn chương ấy là: Ki-tô giáo đã xuất hiện trên thế giới gần 2000 năm nay. Người ta có thể tìm thấy các tín hữu Ki-tô hầu như tại bất cứ hang cùng ngõ hẻm nào trên mặt đất. Tiếng chuông giục gĩa các tín hữu đến nhà thờ mỗi ngày Chúa nhật không chỉ vang lên từ các thành thị và làng mạc ở Au châu. Lời cầu nguyện trong Đức Ki-tô cũng bay lên tới Chúa Cha từ những giáo đường chật ních người ở Mỹ châu và Uc châu. Bốn mươi phần trăm dân số Phi châu đã là tín hữu Ki-tô và con số đó gia tăng nhanh chóng mỗi năm. Mặc dù chỉ là một thiểu số, các cộng đồng Ki-tô hữu nhiệt thành cũng rải rác khắp nơi ở Á châu. Người ta có thể tìm thấy các tín hữu Ki-tô tại mọi lục địa. Họ tin ở một Thiên Chúa Yêu Thương. Họ dâng lời cảm tạ vì lòng nhân từ của Ngài. Họ cố gắng sống và chết theo con đường mà Thày của họ là Đức Giê-su đã chỉ dạy.
Cách này hay cách khác, tất cả mọi tín hữu Ki-tô đều biết Ki-tô giáo là gì và thế nào là một tín hữu Ki-tô. Tuy nhiên, chúng ra vẫn còn cảm thấy cần phải tự đặt câu hỏi: đâu là cốt lõi của Ki-tô giáo? Tự xưng là một Ki-tô hữu: điều đó có ý nghĩa gì đối với tôi? Quả thật Ki-tô giáo đơn giản đến độ ngay cả một em bé cũng có thể hiểu được những điều cốt yếu của nó. Nhưng đồng thời, Ki-tô giáo cũng sâu sắc đến độ các vị thánh cao cả nhất và các nhà thần học nổi tiếng nhất cũng không thể thấu hiểu hết ý nghĩa hoặc đạt đến trọng tâm của mầu nhiệm.
Mỗi một cá nhân và mỗi một thế hệ cần phải khám phá lại Ki-tô giáo. Với sự trợ giúp của ơn Chúa, chúng ta hãy cùng nhau lên đường khám phá. Chúng ta hãy cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của Ki-tô giáo cho chính chúng ta trong thời đại này.
Danh xưng “Ki-tô hữu” phát xuất từ tiếng la tinh “Christianus” và có nghĩa là một tín đồ hoặc một môn đệ của Đức Ki-tô. Như Sách Công Vụ các Tông Đồ (11,26) cho chúng ta biết: những người theo Đức Ki-tô hoặc các môn đệ của Đức Ki-tô đã được gọi bằng danh hiệu này ngay từ thời các Tông Đồ. Thật là một danh xưng xứng hợp. Danh xưng này đưa chúng ta vào ngay cốt lõi của Ki-tô giáo: đó là Đức Ki-tô. Để hiểu thế nào là Ki-tô hữu, chúng ta cần phải khám phá Đức Giê-su Ki-tô là ai. tại sao Đức Giê-su được gọi là Ki-tô? Ngài dã làm gì và những gì đã xảy ra với Ngài? Chương Một - "Đức Giê-su Được Gọi là Đức Ki-tô" Trong chương này, tác giả tóm tắt trọn vẹn Mầu Nhiệm của Đức Kitô và Mầu Nhiệm Chúa Ba Ngôi. Chúa Giêsu đã xuống trần để làm tròn phận sự của Đấng Mêsia, hay Kitô, là Đấng Được Xức Dầu mà Dân Do Thái đang mong đợi. Nhưng khi xuống trần, Người lại tỏ ra là một Đấng Kitô khác hẳn với sự mong đợi của Dân Do Thái, nên người ta đã gạt bỏ Người và đóng đanh Người vào Thánh Giá. Chúng ta nhiều khi cũng chối từ Đức Kitô và những giáo huấn của Người vì những lời của Người quá chói tai, không phải là những lời chúng ta muốn nghe.
Đối với những người tin Chúa, cả cuộc sống của Người đã trở thành con đường dẫn chúng ta về với Chúa Cha, về với Sự Sống và về với nhau. Chúa Giêsu đi trước và chúng ta đi theo Ngài. Cái chết và sự phục sinh của Ngài là sức mạnh đưa chúng ta lên đường và dẫn chúng ta đi đến cùng. NIỀM TIN VÀ SỰ MONG ĐỢI CỦA NGƯỜI DO THÁI Đức Giê-su, con Bà Ma-ri-a, đã sống và thực hiện sứ mệnh của Ngài gần 2000 năm qua tại Pa-lét-tin, phần đất hầu như là một với quốc gia Ít-ra-en ngày nay. Ngay cả thời đó, đa số dân sống trẹn đất Pa-lét-tin đều là người Do Thái và phần thuộc về dân tộc Do Thái nằm dưới sự cai quản của đế quốc La Mã, cũng như toàn bộ đồng bằng Địa Trung Hải. Những người Hy Lạp và La Mã thời đó đều nhận thức rằng tôn giáo của người Do Thái hoàn toàn khác với tôn giáo đa thần của họ, cũng khác mọi tôn giáo thời cổ. Thiên Chúa của người Do Thái là một Thiên Chúa hằng sống, độc nhất, uy nghiêm. Là Đấng Toàn Năng, Ngài đã tạo dựng và cai quản toàn thể vũ trụ. Hơi thở của Ngài là dòng suối mang lại sự sống. Các tượng, ảnh không thể diễn tả được Ngài. Ngài vượt lên trên nọi sự tưởng tượng và ngôn ngữ của con người. Tuy nhiên, Đấng Thiên Chúa mầu nhiệm và cao cả ấy lại không xa cách các thụ tạo của Ngài. Đôi mắt Ngài luôn dõi theo nhân loại. Ngài yêu thương và sắn sóc mọi người. Ngài săn sóc cho con người và muốn cho con người trở nên tốt và thực thi ý muốn của Ngài. Ngài có thể nổi giận khi thấy con người phạm tội làm phương hại đến thế giới mà Ngài đã tạo dựng tốt đẹp. Ngài không hài lòng khi con người quên lãng Ngài, khi họ hành hạ và chém giết lẫn nhau. Kẻ có tội không hối cải sẽ không thoát khỏi sự trừng phạt của Ngài, nhưng lòng nhân từ của Ngài lại vô biên. Ngài không ngừng tha thứ cho tội nhân biết hoán cải.
Những người Do Thái tuyên xưng rằng Thiên Chúa đã tự tỏ bày cho tổ tiên của họ. Ngài đã nói với họ và ký kết giao ước với Ap-ra-ham, tổ phụ của họ. Sau đó, qua kể mà Ngài đã tuyển chọn là Mô-sê, Ngài đã ký kết giao ước với toàn dân Do Thái. Ngài hứa sẽ là Chúa của họ và yêu cầu họ làm dân riêng của Ngài. Ngài thở Thần Khí của Ngài trên một số người được chọn làm ngôn sứ của Ngài như I-sai-a, Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en và nhiều người khác nữa. Lời toàn năng của Ngài được ngỏ với dân Do Thái qua miệng các ngôn sứ như sau: “Hãy nên thánh thiện, vì Ta là Đấng Thánh Thện” (Lv 11,44). Thiên Chúa luôn trung thành với giao ước của Ngài. Sẽ đến một thời Ngài thiết lập một giáo ước mới và quan trọng hơn. Ngài sẽ ghi khắc lề luật trong trái tim của họ (Gr 31,33). Thánh Linh của Ngài sẽ được thổi vào tận đáy thẳm tâm hồn họ (Ed 36,27). Ngài sẽ sai Đấng Tuyển Chọn của Ngài đến để trở thành giao ước bằng xương bằng thịt (Is 42,6). Đấng được tuyển chọn này sẽ hiến dâng mạng sống mình để cứu d6an khỏi tội. Ngài sẽ là Trọng Tâm, là Điểm Gặp Gỡ giữa Thiên Chúa và con người. Ngài sẽ không chỉ là vị Cứu Tinh của dân Ít-ra-en mà thôi, mà còn là Anh Sáng rực rỡ soi chiếu mọi dân tộc (Is 42,6). Sẽ đến một ngày Thiên Chúa dựng nên một Trời Mới và một Đất Mới (Is 65,17). Mọi sinh linh, khi được hiệp nhất với Thiên Chúa, sẽ tìm thấy nơi Ngài sự sống vĩnh cửu. Bởi lẽ sự chết không phải là do Thiên Chúa mà là do con người tự tạo ra. Thiên Chúa không hề vui khi thấy con người phải chết. Chính vì để cho vạn vật được hiện hữu mà Ngài đã tạo dựng nên chúng (Kn 1,13-14).
Trên đây là niềm tin của người Do Thái. Đấng Thiên Chúa vô hình, Đấng Thiên Chúa của giao ước, đối với họ là một Đấng rất Thực Hữu. Ngài là một Thiên Chúa khác lạ, một Thiên Chúa rất đặc biêt, một Thiên Chúa mà con người không thể biểu lộ bằng óc tưởng tượng, nhưng đồng thời lại rất gần gũi với con người. Ngày nay, nhiều người cho rằng một Thiên Chúa như thế chỉ là sản phẩm của một dân tộc ngu dốt. Họ đã tạo ra một Thiên Chúatheo hình ảnh của họ và giống họ. Kỳ thực, phải chăng sự thật lại không hoàn toàn ngược lại? Theo Sách Sáng Thế, phải chăng lại không phải là chính Thiên Chúa đã tác tạo con người theo hình ảnh Ngài và giống như Ngài? Phải chăng đó chẳng là lý do khiến cho từ đáy thẳm tâm hồn con người, luôn có một ánh sáng của lý trí thúc bách con người khám phá và tìm hiểu Chân Lý? Phải chăng đó không là lý do tại sao trong đáy thẳm của trái tim con người luôn có một sự khao khát về điều Thiện, đến độ, cho dẫu có đam mê và ích kỷ đến đâu, conn người vẫn nghe được tiếng thôi thúc: “hãy sống tốt đẹp cho đến lúc chết”? Phải chăng đó không là lý do khiến cho con người có thể yêu thương và thí cả mạng sống vì người mình yêu? Phải chăng đó khôngphải là lý do tại sao mỗi một con người là một bí ẩn mà không một ai, ngay cả chính mình, có thể hiểu biết trọn vẹn? Con người quả thực là hình ảnh của Thiên Chúa và Thiên Chúa nói với con người bằng chính ngôn ngữ của con người. Đó là lý do tại sao đến lượt mình, con người cũng có thể nói về Thiên Chúa bằng ngôn ngữ của loài người. Đồng thời, như chúng ta vẫn biết, tất cả những gì chúng ta nói về Thiên Chúa ngay cả những điều cao siêu nhất, cũng giống như ngôn ngữ của trẻ em. Ngôn sứ I-sai-a đã biết điều đó khi ông thốt lên: “Quả thật, Ngài là Thiên Chúa dấu ẩn, ôi lạy Chúa Ít-ra-en, Đấng cứu độ chúng con” (Is 45,15). Tác giả của những bài thánh vịnh hát lên như sau: “Lạy Chúa, con tìm kiếm Thánh Nhan Chúa. Xin dừng che dấu Thánh Nhan Chúa khỏi chúng con” (Tv 27,9). Thánh Âu-gút-ti-nô cũng viết: “Thiên Chúa ẩn mặt để chúng ta tìm kiếm Ngài. Và Ngài là Đấng Vô Biên để chúng ta tìm kiếm Ngài và ngay cả sau khi đã gặp Ngài, chúng ta vẫn tìm kiếm Ngài”. ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI DO THÁI THỜI CHÚA GIÊ-SU Dân Do Thái ý thức sâu sắc rằng cuộc sống của họ được bao bọc trong sự hiện diện của Thiên Chúa. Đức Giê-su là một người con tiêu biểu của dân tộc. Hơn bất cứ ai, Ngài xem Thiên Chúa là Tất Cả đối với Ngài. Tuy nhiên, vào cuối đời, Ngài thấy mình bị đặt vào thế xung đột với tất cả các nhóm tạo thành cộng đồng Do Thái đương thời. Để hiểu được Đức Giê-su, chúng ta cần phải biết tại sao cuộc xung đột đã diễn ra và đã diễn ra như thế nào?
Các Sách Tin Mừng và các tài liệu lịch sử khác cho chúng ta nột bức tranh sống động của cộng đồng Do Thái. Người đại diện của quyền bính tối cao của đế quốc La Mã tại Giê-ru-sa-lem là Phong-xi-ô Phi-la-tô. Ở phía Bắc là nơi Đức Giê-su đã sống phần lớn cuộc đời của Ngài, vua Hê-rô-đê là người cai quản. Phi-la-tô, quan tổng trấn La Mã, là một con người vô lương tâm. Đối với ông, chỉ có một điều đáng kể: đó là nắm giữ quyền hành trong tay và thu thuế. Hê-rô-đê là một quân vương tiêu biều của Đông Phương: ông vừa phóng đãng vừa quỉ quyệt. Ông cai trị người Do Thái và sống trên đầu trên cổ họ bằng ân huệ mà đế quốc La Mã ban cho ông; ông làm mọi cách để dẹp bỏ mọi chống đối.
Tại Giê-ru-sa-lem cũng có các Thượng Tế là hậu duệ của các gia đình tư tế giầu có. Họ là những thành viên quan trọng nhất của Công Nghị, tức Quốc Hội của người Do Thái. Họ thi hành quyền bính mà đế quốc trao ban cho họ. Mối quan tâm duy nhất của họ là làm thế nào để những giờ cầu nguyện và tế tự trong Đền thờ Giê-ru-sa-lem được diễn ra trong trật tự và điều hòa, cũng như dân chúng tuân thủ từng chi tiết các qui định tôn giáo và đóng thuế cho Đền Thờ.
Cũng có những người được mệnh danh là Biệt Phái. Với hàng ngàn thành viên, họ tạo thành một thứ Đảng Phái. Tất cả những cố gắng của họ là tuân giữ một cách nhiệm nhặt mọi qui định trong Luật Mô-sê. Họ rất ý thức về lòng nhiệt thành của họ và khinh bỉ tất cả những ai không suy nghĩ và hành động như họ.
Ngoài ra còn có những phần tử của nhiều đảng phái cách mạng khác. Họ thu thập khí giới để chuẩn bị cuộc chiến giành độc lập khỏi đế quốc La Mã. Không những họ căm thù đế quốc La Mã, mà còn ghết cả những người Do Thái cộng tác với đế quốc.
Và cũng giống như bất cứ nơi nào, nước Do Thái thời Đức Giê-su cũng có những người giầu. Dĩ nhiên họ là hạng người chỉ biết có tiền bạc. Họ hưởng cuộc sống giầu sang mà không hề đếm xỉa đến cảnh khốn khổ của những người xung quanh. Cũng giống như những người thu thuế là bọn người ăn bớt phần thuế phải đóng cho đế quốc La Mã, những người giầu có cũng sống trên xương máu của những người nghèo.
Có cả một đám dân nghèo như các nông dân, các ngư phủ, những người sống bằng tiểu công nghiệp: họ chỉ có một quan tâm duy nhất, đó là làm sao kiếm đủ cơm bánh mỗi ngày; mơ ước duy nhất của họ là một ngày nào đó được thoát khỏi cảnh khốn cùng và tìm gặp một vùng đất chẩy sữa và mật ong.
Cuối cùng, trong bức tranh xã hội ấy, người ta không thể không kể đến vô số các góa phụ, các trẻ mồ côi, những người tàng tật, bệnh hoạn, những người phong cùi. Không nhận được bất cứ sự săn sóc nào, họ hoàn toàn sống bên lề xã hội.
Sợi dây có thể nối kết những giai tầng xã hội khác nhau trên đây, chính là niềm tin của họ nơi Thiên Chúa Ít-ra-en. Tuy nhiên, vào thời Đức Giê-su, Thiên Chúa dường như xa cách với con người. Sự thành công và giầu có của một Phi-la-tô hay của một Hê-rô-đê dường như muốn chứng minh rằng có một niềm tin hay không, không còn là điều quan trọng nữa. Các tư tế hầu như chỉ còn biết lo tuân giữ những nghi thức bề ngoài. Những người Biệt phái chỉ biết giữ từng chi tiết trong những qui định về ngày nghỉ lễ, về thời gian dành cho các buổi cầu nguyện, về việc kiêng cữ một số thức ăn , về những huy hiệu gắn trên áo thụng, cũng như việc rửa tay trước khi ăn. Niềm tin vào Thiên Chúa xem ra chỉ còn là chuyện của người giầu. Hoặc niềm tin đó chỉ còn là một thứ căm thù mà các nhóm cách am5ng khônng quảng bá. Thiên Chúa xem ra như quên lãnh những đám dân nghèo, hạng người mà những người biệt phái không ngừng kết án là tội nhân, bởi vì họ không tuân giữ luật Mô-sê. Cứ như Thiên Chúa nổi giận đối với những người phong cùi và các bệnh nhân; Cứ như những tai họa xẩy đến cho họ là sự trừng phạt của Thiên Chúa. Vào thời Đức Giê-su, cũng như ngày nay, Thiên Chúa dường như vắng bóng trong cuôc sống của con người. Ý tưởng ấy khiến cho một số người nghĩ rằng không hề có một Thiên Chúa nào cả. GIÁO HUẤN CỦA CHÚA GIÊ-SU Chính trong một xã hội như thế mà thình lình, người ta nghe được một tiếng nói mới thốt lên như sau: “Thời giờ đã mãn. NướcChúa đã gần đến” (Mc 1,15). Sư xuất hiện của Chúa Giê-su cũng đồng nghĩa với một tiếng kêu mãnh liệt: “Thiên Chúa đã sai tôi. Giờ đây, bởi vì tôi ở giữa anh em, cho nên Thiên Chúa cũng đang ở giữa anh em.” Đối với Chúa Giê-su, Thiên Chúa là Tất Cả. Chỉ có Thiên Chúa mới đáng kể. Nhưng cũng chính vì thế mà tất cả mọi người đối với Ngài đều quan trọng. Tất cả mọi người, không trừ một người nào. Mỗi một con người đều vô cùng quan trọng đối với Chúa Giê-su. Nghèo hèn, dốt nát, yếu nhược và ngay cả tội lỗi, địa vị xã hội dù có thấp hèn đến đâu, mỗi người đều quan trọng đối với Chúa Giê-su. Mỗi người đều quan trọng hơn cả lề luật, các nghi lễ, các lề thói và các qui định. Chúa Giê-su đã tuyên bố: “Ngày hưu lễ được làm ra vì con người, chứ không phải con người được dựng nên vì lề luật” (Mc 2,27). Những người biệt phái sửng sốt và khó chịu và khó chịu vì một lời tuyên bố như thế. Theo sự chú giải của những người biệt phái, trong ngày hưu lễ, không được phép chữa bệnh. Nhưng Chúa Giê-su vẫn chữa lành tất cả những bệnh nhân được mang đến với Ngài. Ngài đặt câu hỏi: “Tại sao trong ngày hưu lễ không được phép làm điều thiện….không được cứu sống?” (Mc 3,4). Tại sao chúng at có thể để cho một người phải đau đớn thêm một ngày nữa chỉ vì ngày hưu lễ? Chúa Giê-su không khinh thường những qui định của Luật Cựu Ước. Tuy nhiên, Ngài không xem những qui định ấy là luật tối thượng của cuộc sống hoặc như là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa. Những qui định về việc được phép hay không được phép ăn một số thức ăn không phải là lệnh của Thiên Chúa. “Không có gì ở ngoài vào trong con người có thể làm cho nó ra nhơ bẩn. Bởi vì điều đó không vào trong tâm hồn, mà đi vào bụng mà thôi…Cái từ bên trong tâm hồn con người mà ra, cái đó mới làm cho con người nhơ bẩn. Vì từ bên trong, từ lòng người mà phát ra những tư tưởng xấu xa như tà dâm, trộm cướp, giết người, ngoại tình, tham lam, hung ác, gian dối, phóng đãng, ghen tương, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng (Mv 7,18-23). Tất cả đều tùy thuộc vào ở tâm hồn con người. Tâm hồn của con người trong sạch khi nó yêu Chúa với tất cả sức lực và yêu thương đồng loại như chính mình (Mc 12,30-32). Và người đồng loại ấy không phải chỉ là người bạn tốt, một người láng giềng, một người đồng bào. Người đồng loại ấy là tất cả mọi người không trừ một người nào, như Chúa Giê-su đã mô tả trong bài dụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân hậu (Lc 10,30-37). Một người thông luật hỏi Ngài: “Ai là người đồng loại của tôi?” Ai là tha nhân của tôi? Người thông luật tự đặt mình đứng giữa một vòng tròn. Vấn đề duy nhất của ông la ông phải nới rộng cái vòng tròn ấy bao nhiêu để ôm lấy người đồng loại. Và Chúa Giê-su đã trả lời bằng một dụ ngôn. Có một người kia bị cướp bóc và bỏ nằm dở sống dở chết bên vệ đường. Một vị tư tế từ Giê-ru-sa-lem đi qua, kế đó một thày Lê-vi, tức một người phụng sự trong Đền thờ, cả hai đều đi qua mà không hề dừng lại để nhìn đến con người đáng thương ấy. Sau vị tư tế và thày Lê-vi, một người Sa-ma-ri, tức một kẻ mà người Do Thái thù ghét, cũng đi qua đó. Khi thấy nạn nhân nằm bên vệ đờng, ông dừng lại. Ong thương cảm cho kẻ lạ mặt; ông bèn dừng lại rửa và băng bó các vết thương, rồi đặt người đàn ông lên lưng lừa của mình và đưa người đó đến một quán trọ. Ong trả tiền cho người chủ quán trọ. Chúa Giê-su kết thúc bài dụ ngôn bằng một câu hỏi: “Trong ba người đó, ông nghĩ ai là người đã tỏ ra là người thân cận với người sa vào tay bọn cướp?” Vị thông luật dĩ nhiên đã trả lời: “Thưa chính là người đã tỏ lòng thương đối với ông ta” Chúa Giê-su nói với ông: “Ong hãy về và làm như vậy”. Chúng ta không nên hỏi ai phải là người đáng chúng ta kể là thân cận. Tất cả mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những kẻ kém may mắn, những người mang thương tích, những tâm hồn đổ vỡ, tất cả những ai cần đến tấm lòng quảng đại và sự trợ giúp huynh đệ của chúng ta. Tất cả đều là những kẻ mà Chúa bảo chúng ta phải nhìn thấy Ngài trong họ. Chúng ta được đòi hỏi phải trở nên những người thân cận đích thực để yêu thương kẻ khác như chính mình. “Hãy yêu thương tha nhân như chính mình ngươi”. Vào khoảng cuối đời, Chúa Giê-su còn đi thêm một bước nữa: “Hãy yêu thương nhau, như Ta đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Đó là giới răn mới của Chúa Giê-su. Đó là giới răn duy nhất của Ngài. Đó là giới răn bao trùm tất cả mọi giới răn. Chúa Giê-su đã yêu thương chúng ta hơn chính mạng sống của Ngài. Ngài chỉ sống và chết cho người khác. Yêu như Ngài đã yêu, đó là mệnh lệnh của Chúa Giê-su, đó là ý muốn của Chúa Cha. Nếu chúng ta không biết đến mệnh lệnh này, thì cho dù chúng ta có tuân giữ mọi nghi thức, tất cả cũng đều vô ích. “Khi ngươi đến dâng của lễ nơi bàn thờ và chợt nhớ ra người anh em có điều bất hòa với ngươi, hãy để của lễ lại trước bàn thờ và trở về làm hòa với người anh em trước đã, rồi mới đến dâng của lễ” (Mt 5,23-24). Thiên Chúa không muốn một lời cầu nguyện hay một hy lễ không có tình yêu. Ngay cả một tư tế suốt ngày bận bịu trong Đền thờ Giê-ru-sa-lem, nếu ông không có bác ái, thì ông chỉ là một người không hề biết đến quả tim của Chúa. Thái độ của Chúa Giê-su quả đã làm cho hàng tư tế ở Giê-ru-sa-lem khó chịu, bởi vì họ luôn bám vào quyền hành của họ.
Nhưng Chúa Giê-su không sợ chuyện người ta khó chịu về những lời nói của Ngài. Trong một xã hội mà sự thù ghét người ác được xem như là một nhân đức, Chúa Giê-su không ngần ngại đưa ra một thách đố: “Các ngươi hãy yêu thương kẻ thù của các ngươi”. Lời của Ngài thật rõ rệt và dứt khoát: “Hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho kẻ thù ghét các ngươi, hãy chúc phúc cho kẻ nguyền rủa các ngươi, hãy cầu nguyện cho kẻ vu vạ các ngươi. I vả má bên này, ngươi hãy giơ má bên kia cho họ nữa. Và ai cưỡng đoạt áo ngoài của ngươi, thì đừng cản họ lấy cả áo trong nữa. Ai xin điều gì, các ngươi hãy cho; Ai lấy của gì, dừng đòi lại. Các ngươi muốn người ta làm cho mình thế nào, thì hãy làm cho người ta như vậy. Vì nếu yêu kẻ yêu mình thì có phúc gì? Kẻ tội lỗi cũng yêu kẻ yêu mình. Nếu các ngươi làm ơn cho kẻ làm ơn cho mình thì có phuc gì? Vì kẻ tội lỗi cũng làm như vậy. Nếu các ngươi cho vay mượn và mong được trả lại, thì các ngươi được phúc gì? Vì kẻ tội lỗi cũng cho kẻ tội lỗi vay mượn để thu lại đủ số. Phần các ngươi, hãy yêu thương thù địch mình, hãy làm ơn, hãy cho vay mượn mà không trông đòi lại. Như thế, phần thưởng của các ngươi sẽ rất lớn và các người sẽ nên con Đấng Cao Cả, vì Người nhân từ đối với kẻ vô ơn và ích kỷ. Các ngươi hãy nhân từ như Cha các ngươi là Đấng Nhân Từ” (Lc 6,27-36).
Những phần tử của đảng cách mạng hẳn đã phải nghe những lời trên đây. Lúc đầu họ tưởng rằng Ngài là bạn của những người cùng khổ và bị áp bức; họ tưởng Ngài có thể là người lãnh đạo của phong trào đấu tranh. Nhưng giờ đây, họ thất vọng. Làm sao họ có thể khởi xướng một cuộc nổi dậy đẫm máu dưới sự lãnh đạo của một người tuyên bố rằng cần phải yêu thương kè thù? CÁCH SỐNG CỦA CHÚA GIÊ-SU Lòng bác ái của Chúa Giê-su không có giới hạn. Tuy nhiên, Ngài dành sự quan tâm và lòng ưi ái cho những người nghèo khổ, những người bị áp bức, những người bị khinh bỉ, những người bị ruồng bỏ, các bệnh nhân. Một người phong cùi nghe nói đến quyền năng có thể thực hiện những điều lạ lùng nơi Ngài. Anh ta đến gần Ngài, Ngài đã tỏ lòng thương xót anh. Ngài đưa cánh tay ra, chạm đến anh, đây là điều là lề luật ngăn cấm. Và chỉ bằng một lời nói, Ngài đã chữa lành anh (Mc 1,40-42). Có lẽ đây là lần đầu tiên có một bàn tay thân tình chạm đến anh. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, anh cảm nghiệm được ó một người nào đó yêu thương anh và săn sóc cho anh. Từ trong ánh mắt của Chúa Giê-su, có lẽ đây là lần đầu tiên anh khám phá ra rằng Thiên Chúa yêu thương anh. Chúa Giê-su cũng đã bày tỏ một tình thương tương tự đối với tất cả những kẻ yêu nhược hay vấp ngã. Ngài không hề tỏ ra khó chịu khi một người đàn bà nổi tiếng xấu trong thành đến rửa chân Ngài bằng nước mắt của bà và dùng tóc mà lau chân Ngài (Lc 7,38). Ngài ngồi ăn uống đồng bàn với người thu thuế mà mọi người đều khinh bỉ như một tội nhân (Mt 9,10). Khi những người biệt phái gỉa hình tỏ ra bất bình, Ngài thẳng thừng quở trách họ: “Những phường thu thuế và bọn đĩ điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi” (Mt 21,31). Chúa Giê-su đã có thể tỏ ra rất cứng rắn với những kẻ kiêu ngạo, ng kẻ không biết quan tâm đến người khác, những kẻ hãm hại và khinh bỉ người khác.
Đối với người giầu, Ngài không ghét họ. Ngài không ganh tỵ với họ. Ngài thương hại họ mà thôi. Họ quả là những kẻ ngu ngốc. Họ tích luũy của cải và tự nhủ rằng tiền bạc sẽ làm cho họ ăn uống thỏa thuê và vui hưởng cuộc sống. Tuy nhiên, chỉ trong chớp nhoáng, sự chết xẩy đến ban đêm và họ phải tính sổ với Thiên Chúa (Lc 12,16-21). Tất cả của cải ma 2họ thu tích được hóa ra vô ích. Tiền bạc mà họ tôn thờ như Chúa của họ đã lừa dối họ. Đáng thương thay kẻ không hề biết mở mắt để nhìn thấy người ăn xin ngày ngày ngồi trước cửa nhà mình. Quần áo lụa là gấm vóc đã không làm được gì cho người đó. Yến tiệc mỗi ngày cũng trở thành vô ích. Người đó sẽ đi thẳng vào hỏa ngục. Hắn sẽ phải than khóc mãi mãi (Lc 16,19-31). Lời dạy dỗ trên đây của Chúa Giê-su cho thấy những người giầu có bất hạnh biết bao!
Chúa Giê-su đã công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho người nghèo (Mc 11,5). Ngài sống cho những kẻ bé mọn. Trái tim của Ngài, sức mạnh của Ngài, thời giờ của Ngài thuộc về họ. Ngài không có nhà riêng cho Ngài. Ngài không có cả gối để tựa đầu. Ngài trao ban tất cả những gì Ngài có mà không chờ đợi được đền đáp. Ngài biết rõ rằng con người không phải là thần thánh và ngay cả những người nghèo cũng không phải là người toàn thiện. Tuy nhiên, Ngài đến không phải để kết án, nhưng để công bố sự thống hối và ban ơn tha thứ (Mt 9,13). Chúa Giê-su là một con người không hề sống cho chính mình, mà chỉ sống cho người khác. Đối với Ngài, mỗi một người là một người bạn; mỗi một người là một kho tàng độc nhất vô nhị, một kho tàng bất khả di nhượng. TRÁI TIM CỦA CHÚA CHA Tại sao Chúa Giê-su đã sống như thế? Thưa bởi vì Ngài biết rõ trái tim của Chúa Cha. Chúa Giê-su biết và sống với niềm xác tín rằng Chúa Cha là Tình Yêu vô biên. Chúa Cha là Đấng Tạo Hóa và Chúa Tể Trời Đất (Mt 11,25). Ngài là Vua và là Đấng Phán Xét (Mt 18,23). Ngài biết và thấy tất cả môi sự (Mt 11,25). Tuy nhiên, tiên vàn, Ngài là Đấng Tốt Lành (Mt 10,18). Thiên Chúa của Chúa Giê-su là một Thiên Chúa Thiện Hảo. Ngài là Đấng trang điểm cho hoa cỏ đồng nội (Mt 6,28-30) và nuôi nấng chim trời (Mt 6,26). Ngài là Thiên Chúa hằng săn sóc chúng ta; Ngài đếm cả từng sợi tóc trên đầu chúng ta (Lc 12,6-7).
Có ba dụ ngôn nổi tiếng qua đó Chúa Giê-su mô tả lòng nhân từ và thiện hảo của Thiên Chúa. Chúa Cha là người mục tử tốt lành đi tìm con chiên lạc và khi đã tìm thấy nó, liền vác nó trên vai. Vui mừng trở về nhà, người mục tử mời bạn bè và bà con láng giềng đến để chia vui với mình (Lc 15,1-7). Trong Tin Mừng theo Thánh Gio-an, Chúa Giê-su tự nhận mình là người mục tử tốt lành. Ngài là hình ảnh đích thực của Chúa Cha. Trong một bài dụ ngôn khác, Chúa Cha được so sánh với một người đàn bà quét dọn trong từng góc nhà để tìm cho kỳ được đồng bạc dã đánh mất. Khi đã tìm thấy, bà ta mời bạn bè đến để chia vui (Lc 15,8-10). Nhưng còn hơn tất cả mọi hình ảnh khác, Chúa Cha là người cha nhân từ ngày ngày ra trước ngõ đứng đợi người con hoang đàng trở về. Khi vừa thấy đứa con trở về tiều tụy rách rưới, người cha vẫn chạy đến ôm lấy nó và hôn lấy hôn để. Ong không cần phải nghe những gì người con muốn nói, nhưng tức khắc ra lệnh cho gia nhân mở đại tiệc ăn mừng. “Chúng ta hãy ăn uống vui mừng, vì con ta đay đã chết nay sống lại; đã mất nay tìm thấy lại” (Lc 15,11-32).
Đó chính là một Thiên Chúa mà Chúa Giê-su đã biết. Trái tim của Ngài nên một với trái ti của Thiên Chúa đó. Lẽ sống của Ngài, mục đích duy nhất của Ngài là thực thi ý muốn của Thiên Chúa đó (Ga 4,34). Và ý muốn của Thiên Chúa chính là yêu như Thiên Chúa yêu. Ngài không muốn để cho một trong những kẻ hèn mọn nhất phải hư mất (Mt 18,14). Dưới mắt Chúa Giê-su, Tình yêu của Thiên Chúa ôm trọn mỗi một con người. Đó là lý do tại sao tất cả mọi người đều vô cùng quan trọng đối với Chúa Giê-su. Không có một người nào là vô gía trị đối với Ngài. Ngài không bao giờ muốn biết họ có xứng đáng với tình yêu của Ngài hay không. Ngài yêu thương họ vô điều kiện. Ngài yêu thương họ đến độ quên chính mình. Ngài yêu thương họ bằng cách thế Thiên Chúa yêu thương họ. Tin Mừng mà Ngài mang đến cho con người là: Thiên Chúa ở với bạn như con cái của Ngài. Do đó, bạn cũng hãy cố gắng sống như một người con tốt lành. Thiên Chúa tha thứ cho bạn, bạn cũng phải tha thứ cho người khác. Bạn hãy đón nhận Nước Thiên Chúa như một khi tàng vô giá (Mt 13,44). Bạn hãy chấp nhận tình yêu của Thiên Chúa với lòng tín thác, như thể một đứa bé đón nhận tình yêu của cha mẹ nó. Bạn hãy tin tưởng nơi Thiên Chúa. Ngài lắng nghe lời cầu nguyện liên lỉ của con cái Ngài (Mt 6,8; 7,7-11).
Chúa Giê-su không có ý nói rằng các tín hữu chỉ cần nói một tiếng và Thiên Chúa se cất khỏi mọi sự dữ và mọi tai họa khỏi cuộc sống của họ. Trái lại là khác. Con cái của Nước Thiên Chúa phải vác thập gía của họ mỗi ngày (Lc 9,23). Người ta sẽ bách hại họ, cầm tù họ và ngay cả giết hại họ (Mt 5,10-12; Lc 21,12-17). Báo trước những nỗi khổ đau của các môn đệ, Chúa Giê-su lại nói: “nhưng không có một sợi tóc nào trên đầu các con phải hư mất cả” (Lc 21,18). Cho dẫu họ có giết được các con, thì điều đó cũng không đáng kể bằng một sợi tóc rơi xuống khỏi đầu các con. Sao thế? Thưa là bởi vì chỉ có một diều hệ trọng đối với con người (Lc 10,42) và không ai và không gì có thể cất khỏi họ. Chỉ có con người khờ dại mới có thể đánh mất đi mà thôi. Chỉ có một điều bất hạnh đối với con người, đó là không tin và không chia sẻ Tình Yêu của Thiên Chúa. Điều đó xẩy đến khi con người tự cho mình là trung tâm của vụ trụ, xét đoán mọi sự dựa trên quyền lợi riêng tư của mình và hành động theo như vậy. Khi con người chỉ sống cho riêng mình mà không sống bằng tình yêu, nó lể như đã chết rồi. Lòng bác ái tự nó dẫn đến sự sống vĩnh cửu và bác ái là hoa trái cuả niềm tin, mà niềm tin là nhận chân rằng Thiên Chúa là Tình yêu và hễ ai sống trong tình yêu thì cũng ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người ấy (1 Ga 4,16). NHỮNG PHÉP LẠ CỦA CHÚA GIÊ-SU Sự xuất hiện của Chúa Giê-su trong cuộc sống hằng ngày của dân tộc Ngài quả là một đột biến. Ngài dạy dỗ họ như một kẻ có quyền chứ không như các thày thông luật của họ (Mt 7,29; Mc 1,22). Các thính gỉa của Ngài đều không ngừng thắc mắc về điều đó. Dân chúng tuôn đến với Ngài bởi vì Ngài có quyền năng chữa lành bệnh tật. Các tác giả Tin Mừng đã ghi lại cho chúng ta những phép lạ của Ngài. Nhiều người thời đại nghi ngờ về những bài tường thuật về các phép lạ đó, nhưng đó là những câu chuyện do những người mất thấy tai nghe kể lại và lồng vào trong suốt cuộc đời của Chúa Giê-su. Đó là những câu chuyện mà người ta không thể loại bỏ ra khỏi cuộc d8ời của Ngài. Những phép lạ này là nguyên nhân đưa đến sự thành công mà Chúa Giê-su đã đạt được ngay từ đầu (Mc 1,45). Những kẻ thù của Ngài tố cáo Ngài là đã làm các phép lạ do quyền năng của ma quỉ (Mc 3,27). Khi họ quyết định loại trừ Ngài, thì lý do chính họ đưa ra là “người này đã làm nhiều điều lạ lùng” (Ga 11,47-50).
Quả thực những phép lạ của Chúa Giê-su là những điều lạ lùng. Cũng giống như một luồng ánh sáng chiếu tỏa trên không trung, mỗi một phép lạ của Chúa Giê-su đều tỏ bày cho chúng ta rằng Thiên Chúa là Chủ Tể của sự sống, rằng Ngài là Đấng ban sự sống, Ngài mạnh hơn sự chết cà tất cả những gì loan báo sự chết. Mỗi một phép lạ mạc khải cho chúng ta rằng Thiên Chúa là Đấng Thiện Hảo, Ngài ở kề bên chúng ta và lắng nghe chúng ta. Những phép lạ của Chúa Giê-su là những dấu chỉ cho thấy Nước Thiên Chúa đã gần đến. Những phép lạ ấy là một lời mời gọi con người hãy đến với Chúa với một lòng tin vô điều kiện. Những phép lạ ấy, cũng giống như bất cứ một dấu hiệu nào, chỉ thưc5 sự có ý nghĩa là bởi vì chúng biểu tỏ một thực tại khác. Bệnh nhân mà Chúa Giê-su đã chũa lành rồi cũng sẽ ệnh lại và chết. Đám đông mà Ngài cho ăn no nê từ phép lạ nhân bánh ra nhiều, rồi cũng sẽ cảm thấy đói lại. Kẻ chết mà Ngài cho sống lại có lẽ sẽ sống thêm vài năm nữa rồi cũng sẽ chết. Nếu một phép lạ không là một dấu chỉ, thì nó cũng chỉ là một cố gắng ngu xuẩn chỉ tổ gây thêm xáo trộn cho một thế giới tự nó đã quá nghèo nàn. Các phép lạ của Chúa Giê-su là những dấu chỉ, những lời mời gọi con người tin vào Lời Chúa mà Ngài đã công bố: “Ta là Sự Sống Lại và là Sự Sống. Ai tin Ta, dù có chết, cũng sẽ được sống” (Ga 11,25). Người đó sẽ sống, không phải sống thêm vài năm, nhưng là sống đời đời với Thiên Chúa.
Nếu Thiên Chúa cứ mãi đổ tràn những phép lạ trên chúng ta, thì có lẽ chúng ta không dễ gì đón nhận những lời hứa của Ngài với một niềm tin phó thác và với một tình yêu vô vị lợi. Tin vào một Thiên Chúa như thế hóa ra chẳng là đeo đuổi những toan tính ích kỷ của chúng ta và như vậy là phải chết vĩnh viễn. Chỉ có tinh yêu vô vị lợi mới dẫn đưa chúng ta về cõi ống trường sinh. Đó là lý do khiến Chúa Giê-su phải lẩn tránh đám đông đang tuôn đến với Ngài chỉ vì Ngài đã cho họ ăn no nê. “Quả thật, quả thật, ta nói với các ngươi, các ngươi đi tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy những dấu lạ, mà chỉ vì các ngươi đã được ăn uống no thỏa” (Ga 6,26). Ngài muốn đám đông phải tin tưởng vì đã chứng kiến những dấu lạ. Ngài muốn họ phải tin rằng trong Ngài, Nước Thiên Chúa đã xuất hiện giữa họ. Ngài muốn họ đi theo Ngài trong con đường của tin tưởng, cậy trông và yêu mến, để cùng với Ngài tiến về Nước của Chúa Cha. Nhưng họ chỉ quan tâm đến cơm bánh hằng ngày. Một khi đã thấy rằng Ngài không còn muốn làm phép lạ để họ được ăn uống đầy đủ mỗi ngày nữa, họ đói khát và rồi lãng quên Ngài như một tiên trị vô dụng (Ga 6,60-66). Sự việc cứ diễn tiến theo cái đà ấy: giới lãnh đạo mỗi ngày càng thù ghét Ngài trong khi đám đông dân chúng mỗi lúc càng thất vọng về Ngài. Những kẻ trung thành đi theo Ngài chỉ còn là một nhóm nhỏ các môn đệ của Ngài.
CHÚA GIÊ-SU VÀ CÁC MÔN ĐỆ CỦA NGÀI Chúa Giê-su đã tự chọn cho mình một số môn đệ. Đa phần là những ngư phủ đơn sơ mộc mạc của miền Ga-li-lê. Họ đã bỏ mọi sự và đi theo Ngài. Trong đám họ, Ngài chọn 12 người để luôn sát cánh bên Ngài (Mc 3,13-15). Thỉnh thoảng Ngài sai họ đi loan báo rằng Nước Chúa đã gần đến. Đó là lý do tại sao họ được gọi bằng danh xứng là “tông đồ”. Từ “tông đồ” được dịch từ một tiếng Hy Lạp có nghĩa là “được sai đi”. Sau khi hoàn thành sứ mệnh, họ trở về và cùng với Chúa Giê-su đi rảo qua khắp các ngã đàng cát bụi của Ít-ra-en.
Trong số 12 tông đồ, nổi bật nhất có hai anh em Gio-an và Gia-cô-bê và nhất là Phê-rô. Chính Chúa Giê-su đã chọn cho người dân chài Xi-mon biệt hiệu Phê-rô này. Phê-rô có nghĩa là Đá. Có lần Ngài hỏi các môn đệ: “Người ta bảo Con Người là ai?” (Mt 16,13). Các ông lặp ại ý kiến của nhiều người khác nhau. Lúc đó Ngài mới hỏi các ông: “Phần các con, các con bảo Ta là ai?” Các môn đệ sợ phải trả lời cho một câu như thế. Các ông cản thấy đây là lúc quyết liệt nhất trong cuộc đời của các ông. Điều này cũng thường xẩy ra cách này cách khác trong cuộc đời của mỗi người. Liệu mỗi người có chấp nhận Chúa Giê-su Na-da-rét và uyết định về số phận của mình không? Phê-rô bước ra phía trước và trả lời: “Thày là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Trong tiếng Hy Lạp, “Ki-tô” có nghĩa là “người được xức dầu”. Từ này cũng được chuyển dịch từ tiếng Hy Bá Lai “Mê-si-ah”. Đây là tước hiệu mà người Do Thái thời Chúa Giê-su dành cho Vị Cứu Tinh mà họ hằng mong đợi. Như vậy, Phê-rô tuyên xưng rằng Chúa Giê-su, vị Thày nghèo nàn, vô danh, bị bỏ rơi là chính Đấng Cứu Tinh mà dân Do Thái hằng mong đợi. Phê-rô còn gọi Ngài là Con Thiên Chúa. Có thể trong giây phút ấy, Phê-rọ chưa hiểu được trọn vẹn ý nghĩa của lời tuyên xứng của mình. Nhưng Chúa Giê-su khen ngợi ông. Ngài nói: “Phúc cho con, hỡi Xi-mon, vì Cha Ta đã mạc khải cho con điều đó…Và Ta nói cho con biết, con là Phê-rô, nghĩa là Đá và trên Đá này Ta sẽ xây Giáo hội của Ta” (Mt 16,18). LÊN ĐƯỜNG ĐI GIÊ-RU-SA-LEM "Ta sẽ xây Giáo hội của Ta”: đây là điều chưa từng nghe nói đến. Dân Do Thái chỉ nhận biết có một “Giáo hội” hay một cộng đồng, đó là cộng đồng của Gia-vê, nghĩa là chính dân tộc Do Thái. Nhưng Chúa Giê-su lại nói đến sự phát sinh của một cộng đồng mới, “cộng đồng của Ngài”. Vào thời điểm đó, xem ra viễn ảnh của một cộng đồng như thế thực là viển vông. Các nhà lãnh đạo của xã hội đã quyết định loại trừ kẻ gấy rối loạn đến từ Na-da-rét. Những người biệt phái đã phán quyết rằng Hắn phải chết, bởi vì Hắn là một kẻ vi phạm lề luật của Mô-sê. Vị thượng tế của Giê-ru-sa-lem muốn thấy Hắn hoàn toàn bị tiêu diệt, bởi vì Hắn là mối nguy hiểm cho cơ chế tôn giáo, nghĩa là mối nguy hiểm cvho sự tuân giữ các lễ nghi tôn giáo của Đền thờ cũng như cho quyền bính tối cao của giai cấp tư tế. về phần Hê-rô-đê, ông đã giết Gio-an Tẩy Gỉa bởi vì vị tiên tri này đã dám phê bình ông. Đối với Hê-rô-đê, Chúa Giê-su là một người nguy hiểm, bởi vì Ngài không hề tỏ ra sợ hãi đối với quyền bính và lại xác quyết sự độc lập của mình duy chỉ dựa trên lòng tín thác vào Thiên Chúa. Lập trường của Chúa Giê-su lại hoàn toàn đối nghịch với những người giầu có và những kẻ có uy thế, cũng như với cả sức mạnh củalề luật và truyền thống. Đứng trước những kẻ thù đầy uy quyền, Chúa Giê-su không có một chỗ dựa nào khác hơn là mối tương quan mật thiết của Ngài với Thiên Chúa, Đấng mà Ngài gọi là Cha, là Ap-ba, thân mật như chữ Ba trên môi miệng đứa trẻ. Ngài nói chuyện với Chúa Cha một cách thân mật khi cầu nguyện và Ngài cũng nói về Chúa Cha với một giọng điệu như thế. Ngài biết rằng Ngài là “Người Con Yêu Dấu” của Chúa Cha (Mt 3,17). “Tất cả mọi sự đã được Chúa Cha trao phó cho Ta và không ai biết Con trừ ra Cha và không ai biết Cha trừ ra Con và những ai mà Con đã chọn để mạc khải Cha cho họ” (Mt 11,27). Những lời này của Chúa Giê-su cho thấy bí ấn sâu thẳm của tâm hồn Ngài. Tuy nhiên, những người biệt phái và kẻ thù của Ngài không thể nào chịu đựng được những lời lẽ như thế. Với một giọng điệu đầy giận dữ, họ hỏi Ngài: “Ông tự cho ông là ai?” (Ga 8,53).
Tình cảnh của Chúa Giê-su mỗi lúc một trở nên nguy ngập. Ngài đã có thể lẩn trốn và dĩ nhiên, đưa cả nhóm các tông đồ trốn sang một góc nào đó trong sa mạc Ả Rập. Ngài cũng có thể trốn sang những miền ở ngoài lãnh thổ Ít-ra-en như Ngài đã từng làm một thời gian ngắn trước đó (Mc 7,24). Nhưng làm như thế là lẩn tránh sứ mệnh của Ngài. Ngài đã được Chúa Cha sai đến không phải vì lợi ích của một nhóm những người đã được tuyển chọn. Ngài được sai đến là để công bố cho toàn dân Do Thái và toàn thế giới rằng Nước Thiên Chúa đã đến. Do đó, một lần nữa, Ngài lên Giê-ru-sa-lem nhằm vào ngày Lễ Vượt Qua, tức ngày đại lễ kỷ niệm cuộc giải phóng của người Do Thái. Đây là dịp mà vô số khách hành hương tập trung về thành thánh. Đây là lần cuối cùng Chúa Giê-su về Giê-ru-sa-lem.
Ngài biết rõ những gì đang chờ đợi Ngài khi Ngài vào thánh đô của những kẻ thù. Ngài cũng biết rằng sẽ không có một thỏa hiệp nào nữa. Ngài biết rằng Ngài sẽ không quay trở lại. Ngài sẽ không dùng quyền năng để làm phép lạ và tự cứu lấy mình. Ngài đã không bao giờ làm phép lạ cho riêng mình. Tất cả những phép lạ Ngài đã làm là vì lợi ích của người khác. Ngài biết rằng những kẻ thù của Ngài sẽ giết Ngài, nhưng Ngài vẫn tiến vào Giê-ru-sa-lem. Con người dã không tin ở lời Ngài. Ngài cần công bố một lần nữa và lần này, bằng chính mạng sống của Ngài: Ngài phải công bố tất cả những gì Ngài đã công bố trong suốt cuộc sống của Ngài. Đó là Nước Thiên Chúa đã đến gần. Thiên Chúa là Tình Yêu. Ai sống trong tình yêu là sống trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở trong người đó.
Khi Ngài vừa vào thành Giê-ru-sa-lem, một lần nữa, dân chúng hồ hởi tung hô Ngài (Mt 21,8-11). Nhưng Ngài đã không lợi dụng cợ hội ấy để huênh hoang đối với kẻ thù của Ngài. Vòng vây âm mưu đang bắt đầu thắt chặt lại xung quanh Ngài. Giu-đa, một trong những tông đồ của Ngài, đã tình nguyện giao nộp Ngài cho những kẻ có quyền. Có thể Giu-đa đã phản bội, vì ông thất vọng vì những chờ đợi của ông đã không được đáp trả. Cũng như nhiều người khác, ông hy vọng rằng Chúa Giê-su sẽ là người lãnh đạo cuộc nổi loạn chống lại đế quốc La Mã. CUỘC KHỔ NẠN Vài ngày sau khi vào thành Giê-ru-sa-lem, một lần nữa và là lần cuối cùng, Chúa Giê-su đã cùng các môn đệ của Ngài cử hành Bữa Tiệc Ban Chiều như thông lệ. Trong bữa tối cuối cùng, Ngài đã bày tỏ toàn vẹn Con Người và sứ mệnh của Ngài trong một nghi thức vô cùng đơn sơ nhưng lại sâu sắc. Ngài cầm lấy bánh trong tay, be ra và trao cho các môn đệ và nói: “Hãy cầm lấy mà ăn. Này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con”. Sau bữa ăn tối, Ngài cầm lấy chén rượu. Cũng thế, Ngài trao cho các môn đệ và nói: “ất cả các con hãy cầm lấy mà uống. Này là Máu Ta, Máu Tân Ước vĩnh cửu, sẽ đổ ra cho các con. Hãy làm lại việc này mà nhớ đến Ta” (Mc 14,22-24; Lc 22,17; 1 Cr 11,24-25). Giao ước mà các tiên tri đã loan báo giờ này đã được thực hiện. Chúa Giê-su chính là hiện thân và là tác gỉa của giao ước mới. Hy tế của Ngài mang lại hòa bình và hiệp nhất giữa Thiên Chúa và con người.
Sau bữa ăn tối ấy, Chúa Giê-su và các môn đệ đến vườn Giệt-si-ma-ni. Tại đây, trong đêm tối dày đặc, Chúa Giê-su cảm thấy lo sợ trước cái chết. Ngài quì gối van xin với Chúa Cha: Ap-ba, Lạy Cha, mọi sự đều có thể đối với Cha. Xin hãy cất chén này khỏi con. Nhưng không phải là ý con, mà là Ý Cha” (Mc 14, 36). Chúa Giê-su cảm nghiệm được tất cả những gì một con người có thể trải qua, ngay cả nỗi hãi sợ trước cái chết, Tuy nhiên, ngay trong những giây phút đớn đau tốt cùng ấy, câu nói trên môi miệng Ngài vẫn là “Lạy Cha, xin cho Ý Cha được nên trọn!” Khi Ngài vừa cầu nguyện xong thì Giu-đa xuất hiện với một số binh lính và hầu cận. Họ trói Ngài lại và dẫn Ngài đến trước Công nghị của các tư tế. Tại đây, án xử của Ngài chỉ còn là một trò hề của tư pháp. Các quan tòa đã thỏa thuận với nhau về án tử hình của Ngài trước khi xét xử Ngài (Ga 11, 50). Tuy nhiên, giữa cái phiên xử khôi hài ấy, vẫn còn có một phút đáng nhớ. Cai-pha, vị thượng tề đang chủ tọa phiên xử, hỏi Chúa Giê-su một cách trang trọng như sau: “Ngươi có phải là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống không?”. Mặc dù vẫn còn đớn đau vì những thương tích trên thân thể Ngài, Chúa Giê-su vẫn đứng vững giữa những vị thẩm phán, 71 thành viên của Công nghị và Ngài dõng dạc trả lời: “Đúng thế! Và các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu Đấng Toàn Năng và sẽ đến trên mây trời” (Mc 14, 61-62). Cho đến lúc đó, Chúa Giê-su chưa bao giờ nói thẳng thừng như thế trước đám đông. Tuy nhiên, giờ đây Giờ của Ngài đã đến, Ngài không hề muốn chết vì những lời cáo gian. Ngài công khai tuyên bố Ngài là ai và tại sao Ngài đến trong thế giới này. Đó chính là lý do Ngài bị kết án. Vị thượng tế liền tuyên bố: “hắn đã nói lộng ngôn”. Tên tù với khuôn mặt đầy máu me, đã dám ngang nhiên khẳng định không những Hắn là Vị Cứu Tinh của Dân Tộc mà còn tự cho là ngang hàng với Thiên Chúa Tối Cao. Tự cho mình ngồi trên Ngai Trời bên hữu Đấng Toàn Năng, quả là một lời lộng ngôn không thể tha thứ được. Tất cả Công nghị đều đồng thanh phán quyết” “Hắn đáng chết!”
Tuy nhiên, tại Giê-ru-sa-lem, kết án tử hình một người là quyền dành riêng cho chính quyền La Mã. Do đó, Công nghị của người Do Thá cho điệu Chúa Giê-su đến dinh của Phi-la-tô, quan tổng trấn La Mã. Chính ông này mới là người có quyền đọc bản án tử hình. Lý do để họ biện minh cho sự kiện Ngài bị giải đến cho quan tổng trấn Phi-la-tô là: Ngài là một tên dấy loạn. Đây là một cáo buộc hoàn toàn không có nền tảng (Lc 23,2). Thoạt tiên, Phi-la-tô không muốn kết án Chúa Giê-su. Ong đoán rằng Ngài chỉ là một người vô tội. Nhưng khi nhận thấy rằng sự nghiệp chính trị của ông có thể bị lung lay nếu ông không làm theo ý muốn của các nhà lãnh đạo Do Thái, do đó, Phi-la-tô đành chiều theo họ. Sau một cố gắng hòa hoãn, cuối cùng ông đã đọc bản án qua đó Ngài phải bị treo trên thập gía. Binh sĩ đến lôi Chúa Giê-su đi. Họ đánh đập Ngài và dẫn Ngài lên đồi Gôn-gô-ta ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem và đóng đinh Ngài vào một cậy thập gía.
Trong ba giờ liền, Chúa Giê-su phải quằn quại trên thập gía. Dường như tất cả mọi bỉ ổi nhất của con người đều trút xuống trên Ngài. Thiên Chú giữ thinh lặng. Ngài không hề can thiệp. Ngài ẩn dấu mặt Ngài. Cơn cám dỗ trong những giây phút ấy khủng khiếp biết chừng nào! Ma quỉ, theo như Kinh Thánh ghi lại, đã cám dỗ Chúa Giê-su ngay từ lúc Ngài khởi sự sứ vụ công khai của Ngài. Ma quỉ đã dụ dỗ Ngài hãy xử dụng quyền năng làm phép lạ của Ngài vì lợi ích của riêng Ngài. Nó khuyến dụ Ngài bày tỏ cho đám đông thấy những đặc ân của Ngài để đạt cho kỳ được quyền bính của thế trần. Nhưng Chúa Giê-su đã thẳng thừng bác bỏ những cơn cám dỗ ấy, ngay cả sau này khi nhiều người cũng lặp lại. Ngài đã sống như một người nghèo, nghĩa là một cách đơn sơ và khiêm tốn. Ngài đã phản ảnh ý muốn của Thiên Chúa và thể hiện Tình yêu hoàn toàn vô vị lợi đối với con người. Nhưng giờ đây, Ngài phải chịu một cơn cám dỗ hoàn toàn khác hẳn. Ngài đã tuyên bố: “Hãy yêu thương thù địch của ngươi” và giờ đây kẻ thù đang giết Ngài một cách đớn đau và bỉ ổi. Làm sao người ta có thể yêu thương kẻ thù như thế? Ngài luôn luôn nhấn mạnh đến lòng tín thác vào Thiên Chúa và Ngài đã hoàn toàn phó thác vào Thánh Ý Thiên Chúa. Nhưng giờ đây chính Thiên Chúa ấy lại để cho kẻ thù giết hại Ngài mà không muốn lay một ngón tay để cứu thoát Ngài. Làm sao có thể tin tưởng ở một Thiên Chúa như thế? Đó là cơn cám dỗ mà Chúa Giê-su phải trải qua trong những giờ phút cuối cùng. Ngài đã đáp trả: “Lạy Cha, xin hãy tha cho chúng, vì chúng không biết việc chúng làm” (Lc 23,24). Đó là những lời đầu tiên của Ngài khi vừa bị treo lên thập gía. Đó là phản ứng của Ngài đối với cơn cám dỗ thứ nhất. Ngay cả lúc đó, Ngài vẫn tiếp tục yêu thương. Ngài đã yêu thương những kẻ kết án Ngài. Ngài đã yêu thương những kẻ hành hạ Ngài. Ngài đã yêu thương tất cả và yêu thương cho đến cùng. Ngài đã yêu thương và tha thứ. “Không có tình yêu nào lớn hơn mối tình của người thí mạng sống vì bạn hữu của mình”, chính Ngài đã nói như thế trước đó. Và giờ đây, Ngài trao ban mạng sống Ngài cho tất cả mọi người. Bởi vì đối với Ngài, mỗi người đều là một người bạn, ngay cả những kẻ phản bội Ngài, những kẻ thù ghét và loại trừ Ngài. Những lời cuối cùng của Ngài trên thập gía chính là câu đáp trả của Ngài đối với cơn cám dỗ thứ hai. Hướ Chúa Cha, Đấng mà Ngài cảm thấy như đang bỏ rơi Ngài, Chúa Giê-su thưa: “Lạy Cha, trong tay Cha, con xin phó thác hồn con” (Lc 23,46). Với tin tưởng và phó thác, với sự vâng phục của một người con ngoan, Ngài đã cúi đầu và trút hơi thở cuối cùng.
Cả cuộc sống của Chúa Giê-su là một bài tình ca đối với Thiên Chúa và đối với con người. Cái chết của Ngài là tuyệt đỉnh của Tình Yêu ấy. Cái chết ấy mạc khải một cách hoàn hảo Tình Yêu của Thiên Chúa. Thế nào là “Con của Thiên Chúa hằng sống” giờ đây được tỏ hiện một cách trọn vẹn. Ngài đã quên mình, phó thác cho Chúa Cha. Ngài đón nhận mọi sự như từ bàn tay của Chúa Cha. Ngài trả lại mọi sự cho Chúa Cha với tất cả yêu thương và hiệp nhất với Trái Tim Yêu Thương của Chúa Cha. Ngay cả viên sĩ quan người La Mã đứng dưới chân thập gía cũng cảm nhận được điều đó. Chứng kiến cái chết của Chúa Giê-su, ông thốt lên: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa” (Mc 15,39).
Đối với các môn đệ, cái chết nhục nhã của Chúa Giê-su trên thập gía chỉ là tận cùng của một kiếp người không hơn không kém. Ngài đã không thể tự cứu lấy mình. Thiên Chúa cũng chẳng cứu Ngài khỏi chết. Tất cả phải chăng không là một ảo tưởng? Đó là ý tưởng đang xâm chiếm tâm hồn khiếp đảm của các môn đệ. Trong cơn sợ hãi, họ đã bỏ chạy và lẩn trốn. Đối với họ, sứ mệnh của Chúa Giê-su xem như đã kết thúc bằng một thất bại ê chề. VÀ PHỤC SINH CỦA CHÚA GIÊ-SU Nhưng một bất ngờ đã xẩy ra. Đây là điều mà Tân Ước đã không ngừng làm chứng. Biến có6 này đã làm phát sinh một phong trào lan rộng khắp thế giới mà chúng ta gọi là Ki-tô giáo. Ngày thứ ba sau khi Chúa Giê-su chết, những người môn đệ khiếp đảm đang tụ họp nhau trong một căn nhà cửa ngõ đóng kín. Thình lình, họ nhận thức rằng Chúa Giê-su đang đứng giữa họ. Ngài nói với họ: “Bình an cho các con. Tại sao các con bối rối như thế?….Chính Thày đây!” (Lc 24,36-39; Ga 20,19-23). Thoạt tiên các môn đệ không biết phải làm gì? Họ ngỡ ngàng đến sợ hãi. Tuy nhiên, không mấy chốc, tâm hồn họ bỗng tràn ngập niềm xác tín rằng Chúa Giê-su đã sống lại, Ngài đang thực sự sống giữa các ông. Dấu hiệu đầu tiên của sự sống lại của Chúa Giê-su đó là ngôi một trống mà một số phụ nữ từng theo Ngài khi còn sống, đã phát hiện trong ngày thứ ba lúc đến thăm mộ. Nhưng những điều các phụ nữ này nói đã không thuyết phục được các tông đồ mà còn làm cho các ông thêm bấn loạn là khác (Lc 24,22-23). Tuy nhiên, “khi Ngài xuất hiện một cách sống động sau cuộc khổ nạn bằng nhiều bằng chứng, cũng như hiện ra với họ trong vòng 40 ngày và nói về Nước Thiên Chúa cho họ (Cv 1,3), thì tâm hồn họ được tràn ngập bởi một niềm tin không lay chuyển rằng “Đức Ki-tô đã thực sự sống lại từ cõi chết, Ngài là hoa quả đầu mùa của những kẻ đã yên giấc (1 Cr 15,20). Từ đó, nẩy nở trong lòng họ một niềm hy vọng kiên vững rằng “trong Đức Ki-tô mọi người đều được sống” (1 Cr 15,22). Không những chỉ có Đức Ki-tô, nhưng tất cả những ai tin tưởng và hy vọng nơi Ngài, tất cả những ai yêu mến Ngài, cũng đều có thể làm cho chúng ta sống lại.
Lá thư đầu tiên của Thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu ở Cô-rin-tô đã đưộc viết khoảng 25 năm sau những biến cố Phục Sinh. Trong lá thư, Thánh Phao-lô trình bày chính chứng từ của những người đã mắt thấy tai nghe là Phê-rô, Gia-cô-bê và các tông đồ khác và 500 môn đệ, cũng như kinh nghiệm bản thân của Ngài trên đường đi đến Đa-mát (1 Cr 15). Ngài đã tiếp xúc rộng rãi với các nhân chứng (Gl 1,18). Đọc lại bài tường thuật của Thánh Phao-lô, ai cũng đều có thể cảm nhận được niềm vui đã làm rung động tâm hồn các môn đệ khi họ nhận biết rằng Chúa Giê-su, người đã bị xem là kẻ chiến bại trong một thời gian ngắn ngủi, nay đã trở thành kẻ chiến thắng. Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại từ cõi chết. Chúa Giê-su quả thực là Đấng Ki-tô, Đấng Cứu Tinh, Vị Thiên Sai hằng được mong đợi. Ngài là Chúa uy quyền hơn các chúa, mạnh hơn cả sự chết. Ngài sồng với Chúa Cha, nhưng đồng thời cũng sống với chúng ta cho đến tận thế, tuy một cách vô hình (Mt 28,20). Sự Phục sinh của Chúa Giê-su là trọng tâm của niềm tin Ki-tô. Sự Phục sinh này có một ý nghĩa hoàn toàn khác biệt với ý nghĩa sự sống lại của La-da-rô, kẻ dã được Ngài cho ra khỏi mồ sau 4 ngày được tống táng (Ga 11,11-45). La-da-rô đã có thể kéo dài cuộc sống của ông vài năm nữa. Nhưng Đức Ki-tô Phục sinh sẽ không bao giờ chết nữa. Sự chết không còn quyền hành trên Ngài (Rm 6,9). Sự Phục sinh của Chúa Giê-su chính là sự chiến thắng chung cục của Thiên Chúa trên sự chết. Thiên Chúa không là bạn của sự chết mà là của sự sống. Ngài đã không tạo dựng một thế giới để rồi tất cả những gì là thiện mỹ phải trở thành tro bụi. Không có gì cao quí và tốt đẹp hơn Tình Yêu. Do đó, Tình Yêu và tất cả những gì được tạo dựng vì yêu thương, cũng sẽ tồn tại mãi mãi. Trong sự chết của Chúa Giê-su, Tình Yêu đã đạt đến tuyệt đỉnh. Nếu có một Thiên Chúa và nếu Thiên Chúa đó là Tình Yêu, nếu Thiên Chúa đó đã sai Chúa Giê-su và đã đáng cho Chúa Giê-su tin tưởng phó thác,thì cái chết của Chúa Giê-su không thể nào là một thất bại và là một tận cùng. Cái chết đó không gì khác hơn là khởi đầu của sự sống vĩnh cửu. “Ta phải bỏ thế gian này mà về cùng Cha Ta” (Ga 16,28). Với những lời này, Chúa Giê-su có ý ám chỉ đến cái chết và sự Phục sinh của Ngài. Ngài trở về với Chúa Cha, nguồn mạch của mọi sự sống.
Theo Kinh Thánh, Chúa Giê-su đã sống lại trong thân xác của Ngài. Tuy nhiên Kinh Thánh cũng nói rằng những đặc tính của Thân Xác Phục sinh của Ngài khác hẳn với thân xác hay chết của Ngài (1 Cr 15,35-49).
Những định luật của không gian và thời gian không còn chi phối trên Thân Xác Phục sinh của Ngài nữa. Chúa Giê-su đã có thể đi xuyên qua những cánh cửa đóng kín và biến mất liền sau đó. Giới hạn trong những phạm trù của không gian và thời gian, óc tưởng tượng của chúng ta không thể nào vẽ ra được một Thân Xác Phục sinh như thế nào. Do đó, niềm tin vào sự Phục sinh trong thể xác của Chúa Giê-su là điều rất quan trọng, bởi vì niềm tin này nói lên rằng Đức Ki-tô đã chết trên thập gía và Đức Ki-tô đã sống lại, là một. Chúa Giê-su Na-da-rét, Đấng đã đi qua trên cõi đời này như hiện thân của Tình Yêu Tinh Ròng của Thiên Chúa đối với loài người và đã chết, nay đang sống mãi như Đức Ki-tô Phục sinh. Tình Yêu của Ngài vẫn dõi theo chúng ta. Đó cũng chính là Tình Yêu đã gia tăng xuyên qua cuộc sống tại thế của Ngài và đã đạt đến tuyệt đỉnh trong cái chết của Ngài. Thân xác là dụng cụ thông đạt giữa con người với nhau. Do đó, sự Phục sinh trong thân xác của Chúa Giê-su có nghĩa là- dù một cách vô hình- Ngài vẫn luôn thông hiệp với chúng ta. Chúa Giê-su Phục sinh là người bạn đồng hành trong cuộc lữ hành của chúng ta. Trong sự Phục sinh của Ngài, lịch sử của nhân loại đã được hoàn tất. Trong ánh sáng của Đức Ki-tô Phục sinh, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa của toàn thể lịch sử nhân loại cũng như ý nghĩa của công cuộc tạo dựng. Trong Chúa Giê-su Phục sinh, nhờ Thần Khí của Ngài, tất cả mọi người, một cách tự do và tự đáy lòng, đều tin vào Tình Yêu của Thiên Chúa và sống trong Tình Yêu của Ngài, đến độ “Thiên Chúa sẽ cư ngụ trong tất cả mọi người” và “Ngài trở nên mọi sự cho mọi người” và Tình Yêu có thể là tất cả cho mọi người (1 Cr 15,28). CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG Các môn đệ đã bắt đầu cảm nghiệm được sức mạnh của Chúa Thánh Thần ngay từ ngày đầu tiên sau khi Chúa Giê-su sống lại. Chúa Thánh Thần đã không nhập thể. Do đó, khó có thể có được một quan niệm đúng đắn về Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần thường tự bày tỏ qua những biểu trưng sâu sắc. Ngài được nhắc đến như thần khí hoặc hơi thở của Thiên Chúa. Các tiên tri trong Cựu Ước loan báo rằng Thánh Thần sẽ hiện diện một cách sung mãn trong Đấng Cứu Thế (Is 11,2) và tất cả mọi thành phần của dân Chúa cũng sẽ được tràn đầy Thánh Thần (Gr 3,1-5).
Trong buổi chiều ngày Phục sinh, Chúa Giê-su đã hiện ra với các tông đồ và khi thở hơi trên các ông, Ngài đã nói: “Các con hãy lãnh nhận Chúa Thánh Thần” (Ga 20,22). Năm mươi ngày sau, nhân ngày Lễ Ngũ Tuần, các môn đệ đã cảm nghiệm được sức mạnh của Chúa Thánh Thần tràn ngập tâm hồn họ. Do Thánh Thần thúc đẩy, lần đầu tiên kể từ sau khi Chúa Giê-su chết, họ đã xuất hiện trước đám đông và công bố: “Thiên Chúa đã cho Đức Giê-su sống lại và tất cả chúng tôi làm chứng cho điều đó” (Cv 2,32). Do đó “xin mọi người hãy biết rằng Thiên Chúa đã tôn phong Ngài làm Chúa và Đấng Ki-tô, chính Ngài là Giê-su mà các người đã đóng đinh” (Cv 2,36).
Với những lời này, các môn đệ đã sẵn sàng để hoán cải cả thế giới. Họ đã chịu tử đạo vì lời rao giảng của họ. Tuy nhiên, sau cùng, lòng tin của họ đã cải hóa cả đế quốc La Mã. Các sứ giả của Đức Ki-tô ngày nay cũng mang cùng một ‘Tin Mừng’ đến cho mọi dân tộc trên trái đất: Tin Mừng đó là: “Đức Ki-tô đã sống lại”. Cái chết của Ngài không phải là một lời gĩa biệt mà là một gặp gỡ. Cái chết ấy không là một thối rữa, mà là một trổ sinh mới. Cái chết ấy không là một cái chết vĩnh viễn, mà là một cuộc sống vinh hiển. CHÚA GIÊ-SU CON MỘT CỦA CHÚA CHA Chỉ trong ánh sáng của Phục sinh mà cuối cùng các tông đồ đã hiểu được Chúa Giê-su là Ai. Trong cuộc sống tại thế của Ngài, khi lắng nghe lời của Ngài và chứng kiến những việc Ngài làm, các ông đã linh cảm rằng Ngài là một con người trổi vượt hơn tất cả mọi tiên tri đến trước Ngài và mối liên kết giữa Ngài và Chúa Cha là một tương quan chỉ có giữa Cha và Con mà thôi. Nếu không thì làm sao sự xuất hiện của Ngài có thể được xem như là dấu chỉ của thời viên mãn, là khởi đầu của Nước Thiên Chúa? Nếu không thì làm sao Ngài dám tha tội cho tội nhân? Nhưng chỉ sau khi Ngài sống lại thì bí ẩn của con người Chúa Giê-su mới được tỏ lộ một cách rõ ràng cho các tông đồ. Chúa Giê-su, Đấng Phục Sinh ngồi bên hữu Thiên Chúa Cha, Đấng liên kết toàn thế giới với Thiên Chúa như là Vị Trung Gian duy nhất, Chúa Giê-su, Đấng sai Thánh Thần đến với chúng ta như là hơi thở của chính Ngài, một Chúa Giê-su như thế không thể chỉ là một tạo vật. Dĩ nhiên, Ngài là một con người. Ngài đã được sinh ra từ một người mẹ trần thế. Ngài cũng lớn lên như mọi người. Ngài cũng có lúc vui khi buồn. Ngài đã lao động và cũng đã biết thế nào là mỏi mệt. Cũng có lúc, đôi mắt Ngài phóng ra những tia giận dữ. Cũng chính đôi mắt ấy đã nhìn về một người thanh niên với tất cả trìu mến. Có lúc Ngài vui vỡ lở, có lúc Ngài run rẩy lo sợ. Ngài đã chết như một con người. Ngài đã sống lại như một con người và đề sống mãi như một con người. Nhưng cũng chính Chúa Giê-su ấy lại là một cái gì hơn cả một con người. Ngài là Thần Linh. Ngài là chiếc cầu nối liền giữa Thiên Chúa và con người, Ngài vừa là Thiên Chúa vừa là con người. Ngài là Đấng Trung Gian duy nhất (1 Tm 2,5). Ngài không đồng nhất với Chúa Cha, bởi vì Chúa Cha gọi Ngài là ‘Con Yêu Dấu’ (Mc 1,11) và Ngài gọi Thiên Chúa là Cha. Nhưng bản chất đích thực của Ngài là Thiên Linh cho nên Ngài cũng là Thiên Chúa đích thực.
Ngài là Thiên Chúa không chỉ vào lúc cuối đời, mà ngay từ lúc đầu. Thánh Phao-lô, Thánh Gio-an và nhiều người khác, khi tuyên xưng niềm tin này, đã xử dụng những kiểu nói của Cựu Ước. Họ gọi Ngài là Ngôi Lời, là Đấng Khôn Ngoan, là Đấng Uy Dũng: Ngôi Lời vẫn hiện hữu từ đời đời với Thiên Chúa Cha. Ngôi Lời là Con Một của Chúa Cha, là Sự Khôn Ngoan của Chúa Cha từ đời đời (Ga 1,1-13; Pl 2,6; Cl 2,15-20). Ngôi Lời là Thiên Chúa thật bởi vì Chúa Cha sinh ra Ngài, không ngừng thông ban cho Ngài Sự Sống Thần Linh. Ngôi Lời đã nhập thể vì chúng ta để cứu rỗi chúng ta (Ga 1,14). Thiên Chúa đã sai Người Con Một của Ngài đến sống dưới hình thức một con người. Đón nhận tất cả từ Chúa Cha, Ngài cũng mang lại mọi sự cho Chúa Cha. THIÊN CHÚA BA NGÔI Chân lý mầu nhiệm về Chúa Ba Ngôi mang lại cho chúng ta một chiều kích mới trong sự hiểu biết về bản chất của Thiên Chúa: Thiên Chúa là Một, nhưng Ngài không đơn độc. Bản chất đích thực của Thiên Chúa là một nguồn suối bất tận của yêu thương giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Cha sinh ra Chúa Con, thông ban cho Chúa Con mọi sự. Chúa Con yêu thương Chúa Cha, đáp trả lại tất cả mọi sự. Chúa Thánh Thần là hoa quả của sự trao ban hỗ tương ấy giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Thánh Thần chính là Tình yêu của Thiên Chúa. Đó là Chân Lý được diễn tả trong Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi. Thiên Chúa là Một, nhưng bản chất của Ngài là Tình Yêu hỗ tương giữa Ba Ngôi Vị. Ngôi thứ nhât là Cha, Nguồn Mạch của mọi sự. Ngôi thứ Hai là Con, Hình Ảnh đích thực của sự Thiện Hảo của Chúa Cha. Ngôi thứ Ba là Thánh Thần, Mối Tương Quan Yêu Thương giữa Chúa Cha và Chúa Con. Nhờ Chúa Con nhập thể làm người và Chúa Thánh Thần được sai đến, chúng ta được tham dự vào sự sống của Ba Ngôi. Chúng ta trở thành anh em của Đức Ki-tô. Chính Chúa Giê-su sống trong chúng ta và Thánh Thần sinh động chúng ta bằng hơi thở của Chúa Giê-su. Thiên Chúa Cha chấp nhận chúng ta như dưỡng tử của Ngài. Nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, chúng ta có thể gọi Thiên Chùa là ‘Cha chúng ta’. SỰ CỨU RỖI
Niềm tin này của các Ki-tô hữu tiên khởi, nhờ Thánh Thần linh ứng, chiếu rọi một nguồn sáng mới trên cái chết của Chúa Giê-su. Cái chết đó không phải là một tai ương tự nhiên. Nó cũng không là một tất định của lịch sử. Trái lại, đó là một sự biểu lộ hoàn hảo của Tình Yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta. “Bởi vì Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài để bất cứ ai tin Người Con Một đó đều không phải chết, nhưng được sống đời đời” (Ga 3,16). Thiên Chúa “không dung tha Người Con Một của Ngài, nhưng trao nộp Ngài cho chúng ta” (Rm 8,32) “trong khi chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5,8).
Tất cả quyền lực của tăm tối gào thét để dập tắt ngọn lửa yêu thương trong Chúa Giê-su. Nhưng tất cả mọi thứ tội lỗi: sự tham quyền cố vị của những kẻ đang cầm quyền tại Giê-ru-sa-lem, lòng ích kỷ tự phụ và cố chấp của họ, sự hèn nhát cùa Phi-la-tô, một người chỉ nghĩ đến lợi ích riêng của mình, sự phản bội của Giu-đa, sự đào thoát của các tông đồ, lòng nhẹ dạ của đám đông, sự độc ác của những người thừa hành quyền bính, khi hành hạ Ngài trong thể xác lẫn tâm hồn: tất cả những điều đó, Chúa Giê-su biến thành tình yêu vô biên và tha thứ. Cầu nguyện cho những kẻ đang hành hạ mình, tiến đến cái chết với tất cả yêu thương, vì yêu thương: đó là cách thế mà Con Thiên Chúa đã thể hiện cuộc sống của Ngài trong thế giới thụ tạo. Qua cách thế ấy, Ngài đã làm sáng tỏ trong thế giới Tình Yêu vô biên của Thiên Chúa. Thiên Chúa chê ghét tội lỗi bởi vì nó đối nghịch lại với sự Thánh Thiện của Ngài cũng như hủy diệt con người. Tuy nhiên, Người Con Một yêu dấu của Ngài đã đến giữa thế giới tội lỗi ấy để bị giết bởi tay người tội lỗi mà vẫn yêu thương và cầu nguyện cho họ. Chúa Giê-su là Đấng Trung Gian hoàn hảo; Ngài là Đại Diện của toàn thể nhân loại. Ngài là người thợ kiến tạo hoàn hảo của một giao ước mới với Thiên Chúa Cha. Trong Chúa Giê-su, Thiên Chúa đã tìm thấy một sự đáp trả hoàn toàn cho tiếng gọi của Ngài. Giờ đây, Thiên Chúa nhìn đến nhân loại xuyên qua Đức Ki-tô, Đấng đã sống, đã chết và đã sống lại vì chúng ta.
Điều này cho chúng ta hiểu tại sao Thiên Chúa đã sai Con Một Ngài, tại sao Ngài muốn cho Chúa Giê-su chỉ sống cho công bằng và yêu thương. Đây là một cách sống đương nhiên dẫn đến cái chết trên thập giá. Nhưng cuối cùng, chúng ta cũng hiểu được tại sao Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại từ cõi chết. Thiên Chúa muốn vĩnh viễn nhìn thấy chúng ta qua Chúa Giê-su, Đấng đã chịu đóng đinh và đã sống lại. Thiên Chúa cũng đổ tràn Thánh Thần trên chúng ta. Chính Thánh Thần là Đấng thổi ngọn gió mát vào đám sương mù tội lỗi của chúng ta và soi sáng tâm hồn chúng ta bằng mặt trời Tình Yêu của Ngài.
Cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giê-su cũng giống như một món tiền chuộc, nhờ đó Thiên Chúa giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi và làm cho chúng ta thuộc trọn về Ngài (1 Pr 1,18; 2,9). Ngài đóng ấn trên chúng ta bằng Dấu Ấn của Thánh Thần (Ep 1,13).
Cả cuộc sống của Chúa Giê-su đã trở thành con đường dẫn chúng ta về với Chúa Cha, về với Sự Sống và về với nhau. Chúa Giê-su đi trước và chúng ta đi theo Ngài. Cái chết và sự phục sinh của Ngài là sức mạnh đưa chúng ta lên đường và dẫn chúng ta đi đến cùng. “Tình Yêu của Đức Ki-tô hướng dẫn chúng ta….Ngài đã chết cho chúng ta để tất cả những ai sống không còn sống cho chính mình nữa, mà sống cho Đấng đã chết và đã sống lại vì họ” (2 Cr 5,14-15). SUY NGHĨ & THẢO LUẬN 1. Hãy so sánh những nhóm và những mẫu người sống trong xã hội hiện nay của chúng ta với những nhóm và mẫu người sống vào thời Chúa Giê-su. Họ có giống nhau không?Chúa Giê-su sẽ nói gì với họ?Họ sẽ phản ứng như thế nào với Ngài?Phần tôi, tôi thuộc mẫu người nào?
2. Chúa Giê-su nói rằng điều quan trọng nhất chính là trái tim con người. Trái tim tôi giống gì? Trái tim tôi tựa vào đâu? Tôi có chọn lựa tình yêu vô biên, tình yêu đối với mọi người như là thái độ cơ bản cho trái tim tôi không? Hay có một cái gì khác đang quyết định thái độ cơ bản của trái tim tôi?
3. Tôi có phân biệt người ta thành ra người thân cận và người không thân cận như các luật sĩ đã làm không? Hay tôi cố gắng trở thành cận thân của mọi người, như người Sa-ma-ri trong câu chuyện do Chúa Giê-su kể?
4. Tôi có ý thức được rằng khi Chúa Giê-su nói “các ngươi” (trong Tin Mừng theo Thánh Lu-ca 6,27-36 chẳng hạn) Ngài không chỉ nói với những kẻ nghe Ngài cách đây 2000 năm, mà còn nói với tôi không? Tôi có lắng nghe Ngài không?Tôi có tin Ngài không? Tôi có đang theo Ngài không?
5. Chúa Giê-su đã dành sự ưu ái đặc biệt cho những người mà Ngài gọi là “những kẻ bé mọn”.Ngày nay, ai là “những kẻ bé mọn” ấy?Tôi có dành ưu ái cho những người đó không?Tôi có đứng về phía những người đó không?
6. Trong câu chuyện nói về người giầu có chỉ biết có tiền bạc, Chúa Giê-su gọi người đó là “kẻ ngu xuẩn” (Lc 12,20). Xã hội ngày nay của chúng ta đánh giá về tiền bạc như thế nào?Đâu là thái độ của riêng tôi đối với tiền bạc? Tôi theo cách thẩm định của Chúa Giê-su hay của thế giới ngày nay?
7. Đâu là quan niệm của riêng tôi về Thiên Chúa? Đó có phải là quan niệm mà Chúa Giê-su đã có và đã dạy không?Phải chăng tôi không có một ý tưởng khác về Thiên Chúa?Tôi có thực sự tin rằng Thiên Chúa săn sóc tôi, Ngài biết tên tôi, Ngài yêu thương tôi không?Tôi có tin rằng Thiên Chúa nghĩ về mọi người như nhau không?Niềm tin này có âm hưởng nào trên cuộc sống và cách cư xử của tôi không?
8. Tôi có mau mắn đi tìm Chúa trong cuộc sống của tôi không? Tôi có nghĩ rằng khám phá và thực thi Ý Chúa là điều quan trọng nhất trong cuộc sống của tôi không?Ngày nay, làm thế nào để tôi khám phá ra Ý Chúa?
9. Tôi có ra điều kiện để đi theo Chúa (chẳng hạn như được thấy phép lạ, được thành công, được khỏe mạnh) không? hay tôi muốn theo Chúa vô điều kiện?
10. Người Ki-tô hữu tin rằng cái chết và sự phục sinh của Đức Ki-tô là trọng tâm của lịch sử.Đó có phải là trọng tâm của cuộc sống của tôi không?Nếu Đức Ki-tô đã không chết và sống lại, cuộc sống hằng ngày của tôi có thay đổi không?Tôi có đương đầu với những vấn đề của tội lỗi và sự không tin không? Hay tôi tìm cách tránh né? Cái chết và sự phục sinh của Đức Ki-tô có mang lại một giải pháp nào cho những vấn đề đó không?
11. Đâu là thái độ của tôi đối với đau khổ? Chúng ta nên đón nhận hay tìm cách loại bỏ đau khổ? Thiên Chúa không yêu thích sự chết, nhưng là sự sống.Thế thì tại sao ý muốn của Ngài lại là Chúa Giê-su phải chết?Tại sao cái chết của Ngài lại dẫn đến sự sống?Tôi có thói quen đặt sự đau khổ của riêng tôi và của người khác vào trong mối tương quan với thập gía của Đức Ki-tô không?Tôi có thấy rằng cuộc khổ nạn của Ngài tiếp tục trong chúng ta không?
12. Tôi/Chúng ta có phải là người của Phục sinh không? Bài ca của chúng ta có phải là bài Alleluia không? Làm thế nào để có thể sống theo lời khuyên của Thánh Phao-lô: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa” (Pl 4,4)?
13. Bạn hãy thử kể ra một số bản văn Tân Ước nói về Chúa Thánh Thần của Thiên Chúa (Thánh Thần của Đức Ki-tô, Thánh Thần của Chúa Con, Thánh Thần Chân Lý v.v…). Hãy cố gắng phân biệt đâu là những hành động và thái độ gắn liền với sự hiện diện và tác động của Ngài.Hãy suy nghĩ và khám phá để biết những hành động và thái độ đó có được biểu lộ trong cuộc sống của bạn không?
14. Đâu là tương quan của Mầu nhiệm Ba Ngôi với công cuộc sáng tạo và cứu rỗi, cũng như tương quan với Thiên Chúa, với giới răn mới của yêu thương và sự sống vĩnh cửu?
15. Chúa Giê-su đã tuyên bố Ngài là Đường. Tôi có đang đi trên Đường của Ngài không? Hay tôi đang đi trên một con đường khác? Con đường này dẫn tôi đi về đâu? Đâu là lời đáp trả của tôi cho những lời mời đi theo những con đường không phải con đường của Chúa Giê-su? Cùng với Thánh Phê-rô, tôi có thể nói: “Lạy Chúa, con sẽ đi về đâu, vì Chúa có những lời ban sự sống đời đời” không?
Chương Hai - Dân Chúa Chúa Giêsu đã chết, đã sống lại và đã sai Thánh Thần của Ngài đến “để qui tụ con cái Chúa đang tản mác khắp nơi” thành một Hội Thánh là Nhiệm Thể Người. Người đang sống trong chúng ta và đổ tràn tâm hồn chúng ta Thánh Thần của Người. Đây là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa ban cho các tín hữu của giao ước mới: Ngài ban tặng chính Người. Như thế, chúng ta trở thành con cái Chúa, anh em của Chúa Giêsu và chi thể của Thân Thể Ngài và là Đền Thờ sống động của Chúa Thánh Thần. Sự Sống mới mà Đức Kitô và Thánh Thần ban cho chúng ta được thể hiện qua lòng tin, lòng cậy và lòng mến của chúng ta. CHÚA GIÊ-SU SỐNG TRONG CHÚNG TA Chúa Giê-su đã chết, đã sống lại và đã sai Thánh Thần của Ngài đến “để qui tụ con cái Chúa đang tản mác khắp nơi” (Ga 11,52). Chúa Phục sinh đã ủy thác cho các tông đồ của Ngài mệnh lệnh: “Các con hãy đi….làm cho mọi dân tộc trở thành môn đệ Thày….và này, Thày hằng ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20). Ngài cũng đã cầu xin cho điều đó trong bữa ăn cuối cùng: “Con không chỉ cầu cho chúng, mà còn cho tất cả những ai tin ở con nhờ lời chúng, để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để chúng cũng ở trong chúng ta, hầu cho thế gian tin rằng Cha đã sai Con….Con trong chúng và Cha trong Con, để chúng được nên một” (Ga 17,20-23). “Con trong chúng”: Chúa Giê-su Phục sinh sống trong chúng ta và đổ tràn tâm hồn chúng ta Thánh Thần của Ngài. Đây là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa ban cho các tín hữu của giao ước mới: Ngài ban tặng chính Ngài. Như thế, chúng ta trở thành con cái Chúa, anh em của Chúa Giê-su và chi thể của Thân Thể Ngài và là Đền Thờ sống động của Chúa Thánh Thần. Sự Sống mới mà Đức Ki-tô và Thánh Thần ban cho chúng ta được thể hiện qua lòng tin, lòng cậy và lòng mến. TIN Đời sống Ki-tô hữu là một tương quan cá biệt với Thiên Chúa. Tin vào Thiên Chúa, phó thác cho Ngài hoàn toàn, tin ở lời Ngài, đó là những thái độ cơ bản của người Ki-tô hữu. Thánh Gio-an viết trong thư thứ nhất của Ngài như sau: “Chúng tôi biết và tin ở tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng tôi” (1 Ga 4,16). Chính Thiên Chúa nói với chúng ta qua lời nói, cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê-su Ki-tô. Thiên Chúa đang nói với chúng ta rằng “Hãy tin rằng Ta đang ở với con, con là người rất quan trọng đối với Ta. Hãy tin rằng sự sống của con sẽ không bao giờ mất nếu được ký thác cho Ta. Hãy tin rằng Ta là Tình Yêu Bất Diệt”. Ngài hỏi chúng ta: “Con có tin Ta không?” Khi một người nào đó trả lời “Có”, người đó đã có đức tin. Người đó sẽ xây dựng cả cuộc sống của mình trên lời nói và sự thủy chung của Chúa. Người đó sẽ đặt tất cả cuộc sống và cái chết của mình trong tay Chúa. Đức tin không phải là một sự đón nhận một vài ý tưởng. Đó là một quyết định thay đổi cả cuộc sống của chúng ta. Một con người chỉ có thể quyết định như thế khi Thánh Thần chiếu rọi ánh sáng của Ngài vào trong đáy thẳm tâm hồn của người ấy. Chính Thánh Thần là Đấng làm cho người đó có thể nhận ra ánh sáng chiếu tỏa của Tình Yêu Thiên Chúa nơi bộ mặt đầm đìa máu me của Chúa Giê-su chịu đóng đinh (2 Cr 4,6). Người có tâm hồn được Thánh Thần tháp nhập vào Thiên Chúa sẽ như thể hòa nhập với toàn thể các Ki-tô hữu của mọi thời đại. Không phải những cố gắng của con người làm cho những lời của Tin Mừng đánh động tâm hồn con người, mà chính là sự tác động của Thiên Chúa, Đấng “mở cửa tâm hồn chúng ta” (Cv 16,14).
Ơn Chúa rất khó đi vào tâm hồn của một con người kiêu ngạo, tự phụ, chỉ biết tìm vinh dự cho cá nhân, chỉ biết nghĩ đến quyền lợi riêng tư hoặc cho rằng mình “biết tất cả mọi sự”. Thánh Thần đi vào và lấp đầy tâm hồn những ai thành tâm ước muốn Chân Lý, những ai “khao khát điều công chính” (Mt 5,6). Chúa Giê-su nói với chúng ta: “Không ai có thể đến với Ta nếu Cha Ta là Đấng sai Ta không lôi kéo người đó” và “Bất cứ ai nghe và học cùng Cha đều đến với Ta” (Ga 6,44-45). Đức tin là một ơn nhưng không của Thiên Chúa. Tuy nhiên, đức tin cũng đồng thời là một quyết định cá nhân của con người. Không ai bị cưỡng bách để tin vào Thiên Chúa do các phép lạ hoặc do sự cưỡng bách của Thánh Thần. Những dấu lạ chỉ bảo đảm với con người rằng quyết định chấp nhận Chúa Giê-su là một quyết định hợp lý. Nhưng người đó sẽ tin rằng ai là người đã thuyết phục mình lao mình vào cánh tay rộng mở của Thiên Chúa. Do đó, đức tin không ngừng bị cám dỗ. Có biết bao nhiêu điều xảy đến trong thế giới này xem ra đối nghịch lại với lòng thiện hảo của Thiên Chúa. Nhưng khi một người được Chúa Giê-su Ki-tô làm cho “thuộc riêng về Ngài (Pl 3,12) và gắn bó với Ngài, thì sẽ không có sức mạnh nào có thể tách lìa người đó ra khỏi Ngài. Tin vào Chúa Giê-su, tin vào Tình Yêu của Chúa Cha, tin vào cuộc Chiến Thắng cuối cùng của Tình Yêu, dù cho bất cứ điều gì có xẩy ra, đó là lời tuyên xưng muôn thuở của một Ki-tô hữu đích thực.
Tin là hành động riêng biệt của mỗi tín hữu, nhưng người tín hữu không cô độc trong niềm tin của mình. Từ thời Thánh Phê-rô và Phao-lô, qua mọi thời đại cho đến ngày tận thế, vô số các Ki-tô hữu đều đi trên cùng một cuộc lữ hành. Họ không chỉ nói “tôi tin” mà nói “chúng tôi tin”. Hai tiếng “chúng tôi” rung động trong tâm hồn của triệu triệu anh chị em trong cùng một niềm tin thuộc mọi lục địa. Chúng ta tin cùng một Thiên Chúa, một Đức Ki-tô, một Chúa Thánh Thần. Chúng ta đứng vững trên đá tảng vững chắc là lòng chung thủy của Thiên Chúa. Chúng ta đã cùng tìm thấy chìa khóa mở ra ý nghĩa của toàn thể vụ trụ. Lời Chúa mà chúng ta đã lãnh nhận trong đức tin không phải là một mớ những lời tuyên bố được liên kết lại với nhau mà không có một hòa hợp nội tại nào hoặc hoàn toàn xa lạ với đời sống cụ thể. Tất cả tạo thành một toàn thể và chiếu rọi ánh sáng vào toàn tể cuộc sống. Điểm qui chiếu ấy có thể được diễn tả bằng nhiều cách khác nhau, nhưng luôn luôn qui về một điều. Chính Chúa Giê-su đã diễn tả điều đó như sau: “Nước Chúa đã gần đến”. Thánh Phao-lô cũng nói lên điều đó như sau: “Chúa Giê-su, Chúa chúng ta đã bị giết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại vì sự công chính của chúng ta” (Rm 4,25). Thánh Gio-an nói với chúng ta: “Thiên Chúa là Tình Yêu và ai ở trong Tình Yêu thì ở trong Thiên Chúa” (1 Ga 4,16). Thánh nhân cũng đã nói: “Ngài đã không bị phán xét, nhưng đã đi từ cõi chết đến sự sống” (Ga 5,24). Công đồng Va-ti-can II đã dùng công thức như sau: “Thiên Chúa ở với chúng ta. Ngài giải phóng chúng ta khỏi bóng đêm của tội lỗi và sự chết và làm cho chúng ta sống lại trong sự sống vĩnh cửu”. Trong kinh Tin Kính, chúng ta lập lại lời tuyên xưng của các tông đồ: “Tôi tin kính một Thiên Chúa, là Cha Toàn Năng, Đấng Tạo Thành vũ trụ. Tôi tin Chúa Giê-su Ki-tô, Con Chúa, Chúa chúng tôi, Đấng đã hóa thân làm người vì chúng tôi, đã chết và đã sống lại từ cõi chết. Tôi tin Chúa Thánh Thần. Tôi tin Giáo hội, tôi tin ơn tha tội, tôi tin sự sống lại và sự sống vĩnh cửu”. Lời tuyên xưng ấy cũng có thể được diễn tả như sau: khi sai Con Một Ngài là Đức Giê-su Ki-tô và Thánh Thần, Thiên Chúa là Cha đã tự trao ban cho chúng ta để chúng ta có thể tin ở Tình Yêu của Ngài, yêu thương Ngài bằng cách thế Ngài yêu thương chúng ta và nhờ Thánh Thần hướng dẫn, chúng ta có thể chia sẻ sự sống vĩnh cửu trong Đức Giê-su Ki-tô. YÊU Khi một người tin với tất cả xác tín, tình yêu của Thiên Chúa sẽ tuôn đổ trong tâm hồn người đó như một kết quả tự nhiên của đức tin. Trong thư viết cho giáo đoàn Ga-lát, Thánh Phao-lô đã nói rằng chỉ có đức tin là đáng tin “đức tin hoạt động bằng tình yêu” (Gl 5,6). Một Tình yêu đích thực phát sinh từ đức tin. Gần như không thể diễn tả điều đó bằng lời nói. Chỉ có những ai cảm nghiệm được điều đó mới biết mà thôi. Nếu có ai hỏi thế nào là yêu bằng tình yêu đích thực, cách tốt nhất là chỉ cho người đó Chúa Giê-su, cuộc sống và cái chết của Ngài. Đó là tất cả câu trả lời. Tình yêu đích thực là được kết hợp với quả tim của Chúa Cha, với Thiên Chúa Đấng yêu thương bằng một tình yêu vô biên. “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta dường ấy, chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1 Ga 4,11). Chúng ta phải yêu thương bằng tất cả tâm hồn chúng ta, bằng những hành động cụ tể chứ không phải bằng những lời nói xuông. Chúng ta phải sẵn sàng hy sinh mạng sống mình vì tha nhân. Tình yêu đích thực không loại trừ một người nào, kể cả kẻ thù của chúng ta. Kẻ yêu thương thực sự sẽ đau khổ vì lòng gian ác của người xấu, nhưng không phải vì thế mà thù ghét họ. Yêu thương đích thực là phải làm điều thiện và khao khát hạnh phúc ngay cho kẻ thù của mình. Một tình yêu vô điều kiện như thế, con người không thể có được duy với những cố gắng riêng của mình. Con người yêu thương đích thực là khi được Thánh Thần hướng dẫn, người đó tin rằng Chúa Giê-su “đã yêu thương tôi và phó mạng vì tôi” (Gl 2,20) và rằng Ngài yêu thương tất cả mọi người đều là anh em của tôi (1 Cr 8,11). Chúng ta chỉ yêu thương thực sự khi tình yêu của Thiên Chúa được đổ tràn trong tâm hồn chúng ta nhờ Thánh Thần là Đấng đã được thông ban cho chúng ta” (Rm 5,5). Kẻ không được Đức Ki-tô và Thánh Thần ngự trị trong lòng sẽ ganh tỵ, thù ghét người khác và vui thích khi thấy người khác gặp điều bất hạnh. Người đó chỉ xử dụng kẻ khác như phương tiện để đạt được quyền lợi và lạc thú riêng của mình. Tham vọng riêng cuả người đó sẽ chiếm lấy tất cả sự chú ý của người đó. Người đó sẽ không thể nhìn thấy nước mắt nơi người anh em của mình. Người đó không quan tâm đến đau khổ của người khác. Nếu chỉ “mắt đền mắt, răng đền răng” hoặc không phải sát hại kẻ đã bẻ răng hoặc móc mắt mình, thì đã là một điều cả thể rồi. Để yêu thương kẻ khác như Chúa Giê-su dã yêu thương, điều đó chỉ có thể có được khi Thánh Thần thấm nhập sâu đậm toàn thể con người chúng ta. Không ai có te mô tả Tình yêu ấy một cách tuyệt hảo như Thánh Phao-lô trong thư thứ nhất Ngài gửi cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Tình yêu thì nhẫn nhục và từ ái. Tình yêu không ganh tỵ hay khoe khoang, không kiêu hãnh hay thô lỗ. Tình yêu không tham lam, không tìm tư lợi, không giận dữ, không mưu mô gian ác. Tình Yêu tha thứ mọi sự, tin tưởng mọi sự, hy vọng mọi sự, chịu đựng mọi sự” (1 Cr 13,4-7). Trong thư gửi các tín hữu Ga-lát, Thánh nhân cũng viết như sau: “Hoa quả của Thánh Thần là yêu thương, vui tươi, bình an, nhẫn nại, nhân từ, hiền lành, khoan dung, trung trực” (Gl 15,22). Tình yêu đích thực làm cho con người vui vẻ thực thi mọi giới răn của Thiên Chúa. Thánh Phao-lô đã có lý khi nói: “Các giới răn ‘ngươi chớ phạm tội ngoại tình, ngươi chớ giết người, ngươi chớ trộm cắp, ngươi chớ làm chứng gian’ hay bất cứ giới răn nào, tất cả đều được tóm gọn trong một giới ran duy nhất là yêu thương hay đúng hơn một cuộc sống yêu thương.
Không có sợi giây liên kết nào vững chắc hơn tình yêu. Tuy nhiên, yêu thương không phải là một cưỡng bách. Không có phục vụ nào mà không là phục vụ vì yêu thương. Tuy nhiên yêu thương lại chính là tự do hoàn hảo. Không có nỗi đau khổ nào lớn hơn đau khổ vì yêu. Tuy nhiên yêu thương là niềm vui cao cả nhất. Không gì làm cho con người bị tổn thương cho bằng tình yêu. Nhưng không có sức mạnh nào mãnh liệt hơn tình yêu. Phân tích cho đến tận cùng, chỉ có tình yêu là đáng kể. Bởi vì tình yêu là sự sống vĩnh cửu. HY VỌNG Niềm hy vọng của người tín hữu Ki-tô không gì khác hơn là xác tín vững mạnh rằng tình yêu là vĩnh cửu. Nền tảng của niềm hy vọng Ki-tô giáo chính là niềm tin của chúng ta vào tình yêu của Thiên Chúa và sự phục sinh của Đức Ki-tô. Bởi vì Thiên Chúa là tình yêu và bởi vì Đức Ki-tô đã sống lại, chúng ta biết rằng không có gì là vô ích, rằng sự sống vĩnh cửu đã bắt đầu, rằng tình yêu mạnh hơn sự chết. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Đấng chung thủy sẽ tác tạo một trời mới và một đất mới. Hoa trái của mỗi hạt giống được Thánh Thần gieo trồng sẽ được mặt trời làm cho chín mùi. Chúng ta biết rằng khi sống và hoạt động cho công lý, tự do và tình thương trên trái đất này, một cách nhiệm mầu, chúng ta đang chuẩn bị cho một cộng đồng huynh đệ sẽ được thực hiện trong nước vĩnh cửu của Chúa. Chúng ta biết rằng Thiên Chúa đang ở với chúng ta. Qua chúng ta, Ngài đang hướng dẫn thế giới thụ tạo của Ngài đến một tình trạng hoàn hảo chung cục. Chúng ta tin rằng sống cũng nhu chết, chúng ta thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta tin rằng vì yêu thương kẻ khác trong Chúa, cho nên dầu có chết, chúng ta vẫn sẽ sống mãi. Đó là niềm hy vọng của chúng ta và “niềm hy vọng này không lưa dối chúng ta” (Rm 5,5), bởi vì nó được xây dựng trên lòng thủy chung của Thiên Chúa, trên sự sống lại của Đức Ki-tô và sứa mạnh của Chúa Thánh Thần. Hỵ vọng cũng giống như một ánh lửa nhỏ bé của một ngọn đèn nhỏ, nhưng được nuôi dưỡng bởi dầu của Thánh Thần. Bóng đêm của thế giới xung quanh chúng ta không thể dập tắt được nó. Cho dẫu bóng đêm ấy có bao là đến đâu, nhưng nếu chạm đến ánh sáng bé nhỏ ấy, nó sẽ trở thành như không. Ánh sáng mạnh hơn bóng tối bội phần. Niềm hy vọng ấy là ánh sáng kỳ diệu. Không có thất vọng, không có thất bại nào có thể dập tắt được ánh sáng ấy. Niềm hy vọng ấy được bảo toàn và nuôi dưỡng qua mọi thời đại bằng một sức mạnh vô biên: sức mạnh của Thánh Thần Thiên Chúa. GIÁO HỘI Tin, cậy, mến: liên kết trong một niềm tin, chiếu sáng bằng tình yêu hỗ tương, yêu thương mọi người, hy vọng rằng chúng ta sẽ về đến nhà Cha: đó là tâm tình chung của tất cả những ai thuộc vể gia đình Thiên Chúa. Ngay từ khởi đầu, Ki-tô giáo đã được thiết lập thành những cộng đoàn nhỏ của tin, cậy, mến. Và đó là kết quả của lời rao giảng của các tông đồ. Mỗi một cộng đoàn nhỏ này tự gọi là “Giáo hội của Đức Ki-tô”. Danh từ Giáo hội xuất phát từ một tiếng Hy Lạp có nghĩa là tập họp, qui tụ. Giáo hội của Đức Ki-tô là một cộng đoàn những người tin Đức Ki-tô, được qui tụ và sinh động bởi Thánh Thần. Đầu của Giáo hội là Đức Ki-tô và các tín hữu là chi thể của Thân Thể Ngài, được liên kết với Đầu là Đức Ki-tô (1 Cr 12,13). Cũng chính Thánh Thần đó thúc đẩy mỗi người theo một cách thế riêng. Chính Thánh Thần là mối giây liên kết của cộng đoàn. Giáo hội là Dân Mới của Chúa. Dân được tuyển chọn không còn là một chủng tộc đặc biệt như thời Cựu Ước nữa. Giờ đây, dân này được qui tụ từ mọi dân mọi nước trên thế giới, được liên kết trong đức tin. Đây là thành quả của cái chết cứu độ của Đức Ki-tô và là ân sủng của Thánh Thần. Mỗi một phần tử của Giáo hội là con Chúa. Mỗi người đều tự do và bình đẳng trong phẩm gía làm người tín hữu Ki-tô trước mặt Chúa. Hiến pháp của Dân Mới này là giới răn của Đức Ki-tô: “Các con hãy yêu thương nhau nhuu Ta đã yêu các con”. Giáo hội tràn lan khắp mặt đất. Giáo hội được hiện thực nơi nào có các Ki-tô hữu tụ họp lại để lắng nghe Lời Chúa, để tưởng niệm bữa ăn cuối cùng của Chúa Giê-su, để cùng nhau tuyên xưng niềm tin của họ, để nuôi dưỡng tình yêu của họ và để thắp sáng lên niềm hy vọng của họ. Dù cộng đoàn có nhỏ bé hay nghèo nàn đến đâu, Đức Ki-tô vẫn hiện diện trong đó và Giáo hội của Ngài cũng hiện diện trong đó. Chính Đức Ki-tô đã nói: “Ở đâu có hai hoặc ba người họp nhau lại vì Danh Ta, thì có Ta ở giữa họ (Mt 18,20). THÁNH TRUYỀN VÀ THÁNH KINH Việc rao giảng Tin Mừng của Đức Giê-su Ki-tô là điều qui tụ con người lại trong Giáo hội. Đó là lý do tại sao, ngay từ đầu, Giáo hội đã quan tâm một cách đặc biệt để bảo toàn và lưu truyền toàn vẹn lời giảng dạy của Đức Ki-tô được ủy thác cho mình (1 Tm 6,20). Chính nhờ đó mà “truyền thống của các tông đồ” được giữ gìn một cách sống động từ thế hệ này qua thế hệ khác. Truyền thống này hay Thánh Truyền bắt nguồn từ chính Chúa Giê-su. Nó được xây dựng trên sự giảng dạy và lời rao giảng của các tông đồ. Giống như một giòng suối tuôn trào, nó chẩy xuyên qua các thế hệ dưới sự đẩy mạnh của Chúa Thánh Thần là Đấng gìn giữ Giáo hội được sống động. Nó được biểu lộ trong toàn thể cuộc sống, lời cầu nguyện và giảng dạy của Giáo hội. Tuy nhiên, ý Chúa muốn rằng cái cốt lõi của Tin Mừng không chỉ được gìn giữ một cách sống động qua lời nói, mà còn phải được ghi lại bằng chữ viết nữa. Dưới sự linh ứng của Chúa Thánh Thần, một số người được Thiên Chúa tuyển chọn để ghi lại thành văn tự. Các lời ghi chép ấy được gọi là Tân Ước. Dân Do Thái cũng đã có riêng một sưu t6ạp các bài ghi chép do Thánh Thần linh ứng và họ xem đó như thẩm quyền tối cao nhất trong việc hướng dẫn cuộc sống của họ. Chính Chúa Giê-su cũng xem những lời ghi chép đó như được Thánh Thần linh ứng (Mt 22,43; Lc 22,37). Nhưng đối với Chúa Giê-su, những lời ghi chép đó chưa phải là tiếng nói cuối cùng của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Nhiều điều trong sưu tập của người Do Thái chưa được hoàn hảo. Chúng chỉ có một ý nghĩa có tính cách tạm thời. Cũng có những phần trong Thánh Kinh, theo Chúa Giê-su, vẫn còn phản ánh sự cứng cỏi của trái tim con người (Mt 19,8). Đó là lý do tại sao Ngài đặt lời giảng dạy của riêng Ngài đối nghịch lại với những qui định đã được “ủy thác cho các tiền nhân” (Mt 5,21-42). Dưới ánh sáng của giao ước mới được thực hiện trong Chúa Giê-su, giao ước của Mô-sê trở thành “Cựu Ước” và những lời ghi chép lại giao ước cũ ấy là Cựu Ước, “Lời nói cuối cùng của Thiên Chúa, lời Ngôi Lời Nhập Thể: chính là Đức Giê-su Ki-tô (Dt 1,2). Cũng một cách thế, những cuốn sách của Tân Ước, tức những cuốn sách ghi chép lại cuộc đời và những lời giảng dạy của Chúa Giê-su, là tuyệt đỉnh và đồng thời là chìa khóa giúp hiểu toàn bộ Thánh Kinh. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, Giáo hội nhìn nhận những cuốn sách sau đây như là thành phần của Tân Ước: đó là bốn quyển Sách Tin Mừng, Sách Công vụ Tông đồ, 24 thư của các Tông đồ, đa số là của Thánh Phao-lô và Sách Khải Huyền. Cũng như một người thích thưởng thức âm nhạc có thể nhận ra tức khắc tác phẩm của một nhạc sĩ đại tài, cũng thế, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, Giáo hội nhận ra trong những tác phẩm này tiếng nói của Phu Quân mình.
Toàn bộ Thánh Kinh, gồm có Cựu Ước và Tân Ước, là một kho tàng vô gía của Giáo hội. Trong hai ngàn năm qua, Thánh Kinh đã được sao chép và in ra không biết bao nhiêu lần. Thánh Kinh đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới. Ngay cả ngày nay, Thánh Kinh vẫn là Quyển Sách được đọc nhiều nhất. Ngay cả trong một quốc gia như Nhật Bản với đa số dân chúng không phải là Ki-tô hữu, Thánh Kinh vẫn được bán mỗi năm 3 triệu ấn bản.
Mặc dù đã được viết từ hai ngàn năm, Thánh Kinh vẫn mãi mãi mới mẻ. Đối với vô số người ngày nay, Thánh Kinh là ánh sáng chiếu soi họ trong cuộc lữ hành trần gian và là nguồn an ủi và vui tươi của họ. Đĩ nhiên, Thánh Kinh không nên được xem là một quyển sách lịch sử. Nó là một quyển sách tôn giáo. Với những hiểu biết hạn hẹp về khoa học tự nhiên, các tác gỉa Thánh Kinh suy nghĩ và viết theo sự hiểu biết của thời đại của họ. Nhưng trong những gì liên quan đến sự gặp gỡ với Thiên Chúa và ơn cứu rỗi của chúng ta, họ là các hướng đạo bảo đảm nhất. Xuyên suốt qua Thánh Kinh, Thiên Chúa nói với con cái của Ngài và Đức Ki-tô dạy dỗ anh em của Ngài. Trong Thánh Kinh, mỗi người có thể tìm thấy con đường của tin, cậy, mến là con đường dẫn đến sự sống vĩnh viễn. CÁC TÔNG ĐỒ VÀ NHỮNG NGƯỜI KẾ VỊ CÁC NGÀI Đức Ki-tô bảo đảm với Giáo hội của Ngài về sự trường tồn của Tin Mừng và sự hiện diện của Ngài với Giáo hội cho đến tận thế. Sự bảo đảm ấy được tìm thấy trong chính nhóm các tông đồ và những người kế vị các ngài. Chúa Giê-su đã không hề viết sách để lưu truyền lại lời giảng dạy của Ngài. Thay vào đó, Ngài qui tụ xung quanh Ngài một nhóm các môn đệ để làm chứng cho cuộc sống, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Ngài sai các môn đệ như những sứ gỉa đi khắp thế giới: “Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con” (Ga 20,21); “Ai nghe các con là nghe Ta” (Lc 10,16). Ngài truey62n lệnh cho các ông hãy đi giảng dạy muôn dân (Mt 20,20). Sứ mệnh tông đồ, phát xuất từ chính Đức Ki-tô, là một sứ mệnh gắn liền với bản chất của Giáo hội. Sứ mệnh ấy cần phải được tiếp tục cho đến tận thế. Do đó, các tông đồ hằng quan tâm tìm những người cộng tác và kế vị. Lúc khởi đầu, chưa có một danh xưng nhất định để chỉ người kế vị các tông đồ. Tuy nhiên, từ thế kỷ thứ hai trở đi, những người kế vị trong chức vụ các tông được gọi là giám mục và các cộng sự viên của họ được gọi là linh mục. Trách vụ của họ là rao giảng Tin Mừng của Chúa Giê-su Ki-tô cho tất cả mọi người, là lãnh đạo và qui tụ thành một cộng đồng, giống như mục tử qui tụ chiên, để tế lễ nhân danh Đức Ki-tô và cử hành các bí tích.
Các Sách Tân Ước ghi lại rằng các cộng sự viên và những người kế vị các tông đồ nhận lãnh trách nhiệm và quyền bính qua một nghi thức gọi là đặt tay (2 Tm 1,6). Đó là dấu hiệu chứng tỏ họ đã lãnh nhận ơn đặc biệt để chu toàn trách vụ của mình. Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là các giám mục và linh mục không còn là những con người yếu đuối nữa. Trái lại là khác. Tuy nhiên, chính họ là những người được Đức Ki-to ủy thác toàn vẹn Lời của Ngài, Quả Tim của Người Mục Tử Nhân Lành của Ngài, Thân Thể của Ngài và Lòng Nhân Từ Tha Thứ của Ngài. Các linh mục của Giáo hội thực thi sứ mệnh đó xuyên qua không biết bao nhiêu thế hệ rồi. Họ làm cho mọi người đều có thể gặp gỡ Đức Ki-tô và để cho Ngài tự do ban phát ơn cứu độ của Ngài cho họ.
Trong hàng ngũ các Tông đồ, Phê-rô đã được ủy thác cho một sứ mệnh đặc biệt. Và sứ mệnh này được truyền lại cho những người kế vị ngài. Chúa Giê-su đã chọn Phê-rô là “đá tảng” trên đó Ngài sẽ xây Giáo hội của Ngài. Ngài đặt ông làm thủ tướng trong vương quốc của Ngài. Chính Ngài đã hứa với Phê-rô rằng tất cả những gì ông cầm buộc dưới đất, trên trời cũng bị cầm buộc và tất cả những gì ông tháo gỡ dưới đất, trên trời cũng được tháo gỡ (Mt 16,16-18). Sau khi sống lại, Chúa Giê-su đã trao phó cho Phê-rô nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Ngài (Ga 21,15-17). Trong ngày lễ Ngũ Tuần, chính Phê-rô đã đại diện cho các Tông đồ để lên tiếng công bố Tin Mừng Phục Sinh của Đức Ki-tô (Cv 2,14-36). Vào cuối đời hăng say rao giảng Tin Mừng, Phê-rô đã chịu tử đạo tại Rô-ma. Một đá tảng kiên cố để giữ cho cả tòa nhà được vững chắc, để tham dự vào sức mạnh của Đức Ki-tô và bảo đảm sự hiệp nhất của Giáo hội cũng như loan báo niềm tin của mình cho đến tận thế: một chức vụ như thế cần phải được tồn tại trong Giáo hội. Giáo hội tiên khởi xác tín vững chắc rằng lời hứa và quyền bính được trao ban cho Phê-rô sẽ không chấm dứt với cái chết của ngài. Những người kế vị ngài trong chức vụ và quyền bính là các vị Giáo hoàng, tức những vị giám mục của kinh thành nơi Phê-rô đã làm thủ lãnh Giáo hội trong nhựng năm cuối đời ngài.
Đức Ki-tô hỗ trợ cho các sứ giả của Ngài một cách hữu hiệu cho đến tận thế. Ngài tuyệt đối trung thành với giao ước mới Ngài đã thiết lập. Như thế, chúng ta được bảo đảm rằng khi một chân lý đức tin được đoàn giám mục của toàn thể Giáo hội, cùng với Đức Giáo hoàng là thủ lãnh, long trọng công bố, thì một tín điều như thế là không sai lầm. Dĩ nhiên, khi làm như thế, các ngài không dựa trên quyền lực của riêng mình. Các ngài thi hành điều đó dựa trên sự mạc khải của Chúa, một sự mạc khải chỉ nên trọn hảo trong Đức Giê-su Ki-tô mà thôi. Một sự long trọng công bố tín điều như thế không phải là điều thường xẩy ra trong Giáo hội. Phần lớn các tín điều được công bố là để tránh những sai lầm trong Giáo hội. Tính bất khả ngộ, tức không thể sai lầm của Đức Giáo hoàng và đoàn giám mục liên kết với ngài chỉ có giá trị đối với những chân lý thuộc phạm vi đức tin và luân lý mà thôi. Tính bất khả ngộ ấy không hề được áp dụng vào lãnh vực chính trị hay khoa học. Một người công giáo tốt lắng nghe với lòng thành tín và yêu mến tất cả những gì Đức Giáo hoàng và các giám mục phải nói. Tuy nhiên, còn quan trọng hơn cả những công bố long trọng trên đây, đó là lời giảng dạy thường xuyên của các giám mục và linh mục trong mỗi ngày Chúa nhật, cũng như những lời hướng dẫn của các ngài cho đời sống thiêng liêng của các tín hữu. Là những con người cho nên trong khi thi hành chức vụ, các linh mục không thể tránh khỏi những thiếu sót và giới hạn. Tuy nhiên, những gì các linh mục, các chủ chăn của toàn thể Giáo hội công bố với tất cả tâm huyết của họ như là cốt yếu của Tin Mừng của Chúa, thì những điều đó, nhờ Thánh Thần hướng dẫn, vẫn thông đạt cho chúng ta Lời của Đức Ki-tô.
Trong quá khứ, ngược lại với lời cảnh cáo của Đức Ki-tô, đã có những Giáo hoàng, giám mục và linh mục sống và hành động theo cung cách của những người giầu có và quyền thế trên thế gian này. Ngày nay, cám tạ Chúa, nhờ sự quan phòng và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, các vị đại diện trong Giáo hội mỗi lúc một ý thức hơn về lời nhắn nhủ của vị giáo hoàng đầu tiên là Thánh Phê-rô cho các linh mục như sau: “Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên đã được ủy thác cho anh em, không phải vì ép tình, nhưng là với lòng nhiệt thành, không phải vì tư lợi, mà là vì tận tâm phục vụ” (1 Pr 5,1-3). Ngày nay tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, ơn gọi linh mục không còn là một hứa hẹn về những quyền lợi vật chất hoặc quyền hành chính trị nữa. Trái lại, ơn gọi ấy đòi hỏi phải sẵn sàng vác lấy thập giá của Đức Ki-tô vì Nước Chúa và sự công chính của Nước Chúa (Mt 6,33). Ơn gọi linh mục ngày nay không còn là một ơn gọi dễ dãi nữa. Tuy nhiên, ơn gọi ấy vẫn đáng giá để cho con người hy sinh cả cuộc sống của mình. Những ai cảm thấy được Đức Ki-tô kêu gọi phải tra tay vào cày và không nhìn lại đàng sau (Lc 9,62), họ phải đặt cày vào mảnh đất của Chúa. Chúa là chủ ruộng sẽ làm cho đồng lúa của Ngài chín mùa đúng thời hạn (Mt 9,38). SUY NGHĨ VÀ THẢO LUẬN 1. Đức tin Ki-tô của tôi có phải là một lòng tin mù mờ không? Hay nó là một lý thuyết trừu tượng? Hoặc chỉ là một ý tưởng bấp bênh? Hay trái lại, đức tin ất là một sự ký thác hoàn toàn vào Thiên Chúa hằng sống, Đấng đã bày tỏ Tình Yêu của Ngài cho tôi trong Đức Giê-su Ki-tô?
2. Đâu là cốt yếu của niềm tin Ki-tô giáo? Tôi có thể diễn đạt điều đó bằng một cậu ngắn gọn không?Tôi phải trả lời như thế nào cho những người hỏi tôi “Tại sao bạn tin vào Đức Giê-su Ki-tô?”
3. Bạn hãy đọc 1 Cr 13 và thay thế tiếng Giê-su bằng tiếng “Tình Yêu”. Bạn thấy có ăn hợp không? Đâu là mối liên hệ giữa Tình Yêu Thiên Chúa và tình yêu của chúng ta? Làm thế nào để Tình Yêu của Đức Ki-tô được cụ thể hóa trong những quan hệ hằng ngày của chúng ta: gia đình, học đường, công sở, xưởng thợ, đời sống quốc gia và quốc tế?
Bạn hạy đọc 1 Ga 3,11-18 và 4,7-12 và bạn hãy tự hỏi xem bạn có hoàn toàn chấp nhận giáo huấn được chứa đựng trong những đoạn này và bạn có cố gắng sống ohù hợp với giáo huấn đó không?
4. Tôi hy vọng ở điều gì? Tôi đang hy vọng có được một điều gì hay tôi đang hy vọng để được hiện hữu? Đâu là ý nghĩa đích thực của “hiện hữu”?
5. Tôi nghĩ về Giáo hội như thế nào? Như một người từ bên ngoài để phê bình Giáo hội?Như một khách hàng mua bán những dịch vụ của Giáo hội?Như một thành phần của một gia đình biết yêu và nhận ra trách nhiệm của mình?Tôi có cảm thấy liên đới với tất cả mọi anh em Ki-tô hữu trên khắp thế giới không?
6. Đâu là trách vụ chính mà tôi nghĩ là Giáo hội ngày nay phải có? Cộng đồng địa phương mà tôi đang là thành phần có là một sự cụ thẹ63 hòa của Giáo hội phổ quát của Đức Ki-tô không?Cộng đồng của tôi có hiệp nhất không?Làm thế nào để cộng đồng của tôi được hiệp nhất hơn? Cộng đồng của tôi có phải là một cộng đồng thánh thiện không? Làm thế nào để cộng đồng của tôi có phục vụ xã hội, có biểu thị được Tình Yêu của Đức Ki-tô, Đấng đã đến để phục vụ không?
7. Tôi có trân trọng yêu mến Thánh Kinh, Thánh Truyền của các tông đồ đã được lưu truyền cho chúng ta qua mọi thế hệ của các tín hữu không? Tôi có cảm thấy có trách nhiệm phải lưu truyền Thánh Kinh, Thánh Truyền ấy cho thế hệ kế tiếp không?Thánh Kinh có phải là quyển sáccch tôi thích đọc nhất không?Nếu không tại sao?Tôi có đọc Thánh Kinh để được hướng dẫn trong những chọn lựa của tôi không?
8. Đâu là thái độ của tôi đối với những người đang thi hành trách vụ đã được Đức Ki-tô ủy thác cho các tông đồ, tức Đức Giáo hoàng, các giám mục và linh mục trong Giáo hội? Tôi có thực sự cố gắng để nghe Lời của Đức Ki-tô được các ngài truyền đến cho tôi không? Đức Ki-tô có kêu gọi tôi để hiến dâng cả cuộc đời ddđể phục vụ Ngài bằng cách gia nhập hàng ngũ những người thực thi sứ mệnh tông đồ cho đến tận thế không?
9. Đức tin của tôi có phải là niềm vui và là điều mà tôi muốn chia sẻ cho người khác để chúng ta cùng chung vui với nhau không? Đức tin và đức ái của tôi có tỏa lan đến người khác và chinh phục họ không?
10. Tôi có nghĩ rằng tôi cũng phải tuân theo điều Chúa Giê-su đã nói trong lời cầu nguyện của Ngài: “Lạy Cha, xin gìn giữ chúng được nên một” (Ga 17,11) không? Tôi có cầu nguyện, hy sinh và hoạt động co sự hiệp nhất các tín hữu Ki-tô trong chân lý, tình yêu hay tôi đang thực sự xây lên những bức tường chia rẽ không?
Chương Ba - Những Suối Nước Trường Sinh Tuy Chúa Giêsu đã trở về cùng Chúa Cha, nhưng Người vẫn còn ở với chúng ta trong Thánh Kinh. Tuy nhiên, Ngài muốn cho cuộc gặp gỡ giữa Ngài và chúng ta được trở nên khắng khít hơn qua những chức năng thông ban sự sống của Giáo hội. Và những hành động thông ban sự sống ấy của Giáo hội, chính là các bí tích. 7 bí tích là 7 kho tàng vô giá mà Đức Kitô đã trao ban cho Giáo hội. Trong mỗi bí tích có một yếu tố thiết yếu mang ý nghĩa tượng trưng. Qua những nghi thức của các bí tích, mà chính Đức Kitô Phục sinh đến gặp gỡ chúng ta, thông ban cho chúng ta nguồn suối nước trường sinh là Thánh Thần. CÁC BÍ TÍCH
Đâu là bản chất của các bí tích?
Tin Mừng theo Thánh Gio-an nói với chúng ta rằng nhân dịp lễ của người Do Thái “trong ngày cuối cùng của cuộc đại lễ” (Ga 7,37) Chúa Giê-su thốt lên giữa đám đông: “Ai khát hãy đến cùng Tôi. Ai tin Tôi hãy uống. Như Kinh Thánh chép: “Từ tâm hồn người đó, một dòng nước trường sinh sẽ chảy ra” (Ga 7,37-38). Thánh Gio-an đã chú giải về lời của Chúa Giê-su như sau: “Ngài có ý nói về Thánh Thần mà những kẻ tin Ngài nhận lãnh (Ga 7,39). Nước “trường sinh” chính là Thánh Thần và Chúa Giê-su, qua cái chết và sự phục sinh của Ngài, sẽ ban Thánh Thần cho những ai tin Ngài. Chính Chúa Giê-su, chính quả tim của Ngài là suối nước trường sinh ấy (x. Ga 19,34;4,14). Trong Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa Nhập Thể, Tình Yêu tha thứ và trao ban sự sống đã mặc lấy hình thái con người. Ai gặp gỡ Chúa Giê-su là gặp gỡ Tình Yêu ấy. Ai được Chúa Giê-su tha thứ cũng được chính Thiên Chúa tha thứ. Khi Chúa Giê-su sờ đến người bệnh hay người chết, thì cũng chính quyền năng thông ban sự sống của Thiên Chúa sờ đến họ. Như thế, đối với những người đương thời của Chúa Giê-su, gặp gỡ Chúa Giê-su là dấu chỉ của ơn sủng và tình yêu của Thiên Chúa, là gương mặt nhờ đó Thiên Chúa hành động trong một kinh nghiệm của con người.
Sau khi sống lại, Chúa Giê-su trở về cùng Chúa Cha. Nhưng Ngài vẫn còn ở với chúng ta, cho dẫu chúng ta chưa được chia sẻ vinh quang toàn vẹn và những hậu quả của sự sống lại của Ngài, cũng như không thể gặp gỡ Ngài một cách thực nghiệm, bằng các giác quan của chúng ta. Tuy nhiên, gặp gỡ Ngài là điều thiết yếu đối với chúng ta, nếu chúng ta muốn tiếp xúc với tình yêu của Thiên Chúa. Do đó, Chúa Giê-su đã tìm ra một cách thế thực nghiệm để cho cuộc gặp gỡ với Ngài có thể diễn ra. Đây là cách thế để giúp chúng ta gặp gỡ con người phục sinh của Ngài. Ngài nói với chúng ta bằng những lời Ngài đã ủy thác cho các tông đồ. Ngài hiện diện với chúng ta trong Thánh Kinh. Vai trò trung gian của Ngài có thể cảm nghiệm được trong Giáo hội của Ngài. Tuy nhiên, Ngài muốn cho cuộc gặp gỡ giữa Ngài và chúng ta được trở nên khắng khít hơn qua những chức năng thông ban sự sống của Giáo hội. Và những hành động thông ban sự sống ấy của Giáo hội, chính là các bí tích. 7 bí tích là 7 kho tàng vô giá mà Đức Ki-tô đã trao ban cho Giáo hội. Trong mỗi bí tích có một yếu tố thiết yếu mang ý nghĩa tượng trưng. Chúng ta được rửa, một bàn tay đặt trên vầng trán chúng ta, chúng ta chia nhau một bữa ăn. Đó là những biểu trưng mà chúng ta cũng có thể tìm thấy trong các tôn giáo khác. Tuy nhiên, trong các nghi thức của Ki-tô giáo, luôn luôn có một lời được gợi hứng hoặc trích dẫn nguyên văn từ Tin Mừng. Lời này mang lại một ý nghĩa đặc biệt cho nghi thức. Lời này xác định ý nghĩa của cử chỉ, ám chỉ đến hoạt động cứu rỗi của Đức Ki-tô và thiết lập một tương quan đặc biệt giữa cử chỉ và hành động cứu rỗi của Đức Ki-tô. Do đó, những nghi thức này không chỉ là những hành động thờ phượng của con người. Trong những nghi thức này, chính Đức Ki-tô Phục sinh đến gặp gỡ chúng ta, thông ban cho chúng ta nguồn suối nước trường sinh là Thánh Thần. Chính qua và trong các bí tích mà Đức Ki-tô tiếp tục công cuộc của Ngài. Trong các bí tích, Đức Ki-tô qui tụ con cái tản mác khắp nơi của Thiên Chúa. Ngài liên kết họ với Ngài và như thế mở ra cho họ con đường về với Chúa Cha (Ep 2,18).
Chính nhân danh Chúa Giê-su mà các thừa tác viên của Giáo hội phân phát các bí tích cho chúng ta. Trong các bí tích, sự sống của Chúa Giê-su được phát sinh và được nuôi dưỡng trong chúng ta. Trong và qua các bí tích, Chúa Giê-su thông ban cho chúng ta Thánh Thần của Ngài là Đấng làm cho chúng ta có thể sống một cuộc sống tin, cậy, mến. Tuy nhiên, các bí tích không làm phát sinh hậu quả một cách máy móc. Ban ơn cứu rỗi cho chúng ta, nhưng Thiên Chúa không hề cưỡng bách một ai. Tùy mỗi người đáp trả lại tiếng gọi của Ngài. Chính qua ý nghĩa sâu xa của các bí tích mà Thiên Chúa kêu gọi chúng ta. Qua hàng bao thế kỷ, Giáo hội như một hiền mẫu, đã không ngừng cải tiến những nghi thức bí tích. Chính là để làm cho tốt đẹp và ý nghĩa hơn mà Giáo hội đã không ngừng canh tân các nghi thức ấy. Nhờ quyền năng của Thánh Thần, Thiên Chúa kêu gọi chúng ta trong tận đáy lòng chúng ta; Ngài mời gọi chúng ta tham dự vào một cuộc sống giống như Đức Ki-tô. Nhưng tùy mỗi người chúng ta đáp lại. Không ai có thể đáp lại thay cho chúng ta. Khi một đứa trẻ sơ sinh cảm nghiệm được nụ cười âu yếm của người mẹ, một nguồn tình yêu dạt dào thấm nhập tâm hồn của nó và đứa bé cũng đáp lại bằng một nụ cười. Dĩ nhiên, nụ cười là nụ cười của đứa bé sơ sinh. Tuy nhiên, nụ cười đó cũng chính là kết quả của tình yêu vô bờ của người mẹ. Nếu không có tình yêu của người mẹ thì cũng sẽ không có nụ cười trên gương mặt của đứa bé. Và điều kỳ diệu là người cảm thấy hạnh phúc nhất vì nụ cười của đứa bé cũng chính là người mẹ: chính bà là người đã làm cho nụ cười nở trên môi đứa bé. Giữa chúng ta và Thiên Chúa cũng thế. Có lẽ vì thế mà người ta nói rằng trái tim của người mẹ là cửa sổ qua đó chúng ta nhìn thấy quả tim của Thiên Chúa.
Khi có một người đi theo tiếng gọi của Đức Ki-tô và lãnh nhận các bí tích, người đó tuyên xưng ra bên ngoài niềm tin của mình (Rm 10,9-10). Lãnh nhận bí tích mà không có lòng tin, nhưng chỉ vì chiếu lệ hoặc giả hình, điều đó không hề mang lại ơn cứu rỗi cho chúng ta. Toàn bộ Tân Ước nêu bật rằng nền tảng của sự cứu rỗi là đức tin. Khi có đức tin, con người từ bỏ thái độ tự phụ và đặt tin tưởng nơi Tình Yêu Tha Thứ của Thiên Chúa. Tâm hồn con người mở rộng để đón nhận ơn được làm con cái Chúa. Mỗi một cá nhân và toàn thể Giáo hội diễn tả và đào sâu đức tin qua các bí tích. Đó là cách thế thờ phượng của chúng ta và đó cũng là phương thế bảo đảm để chúng ta nhận được sức mạnh luôn mới mẻ giúp chúng ta trong cuộc sống giống như Đức Ki-tô. RỬA TỘI Bí tích đầu tiên trong 7 bí tích là Phép Rửa tội. Chính Chúa Giê-su đã thiết lập bí tích này sau khi sống lại. Ngài nói với các môn đệ: “Các con hãy đi giảng dạy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần” (Mt 28,19). Tuân giữ mệnh lệnh của Chúa Giê-su, linh mục hoặc người thay thế ngài đổ nước trên đầu chúng ta và nói: “Ta rửa con, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Cử chỉ này nói lên tất cả ý nghĩa của Phép Rửa tội. Trong Phép Rửa, trong và nhờ Chúa Giê-su và Thánh Thần, Thiên Chúa Cha rửa sạch chúng ta khỏi mọi tội lỗi (Cv 2,38). Ngay từ buổi đầu, tội lỗi như một dòng nước lũ đã chảy xuyên qua lịch sử nhân loại. Thánh Kinh kể lại cho chúng ta rằng những con người đầu tiên của nhân loại đã phạm tội và sự sa ngã này đã bao trùm toàn thể nhân loại. Từ cuộc sa ngã ấy, nhân loại sẽ mãi mãi phạm tội trừ phi có một quyền lực nào từ trên cao có thể chận đứng được. Quyền lực từ trên cao ấy chính là Thánh Thần của Thiên Chúa. Nguồn ơn thiết yếu của Phép Rửa cũng chính là sự đổ tràn Thánh Thần trong tâm hồn chúng ta. Từ trong đáy thẳm tâm hồn chúng ta, Thánh Thần trở thành nguồn suối trường sinh của niềm tin và tình yêu (Ga 3,5; Tt 3,5). Chỉ có những ai nên một với Chúa Ki-tô, Con Một của Thiên Chúa, mới có thể nhận lãnh Thánh Thần để trở nên con cái Thiên Chúa. Chính Phép Rửa làm cho chúng ta nên một với Chúa Ki-tô (Gl 3,27). Chính Phép Rửa nhận chìm chúng ta vào trong cái chết và sự phục sinh của Chúa Ki-tô (Rm 6,3-5; Cl 2,12). Thánh Thần là Đấng ban sự sống của Giáo hội, Thân Thể mà Chúa Ki-tô là Đầu. Phép Rửa làm cho chúng ta trở thành chi thể của Chúa và cho chúng ta hưởng được những đặc ân và thực thi những nhiệm vụ của người môn đệ Chúa Ki-tô. Phép Rửa là giây phút quyết định trong đời người. Trong Phép Rửa, chúng ta được tái sinh làm con cái Thiên Chúa. Chúng ta trở thành chi thể của Thân Thể Chúa Ki-tô. Chúng ta được biến thành Đền thờ thánh thiện và sống động của Chúa Thánh Thần. Trong Phép Rửa, chúng ta được giải thoát khỏi “quyền lực của tối tăm và đưa vào Nước của Con yêu dấu của Thiên Chúa” (Cl 1,13). Chúng ta khước từ Xa-tan và những cám dỗ của nó. Chúng ta tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng Cứu độ chúng ta. Trong thánh lễ vọng Phục sinh vào tối thứ bẩy tuần thánh, các tín hữu có thói quen lập lại lời hứa khi chịu Phép Rửa để chuẩn bị mừng lễ Phục sinh. Trong Phép Rửa, cộng đồng tín hữu đón tiếp một phần tử mới như một người anh em được mời tham dự vào bàn tiệc của Thiên Chúa. Đây là một biến cố khó quên tại các xứ truyền giáo. Tại đây, đa số các tín hữu được rửa tội vào tuổi trưởng thành cho nên họ dễ cảm nhận được sự đón tiếp mà cộng đồng tín hữu dành cho họ.
Dĩ nhiên, ơn Chúa hoạt động một cách mầu nhiệm. Nhiều người không lãnh nhận Phép Rửa vẫn có thể được ơn hoán cải và được cứu rỗi. Tuy nhiên, Thiên Chúa đã muốn rằng con đường thông thường của ơn cứu rỗi là gia nhập vào gia đình của Ngài qua Phép Rửa và trở thành cộng tác viên của Chúa Ki-tô để mang ơn cứu rỗi đến cho mọi người và xây dựng Nước Chúa trên trần gian này bằng cuộc sống, bằng gương sáng, bằng lời nói và cầu nguyện.
Vì Phép Rửa là điều tối quan trọng cho cuộc sống con người, cho nên Giáo hội có thói quen rửa tội cho trẻ em của gia đình Ki-tô hữu ngay từ lúc mới sinh. Dĩ nhiên, đứa trẻ sơ sinh chưa thể có ý thức về lòng tin, niềm hy vọng và tình yêu. Nhưng, cũng như ơn Chúa tác động như thế nào trong sự đáp lại của một người trưởng thành xin chịu Phép Rửa, thì ơn Ngài cũng tác động như thế trong tâm hồn của trẻ thơ: Ngài ban ơn thánh hóa cho tâm hồn trẻ thơ. Ơn thánh hóa ấy được trao ban cho đứa trẻ nhân danh đức tin của toàn thể Giáo hội. Đương nhiên, khi đến tuổi khôn, chính đứa bé sẽ cam kết sống đức tin, đức cậy, đức mến bằng một sự chọn lựa cá nhân. Chính vì thế mà Giáo hội chỉ rửa tội cho những trẻ em nào mà việc giáo dục đức tin được bảo đảm sau đó. Khi lớn lên, đứa bé nghe được Tin Mừng của Chúa Giê-su qua tiếng nói của cha mẹ, ông bà, thày cô và các linh mục, lúc đó Thánh Thần là Đấng đã hiện diện trong tâm hồn của nó nhờ ơn rửa tội, sẽ làm cho nó tin tưởng, hiểu được và theo lời giáo huấn của Chúa Ki-tô. Chúa Giê-su lôi kéo đứa trẻ đến với Ngài, cũng giống như Ngài đã lôi kéo những trẻ em Ga-li-lê khi đám đông bu quanh Ngài. Ngài đã bồng lấy một em, ôm hôn nó và nói những lời đáng ghi nhớ như sau: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, nếu các ngươi không nên giống như những trẻ nhỏ, các ngươi sẽ không được vào Nước Trời” (Mt 18,2-3).
Sự sống thần linh trở thành một thực tại trong chúng ta khi Thiên Chúa, nhờ Chúa Giê-su, Con Một Ngài, Đấng Ki-tô Phục sinh, tha tội cho chúng ta, làm cho chúng ta trở thành chi thể của Thân Thể Con Ngài và ban Thánh Thần để trở nên nguồn suối Tình Yêu trong chúng ta. Đó là một thực tại tạo thành sự hiệp nhất vô hình trong chúng ta. Do đó, Phép Rửa, Phép Thêm Sức và Thánh Thể gắn liền với nhau. Hiệu quả đặc biệt của Phép Thêm Sức là đổ tràn Thánh Thần trong chúng ta. Hiệu quả của Thánh Thể là sự kết hiệp giữa chúng ta và Chúa Ki-tô. Chính vì sự hiệp nhất của sự sống thần linh trong chúng ta mà một bí tích nhận lãnh trước đều một cách nào đó loan báo những ơn ích của một bí tích mà chúng ta sẽ lãnh nhận sau đó. Do đó, bí tích Rửa Tội cũng ban cho chúng ta Thánh Thần và kiên kết chúng ta với Chúa Ki-tô. THÊM SỨC Bí tích Thêm Sức là bí tích liên kết chúng ta một cách sống động với Thánh Thần. Giám mục hoặc linh mục nhờ phép đặc biệt, trao ban bí tích này. Vị giám mục đặt tay trên đầu chúng ta, xức dầu thánh trên trán chúng ta và cầu xin Thánh Thần xuống trên chúng ta. Cả hai cử chỉ đặt tay và xức dầu nói lên rằng người tín hữu được thông phần vào sức mạnh của Chúa Thánh Thần và như vậy lãnh nhận một sứ mệnh đặc biệt diễn ra như thể chính Chúa Giê-su đặt tay trên đầu chúng ta và nói với chúng ta: “Con hãy đi và yêu thương như Ta đã yêu thương. Hãy làm chứng rằng Thiên Chúa là Tình Yêu”. Dầu là dấu chỉ của sự tham dự của chúng ta vào sứ mệnh của Chúa Ki-tô. “Việc xức dầu” như Chúa Giê-su đã lãnh nhận để trở thành Chúa Ki-tô không phải là một sự xức dầu trần thế, mà chính là được xức dầu bởi Thánh Thần. Chúa Giê-su đã áp dụng những lời của tiên tri I-sai-a cho chính Ngài: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Người đã xức dầu cho tôi để tôi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khổ” (Lc 4,18). Chính nhờ Thánh Thần mà chúng ta trở thành chứng nhân của Tin Mừng của Chúa Ki-tô. Niềm tin và sự kiên nhẫn, tình yêu và niềm vui nội tâm của chúng ta là một chứng từ cho sự kiện: Chúa Ki-tô đã thực sự cứu độ trần gian. THÁNH THỂ Trong bữa ăn cuối cùng Chúa Giê-su cầm lấy bánh và một chén rượu. Ngài tuyên bố rằng bánh và rượu là Mình và Máu Ngài được hiến tế. Ngài trao ban bánh và rượu cho các môn đệ và truyền lệnh cho các ông: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Ta”. Gần hai ngàn năm qua, Giáo hội đã trung thành thực thi mệnh lệnh ấy của Chúa Ki-tô. Khắp nơi và mỗi ngày, trên các bàn thờ thô sơ giữa rừng già Phi châu, trong những nhà thờ phủ tuyết tại A-lát-ka, hay trong những vương cung thánh đường cao sang của Âu châu, các linh mục không ngừng lập lại những lời cuối cùng ấy của Chúa Ki-tô. Hàng triệu triệu người thông phần vào Mình và Máu Chúa. Thánh Phao-lô gọi biến cố này là “Bữa ăn tối của Chúa” (1 Cr 11,20). Từ thời Trung cổ, những người công giáo gọi đó là lễ Mi-sa, tức thánh lễ. Thánh lễ là trung tâm và là suối nguồn của đời sống Ki-tô giáo. Trong thánh lễ, từ trái tim nồng nàn của Ngài, Chúa Giê-su đã để lại cho chúng ta món quà quí giá nhất của Ngài. Với lời quyền năng của Ngài được lập lại bởi linh mục là người đi theo Ngài và thực thi quyền năng Ngài ban cho, Chúa Giê-su biến bánh và rượu trở thành Mình và Máu Ngài. Ngài biến bánh và rượu trở thành chính Ngài để nuôi sống chúng ta. Ngài đồng hóa bánh và rượu với chính lễ hy sinh của Ngài. Dĩ nhiên, chúng ta chỉ nhìn thấy bánh và rượu trên bàn thờ. Tuy nhiên nhờ tin vô điều kiện vào lời của Chúa Ki-tô, chúng ta hiểu được rằng chính Chúa Giê-su đã chết cho chúng ta và đã sống lại từ cõi chết. Cũng như thức ăn phải được tiêu hóa mới nuôi sống chúng ta, cũng thế, Chúa Giê-su ban chính sự sống của Ngài cho chúng ta. Ngài đã sống và đã chết cho chúng ta. Giờ đây Ngài tự ban mình cho chúng ta như thức ăn và thức uống để chúng ta có thể được kết hợp hoàn toàn với Ngài và trong Ngài và với nhau. Bánh trở nên thân xác của người ăn. Bánh Thánh từ trời xuống, biến thành một với người lãnh nhận trong đức tin và lòng yêu mến.
Nhờ quyền lực của Thánh Thần, chính Chúa Giê-su hiện diện giữa chúng ta dưới dạng thức bánh và rượu để biểu tỏ cái chết và ban sự sống của Ngài. Ngài lôi kéo chúng ta đến với Ngài và cho chúng ta tham dự vào cái chết và sự Phục sinh của Ngài. Lời của Chúa Giê-su nói với chúng ta rõ ràng rằng bánh mà chúng ta vẫn thấy như bánh, là chính “Mình Ngài phó nộp cho chúng ta” và rượu mà chúng ta chỉ thấy là rượu, là chính “Máu Ngài đổ ra cho chúng ta”. Nhưng những dấu chỉ đó không là dấu chỉ của sự hủy diệt. Bánh và rượu là thức ăn và thức uống cho nên là dấu chỉ của sự sống. Chính trong thánh lễ mà Giáo hội tưởng niệm mầu nhiệm thánh thiêng ấy và cảm tạ Thiên Chúa vì mầu nhiệm ấy. Theo một nguyên ngữ Hy Lạp, Thánh lễ cũng có nghĩa là “Tạ Ơn”. Dĩ nhiên, thân xác phục sinh của Chúa Ki-tô sẽ không bao giờ chết nữa. Tuy nhiên, trong Thánh lễ, hy tế của Chúa Ki-tô trở thành hy tế của chúng ta. Chính nhờ đó mà chúng ta có thể thông hưởng dồi dào hoa trái của ơn cứu rỗi. Toàn thể Giáo hội, chứ không chỉ những người hiện diện trong Thánh lễ, hưởng những hoa trái ấy, nhất là những kẻ được nhắc nhớ cách đặc biệt. Khi chúng ta chịu lễ, Chúa Giê-su đến với chúng ta. Ngài ước ao cho những dòng suối nhỏ bé của chúng ta được nối liền với đại dương bao la của Ngài để Ngài thất sự được ở trong chúng ta mãi mãi (Ga 6,56). “Như Cha hằng sống đã sai Ta, và Ta sống bởi Cha, cũng thế, ai ăn Ta sẽ sống bởi Ta” (Ga 6,57).
Ngay từ đầu lịch sử Giáo hội, các tín hữu đã có thói quen tập hợp lại để cử hành Thánh lễ trong Ngày Chúa Nhật, tức là Ngày Phục sinh của Chúa. Về sau, Giáo hội đặt ra luật buộc các tín hữu phải có mặt trong Thánh lễ Chúa nhật và rước lễ trong Mùa Phục sinh. Đối với những ai hiểu được ý nghĩa của Thánh lễ và ơn ích cao trọng của Đức Ki-tô, thì sự bó buộc ấy không là một gánh nặng. Trái lại, họ còn xem đó là một đặc ân đáng trân trọng là khác. Họ cảm thấy cần phải tham dự càng nhiều càng tốt vào bàn tiệc của gia đình Chúa Ki-tô. Chính Chúa là Đấng mời gọi anh chị em của Ngài vào bàn tiệc ấy. Ngài tự trao ban cho chúng ta như của ăn cho sự sống trường sinh. “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta sẽ được sống trường sinh và Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,54). BÍ TÍCH GIAO HÒA Bí tích giao hòa là quà Phục sinh của Chúa Giê-su dành cho chúng ta. Trong buổi chiều Phục sinh, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ: “Hãy lãnh nhận Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Các con cầm buộc ai, thì người ấy bị cầm buộc” (Ga 20,23).
Tình yêu vẫn chưa thấm nhập vào từng thớ thịt của quả tim và tâm hồn chúng ta. Không ai có thể nói được rằng mình không hề phạm tội trong tư tưởng, lời nói, hành động và thiếu sót. Đó là lý do tại sao chúng ta xưng thú với nhau khi bắt đầu Thánh lễ. Thánh Gia-cô-bê đã nhắc nhở chúng ta rằng: “tất cà chúng ta đều có nhiều lỗi lầm” (Gc 3,2). Trừ phi một người nào đó hoàn toàn khước từ Tình yêu của Chúa, tội lỗi của con người vẫn không thể xóa bỏ được khỏi tâm hồn mình tư cách làm con Chúa. Trong trường hợp này, tội lỗi được gọi là “tội nhẹ”. Đó là những tội mà không ai có thể tránh khỏi. Nhưng có một số tư tưởng, lời nói, hành động và thiếu sót mà con người cố tình làm với tất cả hiểu biết như một khước từ thánh ý Chúa. Đó là những tội hoàn toàn đối nghịch với Tình yêu của Chúa và tha nhân. Trong trường hợp này, con người hoàn toàn khước từ sự thiện và chọn lựa điều xấu với tất cả hiểu biết của mình. Chúng ta gọi hành động đó là “tội trọng”. Điều này không dễ xẩy ra trong đời sống của một người xem trọng đời sống đức tin của mình. Đó không là điều thường xẩy ra trong cuộc sống mỗi ngày. Nhưng con người yếu đuối cho nên một điều bất hạnh như thế không phải là không thể xẩy ra. Đối với những ai xem thường một số tội, những lời trong thư Thánh Phao-lô gửi các tín hữu Cô-rin-tô thực đáng suy nghĩ: “Đừng lừa dối mình. Anh em không biết rằng những kẻ bất chánh sẽ không được hưởng Nước Chúa đó sao? (1 Cr 6,9).
Như vậy thì không còn hy vọng nào cho những tội nhân bất hạnh như thế sao? Không, cám ơn Chúa. Lòng nhân từ của Thiên Chúa không có giới hạn. Tình yêu của Chúa Ki-tô không có biên giới. Ngài vẫn còn mời gọi, vẫn chờ đợi, vẫn tìm kiếm những con chiên lạc. Tuy nhiên, để có thể được tha thứ, tội nhân cần phải hết lòng sám hối và đền bù vì những thiệt hại mình đã gây ra và đến xưng thú với một linh mục là đại diện của Giáo hội và được Chúa Ki-tô ban quiyền để tha thứ. Khi đã được tha thứ, người đó mới được phép đến gần bàn thờ Chúa như một chi thể lành mạnh của Giáo hội. Tâm hồn của người đó sẽ được sống lại bằng Tình yêu được diễn tả trong và qua bàn tiệc của Chúa.
Thật ra chúng ta chỉ bắt buộc phải chạy đến với bí tích giao hòa khi chúng ta ý thức được những tội trọng mà chúng ta chưa xưng thú. Tuy nhiên, chúng ta cũng được khuyên tìm đến với bí tích này như một phương thế hữu hiệu để chiến đấu với những tội lỗi khác. Những lời khuyên nhủ của vị linh mục giải tội cũng rất hữu ích cho chúng ta. Điều nguy hiểm cho chúng ta đó là khi chúng ta tự nhủ rằng điều xấu là tốt, phạm tội là điều tự nhiên, thờ ơ là lẽ khôn ngoan, tiêu cực là sự thường tình. Hiểu được rằng điều xấu tự nó là xấu: điều đó quan trọng biết chừng nào! Điều xấu ấy vẫn mãi mãi là xấu ngay cả khi chính tôi là người đã phạm. Quả thực điều đó là xấu, nhưng tôi vẫn còn có thể được tha thứ.
Tòa giải tội là nơi duy nhất mà ngày nay con người không khoe khoang nhân đức hoặc biện hộ cho những lỗi lầm của mình, mà là nơi để họ đến và chỉ nói lên những điều xấu mình đã làm mà thôi. Hành động như thế, họ nhìn nhận rằng có một cái gì đó không phù hợp với ơn gọi Ki-tô hữu của họ và họ muốn khử trừ điều đó. Một cuộc xưng tội tột đẹp là một cuộc gặp gỡ với Đức Ki-tô, Đấng Cứu chuộc nhân từ và hay cảm thông. Đó là một nguồn vui lớn. Chúng ta được tha thứ. Chúng ta được tẩy rửa tội lỗi chúng ta. Một lần nữa, chúng ta lại lên đường đi theo Chúa. Tuy nhiên, có một điều chúng ta không bao giờ có thể quên được: đó là để được Thiên Chúa tha thứ, chúng ta phải tha thứ cho nhau. Chúa Giê-su đã nhấn mạnh đến điều đó không biết bao nhiêu lần: “Nếu các ngươi tha thứ cho những ai xúc phạm đến các ngươi, Cha các ngươi Đấng ngự trên trời cũng sẽ tha thứ cho các ngươi. Nếu các ngươi không tha thứ cho những ai xúc phạm đến các ngươi, Cha trên trời cũng sẽ không tha thứ cho các ngươi” (Mt-,14-15). Điều kiện và đồng thời cũng là hiệu quả của sự giao hòa của chúng ta với Chúa chính là sự giao hòa của chúng ta với người khác, bằng cách tha thứ cho họ đến “bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22). Chỉ có những ai cảm thấy cần được Thiên Chúa tha thứ mới thấy cần phải tha thứ cho người khác. Chỉ có những ai cầu nguyện mỗi ngày “Xin Cha tha nợ chúng con” mới có thể tha thứ cho những ai đã xúc phạm đến mình. BÍ TÍCH XỨC DẦU BỆNH NHÂN
Có một bí tích tương tự với bí tích giao hòa. Đó là bí tích xức dầu bệnh nhân. Thánh Gia-cô-bê nói về bí tích này như sau: “Trong anh em có ai đau yếu ư? Anh em hãy mời các trưởng lão trong Giáo hội lại để họ cầu nguyện cho người đó bằng cách xức dầu nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện trong đức tin sẽ cứu thoát bệnh nhân và Chúa sẽ chữa lành người đó. Nếu người đó có phạm tội, người đó cũng sẽ được tha thứ” (Gc 5,14-15).
Trong bí tích này, Chúa Giê-su trợ giúp cho anh em của Ngài có thể vác thập giá của bệnh tật bằng sự kết hiệp với chính thập giá của Ngài. Nhờ quyền lực của Phục sinh, Ngài cho họ lướt thắng được cơn cám dỗ của thất vọng, sợ hãi hoặc lung lay trong niềm tin vì bệnh tật gây nên. Ngài hướng dẫn họ một cách an toàn đến cuộc sống vĩnh cửu. Nếu Chúa muốn, bí tích này đôi khi cũng giúp cho bệnh nhân được bình phục. Do đó, không nên xem bí tích này như bí tích chỉ dành riêng cho những người đang hấp hối. Chính vì thế mà ngày nay, Giáo hội không còn gọi bí tích này là xức dầu lần cuối cùng, mà là xức dầu bệnh nhân. Những người già cả, cho dẫu khỏe mạnh cũng được phép lãnh nhận bí tích này. Cho dẫu sức khỏe không được hồi phục, bí tích này vẫn giúp cho các bệnh nhân chấp nhận đau khổ trong niềm vui và bình an của Chúa Ki-tô, bằng cách cho họ hiệp thông với sự đau khổ của Đấng Cứu Thế. Bệnh nhân có thể lấy lời của Thánh Phao-lô làm chính tâm tình của họ: “Giờ đây vì anh em tôi vui mừng vì chịu đau khổ. Trong thân xác tôi, tôi bổ túc cho những gì còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn của Chúa Ki-tô vì lợi ích của Thân Thể Ngài là Giáo hội” (Cl 1,24). Điều còn “thiếu sót” không phải là một thiếu sót của Chúa Ki-tô, mà là thiếu sót của chúng ta. Nếu chúng ta chấp nhận với tinh thần của Chúa Ki-tô, thập gía của Ngài sẽ bao trùm tất cả và sẽ được hoàn thành trong sự Phục sinh. BÍ TÍCH TRUYỀN CHỨC THÁNH
Có hai bí tích giúp con người thực thi một sứ mệnh đặc biệt trong cuộc sống. Một trong hai bí tích đó là bí tích qua đó các giám mục được thánh hến và linh mục được phong chức. Như chúng ta đã nói, nhờ sự đặt tay của một giám mục kèm theo lời cầu nguyện thích hợp, Chúa Ki-tô đón nhận những phần tử mới vào đoàn ngũ tông đồ của Ngài, nghĩa là cho họ được tham dự vào ơn gọi của các tông đồ, tức giảng dạy, lãnh đạo các cộng đồng Giáo hội, dâng Thánh lễ và cử hành các bí tích khác. Nhờ bí tích này, Ngài cũng ban cho họ những ơn cần thiết để thi hành bổn phận của họ. BÍ TÍCH HÔN PHỐI
Bí tích thứ hai giúp cho con người thực thi một sứ mệnh đặc biệt trong cuộc sống là bí tích hôn phối. Trong bí tích này, Chúa Ki-tô ban ơn trợ giúp cho các đôi vợ chồng để họ sống đức tin và tình yêu thương theo cách thế riêng của đời sống hôn nhân. Nếu không có Chúa đồng hành trong cuộc sống, họ khó có thể trung thành với nhau suốt cả đời. Thiên Chúa sẽ không bao giờ bỏ rơi những cặp vợ chồng tín thác nơi Ngài. Nhờ ơn Ngài, các đôi vợ chồng yêu thương nhau giống như chính Chúa Ki-tô yêu thương Giáo hội của Ngài (Ep 5,25-33).
Bí tích hôn phối được hiện thực qua sự ưng thuận của hai người nam nữ trao cho nhau. Bằng sự ưng thuận hỗ tương này, hai người chia sẻ cho nhau chính ân sủng của Chúa Ki-tô. Ơn sủng này giúp giúp họ thể hiện được Tình yêu của Chúa Ki-tô qua tình yêu của họ dành cho nhau và ho con cái họ. Một cuộc sống hôn nhân như thề được x6ay dựng trên tình yêu thương và sự cầu nguyện mỗi ngày. Đây là một cuộc sống đòi hỏi nhiều hy sinh, nhưng cũng là một cuộc sống tràn ngập hạnh phúc bởi vì được cắm rễ trong niềm tin tưởng vào Chúa và vào nhau. Một gia đình như thế là một tế bào sống của Giáo hội; cho dẫu là tế bào nhỏ nhất, nhưng hẳn phải là đơn vị quan trọng nhất. MỘT CUỘC SỐNG VỚI CHÚA Bảy phép bí tích là bảy nguồn suối nước trường sinh! Đây là bảy hành động nhờ đó Chúa Ki-tô đến được với con người và lôi kéo họ đến với Ngài, cũng như làm cho họ có thể đi trên những dấu chân yêu thương của Ngài, để đến với Thiên Chúa và tha nhân. Ai thường xuyên lãnh nhận các bí tích, nhưng lại không muốn yêu thương tha nhân một cách cụ thể bằng hành động và lời nói, không muốn cố gắng sống theo con đường của Chúa Ki-tô, kẻ ấy là người dối trá và giả hình. Thánh Gio-an viết: “Ai nói ‘tôi yêu Chúa’, nhưng lại ghét anh em mình, thì người đó là kẻ nói dối. Bởi vì nếu không yêu thương người anh em mình thấy trước mắt, thì không thể yêu thương Thiên Chúa là Đấng mình chưa từng thấy” (1 Ga 4,20). Làm thế nào gọi là yêu Chúa, nếu tha nhân là người rất quan trọng đối với Chúa, lại không là gì đối với ta? Các bí tích vừa là nguồn ơn sủng lại cũng vừa trao phó cho chúng ta một sứ mệnh. Mỗi một ơn huệ của Chúa đều đi kèm với một sứ mệnh. Một cuộc sống được nuôi dưỡng bằng bí tích là một cuộc sống trong đó tình yêu Chúa và tình yêu tha nhân không tách biệt nhau.
Đời sống với Chúa là một đời sống cầu nguyện. Chúa Ki-tô thường xuyên cầu nguyện. Ngài dạy chúng ta rằng khi chúng ta cầu nguyện thì đừng có nhiều lời, nhưng hãy nói với Chúa một cách đơn sơ nt em bé nói chuyện với cha nó (Mt 6,9). Không cần phải kể lể dài dòng về những nhu cầu của chúng ta (Mt 6,7-8.32). Tuy nhiên, Chúa Giê-su không hề có ý nói rằng cầu nguyện là thừa thãi. Trái lại là khác. Ngài dạy chúng ta phải cầu nguyện luôn (Lc 18,1).
Khi cầu nguyện, đôi khi chúng ta chúc tụng Chúa. Có lúc, chúng ta tạ ơn Ngài. Rồi chúng ta lại xin Ngài ban ơn, vì chúng ta luôn cần sự giùp đỡ của Ngài. Tuy nhiên, một lời cầu xin đích thực không bao giờ thôi thúc Chúa hoặc đặt ra giới hạn cho Ngài. Trái lại, lời cầu nguyện luôn phải được trao phó trong tay Ngài” “Xin vâng Ý Cha”.
Từ xa xưa người Ki-tô hữu có thói quen cầu nguyện mỗi ngày sáng tối hai lần. Cầu nguyện như thế nhắc nhở chúng ta về cùng đích của cuộc đời. Tuy nhiên, thói quen nào cũng dễ thành nhàm chán. Không thể xem thường tầm quan trọng của việc cầu nguyện chung trong gia đình, nhất là ban tối trước khi đi ngủ. Tuy nhiên, những giây phút cầu nguyện ngắn ngủi ấy mới chỉ là những bước khởi đầu trên con đường tiến sâu vào thế giới cầu nguyện. Chỉ có những tâm hồn nào luôn tỉnh thức trước sự hiện diện yêu thương của Chúa mới thực sự đạt đến chiều sâu của thế giới cầu nguyện. Tựu trung, cầu nguyện đích thực là luôn ở với Chúa và nhớ về Ngài. Một khi tâm hồn chúng ta luôn tỉnh thức về sự hiện diện của Ngài, lúc đó, chúng ta hầu như đã đạt được một bản năng thứ hai: đó là có thể giang rộng cánh tay để đón nhận mọi người.
Do đó, đời sống Ki-tô hữu cũng là một đời sống với và cho tha nhân. Chúng ta không sống cho riêng mình, nhưng cho người khác: chồng cho vợ, vợ cho chồng; cha mẹ cho con cái; bác sĩ cho bệnh nhân; tất cả mọi người chúng ta cho tha nhân, để xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, một xã hội nhân bản xây dựng trên công lý và tình thương. Sống cho mọi người đã đành, nhưng chúng ta cần phải quan tâm đến những người đau khổ, những người nghèo khổ và bị áp bức nhiều hơn. Trong bài diễn văn về ngày phán xét, Chúa Giê-su nói: “Ta nói thật với các ngươi, tất cả những gì các ngươi làm cho một trong những người anh em bé mọn nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Những gì chúng ta làm cho chúng ta, chúng ta chỉ làm cho bản thân mình thôi. Nhưng những gì chúng ta làm cho người khác, thì đó là những gì chúng ta làm cho Chúa Ki-tô. Hành động như thế, chúng ta đang gieo vãi những hạt giống của sự sống vĩnh cửu. Công đồng Va-ti-can II nhắc nhở chúng ta rằng tình yêu và hoa trái của tình yêu sẽ tồn tại mãi mãi (Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng, số 39). Và đó là niềm hy vọng của chúng ta. SUY TƯ VÀ THẢO LUẬN
1. Đối với tôi, các bí tích có phải là một cuộc gặp gỡ đích thực trong đức tin với Chúa Ki-tô không? Hay tôi chỉ lãnh nhận các bí tích như một thói quen?
2. Tôi có xem việc được rửa tội như một dấu chỉ của ơn Chúa không? Ánh sáng của nến rửa tội và màu trắng của chiếc áo rửa tội còn chiếu sáng trong tâm hồn tôi không? Những lời của Thánh Phao-lô : “anh em là con cái sự sáng” (Ep 5,8) có thực sự áp dụng cho chính tôi không? Tôi sẽ trả lời như thế nào nếu có người hỏi tôi là ai? Tôi có trả lời rằng “tôi là con Thiên Chúa Cha, chi thể của Thân Thể Chúa Ki-tô, đền thờ của Chúa Thánh Thần” không? Hay tôi cho rằng những mối tương quan hoàn toàn nhân loại quan trọng hơn để nói lên căn tính của tôi?
3. Đâu là “sức mạnh” đã được ban cho tôi trong bí tích thêm sức? Chúa Ki-tô quan niệm như thế nào về “sức mạnh”?Quan niệm ấy có khác với quan niệm thông thường của chúng ta không?
4. Tham dự Thánh lễ là một ân huệ hay chỉ là gánh nặng đối với tôi? Thánh lễ được gọi bằng nhiều danh từ khác nhau như ‘Bữa ăn của Chúa’, ‘Hy tế của Giao ước mới’, ‘bữa ăn Vượt qua của các môn đệ Chúa Ki-tô’, ‘chia sẻ bánh hằng sống từ trời xuống’ và ‘nguồn ơn và tuyệt đỉnh của đời sống Giáo hội’. Đâu là ý nghĩa của mỗi kiểu nói trên đây?Những kiểu nói ấy liên hệ với nhau như thế nào?Chúa Ki-tô sống động và hiện diện giữa chúng ta bằng cách nào? Bữa ăn tối của Chúa có ý nghĩa gì đối với Thánh Phao-lô (1 Cr 10 và 11)? Thánh Gio-an nghĩ gì về bữa ăn ấy? (Ga 6).
5. Tôi có đủ thành thực và can đảm nhận những lỗi lầm và xin Chúa và Giáo hội tha thứ không? Hay tôi lại cố gẮng tự bào chữa cho tôi nhưng lại kết án người khác? Những lần xưng tội của tôi chỉ là những công thức chiếu lệ hay là một cuộc gặp gỡ thực sự với lòng nhân từ của Thiên Chúa trong Chúa Ki-tô? Tôi có sẵn sàng để tha thứ cho người khác “70 lần 7” không? Hay tôi đặt ra những giới hạn cho sự tha thứ của tôi? Tôi có nhận thức rằng các mối tương quan của con người không thể chỉ được xây dựng trên công bình mà thôi không? Tôi có ý thức rằng những tương quan giữa người với người phải được phát triển do lòng nhân từ không? Nhân từ mà không có công bình và công bình mà không có nhân từ: cả hai đều chưa đủ để xây dựng một xã hội nhân bản. Vậy tôi phải hành động như thế nào?
6. Tôi có xem hay sống đời hôn nhân như một sự cụ thể của Tình yêu Chúa Ki-tô, được xây dựng trên đức tin không? Những lời của Chúa Ki-tô “Ở đâu có hai hoặc ba người họp lại vì danh Ta, thì có Ta ở giữa họ” (Mt 18,20) có áp dụng cho gia đình tôi không? Cách cư xử của tôi có giúp cho mọi phần tử trong gia đình tôi cảm nghiệm được sự hiện diện của Chúa Ki-tô giữa họ không?
7. Cầu nguyện có phải là hơi thở đối với tôi không? Tôi có cảm thấy được thôi thúc để dành một phần thời gian cho sự cầu nguyện không?Tôi có thể lắng nghe “những tiếng thì thầm của thinh lặng” không? Hay tôi luôn luôn cần có những tiếng ồn ào để lấp đầy sự trống vắng trong tôi? Sự cầu nguyện của tôi là một thói quen máy móc hay là một phần của chính tôi? Bao nhiêu lần tôi hành động cho tôi và bao nhiêu lần tôi hành động vì Thiên Chúa, vì Chúa Ki-tô, vì tha nhân? Chương Bốn - Ta Sống và Các Ngươi cũng Sẽ Sống Đối với các tạo vật, không có quyền lực nào đáng kinh hãi cho bằng sự chết. Tuy nhiên, lời của Đức Ki-tô vẫn luôn vang dội trong lịch sử nhân loại: “Ta sống và các ngươi cũng sẽ sống”. Thiên Chúa tạo dựng thế giới không phải để chết mà để sống. Chết chỉ là một chặng trên con đường tiến về cuộc sống mai hậu. Ở cuối cuộc hành trình trần gian của chúng ta, Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta cũng như Ngài đã có mặt ngay từ lúc khởi thủy và đồng hành với các tạo vật trong suốt cuộc hành trình. CÓ MỘT CUỘC SỐNG MAI HẬU “Ta sống và các ngươi cũng sẽ sống” (Ga 14,19). Đây là những lời tâm huyết mà Chúa Giê-su đã thốt lên khi ngài chuẩn bị đương đầu với cái chết. Những lời này nói lên một cách tuyệt vời niềm hy vọng của Ki-tô giáo. Đối với các tạo vật, không có quyền lực nào đáng kinh hãi cho bằng sự chết. Cây cỏ, thú vật và con người, không ai có thể thoát khỏi Thần Chết. Theo khoa học sẽ có một ngày tất cả mọi sự sống đều bị quét sạch khỏi mặt đất. Toàn thể nhân loại và những công trình xây dựng của con người sẽ bị hủy diệt trong cái chết.
Nhưng trái tim con người luôn khao khát cuộc sống vĩnh cửu. Đối với một tâm hồn biết yêu thương, thì quả thật không gì đau đớn cho bằng cái ý nghĩ phải mất cha, mất mẹ, mất vợ, mất chồng, mất con, mất bạn…, mất một cách vĩnh viễn để chỉ còn lại tro bụi mà thôi. Những đôi mắt chiếu ngời sức sống, những quả tim bừng cháy lòng tốt, một cuộc sống đầy ý nghĩa, một cuộc sống độc nhất vô nhị, một cuộc sống không có gì có thể thay thế được: làm sao có thể chấp nhận được rằng một cuộc sống như thế qua đi mà không để lại dấu vết nào! Quả là một ý nghĩ đau đớn khi phải chấp nhận rằng tất cả những gì mình đã thực hiện được rồi ra sẽ bị mối mọt đục khoét, rỉ sét xói mòn. Quả là một ý nghĩ đau đớn khi phải chấp nhận rằng toàn thể nhân loại cùng với bao công lao khó nhọc qua hằng bao thế kỷ sẽ trở về hư không. Phải chăng tương lai đang chờ đợi chúng ta không gì khác hơn là những nguyên tử bay lượn? Cho dẫu cuộc sống sẽ bắt đầu lại trên một hành tinh thuộc một thái dương hệ khác, thì cuộc sống ấy rồi ra cũng sẽ trở về hư không và cái vòng lẩn quẩn cứ thế mà tiếp diễn ư? Một sự tiến hóa không có mục đích cũng vô nghĩa như một con đường không dẫn về đâu. Trái tim con người không thể được thỏa mãn với một viễn ảnh như thế, bởi vì nó tước đoạt hết mọi ý nghĩa của cuộc sống. Quả thực, cái chết như đặt chúng ta trước một viễn ảnh như thế.
Tuy nhiên, lời của Đức Ki-tô vẫn luôn vang dội trong lịch sử nhân loại: “Ta sống và các ngươi cũng sẽ sống”. Thiên Chúa tạo dựng thế giới không phải để chết mà để sống. Chết chỉ là một chặng trên con đường tiến về cuộc sống mai hậu. Ở cuối cuộc hành trình trần gian của chúng ta, Thiên Chúa đang chờ đợi chúng ta cũng như Ngài đã có mặt ngay từ lúc khởi thủy và đồng hành với các tạo vật trong suốt cuộc hành trình. Ngài là Đầu và là Cuối, Ngài là Khởi Đầu và là Cùng Đích, Ngài là An-pha và Ô-mê-ga. Ngài là Nguồn Suối ban sự sống cho mọi người. Qua sứ mệnh của Chúa Con và Thánh Thần, Ngài nuôi dưỡng trong chúng ta một cuộc sống sẽ tồn tại mãi mãi. Chúa Giê-su đã tuyên bố: “Ai tin Ta, cho dẫu có chết, cũng sẽ sống. Và ai sống và tin Ta sẽ không bao giờ chết” (Ga 11,25-26). Ngài như muốn nói: “Ai tin Ta, ai đi theo dấu chân của Ta, ai sống bằng nhịp đập của Trái Tim Ta, sẽ sống mãi với Ta, trong Ta, nhờ Ta. Người đó sẽ sống bằng cuộc sống Phục sinh của Ta, cho dẫu một ngày nào đó trái tim người đó có ngừng đập và thân xác người đó có trở về với tro bụi. Ta là sự sống lại và là sự sống…Ta sẽ cho người đó sống lại trong ngày sau hết” (Ga 11,25; 6,54). Đó là Phúc Am, đó là Tin Mừng của Chúa Giê-su. Cũng như Ngài đã hỏi Mát-ta, Ngài cũng đang hỏi chúng ta: “Con có tin không?” (Ga 11,26). Và hàng triệu triệu tín hữu Ki-tô đã trả lời với Ngài: “Vâng, lạy Chúa, chúng con tin rằng Chúa là sự sống lại, Chúa là Sự Sống. Ai tin Cha sẽ không chết đời đời”. CHÚNG TA SẼ SỐNG LẠI Khi nói về sự sống vĩnh cửu, Chúa Giê-su dùng từ “sống lại” Đó là lý do tại sao trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Chúng ta đã nêu bật rằng thân xác sống lại hoàn toàn khác biệt với thân xác trong tình trạng hiện tại. Thân xác sống lại sẽ không còn bị chi phối bởi những giới hạn của không gian và thời gian, nhưng sẽ sống trong tự do của Thánh Thần. Chúng ta vẫn còn gọi đó là thân xác, bởi vì thân xác là một biểu lộ của linh hồn và là khí cụ nhờ đó chúng ta liên lạc với nhau. Trong thế giới mai hậu cũng sẽ có một cộng đồng nhân loại, trong đó chúng ta sẽ biết nhau, sẽ sống hạnh phúc bên nhau và ca ngợi lòng Thiện Hảo của Chúa. Dĩ nhiên, “không có mắt nào đã thấy, tai nào đã nghe hay tim nào có thể cảm nhận được điều Chúa đã chuẩn bị cho những kẻ yêu Ngài” (1 Cr 2,9). Chúng ta chỉ thấy có hạt giống nhỏ bé, nhưng chúng ta không thể tưởng tượng được thân cây to lớn sẽ nẩy mầm từ đó. Chúng ta chỉ thấy con sâu nhơ bẩn đang bò trên mặt đất, nhưng chúng ta không thể thấy được con bướm sặc sỡ sẽ thoát thai từ đó. Đối với cuộc sống mai hậu, chúng ta lại càng khó tưởng tượng được. Chúng ta không thể cảm nghiệm được, chúng ta không thể tưởng tượng được vẻ đẹp của miền đất mà Thiên Chúa đã chuẩn bị ngay từ đầu cho những ai đón nhận sự chúc phúc của Ngài (Mt 25,35). Có lẽ chúng ta có thể thấy thoáng được một chút về thế giới ấy trong ánh mắt và trong cái nhìn kỳ diệu trên gương mặt của một Ki-tô hữu thánh thiện đang từ gĩa cõi đời này. Cho dẫu chúng ta không thể tưởng tượng được Thiên đàng như thế nào, nhưng ít nhất ánh mắt và nụ cười trên đây có thể mang lại ý nghĩa cho cuộc đời của chúng ta. Vì chúng ta biết rằng Chúa Giê-su đã đi trước để chuẩn bị cho chúng ta một “căn nhà” như thế (Ga 14,2), cho nên cuộc hành trình trên trần gian của chúng ta cũng có một ý nghĩa thực sự. Bởi vì trên Thiên đàng có một kho để chứa những vụ mùa của Chúa (Mt 13,30), cho nên công lao gieo trồng của chúng ta cũng có một ý nghĩa thực sự. Những gì Thánh Thần đã sinh động không bao giờ hư mất. Vì Trái Tim của Chúa Giê-su, trung tâm của mọi trái tim, mạnh hơn sự chết, cho nên tất cả những gì Tình yêu đã thực hiện được, sẽ sống mãi. SỐNG HAY CHẾT?
Đó là niềm Hy vọng vững chắc của chúng ta. Nhưng đó cũng là một nhắc nhở cho toàn thể nhân loại. Nơi nào có tình yêu trong tinh thần yêu thương của Đức Ki-tô, nơi đó cũng có sự sống vĩnh cửu. Nhưng nơi nào Tình yêu bị loại bỏ, thì nơi đó sự chết cũng ùa vào. Nếu không có sự hoán cải, thì thái độ đó đồng nghĩa với sự chết vĩnh viễn, sự trầm luân muôn đời. Con người không chỉ là một sản phẩm của những định luật tự nhiên. Con người là một thụ tạo có trí khôn, có thể tự do quyết định về vận mạng của mình. Tự bản chất, con người có thể biết sự thật và tự do chọn lựa điều thiện. Với ý thức sáng tạo, con người có thể tự tạo lấy cho mình một cuôc sống của chính mình. Nếu con người thành tâm tìm kiếm chân lý và lấy đó làm chân lý cho cuộc đời mình, nếu nó quyết tâm chọn điều thiện và sống vì điều thiện, nó sẽ trở thành một con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Nếu ngược lại, con người tìm kiếm tư lợi hơn là chân lý, nếu con người chỉ đeo đuổi lợi ích riêng tư hơn là làm điều thiện, nó đi ngược lại với vận mệnh thâm sâu của nó và phá hủy hình ảnh của Thiên Chúa Chân Thực và Thiện Hảo nơi chính nó. Giáo huấn của Đức Ki-tô, mẫu gương của Ngài, cuộc sống của Ngài, cái chết và sự phục sinh của Ngài, cùng với Thánh Thần và sự tác động của Ngài: tất cả những điều đó đều chỉ nhắm đến một mục đích là giúp con người, nhờ đức tin và tình yêu, đạt đến chân lý (1 Tm 2,4) và thực thi điều thiện. Tình yêu không thể bị cưỡng bách. Đức tin và tình yêu là kết quả của một sự lựa chọn căn bản của con người. Sự lựa chọn này diễn ra trong thâm cung tâm hồn chúng ta. Dù vậy, toàn thể cuộc sống của con người đều được quyết định bởi sự lựa chọn này: hoặc là tình yêu, tự do và Thiên Chúa, hoặc là ích kỷ, đam mê và tự phụ. Trong cuộc sống tại thế, dường như những kẻ chọn lựa sống cho điều thiện thường phải gặp đau khổ, trong khi những con người gian trá, quỷ quyệt, tham quyền thì lại thành công. Nhưng đó chỉ là bề mặt của sự vật. Bởi vì Thiên Chúa vẫn có đó.
Cuộc sống con người không chấm dứt với cái chết. Khi đã chết rồi, con người sẽ không còn thay đổi được thái độ sống cơ bản của mình nữa. Nó sẽ mãi mãi là con người mà chính nó đã chọn lựa và xây dựng khi còn sống; nghĩa là hoặc nó là đứa con ngoan của Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Con và Chúa Thánh Thần, hoặc nó sẽ mãi mãi là một con người ích kỷ, tự đặt mình làm trung tâm của mọi sự. Tình trạng ấy được gọi là hỏa ngục : đáng lẽ ra chỉ có hạnh phúc với tình yêu, với Thiên Chúa, con người đã chối bỏ tình yêu và Thiên Chúa để rồi mãi mãi trở thành nạn nhân của chính sự bất hạnh muôn đời mà nó đã tự chọn lấy. Là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6), Chúa Giê-su đã không ngừng cảnh cáo chúng ta về nguy cơ ấy (Mt 24,36-51). Ngài đã chết bằng một cái chết nhục nhã là để bày tỏ cho chúng ta thấy sức mạnh hủy hoại của tội lỗi và cứu chúng ta khỏi sức mạnh ấy. NIỀM HY VỌNG CỦA CHÚNG TA Ý nghĩ về sự trầm luân đời đời có thể làm cho chúng ta sợ hãi. Chính Đức Giê-su đã khuyên chúng ta “hãy sợ Đấng có thể hủy diệt thân xác và linh hồn chúng ta trong hỏa ngục” (Mt 10,28). Tuy nhiên cuộc sống của hàng triệu triệu Ki-tô hữu trong 2000 năm qua chứng tỏ rằng tâm tình cơ bản của người Ki-tô hữu không phải là sợ hãi mà là hân hoan, cảm mến và hy vọng. Thánh Phao-lô đã thốt lên: “Nếu Chúa ở về phía chúng ta, thì ai dám chống lại chúng ta?” “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô?” (Rm 8,31-39). Thánh Gio-an cũng nói với chúng ta: “Trong tình yêu không có sợ hãi, trái lại, tình yêu hoàn hảo tiêu diệt sợ hãi” (1 Ga 4,18-19).
Chúa Giê-su đã để lại cho chúng ta chính Bình An của Ngài (Ga 14,27). Ngài ban cho chúng ta niềm vui của Ngài (Ga 16,22). Không ai có thể cất được sự bình an và niềm vui ấy khỏi chúng ta. Chúng ta đã lên đường đi về với Chúa. Chúng ta đã là gia đình của Ngài, chúng ta đã được ngồi vào bàn tiệc của Ngài. Chúng ta cũng đang sống ngay cả bằng sự sống Ngài. Với con mắt đức tin, chúng ta cũng đang thấy bằng chính con mắt của Ngài. Chúng ta ôm trọn lấy thế giới bằng quả tim của Ngài, quả tim của Yêu Thương. “Không phải tôi sống mà chính Đức Ki-tô sống trong tôi” (Gl 2,20). Thiên Chúa sống trong chúng ta và chúng ta sống trong Ngài, bây giờ và mãi mãi. Cũng có lúc lòng tin và niềm hy vọng của chúng ta lung lay. Cũng có lúc tình yêu của chúng ta phai nhạt. Nhưng chúng ta biết rằng Thiên Chúa là Cha yêu thương “Đấng đã khởi sự công việc tốt trong chúng ta, Ngài sẽ hoàn tất trong ngày của Đức Giê-su Ki-tô” (Pl 1,6), tức ngày phán xét cuối cùng. Lắm lúc, công trình ấy chưa hoàn tất khi cái chết xẩy đến. Do đó, cần phải có một sự “thanh luyện”. Luyện ngục thực ra không phải là một nơi chốn cho bằng một tiến trình hay một tình trạng trong đó Thiên Chúa tẩy rửa những vết nhơ trong tâm hồn mà chúng ta đã không thể loại trừ được trong cuộc sống tại thế. Hạnh phúc thiết yếu trên thiên đàng chính là tình yêu. Ai đã không lấy tình yêu làm trọng tâm của cuộc sống, người đó sẽ không được chuẩn bị hoàn toàn để hưởng trọn vẹn Thiên Đàng, hay đúng hơn, để cảm thấy thoải mái và tự nhiên trên Thiên Đàng. Trái tim của người đó còn cần phải được thanh tẩy để được chín mùi. Dĩ nhiên, không có sự thanh tẩy nào mà không gây đớn đau. Nhưng những kẻ chết đang chịu thanh tẩy không hoàn toàn mất liên lạc với Giáo hội của Đức Ki-tô. Chúng ta có thể trợ giúp họ bằng lời cầu nguyện, bằng thánh lễ và hy sinh của chúng ta. Trong kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin các thánh thông công”. Các thánh trên Thiên Đàng, những phần tử của Giáo hội đang lữ hành và các linh hồn đang chịu thanh luyện tạo thành một cộng đồng rộng lớn trong đó trung tâm chính là Đức Ki-tô. Sợi dây liên kết của cộng đồng là Chúa Thánh Thần. Các phần tử của cùng một cộng đồng tay trong tay cầu nguyện cho nhau, giúp đỡ nhau để tiến về hạnh phúc tương lai của cả thế giới.
Bởi vì thế giới có một tương lai và bởi vì tương lai này là một tương lai vĩnh cửu, cho nên con đường của thế giới cũng nằm trong sự sống của Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã hứa: “Ta sẽ trở lại” (Ga 14,3). Ngài trở lại từng phút từng giây bằng những ơn vô hình của Ngài. Ngài trở lại trong các bí tích. Ngài trở lại qua những người anh em đang chờ đợi sự giúp đỡ của chúng ta. Nhưng sẽ có một sự trở lại khác của Đức Ki-tô và sự trở lại này sẽ kết thúc cuộc lữ hành của nhân loại xuyên qua hằng bao thế kỷ. Sự trở lại ấy cũng sẽ là ngày tận cùng thế giới, ngày chung thẩm (Mt 25,31-46). Ngoại trừ Chúa Cha, không ai có thể biết ngày giờ của cuộc chung thẩm ấy (Mt 24,36). Tuy nhiên, chúng ta vẫn hy vọng chờ đợi ngày trở lại trong vinh quang của Đức Ki-tô, Chúa Cứu Chuộc chúng ta. Sẽ có một trời mới và một đất mới (Kh 21,1). Ngay cả thiên nhiên vạn vật cũng sẽ được chia sẻ sự tự do vinh hiển của con cái Chúa (Rm 8,20-21). Nhờ ơn Chúa, chúng ta sẽ cùng với Chúa Con nhìn thấy tận mặt Chúa Cha. Kết hợp với Thánh Thần, chúng ta sẽ yêu thương Chúa Cha và mọi sự trong Ngài. Như thế, Thiên Chúa sẽ trở nên Tất cả trong mọi người. Tình yêu sẽ trở nên tất cả trong mọi người. MẸ MA-RI-A, NGÔI SAO CỦA NIỀM HY VỌNG CHÚNG TA Thiên Chúa đã ban cho chúng ta Đức Ma-ri-a, Mẹ của Con Một Ngài. Ngài đã ban cho chúng ta Đức Ma-ri-a như tấm gương kỳ diệu của niềm hy vọng vĩnh cửu của chúng ta, như đóa hoa đẹp nhất của nhân loại. Đức Ma-ri-a là người thiếu nữ đã được Thiên Chúa tuyển chọn. Ngài đã đổ tràn ơn của Ngài trên Mẹ ngay từ giây phút đầu tiên khi Mẹ được thụ thai và đã chọn Mẹ làm Mẹ của Ngôi Hai Nhập Thể làm người. Chúa Giê-su không có một người cha trần thế. Thiên Chúa muốn cho chúng ta thấy rằng, cho dẫu Chúa Giê-su là một con người thực sự, việc nhập thể của Ngài không phải là một công việc của con người, mà là một ân ban của Tình yêu Thiên Chúa. Chúa Giê-su đã gọi Thiên Chúa, Cha trên trời là “Cha yêu dấu” : đó là điều chí lý. Bởi vì “không có gì mà Thiên Chúa không làm được” (Lc 1,36), cho nên quyền lực của Thánh Thần đã làm cho Đức Ma-ri-a Trinh Nữ trở thành Mẹ của Chúa Giê-su. Đóa hoa Trinh Nữ của Mẹ chỉ nở ra cho Thiên Chúa. Mẹ đã trở thành một người Mẹ, một người Mẹ yêu thương dạt dào với lòng hiền mẫu của một người Mẹ. Hai thực tại cao đẹp đã nên một trong Đức Trinh Nữ làm Mẹ. Mẹ Ma-ri-a tin “những gì Chúa đã nói với Mẹ” (Lc 1,45) và đáp trả với sứ thần như sau: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa. Tôi xin vâng như lời ngài truyền” (Lc 1,38).
Mẹ đã đứng dưới chân thập gía của Con Mẹ. Ngay cả trong giờ phút ấy, Mẹ là người đã tin lời Ngài (Ga 19,25-27). Mẹ đã hiện diện với các tông đồ trong ngày lễ Ngũ Tuần khi Thánh Thần đổ tràn trên họ một ngọn lửa mới (Cv 1,14; 2,1). Và khi cuộc sống thinh lặng, khiêm tốn trên trần gian của Mẹ chấm dứt, Mẹ được Con Mẹ cất nhắc về Thiên Quốc để cùng được tham dự vào sự Phục sinh của Ngài. Những mầu nhiệm này được tóm gọn trong lời kinh muôn thuở “Kinh Mừng Ma-ri-a” mà chúng ta suy gẫm khi lần chuỗi Mân Côi.
Mẹ Ma-ri-a là mẫu người hoàn toàn đã được tắm gội bằng Tình yêu của Chúa, được cứu độ bởi Đức Ki-tô và đầy tràn Thánh Thần. Mẹ là phần tử trọn hảo nhất của Giáo hội và là kiểu mẫu của chính Giáo hội. Ngay cả trên trời, Mẹ cũng không ngồi yên bất động. Mẹ không chỉ ôm trọn vào lòng mình Chúa Giê-su, mà tất cả mọi người anh em của Chúa Giê-su. Tất cả chúng ta là con cái của Mẹ. Mẹ không ngừng cầu cho chúng ta “bây giờ và trong giờ lâm tử”.
Mẹ của Thiên Chúa Cứu Độ chúng ta, Đức Giê-su Ki-tô cũng là Mẹ và Quan Thày của chúng ta, là tấm gương phản chiếu Tình Yêu của Thiên Chúa, và là quả tim của Chúa Giê-su. Trái tim hiền mẫu của Mẹ cũng dạy chúng ta chính Chân Lý mà Chúa Giê-su đã công bố qua cuộc đời, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Chân lý đó là: “Thiên Chúa là Đấng Thiện Hảo. Lòng Nhân Từ của Ngài tồn tại đến muôn đời” (Tv 118). Làm Ki-tô hữu có nghĩa là tin nhận và sống điều đó bây giờ và mãi mãi. SUY TƯ VÀ THẢO LUẬN
1. Người ta nghĩ gì về tương lai? với hy vọng? với sợ hãi? với thất vọng? Có nhiều hy vọng khác nhau không? Những người tín hữu Ki-tô hy vọng điều gì?Niềm hy vọng Ki-tô có mang lại cho tôi niềm vui và lẽ sống không?
2. Tình yêu và những việc làm vì yêu thương tồn tại đến muôn đời: Đó là niềm tin Ki-tô giáo. Niềm tin này ảnh hưởng trên tư tưởng và hành động của tôi như thế nào? Cuộc sống của tôi có giống như cuộc sống của những người tôi tớ luôn tỉnh thức chờ đợi chủ về với đèn cháy sáng trong tay không?
3. Nói về tương lai vĩnh cửu của thế giới, Thánh Phao-lô viết như sau: “ThiênChúa sẽ là tất cả trong mọi sự” (1 Cr 15,28). Đâu là ý nghĩa của câu nói này?Tôi có thể làm gì để cho thế giới và chính tôi được đến gần hơn với cùng đích này?
4. Đâu là mối quan hệ của Đức Ma-ri-a đối với Chúa Cha, đối với Chúa Giê-su Ki-tô và đối với chúng ta? Mầu nhiệm “được làm Mẹ” của Đức Ma-ri-a mang lại lòng Nhân Từ của Chúa cho chúng ta như thế nào? Chính Mẹ đã báo trước rằng muôn thế hệ về sau sẽ ca ngợi Mẹ là “người có phúc”.Tôi có nghĩ rằng Mẹ thực là “ngườicó phúc” không?Tôi có chia sẻ niềm tin và sự vâng phục của Mẹ để cũng được gọi là “người có phúc” như Mẹ không? Tôi có hân hoan lắng nghe những lời khôn ngoan mà Mẹ Ma-ri-a đã nói với tôi: “xin vâng” không? |