Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 
SÁCH GIÁO LÝ
CỦA HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 

Phần thứ nhất: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN


Một phần bích họa ở hầm mộ thánh Priscilla tại Rô-ma, đầu thế kỷ III. Ảnh Đức Mẹ cổ xưa nhất.

Trong số các hình ảnh cổ xưa nhất của nghệ thuật Ki-tô giáo, bức ảnh này nêu lên chủ đề cốt lõi của đức tin Ki-tô giáo: mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa được sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a.

Bên trái, hình dáng một người đưa tay chỉ một ngôi sao ở phía trên Đức Trinh Nữ bồng con : một vị ngôn sứ, có lẽ là ông Ba-la-am, báo tin "một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp sẽ lên cai trị" (Ds 24,17). Đó là tất cả niềm mong đợi của thời Giao Ước Cũ, và tiếng kêu cứu của loài người sa ngã (x.27, 528).

Lời tiên báo đó được ứng nghiệm khi Đức Giê-su ra đời. Con Thiên Chúa làm người do quyền năng Chúa Thánh Thần, sinh làm con Đức Trinh Nữ Ma-ri-a (x.27, 53, 422, 488). Đức Ma-ri-a sinh hạ và trao ban Người cho nhân loại. Như vậy, Đức Ma-ri-a là hình ảnh tinh tuyền nhất của Hội Thánh (x. 967).

ĐOẠN THỨ NHẤT: " TÔI TIN " - " CHÚNG TÔI TIN "

26.       Khi tuyên xưng đức tin, chúng ta khởi đầu thế này : "Tôi tin" hoặc "Chúng tôi tin". Vậy trước khi trình bày đức tin của Hội Thánh, được tuyên xưng trong kinh Tin Kính, diễn đạt trong phụng vụ, thể hiện trong việc thực hành các Điều Răn và trong kinh nguyện, chúng ta hãy tự hỏi xem "tin" nghĩa là gì. Đức tin là lời con người đáp trả lại Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải và hiến mình cho con người, khi ban ánh sáng chứa chan cho con người đang đi tìm ý nghĩa tối hậu của đời mình. Do đó, trước hết chúng ta sẽ bàn về cuộc tìm kiếm của con người (chương một), kế đến bàn về Mặc Khải của Thiên Chúa, qua đó, Thiên Chúa đi bước trước để tỏ mình cho con người (chương hai), và cuối cùng, là lời con người đáp trả trong đức tin (chương ba).

CHƯƠNG MỘT: CON NGƯỜI "CÓ KHẢ NĂNG"
ĐÓN NHẬN THIÊN CHÚA

I - CON NGƯỜI KHAO KHÁT THIÊN CHÚA

27 355,1701 1718       Tận đáy lòng, con người khao khát Thiên Chúa vì con người được tạo dựng do Thiên Chúa và cho Thiên Chúa. Thiên Chúa không ngừng lôi kéo con người đến với mình, và chỉ nơi Thiên Chúa, con người mới tìm gặp chân lý và hạnh phúc mà họ không ngừng tìm kiếm.

Ý nghĩa cao cả nhất của phẩm giá con người là con người được kêu gọi tới kết hiệp với Thiên Chúa. Ngay từ lúc mới sinh ra, con người đã được mời gọi đối thoại với Thiên Chúa : thực thế, sở dĩ con người hiện hữu là do Thiên Chúa đã vì yêu thương mà tạo dựng con người,và cũng vì yêu thương mà luôn luôn bảo tồn con người; và con người chỉ sống hoàn toàn theo chân lý một khi tự ý nhìn nhận tình yêu ấy và phó thác đời mình cho Đấng tạo dựng mình (GS 19,1).

28 843, 2566 2095-2109         Trong lịch sử loài người và cho tới ngày nay, loài người đã diễn đạt việc tìm kiếm Thiên Chúa bằng nhiều cách qua các tín ngưỡng và các thái độ tôn giáo (cầu khẩn, cúng tế, tịnh niệm, phụng tự, v.v...). Mặc dù có khi còn mơ hồ bất minh, những hình thức này quá phổ biến, đến nổi có thể gọi con người là một hữu thể tôn giáo :

Từ một người, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại, để họ ở trên khắp mặt đất. Người đã vạch ra những thời kỳ nhất định cho các dân tộc và những ranh giới cho nơi ở của họ. Như vậy là để họ tìm kiếm Thiên Chúa; may ra họ dò dẫm mà tìm thấy Người, tuy rằng thực sự Người không ở xa mỗi người chúng ta. Thật vậy, chính ở nơi Người mà chúng ta sống, chúng ta cử động và chúng ta có (Cv 17,26-28).

29 2123-2128 398       Nhưng "mối tương quan thân thiết và sống còn giữa con người với Thiên Chúa"(GS 19,1), có thể bị lãng quên, không biết tới và còn bị minh nhiên chối từ. Những thái độ như thế có thể do nhiều nguyên nhân (GS 19-21) : nổi loạn trước sự dữ trên thế giới, vô tri hoặc thờ ơ về tôn giáo, lo toan về thế gian và tiền của( Mt 13,22), gương xấu của các tín hữu, những trào lưu tư tưởng nghịch tôn giáo, cuối cùng là thái độ của con người tội lỗi, vì sợ sệt mà trốn tránh Thiên Chúa ( St 3,8-10) và tiếng gọi của Người (Gn 1,3).

30 2567, 845 368        "Hạnh phúc thay những tâm hồn tìm kiếm Thiên Chúa" (Tv 105,3). Cho dù con người có thể quên lãng hay chối từ Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn không ngừng kêu gọi mỗi người tìm kiếm Người để được sống và được hạnh phúc. Nhưng sự tìm kiếm này đòi hỏi con người vận dụng tất cả trí tuệ, ý chí chính trực, "một lòng ngay thẳng", và phải có cả chứng từ của người khác hướng dẫn họ kiếm tìm Thiên Chúa.

Lạy Chúa, Chúa cao cả và đáng muôn lời ca ngợi: quyền năng Chúa lớn lao và trí tuệ Chúa khôn lường. Và con người, một phần nhỏ bé của muôn loài Chúa đã tạo nên, lại dám nghĩ có thể ca ngợi Chúa ; mặc dù chính con người đó, với số kiếp phù du, mang nơi mình tang chứng của tội lỗi và dấu chứng Chúa chống lại kẻ kiêu căng. Dù sao, con người, phần nhỏ bé của muôn loài Chúa đã tạo nên, muốn ca ngợi Chúa. Chính Chúa thúc giục con người làm như vậy, khi cho họ tìm được sướng vui trong lời ngợi khen Chúa, vì Chúa đã tạo dựng chúng con cho Chúa, và lòng chúng con vẫn khắc khoải bao lâu chưa được nghỉ ngơi trong Chúa (Th. Âu-tinh, tự thuật 1.1,1).

II. NHỮNG CON ĐƯỜNG ĐƯA TỚI SỰ NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA

31.       Được tạo nên theo hình ảnh Thiên Chúa, được mời gọi nhận biết và yêu mến Thiên Chúa, người tìm Thiên Chúa sẽ khám phá ra một số "con đường" giúp nhận biết Người. Những con đường này còn được gọi là "bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa", không theo nghĩa bằng chứng khoa học tự nhiên, nhưng theo nghĩa những "luận cứ đồng qui và có sức thuyết phục", giúp con người biết chắc có Thiên Chúa.

Những "con đường" đến với Thiên Chúa xuất phát từ thụ tạo : thế giới vật chất và con người.

32 54, 337       Thế giới : căn cứ vào vận hành và biến hóa của thế giới, tính cách vô thường, trật tự và vẻ đẹp của nó, người ta có thể nhận biết Thiên Chúa như là nguyên thủy và cùng đích của vũ trụ.

Về người ngoại giáo, Thánh Phao-lô khẳng định : "Những gì người ta có thể biết về Thiên Chúa thì thật là hiển nhiên trước mặt họ: Thật thế, chính Thiên Chúa đã cho họ thấy rõ. Quả vậy, những gì người ta không thể nhìn thấy được nơi Thiên Chúa, tức là quyền năng vĩnh cửu và thần tính của Người, thì từ khi Thiên Chúa tạo thành vũ trụ, trí khôn con người có thể nhìn thấy được qua những công trình của Người" (Rm 1,19-20) ( Cv 14,15.17 ; 17,27-28; St 13,1-9).

Thánh Âu-tinh nói : "Hãy hỏi vẻ đẹp của trái đất, của biển khơi, của khí trời nở phồng và lan tỏa, của bầu trời ..., hãy hỏi tất cả những thực tại ấy. Tất cả sẽ trả lời bạn : "Hãy xem đó, chúng tôi quả là đẹp". Vẻ đẹp của chúng là một lời tuyên xưng. Ai đã làm ra những cảnh đẹp thiên biến vạn hoá ấy, nếu không phải là Đấng toàn mỹ không bao giờ đổi thay ? " ( Bài giảng 241,2).

33 2500,1730 1776 1703 366             Con người : Với tâm hồn cởi mở đón nhận sự thật và vẻ đẹp, với lương tri, tự do và tiếng nói của lương tâm, với khát vọng vươn tới vô tận và hạnh phúc, con người tự hỏi về sự hiện hữu của Thiên Chúa. Qua những đặc tính trên , con người nhận ra những dấu chỉ cho thấy mình có linh hồn. "Vì mầm sống vĩnh cửu mà con người mang nơi mình, không thể giản lược chỉ duy vào vật chất" (GS 18,1 ; x 14,2), nên linh hồn con người chỉ có thể xuất phát từ Thiên Chúa.

34 199             Thế giới và con người minh chứng rằng chúng không phải là nguyên lý tiên khởi và cứu cánh tối hậu của chính mình, nhưng tham dự vào Đấng là Hữu Thể Tự Tại, vô thủy vô chung. Như vậy, qua những "con đường" khác nhau , con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một thực tại , là nguyên lý tiên khởi và là cứu cánh tối hậu của mọi sự, "mà mọi người gọi là Thiên Chúa" (Thánh Tô-ma Aqui. Tổng luận thần học 1,2,3).

35 50 159        Nhờ những năng lực của mình, con người có thể nhận biết sự hiện hữu của một Thiên Chúa hữu ngã. Nhưng để cho con người có thể sống thân thiết với Người, Thiên Chúa đã muốn mặc khải chính mình cho con người và ban cho họ khả năng đón nhận mặc khải ấy trong đức tin. Tuy nhiên, các "bằng chứng về sự hiện hữu của Thiên Chúa" có thể giúp con người dễ đón nhận đức tin và cho thấy đức tin không nghịch với lý trí .

III. SỰ NHẬN BIẾT THIÊN CHÚA THEO GIÁO HỘI

36 355 "Hội Thánh, mẹ chúng ta, khẳng định và dạy rằng: Từ những loài thụ tạo, con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí, có thể nhận biết cách chắc chắn về Thiên Chúa như là nguyên lý và cùng đích của mọi loài" (Cđ Vat I: DS 3004; x.3026; DV 6). Không có khả năng này, con người không thể đón nhận mặc khải của Thiên Chúa. Con người có được khả năng đó là vì đã được tạo dựng "theo hình ảnh Thiên Chúa (x. St 1,26)".

37 1960           Tuy nhiên, trong những hoàn cảnh cụ thể của mình, con người rất khó nhận biết Thiên Chúa nếu chỉ dựa vào ánh sáng của lý trí :

Lý trí con người nhờ sức lực và ánh sáng tự nhiên của mình,có thể nhận biết cách xác thật và chắc chắn về một Thiên Chúa hữu ngã, Đấng bảo vệ và điều khiển thế giới bằng sự quan phòng, cũng như về luật tự nhiên mà Đấng Sáng tạo đã đặt trong tâm hồn chúng ta. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều trở ngại ngăn cản lý trí vận dụng hữu hiệu năng lực tự nhiên của nó.Vì những chân lý liên quan đến Thiên Chúa và loài người vượt hẳn lãnh vực khả giác, lại đòi hỏi con người phải xả thân và quên mình khi muốn hành động và sống theo chân lý đó. Để nắm bắt những chân lý như thế, tinh thần con người phải chịu nhiều khó khăn do giác quan và trí tưởng tượng, cũng như những ham muốn xấu xa do nguyên tội gây nên. Vì thế, trong những lãnh vực đó, những điều mà con người không muốn là có thật, thì họ dễ dàng tự thuyết phục mình rằng chúng chỉ là điều dối trá hay mơ hồ ( Pi-ô XII, enc.Humani Generis: DS 3875).

38 2036           Vì thế, con người cần được mặc khải của Thiên Chúa soi dẫn, không những trong những gì vượt quá trí khôn, mà còn trong "những chân lý tôn giáo và luân lý tự nó vốn không vượt quá khả năng lý trí để con người trong hoàn cảnh hiện tại có thể biết được một cách dễ dàng, chắc chắn mà không lẫn lộn sai lầm" ( DS 3876 ; x. Vatican I DS 3005 ; DV 6 ; Th. Tô-ma Aquinô, Tổng luận thần học 1,1,1.)

IV. NÓI VỀ THIÊN CHÚA THẾ NÀO ?

39 851             Khi chủ trương lý trí có khả năng nhận biết Thiên Chúa, Hội Thánh tin tưởng có thể nói về Thiên Chúa cho tất cả mọi người và với mọi người. Niềm xác tín này là khởi điểm cho cuộc đối thoại của Hội Thánh với các tôn giáo khác, với triết học và khoa học, cũng như với những người vô tín ngưỡng và vô thần.

40        Vì khả năng nhận biết Thiên Chúa của chúng ta có giới hạn, nên ngôn ngữ chúng ta dùng để nói về Thiên Chúa cũng giới hạn. Chúng ta chỉ có thể xướng danh Người khởi từ những gì chúng ta biết về các thụ tạo và theo cách thức hiểu biết và suy tư hạn hẹp của loài người chúng ta.

41 213, 299     Có thể nói mọi thụ tạo đều mang dáng vấp nào đó của Thiên Chúa, đặc biệt là con người được sáng tạo theo hình ảnh Người. Những nét hoàn hảo thiên hình vạn trạng của thụ tạo (tính chân, thiện, mỹ của chúng) phản chiếu sự toàn hảo vô biên của Thiên Chúa. Chúng ta có thể nói về Thiên Chúa khởi từ những nét hoàn hảo của thụ tạo, "vì từ sự nguy nga của thụ tạo, người ta luận ra được ý niệm về Đấng Tạo Hoá" (Kn 13, 5).

42 212,300 370           Thiên Chúa trổi vượt mọi thụ tạo. Vậy cần phải không ngừng luyện lọc ngôn ngữ chúng ta, cho bớt đi những gì hạn hẹp, tượng hình, và chưa hoàn hảo, để khỏi lẫn lộn Đức Chúa "khôn tả xiết, khôn dò thấu, vô hình, vô phương nắm giữ" ( Phụng vụ lễ Thánh Gio-an Kim Khẩu, Anaphore.)với những gì con người hình dung được. Lời nói của nhân loại vẫn luôn thiếu sót, không diễn tả hết mầu nhiệm của Thiên Chúa.

43 206             Khi nói như thế về Thiên Chúa, tuy ngôn ngữ chúng ta diễn tả theo cách phàm nhân, nhưng thực sự đạt tới chính Thiên Chúa, dù không thể diễn tả được Người trong sự giản đơn vô biên của Người. Chúng ta phải nhớ rằng "giữa Đấng Sáng Tạo và loài thụ tạo, không thể nhấn mạnh sự tương đồng mà không làm cho sự bất tương đồng giữa hai bên càng thêm lớn hơn nữa" ( Cđ La-tran IV: DS 806), và "chúng ta không thể hiểu được Thiên Chúa như thế nào, mà chỉ hiểu được Người không như thế nào, và những hữu thể khác có vị trí nào trong tương quan với Thiên Chúa"(Th.Tô-ma Aqu.s.gent.1,30).

TÓM LƯỢC

44        Tự bản tính và ơn gọi, con người là một hữu thể tôn giáo. Phát sinh từ Thiên Chúa và quy hướng về Thiên Chúa, con người chỉ đạt được cuộc sống nhân bản đầy đủ khi tự do liên kết với Thiên Chúa.

45.       Con người được tạo dựng nên để sống hiệp thông với Thiên Chúa. Nơi Người, họ tìm được hạnh phúc : "trong Chúa, con không hề còn đau khổ buồn phiền nữa; được tràn đầy Chúa, đời con sẽ đầy đủ trọn vẹn" ( Th. Âu-tinh, Tự thuật.10, 28,39).

46.       Khi biết nghe sứđiệp của các thụ tạo và tiếng nói của lương tâm, con người có thể biết chắc có Thiên Chúa là nguyên nhân và cùng đích của mọi sự.

47.       Hội Thánh dạy rằng con người nhờ ánh sáng tự nhiên của lý trí có thể nhận biết chắc chắn về Thiên Chúa duy nhất và chân thật, là Đấng Tạo Hóa và Đức Chúa của chúng ta, qua những công trình của Người ( x.Cđ Vat I: DS 3026).

48.       Chúng ta có thể thật sự nói về Thiên Chúa, dựa vào những nét hoàn hảo thiên hình vạn trạng của các thụ tạo, phần nào giống Thiên Chúa toàn hảo vô biên, cho dù ngôn ngữ có hạn của chúng ta không tài nào diễn tả hết mầu nhiệm được.

49.       "Không có Đấng Sáng Tạo, loài thụ tạo biến tan" (GS 36). Vì thế, người tín hữu cảm thấy tình yêu Chúa Ki-tô thúc bách mang ánh sáng của Thiên Chúa hằng sống đến cho những ai không biết hoặc chối từ Người .

CHƯƠNG HAI: THIÊN CHÚA ĐẾN GẶP CON NGƯỜI

50 36 1066      Nhờ lý trí tự nhiên, con người có thể nhận biết Thiên Chúa một cách chắc chắn, dựa vào những công trình của Người. Nhưng còn có một loại nhận biết khác, mà con người không thể đạt tới bằng sức lực của chính mình, đó là loại nhận biết nhờ mặc khải của Thiên Chúa (x.Cđ Vat I: DS 3015). Bằng một quyết định hoàn toàn tự do, Thiên Chúa tự mặc khải và ban chính mình cho con người. Thiên Chúa làm điều đó bằng cách mặc khải mầu nhiệm của Người, ý định yêu thương Người đã có từ muôn thuở trong Đức Ki-tô, để mưu ích cho mọi người. Thiên Chúa mặc khải trọn vẹn ý định của Người khi cử Người Con chí ái là Đức Ki-tô, Chúa chúng ta, và khi cử Thánh Thần đến với loài người.

Mục 1: SỰ MẶC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA

I. THIÊN CHÚA MẶC KHẢI “ KẾ HOẠCH NHÂN HẬU” CỦA NGÀI

51 2823 1996  "Thiên Chúa nhân lành và khôn ngoan đã muốn mặc khải chính mình và tỏ cho mọi người biết mầu nhiệm thánh ý Người. Nhờ đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Ki-tô, Ngôi Lời nhập thể trong Chúa Thánh Thần, và được thông phần bản tính của Thiên Chúa" (DV 2).

52.       Thiên Chúa, Đấng "ngự trong ánh sáng siêu phàm" (1Tm 6,16), muốn thông ban sự sống thần linh của chính mình cho loài người mà Người đã tự do sáng tạo, để làm cho loài người được trở nên nghĩa tử trong Con Một của Người (Ep 1,4-5). Bằng cách tự mặc khải chính mình, Thiên Chúa muốn giúp cho loài người có khả năng đáp lời Người, nhận biết và yêu mến Người vượt trên những gì họ có thể làm được tự sức mình.

53 1953 1950    Ý định mặc khải được thể hiện cùng một trật qua "hành động và lời nói, cả hai liên kết chặt chẽ và soi sáng cho nhau"(DV 2). Ý định đó hàm chứa "một đường lối sư phạm thần linh" đặc biệt của Thiên Chúa : Thiên Chúa thông ban chính mình cho con người một cách tiệm tiến, chuẩn bị từng giai đoạn để con người đón nhận mặc khải siêu nhiên về chính bản thân Người. Mặc khải này sẽ đạt tới tột đỉnh nơi con người và sứ mạng của Lời nhập thể là Đức Giê-su Ki-tô.

Thánh I-rê-nê thành Ly-on nhiều lần nói về đường lối sư phạm của Thiên Chúa dưới hình ảnh Thiên Chúa và con người làm quen nhau : "Ngôi Lời của Thiên Chúa đã ở giữa loài người và trở thành con của loài người, để con người quen đón nhận Thiên Chúa, và để Thiên Chúa quen ở giữa loài người, theo ý định tốt đẹp của Chúa Cha" (Chống lạc giáo 3,20,2; xem thí dụ ở phần chống lạc giáo 3,17,1; 4,12,4; 4,21,3).

II. NHỮNG GIAI ĐOẠN CỦA MẶC KHẢI

Từ thuở ban đầu, Thiên Chúa tự mặc khải cho con người

54 32 374        "Thiên Chúa, Đấng sáng tạovà bảo tồn mọi sự nhờ Ngôi Lời, không ngừng làm chứng về Mình trước mặt loài người qua các thụ tạo. Và vì muốn mở đường cứu độ cao trọng nên từ đầu Người còn tỏ Mình ra cho tổ tông chúng ta". Người đã mời các nguyên tổ sống kết hợp mật thiết với Mình, khi ban cho họ ân sủng và đức công chính rạng ngời" (DV 3).

55 397,410      Tội của nguyên tổ không làm gián đoạn mặc khải. Quả vậy," sau khi tổ tông sa ngã, qua lời hứa ban ơn cứu chuộc, Người đã nâng họ dậy trong niềm hy vọng ơn cứu độ. Người không ngừng săn sóc nhân loại, để ban sự sống đời đời cho tất cả những ai tìm kiếm ơn cứu độ nhờ kiên tâm làm việc thiện" ( DV 3).

761      Tuy con người đã mất tình nghĩa với Cha vì tội bất phục tùng, Cha cũng không đành bỏ mặc cho sự chết thống trị ....Nhiều lần Cha đã giao ước với loài người (MR, Kinh Tạ Ơn IV, 118).

Giao ước với Nô-ê

56 401 1219    Khi tội lỗi phá vỡ sự thống nhất của nhân loại, Thiên Chúa tìm cách cứu họ qua từng nhóm người. Giao ước với ông Nô-ê sau lụt hồng thủy (St 9,9) nói lên nguyên tắc, qua đó Thiên Chúa thực hiện Nhiệm Cục cứu độ các "dân tộc", tức là những con người tập hợp lại theo xứ sở của họ, "mỗi người tùy theo tiếng nói và tùy theo thị tộc của họ"(St 10, 5; 10, 20-31).

57.       Trật tự gồm nhiều dân tộc ( x. Cv 17,26-27) vừa có tính vũ trụ, vừa có tính xã hội và tôn giáo này được Thiên Chúa thiết đặt để ngăn chặn lòng kiêu căng của nhân loại đã sa ngã nhưng vẫn đồng lõa với nhau trong sự đồi bại ( x. St 10,5) để mưu cầu sự hiệp nhất như chuyện tháp Ba-ben ( x. St 11,4-6). Nhưng vì tội lỗi ( x. Rm 1,18-25) làm con người mê muội, nên thuyết đa thần cũng như tệ sùng bái, dân tộc và thủ lãnh luôn đe dọa nhiệm cục tạm thời này bằng sự lệch lạc ngoại giáo.

58 674 2569    Giao ước với ông Nô-ê có giá trị suốt thời của các dân tộc ( x. Lc 21,24), cho tới khi Tin Mừng được loan báo khắp thế giới. Thánh Kinh tôn kính một vài gương mặt vĩ nhân của các "dân tộc", như ông "A-ben người công chính", vị vua tư tế Men-ki-xê-đê ( x. St 14,18) được xem như hình bóng Đức Ki-tô ( x. Dt 7,3), hoặc các người công chính "Nô-ê, Đa-nen và Gióp" (Êd 14,14). Như vậy, Thánh Kinh nói lên mức độ thánh thiện cao vời mà những người sống dưới chế độ giao ước Nô-ê đã có thể đạt tới, trong khi đợi chờ Đức Ki-tô "qui tụ con cái Thiên Chúa đang tản mác khắp nơi về một mối" (Ga 11,52).

Thiên Chúa tuyển chọn ông Áp-ra-ham

59 145,2570    Để qui tụ loài người đã bị tản mác, Thiên Chúa tuyển chọn ông Áp-ram bằng cách kêu gọi ông "rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha của ông" ( St 12,1), để làm cho ông trở nên "Áp-ra-ham", tức là "cha của vô số dân tộc" (St 17,5) : "nhờ ngươi, muôn dân sẽ được chúc phúc" (St 12,3 LXX) ( x.Gl 3.8).

60 760 762,781           Dân tộc phát sinh từ Áp-ra-ham sẽ lãnh nhận lời Thiên Chúa đã hứa với các tổ phụ. Đây là dân tuyển chọn ( x.Rm 11,28), được gọi để chuẩn bị cho cuộc qui tụ con cái Thiên Chúa một ngày nào đó trong Hội Thánh duy nhất ( x.Ga 11,52; 10,16); dân này sẽ là gốc rễ mà các dân ngoại khi tin vào Thiên Chúa sẽ được tháp vào ( x.Rm 11,17-18.24).

61.       Các tổ phụ, các ngôn sứ và những nhân vật khác nữa của Cựu Ước đã và sẽ luôn được tôn kính như những thánh nhân trong tất cả các truyền thống phụng vụ của Hội Thánh.

Thiên Chúa huấn luyện dân Ít-ra-en

62 2060,2574 1961     Sau thời các tổ phụ, Thiên Chúa lập Ít-ra-en làm dân của Người khi giải thoát họ khỏi ách nô lệ Ai-cập. Người ký kết Giao Ước Xi-nai với dân và ban cho họ lề luật qua ông Mô-sê, để họ nhìn nhận và phụng sự Người như vị Thiên Chúa duy nhất hằng sống và chân thật, người Cha quan phòng và vị Thẩm Phán công minh, và để họ mong đợi Vị Cứu Tinh đã được Thiên Chúa hứa (x. DV 3).

63 204, 2801 839        Ít-ra-en là Dân tư tế của Thiên Chúa ( x.Xh 19,6), được "mang danh ĐỨC CHÚA" (Đnl 28,10). Đó là dân gồm "những người đầu tiên đã được nghe lời Thiên Chúa phán dạy" ( Phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh ) gồm các "anh trưởng" của những người cùng chia sẻ đức tin của tổ phụ Áp-ra-ham.

64 711, 1965 489        Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa huấn luyện dân Người trong niềm hy vọng vào ơn cứu độ, trong sự chờ đợi một Giao Ước mới, Giao Ước vĩnh cửu dành cho tất cả mọi người ( x.Is 2,2-4)và sẽ được ghi khắc trong lòng mọi người ( x.Gr 31,31-34; Đnl 10,16). Các ngôn sứ tiên báo Thiên Chúa sẽ cứu chuộc trọn vẹn dân Ít-ra-en, thanh tẩy họ khỏi mọi bất trung (Ed 36) và ban ơn cứu độ cho tất cả các dân tộc ( x.Is 49,5-6; 53,11). Chính những người nghèo khó và khiêm nhu của Chúa (Xph 2,3) sẽ cưu mang niềm hy vọng này. Những phụ nữ thánh thiện như các bà Xa-ra, Rê-bê-ca, Ra-khen, Mi-ri-am, Đê-bô-ra, An-na, Giu-đi-tha và Ét-te, đã gìn giữ cho niềm hy vọng cứu độ ấy của Ít-ra-en được luôn sống động. Về vấn đề này, Đức Ma-ri-a là gương mặt sáng chói nhất (x. Lc 1,38).

III. ĐỨC GiÊ-SU KI-TÔ "ĐẤNG TRUNG GIAN VÀ SỰ VIÊN MÃN CỦA TOÀN BỘ MẶC KHẢI " (DV 2)

Thiên Chúa đã phán dạy mọi sự trong Ngôi Lời

65 102 "Thuở xưa nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy cha ông ta; nhưng vào thời sau hết này, Thiên Chúa đã phán dạy ta qua Con của Người " (Dt 1,1-2). Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa làm người, là Lời duy nhứt, hoàn hảo và dứt khoát của Chúa Cha. Nơi Người, Thiên Chúa phán dạy mọi sự, và sẽ không có lời nào khác ngoài Lời đó. Nối gót bao người, Thánh Gio-an Thánh Giá diễn tả điều đó với những lời lẽ sáng ngời khi quảng diễn Dt 1,1-2 :

516 2717         Một khi đã ban cho chúng ta Chúa Con, là Lời của Người, Thiên Chúa không còn Lời nào khác để ban cho ta. Người đã nói hết trong một lần và cùng một trật, trong Lời duy nhất đó, và không còn gì để nói nữa. Những gì Người chỉ nói từng phần với các ngôn sứ, thì Người đã nói hết trọn vẹn trong Con của Người bằng cách ban cho chúng ta điều trọn vẹn ấy là Con của Người. Do đó, ai còn muốn gạn hỏi Người hoặc ước ao có một thị kiến hay mặc khải, người ấy chẳng những làm một sự điên rồ, mà còn xúc phạm đến Thiên Chúa, bởi không nhìn vào Đức Ki-tô mà lại đi tìm những gì khác hay những điều mới lạ ( Cát minh 2,22).

Sẽ không còn Mặc Khải nào khác

66 94   "Nhiệm cục Ki-tô giáo, vì là Giao Ước mới và vĩnh viễn, sẽ không bao giờ mai một, chúng ta không phải chờ đợi một mặc khải công khai nào khác nữa trước khi Chúa Giê-su Ki-tô Chúa chúng ta hiện đến trong vinh quang" (DV 4). Dù Mặc Khải đã hoàn tất, nhưng vẫn chưa được diễn đạt hoàn toàn rõ rệt, nên Hội Thánh phải cố gắng tìm hiểu một cách tiệm tiến qua dòng thời gian.

67 84   Theo dòng lịch sử, có những điều gọi là "mặc khải tư," một số được thẩm quyền Hội Thánh công nhận. Tuy vậy, những mặc khải đó không thuộc kho tàng đức tin. Vai trò của chúng không phải là "cải thiện" hoặc "bổ sung" Mặc Khải tối hậu của Đức Ki-tô, mà để giúp người ta sống Mặc Khải cách trọn vẹn hơn vào một thời điểm lịch sử. Được Huấn Quyền Hội Thánh hướng dẫn, người tín hữu nhờ cảm thức đức tin sẽ biết nhận định và tiếp thu trong các mặc khải đó, những gì là lời mời gọi đích thực của Đức Ki-tô hoặc của các thánh gởi đến cho Dân Người.

Theo đức tin Ki-tô giáo không có mặc khải nào được coi là vượt cao hơn hay sửa đổi mặc khải được hoàn tất trong Đức Ki-tô. Hiện nay một số tôn giáo ngoài Ki-tô giáo và một số giáo phái được sáng lập gần đây đặt nền tảng trên những "mặc khải" như thế.

TÓM LƯỢC

68        Vì tình thương, Thiên Chúa đã tự mặc khải và ban chính mình cho con người. Như vậy, Người mang đến một lời giải đáp cuối cùng và phong phú cho những câu hỏi mà con người đặt ra cho mình về ý nghĩa và cùng đích cuộc đời .

69.       Thiên Chúa tự mặc khải cho con người bằng cách dùng hành động và lời nói, từng bước thông ban mầu nhiệm chính bản thân mình cho họ.

70.       Ngoài những chứng từ nơi các thụ tạo, Thiên Chúa còn đích thân tỏ mình cho nguyên tổ chúng ta. Người đã nói với họ, và sau khi họ sa ngã, Người hứa ban ơn cứu độ (St 3,15) và mời họ ký kết giao ước với Người.

71.       Thiên Chúa ký kết với ông Nô-ê một giao ước vĩnh cửu giữa Người và mọi sinh linh (St 9,16). Giao ước này sẽ tồn tại bao lâu thế gian còn tồn tại.

72.       Thiên Chúa đã tuyển chọn ông Áp-ra-ham và ký kết một giao ước với ông và dòng dõi ông. Từ đó, Thiên Chúa thiết lập dân Người và mặc khải Lề Luật cho họ qua ông Mô-sê. Nhờ các ngôn sứ, Thiên Chúa đã chuẩn bị dân Người đón nhận ơn cứu độ dành cho toàn thể nhân loại.

73.       Thiên Chúa tự mặc khải trọn vẹn khi cử chính Con Mình đến trần gian; nơi Chúa Con, Thiên Chúa đã thiết lập Giao Ước của Người cách vĩnh viễn. Con Thiên Chúa là Lời tối hậu của Chúa Cha nói với nhân loại; sau Người, không còn một mặc khải nào khác.

Mục 2: VIỆC TRUYỀN ĐẠT SỰ MẶC KHẢI CỦA THIÊN CHÚA

74 85   Thiên Chúa "muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý" (1Tm 2,4), tức là nhận biết Đức Ki-tô Giê-su (Ga 14,6). Vậy Đức Ki-tô phải được rao giảng cho mọi dân tộc và mọi người, và như thế, mặc khải phải được loan truyền đến tận cùng thế giới.

Những gì Thiên Chúa mặc khải để cứu độ muôn dân, Người đã ân cần sắp đặt để luôn được bảo toàn và lưu truyền nguyên vẹn cho mọi thế hệ ( DV 7).

I. TRUYỀN THỐNG  TÔNG ĐỒ

75 171   "Toàn bộ mặc khải của Thiên Chúa tối cao được hoàn tất nơi Chúa Ki-tô. Sau khi thực hiện và công bố Tin Mừng đã được các ngôn sứ tiên báo, Chúa Ki-tô ra lệnh cho các tông đồ rao giảng Tin Mừng ấy cho mọi người như là nguồn mạch của toàn bộ chân lý cứu độ và của mọi qui luật luân lý, đồng thời ban phát cho họ những hồng ân của Thiên Chúa"(DV 7).

Việc rao giảng của các tông đồ…

76.       Theo mệnh lệnh của Chúa, việc lưu truyền Tin Mừng đã được thực hiện bằng hai cách :

Cách truyền khẩu : "Bằng lời rao giảng, bằng gương mẫu và các định chế, các tông đồ truyền lại những điều đã học được từ chính miệng Đức Ki-tô khi sống chung với Người và thấy Người xử sự hoặc những điều các ngài đã được Thánh Thần gợi hứng".

Bằng văn tự : "Được Thánh Thần linh hứng, các tông đồ và những người thân cận với các ngài đã ghi lại sứ điệp cứu độ "( DV 7).

...được tiếp tục nơi các người kế vị tông đồ

77 861 "Để Tin Mừng luôn luôn được gìn giữ nguyên vẹn và sống động trong Hội Thánh, các tông đồ đã đặt các Giám Mục làm người kế nhiệm, và trao lại cho họ "trách nhiệm giáo huấn của các ngài" (DV 7). Vì vậy, "những lời giảng dạy của các tông đồ được đặc biệt ghi lại trong các sách linh hứng, phải được bảo tồn và liên tục lưu truyền cho đến tận thế " (DV 8).

78 174 1124,2651       Được thực hiện trong Chúa Thánh Thần, cách lưu truyền sống động này được gọi là Thánh Truyền, phân biệt với Thánh Kinh, dù có liên hệ chặt chẽ với Thánh Kinh. Nhờ Thánh Truyền, "Hội Thánh qua giáo lý, đời sống và việc phượng tự của mình, bảo tồn và lưu truyền cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình và tất cả những gì mình tin"( DV 8). "Giáo huấn của các thánh giáo phụ chứng thực sự hiện diện tác sinh của Thánh Truyền ấy mà sự phong phú đã thâm nhập vào nếp sống đạo của Hội Thánh hằng tin tưởng và cầu nguyện" (DV 8).

79.       Như vậy, việc Chúa Cha thông ban chính mình nhờ Ngôi Lời và trong Thánh Thần, vẫn hiện diện và tác động trong Hội Thánh : "Thiên Chúa Đấng xưa đã phán dạy, nay vẫn không ngừng ngõ lời với hiền thê của Con yêu dấu mình; và Thánh Thần, Đấng làm cho tiếng nói sống động của Tin Mừng vang dội trong Hội Thánh, và nhờ Hội Thánh làm vang dội trong thế giới, vẫn hướng dẫn các tín hữu nhận biết toàn thể chân lý và làm cho lời Chúa Ki-tô tràn ngập trong lòng họ" (DV 8).

II. TƯƠNG QUAN GIỮA THÁNH TRUYỀN VÀ THÁNH KINH

Cùng một nguồn mạch...

80.       "Thánh Truyền và Thánh Kinh liên kết và giao lưu mật thiết với nhau, vì cả hai phát xuất từ một nguồn mạch duy nhất là Thiên Chúa, có thể nói là cả hai kết hợp nên một toàn bộ và hướng về cùng một mục đích" ( DV 9). Cả hai đều làm cho mầu nhiệm Đức Ki-tô được hiện diện và sinh hoa trái trong Hội Thánh, chính Người đã hứa ở lại với môn đệ "mọi ngày cho đến tận thế " (Mt 28, 20).

...nhưng hai cách lưu truyền khác biệt

81.       "Thánh Kinh là Lời Thiên Chúa được ghi chép lại dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần".

113      "Thánh Truyền chứa đựng Lời Thiên Chúa mà Chúa Ki-tô và Chúa Thánh Thần đã ủy thác cho các tông đồ, và lưu truyền toàn vẹn cho những người kế nhiệm các ngài, để nhờ Thánh Thần chân lý soi sáng, họ trung thành gìn giữ, trình bày và phổ biến qua lời rao giảng".

82.       Do đó, Hội Thánh, được ủy thác nhiệm vụ lưu truyền và giải thích Mặc Khải, "không chỉ nhờ Thánh Kinh mà biết cách xác thực tất cả những điều mặc khải, chính vì thế, cả Thánh Kinh lẫn Thánh Truyền đều phải được đón nhận và tôn kính bằng một tâm tình yêu mến và kính trọng như nhau"( DV 9).

Truyền thống Tông đồ và các truyền thống trong Hội Thánh

83.       Truyền Thống mà chúng ta nói đây khởi phát từ các tông đồ và lưu truyền những gì các ngài đã lãnh nhận từ giáo huấn và gương mẫu của Chúa Giê-su cũng như những gì các ngài học được nhờ Thánh Thần. Thật vậy, thế hệ các Ki-tô hữu đầu tiên chưa có một Tân Ước thành văn, và chính bản văn Tân Ước chứng thực tiến trình của truyền thống sống động này.

1202, 2041 2684         Chúng ta phải phân biệt "Truyền Thống" các tông đồ với các "truyền thống" thuộc diện thần học, kỷ luật, phụng vụ hoặc sùng kính đã phát sinh theo thời gian trong các giáo đoàn địa phương. Những truyền thống này tạo nên những hình thức đặc thù, qua đó, Thánh Truyền thu nhận những lối diễn tả thích nghi cho những nơi khác nhau và những thời kỳ khác nhau. Chính trong ánh sáng truyền thống các tông đồ, mà các truyền thống này được giữ lại, sửa đổi hay bị loại bỏ, theo sự hướng dẫn của Huấn Quyền Hội Thánh.

III. GIẢI NGHĨA KHO TÀNG ĐỨC TIN

Kho tàng đức tin được giao phó cho toàn thể Hội Thánh

84 857, 871 2033        "Kho tàng đức tin" (depositum fidei) (2Tm 1,12-14), chứa đựng trong Thánh Truyền và Thánh Kinh, đã được các tông đồ giao phó cho toàn thể Hội Thánh. "Nhờ gắn bó với kho tàng ấy, toàn thể dân thánh hiệp nhất với các mục tử, vẫn một niềm trung tín, chuyên cần nghe các tông đồ giảng dạy, sống hiệp thông huynh đệ, tham dự lễ bẻ bánh và các giờ cầu nguyện, đến nỗi trong cách giữ đạo, hành đạo, và tuyên xưng đức tin được truyền lại, các mục tử và đoàn chiên đồng tâm nhất trí với nhau cách lạ thường"(DV 10).

Huấn Quyền của Hội Thánh

85 888- 892 2032-2040           "Nhiệm vụ giải nghĩa cách chân chính Lời Thiên Chúa đã được viết ra hay lưu truyền, chỉ được ủy thác cho Huấn Quyền sống động của Hội Thánh, và Hội Thánh thi hành quyền đó nhân danh Đức Giê-su Ki-tô " (DV 10), nghĩa là

86 688  "Tuy nhiên, Huấn Quyền không vượt trên Lời Chúa, nhưng phải phục vụ Lời Chúa, nên chỉ dạy những gì đã được truyền lại. Theo lệnh Chúa với sự trợ giúp của Chúa Thánh Thần, Huấn Quyền thành tâm lắng nghe, gìn giữ cách thánh thiện và thành tín trình bày Lời Chúa. Và từ kho tàng đức tin duy nhất ấy, rút ra mọi điều phải tin như là Mặc Khải của Thiên Chúa" (DV 10).

87 1548 2037  Vì ghi nhớ lời Đức Ki-tô đã nói với các tông đồ : "Ai nghe anh em là nghe Thầy" (Lc 10,16) (LG 20), các tín hữu nhiệt thành ngoan ngoãn nhận lãnh lời dạy và chỉ thị mà các mục tử ban cho họ dưới những hình thức khác nhau.

Các tín điều của đức tin

88.       Huấn Quyền thực thi trọn vẹn quyền bính nhận từ Đức Ki-tô khi định tín, tức là khi công bố, dưới hình thức buộc dân thánh phải tin, những chân lý được chứa đựng trong mặc khải hoặc khi công bố một cách xác định dức khoát những chân lý có liên hệ tất yếu với các chân lý đó.

89 2625           Có một tương quan hữu cơ giữa đời sống thiêng liêng của chúng ta với các tín điều. Tín điều là những ánh sáng trên con đường đức tin, soi sáng và làm cho con đường đức tin ấy được an toàn. Ngược lại, nếu chúng ta sống ngay thẳng, trí tuệ và tâm hồn sẽ mở rộng đón nhận ánh sáng các tín điều (x. Ga 8,31-32).

90 114,158 234           Toàn bộ mặc khải mầu nhiệm Đức Ki-tô cho thấy các tín điều có liên hệ hỗ tương và đan kết với nhau (Cđ Va-ti-can I : DS 3016 : nexus mysteriorum: LG 25). Thực vậy cần nhớ là "chúng ta phải nhận có một trật tự hay phẩm trật" các chân lý trong đạo lý công giáo, vì sự liên hệ giữa các tín điều với các nền tảng đức tin Ki-tô giáo không đồng đều" (UR 11).

Ý thức siêu nhiên của đức tin

91 737.            Mọi tín hữu đều tham dự vào ơn hiểu biết và việc lưu truyền chân lý mặc khải. Họ được Thánh Thần xức dầu, chính Người dạy dỗ (x. 1Ga 2,20.27) và dẫn họ tới chân lý toàn diện (x. Ga 16,13).

92 785.            "Toàn thể tín hữu ... không thể sai lầm trong đức tin. Họ biểu lộ đặc tính ấy nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin của toàn thể dân Chúa, khi" từ các Giám mục cho đến người giáo dân rốt hết", đều đồng ý về những chân lý liên quan đến đức tin và phong hóa" (LG 12).

93 889 .           "Thực vậy, nhờ cảm thức về đức tin được Thánh Thần chân lý khơi dậy và duy trì, và dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền ... dân Thiên Chúa một lòng gắn bó không sờn với đức tin đã được truyền lại một lần dứt khoát, đào sâu đức tin hơn nhờ giải thích đúng đắn và thực thi trọn vẹn đức tin ấy trong đời sống của mình" (LG 12).

Tăng trưởng trong sự hiểu biết về đức tin

94 66.  Nhờ Thánh Thần trợ giúp, sự hiểu biết về các thực tại và các lời thuộc kho tàng đức tin có thể tăng trưởng trong đời sống Hội Thánh :

2651    -"Nhờ suy niệm và học hỏi của những tín hữu hằng gẫm suy trong lòng những thực tại và lời nói ấy" (DV 8); đặc biệt "việc nghiên cứu thần học giúp đào sâu hiểu biết về chân lý mặc khải" ( x. GS 62,7; x. 44,2 ; DV 23,24; UR 4 );

2038,2518       -"Nhờ sự hiểu biết nội tâm mà các tín hữu cảm nhận được những điều thiêng liêng" (DV 8); "Lời Chúa lớn lên cùng với người đọc" ( Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả, giảng về Ed 1,7,8);

-"Nhờ lời rao giảng của các vị trong hàng Giám Mục đã nhận được đặc sủng chắc chắn về chân lý " ( DV 8).

95.       "Vậy rõ ràng là Thánh Truyền, Thánh Kinh và Huấn Quyền, nhờ một sự an bài rất khôn ngoan của Thiên Chúa, liên kết và phối hiệp với nhau đến nổi không một thực thể nào một trong ba có thể đứng vững một mình được. Dưới tác động của một Thánh Thần duy nhất, cả ba cùng góp phần hữu hiệu vào việc cứu độ các linh hồn, mỗi thứ theo phương cách riêng của mình" (DV 10, 3).

TÓM LƯỢC

96.       Điều Đức Ki-tô đã ủy thác cho các Tông đồ, các ngài đã truyền lại bằng lời rao giảng và bằng văn bản, dưới sự linh hứng của Thánh Thần, cho tất cả mọi thế hệ, cho đến ngày Đức Ki-tô trở lại trong vinh quang.

97.       "Thánh Truyền và Thánh Kinh hợp thành một kho tàng thánh thiêng duy nhất của Lời Thiên Chúa ( DV 10), trong đó, Hội Thánh lữ hành chiêm ngắm Thiên Chúa (DV 10) là nguồn mạch mọi sự phong phú của mình như trong một tấm gương.

98.       Qua giáo lý, đời sống và phụng tự của mình, Hội Thánh bảo tồn và truyền lại cho mọi thế hệ tất cả thực chất của mình và tất cả những gì mình tin" ( DV 8).

99.       Nhờ cảm thức siêu nhiên về đức tin, toàn thể Dân Chúa không ngừng đón nhận, đào sâu và sống hồng ân mặc khải ngày càng trọn vẹn hơn.

100.     Nhiệm vụ giải nghĩa cách chân chính Lời Thiên Chúa được ủy thác riêng cho Huấn Quyền, tức là cho Đức Giáo Hoàng và cho các Giám Mục hiệp thông với Người.

Mục 3: THÁNH KINH

I. ĐỨC KI-TÔ - LỜI DUY NHẤT CỦA THÁNH KINH

101.     Để mặc khải chính mình cho loài người, Thiên Chúa đã đoái thương dùng ngôn ngữ loài người mà nói với ho (139): "Lời của Thiên Chúa, diễn đạt bằng ngôn ngữ nhân loại, (tr 150) nên giống tiếng nói loài người, cũng như khi xưa Ngôi Lời của Cha hằng hữu đã trở nên giống như con người khi mặc lấy xác phàm yếu đuối của chúng ta" ( DV 13).

102 65, 2763   Qua tất cả các lời ở trong Thánh Kinh, Thiên Chúa chỉ nói có một Lời là Ngôi Lời duy nhất, trong Người, Thiên Chúa nói hết về mình cho nhân loại (Dt 1,1-3) :

426-429           Anh em hãy nhớ rằng Lời duy nhất của Thiên Chúa được trải dài trong toàn bộ Thánh Kinh, chính Ngôi Lời duy nhất vang trên môi miệng của tất cả các tác giả Thánh Kinh. Vì chính Người, ngay từ đầu là Thiên Chúa ở bên Thiên Chúa, chẳng cần đến chữ với lời, bởi Người không lệ thuộc vào thời gian ( Thánh Âu Tinh, Tv 103,4,1).

103 1100, 1184 1378  Vì lý do đó, Hội Thánh luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Mình Thánh Chúa. Hội Thánh không ngừng lấy Bánh ban sự sống từ bàn tiệc Lời Thiên Chúa và Mình Thánh Chúa
Ki-tô để ban phát cho các tín hữu ( x. DV 21)

104.     Trong Thánh Kinh, Hội Thánh không ngừng tìm được lương thực và sức mạnh (x.DV 24), vì nơi đó, Hội Thánh không chỉ đón nhận một lời phàm nhân, nhưng thực sự là Lời của Thiên Chúa( 1Th 2,13). "Thật vậy, trong các Sách Thánh, Chúa Cha, Đấng ngự trên trời, âu yếm đến với con cái của Người và đối thoại với họ" (DV 21).

II. LINH HỨNG VÀ CHÂN LÝ CỦA THÁNH KINH

105.     Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh "Những gì Thiên Chúa mặc khải mà Thánh Kinh chứa đựng và trình bày, đều được viết ra dưới sự linh hứng của Thánh Thần". "Hội Thánh, Mẹ chúng ta, nhờ đức tin tông truyền, xác nhận rằng toàn bộ Cựu Ước cũng như Tân Ước, với tất cả các thành phần đều là Sách Thánh, và được ghi vào bản chính lục của Thánh Kinh, bởi lẽ được viết ra dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần nên tác giả các sách ấy là chính Thiên Chúa và chúng được lưu truyền cho Hội Thánh với danh nghĩa như vậy"(DV 11).

106.     Thiên Chúa đã linh hứng cho các tác giả nhân loại viết các Sách Thánh. "Để soạn các Sách Thánh đó, Thiên Chúa đã chọn những con người và dùng họ với đầy đủ các khả năng và phương tiện của họ, để khi chính Người hành động trong họ và qua họ, họ viết ra như những tác giả đích thực tất cả những gì Chúa muốn, và chỉ viết những điều đó thôi" (DV 11).

107 702           Các sách được linh hứng giảng dạy sự thật. "Vậy bởi phải xem mọi lời các tác giả được linh hứng, còn gọi là các Thánh Ký viết ra, là những lời của Chúa Thánh Thần, nên phải công nhận rằng Thánh Kinh dạy ta cách chắc chắn, trung thành và không sai lầm, những chân lý mà Thiên Chúa đã muốn Thánh Kinh ghi lại để cứu độ chúng ta" (DV 11).

108.     Tuy nhiên, đức tin Ki-tô giáo không phải là "đạo thờ Sách,"nhưng là đạo do "Lời" Thiên Chúa, " không phải một lời được viết ra và câm lặng, nhưng là Ngôi Lời nhập thể và hằng sống" (Thánh Bê-na-đô, bài giảng về kẻ được sai đi 4,11). Để các lời của Sách Thánh không chỉ là văn tự chết, Đức Ki-tô, Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa hằng sống, nhờ Thánh Thần "mở trí cho chúng ta hiểu được Thánh Kinh"( Lc 24, 45).

III. CHÚA THÁNH THẦN, ĐẤNG GIẢI NGHĨA THÁNH KINH

109.     Trong Thánh Kinh , Thiên Chúa nói với con người theo cách thức loài người. Vậy để giải nghĩa Thánh Kinh cho đúng, phải cẩn thận tìm hiểu điều các thánh ký thật sự có ý trình bày và điều Thiên Chúa muốn diễn tả qua lời lẽ của họ( x. DV 12, 1).

110.     Để khám phá ý định của các Thánh Ký , phải xét đến thời đại và văn hoá của họ, các "thể văn" thông dụng thời bấy giờ, cách thức cảm nghĩ, diễn tả, và tường thuật thịnh hành thời của họ. "Vì chân lý được trình bày và diễn tả qua nhiều thể văn khác nhau như thể văn lịch sử, ngôn sứ, thi ca...hoặc những thể loại khác"(DV 12, 2).

111.     Vì Thánh Kinh được linh hứng, nên còn một nguyên tắc khác để giải nghĩa cho đúng. Nguyên tắc này không kém quan trọng so với nguyên tắc trên và không có nó thì Thánh Kinh chỉ là văn tự chết : "Thánh Kinh đã được viết ra bởi Chúa Thánh Thần nên cũng phải được đọc và giải thích trong Chúa Thánh Thần" (DV 12,3).

Công đồng Va-ti-ca-nô II đưa ra ba tiêu chuẩn để giải thích Thánh Kinh theo Thánh Thần, Đấng đã linh hứng (DV 12, 3).

112 128 368    1* Trước hết, phải hết sức chú ý đến "nội dung và tính thống nhất của toàn bộ Thánh Kinh " . Các Sách Thánh, dù có khác biệt nhau mấy đi chăng nữa, vẫn là một do tính duy nhất của chương trình Thiên Chúa mà Đức Ki-tô Giê-su là trung tâm điểm và là trái tim, được rộng mở từ cuộc Vượt Qua của Người (x. Lc 24,25-27. 44-46).

Trái tim ( x. Tv 22,15)Đức Ki-tô chỉ Thánh Kinh, và Thánh Kinh giúp ta hiểu rõ trái tim Người. Trước cuộc khổ nạn, trái tim này còn đóng kín, vì Thánh Kinh còn tối nghĩa. Nhưng sau cuộc khổ nạn, Thánh Kinh đã được mở ra, vì từ nay những ai hiểu được cuộc khổ nạn sẽ biết suy xét và hiểu được phải giải nghĩa các lời ngôn sứ như thế nào ( Thánh Tô-ma Aquinô. Tv 21,11).

113 81             2* Kế đến, phải đọc Thánh Kinh trong" Truyền thống sống động của toàn thể Hội Thánh". Theo một châm ngôn của các giáo phụ Thánh Kinh pha<150)i được đọc chủ yếu trong con tim Hội Thánh hơn là trên những vật liệu dùng để viết Thánh Kinh. Thật vậy, Hội Thánh giữ trong truyền thống của mình ký ức sống động của Lời Thiên Chúa, và chính Thánh Thần giải thích cho Hội Thánh ý nghĩa thiêng liêng của Thánh Kinh ("...theo nghĩa thiêng liêng mà Thánh Thần ban cho Hội Thánh được hiểu") ( Ô-ri-giê-nê bài giảng ; Lv 5,5).

114 90             3* Phải lưu ý đến " tính loại suy đức tin" ( x. Rm 12,6). "Tính loại suy đức tin" được hiểu là sự liên kết chặt chẽ giữa các chân lý đức tin với nhau và trong toàn bộ chương trình mặc khải.

Các nghĩa được dùng trong Thánh Kinh

115.     Theo một truyền thống cổ xưa, có thể phân biệt hai nghĩa được dùng trong Thánh Kinh : nghĩavăn tự vànghĩa thiêng liêng. Nghĩa thiêng liêng được chia thành nghĩa ẩn dụ, luân lý và thần bí. Sự hòa hợp sâu xa của bốn nghĩa này bảo đảm cho việc đọc Thánh Kinh cách sống động trong Hội Thánh được phong phú tối đa:
116 110-114    Nghĩa văn tự : Đây là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên và được khoa chú giải khám phá ra khi tuân theo những qui luật để giải nghĩa đúng. "Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự " ( Thánh Tô-ma Aquinô. Tổng luận 1,1,10, 1.).

117 1101         Nghĩa thiêng liêng : Nhờ sự thống nhất trong ý định của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến, đều có thể là những tiên trưng.

1. Nghĩa ẩn dụ : Chúng ta có thể hiểu thấu đáo hơn các biến cố bằng cách nhận ra ý nghĩa của nó trong Đức Ki-tô. Ví dụ cuộc vượt qua Biển Đỏ là tiên trưng cuộc chiến thắng của Đức Ki-tô, do đó cũng là tiên trưng của phép Thánh Tẩy ( x. 1Cr 10,2).

2. Nghĩa luân lý : Các biến cố được Kinh Thánh thuật lại phải dẫn chúng ta đến một cách ăn ở chính trực. Các biến cố đó được viết ra "để răn dạy chúng ta" (1 Cr 10,11) ( x. Dt 3-4,11).

3. Nghĩa thần bí : Chúng ta có thể đọc thấy ý nghĩa vĩnh cửu của các thực tại và biến cố, khi chúng hướng chúng ta về Quê Trời. Ví dụ Hội Thánh dưới đất là dấu chỉ Giê-ru-sa-lem trên trời ( x. Kh 21,1-22,5).

118.     Hai câu thơ thời trung cổ tóm tắt ý của bốn nghĩa như sau :

Nghĩa văn tự dạy về biến cố,
Nghĩa ẩn dụ dạy điều phải tin,
Nghĩa luân lý dạy điều phải làm,
Nghĩa thần bí dạy điều phải vươn tới.
(Rotulus prigiecaris I : ed A WALZ : Angelium 6 (1929) Augustin de Dace.).

119 94   "Theo các qui tắc ấy, người chú giải Thánh Kinh có nhiệm vụ nỗ lực tìm hiểu và trình bày ý nghĩa Thánh Kinh cách sâu rộng hơn, hầu những nghiên cứu của họ, như một việc làm chuẩn bị, giúp phán quyết của Hội Thánh được chín chắn. Thật vậy, mọi điều liên hệ đến việc giải thích Thánh Kinh cuối cùng đều phải tùy thuộc vào phán quyết của Hội Thánh, vì Hội Thánh được Thiên Chúa giao cho sứ mạng và chức vụ gìn giữ và giải thích lời Chúa"(DV 12,3).

113.     Tôi sẽ không tin vào Tin Mừng, nếu thẩm quyền của Hội Thánh Công Giáo không thúc giục tôi (Thánh Âu tinh, Hộ giáo 5,6).

IV. GIÁO QUY VỀ THÁNH KINH

120 117           Chính Truyền Thống các Tông đồ giúp Hội Thánh phân định những văn bản nào phải được kể vào danh mục các Sách Thánh (DV 8,3). Danh mục đầy đủ này được gọi là " Quy điển" các Sách Thánh, gồm 46 bản văn Cựu ước (45, nếu gom Gr. và Ac. thành một) và 27 bản văn cho Tân Ước (x. DS 179; 1334-1336; 1501;-1504):

Cựu Ước : Sáng Thế, Xuất Hành, Lê Vi, Dân Số, Đệ Nhị Luật, Giô-su-ê, Thủ Lãnh, Rút, 1và2 Sa-mu-en, 1và2 Các Vua, 1và 2 Sử Ký, Ê-dơ-ra và Nơ-khe-mi-a, Tô-bi-a, Giu-đi-tha, Ét-te, 1và2 Ma-ca-bê, Gióp, Thánh Vịnh, Châm Ngôn, Giảng Viên, Diễm Ca, Khôn Ngoan, Huấn Ca, I-sa-i-a, Giê-rê-mi-a, Ai-ca, Ba-rúc, Ê-dê-ki-en, Đa-ni-en, Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Giô-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a, Ma-la-khi.

Tân Ước: Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, Thánh Mác-cô, Thánh Lu-ca, Thánh Gio-an, Công vụ Tông đồ, Thư Rô-ma, Thư 1 và 2 Cô-rin-tô, Thư Ga-lát, Thư Ê-phê-sô, Thư Phi-líp-phê, Thư Cô-lô-xê, Thư 1và2 Thê-xa-lô-ni-ca, Thư 1và 2 Ti-mô-thê, Thư gởi cho Ti-tô, Thư gởi Phi-lê-mon, Thư Do-thái, Thư Thánh Gia-cô-bê, Thư 1và2 Thánh Phê-rô, Thư 1,2 và 3 Thánh Gio-an, Thư Thánh Giu-đa, Khải Huyền.

Cựu Ứớc

121 1093         Cựu Ước là một phần của Thánh Kinh không thể thiếu được. Các sách Cựu Ước được Thiên Chúa linh hứng luôn có giá trị vĩnh cửu (x. DV14) vì giao ước cũ không hề bị thu hồi.

122 702 , 763 708 2568          "Lý do chính của nhiệm cục thời Cựu Ước là chuẩn bị cho ngày xuất hiện của Đức Ki-tô Cứu Thế". "Dù còn chứa đựng những điều bất toàn và tạm thời", các sách Cựu Ước minh chứng khoa sư phạm thần diệu của tình yêu cứu độ của Thiên Chúa :"Vì chúng tàng trữ những lời giáo huấn cao siêu về Thiên Chúa, những tư tưởng khôn ngoan và hữu ích về đời sống con người, những kho tàng kinh nguyện tuyệt diệu và sau cùng ẩn chứa mầu nhiệm cứu độ chúng ta" ( DV 15).

123.     Người Ki-tô hữu tôn kính Cựu Ước như là Lời Thiên Chúa đích thật. Hội Thánh cực lực chống lại ý kiến đòi gạt bỏ Cựu Ước, viện cớ Tân Ước đã làm cho Cựu Ước ra lỗi thời (thuyết Mác-xi-on).

Tân Ứớc

124.     "Lời Chúa là sức mạnh thần thiêng cứu độ mọi tín hữu, được trình bày và tỏ lộ quyền năng cách đặc biệt trong các sách Tân Ứơc" (DV 17). Các sách ấy trao cho chúng ta chân lý tối hậu của Mặc khải. Trung tâm của Tân Ước là Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa nhập thể, các hành vi, lời giảng dạy, cuộc khổ nạn và tôn vinh của Người, cũng như những bước đầu của Hội thánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần (DV 20).

125 515           Các Sách Tin Mừng là trung tâm của Thánh Kinh "vì là chứng từ tuyệt hảo về cuộc đời và giáo huấn của Ngôi Lời Nhập Thể, Đấng Cứu Độ chúng ta" (DV 18).

126 76             Trong việc hình thành các sách Tin Mừng, người ta có thể phân biệt ba giai đoạn :

1. Cuộc đời và Giáo Huấn của Đức Giê-su. "Hội Thánh luôn khẳng định lịch sử tính của bốn sách Tin Mừng, cũng như mạnh mẽ và liên tục xác nhận bốn sách Tin Mừng trung thành ghi lại những gì Đức Giê-su Con Thiên Chúa khi sống giữa loài người, thực sự đã làm và đã dạy vì ơn cứu độ đời đời của họ, cho tới ngày Người lên trời".

2. Truyền khẩu ."Những gì Chúa đã nói và làm, thì sau cuộc thăng thiên của Nguời, các tông đồ truyền lại cho thính giả, với sự hiểu biết đầy đủ hơn mà chính các ông có được nhờ học ở những biến cố vinh hiển của Đức Ki-tô và nhờ được Thánh Thần chân lý soi sáng".

3. Các sách Tin Mừng ."Các thánh ký đã soạn bốn sách Tin Mừng, bằng cách chọn một số trong nhiều yếu tố đã được truyền miệng hoặc sao chép, tóm lược những yếu tố khác hay tùy theo hoàn cảnh của các giáo đoàn mà giải thích thêm, nhưng vẫn giữ hình thức của bài giảng thuyết.Và như vậyluôn chân thành truyền đạt cho chúng ta những điều chân thật về Đức Giê-su." ( DV 19)

127 1154         Trong Hội Thánh, bốn sách Tin Mừng chiếm địa vị có một không hai : bằng chứng là phụng vụ luôn tôn kính và các thánh trong mọi thời đều say mê.

Không có giáo lý nào tốt hơn, quí hơn và sáng chói hơn bản văn Tin Mừng. Hãy xem và ghi nhớ những gì Đức Ki-tô, là Chúa và là Thầy của chúng ta, đã dạy qua các lời nói và thực hiện qua các hành động của Người (Thánh Césaria la Jeune).

2705    Trên hết mọi sự, chính Tin Mừng bổ dưỡng tôi trong các giờ cầu nguyện; nơi đó,tôi tìm thấy tất cả những gì cần thiết cho linh hồn đáng thương của tôi. Nơi đó tôi luôn khám phá những ánh sáng mới mẻ, những ý nghĩa ẩn giấu và mầu nhiệm (Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su).

Tính thống nhất giữa Cựu Ước và Tân Ước

128 1094 489  Ngay từ thời các tông đồ ( x. 1Cr 10,6.11; Dt 10,1; 1Pr 3,21) và trong suốt truyền thống của mình, Hội Thánh đã soi sáng tính thống nhất của ý định Thiên Chúa trong cả hai Giao Ước, nhờ khoa tiên trưng. Khoa này nhận ra, trong các công trình của Thiên Chúa dưới thời Cựu ước, những "hình ảnh báo trước" điều Thiên Chúa sẽ hoàn thành trong thời viên mãn, nơi Ngôi Lời nhập thể .

129 651 2055 1968     Vậy các ki-tô hữu phải đọc Cựu Ước dưới ánh sáng của Đức Ki-tô chết và sống lại. Cách đọc tiên trưng này làm tỏ hiện nội dung vô tận của Cựu Ước. Nhưng không được quên rằng Cựu Ước vẫn có giá trị mặc khải riêng, mà chính Chúa Giê-su đã tái khẳng định ( x. Mc 12,29-31). Đàng khác, Tân Ước đòi hỏi cũng phải được đọc dưới ánh sáng Cựu Ước. Việc huấn giáo của Hội Thánh thời sơ khai luôn làm như vậy ( x. 1Cr 5,6-8; 10,1-11). Theo một ngạn ngữ cổ xưa, Tân Ước ẩn tàng trong Cựu Ước, Cựu Ước tỏ lộ trong Tân Ước "Novum in Vetere latet et in Novo Vetus patet" ( Th.Âu Tinh thất thư 2,73; x.DV 16)

130.     Khoa tiên trưng cho thấy sức năng động của kế hoạch Thiên Chúa đang tiến đến lúc hoàn thành khi "Thiên Chúa có toàn quyền trên muôn loài" (1Cr 15,28). Chẳng hạn việc kêu gọi các tổ phụ và cuộc xuất hành khỏi Ai cập, không phải vì chúng là những giai đoạn trung gian mà mất đi giá trị riêng của mình trong kế hoạch của Thiên Chúa.

V. KINH THÁNH TRONG SINH HOẠT HỘI THÁNH

131.     "Lời Chúa còn có sức mạnh và quyền năng có thể nâng đỡ và tăng cường Hội Thánh, ban sức mạnh đức tin, là lương thực linh hồn, nguồn sống thiêng liêng, tinh tuyền và trường cửu cho con cái Hội Thánh"( DV 21). Cần phải "mở rộng đường cho các Ki-tô hữu đến với Thánh Kinh"( DV 22).

132 94.            "Nghiên cứu Thánh Kinh phải là hồn của khoa thần học thánh. Thừa tác vụ Lời Chúa - gồm có là việc rao giảng thuộc mục vụ, dạy giáo lý và mọi huấn dụ Ki-tô giáo, trong đó bài giảng phụng vụ phải chiếm một chỗ quan trọng-phải được nuôi dưỡng và gia tăng sinh lực cách lành mạnh, nhờ lời Thánh Kinh (DV 24)".

133 2653 1792            Hội Thánh "tha thiết và đặc biệt khuyến khích mọi Ki-tô hữu "hãy năng đọc Thánh Kinh để học biết khoa học siêu việt của Đức Giê-su Ki-tô (Pl 3,8). "Vì không biết Thánh Kinh là không biết Đức Ki-tô" (Thánh Giê-rô-ni-mô) (DV 25).

TÓM LƯỢC

134.     "Toàn bộ Thánh Kinh chỉ là một cuốn sách duy nhất, và cuốn sách duy nhất ấy chính là Đức Ki-tô, vì toàn bộ Thánh Kinh nói về Đức Ki-tô và được hoàn tất trong Đức Ki-tô" ( Hugues de Saint Dearen, Nô-ê 2,8 PL 176, x.ibid 2,9).

135.     "Các sách Thánh Kinh chứa đựng Lời Thiên Chúa và vì được linh hứng, nên thực sự là Lời Chúa" (DV 24).

136.     Thiên Chúa là tác giả của Thánh Kinh theo nghĩa Người là Đấng linh hứng các tác giả nhân loại: Người tác động nơi họ và qua họ. Như thế, Người bảo đảm các tác phẩm của họ giảng dạy không sai lầm chân lý cứu độ (x. DV 11).

137.     Muốn giải nghĩa các Sách Thánh đã được Thiên Chúa linh hứng, trước hết phải chú tâm đến điều Thiên Chúa muốn mặc khải qua các thánh ký, để cứu độ chúng ta. "Điều gì phát sinh từ Thánh Thần chỉ hiểu được trọn vẹn nhờ Thánh Thần"( Ô-ri-giê-nê, bài giảng Xh 4,5 PL 176,642; 643).

138.     Hội Thánh đón nhận và tôn kính 46 sách của Cựu Ước và 27 sách của Tân Ước như là những sách được Thiên Chúa linh hứng .

139.     Bốn quyển Tin Mừng chiếm địa vị trung tâm của toàn bộ Thánh Kinh, vì Đức Ki-tô là trung tâm của Tin Mừng.

140.     Vì Thiên Chúa chỉ có một ý định cứu độ nhân loại và chỉ có một mặc khải duy nhất, nên cả hai giao ước thống nhất với nhau: Cựu Ước chuẩn bị cho Tân ước, Tân Ước hoàn tất Cựu ước, cả hai soi sáng cho nhau, cả hai đều thật sự là Lời Thiên Chúa.

141.     "Hội Thánh vẫn luôn tôn kính Thánh Kinh như từng tôn kính chính Mình Thánh Chúa ( x. DV 21)": cả hai nuôi dưỡng và chi phối toàn diện đời sống Ki-tô hữu. "Lời Ngài là ngọn đèn soi cho con bước, là ánh sáng chỉ đường con đi" (Tv 119,105) ( x. Is 50,4).

CHƯƠNG BA: CON NGƯỜI ĐÁP LỜI THIÊN CHÚA

142 1102         Nhờ mặc khải, "do tình yêu vô biên, Thiên Chúa vô hình ngỏ lời với con người như với bạn hữu. Người đối thoại với họ, để mời gọi cho họ hiệp thông với Người" ( x. DV 2). Đức tin là lời đáp trả thích đáng của con người trước lời mời gọi của Thiên Chúa.

143 2087         Nhờ Đức Tin, con người đem tất cả trí khôn và ý chí của mình suy phục Thiên Chúa. Con người đặt trọn bản thân qui thuận Đấng mặc khải là Thiên Chúa (x.DV 5) : Thánh Kinh gọi cách đáp trả này là "sự vâng phục bằng Đức Tin" ( x. Rm 1,5;16,26).

Mục 1
1814-1816
TÔI TIN

I. SỰ VÂNG PHỤC BẰNG ĐỨC TIN

144.     Vâng phục trong đức tin là tự nguyện vâng phục lời đã nghe, bởi vì chân lý của lời đó được Thiên Chúa là chính Chân Lý bảo đảm. Thánh Kinh trưng dẫn ông Áp-ra-ham như gương mẫu của sự vâng phục này. Đức Trinh Nữ Ma-ri-a là người thể hiện lòng vâng phục ấy cách hòan hảo nhất.

Abraham - “người cha của mọi kẻ có lòng tin”

145 59, 2570 489        Thư gửi tín hữu Do Thái, trong bài tán dương đức tin của tổ tiên, đặc biệt nhấn mạnh đức tin của ông Áp-ra-ham: "Nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi, đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu" (Dt 11,8) ( x. St 12,1-4). Nhờ đức tin, ông đã sống như kẻ xa lạ và người lữ hành trong đất hứa ( x. St 23,4). Nhờ đức tin, bà Sa-ra đã thụ thai người con của lời hứa. Cuối cùng, nhờ đức tin, ông Áp-ra-ham đã dâng hiến con một mình làm hy lễ ( x. St 11,17).

146 1819         Như vậy, ông Áp-ra-ham thực hiện điều thư Do Thái định nghĩa về đức tin: "Đức tin là bảo đảm cho nhữngđiềuhyvọng,làbằng chứng của những điều ta không xem thấy" (Dt 11,1). "Ông Áp-ra-ham tin Thiên Chúa, và vì thế, được kể làngười công chính" (Rm 4,3) ( x. St15,6). Nhờ"đứctin vững mạnh ấy" (Rm 4,20), ông Áp-ra-ham trở thành "tổ phụ của tất cả những người tin" (Rm 4,11.18)( x. St 15,5).

147 839           Cựu Ước nêu lên rất nhiều chứng từ về đức tin ấy. Thư Do Thái tán tụng đức tin gương mẫu của tiền nhân, "nhờ đó các ngài đã được Thiên Chúa chứng nhận" (Dt 11,2.39). Tuy nhiên, "Thiên Chúa đã trù liệu cho chúng ta một phần phúc tốt hơn": ơn được tin vào Đức Giê-su Con của Người, "là Đấng khai mở và kiện toàn đức tin của chúng ta" (Dt 11,40 ; 12,2).

Đức Ma-ri-a - "Người Diễm Phúc vì đã tin"

148 494, 2617 506      Đức Trinh Nữ Ma-ri-a thể hiện cách hoàn hảo nhất lòng vâng phục bằng đức tin. Vì tin rằng "đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể được" (Lc 1,37) nên Mẹ đã đón nhận lời của sứ thần Gáp-ri-en loan báo và đoan hứa, và tỏ lòng ưng thuận : "Này tôi là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1,38). Bà Ê-li-sa-bét đón chào Mẹ: "Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói cho em biết" (Lc 1,45). Chính vì đức tin này mà Mẹ sẽ được mọi đời khen là diễm phúc ( x. St 18,14 ; Lc 1,48).

149 969 507,829         Trong suốt cuộc đời, và cho đến giờ thử thách cuối cùng ( x. Lc 2,35), khi Đức Giê-su Con của Mẹ chết trên Thánh Giá, đức tin của Mẹ không hề lay chuyển. Mẹ không ngừng tin rằng lời Chúa sẽ "ứng nghiệm". Chính vì thế, Hội Thánh tôn kính Mẹ là Người đã thể hiện đức tin tinh tuyền nhất .

II. "TÔI BIẾT TÔI ĐẶT NIỀM TIN NƠI ĐẤNG NÀO" (2Tm 1,12)

Tin vào một mình Thiên Chúa

150 222           Tin trước hết là gắn bó bản thân con người với Thiên Chúa, đồng thời cũng là tự nguyện chấp nhận tất cả chân lý Thiên Chúa đã mặc khải: Nhờ bao gồm cả hai điều trên, đức tin Kitô giáo khác với việc tin tưởng một người phàm. Thật là chính đáng và phải đạo khi phó thác hoàn toàn cho Thiên Chúa và tin tuyệt đối điều Người dạy. Thật vô ích và lầm lạc khi trao gởi một niềm tin như thế cho một thụ tạo (Gr 17, 5-6; Tv 40,5; 146,3-4).

Tin kính Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa

151 424           Đối với người Ki-tô hữu, tin vào Thiên Chúa không thể tách rời được với tin vào Đấng mà Người đã cử đến là "Con Chí Ái của Người" đẹp lòng Người mọi đàng" (Mc 1,11); và Thiên Chúa dạy chúng ta phải nghe lời Đấng ấy ( x. Mc 9,7). Chính Chúa cũng nói với môn đệ : "Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy" (Ga 14,1). Chúng ta có thể tin vào Đức Giê-su Ki-tô vì chính Người là Thiên Chúa, là Ngôi Lời nhập thể : "Không ai thấy Thiên Chúa bao giờ, chỉ có Con Một, là Đấng hằng ở trong lòng Chúa Cha, chính Người mới tỏ cho chúng ta biết Thiên Chúa" (Ga 1,18). Vì "thấy Chúa Cha" (Ga 6,46) nên chỉ một mình Người biết và có thể mặc khải Chúa Cha cho chúng ta ( x. Mt 11,27).

Tin kính Chúa Thánh Thần

152 243, 683   Người ta không thể tin vào Đức Giê-su mà không thông phần vào Thánh Thần của Người. Chính Thánh Thần mặc khải cho loài người biết Đức Giê-su là ai. Không ai có thể tuyên xưng "Đức Giê-su là Đức Chúa, nếu không nhờ tác động của Thánh Thần" (1Cr 12,3). "Thánh Thần thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa. Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thánh Thần của Thiên Chúa" (1Cr 2,10-11). Chỉ mình Thiên Chúa biết trọn vẹn về Thiên Chúa. Chúng ta tin vào Thánh Thần vì Người là Thiên Chúa.

232      Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin vào một Thiên Chúa duy nhất, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

III. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐỨC TIN

Đức tin là một ân sủng

153 552 1814 1996 2606        Khi Thánh Phê-rô tuyên xưng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đức Giê-su tuyên bố với thánh nhân rằng : "Phàm nhân không tài nào mặc khải cho anh điều ấy được, nhưng chính là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời đã mặc khải"(Mt 16,17) ( x. Gl 1,15; Mt 11,25). Đức tin là hồng ân của Thiên Chúa, là nhân đức siêu nhiên do Người phú bẩm. Để có được đức tin nầy, cần có ân sủng Thiên Chúa đi trước giúp đỡ và có sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần, Đấng thúc đẩy và qui hướng con tim về cùng Thiên Chúa, mở mắt tinh thần và ban cho "mọi người cảm thấy dịu ngọt khi đón nhận và tin theo chân lý" (DV 5).

Đức tin là một hành vi nhân linh

154 1749 2126            Chỉ có thể tin nhờ ân sủng và những trợ lực bên trong của Thánh Thần. Tuy vậy, tin vẫn là một hành vi đích thực của con người. Tin tưởng Thiên Chúa và gắn bó với những chân lý mặc khải không đi ngược với tự do và trí khôn con người. Ngay trong những giao tiếp giữa người với người, chúng ta không đi ngược với phẩm giá của mình khi tin những gì người khác nói về chính họ hoặc về ý hướng của họ, và khi tin tưởng vào những lời hứa của họ (chẳng hạn lời hứa hôn nhân) để hiệp thông với họ. Vậy càng không ngược lại với phẩm giá con người, nếu "với đức tin, chúng ta hoàn toàn sáng suốt và tự do qui phục Thiên Chúa, Đấng mặc khải" ( x. Cđ Va-ti-can I; DS 3008), hiệp thông mật thiết với Người.

155.     Trong đức tin, trí khôn và ý chí con người hợp tác với ân sủng Thiên Chúa : "Tin là một hành vi của trí khôn chấp nhận chân lý mặc khải theo lệnh của ý chí được ân sủng Thiên Chúa tác động" ( Th. Tô-ma Aq.toàn thư 2-2,2,9; x.Cđ Va-ti-can I:DS 3010).

Đức tin và trí khôn

156 1063 2465 548 812          Lý do để tin không nằm ở chỗ các chân lý mặc khải được chúng ta thấy là đúng và hiểu được theo ánh sáng của lý trí tự nhiên. Chúng ta tin "vì uy quyền của chính Thiên Chúa, Đấng mặc khải không thể sai lầm cũng như không lừa dối chúng ta". "Tuy vậy, để sự ưng thuận của đức tin phù hợp với lý trí, Thiên Chúa đã muốn những bằng chứng bên ngoài của mặc khải đi kèm theo ơn Thánh Thần trợ lực bên trong ( x. Nt, DS 3009). Vì thế các phép lạ của Đức Ki-tô và các thánh

( x. Mc 16,20;Dt 2,4), các lời tiêntri, sự lan tràn và sự thánh thiện, sự phong nhiêu và sự vững bền của Hội Thánh "là những dấu chỉ chắc chắn của mặc khải, phùhợp với trí khôn của mọi người", là những lý do của tính khả tín giúp cho sự ưng thuận của đức tin "hoàn toàn không phải là động tác mù quáng của tinh thần" ( x. Cđ Va-ti-can I: DS 3008-3010).

157 2088         Đức tin chắc chắn, chắc chắn hơn mọi hiểu biết phàm nhân, vì lấy chính Lời Thiên Chúa làm nền tảng, mà Thiên Chúa thì không thể nói dối được. Hẳn là các chân lý mặc khải có thể bị lý trí và kinh nghiệm loài người cho là mờ tối, nhưng "sự chắc chắn mà ánh sáng Thiên Chúa ban còn lớn hơn sự chắc chắn mà ánh sáng của lý trí tự nhiên đem lại" ( Th. Tô-ma Aq. tổng luận 2-2,171,5/3). "Trăm ngàn khó khăn không đủ làm thành một ngờ vực nào" ( Newman, biên hộ).

158 2705 1827 90 2518          "Khi tin người ta muốn tìm hiểu điều mình tin" ( Thánh An-xen-mô, prosl.proem) : có một điều gắn liền với đức tin là người tin ước muốn biết rõ hơn Đấng mình tin và hiểu rõ hơn điều Người mặc khải; ngược lại, một hiểu biết thấu đáo hơn lại đòi hỏi một đức tin lớn hơn, ngày càng đượm nồng tình yêu. Ơn đức tin mở "con mắt tâm hồn" (Ep 1,18) dẫn đến một hiểu biết sống động về nội dung mặc khải, tức là về toàn bộ ý định của Thiên Chúa và những mầu nhiệm đức tin, về tương quan giữa các mầu nhiệm với nhau và với Đức Ki-tô, trung tâm của mầu nhiệm được mặc khải. Đằng khác, để "làm cho việc hiểu biết mặc khải luôn thêm sâu sắc, Thánh Thần không ngừng nhờ các ân huệ của Người giúp đức tin được thêm hoàn hảo" (x. Pv 5). Thánh Âu Tinh nói : "Tôi tin để hiểu và tôi hiểu để tin tốt hơn" (Bài giảng 43,7,9).

159 283 2293  Đức tin và khoa học. "Mặc dù đức tin vượt trên lý trí, nhưng không bao giờ hai bên thực sự mâu thuẫn nhau : Đấng mặc khải các mầu nhiệm và thông ban đức tin, cũng chiếu rọi ánh sáng khôn ngoan xuống tâm trí con người, Thiên Chúa không thể tự phủ nhận chính mình, cũng như điều chân thật không bao giờ nghịch lại điều chân thật" (x. Cđ Va-ti-can I:DS 3017). Bởi vậy, việc nghiên cứu có phương pháp trong mọi ngành, nếu tiến hành một cách thật sự khoa học và theo các tiêu chuẩn luân lý, sẽ không bao giờ trái nghịch với đức tin, vì các thực tại trần thế và các thực tại đức tin đều bởi một Thiên Chúa mà ra. Hơn nữa, những ai kiên nhẫn và khiêm tốn cố gắng nghiên cứu sâu xa những bí ẩn của các sự vật, thì mặc dù không ý thức, họ như được bàn tay Thiên Chúa hướng dẫn, vì Người là Đấng bảo trì muôn loài và khiến chúng hiện hữu theo bản tính riêng của chúng" (GS 36,2).

Sự tự do của đức tin

160 1738,2106 616     Để là một hành vi của con người, "đức tin mà con người đáp lại Thiên Chúa phải là tự nguyện. Do đó, không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin trái với ý muốn. Thật vậy, tự bản chất đức tin là một hành vi tự ý".

Sự cần thiết của đức tin

161 432,1257846        Tin vào Đức Giê-su Ki-tô và Đấng đã cử Người đến để cứu độ chúng ta là điều cần thiết để đạt được ơn cứu độ ấy ( x. Mc 16,16; Ga 3,36; 6,40 e.a). "Vì "không có đức tin thì không thể đẹp lòng Thiên Chúa" (Dt 11,6) và cũng không thể chia sẻ chức vị làm con Thiên Chúa, nên không ai được công chính hóa mà không cần Đức Tin, và "nếu không bền chí trong đức tin cho đến cùng"( Mt 10,22; 24,13), không ai đạt tới cuộc sống muôn đời" ( Cđ Va-ti-can I: DS 3012; x. cđ Tren-tô:DS 1532).

Vững vàng trong Đức Tin

162 2089 1037,2016 2573, 2849        Đức Tin là một hồng ân Thiên Chúa ban nhưng không cho con người. Chúng ta có thể đánh mất hồng ân vô giá đó. Thánh Phao-lô cảnh giác Ti-mô-thê : "Hãy chiến đấu trong cuộc chiến cao đẹp này, với đức tin và lương tâm ngay thẳng. Một số người đã vứt bỏ lương tâm ngay thẳng đó, nên đức tin của họ đã bị chết chìm" (1Tm 1,18-19). Để sống, lớn lên và bền chí đến cùng trongđức tin, chúng ta phải nuôi dưỡng đức tin bằng Lời Thiên Chúa;chúngtaphảinài van Chúa giatăngđứctin ( x. Mc 9,24; Lc 17,5; 22,32). Đứctin phải "hành động nhờ đức ái" (Gl 5,6) ( x. Gc 2,14-26), được đức cậy nâng đỡ ( x. Rm 15,13)và đâm rễ trong đức tin của Hội Thánh.

Đức tin là khởi điểm của cuộc sống muôn đời

163 1088         Đức tin cho ta được nếm trước niềm hoan lạc và ánh sáng của ơn phúc nhìn thấy Thiên Chúa, mục đích của cuộc lữ hành dưới thế này của chúng ta. Bấy giờ chúng ta sẽ nhìn thấy Thiên Chúa "mặt giáp mặt" (1Cr 13,12), và "Ngườithế nào chúngta sẽ được thấy như vậy" (1Ga 3,2). Do đó đức tin là khởi điểm của cuộc sống muôn đời :

Ngay từ bây giờ chúng ta chiêm ngắm những phúc lộc của đức tin như một hình ảnh phản chiếu trong gương, vànhư thể chúng ta đang nắmđược những điều kỳ diệumà đức tin bảo đảm với chúng ta rằng một ngày kia chúng ta sẽ được hưởng ( Thánh Ba-si-li-ô, Thánh Thần 15,36; x.Thánh Tô-ma Aqu. toàn thư 2-2,4,1).

164 2846 309,1502 1006        Tuy nhiên, hiện giờ chúng ta "tiến bước trong đức tin chứ chưa được thấy nhãn tiền" (2Cr 5,7), và nhận biết Thiên Chúa "như trong một tấm gương,một cách lờ mờ, có ngần, có hạn" (1Cr 13,12). Mặc dầu đức tin được sáng tỏ nhờ Đấng chúng ta tin, chúng ta thường phải sống đức tin trong mờ tối. Đức tin có thểbị thử thách. Thế giới nơi chúng ta đang sống thường có vẻ khác xa những gì đức tin đoan quyết với chúng ta. Các kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ, về những bất công và cái chết, dường như phản bác Tin Mừng. Những điều đó có thể làm cho đức tin nao núng và trở thành một cám dỗ cho người tin.

165 2719         Chính bấy giờ là lúc chúng ta phải hướng lòng về các nhân chứng đức tin: - Ông Áp-ra-ham, là người đã tin,"vẫn trông cậy, mặc dầu không còn gì để trông cậy" (Rm4,18) - Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, là người,"trong cuộc lữ hành đức tin" ( LG 58), đã đi vào tận "đêm tối của đức tin" ( Gio-an Phao-lô II, RM 18) khi hiệp thông với khổ hình Thập Giá và đêm đen trong mồ của Con; - và bao nhiêu nhân chứng đức tin khác nữa : "Được ngần ấy nhân chứng đức tin bao quanh, khác nào một đám mây, chúng ta hãy cởi bỏmọi gánh nặng và tội lỗi đang trói buộc mình, và hãy kiên trì chạy trong cuộc đua dành cho ta, mắt gắn chặt vào Đức Giê-su là Đấng khai mở và kiện toàn lòng tinchúng ta" (Dt 12,1-2).

Mục 2: CHÚNG TÔI TIN

166 875           Đức tin là một hành vi cá nhân: Con người tựnguyện đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải. Nhưng đức tin không phải là một hành vi riêng rẽ. Không ai có thể tin một mình, cũng như không ai có thể sống một mình. Không ai tựban cho mình đức tin, cũng nhưkhông ai tự ban cho mình sự sống. Người tin nhận được đức tin từ kẻ khác, phải truyền đức tin lại cho kẻ khác. Tình yêu của chúng ta đối với Đức Giê-su và tha nhân, thúc giục chúng ta nói với người khác về đức tin của chúng ta. Như thế, mỗi tín hữu là một mắt xích trong dây chuyền rộng lớn các tín hữu. Tôi không thểtin mà không có đức tin của người khác đỡ nâng, và với đức tin của tôi, tôi góp phần vào việc nâng đỡ đức tin của kẻ khác.

167 1124 2040            "Tôi tin" ( Kinh Tin Kính các tông đồ) : Đây là đức tin của Hội Thánh, được mỗi tín hữutuyên xưng, đặc biệt lúc chịu phép Thánh Tẩy. "Chúng tôi tin" (Kinh Tin Kính Nicéa) : Đây là đứctin của Hội Thánh, được các giám mục họp thành Công Đồng hoặc, thông thường hơn, được cộngđoàn tín hữu cử hành phụng vụ cùng tuyên xưng. "Tôi tin": đây cũng là Hội Thánh, Mẹ chúng ta, đang lấy đức tin mà đáp lời Thiên Chúa, và dạy chúng ta nói : "tôi tin", "chúng tôi tin".

I."LẠY CHÚA, XIN NHÌN ĐẾN ĐỨC TIN CỦA HỘI THÁNH CHÚA"

168 1253         Trước tiên, chính Hội Thánh đã tin, và nhưthế, mang lấy, dưỡng nuôi và nâng đỡ đức tin của tôi. Trước tiên chính Hội Thánh ở khắp nơi tuyên xưng Chúa nhưchúng ta hát trong kinh "Te Deum": "Và khắp trên hoàn vũ, Hội Thánh hoan hỉ tuyên xưng Chúa là Chúa của mình". Với Hội Thánh và trong Hội Thánh, chúng tađược thúc đẩy và hướng dẫn tuyên xưng : "tôi tin","chúng tôi tin". Chínhqua Hội Thánh mà chúng ta lãnh nhận đức tin và đời sống mới trong Đức Ki-tô nhờ phép Thánh Tẩy. Trong sách "Nghi thức Rô-ma ", thừa tác viên cử hành bí tích Thánh Tẩy hỏi người dự tòng : "Con xin gì cùng Hội Thánh Thiên Chúa? - Thưa : Con xin Đức tin. Đức tin làm ích gì cho con ?- Thưa đức tin cho con sự sống đời đời" ( OBA).

169 750 2030  Chỉ có Thiên Chúa ban ơn cứu độ;nhưng bởi vì chúng ta lãnh nhận đời sống đức tin qua Hội Thánh, nên Hội Thánh là mẹ chúng ta : "Chúng tôi tin Hội Thánh là mẹ ban cho chúng tôi sự sống mới, chứ không tin vào Hội Thánh như tác giả của ơn cứu độ ( Faustus de Riez, Spir. 1,2.) . Vì là mẹ, Hội Thánh cũng là người giáo dục đức tin".

II. NGÔN NGỮ ĐỨC TIN

170 186           Chúng ta không tin vào những công thức, nhưng tin vào những thực tại mà các công thức đó diễn đạt, và đức tin cho phép chúng ta "chạm tới được". "Hành vi đức tin của người tín hữu không dừng lại ở lời phát biểu, mà ở thực tại được pháp biểu ( ThánhTô-ma Aqu. toàn thư2-2, 1,2, ad 2 )".Tuy nhiên, chúng ta tiếp cận những thực tại đó nhờ những công thức diễn tả đức tin. Những công thức này cho phép diễn đạt và lưu truyền đức tin, bày tỏ đức tin trong các buổi cử hành cộng đoàn, hấp thụ và sống đức tin ngày một hơn.

171 78,857,84 185      Hội Thánh là "cột trụ và điểm tựa của chân lý" (1Tm 3,15), trung thành bảo toàn "đức tin đã đượctruyền lại cho dân thánh một lần dứt khoát" (Gđ 3). Chính Hội Thánh ghi nhớ những Lời của Đức Ki-tô và lưu truyền từ đời nọ đến đời kia lời tuyên xưng đức tin của các tông đồ. Như mẹ dạy con nói, để nhờ đó con được hiểu biết và trao đổi với người khác, Hội Thánh, Mẹ chúng ta, dạy chúng ta nói ngôn ngữ đức tin nhằm giúp chúng ta hiểu biết và sống đức tin.

III. MỘT ĐỨC TIN DUY NHẤT

172 813           Từ bao thế kỷ, qua bao ngôn ngữ, bao nền văn hóa, bao dân tộc và quốc gia, Hội Thánh không ngừng tuyên xưng đức tin duy nhất, lãnh nhận từ một Chúa duy nhất, lưu truyền nhờ một Phép Rửa duy nhất, ăn sâu trong niềm xác tín rằng tất cả mọi người chỉ có một Thiên Chúa là Cha duy nhất ( x. Ep 4,4-6). Thánh I-rê-nê thành Ly-on, người đã làm chứng cho đức tin ấy, tuyên bố :

173 830           "Thật vậy, dù phân tán trên toàn thế giới cho tới tận cùng trái đất, nhưng vì đã lãnh nhận đức tin từ các Tông đồ và môn đệcác ngài, nên Hội Thánh ân cần gìn giữ lời rao giảng và đức tin đó như thể chỉ ở trong một ngôi nhà duy nhất, cùng tin một cách như nhau, như thế chỉ có một tâm hồn và một trái tim duy nhất,đồngthanh rao giảng, dạydỗ và lưu truyền lại lời rao giảng và đức tin ấy, như thể chỉ có một miệng lưỡi duy nhất" ( Chống lạc giáo 1,10,1-2).

174 78             "Vì, nếu trên toàn thế giới, các ngôn ngữ có khác nhau, nội dung Thánh Truyền vẫn là một và đồng nhất. Và các Giáo Đoàn được thiết lập tại Đức không hề có một đức tin hay một Truyền Thống nào khác, cả các Giáo Đoàn I-be-rơ (Tây Ban Nha cổ), các Giáo Đoàn người Xen-tơ (Pháp cổ), các Giáo Đoàn ở Đông Phương, ở Ai Cập, ở Li-By hay tại trung tâm thế giới cũng vậy..." ( Ibid ). "Như thế sứ điệp của Hội Thánh là chân thật và vững chắc, bởi chính trong Hội Thánh mà con đường cứu độ duy nhất xuất hiện trên khắp thế giới".

175.     Đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận từ Hội Thánh, chúng ta phải ân cần gìn giữ. Ví như một kho tàng quí giá chứa đựng trong một bình quí dưới tác động của Thánh Thần Thiên Chúa, đứctin luôn luôn tươi trẻ và làm tươitrẻ chính bình chứa là Hội Thánh ( Ibid, 3,24,1).

TÓM LƯỢC

176.     Tin là gắn bó bản thân con người cả trí khôn và ý chí với Thiên Chúa, Đấng tự mặc khải qua các việc làm và lời nói của Người.

177.     "Tin" qui chiếu vào hai điểm : Đấngmặc khải và chân lýmặckhải. Chúng ta tin chân lý mặc khải vì tin tưởng ở Đấng mặc khải.

178.     Chúng ta không được tin ai khác ngoài Thiên Chúa, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

179.     Đức tin là một hồng ân siêu nhiên của Thiên Chúa. Để tin, con người cần đến những trợ lực bên trong của Thánh Thần.

180.     "Tin" là hành vi của con người, có ý thức và tự do, xứng hợp với phẩm giá con người.

181.     "Tin" là hành vi có chiều kích Hội Thánh . Đức tin của Hội Thánh đi trước, sinhra, nâng đỡvà dưỡng nuôi đức tincủa chúng ta. Hội Thánh là Mẹ của mọi tín hữu. "Không thể có Thiên Chúa là Cha nếu không nhận Hội Thánh là mẹ" (Thánh Síp-ri-a-nô, Giáo hộihợp nhất).

182.     "Chúng ta tin tất cả những gì chứa đựng trong Lời Thiên Chúa, được viết hoặc lưu truyền, và do Hội Thánh dạy chúng ta tin như chân lý được Thiên Chúa mặc khải" (SPF 20).

183.     Đức tin cần thiết để được cứu độ. Chính Chúa khẳng định : "Aitin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ : còn ai không tin thì sẽ bị kết án" (Mc 16, 16).

184.     "Đức tin là nếm trước điều chúng ta sẽ được hưởng trong cuộc sống hạnh phúc mai sau" (Thánh Tô-ma Aq. giản lược 1,2).

KINH TIN KÍNH

Kinh Tin Kính các Tông đồ Kinh Tin kính Công đồng Nicê - Constantinôpôli

* Tôi tin kính Đức Chúa Trời
Tôi tin kính một Thiên Chúa duy nhất

* Là Cha phép tắc vô cùng
Là Chúa Cha toàn năng,

* dựng nên trời đất
Đấng tạo thành trời đất
muôn vật hữu hình và vô hình

* Tôi tin kính Đức Giê-su Ki-tô
Tôi tin kính một Chúa duy nhất

* là Con Một Đức Chúa Cha
là Đức Giê-su Ki-tô,

* cùng là Chúa chúng tôi
Con Một Thiên Chúa,
Sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời :
Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa;
Ánhsáng bởi ánh sáng;
Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật
được sinh ra mà không phải được tạo thành.
Đồng bản tính với Chúa Cha:
Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành.
Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi
Người đã từ trời xuống thế;

* Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai
bởi phép Chúa Thánh Thần

* Sinh bởi bà Ma-ri-a đồng trinh,
Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Ma-ri-a và đã làm người.

* Chịu nạn đời quan Phong-Xi-ô Phi-la-tô
Vì chúng tôi Người chịu đóng đinh vào thập giá dưới thời Phong-xi-ô Phi-la-tô

* Chịu đóng đinh trêncây Thánh Giá, chết và táng xác,
Người chịu khổ hình và mai táng

* Xuống ngục tổ tông.

* Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại,
Ngày thứ ba Người sống lại đúng như lời Thánh Kinh,

* lên trời,
Người lên trời

* ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng
ngự bên hữu Chúa Cha

* Ngày sau bởi trời lại xuống
và Người sẽ lại đến trong vinh quang

* phán xét kẻ sống và kẻ chết
để phán xét kẻ sống và kẻ chết
triều đại Người sẽ vô cùng vô tận.

* Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần,
Tôi tin kính Chúa Thánh Thần
Người là Chúa và là Đấng ban sự sống;
Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con.
Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con
Người đã dùng các ngôn sứ mà phán dạy.

* Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này,
Tôi tin có một Hội Thánh duy nhất thánh thiện, công giáo và tông truyền

* Các thánh thông công

* Tôi tin phép tha tội
Tôi tuyên xưng có một phép rửa duy nhất để tha tội

* Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại
Tôi đợi trông ngày kẻ chết sống lại

* tôi tin hằng sống vậy
và sự sống đời sau.

* A-men

ĐOẠN THỨ HAI: TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN KI-TÔ GIÁO
CÁC KINH TIN KÍNH

185 174, 949   Nói " Tôi tin" nghĩa là "tôi nhập cuộc vào những điều chúng tôi tin". Sự thông hiệp trong đức tin cần có một ngôn ngữ chung của đức tin, làm chuẩn mực cho tất cả và kết hợp mọi người khi cùng tuyên xưng đức tin.

186.     Ngay từ đầu, Hội Thánh của các tông đồ đã diễn đạt và thông truyền đức tin của mình trong những công thức ngắn và chuẩn mực cho mọi người ( x. Rm 10,9; 1Cr 15,3-5; v.v.). Chỉ ít lâu sau, Hội Thánh cũng muốn thu thập những điểm cốt yếu của đức tin vào những bản tóm lược có hệ thống, phân chia thành điều khoản, chủ yếu dành cho những người chuẩn bị lãnh Bí tích Thánh Tẩy.

Bản tổng hợp đức tin này được soạn thảo không dựa theo ý kiến loài người, nhưng dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của toàn bộ Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn đức tin duy nhất. Như hạt giống mang mầm sống của cả một cây lớn, bản tóm lược đức tin ấy chứa đựng trong ít lời, toàn bộ tri thức về lòng đạo chân thật của Cựu Ước và Tân Ước( Giáo lý Th. Xy-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem. 5,12).

187.     Chúng ta gọi các bản tổng hợp đức tin ấy là bản "tuyên xưng đức tin", vì chúng tóm lược đức tin mà các Kitô hữu tuyên xưng; gọi là Kinh "Tin Kính" vì thường bắt đầu bằng câu "Tôi tin kính", có khi còn gọi là bản "tín biểu" nữa.

188.     " Tín biểu " là chữ tắt của "biểu tượng đức tin". Chúng ta dùng chữ "biểu, biểu tượng" được dịch từ "Symbolon" của tiếng Hi Lạp có nghĩa là phân nửa một vật được bẻ ra (chẳng hạn: đồng tiền bẻ đôi) mà người ta xuất trình như một dấu hiệu để nhận ra nhau."Tín biểu" là một dấu hiệu để các tín hữu nhận ra nhau, hiệp thông với nhau. "Symbolon" cũng có nghĩa là một sưu tập, hay là bản tóm lược. Do đó Tín biểu là sưu tập những chân lý chính yếu của đức tin và trở thành điểm qui chiếu thứ nhất và căn bản của huấn giáo.

189 1237, 232             Lời "tuyênxưng đức tin" đầu tiên được thực hiện khi nhận phép rửa tội. "Tín biểu" trước hết là tín biểu của Bí tích Thánh Tẩy. Vì Bí tích Thánh Tẩy được ban "nhân danh Chúa Cha, và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28,19) nên những chân lýcủa đức tin tuyên xưng trong phép rửa tội, được sắp xếp qui về Ba Ngôi Thiên Chúa.

190.     Do đó Tín biểu được chia làm ba phần : "Trước hết, nói về Thiên Chúa Ngôi Nhất và công trình sáng tạo kỳ diệu; kế đến Thiên Chúa Ngôi Hai và mầu nhiệm Cứu chuộc con người; sau hết Thiên Chúa Ngôi Ba, cội nguồn và nguyên lý thánh hóa chúng ta" ( Giáo lý Rô-ma 1,1,3.). Đó là "ba chương của ấn tín (rửatội)" ( Th. I-rê nê , Dem 100.).

191.     "Ba phần đó tuy khác biệt nhưng nối kết với nhau. Dựa theo các Giáo Phụ chúng ta gọi đó là các tín điều phải tin. Như thân thể con người gồm nhiều chi thể, bản tuyên xưng đức tin gồm những chân lý chúng ta phải tin từng điều một, được gọi là "tín điều". ( Sách Giáo lý Rô-ma 1,1,4.) Theo một truyền thống xưa, được thánh Am-rô-si-ô xác nhận, người ta quen liệt kê mười hai tín điều của kinh Tin Kính, dựa theo số mười hai tông đồ để tượng trưng cho toàn bộ đức tin tông truyền( x. kinh Tin Kính 8).

192.     Suốt chiều dài lịch sư<150), để đáp ứng những nhu cầu các thời đại khác nhau, chúng ta có nhiều bản tuyên xưng đức tin hay tín biểu : những bản tín biểu của các Giáo Hội thời các tông đồ và thời cổ (DS 1-64),bản tín biểu "Quicumque" còn gọi là của thánh A-ta-na-si-ô (DS 75-76), những bản tín biểu của một số Công đồng Tô-lê-đô (DS 525-541), La-tê-ra-nô (DS 800-802), Lyon (Ds 851-861), Tren-tô (DS 1862-1870)hay của một số Giáo Hoàng nhưbản Tuyên Xưng của Đức Giáo Hoàng Đa-ma-si-ô (DS 71-72), bản "Kinh Tin Kính Của Dân Thiên Chúa"(SPF) của Đức Phao-Lô VI (1968).

193.     Không một tín biểu nào xuất phát từ những giai đoạn khác nhau của đời sống Hội Thánh có thể<133) bị coi là lỗi thời và vô ích. Các bản này giúp chúng ta ngày nay thấu hiểu và đào sâu đức tin ngàn đời của Hội Thánh qua các bảntóm lược khác nhau ấy.

Trong tất cả các tín biểu, có hai bản chiếm một địa vị rất đặc biệt trong đời sống Hội Thánh :

194.     Kinh Tin Kính của các Tông đồ : gọi như thế, vì bản này được xem như bản tóm lược trung thành đức tin của các Tông đồ. Đây là "tín biểu" rất cổ, được Giáo Hội Rô-ma sử dụng trong Bí tích Thánh Tẩy. Hội Thánh coi trọng bản này, vì "đây là tín biểu được ba<150)o tồn trong Giáo Hội Rô-ma,nơi thánh Phê-rô, thủ lãnh các tông đồ, đãđặt tông tòa và đã đem lại sự nhất trí trong toàn Hội Thánh" ( Th Am-rô-xi-ô, kinh Tin Kính 7).

195 242, 245 465        Kinh Tin Kính Công đồng Nicê - Constantinônôpli được coi trọng vì phát xuất từ hai Công đồng đầu tiên (325 và 381). Cho đến nay, bản này vẫn còn là bản chung cho tất cả các Giáo Hội lớn của Phương Đông và Phương Tây.

196.     Sách Giáo Lý này trình bày đức tin theo Kinh Tin Kính của các tông đồ, vì kinh này được kể là "bản giáo lý Rô-ma cổ xưa nhất". Tuy nhiên, để bổ túc, chúng tôi sẽ luôn tham chiếu Kinh Tin Kính của công đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-no-po-li thường minh bạch và chi tiết hơn.

197 1064.        Như trong ngày lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, khi trọn cuộc sống của chúng ta được đưa vào "qui luật đạo lý" (Rm 6,17), chúng ta hãyđón nhận bản Kinh Tin Kính, để nhờ đó chúng ta được sống. Khiđọc kinh "Tin kính" với lòng tin, chúng ta được thông hiệp với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và cũng được thông hiệp với toàn thể Hội Thánh. Chính Hội Thánh truyền đạt đức tin cho chúng ta, và (chính trong lòng) Hội Thánh mà chúng ta tin.

1274.   Kinh Tin Kính này là dấu ấn tín thiêng liêng, là điều tâm niệm, là người canh giữ luôn luôn hiện diện; chắc chắn đó là kho tàng của linh hồn chúng ta ( Th. Am-rô-si-ô, kinh Tin Kính 1).

CHƯƠNG MỘT: TÔI TIN KÍNH THIÊN CHÚA  CHA

198.     Bản tuyên xưng đức tin của chúng ta bắt đầu bằng Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là "Đầu và là Cuối" (Is 44,6), Khởi nguyên và Cùng đích của hết mọi sự. Kinh Tin Kính bắt đầu với Thiên Chúa Cha, vì Chúa Cha là Ngôi Thứ Nhất trong Ba Ngôi Thiên Chúa; tín biểu bắt đầu bằng việc sáng tạo trời đất vì việc sáng tạo là khởi đầu và là nền tảng mọi công trình của Thiên Chúa.

Mục 1: “TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI
LÀ CHA PHÉP TẮC VÔ CÙNG DỰNG NÊN TRỜI ĐẤT”

TIẾT 1:  TÔI TIN KÍNH ĐỨC CHÚA TRỜI

199 2083.        "Tôi tin kính Đức Chúa Trời": lời khẳng định đầu tiên của bản tuyên xưng đức tin cũng là lời cănbản nhất. Trọn tín biểu đều nói về Thiên Chúa. Tất cả các tín điều trong Kinh Tin Kính đều tùy thuộc vào tín điều thứ nhất, cũng như các giới răn làm rõ ý giới răn thứ nhất. Những tín điều còn lại, giúp chúng ta hiểu biết Thiên Chúa hơn, như Người đã từng bước mặc khải cho con người. "Điều đầu tiên người tín hữu tuyên xưng là tin vào Thiên Chúa" ( Giáo lý Rô-ma 1,2,2.).

I- "TÔI TIN KÍNH MỘT THIÊN CHÚA "

200 2085.        Kinh Tin Kính của Công Đồng Ni-xê-a Con-tan-ti- nô-pô-li bắt đầu bằng những lời trên đây : Lờituyên xưng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất, bắt nguồn từ mặc khải của Thiên Chúa trong Cựu Ước, liên kết chặt chẽ với lời tuyên xưng về sự hiện hữu của Thiên Chúa, và có cùng một giá trị căn bản như vậy. Thiên Chúa là Đấng duy nhất : chỉ có một Thiên Chúa. "Đức tin Ki-tô giáo tuyên xưng chỉ có một Thiên Chúa, xét theo bản tính, bản thể và yếu tính" ( Ibid).

201 2083.        Thiên Chúa tự mặc khải là Đấng Duy Nhất cho dân It-ra-en, dân được tuyển chọn : "Nghe đây, hỡi It-ra-en! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em" (Đnl 6,4-5). Qua các ngôn sứ, Thiên Chúa kêu gọi Ít-ra-en và các dân nước quay về với Người là Đấng Duy Nhất : "Nào muôn dân khắp cõi địa cầu, hãy hướng về Ta, thì các ngươi sẽ được cứu độ vì Ta là Thiên Chúa, chẳng còn Thiên Chúa nào khác. Trước mặt Ta, mọi người sẽ quỳ gối, và tuyên xưng : Chỉ nơi Thiên Chúa mới có ơn phù trợ và cứu độ (Is 45,22-24) (x.Pl 2,10-11).

202 446 152.   Chính Đức Giê-su xác định Thiên Chúa là "Đức Chúa Duy Nhất," và phải yêu mến Người "hết lòng, hết linhhồn, hết tâm trí và hết sức lựcngươi" ( x.Mc 12,29-30). Đồng thời, Người cũng ngầm cho ta hiểu chính Người là "Đức Chúa" ( x.Mc 12,35-37). Tuyên xưng "Đức Giê-su là Đức Chúa" là đặc tính của đức tin Ki-tô giáo. Điều này không trái ngượcvới đức tin vào một Thiên Chúa Duy Nhất. Tin vào Chúa Thánh Thần là "Đức Chúa và là Đấng Ban Sự Sống" không đưa đến một sự phân chia nào nơi Thiên Chúa Duy Nhất:

42.       Chúng tôi tin vững vàng và khẳng định đơn giản chỉ có một Thiên Chúa chân thực, vô hạn và bất biến, vô phương thấu hiểu, toàn năng và khôn tả, là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần : ba ngôi vị, nhưngchỉ có một bản thể hay bản tính đơn thuần( Cđ La-tran IV: DS 800).

II- THIÊN CHÚA MẶC KHẢI DANH THÁNH NGƯỜI

203 2143.        Thiên Chúa tự mặc khải cho Ít-ra-en, dân Người, bằng cách mặc khải Danh Thánh Người. Trong Thánh Kinh, tên của một người diễn tả yếu tính, căn tính và ý nghĩa đời họ. Thiên Chúa không phải là một sức mạnh vô danh. Thiên Chúa có tên. Cho biết tên tức là cho người khác biết mình; là cởi mở để người ta dễ dàng đến với mình, liên hệ mật thiết hơn và gọi được tên nhau.

204 63.            Thiên Chúa đã từng bước mặc khải chính mình ra cho dân Người dưới nhiều danh thánh khác nhau. Tuy nhiên, việc mặc khải danh thánh cho Mô-sê trong cuộc thần hiện nơi bụi gai bốc lửa, trước cuộc Xuất Hành và Giao Ước tại Xi-nai, đã được nhận là mặc khải căn bản cho Cựu và Tân Ước.

Thiên Chúa hằng sống

205 2575 268.             Thiên Chúa gọi Mô-sê từ giữa bụi gai đang cháy nhưngkhông tàn lụi. Thiên Chúa nói với Mô-sê : "Ta là Thiên Chúa của cha ông ngươi, Thiên Chúa của Áp-ra-ham, Thiên Chúa của I-xa-ác, Thiên Chúa của Gia-cóp" (Xh 3,6). Thiên Chúa là Thiên Chúa của tổ tiên.Đấng kêu gọi và hướng dẫn các tổ phụ trong các cuộc hành trình của họ. Người là Thiên Chúa trung tín và giàu lòng thương cảm, luôn nhớ tới họ và các lời Người đã hứa; Người đến để giải thoát con cháu họ khỏi ách nô lệ. Người là vị Thiên Chúa có khả năng và muốn thực hiện ý định đó bất chấp không gian và thời gian; Người sẽ dùng quyền năng vô tận để thực hiện chương trình này.

"Ta là Đấng Hiện Hữu"

Mô-sê thưa với Thiên Chúa: "Bây giờ con đến gặp con cái Ít-ra-en và nói với họ: Thiên Chúa của cha ông anh em, sai tôiđến với anh em. Vậy nếu họ hỏi con: Tên Đấng ấy là gì ? thì con sẽ trả lời cho họ làm sao?"Thiên Chúanói với ông Mô-sê : "Ta là Đấng Ta là".Và Người bảo : "Ngươi nói với con cái Ít-ra-en thế này: "Đấng Ta là" sai tôi đến với anh em". Đó là danh Ta cho đến muôn thuở, đó là danh hiệu các ngươi sẽ dùng mà kêu cầu Ta từ đời nọ đến đời kia". (Xh 3,13-15).

206 43.            Khi mặc khải danh thánh huyền bí của Người, YHWH (Gia-vê), có nghĩa : "Ta là Đấng Hiện Hữu" hoặc "Ta là Đấng Tự Hữu" hoặc nữa "Ta là Ta", Thiên Chúa nói Người là ai và phải gọi tên Người như thế nào. Danh Thánh Thiên Chúahuyền bí cũng như Thiên Chúa là huyền nhiệm. Đó vừa là một mặc khải danh thánh, vừa là một khước từ danh xưng. Do đó, qua danh thánh này, chúng ta hiểu rõ về Thiên Chúa, Đấng nghìn trùng vượt trổi mọi khả năng hiểu biết và diễn tả của con người : Người là "Thiên Chúa ẩn mình" (Is 45,15); danh thánh Người khôn tả ( x.Thp 13,18); và Người là vị Thiên Chúa trở nên gần gũi với con người:

207.     Khi mặc khải danh thánh, Thiên Chúa đồng thời mặc khải lòng trung tín của Người từ muôn thuở và cho tới muôn đời, có giá trị trong quá khứ ("Ta là Thiên Chúa cha ông ngươi": Xh 3,6) cũng như trong tương lai ("Ta sẽ ở vớingươi": Xh 3,12). Thiên Chúa mặc khải danh thánh mình là "Đấng Hiện Hữu" thì cũng tự mặc khải mình như vị Thiên Chúa luôn hiện diện, có mặt bên cạnh để giải cứu dân mình.

208 724 448 388.        Trước sự hiện diện hấp dẫn và huyền bí của Thiên Chúa, con người nhận ra sự nhỏ bé của mình. Đứng trước bụi gai bốc cháy, Mô-sê cởi dép và che mặt ( x. Xh 3,5-6)khi đối diện với Thiên Chúa Chí Thánh. Đứng trước vinh quang của Thiên Chúa Chí Thánh, ngôn sứ I-sai-a thốt lên : "Khốn thân tôi, tôi chết mất, vì tôi là một người môi miệng ô uế" (Is 6,5). Trước những dấu thiêng Chúa Giê-su làm, Phê-rô thốt lên : "Lạy Thầy. xin tránh xa tôi, vì tôi là kẻ tội lỗi" (Lc 5,8). Nhưng bơ<150)i Thiên Chúa là Đấng Thánh, Người có thể tha thứ cho kẻ nhận biết mình tội lỗi trước mặt Ngườ i: "Ta không hành động theo cơn nóng giận vì Ta là Thiên Chúa, chứ không phải người phàm; ở giữangươi,Talà Đấng Thánh" (Hs 11,9).

Sau này Thánh Gio-an Tông đồ cũng nói : "Trước mặt Người, chúng ta sẽ an tâm, nếu lòng chúng ta có lên án chúng ta, vì Thiên Chúa còn cao cả hơn lòng chúng ta và Người biết hết mọi sự" (1Ga 3,19-20).

209 446.          Vì tôn kính Thiên Chúa Chí Thánh, dân Ít-ra-en không nêu danh thánh Người khi đọc Thánh Kinh; danh thánh mặc khảiđược thay thế bằng tước hiệu của Thiên Chúa : "Đức Chúa" (tiếng Hip-ri làAdonai; tiếng Hy lạp là Kyrios). Để tuyên xưng thiên tính của Đức Giêsu, các tín hữu cũng sử dụng tước hiệu đó : "ĐỨC GIÊ-SU là CHÚA".

"Thiên Chúa của tình yêu thương và từ bi"

210 2116, 2577.          Sau khi dân Ít-ra-en phạm tội, chối bỏ Thiên Chúa để thờ con bê bằng vàng ( x.Xh.32), Thiên Chúa nghe lời cầu khẩn của Mô-sê và chấp nhận đồng hành giữa đám dân bất trung, để tỏ lòng yêu thương của Người ( x.Xh 33,12-17). Khi Mô-sê xin được thấy vinh quang Thiên Chúa, Người trả lời : "Ta sẽ cho ngươi thấy Ta nhân từ như thế nào và Ta sẽ xưng danh thánh Gia-vê trước mặt ngươi"(Xh 33,18-19). Đức Chúa đi qua trước mặt Mô-sê và nói : "Gia-vê, Gia-vê, Thiên Chúa trìu mến và xót thương, chậm bất bình, giàu ân sủng và thành tín" (Xh 34,5-6). Bấy giờ, Mô-sê tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa thứ tha ( x.Xh 34,9).

211 604.          Danh thánh "Ta Hiện Hữu" hoặc "Đấng Hiện Hữu" diễn tả sự trung tín của Thiên Chúa, Đấng "vẫn giữ lòng nhân nghĩa với muôn ngàn" (Xh 34,7), cho dù con người có bất trung, tội lỗi đáng phải trừng phạt. Thiên ChúatỏchothấyNgười"giàulòngthương xót" (Eph 2,4)đến nỗi trao ban chính Con củaNgười. Khi hiến mạng sống mình để giải thoát chúngta khỏi tội lỗi, Đức Giê-su sẽ mặc khải cho thấy, chính Người mang danh thánh của Thiên Chúa : "Khi các ông đưa Con Người lên cao, bấy giờ các ông sẽ biết là "Ta Hiện Hữu""(Ga 8,28).

Chỉ mình Thiên Chúa là Đấng HIỆN HỮU

212 42 469,2086.        Trải qua các thời đại, đức tin của Ít-ra-en đã khai triển và đào sâu sự phong phú chứa đựng trong mặc khải danh thánh này. Thiên Chúa là duy nhất, ngoài Người ra không có thần nào hết. Người siêu vượt thế giới và lịch sử. ChínhNgười tạo dựng trời đất. "Chúng tiêu tan, Chúa còn hoài; chúng như áo cũ thay rồi mòn hao ... Nhưng chính Ngài tiền hậu y nguyên, tháng năm Ngài vẫn triền miên" (Tv 102, 27-28). Nơi Người, "không có thay đổi, không hề biến thái" (Gc 1,17). Người là "Đấng Hiện Hữu" từ muôn thuở đến muôn đời, và như vậy Người luôn trung tín với chính mình và với các lời Người hứa.

213 41.            Vì thế, măc khải danh thánh khôn tả "Ta là Đấng Hiện Hữu" chứa đựng chân lý : chỉ mình Thiên Chúa là Đấng HIỆN HỮU. Bản dịch Bảy Mươi và kế đó là truyền thống Hội Thánh đã hiểu danh thánh của Thiên Chúa theo nghĩa đó : Thiên Chúa là sự viên mãn của hiện hữu và của mọi sự trọn hảo, không khởi nguyên, không cùng tận. Trong khi các thụ tạo là gì, và có gì, đều phải lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa, thì duy chỉ mình Người là tự hữu và Người thế nào là do chính Người.

III- THIÊN CHÚA : "ĐẤNG HIỆN HỮU" LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ TÌNH THƯƠNG

214 1062.        Thiên Chúa, "Đấng Hiện Hữu", đã tự mặc khải cho Ít-ra-en như là Đấng "giàu ân sủng và thành tín"(Xh 34,6). Hai từ ngữ đó diễn tả một cách cô đọng những gì là phong phú của danh thánh. Trong mọi công trình của Người, Thiên Chúa biểu lộ lòng ưu ái, lòng nhân hậu,ân sửng và tình thương; Người cũng cho thấy mình là Đấng đáng tin, bền vững, trung tín, chân thật: "Xin cảm tạ danh Chúa, vì Ngài thành tín và yêu thương" (Tv138,2; Tv 85,11). Thánh Gio-an Tông Đồ dạy : Người là Sự Thật, vì "Thiên Chúa là Ánh Sáng, nơi Người không có một chút bóng tối nào"(1Ga 1,5); Người là "Tình Thương" (1Ga 4,8).

Thiên Chúa là Sự Thật

215 2465 1063,156 397.         "Nguyên lý lời Người là chân lý, mọi quyết định công minh của Người tồn tại muôn năm" (Tv 119, 160). "Lạy Chúa Thượng là Đức Chúa, chính Ngài là Thiên Chúa, những lời Ngài phán là chân lý" (2 Sm 7, 28); vì vậy những lời Thiên Chúa hứa luôn luôn được thực hiện( x.Dnl7,9). Thiên Chúa là chính Sự Thật, lời Người không phỉnh gạt. Vì vậy ta có thể hoàn toàn tintưởng vào sự chân thật và sự trungtín của lời Người trong mọi sự. Khởi đầu của tội lỗi và sự sa ngã của loài người là lời dối trá của tên cám dỗ làm cho con người nghi ngờ lời Thiên Chúa, cũng như lòng nhân hậu và lòng thành tín của Người.

216 295 32.     Sự thật của Thiên Chúa được biểu lộ qua việc Người khôn ngoan điều khiển toàn bộ trật tự sáng tạo và vận hành vũ tru( x.Kn 13,1-9). Một mình Thiên Chúa đã sáng tạo trời đất( x.Tv 115,15); duy chỉ mình Người mới ban cho chúng ta sự hiểu biết đích thực về mọi vật được tạo dựng trong tương quan với Người( x.Kn 7,17-21).

217 851 2466.             Thiên Chúa cũng là Đấng chân thật khi Người tựmặc khải: giáo huấn phát xuất từ Thiên Chúa là "một đạo lý chân thật" (Mlk 2, 6). Khi Người cử Con của Mình vào trần thế, chính là để làm chứng cho Sự Thật (Ga 18, 37). "Chúng ta biết rằng, Con Thiên Chúa đã đến bancho chúng ta trí khôn để nhận biết Thiên Chúa thật " (1Ga 5, 20) ( x.Ga 17,3).

Thiên Chúa là Tình Thương

218 295.          Trong dòng lịch sử của mình, Ít-ra-en đã khám phá ra Thiên Chúa chỉ có một lý do duy nhất khi tự mặc khải cho họ và đã chọn họ giữa tất cả các dân khác để thuộc về Người : đó là tình thương nhưng khôngcủa Người ( x. Dnl4,37; 7,8; 10,15). Và nhờ các ngôn sứ, Ít-ra-en cũng hiểu rằng, chính vì yêu thương mà Thiên Chúa đã không ngừng giải cứu ( x. Is 43,1-7) và tha thứ những bất trung và tội lỗi của họ ( x. Hs 2).

219 239 796 458.        Tình thương của Thiên Chúa dành cho Ít-ra-en được so sánh với tình thương của một người cha đối với con mình (Hs 11,1). Tình thương đó còn mạnh hơn tình thương của một người mẹ dành cho con cái ( x. Is 49,14-15). Thiên Chúa yêu dân người hơn cả một người chồng yêu người vợ quý ( x. Is 62,4-5). Tình yêu đó sẽ thắng vượt cả những bất trung tệ hại nhất ( x. Ed 16; Hs 11); và sẽ đưa đến hồng ân quý giá nhất : "Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi ban Con Một Người" (Ga 3,16).

220.     Tình thương của Thiên Chúa "vĩnh cửu" (Is 54,8) : "Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình thương của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi" (Is 54,10). "Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương" (Gr 31,3).

221 733 851 257.        Thánh Gio-an còn đi xa hơn nữa khi xác nhận : "Thiên Chúa là Tình Thương" (1Ga 4,8.16) : Bản thể của Người là tình thương. Khi cử Con Một Người và Thánh Thần Tình Yêu đến trần thế lúc thời gian đã viên mãn, Thiên Chúa mặc khải điều bí ẩn thâm sâu nhất của Người ( x. 1Cr 2,7-16; Eph 3,9-12): Chính Người là sự trao đổi tình yêu vĩnh cửu - Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần và Người đã tiền định cho ta được dự phần vào tình thương ấy.

IV- TẦM QUAN TRỌNG CỦA ĐỨC TIN VÀO THIÊN CHÚA DUY NHẤT

222.     Tin vào Thiên Chúa, Đấng duy nhất, và yêu mến Người với cả con người có những hệ quả rất lớn cho trọn cuộc sống của chúng ta :

223 400.          * Đó là nhận biết sự cao cả và uy linh của Thiên Chúa : "Phải, Thiên Chúa thật quá cao cả, Người vượt mọi thông hiểu của chúng ta" (G 36,26). Chính vì thế mà Thiên Chúa phải được "phụng thờ trên hết" ( Th. Giăn Đắc).

224 2637.        * Đó là sống trong niềm tạ ơn: nếu Thiên Chúa là Đấng duy nhất, thì chúng ta là gì, và có gì, đều do từ Người mà đến : "Bạn có gì mà đã không nhận lãnh?" (1Cr 4,7). "Lấy chi đền đáp Chúa, vì mọi ơn lành Người đã ban cho?" (Tv 116,12).

225 356, 360 1700, 1934.       * Đó là nhận biết được tính thống nhất và phẩm giá đích thực của mọi người : Mọi người đều được dựngnên " theo hình ảnh và giống Thiên Chúa" (St 1,26).

226 339, 2402 2415.   * Đó là biết sử dụng thích đáng những tạo vật : Vì tin vào Thiên Chúa duy nhất, chúng ta sử dụng mọi tạo vật trong mức độ chúng giúp chúng ta đến gần Chúa, và dứt bỏ khi chúng lôi kéo ta xa khỏi Chúa ( x. Mt 5,29-30; 16,24; 19,23-24).

Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin cất đi tất cả những gì làm con xa Chúa. Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin ban cho những gì đưa con đến gần Chúa. Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con, xin giải thoát con khỏi chínhmình con để tận hiến cho Chúa" ( Th. Ni-cô-la de Flue, Cầu nguyện).

227 313, 2090.            * Đó là phó thác cho Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, kể cả nghịch cảnh. Một bản kinh của Thánh Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su diễn tả ý đó một cách tuyệt vời.

2830 1723.      Đừng để điều gì làm cho bạn xao xuyến; Đừng để điều gì làm cho bạn lo sợ. Mọi sự đều qua đi, Thiên Chúa không thay đổi! Kiên nhẫn thì ta sẽ được mọi sự. Người có Chúa ở cùng thì không thiếu gì : Một mình Chúa là đủ cho ta(Poes. 30).

TÓM LƯỢC

228.     " Nghe đây hỡiÍt-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta,là Đức Chúa duy nhất( Đnl6,4; Mc 12, 29) "Đấng tối cao nhất thiết phải là duy nhất, nghĩa là không ai sánh bằng ... Nếu Thiên Chúa không duy nhất, thì Người không phải là Thiên Chúa" ( Tertullien, Marc 1,3).

229.     Đức tin vào Thiên Chúa dẫn đưa chúng ta hướng về mộtmình Người, như về nguồn gốc đầu tiên và về cùng đích tối hậu của chúng ta; nên không có gì quí trọng hơn Người hoặc thay thế được Người.

230.     Khi tự mặc khải, Thiên Chúa vẫn làmột mầu nhiệm khôn tả : "Nếu bạn hiểu được Người, Người không phải là Thiên Chúa nữa" (Th. Âu-tinh, bài giảng 52,6,16 ).

231.     Thiên Chúa mà chúng ta tin đã tự mặc khải như là Đấng Hiện Hữu; Người cho chúng ta biết Người là Đấng "giàuân sủng và thành tín" (Xh 34,6). Bản thể của Người là Sự Thật và Yêu Thương.

TIẾT 2:  CHÚA CHA

I. "NHÂN DANH CHÚA CHA VÀ CHÚA CON VÀ CHÚA THÁNH THẦN"

232 189, 1223.            Người Ki-tô hữu được rửa tội "nhân danhChúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (Mt 28,19). Trước khi lãnh nhận bí tích, họ phải trả lời 3 lần "Tôi tin" để đáp lại những câu thẩm vấn về đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. "Đức tin của mọi Kitô hữu đều dựa trên mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi" ( Th. Césaire d'Arles, Tuyên xưng đức tin).

233.     Người Ki-tô hữu được rửa tội "nhân danh một Thiên Chúa" là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, chứ không phải "nhân danh ba ngôi vị" riêng lẻ ( x. Tuyên xưng đức tin của Giáo hoàng Vigilô năm 552: DS 415). Vì chỉ có một Thiên Chúa là Cha toàn năng và Con duy nhất Người và Thánh Thần : Đó là Thiên Chúa Ba Ngôi Chí Thánh.

234 2157 90 1449.      Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống ki-tô hữu. Đây là mầu nhiệm về đời sống nội tại của Thiên Chúa, cội nguồn phát sinh mọi mầu nhiệm khác của đức tin và là ánh sáng chiếu soi các mầu nhiệm ấy. Đây là giáo huấn căn bản nhất và trọng yếu nhất theo "phẩm trật các chân lý đức tin" (DCG 43). "Trọn lịch sử cứu độ chỉ là lịch sử về đường lối và các phương tiện mà Thiên Chúa chân thật và duy nhất là Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dùng để tự mặc khải, để giao hòa và kết hợp với Người những ai từ bỏ tội lỗi" ( DCG 47).

235.     Tiết này trình bày cách ngắn gọn : (I) Thiên Chúa mặc khải mầu nhiệm Ba Ngôi; (II) Hội Thánh trình bày giáo huấn đức tin về mầu nhiệm đó; (III) Chúa Cha thực hiện "kế hoạch nhân hậu" của Người là tạo dựng, cứu chuộc và thánh hóa qua sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

236 1066 259. Các Giáo phụ phân biệt Theologia (Thần luận) với Oikonomia (Nhiệm Cục). Thuật ngữ thứ nhất chỉ mầu nhiệm đời sống nội tại nơi Thiên Chúa Ba Ngôi. Thuật ngữ thứ hai chỉ mọi công cuộc Thiên Chúa dùng để tự mặc khải và thông ban sự sống của Người. Nhờ Oikonomia mà chúng ta được biết Theologia, nhưng đối lại, Theologia soi sáng toàn thể Oikonomia. Các công trình của Thiên Chúa mặckhải cho ta biết Người, và đối lại, mầu nhiệm đời sống nội tại của Thiên Chúa giúp chúng ta hiểu các công trình của Người. Cũng thế, trong các tương quan nhân loại, con người biểu lộ mình qua hành động; càng biết một người, càng hiểu rõ hành động của họ hơn.

237 50.            Thiên Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm đức tin hiểu theo nghĩa chặt chẽ nhất, một trong những "mầu nhiệm đượcẩn giấu trong Thiên Chúa... không ai biết được nếu ơn trên không mặc khải" (SPF 16). Chắc chắn Thiên Chúa đã để lại dấu vết của bản thể Ba Ngôi trong công cuộc tạo dựng và trong dòng mặc khải Cựu Ước. Nhưng trước cuộc nhập thể của Con Thiên Chúa và sứ vụ của Chúa Thánh Thần, mầu nhiệm Ba Ngôi vẫn là một mầu nhiệm mà nguyên lý trí của loài người và ngay cả đức tin của Ít-ra-en xưa cũng không thể vươn tới được.

II-  SỰ MẶC KHẢI VỀ THIÊN CHÚA BA NGÔI

Chúa Cha được mặc khải bởi Chúa Con

238 2443.        Đã có nhiều tôn giáo biết kêu cầu Thượng Đế với tước hiệu "Cha". Thượng Đế thường được coi là "cha của các thần linh và của người phàm". Trong dân Ít-ra-en, Thiên Chúa được gọi là Cha vì là Đấng sáng tạo vũ trụ (x. Đnl 32,6; Ml 2,10 ). Hơn nữa Thiên Chúa còn là Cha vì đã giao ước và ban lề luật cho Ít-ra-en, "con đầu lòng của Người" (Xh 4,22). Người cũng được gọi là Cha của vua It-ra-en (x. 2 Sm 7,14). Đặc biệt hơn nữa, Người là "Cha của người nghèo", của cô nhi, quả phụ là những kẻ được Người thương yêu che chở (Tv 68,6).

239 370, 2779.            Khi gọi Thiên Chúa là "Cha", ngôn ngữ đức tin chủ yếu muốn nêu lên hai khía cạnh : Thiên Chúa là nguồn gốc đầu tiên của mọisự và là Đấng uy quyền siêu việt, đồng thời là Đấng nhân hậu yêu thương chăm sóc mọi con cái. Nơi Thiên Chúa, tình cha con trìu mến này cũng có thể diễn tả qua tình mẫu tử (x. Is 66,13; Tv. 131,2) . Hình ảnh nàylàm rõ nét hơn tính nội tại của Thiên Chúa, mối thâm tình giữa Thiên Chúa và thụ tạo. Như vậy, ngôn ngữ đức tin được hình thành từ kinh nghiệm về cha mẹ trần thế, những người dưới một khía cạnh nào đó, là đại diện đầu tiên của Thiên Chúa nơi con người. Nhưng kinh nghiệm đó cũng cho thấy là cha mẹ trần thế có thể sai lệch và bóp méo hình ảnh làm cha làm mẹ. Cho nên, cần phải nhắc lại là Thiên Chúa vượt trên sự phân biệt phái tính củangười phàm. Người không là nam mà cũng không là nữ. Người là Thiên Chúa. Vì Người là nguồn gốc và là chuẩn mực (x. Tv 68,6 ) cho chức năng làm cha làm mẹ, nên Người luôn trổi vượt trên cha mẹ trần thế : khôngai là cha một cách trọn hảo như Thiên Chúa.

240 2780 441 – 445.   Đức Giê-su đã mặc khải cho ta biết Thiên Chúa là "Cha" theo một nghĩa chưa từng có : Người không chỉ là Cha vì là Tạo Hóa, từ muôn thuở Người là Cha trong tương quan với Con duy nhất, Ngôi Con từ muôn thuở cũng chỉ là Con trong tương quan với Ngôi Cha : "Không ai biết Người Con trừ Chúa Cha, cũng như không ai biết Chúa Cha trừ Người Con và kẻ mà Người Con muốn mặc khải cho" (Mt 11,27).

241.     Vì vậy các tông đồ tuyên xưng Đức Giê-su là "Ngôi Lời vẫn có từ lúc khởi đầu bên Thiên Chúa và là Thiên Chúa" (Ga 1,1),là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình (Cl 1,15), là "phản ánh vẻ huy hoàng, là hình ảnh của bản thể Thiên Chúa" (Dt 1,3).

242 465.          Tiếp đó, theo truyền thống các tông đồ để lại, năm 325 tại Công Đồng chung thứ nhất Ni-xê-a, Hội Thánh tuyên xưng Chúa Con "đồng bản thể" với Chúa Cha, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất cùng với Người. Công Đồng chung thứ hai Con-tan-ti-nô-pô-li năm 381, vẫngiữ lại thuật ngữđó, được đề ra trong bản kinh Tin Kính của Ni-xê-a và đã tuyên xưng : Con Một Thiên Chúa sinh bởi Chúa Cha từ trước muôn đời, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải được tạo thành, đồng bản thể với Chúa Cha"(DS 150).

Chúa Cha và Chúa Con được mặc khải bởi Thánh Thần

243 683 2780 687.      Trước lễ Vượt Qua, Đức Giê-su báo tin sẽ cử một Đấng Bào Chữa khác (Đấng Bảo Vệ), đó là Chúa Thánh Thần. Người tác động từ thuở khai thiên lập địa (x. St 1,2); Người đã dùng "các ngôn sứ mà phán dạy" (Kinh Tin Kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li). Nay người sẽ ở với và trong các môn đệ (x.Ga 14,17) để dạy bảo (Ga 14,26)vàdẫnđưa họ đến "sựthậttrọnvẹn" (Ga 16,13). Chúa Thánh Thần được mặc khải như một ngôi vị Thiên Chúa, khác với Đức Giê-su và với Chúa Cha.

244 732.          Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần được mặc khải trong sứ mạng trần thế của Người. Thánh Thần được cử đến với các tông đồ và Hội Thánh, vừa do Chúa Cha nhân danh Chúa Con, và cũng do chính Chúa Con, một khi Người trở về bên Chúa Cha ( x.Ga 14,26; 15,26; 16,14). Việc cử Chúa Thánh Thần đến sau khi Đức Giêsu được tôn vinh ( x.Ga7,39), mặc khải một cách viên mãn mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi chí thánh.

245 152 685.   Đức tin tông truyền về Chúa Thánh Thần đã được tuyên xưng tại Công Đồng chung Con-tan-ti-nô-pô-li năm 381 : "Chúng tôi tin kính Chúa Thánh Thần, Người là Chúa, và là Đấng ban sự sống; Người phát xuất từ Chúa Cha" (DS 150). Qua đó, Hội Thánh nhìn nhận Chúa Cha là "nguồn gốc và khởi thủy của tất cả thiên tính" (Cđ. Tô-lê-đô VI - 638: DS 490). Nguồn gốc vĩnh cửu của Chúa Thánh Thần và của Chúa Con không phải là không có liên hệ với nhau: "Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba, là Thiên Chúa, là một và đồng hàng với Chúa Cha và Chúa Con, cùng bản thể và cũng cùng bản tính... Tuy nhiên, Người không chỉ là Thần Khí của Chúa Cha mà thôi nhưng là Thần Khí cùng lúc của Chúa Cha và Chúa Con" ( Cđ. Tô-lê-đô năm 675: DS 527). Bản Kinh Tin Kính Công Đồng Con-tan-ti-no-po-li tuyên xưng : "Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con" (DS 150).

246.     Kinh Tin Kính theo truyền thống La tinh tuyên xưng rằng Chúa Thánh Thần"phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con (Filioque)". Công Đồng Flô-ren-xê năm 1438 nêu rõ : "Chúa Thánh Thần lãnh nhận bản tính và hữu thể vừa từ Chúa Cha, vừa từ Chúa Con. Đời đời Người phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con như từ cùng một nguyên lý và từ một nhiệm suy duy nhất... Và bởi vì tất cả những gì có nơi Chúa Cha, thì chính Chúa Cha đã ban cho Con Một khi sinh ra Con, trừ hữu thể là Cha. Ngay cả việc Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Con, thì Chúa Con cũnglãnh nhận nơi Chúa Cha từ đời đời, vì từ muôn thuở Chúa Cha đã sinh ra Chúa Con" (DS 1300-1301).

247.     Lời khẳng định "và Chúa Con" (Filioque) không có trong kinh Tin Kính năm 381 tại công đồng Con-tan-ti-no-pô-li, nhưng dựa theo một truyền thống cổ xưa của trường phái La tinh và A-le-xan-ri-a, Thánh Lê-ô I Giáo Hoàng đã tuyên xưng điều này như một tín điều vào năm 447 (DS 284). Trước khi Rô-ma biết kinh Tin Kính của năm 381 và đón nhận kinh này vào năm 451 tại công đồng Can-xê-dô-ni-a. Tuy nhiên, việc sử dụng công thức này (Filioque) trong kinh Tin Kính được chấp nhận dần dần trong phụng vụ La tinh từ thế kỷ VIII đến thế kỷ XI. Tuy nhiên, việc phụng vụ La Tinh đưa công thức Filioque vào trong Kinh Tin Kính của Công Đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li còn là mối tranh cãi cho đến ngày nay với các Giáo Hội Chính Thống.

248.     Truyền thống Đông Phương muốn nhấn mạnh Chúa Cha là nguồn gốc tiên khởi của Chúa Thánh Thần. Khi tuyên xưng Chúa Thánh Thần "phát xuất từ Chúa Cha" (Ga 15,26), Đông Phương xác định Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha qua Chúa Con (x. AG 2). Truyền thống Tây Phương muốn nhấn mạnh sự hiệp thông đồng bản thể giữa Chúa Cha và Chúa Con khi nói rằng Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con (filioque). Tây Phương nói như vậy là "chính đáng và hợp lý"(Cđ Flô-ren-sô năm 1439 : DS 1302). Vì theo trật tự vĩnh cữu giữa các Ngôi vị Thiên Chúa trong sự hiệp thông đồng bản thể, Chúa Cha là nguồn gốc tiên khởi tức là "nguyên lýkhông nguyên lý" của Chúa Thánh Thần (DS 1331) và đồng thời Người là Cha sinh ra Con duy nhất; nên Chúa Cha và Chúa Con là "nguyên lý duy nhất xuất phát Chúa Thánh Thần" ( Cđ Lyon II năm1274 : DS 850). Hai truyền thống đều chính đáng và bổ sung cho nhau. Nếu chúng ta đừng quá nhấn mạnh về một phía nào, thì cả hai cùng tin như nhau về thực tại mầu nhiệm được tuyên xưng.

III.THIÊN CHÚA BA NGÔI TRONG GIÁO LÝ ĐỨC TIN

Sự hình thành tín điều  Ba Ngôi

249 683 189.   Chân lý mặc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi, ngay từ buổi sơ khai, là nền tảng nguyên thủy của đức tin sống động của Hội Thánh, chủ yếu là qua bí tích Thánh Tẩy. Chân lý đó đã được diễn tả trong lời tuyên xưng đức tin khi rửa tội, được trình bày trong các giảng thuyết, trong huấn giáo và trong kinh nguyện của Hội Thánh. Người ta gặp những công thức như vậy trong các văn thư tông đồ, chẳng hạn lời chào được phụng vụ Thánh Thể lấy lại: "Nguyện xin ân sủng Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em" (2Cr 13,13) ( x.1Cr 12,4-6; Eph 4,4-6).

250 94.            Trong những thế kỷ đầu, Hội Thánh đã cố gắng trình bày minh bạch hơn đức tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, vừa để đào sâu sự hiểu biết của chính mình về đức tin, vừa để bảo vệ đức tin khỏi những lệch lạc. Đó là công trình của các công đồng xưa, qua sự đóng góp của các giáo phụ về thần học và dựa trên cảm thức đức tin của dân Thánh.

251 170.          Để trình bày tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi, Hội Thánh triển khai một hệ thống từ ngữ riêng, dựa vào những khái niệm bắtnguồn từ triết học như: "bản thể", "ngôi vị", hoặc "bản vị", "tương quan" v.v...Vì Hội Thánh không muốn đức tin lệ thuộc vào một sự khôn ngoan trần thế nào, nên đãcho các từ ngữ nầy một ý nghĩa mới để chúng có khả năng diễn đạt mầu nhiệm khôn tả, "vượt xa khôn cùng tất cả những gì chúng ta có thể mường tượng được với khả năng của người phàm"( SPF 2).

252.     Hội Thánh sử dụng thuật ngữ"bản thể" (hay thuật ngữ "yếu tính" hoặc "bản tính") để chỉ hữu thể đơn nhất của Thiên Chúa; thuật ngữ "ngôi vị" hoặc " bản vị" để chỉ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong sự phân biệt thật sự giữa Ba Ngôi; thuật ngữ"tương quan" để chỉ sự khác biệt giữa Ba Ngôi trong mối liên hệ nội tại.

Tín điều Thiên Chúa Ba Ngôi

253 2789 590.   Ba Ngôi là Một. Chúng ta không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi : "Ba Ngôi đồng bản thể" ( Cđ Con-tan-ti-nô-pô-li II năm 553; DS 421). Các ngôi vị Thiên Chúa không chia nhau một thiên tính duy nhất , nhưng mỗi ngôi vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn : Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là gì thì Chúa Chalà thế ấy, và Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính. Mỗi ngôi vị là thực tại đó, nghĩa là bản thể, yếu tính, bản tính đó".

254 468, 689Các Ngôi vị Thiên Chúa thực sự phân biệt với nhau. "Thiên Chúa duy nhất nhưng không đơn độc" ( Fides Damasi :DS71). "Chúa Cha", "Chúa Con", "Chúa Thánh Thần" không đơn thuần là những danh từ chỉ cách thức hiện hữu của hữu thể Thiên Chúa vì Ba Ngôi thực sự phân biệt với nhau : "Chúa Con không phải là Chúa Cha, và Chúa Cha không phải là Chúa Con, và Chúa Thánh Thần không phải là Chúa Cha hoặc Chúa Con" ( Cđ Tô-lê-đô XI năm 675: DS 530). Ba Ngôi phân biệt nhau do các mối tương quan về nguồn gốc : "Chúa Cha là Đấng sinh ra, Chúa Con là Đấng được Chúa Cha sinh ra, Chúa Thánh Thần là Đấng phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con" ( Cđ. La-tran IVnăm 1215: DS 804). "Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi".

255 240.          Các Ngôi vị Thiên Chúa có liên hệ với nhau. Sự phân biệt đích thực giữa các Ngôi Vị hệ tại những mối tương quan nên không làm mất đi tính duy nhất của Thiên Chúa. "Các danh xưng nói lên mối tương quan giữa các Ngôi vị : Chúa Chaqui về Chúa Con, Chúa Con qui về Chúa Cha, và Chúa Thánh Thần qui về hai Ngôi trên; dù có nói tới ba ngôi vị khi chú trọng đến các tương quan, chúng ta vẫn tin Thiên Chúa có một bản tính hoặc một bản thể duynhất ( Cđ Tô-lê-đô XI năm 675: DS 528). Quả thật "mọi sự đều là một (nơi Ba Ngôi) vì không thể có sự đối nghịch trong tương quan" ( Cđ Flô-ren-sô năm 1442: DS 1330). "Vì sự đơn nhất đó, Chúa Cha hoàn toàn ở trong Chúa Con, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Con hoàn toàn ở trong Chúa Cha, hoàn toàn ở trong Chúa Thánh Thần; Chúa Thánh Thần ở hoàn toàn trong Chúa Cha, hoàn toàn trong Chúa Con" ( Cđ Flô-ren-sô 1442: DS 1331).

256 236, 684.  Thánh Grê-gô-ri-ô thành Nazianze, được người đời xưng tụng là " nhà thần học", trao cho những dự tòng tại Con-tan-ti-nô-pô-li bản tóm lược đức tin về Ba Ngôi như sau :

84.       Xin giữ cho tôi kho tàng quý báu này, mà vì nó tôi sống và chiến đấu, và còn muốn đem theo khi chết, nhờ nó tôi chấp nhận tất cả mọi gian khổ và khinh chê mọi lạc thú: tôi muốn nói đến bản tuyên xưng đức tin vào Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Hôm nay tôi trao gửi anh chị em. Với lời tuyên xưng này, lát nữa, tôi sẽ dìm anh chị em xuống nước rồi nâng anh chị em lên. Tôi trao cho anh chị em bản tuyên xưng đó làm người bạn đường, người bảo trợ anh chị em suốt đời. Tôi trao cho anh chị em một Thiên Chúa duy nhất và quyền năng Một Thiên Chúa trong Ba Ngôi Vị, phân biệt nhau. Một thiên tính không có dị biệt trong bản thể hoặc bản tính, không cấp bậc hơn kém. Cả Ba Ngôi Vị vô tận, cùng chungmột bản tính vô tận. Mỗi Ngôi vị tự thân là Thiên Chúa trọn vẹn... Cả Ba Ngôi kết hợp cũng là Thiên Chúa... Tôi chưa bắt đầu suy tưởng đến Thiên Chúa duy nhất, thì hào quang của Ba Ngôi Thiên Chúa tràn ngập thân tôi. Tôi chưa bắt đầu suy tưởng đến Ba Ngôi, thì Thiên Chúa duy nhất làm tôi sững sờ...(Or. 40,41).

IV. CÔNG TRÌNH CỦA THIÊN CHÚA VÀ SỨ MẠNG CỦA BA NGÔI

257 221 758 292 850. "Ôi Ba Ngôi ánh sáng diễm phúc. Ôi Đấng duy nhất nguyên thủy!" ( Thánh Thi Kinh chiều lễ Ba Ngôi). Thiên Chúa là hạnh phúc trường cửu, sự sống bất diệt, ánh sáng không tàn lụi. Thiên Chúa là tình thương : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa tự ý muốn thông chia vinh quang sự sống hạnh phúc của Người. Đó là "kế hoạch yêu thương" (Ep 1,9) mà Người đã cưu mang từ trước khi tạo dựng vũ trụ trong Con yêu dấu của Người,"Người đã tiền định cho ta làmnghĩa tử trong Con của Người" (Ep 1,4-5), nghĩa là "nên đồng hình đồng dạngvới Con của Người" (Rm 8,29) nhờ "Thần trí làm nên nghĩa tử"(Rm 8,15). Kế hoạch này là một "ân sủng được trao ban từ muôn thuở"(2Tm 1, 9-10) xuất phát trực tiếp từ tình thương Ba Ngôi. Tình thương này được trải ra trong công cuộc sáng tạo, trong toàn bộ lịch sử cứu độ sau khi nguyên tổ sa ngã, trong sứ mạng của Chúa Con và Chúa Thánh Thần mà sứ mạng Hội Thánh tiếp nối (AG 2-9).

258 686.          Toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa là công trình chung của Ba Ngôi Thiên Chúa. Vì, cũng như Ba Ngôi chỉ cómột bản tính, Ba Ngôi cũng chỉ có cùng một hoạt động (x.Cđ Constantinople II năm 553: DS 421). "Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần không phải là ba nguyên lý của thụ tạo mà là một nguyên lý duy nhất" (x.Cđ Florence năm 1442:DS 1331). Nhưng mỗi Ngôi Vị thực hiện công trình chung theo đặc tính riêng. Cho nên, dựa vào Tân Ứơc (x.1Cr 8,6), Hội Thánh tuyên xưng "Một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành mọi sự, một Chúa Giê-su Ki-tô, cùng đích của mọi sự, và một Chúa Thánh Thần, trong Người muôn vật được hiện hữu" (x.Cđ. Constantinople II :DS 421). Đặc biệt các sứ mạng của Thiên Chúa nơi mầu nhiệm nhập thể của Chúa Con và trong việc trao ban Chúa Thánh Thần, tỏ lộ nét đặc thù của từng Ngôi Vị .

259 236.          Vừa là công trình chung, vừa là công trình của mỗi ngôi vị, nên toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa vừa cho thấy đặc tính của từng ngôi vị vừa cho thấy bản tính duy nhất của Ba Ngôi. Vì thế, người Ki-tô hữu có hiệp thông với một Ngôi Vị, thì cũng không mảy may tách rời Ba Ngôi. Ai tôn vinh Chúa Cha, thì tôn vinh nhờ Chúa Con trong Chúa Thánh Thần; ai bước theo Chúa Ki-tô là do Chúa Cha lôi kéo (x.Ga 6,44) và Chúa Thánh thần thúc đẩy (Rm 8,14)

260 1050,1721 1997.  Cùng đích của toàn bộ nhiệm cục của Thiên Chúa là đưa các thụ tạo vào sự kết hợp trọn vẹn với Ba Ngôi diễm phúc (Ga 17,21-23). Nhưng ngay từ bây giờ, chúng ta được mời gọi trở nên nơi cư ngụ của Ba Ngôi Chí Thánh : "Chúa nói : ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, Cha Thầy và Thầy sẽ đến và ở nơi người ấy" (Ga 14,23) :

2565.   Ôi Thiên Chúa của con, con thờ lạy Ba Ngôi, xin giúp con quên hẳn mình đi để ở trong Chúa, bất động và bình an như thể hồn con đang sống trong vĩnh hằng; xin đừng để điều gì quấy phá sự bình an của con, và làm con phải ra khỏi Chúa, ôi Đấng Bất Biến của con, nhưng xin cho mỗi phút đem con vào sâu hơn trong mầu nhiệm của Chúa ! Xin cho tâm hồn con được bình an và trở thành thiên đường của Chúa, nơi cư ngụ Chúa yêu thích, nơi Chúa nghỉ ngơi. Xin cho con đừng bao giờ để Chúa một mình, nhưng luôn có mặt , trọn vẹn, tỉnh thức trong đức tin, hết lòng thờ kính, hiến dâng trọn vẹn để Chúa tác tạo (lời nguyện của chân phúc Ê-li-sa-beth Ba Ngôi).

TÓM LƯỢC

261.     Mầu nhiệm Ba Ngôi Chí Thánh là mầu nhiệm trọng tâm của đức tin và đời sống Ki-tô hữu. Chỉ một mình Thiên Chúa mới cho ta biết được mầu nhiệm ấy khi tự mặc khải là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

262.     Việc nhập thể của Con Thiên Chúa mặc khải rằng Thiên Chúa là Cha từ muôn thuở, và Chúa Con đồng bản thể với Chúa Cha, nghĩa là Chúa Con ở trong Chúa Cha và cùng với Chúa Cha là Thiên Chúa duy nhất.

263.     Sứ mạng của Chúa Thánh thần, Đấng Chúa Cha cử đến nhân danh Chúa Con ( x. Ga 14,26) và được Chúa Con gửi đến "từ nơi Chúa Cha" (Ga 15,26) mặc khải rằng Chúa Thánh Thần cùng với Chúa Cha và Chúa Con là một Thiên Chúa duy nhất. "Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Chúa Cha và Chúa Con".

264.     "Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha như nguồn mạch đầu tiên, và bởi Chúa Cha hằng ban tặng mình cho Chúa Con, nên Chúa Thánh Thần cũng phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con" ( T. Âu-tinh, tự thuật 15,26,47).

265.     Nhờ ân sủng Bí tích Thanh Tẩy "nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần", chúng ta được mời gọi chia sẻ sự sống của Ba Ngôi Diễm Phúc, ở trần thế này trong bóng tối của đức tin và sau khi chết trong ánh sáng vĩnh cửu (x.SPF 9).

266.     "Đức tin công giáo hệ tại điều này : thờ kính Một Chúa Ba Ngôi và Ba Ngôi Một Chúa mà không lẫn lộn giữa các Ngôi Vị, không chia cắt bản thể : vì Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần khác biệt nhau; nhưng Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần có cùng một thiên tính, một vinh quang, một uy quyền vĩnh cửu" ( Symbolum "Quicumque").

267.     Vì không tách rời trong hữu thể, các Ngôi Vị không tách rời trong hành động. Nhưng trong hành động duy nhất của Thiên Chúa, mỗi Ngôi Vị biểu lộ đặc tính riêng của mình trong Ba Ngôi, đặc biệt trong sứ mạng Nhập Thể của Chúa Con và việc tặng ban Chúa Thánh Thần.

TIẾT 3:  ĐẤNG TOÀN NĂNG

268 222.          Trong tất cả những thuộc tính của Thiên Chúa, chỉ có tính toàn năng là được nói đến trong Kinh Tin Kính. Việc tuyên xưng này có tầm quan trọng lớn lao đối với đời sống của chúng ta. Chúng ta tin rằng: Thiên Chúa toàn năng là Đấng có uy quyền trên vạn vật, vì Người đã sáng tạo (x. Ga 1,1; Ga 1,3), điều khiển và làm được mọi sự; Thiên Chúa toàn năng là Đấng yêu thương, vì Người là Cha chúng ta; Thiên Chúa toàn năng còn là Đấng huyền nhiệm vì chỉ nhờ đức tin chúng ta mới nhận ra sự toàn năng của Thiên Chúa khi quyền lực Người "bộc lộ trong sự yếu đuối"(2Cr 12,9) ( x. 1Cr 1,18).

"Người làm tất cả những gì Người muốn" (Tv 115,3)

269 303.          Thánh Kinh tuyên xưng nhiều lần Thiên Chúa có uy quyền trên vạn vật. Người được gọi là "Đấng Quyền Năng của Gia-cóp"(St 49, 24; Is 1, 24 tt). "Chúa các đạo binh", "Đấng Mạnh Mẽ, Đấng Oai Hùng" (Tv 24,8-10). Thiên Chúa toàn năng "trên trời và dưới đất" (Tv 135,6), vì Người đã tác tạo nên chúng. Không có gì mà Người không làm được ( x. Gr 32,17; Lc 1,37); Người sắp đặt công trình theo ý Người ( x. Gr 27,5; ); Người là Chúa cả vũ trụ, đã thiết lập trật tự cho nó, và trật tự đó luôn luôn quy phục Người. Người làm Chủ lịch sử : hướng dẫn các tâm hồn và các biến cố theo ý Ngưòi ( x. Et 4,17b; Cn 21,1; Tb 13,2). "Quyền năng lớn lao của Ngài luôn phụng sự Ngài, và ai có thể chống lại sức mạnh cánh tay Ngài?" (Kn 11,21).

"Ngài thương xót mọi người, vì Ngài làm được mọi sự"(Kn 11,23)

270 2777 1441.           Thiên Chúa là Cha toàn năng. Chức năng làm Cha và quyền năng của Người soi sáng cho nhau. Quả thế, Người biểu dương sự toàn năng của Người Cha qua cung cách Người chăm lo cho những nhu cầu của chúng ta ( x. Mt 6,32), khi nhận chúng ta làm nghĩa tử ("Ta sẽ là Cha các ngươi, và các người sẽ là con trai con gái Ta, Chúa toàn năng phán như vậy" ( x.2Cr 6,18)); sau hết khi tỏ lòng khoan dung vô tận, vì Người biểu dương quyền năng tới tột đỉnh qua việc Người rộng lòng thứ tha mọi tội lỗi.

271.     Thiên Chúa toàn năng không hề độc đoán : "Nơi Thiên Chúa, quyền năng và yếu tính, ý chí và trí tuệ, khôn ngoan và công bình là một, cho nên không có gì trong quyền năng của Thiên Chúa mà không nằm trong ý muốn chí công hay trong trí tuệ khôn ngoan của Người" ( Th.Tô-ma Aq., s.th.125,5, ad 1).

Huyền nhiệm về vẻ bất lực của Thiên Chúa

272 309 412 609 648. Đức tin vào Thiên Chúa Cha toàn năng có thể bị thử thách do kinh nghiệm về sự dữ và đau khổ. Đôi khi Thiên Chúa như vắng mặt và không ngăn chặn được sự dữ. Nhưng Chúa Cha đã mặc khải sự toàn năng của Người một cách thật huyền nhiệm khi Con của Người tự hạ và sống lại, nhờ đó Người thắng sự dữ . Như vậy, Đức Ki-tô bị đóng đinh là "quyền năng và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Vì cái điên rồ của Thiên Chúa còn hơn cái khôn ngoan của loài người, và cái yếu đuối của Thiên Chúa còn hơn cái mạnh mẽ của loài người" (1Cr 1, 24-25). Chính khi Đức Ki-tô sống lại và được tôn vinh, Chúa Cha "biểu dương sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực" và cho thấy "quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là các tín hữu" (Ep 1, 19-22).

273 148.          Chỉ nhờ đức tin, chúng ta mới có thể nhập cuộc vào đường lối mầu nhiệm của Thiên Chúa toàn năng. Đức tin này tự hào về những yếu kém của mình, để thu hút quyền năng của Đức Ki-tô ( x. 2 Cr 12,9; Pl 4,13). Đức Trinh Nữ Ma-ri-a là khuôn mẫu tột đỉnh của đức tin ấy, vì Mẹ đã tin rằng "không có gì mà Thiên Chúa không làm được"(Lc 1,37) và ca ngợi Chúa : "Đấng Toàn năng đã làm cho tôi những việc kỳ diệu, Danh Người là Thánh" (Lc 1,49).

274 1814,1817.           "Không có gì làm cho chúng ta tin tưởng và hy vọng vững mạnh cho bằng xác tín : không có gì mà Thiên Chúa không làm được. Khi lý trí đón nhận tín điều Thiên Chúa là Cha Toàn Năng ở đầu kinh Tin Kính thì chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận không chút do dự tất cả những tín điều tiếp theo saulà những điều trọng đại nhất, khó hiểu nhất, cũng như những sự cao siêu nhất vượt trên tất cả những qui luật thông thường của thiên nhiên" ( Giáo lý Rô-ma 1,2,13).

TÓM LƯỢC

275.     Cùng với ông Gióp, người công chính, chúng ta tuyên xưng : "Tôi biết Ngài uy quyền vạn năng : Ngài có thể thực hiện được những gì Ngài dự tính" (G 42,2).

276.     Trung thành với chứng từ của Thánh Kinh, Hội Thánh thường xuyên dâng lời cầu nguyện lên cùng "Thiên Chúa Toàn Năng và Vĩnh Cửu", vững tin rằng : "đối với Thiên Chúa, không có gì là không làm được" (St 18,14; Lc 1,37; Mt 19,26).

277.     Thiên Chúa biểu dương sự Toàn Năng của Người khi giúp ta bỏ đàng tội lỗi và nhờ ân sủng tái lập ta trong tình thân với Người : "Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và thứ tha, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả" ( Lời nguyện nhập Lễ CN 26 QN).

278.     Nếu không tin Thiên Chúa yêu thương là Đấng Toàn năng, thì làm sao có thể tin được là Chúa Cha sáng tạo chúng ta, Chúa Con cứu chuộc chúng ta, Chúa Thánh Thần thánh hoá chúng ta ?

TIẾT 4:   ĐẤNG TẠO THÀNH

279.     Kinh Thánh được mở đầu bằng lời long trọng : "Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời và đất"(St 1,1). Kinh Tin Kính lấy lại những lời đó khi tuyên xưng Thiên Chúa là Cha toàn năng," Đấng tạo thành trời và đất", "muôn vật hữu hình và vô hình". Vậy trước hết, chúng ta nói về Đấng Sáng Tạo, kế đến về công trình tạo dựng của Người, sau hết về việc con người sa ngã phạm tội được Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa đến nâng dậy.

280 288 1043. Sáng tạo là nền móng "của mọi ý định cứu độ của Thiên Chúa", "khởi đầu của lịch sử cứu độ" (DCG 51) mà Chúa Ki-tô là tuyệt đỉnh. Ngược lại, mầu nhiệm Chúa Ki-tô làm sáng tỏ mầu nhiệm sáng tạo, mặc khải cùng đích mà Thiên Chúa nhắm đến "lúc khởi đầu tạo thành trời và đất" (St 1,1) : ngay từ buổi đầu, Thiên Chúa đã nhắm tới vinh quang của sáng tạo mới trong Đức Ki-tô
( x.Rm 8,18-23)

281 1095.        Vì vậy, các bài Sách Thánh trong đêm Phục Sinh, đêm mừng cuộc sáng tạo mới trong Đức Ki-tô, bắt đầu bằng bài tường thuật về cuộc sáng tạo. Trong phụng vụ Byzance bài này luôn luôn là bài đọc thứ nhất trong buổi vọng các đại lễ kính Chúa. Theo các chứng từ cổ xưa, huấn giáo dự tòng về Thánh Tẩy cũng theo tiến trình về sáng tạo thứ nhất đến sáng tạo mới ( x. Ethérie, pereg.46; T.Âu- tinh, giáo lý 3,5).

I- HUẤN GIÁO VỀ SÁNG TẠO

282 1730.        Huấn giáo về sáng tạo có một tầm quan trọng cơ bản, liên quan đến chính nền tảng của đời sống nhân bản và đời sống Ki-tô hữu, vì nêu rõ câu trả lời của đức tin Ki-tô giáo cho câu hỏi căn bản mà con người của mọi thời đại thường đặt ra cho mình:"Chúng ta từ đâu tới?" "Chúng ta đi đâu?" "Nguồn gốc của chúng ta là gì?" "Cùng đích của chúng ta là gì ?" "Mọi vật hiện hữu từ đâu tới và đi về đâu?". Hai câu hỏi về nguồn gốc và cùng đích không tách rời nhau, chúng có tính cách quyết định đối với ý nghĩa và định hướng cho cuộc sống và hành động của chúng ta.

283 159 341.   Câu hỏi về nguồn gốc thế giới và con người là đối tuợng của rất nhiều cuộc nghiên cứu khoa học, nhờ đó,chúng ta hiểu biết sâu rộng về độ tuổi và các chiều kích của vũ trụ, về sự biến hóa của các dạng sống, về sự xuất hiện của loài người. Những khám phá này mời gọi chúng ta thêm lòng cảm phục sự cao cả của Đấng Tạo Hóa, tri ân vì các công trình của Người, vì trí thông minh và khôn ngoan Người ban cho các nhà bác học và các người sưu tầm. Cùng với Sa-lô-mon, họ có thể nói : "Chính Người đã cho tôi hiểu biết đích thực về sự vật, cho tôi biết cấu trúc của thế giới và đặc tính của các yếu tố ... Vì chính Đấng Khôn Ngoan, là tác giả của mọi sự đã dạy tôi" (Kn 7,17-21).

284.     Còn một câu hỏi thuộc lãnh vực khác, vượt ngoài phạm vi của khoa học tự nhiên, thúc đẩy mạnh mẽ các cuộc nghiên cứu. Vấn đề không phải chỉ là tìm hiểu vũ trụ xuất hiện khi nào và cách nào, con người có mặt trên trái đất từ bao giờ, nhưng quan trọng chính là khám phá ra ý nghĩa của nguồn gốc đó. Phải chăng nguồn gốc vũ trụ bị điều khiển bởi một sự ngẫu nhiên, một định mệnh mù quáng, một tất yếu vô danh, hay được điều khiển bởi một Đấng Siêu Việt, thông minh và tốt lành, mà ta gọi là Thiên Chúa. Và nếu thế giới này xuất phát từ sự khôn ngoan và sự tốt lành của Thiên Chúa thì tại sao có sự dữ? Nó tự đâu ra? Ai chịu trách nhiệm ? Có cách nào thoát khỏi sự dữ không?

285 295 28.     Từ buổi đầu, Ki-tô giáo đã phải đương đầu với những giải đáp khác với đức tin của chính mình về vấn đề nguồn gốc. Người ta gặp trong các tôn giáo và các văn hóa cổ xưa nhiều huyền thoại về vấn đề nguồn gốc. Một số triết gia cho rằng tất cả mọi sự đều là Thiên Chúa, thế giới là Thiên Chúa, hoặc biến hóa của thế giới là biến hóa của Thiên Chúa (thuyết phiếm thần ). Người khác cho rằng thế giới là một sự sinh xuất tất yếu của Thiên Chúa, chảy từ nguồn mạch rồi lại trở về đó. Người khác lại khẳng định sự hiện hữu của hai nguyên lý vĩnh tồn, Thiện và Ác, Ánh Sáng và Bóng Tối đấu tranh miên trường, (thuyết nhị nguyên, giáo phái do Manes sáng lập). Theo một vài quan niệm, thế giới (ít nữa là thế giới vật chất) là xấu, sản phẩm của một sự thoái hóa, vì vậy cần phải loại bỏ đi hoặc phải vượt khỏi (thuyết ngộ đạo ); quan niệm khác chấp nhận rằng thế giới do Thiên Chúa tạo nên, như một người thợ làm ra một đồng hồ, làm ra rồi bỏ đó ( tự nhiên thần giáo). Cuối cùng, có những quan niệm không chấp nhận nguồn gốc siêu việt nào cho thế giới, mà chỉ xem đó hoàn toàn là một chuyển vận của vật chất vẫn có từ muôn thuở (thuyết duy vật). Tất cả những cố gắng đó cho thấy, con người ở đâu cũng như bất cứ thời đại nào, đều thắc mắc về nguồn gốc của vũ trụ và của mình. Chỉ có con người mới khắc khoải truy tìm về cội nguồn như thế .

286 32 37.       Trí thông minh loài người chắc chắn có khả năng tìm ra câu trả lời cho câu hỏi về nguồn gốc. Con người với ánh sáng của lý trí có thể nhận ra sự hiện hữu của Thiên Chúa qua các công trình của Người (x.DS 3026) cho dù sự hiểu biết đó nhiều khi bị lu mờ và lệch lạc vì lầm lẫn. Vì vậy, đức tin giúp xác nhận và soi sáng lý trí, để hiểu biết cách chính xác chân lý này. "Nhờ đức tin chúng ta hiểu rằng vũ trụ đã được hình thành bởi một lời của Thiên Chúa; vì thế những cái hữu hình là do những cái vô hình mà có "(Dt 11,3).

287 107.          Chân lý về sáng tạo rất quan trọng cho cuộc sống loài người, đến nỗi Thiên Chúa đã ưu ái mặc khải cho dân Người tất cả những gì cần biết về vấn đề nầy để được cứu độ. Vượt trên những hiểu biết tự nhiên mà con người có thể có được về Đấng Tạo Hóa, (x. Cv. 17,24-29; Rm 1,19-20) Thiên Chúa đã dần dần mặc khải cho It-ra-en mầu nhiệm sáng tạo. Chính Người đã chọn các tổ phụ, đã đưa It-ra-en ra khỏi Ai cập, và khi đã tuyển chọn họ làm dân riêng , Người sáng lập và đào tạo dân nầy (x. Is 43,1); Người cũng tự mặc khải là Đấng làm chủ trái đất và muôn dân, là Đấng duy nhất " đã dựng nên trời và đất" (Tv 115,15; 124,8 ; 134,3).

288 280.          Như vậy, mặc khải về sáng tạo không tách rời khỏi việc Thiên Chúa duy nhất mặc khải và thực hiện Giao Ước với dân Người. Sáng Tạo được mặc khải như là bước đầu tiên tiến đến Giao Ước, như chứng từ tiên khởi và phổ quát tình thương toàn năng của Thiên Chúa (x. St 15,5; Gr 33,19-26 ). Vì thế, chân lý về sáng tạo được diễn tả ngày một mạnh mẽ hơn trong sứ điệp của các ngôn sứ (x. Is 44,54), trong lời cầu nguyện của các thánh vịnh (x.Tv 104) và phụng vụ, trong suy tư (x.Cn 8,22,-31) của dân tuyển chọn về minh triết.

289 390 111.   Trong tất cả những lời Thánh Kinh nói về sáng tạo, ba chương đầu của sách Sáng Thế chiếm địa vị độc tôn. Đứng về phương diện văn chương, những bản văn đó có thể do nhiều nguồn khác nhau. Các tác giả được linh hứng đã đặt các bản văn này ở đầu Sách Thánh để long trọng diễn tả những chân lý về sáng tạo nguồn gốc và cùng đích của nó trong Thiên Chúa, trật tự và sự tốt lành của nó về ơn gọi của con người, cuối cùng về thảm kịch tội lỗi và niềm hy vọng vào ơn cứu độ. Những lời này, được đọc dưới ánh sáng của Chúa Ki-tô, trong sự thống nhất của Thánh Kinh, và trong Truyền thống sống động của Hội Thánh, vẫn là nguồn chính yếu cho việc huấn giáo về những mầu nhiệm của"khởi nguyên": tạo dựng, sa ngã, lời hứa cứu độ.

II. SÁNG TẠO LÀ CÔNG CUỘC CỦA CHÚA BA NGÔI  

290 326.          "Lúc khởi đầu Thiên Chúa tạo dựng trời và đất": những lời đầu tiên này của Kinh thánh khẳng định ba điều : Thiên Chúa vĩnh cửu đã đặt một khởi điểm cho tất cả những gì hiện hữu bên ngoài Người; duy chỉ mình Người là Đấng Sáng Tạo (động từ "sáng tạo"- tiếng hipri là bara - luôn có chủ từ là Thiên Chúa) ; toàn thể những gì hiện hữu (được diễn tả bằng công thức "trời và đất") đều tùy thuộc vào Đấng đã cho chúng hiện hữu.

291 241 331 703.        "Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời là Thiên Chúa...Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành" (Ga 1,1-3). Tân Ước mặc khải rằng : Thiên Chúa đã tạo dựng tất cả nhờ Ngôi Lời vĩnh cửu là Con yêu quí của Người. Chính trong Người mà "mọi sự trên trời và dưới đất được tạo dựng..., mọi sự được dựng nên nhờ Người và cho Người. Người có trước mọi sự và mọi sự tồn tại trong Người" (Cl 1,16-17). Đức tin của Hội Thánh cũng xác quyết như vậy về hoạt động sáng tạo của Chúa Thánh Thần. Người là "Đấng ban sự sống" ( Kinh Tin Kính Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-po-li), là "Thần trí tác tạo"("Veni, Creator Spiritus"), là nguồn mạch của mọi thiện hảo ( Phụng vụ Byzantine, kinh chiều lễ Hiện Xuống).

292 699 257.   Sự thống nhất không thể tách rời giữa hành động sáng tạo của Chúa Con và Chúa Thánh Thần với hành động sáng tạo của Chúa Cha đã được thoáng thấy trong Cựu Ước ( x.Tv 33,6; 104,30; St 1,2-3), và được mặc khải trong Tân Ước, nay được qui luật đức tin của Hội Thánh xác định rõ ràng : "chỉ có một Thiên Chúa duy nhất...: Người là Cha, là Thiên Chúa, là Đấng Sáng Tạo, là Tác Giả, là Đấng an bài mọi sự. Người tự mình tác tạo mọi sự nghĩa là nhờ Lời và đức Khôn Ngoan của Người" ( T.I-rê-nê ,chống lạc giáo, 2,30.9), "nhờ Chúa Con và Chúa Thánh Thần" như "những bàn tay của Người" ( Ibid, 4,20, 1.). Sáng tạo là công trình chung của Ba Ngôi Chí Thánh.

III. "VŨ TRỤ ĐƯỢC TẠO DỰNG ĐỂ LÀM VINH DANH THIÊN CHÚA"

293 337, 344 1361.     Đây là chân lý căn bản mà Thánh Kinh và Truyền Thống không ngừng giảng dạy và biểu dương : "Thế giới được tạo dựng để làm vinh danh Thiên Chúa" ( x.Cđ Va-ti-can I : DS 3025). Thánh Bo-na-ven-tu-ra giải thích : Thiên Chúa đã sáng tạo mọi sự "không phải để gia tăng Vinh Quang, nhưng để biểu lộ và thông ban Vinh Quang đó" ( x.Sent 2,1,2,2.1). Thiên Chúa không có lý do nào khác để sáng tạo ngoài tình thương và lòng nhân hậu của Người : "Chính chìa khóa tình thương đã mở bàn tay Người để sản sinh vạn vật" ( T.Tô-ma Aq, Sent 2, prol). Công đồng Va-ti-ca-nô I giải thích :

759.     Thiên Chúa duy nhất, trong ý định hoàn toàn tự do, ngay khởi đầu đã tạo dựng tất cả từ hư không, loài thiêng liêng hay loài có thể xác. Thiên Chúa đã làm như vậy, với lòng nhân hậu và nhờ sức mạnh toàn năng của Người; không phải để gia tăng hạnh phúc của Người, hoặc để đạt sự trọn hảo, nhưng là để biểu lộ sự trọn hảo ấy qua những điều tốt lành Người ban cho các thụ tạo (DS 3002).

294 2809 1722 1992.  Thiên Chúa bày tỏ vinh quang của Người qua việc biểu lộ và thông ban sự tốt lành của Người. Vì thế Người đã tạo thành vũ trụ . Theo ý muốn đầy lòng nhân hậu của Người, Người đã tiền định cho ta "làm nghĩa tử nhờ Đức Giê-su Ki-tô, để xưng tụng Vinh Quang của ân sủng Người"(Ep 1,5-6). "Vì vinh quang của Thiên Chúa là con người sống động và sự sống của con người là được thấy Thiên Chúa : nếu trước đây sự mặc khải Thiên Chúa qua cuộc sáng tạo đã đem đến sự sống cho mọi loài trên trái đất, thì sự biểu lộ của Cha nhờ Ngôi Lời càng đem lại gấp bội sự sống cho những ai thấy Thiên Chúa" ( T.I-rê-nê chống lạc giáo 4,20.7). Cùng đích tối hậu của sáng tạo là : "Thiên Chúa được muôn loài suy phục (1Cr 15,28), khi Người tỏ hiện vinh quang của Người và đem lại hạnh phúc cho chúng ta" (AG 2).

IV. MẦU NHIỆM SÁNG TẠO

Thiên Chúa sáng tạo do Khôn Ngoan và Tình yêu

295 216,1951. Chúng ta tin Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ theo sự khôn ngoan của Người (x. Dtc 9,9). Vũ trụ không phải là sản phẩm của một tất yếu nào đó, của một định mệnh mù quáng hoặc bởi ngẫu nhiên. Chúng ta tin vũ trụ phát xuất từ ý muốn tự do của Thiên Chúa, Người muốn cho các thụ tạo được tham dự vào hữu thể, sự khôn ngoan và tốt lành của Người. "Vì chính Ngài đã tác tạo mọi sự, Ngài muốn chúng coi là chúng được tạo dựng" (Kh 4,11). "Công trình của Ngài nhiều biết bao! Lạy Chúa, Ngài đã tạo dựng tất cả thật khôn ngoan" (Tv 104,24). "Đức Chúa tốt lành với mọi loài, tỏ lòng yêu thương đối với mọi công trình Người làm ra" (Tv 145,9).

Thiên Chúa tạo dựng từ "hư không"

296 285.          Chúng ta tin Thiên Chúa không cần một thứ gì có trước hoặc một sự trợ giúp nào để sáng tạo (x.Cđ Va-ti-can I : DS 3022). Công trình sáng tạo cũng không phải là một sự phát xuất tất yếu từ bản thể Thiên Chúa (x.Cđ Va-ti-can I 3023 - 3024). Thiên Chúa tự do sáng tạo "từ hư không"(DS 800 ; 3025).

Nếu Thiên Chúa làm nên vũ trụ từ một chất liệu có trước thì có gì là phi thường ? Một người thợ, khi ta cho họ vật liệu, cũng làm ra được những gì họ muốn. Quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện khi Người làm tất cả những gì Người muốn từ hư không (T. Thê-ô-phi thành An-ti-ô-ki-aAutol 2,4).

297 338.          Đức tin vào sự sáng tạo "từ hư không" được xác nhận trong Thánh Kinh như một chân lý đầy hứa hẹn và hy vọng. Vì thế, trong sách Ma-ca-bê, bà mẹ đã khuyến khích bảy người con mình chịu cực hình tử đạo như sau :

Mẹ không biết các con đã xuất hiện thế nào trong dạ mẹ. Không phải mẹ đã cho chúng con tinh thần và sự sống, không phải mẹ đã sắp đặt các yếu tố cấu tạo nên mỗi người chúng con. Vì thế, Đấng tạo dựng thế giới, đã tác tạo loài người và là nguồn gốc mọi sự, sẽ trả lại cho chúng con, cả tinh thần lẫn sự sống, theo lượng từ bi của Người, vì giờ đây chúng con coi khinh chính mình vì lòng yêu mến giới luật Người. Này con, hãy nhìn trời, đất và tất cả những thứ trong đó mà biết rằng, từ hư không, Thiên Chúa đã làm nên chúng và loài người cũng được tạo nên như vậy (2Mcb 7,22-23,28).

298 1375 992. Vì Thiên Chúa có thể sáng tạo từ hư không, nên Người có thể nhờ Thánh Thần, ban sự sống phần hồn cho người tội lỗi bằng cách tạo cho họ một quả tim tinh tuyền ( x.Tv 51,12), và nhờ sự Phục Sinh, ban sự sống phần xác cho người đã chết, vì Người là "Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không hóa có" (Rm 4,17). Vì Người đã có thể làm cho ánh sáng bừng lên từ đêm tối ( x. St 1,3) nhờ Lời của Người, nên cũng có thể ban ánh sáng đức tin cho những kẻ chưa biết Người ( x. 2Cr 4,6).

Thiên Chúa sáng tạo một thế giới trật tự và tốt lành

299 339 41, 1147 358 2415.   Vì Thiên Chúa sáng tạo là Đấng khôn ngoan nên công trình sáng tạo có trật tự : "Ngài đã an bài mọi sự có mực thước, có số, có lượng"(Kn 11,20). Vũ trụ được sáng tạo trong và nhờ Ngôi Lời vĩnh cửu, "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình"(Cl 1,15) nên được dành sẵn cho con người là hình ảnh của Thiên Chúa ( x. St 1,26), là kẻ được mời gọi để hiệp thông trong tương quan cá nhân với Người. Được tham dự vào ánh sáng của Đấng thượng trí, trí khôn con người có thể nghe được những gì Thiên Chúa nói với chúng ta qua công trình sáng tạo ( x. Tv 19,2-5); dĩ nhiên con người cần cố gắng nhiều, trong khiêm tốn và kính trọng trước Đấng Tạo Hóa và công trình của Người ( x G 42,3). Phát xuất từ Thiên Chúa tốt lành, công trình sáng tạo dự phần vào sự tốt lành của Người : ("và Thiên Chúa thấy điều đó tốt lành... rất tốt lành":St 1,4.10.12.18.21.31), và Thiên Chúa muốn trao ban nó cho con người như một quà tặng, một gia sản được dành sẵn và ủy thác cho họ. Hội Thánh nhiều lần phải biện hộ cho sự tốt lành của công trình sáng tạo, kể cả thế giới vật chất (x. DS 286 ; 455-463 ; 800 ; 1333 ; 3002).

Thiên Chúa vừa siêu việt vừa hiện diện trong vũ trụ

300 42,223.     Thiên Chúa vô cùng cao cả vượt trên các công trình của Người (x. Hc 43,28) : "Oai phong của Người vượt trên các tầng trời" (Tv 8,2). "Sự cao cả của Người khôn lường" (Tv 145,3). Nhưng vì Người là Đấng Tạo Hóa tối cao và tự do, căn nguyên của tất cả những gì hiện hữu, Người hiện diện nơi thâm sâu nhất của loài thụ tạo : "Nơi Người chúng ta sống, chúng ta cử động và chúng ta hiện hữu"(Cv 17, 28). Theo lời Thánh Âu-tinh : "Người cao cả hơn những gì cao cả nhất trong tôi, thâm sâu hơn những gì thâm sâu nhất trong tôi" ( T.Âu-tinh, Conf 3,6,11).

Thiên Chúa giữ gìn và nâng đỡ loài thụ tạo

301 1951,396. Sau khi sáng tạo, Thiên Chúa không bỏ mặc các thụ tạo của Người. Người không chỉ ban cho chúng hữu thể và hiện hữu, Người còn luôn giữ gìn chúng hiện hữu, cho chúng khả năng hành động và đưa chúng đến cùng đích. Một trong những nguồn mạch khôn ngoan và tự do, niềm vui và niềm cậy trông của con người là nhận ra mọi sự tùy thuộc hoàn toàn vào Đấng tạo hóa.

Vâng, Ngài yêu thương tất cả những gì hiện hữu, và không chán ghét một thứ gì trong những điều Ngài làm ra; vì nếu Ngài ghét sự gì, thì Ngài đã không làm ra nó. Và làm sao, một sự vật có thể tồn tại được nếu Ngài không muốn? Hoặc làm sao những thứ Ngài không gọi đến có thể được bảo tồn? Nhưng Ngài thương tiếc tất cả vì tất cả là của Ngài, Ngài là chủ nhân yêu thích sự sống (Kn 11,24-26).

V. THIÊN CHÚA THỰC HIỆN Ý ĐỊNH CỦA NGƯỜI : SỰ QUAN PHÒNG

302.     Công trình sáng tạo có sự tốt lành và hoàn hảo riêng, nhưng chưa hoàn tất khi được dựng nên. Vạn vật đang ở trong một "tiến trình" hướng đến sự trọn hảo tối hậu do Thiên chúa định sẵn. Sự quan phòng của Thiên Chúa chính là những đường lối Người xếp đặt để đưa vạn vật tới sự trọn hảo đó.

Nhờ sự quan phòng của Người, Thiên Chúa gìn giữ và điều khiển tất cả những gì Người đã sáng tạo, "biểu dương sức mạnh trên khắp địa cầu và dịu dàng xếp đặt tất cả" (Kn 8,1). Vì "tất cả mọi sự đều trần trụi và phơi bày ra trước mặt Người" (Dt 4,13), kể cả những điều do hành động tự do của con người tạo ra (Cđ Va-ti-can I : DS 3003).

303 269.          Chứng từ của Thánh Kinh đều đồng nhất : Thiên Chúa quan phòng chăm sóc mọi sự cách cụ thể và trực tiếp, từ những cái nhỏ nhất đến những biến cố vĩ đại của thế giới và lịch sử. Các Sách Thánh xác quyết mạnh mẽ quyền tối thượng của Thiên Chúa trong mọi biến cố : "Thiên Chúa chúng ta, trên trời, dưới đất, Người làm những gì Người muốn"(Tv 115,3). Sách Thánh cũng nói về Chúa Ki-tô: "Người mở ra thì không ai đóng được, Người đóng lại thì không ai mở được" (Kh 3,7) ; "Con người có nhiều kế hoạch, nhưng duy chỉ có ý định của Thiên Chúa là sẽ thực hiện" (Cn 19,21).

304 2568.        Kinh Thánh dưới tác động của Chúa Thánh Thần, thường qui các hành động về Thiên Chúa, mà không nhắc đến các nguyên nhân đệ nhị. Đó không phải là "cách nói" ngây ngô, nhưng là cách rất sâu sắc để nhắc lại quyền tối thượng và địa vị Chủ Tể tuyệt đối của Thiên Chúa trên lịch sử và toàn thế giới (x.Is 10,5-15 ; 45,5-7; Đnl 32,39 ; Hc 11,14), và nhân đó giáo dục chúng ta tín thác vào Người. Lời cầu nguyện của các Thánh Vịnh là trường huấn luyện niềm tín thác đó (x.Tv 22 ; 32 ; 35 ; 103 ; 138 ;... . )

305 2115.        Đức Giê-su đòi hỏi chúng ta phó thác với tình con thảo vào sự quan phòng của Cha trên trời, Đấng chăm sóc đến những nhu cầu nhỏ bé nhất của con cái : "Anh em đừng quá lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì ? uống gì ? Cha anh em Đấng ngự trên trời, biết anh em cần những thứ đó. Vậy, trước hết phải lo tìm kiếm Nước Chúa và sự công chính của người, rồi các thứ kia, Người sẽ ban thêm cho" (Mt 6,31-33; 10, 29-31).

Chúa Quan phòng và các nguyên nhân đệ nhị

306 1884 1951.           Thiên Chúa hoàn toàn làm chủ ý định của Người. Nhưng để thực hiện, Người cũng dùng đến sự cộng tác của các thụ tạo. Đây không phải là dấu hiệu của sự yếu kém, nhưng là dấu của sự cao cả và lòng tốt của Thiên Chúa Toàn Năng. Vì Thiên Chúa không chỉ cho các thụ tạo hiện hữu, nhưng cũng cho chúng phẩm giá tự mình hoạt động, làm nguyên nhân và nguyên lý cho nhau, và nhờ đó mà cộng tác vào việc hoàn thành ý định của Người.

307 106,373 1954 2427 2738 618,1505. Thiên Chúa còn ban cho con người khả năng tự do tham dự vào sự quan phòng của Người khi trao cho họ trách nhiệm "làm chủ" trái đất và thống trị nó ( x.St 1,26-28); như thế con người trở nên những nguyên nhân thông minh và tự do để hoàn tất công trình sáng tạo, làm cho công trình ấy được hài hòa trọn vẹn hầu mưu ích cho mình và cho tha nhân. Con người thường cộng tác với Thiên Chúa mà không ý thức nhưng có thể hội nhập một cách ý thức vào chương trình của Thiên Chúa bằng hành động, bằng lời cầu nguyện, bằng chính đau khổ của mình (x. Cl 1,24). Khi đó, họ hoàn toàn trở thành "những cộng tác viên của Thiên Chúa" (1Cr 3,9;1Th 3,2) và của Nước Trời
( x. Cl 4,11).

308 970.          Thiên Chúa hành động trong tất cả các hành động của thụ tạo, đây là một chân lý không thể tách rời khỏi đức tin vào Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo. Người là nguyên nhân đệ nhất tác động trong và qua các nguyên nhân đệ nhị : "Vì chính Thiên Chúa tác động nơi chúng ta, để chúng ta quyết chí và hành động theo kế hoạch Người đã đặt ra vì yêu thương" (Pl 2,13) ( x. 1Cr 12,6). Chân lý này không làm giảm bớt nhưng còn gia tăng phẩm giá của các thụ tạo. Được Thiên Chúa quyền năng, khôn ngoan và tốt lành sáng tạo từ hư không, thụ tạo không thể làm gì được nếu bị tách khỏi nguồn gốc; vì "thụ tạo mà không có Đấng Tạo Hóa thì sẽ tan biến" (GS 36, 3), nó lại càng không thể đạt tới cùng đích tối hậu của mình nếu không có sự trợ giúp của ân sủng ( x. Mt 19,26; Ga 15,5; Pl 4,13).

Chúa Quan phòng và sự dữ

309 164,385 2805.      Nếu Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Đấng Sáng Tạo nên thế giới có trật tự và tốt lành, chăm sóc hết mọi thụ tạo, tại sao có sự dữ ? Trước câu hỏi không thể tránh và khẩn thiết, vừa đau thương, vừa bí nhiệm này không thể có một câu trả lời ngắn gọn mà đầy đủ được. Toàn bộ đức tin Ki-tô giáo là câu trả lời cho câu hỏi này : sự tốt lành củacuộc sáng tạo,thảm kịch tội lỗi, tình yêu kiên nhẫn của Thiên Chúa, Đấng đã đi bước trước đến với con người qua các giao ước, qua việc Nhập Thể cứu chuộc của Chúa Con, qua việc ban Thánh Thần, qua việc qui tụ Hội Thánh qua sức mạnh của các bí tích, qua việc kêu gọi con người tới hưởng một cuộc sống diễm phúc mà ngay từ đầu các thụ tạo có tự do được mời gọi đón nhận, nhưng cũng ngay từ đầu chúng có thể từ chối, do một huyền nhiệm khủng khiếp! Không có bất cứ chi tiết nào của sứ điệp Ki-tô giáo mà không là một phần của câu trả lời cho câu hỏi về sự dữ.

310 412 1042, 1050 342.        Tại sao Thiên Chúa không tạo dựng một thế giới thật hoàn hảo để không có một sự dữ nào xuất hiện ? Xét theo quyền năng vô biên Thiên Chúa vẫn có thể tạo dựng được điều tốt hơn ( x. T. Tô-ma A-qui-nô tổng luận . 1,25,6). Nhưng trong sự khôn ngoan và nhân hậu vô biên của Ngừơi, Thiên Chúa đã tự ý sáng tạo một thế giới trong "tiến trình" hướng về sự trọn hảo tối hậu. Theo ý định của Thiên Chúa, sự tiến hóa này gồm có việc vật này xuất hiện và vật khác biến đi, có cái hoàn hảo hơn và có cái kém hơn, có xây đắp và cũng có tàn phá trong thiên nhiên. Vì vậy bao lâu mà cuộc sáng tạo chưa đạt được sự trọn hảo của nó, thì cùng với điều tốt thể lý, cũng có sự dữ thể lý ( x. T. Tô-ma A-qui-nô, s.gent 3.71).

311 396 1849. Thiên thần và con người là những thụ tạo thông minh và tự do, nên phải tiến về cùng đích bằng một sự lựa chọn tự do và yêu chọn cái tốt hơn. Do đó họ có thể lầm lạc. Trong thực tế, họ đã phạm tội. Như vậy, sự dữ luân lý, vô cùng nghiêm trọng hơn so với sự dữ thể lý, đã xâm nhập vào thế giới. Thiên Chúa không bao giờ là nguyên nhân của sự dữ luân lý, cho dù trực tiếp hay gián tiếp ( x. T. Âu-tinh, lib 1,1,1; Th. Tô-ma Aqu, s.th, 1-2, 79,1). Tuy nhiên , vì tôn trọng tự do của thụ tạo, Người để nó xảy ra, và một cách mầu nhiệm, Người biết cách rút lấy điều lành từ sự dữ.

Thiên Chúa Toàn Năng bởi Người tốt lành vô cùng, nên không bao giờ để bất cứ một sự dữ nào xảy ra trong các công trình của Người, nếu Người không đủ quyền năng và lòng nhân lành để rút lấy điều lành từ chính sự dữ (x. T. Âu-tinh, enchir 11,3).

312 598-600 1994.      Như thế thời gian giúp chúng ta khám phá rằng: Thiên Chúa trong sự quan phòng toàn năng có thể rút sự lành từ hậu qủa  của một sự dữ, cho dù là sự dữ luân lý do thụ tạo gây nên : "Giu-se nói với anh em : không phải các anh đã đưa đẩy tôi đến đây nhưng là Thiên chúa, ... sự dữ mà các anh đã định làm cho tôi, ý định của Thiên Chúa đã chuyển thành sự lành... để cứu sống một dân đông đảo" (St 45,8; 50,20) (x. Tb 2,12-18 vulg). Từ việc Ít-ra-en chối bỏ và hạ sát Con Thiên Chúa là sự dữ luân lý lớn nhất chưa từng có do tội lỗi của mọi người gây nên, Thiên Chúa đã rút ra được sự lành lớn nhất do sự sung mãn của ân sủng (x. Rm 5,20): Đức Ki-tô được tôn vinh và chúng ta được cứu chuộc. Tuy nhiên không vì thế mà cái xấu trở thành cái tốt được.

313 227.          "Mọi sự đều sinh lợi ích cho ai yêu mến Thiên Chúa" (Rm 8,28). Chứng từ của các thánh không ngừng xác nhận chân lý nầy :

Thánh Ca-ta-ri-na thành Si-ê-na nói với "những người bất bình và nổi loạn vì những gì xảy đến cho họ": "Tất cả mọi sự đều bởi tình thương mà ra, mọi sự đều được xếp đặt để con người đạt đến ơn cứu độ. Thiên Chúa không làm gì khác ngoài mục đích đó (x. Dial 4,138).

Trước khi tử đạo ít lâu, Thánh Tô-ma More an ủi con gái mình : "Không gì xảy ra mà không do Chúa muốn. Và tất cả những gì Người muốn, cho dù có vẻ rất xấu đối với chúng ta, vẫn là cái tốt nhất cho chúng ta" (x. Lettre).

Bà Giu-li-a-na thành Norwich nói : "Nhờ ơn Chúa, tôi đã học biết phải kiên vững trong đức tin, và tin một cách chắc chắn là tất cả mọi sự sẽ nên tốt... Và rồi bạn sẽ thấy là mọi sự sẽ nên tốt" (x. Rev 32).

314 1040 2550.           Chúng ta tin vững vàng rằng Thiên Chúa là chủ tể thế giới và lịch sử. Nhưng thường chúng ta không biết được đường lối của Thiên Chúa quan phòng. Chỉ khi nào tới chung cuộc, lúc mà sự hiểu biết phiến diện của chúng ta kết thúc, khi chúng ta thấy Chúa "diện đối diện" (1Cr 13,12) chúng ta sẽ hiểu biết một cách trọn vẹn các đường lối này, mà Thiên Chúa đã dùng để dẫn đưa cuộc sáng tạo, dù có phải trải qua các tham trạng của sự dữ và tội, tới sự yên nghỉ của ngày Sa-bat ( x. St 2,2) chung cuộc, ngày mà Thiên Chúa đã nhắm đến khi tạo dựng trời và đất.

TÓM LƯỢC

315.     Với việc tạo dựng vũ trụ và con người, Thiên Chúa ban cho ta chứng cứ tiên khởi và phổ quát về tình thương toàn năng và sự khôn ngoan của Người, cũng là lời loan báo đầu tiên về "ý định nhân hậu" mà cùng đích là công trình sáng tạo mới trong Đức Ki-tô.

316.     Tuy công trình sáng tạo được coi là của Chúa Cha, nhưng chân lý đức tin cũng dạy : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần là nguyên lý duy nhất và không thể phân chia được của công trình sáng tạo.

317.     Chỉ có Thiên Chúa mới sáng tạo vũ trụ một cách tự do, trực tiếp, không cần một sự trợ giúp nào.

318.     Không một thụ tạo nào có được quyền năng vô biên cần thiết để "sáng tạo" theo đúng nghĩa của thuật ngữ đó, nghĩa là làm ra những gì trước đó không có và cho chúng hiện hữu "từ hư không" (DS 3624).
319.     Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ để biểu lộ và thông ban vinh quang của Người. Người muốn các thụ tạo được dự phần vào chân thiện mỹ của Người. Đó là sự vinh quang vì đó mà Người đã tạo dựng nên chúng.

320.     Thiên Chúa đã sáng tạo vũ trụ thì cũng duy trì nó nhờ Ngôi Lời, "Người Con dùng lời quyền năng của mình mà duy trì vạn vật" (Dt 1,3) và nhờ Thánh Thần của Người, Đấng sáng tạo và ban sự sống.

321.     Sự quan phòng chính là Thiên Chúa lo liệu với sự khôn ngoan và tình thương để dẫn đưa mọi thụ tạo tới cùng đích tối hậu của chúng .

322.     Đức Ki-tô mời gọi chúng ta phó thác với tâm tình con thảo vào sự quan phòng của Cha trên trời ( x. Mt 6,26-34). Thánh Phê-rô cũng nhắc : "Mọi lo âu, hãy trút cả cho Người vì Người chăm sóc anh em" (1Pr 5,7) ( x. Tv 55,23).

323.     Thiên Chúa quan phòng cũng hành động qua hành động của các thụ tạo. Thiên Chúa cho con người được tự do cộng tác vào các kế hoạch của Người.

324.     Việc Thiên Chúa cho phép có sự dữ thể lý và sự dữ luân lý là một huyền nhiệm mà Thiên Chúa soi sáng nhờ Con của Người là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng đã chết và sống lại để chiến thắng sự dữ. Đức tin giúp chúng ta xác tín rằng, Thiên Chúa sẽ không cho phép có sự dữ xảy ra nếu Người không rút được sự lành từ chính sự dữ , bằng những con đường mà chúng ta chỉ biết được trọn vẹn trong đời sống vĩnh cửu.

TIẾT 5:  TRỜI VÀ ĐẤT

325.     Kinh Tin Kính của các tông đồ tuyên xưng: Thiên Chúa là "Đấng tạo thành trời và đất"; kinh Tin Kính của Công Đồng Ni-xê-a Con-tan-ti-nô-pô-li nói thêm..." muôn vật hữu hình và vô hình".

326 290 1023,2794.    Trong Thánh Kinh, thuật ngữ "trời và đất" có nghĩa là tất cả những gì hiện hữu, là toàn bộ công trình sáng tạo. Thuật ngữ này cũng chỉ mối liên hệ, vừa kết hợp, vừa phân biệt trời với đất : "Đất" là thế giới của con người; ( x. Tv 115, 16) "Trời" hoặc "các tầng trời" có thể chỉ bầu trời ( x. Tv 19,2), nhưng cũng có thể chỉ "nơi" Thiên Chúa ngự : "Lạy Cha chúng con ở trên trời" (Mt 5,16) ( x. Tv 115,16); do đó, "trời" cũng là vinh quang cánh chung. Sau hết, "trời" chỉ nơi "cư ngụ" của các thụ tạo thiêng liêng tức là các thiên thần vầy quanh Thiên Chúa.

327 296.          Kinh Tin Kính của Công Đồng La-tê-ra-nô IV khẳng định Thiên Chúa "ngay lúc khởi đầu, đã tạo dựng từ hư không cả hai loài thụ tạo: loài thiêng liêng và loài có hình thể, nghĩa là các thiên thần và vũ trụ vật chất; kế đến là con người với tính chất của hai loài trên, vừa có tinh thần vừa có thể xác" ( DS 800; x. DS 3002 và SPF8).

I. CÁC THIÊN THẦN

Sự hiện hữu của các thiên thần là một chân lý đức tin

328 150.          Sự hiện hữu của các hữu thể thiêng liêng, không có thể xác, mà Thánh Kinh quen gọi là các thiên thần, là một chân lý đức tin. Thánh Kinh và Thánh Truyền đều nhất trí như thế.

Các thiên thần là ai ?

329.     Thánh Augustinô nói : "Thiên thần " chỉ chức năng chứ không chỉ bản tính. Xét về bản tính là "thuần linh". Xét về chức năng là "thiên thần". Theo hữu thể, là một thuần linh ; theo hành động, là một thiên thần ( x.Tv 103,1,15). Tự bản thể, các thiên thần là những tôi tớ và sứ giả của Thiên Chúa. Vì các ngài hằng chiêm ngưỡng "Thánh Nhan Cha Ta ở trên trời" (Mt 18,10), nên các vị là "những người đi thực hiện Lời Chúa, sẵn sàng phụng lệnh Người" (Tv 103,20).

330.     Với tư cách là thụ tạo thuần linh, các ngài có trí năng và ý chí : các ngài là những thụ tạo có ngôi vị (x.Piô XII : DS 3891) và bất tử ( x. Lc 20,36). Các ngài hoàn hảo hơn mọi thụ tạo hữu hình. Vinh quang rực rỡ của các ngài minh chứng điều ấy ( x. Đn 10,9-12).

Đức Ki-tô "với toàn thể các thiên thần của Ngài"

331 291.          Đức Ki-tô là trung tâm của thế giới thiên thần. Các thiên thần đều thuộc về Người : "Khi Con Người đến trong vinh quang với toàn thể các thiên thần của Người" (Mt 25,31). Các thiên thần thuộc về Đức Ki-tô vì đã được dựng nên nhờ Người và cho Người : "Vì trong Người, muôn vật được tạo thành, trên trời cùng dưới đất, hữu hình với vô hình : Dẫu là hàng dũng lực thần thiêng hay là bậc quyền năng thượng giới; tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người" (Cl 1,16). Hơn nữa, các thiên thần còn thuộc về Chúa Ki-tô, vì Người đặt các ngài làm sứ giả thực hiện ý định cứu độ của Người : "Nào tất cả những vị đó không phải là những bậc thiêng liêng được trao cho một trách vụ, được sai đi phục vụ cho những kẻ sẽ được thừa hưởng ơn cứu độ sao ?"(Dt 1,14).

332.     Ngay lúc sáng tạo (G 38,7) và suốt dòng lịch sư<150) cứu độ, các thiên thần có mặt để loan báo về ơn cứu độ và phục vụ cho việc thực hiện ý định đó. Các thiên thần đóng cửa vườn địa đàng (St 3,24), bảo vệ ông Lót (St 19), cứu Agar và con của bà ( x. St 21,17), chặn tay Áp-ra-ham (St 22,11), công bố lề luật cho dân (Cv 7,53), hướng dẫn dân Chúa ( x.Xh 23,20-23), loan báo những cuộc sinh hạ ( x.Thp 13), những ơn gọi ( x.Thp 6,11-24; Is 6,6), trợ giúp các ngôn sứ (x.1 V19,5), đó chỉ là một vài ví dụ. Cuối cùng Thiên Thần Gáp-ri-en đã loan báo việc sinh hạ của vị Tiền hô và của chính Chúa Giê-su (x. Lc 1,11.26).

333 559.          Từ khi nhập thể cho tới khi lên Trời, Ngôi Lời luôn được các thiên thần tôn thờ và phục vụ. "Khi đưa Trưởng Tử vào thế giới loài người, Thiên Chúa nói : "Mọi thiên thần của Thiên Chúa, hết thảy phải tôn thờ Người" (Dt 1,6). Lời ca tụng của các thiên thần khi Chúa Ki-tô giáng sinh không ngừng vang lên trong lời ca tụng của Hội Thánh : "Vinh danh Thiên Chúa..." (Lc 2,14). Các thiên thần bảo vệ Đức Giê-su khi thơ ấu ( x.Mt 1,20; 2,13.19), phục vụ Người trong hoang địa ( x.Mt 4,11; Mc 1,12), động viên Người trong cơn lo sợ trước cái chết (x.Lc 22,43 ), dù có thể cứu Người khỏi tay các kẻ thù (x. Mt 26,53), như đã cứu dân It-ra-en xưa (x.2Mcb 10,29-30 ; 11,8). Chính các thiên thần "rao truyền phúc âm" (Lc 2,10) khi loan báo Tin Mừng Nhập Thể (x.Lc 2,8-14) và Phục sinh (x. Mc 16,5-7) của Đức Ki-tô. Các ngài loan báo Đức Ki-tô quang lâm (x. Cv 1,10-11), và khi Người đến, các ngài có mặt để giúp Người trong cuộc thẩm phán (x. Mt 13, 41; 24, 31;Lc 12,8-9 ).

Các thiên thần trong đời sống Hội Thánh

334.     Cho tới ngày Chúa quang lâm, tất cả đời sống Hội Thánh hưởng nhờ sự trợ giúp âm thầm và hữu hiệu của các thiên thần
(x. Cv 5,18-20; 8,26-29; 10,3-8; 12,6-11; 27,23-25).

335 1138.        Trong phụng vụ, Hội Thánh liên kết với các thiên thần để tôn thờ Thiên Chúa ngàn trùng Chí Thánh (x. MR "Sanctus"). Hội Thánh khẩn cầu các thiên thần trợ giúp trong bài "Xin các thiên thần Chúa dẫn đưa bạn về thiên đàng..." của phụng vụ cầu cho tín hữu qua đời, hoặc trong "Thánh Thi Thiên Thần" của phụng vụ Bi-dan-tin, và đặc biệt kính nhớ một số thiên thần như Thánh Mi-ca-e, Gáp-ri-en, Ra-pha-en, các thiên thần hộ thủ.

336 1020.        Các thiên thần gìn giữ (x. Mt 18,10) và cầu bàu cho ta (x. Lc 16,22) từ lúc khởi đầu (hiện hữu) (x. Tv 34,8;91,10-13) cho đến lúc chết (x. G 33,23-24; Gia. 1,12; Tb 12,12). "Mỗi tín hữu đều có một thiên thần hộ thủ để bảo trợ, và hướng dẫn đến sự sống đời đời (Th.Ba-si-li-ô, Eun 3,1"). Ngay tại thế, trong đức tin, đời sống Ki-tô hữu được tham dự vào cộng đoàn diễm phúc của các thiên thần và loài người được hợp nhất trong Thiên Chúa.

II. THẾ GIỚI HỮU HÌNH

337 290 293.   Chính Thiên Chúa đã sáng tạo thế giới hữu hình với sự phong phú, đa dạng và trật tự của nó. Thánh Kinh trình bày cách biểu trưng công trình của Đấng Sáng Tạo như một chuỗi sáu ngày "lao động" của Thiên Chúa và hoàn tất với sự "nghỉ ngơi" vào ngày thứ bảy (St 1,1-2,4). Về việc sáng tạo, Thánh Kinh dạy những chân lý đã được Thiên Chúa mặc khải vì ơn cứu độ chúng ta ( x.DV 11), giúp chúng ta "nhận ra bản chất sâu xa cũng như giá trị và cùng đích của sáng tạo. Cùng đích nầy là vinh quang của Thiên Chúa" (LG 36).

338 297.          Không có gì hiện hữu mà không do Thiên Chúa sáng tạo . Vũ trụ bắt đầu khi Lời Thiên Chúa tạo dựng nó từ hư không. Tất cả mọi hiện hữu, toàn bộ thiên nhiên, toàn bộ lịch sử loài người đều bắt nguồn từ biến cố tiên khởi đó: đây là khởi điểm hình thành thế giới và bắt đầu thời gian ( x.Th. Âu-cơ-tinh, Gen.Man.1,2,4).

339 2501 299 226.      Mỗi thụ tạo, đều có sự tốt lành và hoàn hảo riêng. Về mỗi công trình của "sáu ngày", Sách Thánh viết : "Và Thiên Chúa thấy thế là tốt". Chính vì được sáng tạo, mà mọi vật đều có sự vững chãi, chân thật và tốt lành cùng những định luật và trật tự riêng" (GS 36,2). Theo ý Thiên Chúa, các thụ tạo khác nhau đều phản chiếu một chút sự khôn ngoan và sự tốt lành vô biên của Thiên Chúa, mỗi thụ tạo một cách. Chính vì thế con người phải tôn trọng sự tốt lành riêng của từng thụ tạo để tránh sử dụng nó một cách bừa bãi, nếu không con người sẽ coi thường Đấng Tạo Hóa và kéo theo nhiều hậu quả nguy hại cho mình và môi sinh .

340 1937.        Thiên Chúa muốn các thụ tạo lệ thuộc lẫn nhau. Mặt trời, mặt trăng, cây cối với bông hoa, phượng hoàng và chim sẻ: cảnh thiên hình vạn trạng của sự vật lớn nhỏ khác nhau nói lên rằng không thụ tạo nào có thể tự túc, nhưng tùy thuộc vào nhau, để bổ túc và phục vụ lẫn nhau.

341 283 2500. Vẻ đẹp của vũ trụ: Trật tự và sự hài hòa của thế giới xuất phát từ sự đa dạng và mối liên hệ giữa các thụ tạo. Con người dần dần phát hiện những điều ấy như là quy luật của thiên nhiên. Chúng làm các nhà thông thái phải thán phục. Vẻ đẹp của thụ tạo phản chiếu vẻ đẹp vô biên của Đấng Sáng Tạo. Vẻ đẹp này phải gợi lên nơi trí khôn và ý chí của con người sự kính trọng và phục tùng .

342 310.          Phẩm trật các thụ tạo được diễn tả qua thứ tự của "sáu ngày", từ vật kém hoàn hảo tới bậc hoàn hảo hơn. Thiên Chúa thương yêu tất cả các thụ tạo ( x.Tv 145,9) và chăm sóc mỗi vật, ngay cả những con chim sẻ bé nhỏ. Về con người, Chúa Giê-su nói : "Chúng con còn đáng giá hơn cả muôn ngàn chim sẻ" (Lc 12,6-7), "Người thì quí hơn chiên biết mấy" (Mt 12,12).

343 355.          Con người là chóp đỉnh của công trình sáng tạo. Trình thuật Sáng Thế diễn tả điều đó, khi phân biệt rõ ràng việc sáng tạo con người với việc sáng tạo các loài khác ( x.St 1,26).

344 293, 1939 2416.   Tất cả các thụ tạo liên đới với nhau, vì xuất phát từ một Đấng Sáng Tạo, và vì tất cả đều được sắp đặt để làm vinh danh Thiên Chúa:

Chúc tụng Ngài, lạy Chúa, nơi tất cả các thụ tạo của Ngài; đặc biệt là anh Mặt Trời. Nơi anh, Chúa cho chúng con ánh sáng ban ngày, Anh rất đẹp, tỏa chiếu ánh huy hoàng lớn lao. Anh cho chúng con một biểu tượng về Ngài, lạy Đấng Tối Cao.

1218.   Chúc tụng Ngài, lạy Chúa, vì chị Nước, Chị rất hữu ích và rất khiêm tốn. đáng quí và thanh khiết...

Chúc tụng Ngài, lạy Chúa, vì người mẹ chúng con là Trái Đất, cưu mang và nuôi chúng con, sản xuất các loài trái khác nhau. với bông hoa lóng lánh và rực rỡ cỏ xanh...
Hãy chúc tụng và ngợi khen Chúa, Hãy tạ ơn Người và phụng sự Người với lòng khiêm tốn ( Th. Phan-xi-cô thành A-xi-xi, Trường ca tạo vật ).

345 2168.        Ngày Sa-bat kết thúc "sáu ngày" làm việc. Sách Thánh nói : "Ngày thứ bảy, Người kết thúc công việc đã làm", như vậy "trời và đất đã hoàn tất". Ngày thứ bảy Thiên Chúa "nghỉ việc", Người thánh hóa và chúc lành cho ngày đó (St 2,1-3). Những lời được linh hứng trên đây chứa đựng rất nhiều giáo huấn có giá trị cứu độ :

346 2169.        Trong công trình sáng tạo, Thiên Chúa đặt một nền móng và những qui luật trường tồn ( x. Dt 4,3-4). Người tín hữu có thể tin tưởng nương tựa vào đó. Đó là dấu chỉ và bảo chứng về lòng trung tín không hề lay chuyển của Thiên Chúa đối với Giao Ước ( x. Gr 31,35-37;33,19-26). Về phần mình, con người phải trung thành với nền móng này và tôn trọng những qui luật mà Đấng Sáng Tạo đã khắc ghi trên đó.

347 1145-1152.           Công trình sáng tạo hướng về ngày sa-bát, tức là nhắm đến việc phụng thờ và tôn vinh Thiên Chúa. Việc phụng thờ được khắc ghi trong trật tự của công trình sáng tạo. Luật dòng Thánh Biển Đức có ghi : "Việc phụng thờ Thiên Chúa là việc tối thượng không còn việc gì quan trọng hơn". Đấy là trật tự đúng đắn cho mọi bận tâm của con người.

348 2172.        Ngày sa-bát là tâm điểm của lề luật Ít-ra-en. Tuân giữ các giới răn là sống theo sự khôn ngoan và ý muốn của Thiên Chúa được diễn tả trong công cuộc sáng tạo

349 2174 1046.           Ngày thứ tám, một ngày mới đã rực sáng cho chúng ta : ngày Đức Ki-tô Sống Lại. Nếu ngày thứ bảy hoàn tất cuộc sáng tạo thứ nhất, thì ngày thứ tám khởi đầu cuộc sáng tạo mới. Như vậy, công trình sáng tạo chỉ đạt tới tột đỉnh trong công trình còn lớn lao hơn nữa là ơn cứu chuộc. Cuộc sáng tạo thứ nhất đã tìm ra ý nghĩa và đạt tới đỉnh cao trong cuộc sáng tạo mới nơi Chúa Ki-tô, sự rực rỡ của sáng tạo mới này vượt xa vẻ huy hoàng của sáng tạo trước ( x. MR, Vọng phục sinh 24: lời nguyện sau bài đọc I ).

TÓM LƯỢC

350.     Thiên thần là những thụ tạo thiêng liêng hằng tôn vinh Thiên Chúa và phục vụ các ý định cứu độ của Người dành cho các thụ tạo khác : "Các thiên thần cộng tác trong mọi việc lành cho chúng ta" ( Th. Tô-ma A-qui-no tổng luận. 1,114,3 ad 3).

351.     Các thiên thần vây quanh Đức Ki-tô là Chúa mình. Các vị phục vụ Người, đặc biệt trong việc hoàn thành sứ mạng cứu độ nhân loại.

352.     Hội Thánh tôn kính các thiên thần, vì các ngài trợ giúp Hội Thánh trong cuộc lữ hành trần thế và bảo vệ hết mọi người.

353.     Thiên Chúa muốn có các thụ tạo khác biệt nhau, mỗi loài có sự tốt lành riêng của mình. Chúng phải lệ thuộc nhau và tuân theo trật tự của chúng. Tất cả các thụ tạo vật chất là để mưu ích cho con người. Con người, và tất cả vạn vật, nhờ con người, phải làm vinh danh Thiên Chúa.

354.     Tôn trọng các qui luật được ghi khắc trong công trình sáng tạo và những tương quan xuất phát từ bản tính muôn vật, là một nguyên tắc của sự khôn ngoan và là một nền tảng của luân lý.

TIẾT 6:  CON NGƯỜI

355 1700, 343.            "Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình; Người sáng tạo họ theo hình ảnh Thiên Chúa. Người sáng tạo họ có nam có nữ" (St 1,27). Con người giữ một địa vị độc tôn trong công trình sáng tạo: con người là "hình ảnh của Thiên Chúa" (I); trong bản tính của mình, con người hợp nhất thế giới thiêng liêng và thế giới vật chất (II); con người được tạo dựng "có nam có nữ" (III); Thiên Chúa cho họ sống thân tình với Người (IV).

I. "GIỐNG HÌNH ẢNH  THIÊN CHÚA"

356 1703 2258, 225.   Trong tất cả các thụ tạo hữu hình, chỉ con người là "có khả năng hiểu biết và yêu mến Tạo Hóa" (x.GS 12,3). Con người là "thụ tạo duy nhất trên trái đất được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ" (x.GS 24,3) ; chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa. Con người được tạo dựng vì mục đích ấy, và đó là lý do căn bản của phẩm giá con người :
295

Vì sao Ngài đã dựng con người với phẩm giá cao trọng như vậy ? Với tình thương vô biên, Ngài đã nhìn ngắm thụ tạo nơi chính mình và say mê nó. Vì thương yêu, Ngài đã tạo ra nó; vì thương yêu, Ngài cho nó khả năng hưởng phúc vĩnh cửu ( Th. Ca-ta-ri-na thành Si-en-na, dial 4,13).

357 1935 1877.           Vì con người được dựng nên theo hình ảnh của Thiên Chúa, nên có phẩm giá là một nhân vị. Không phải là một sự vật mà là một con người. Con người có khả năng tự biết mình, tự làm chủ chính mình và tự do tự hiến và thông hiệp với những người khác. Do ân sủng, mỗi nguời được mời để giao ước với Đấng Sáng Tạo, dâng lên Người một lời đáp trả tin yêu mà không ai có thể thay thế được.

358 299, 901.  Thiên Chúa đã sáng tạo mọi sự cho con người ( x. GS 12,1; 24,3; 39,1); còn con người được sáng tạo để phụng sự, yêu mến Thiên Chúa và dâng lên Người tất cả thụ tạo :

Hữu thể nào trong cõi dương gian được quan tâm dường ấy? Đó là con người, một khuôn mặt sống động lớn lao, kỳ diệu, mà dưới mắt Thiên Chúa còn quí giá hơn cả toàn thể vạn vật. Đó là con người, vì con người mà trời, đất, biển rộng và toàn thể vạn vật được hiện hữu, và vì tha thiết muốn cứu độ con người, nên Thiên Chúa đã không tiếc ban cả Con duy nhất của Người cho họ. Thiên Chúa không ngừng điều động mọi sự để nâng con người lên tới Thiên Chúa và đặt con người ngồi bên hữu Thiên Chúa ( Th. Gio-an Kim khẩu, bài giảng St 2,1).

359 1701.        "Chỉ có mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể mới có thể làm sáng tỏ mầu nhiệm con người" (GS 22,1):

388 ,411. Thánh Phao-lô cho chúng ta biết có hai người là  nguồn gốc của nhân loại : A-đam và Đức Ki-tô... "A-đam thứ nhất được tạo dựng như là một con người lãnh nhận sự sống. Còn Người kia là Đấng thiêng liêng ban sự sống. Người thứ nhất được tạo dựng do bởi người kia, do Đấng này, người thứ nhất lãnh nhận linh hồn làm cho sống... Khi tạo thành A-đam thứ nhất, A-đam thứ hai đã khắc ghi hình ảnh mình trong đó. Do đó A-đam thứ hai đã lãnh nhận vai trò và tên của A-đam thứ nhất, để không bỏ mất những gì đã được tạo dựng theo hình ảnh của mình. A-đam đầu, A-đam cuối : người trước đã có khởi đầu, người sau sẽ tồn tại mãi mãi. Vì Người sau mới thực là Người đầu, như chính Người đã nói về mình: "Ta là Đầu và là Cuối" ( T.Phê-rô Kim Ngôn, bài giảng 117).

360 225, 404, 775, 831 842.   Vì cùng xuất phát từ một nguồn gốc chung, nhân loại tạo thành một thể thống nhất. "Từ một người duy nhất, Thiên Chúa đã tạo thành toàn thể nhân loại" (Cv 17,26) ( x.Tb 8,6):

Thật là kỳ diệu, khi ta nhìn ngắm nhân loại cùng có chung một nguồn gốc nơi Thiên Chúa...; cùng có chung một bản tính, được cấu tạo như nhau và một thể xác vật chất và một linh hồn thiêng liêng; cùng có chung một mục đích trực tiếp và một sứ mệnh trong thế giới; cùng có chung một nơi cư ngụ là trái đất với những của cải, mà mọi người, do quyền tự nhiên của mình đều có quyền sử dụng để nuôi dưỡng và phát triển sự sống; cùng có chung về một cùng đích siêu nhiên là chính Thiên Chúa, mà tất cả đều phải qui hướng về Người; cùng có chung những phương thế để đạt tới cùng đích đó; cùng có chung ơn cứu độ mà Đức Ki-tô đã thực hiện cho mọi người ( Pi-ô XII enc." summi pontificatus"; x.NA 1).

361 1939.        "Luật liên đới và bác ái này đảm bảo rằng mọi người thực sự đều là anh em" ( Ibid) cho dù có nhiều khác biệt phong phú giữa các con người cá nhân, các nền văn hóa, các dân tộc.

II. "CON NGƯỜI LÀ MỘT THỰC THỂ ĐƠN NHẤT GỒM HỒN VÀ XÁC "

362 1146,2332.           Được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, con người là một hữu thể vừa thể xác vừa tinh thần. Trình thuật Thánh Kinh diễn tả thực tại đó với một ngôn ngữ biểu tượng khi khẳng định rằng "Thiên Chúa lấy đất sét nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật"(St 2,7). Con người toàn diện được dựng nên do ý muốn của Thiên Chúa.

363 1703.        Thánh Kinh thường dùng thuật ngữ linh hồn để chỉ sự sống con người ( x. Mt 16,25-26; Ga 15,13) hoặc toàn diện con người (Cv 2,41). Nhưng cũng dùng để chỉ cái thâm sâu nhất (Mt 26-38), giá trị nhất nơi con người ( x. Mt 10,28; 2Mca 6,30), nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa cách đặc biệt : "linh hồn" là nguyên lý thuần linh nơi con người.

364 1004.        Thân xác cũng được dự phần vào phẩm giá của con người là "hình ảnh của Thiên Chúa": nó là thân xác con người chính vì được linh hồn thiêng liêng làm cho sinh động. Và chính con người toàn diện được đặt định trở nên đền thờ Chúa Thánh Thần, trong Thân Thể Chúa Ki-tô
( x. 1Cr 6,19-20; 15, 44 - 45).

2289.   Tuy gồm xác và hồn, nhưng là một thực thể duy nhất, con người, nhờ có thể xác, qui tụ nơi mình những yếu tố thuộc thế giới vật chất. Nơi con người, các yếu tố ấy đạt tới tuyệt đỉnh của chúng và có thể tự do dâng lời ca tụng Đấng Tạo Hóa. Vậy con người không được khinh miệt đời sống thể xác, nhưng trái lại, con người phải coi thân xác mình là tốt đẹp và đáng tôn trọng vì thân xác ấy do Thiên Chúa tạo dựng và phải được sống lại ngày sau hết ( GS 14,1).

365.     Sự thống nhất xác hồn thâm sâu đến độ ta phải coi linh hồn như là "mô thể" của thân xác ( x. Cđ Vienne 1312: DS 902); nghĩa là, nhờ linh hồn thiêng liêng mà thân xác được cấu tạo từ vật chất, thành một thân xác của con người sống động. Trong con người, tinh thần và vật chất không phải là hai bản tính được nối kết lại, nhưng sự kết hợp của chúng tạo thành một bản tính duy nhất.

366 1005 997. Hội Thánh dạy rằng mỗi linh hồn thiêng liêng được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng ( x. Pi-ô XII,trong. "Humani Generis",1950: DS 3896;SPF 8 ) chứ không phải do cha mẹ "sản sinh": Hội Thánh cũng dạy rằng, linh hồn bất tử ( x. Cđ La-tran năm. 1513; DS 1440), không hư mất khi lìa khỏi xác trong giờ chết, và sẽ tái hợp trở lại với thân xác trong ngày phục sinh cánh chung.

367 2083.        Đôi khi linh hồn được phân biệt với tinh thần. Thánh Phao-lô cầu nguyện để "trọn con người chúng ta: tinh thần, linh hồn và thân xác" được hồng ân nâng đỡ, giữ gìn, không có điều gì đáng chê trách vào ngày Chúa Quang Lâm (1Th 5,23). Hội Thánh dạyrằng sự phân biệt này không đem lại sự nhị phân trong linh hồn ( x. Cđ Con-tan-ti-nô-pô-li IV năm 870: DS 657). Thuật ngữ "tinh thần" muốn nói là con người, ngay từ khi tạo dựng, đã được Thiên Chúa qui hướng về cùng đích siêu nhiên ( x. Cđ Va-ti-can I:DS 3005;x.GS 22,5), và linh hồn nhờ ơn sủng được nâng lên để kết hợp với Người (x. Pi-ô XII, Enc "Humari Generis", 1950; DS 3891).

368 478, 582 1431, 1764 2517,2562. Truyền thống linh đạo của Hội Thánh cũng nhấn mạnh đến tim. Theo nghĩa Kinh Thánh, tim là "đáy lòng con người" (Gr 31,33), từ nơi đó họ sẽ quyết định chọn Thiên Chúa hay không ( x. Dt 6,5; 29,3; Is 29,13; Ed 36,26; Mt 6,21; Lc 8,15; Rm 5,5).

III."THIÊN CHÚA SÁNG TẠO CON NGƯỜI CÓ NAM CÓ NỮ"

Thiên Chúa muốn có sự bình đẳng và khác nhau

369.     Người nam và người nữ được sáng tạo, nghĩa là họ hiện hữu do ý muốn của Thiên Chúa : một mặt họ hoàn toàn bình đẳng với tư cách là những nhân vị; mặt khác, họ là nam và là nữ theo cách hiện hữu riêng. "Là nam", "là nữ" đều là thực tại tốt lành do ý muốn của Thiên Chúa : người nam và người nữ có một phẩm giá không thể mất được, do Thiên Chúa, Đấng Sáng Tạo trực tiếp ban cho ( x. St 2,7.22). Người nam và người nữ có cùng một phẩm giá "là hình ảnh của Thiên Chúa". "Là người nam" hay "là người nữ", họ đều phản ánh sự khôn ngoan và sự tốt lành nhân hậu của Đấng Sáng Tạo .

370 42, 239.    Đừng diễn tả Thiên Chúa theo hình ảnh loài người. Người không là nam, cũng không là nữ. Thiên Chúa thuần linh, không có sự phân biệt phái tính. Những "nét hoàn hảo" của người nam và người nữ, của người me ( x. Is 49,14-15; 66,13; Tv 131,2-3), người cha, của đôi vợ chồng ( x. Hs 11,1-4; Gr 3,4-19) phản ánh phần nào sự trọn hảo vô biên của Thiên Chúa.

"Cho nhau" _ "Tuy hai mà một"

371 1605.        Khi tạo dựng con người "có nam có nữ", Thiên Chúa muốn họ sống cho nhau. Chúng ta biết điều này qua một số câu Sách Thánh : "Người nam ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó" (St 2,18). Không một con vật nào có thể tương xứng với con người (St 2,19-20). Thiên Chúa lấy xương sườn người nam tạo thành người nữ và dẫn đến cho người nam; vừa trông thấy người nữ, người nam phải thốt lên một tiếng thán phục, một lời reo mừng đầy yêu thương và thông hiệp : "Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi" (St 2,23). Người nam nhận ra người nữ như một " cái tôi" khác, một đồng loại.

372 1652,2366.           Người nam, và người nữ được tạo dựng "cho nhau": không phải Thiên Chúa đã sáng tạo họ "chỉ có một nửa" hay "không đầy đủ " nhưng tạo dựng họ để hiệp thông với nhau, để mỗi người có thể thành "trợ tá" cho nhau; vì một đàng, họ là những con người bình đẳng với nhau ("xương của xương tôi...") và đàng khác, bổ túc cho nhau vì là nam và là nữ. Trong hôn nhân, Thiên Chúa kết hợp họ, để khi thành"một xương một thịt" (St 2,24), họ có thể truyền lại sự sống con người : " Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, cho đầy mặt đất" ( St 1,28). Khi truyền lại sự sống con người cho dòng dõi mình, người nam và người nữ với tư cách là vợ chồng và cha mẹ, cộng tác một cách độc đáo vào công trình của Đấng Sáng Tạo (GS 50,1).

373 307 2415.             Theo ý định của Thiên Chúa, người nam và người nữ được đặt "làm chủ" trái đất (St 1,28) như những "người quản lý" của Thiên Chúa. Quyền làm chủ này không được trở thành một sự thống trị độc đoán và phá hoại. Vì là hình ảnh của Đấng Sáng Tạo, "Đấng yêu thương tất cả những gì hiện hữu"(Kn 11,24), người nam và người nữ được gọi tham dự vào sự quan phòng của Thiên Chúa đối với các thụ tạo khác. Do đó, họ có trách nhiệm với thế giới mà Thiên Chúa giao phó cho họ.

IV. CON NGƯỜI TRONG VƯỜN ĐỊA ĐÀNG

374 54.            Con người đầu tiên không phải chỉ được sáng tạo tốt lành mà thôi, nhưng còn được đặt trong tình thân với Đấng Tạo Hóa, hài hòa với chính mình và với vạn vật xung quanh. Tình thân và sự hài hòa này chỉ thua kém vinh quang của sáng tạo mới trong Đức Ki-tô.

375 1997.        Khi dùng quyền giải thích một cách chân chính ngôn ngữ biểu tượng của Thánh Kinh dưới ánh sáng Tân Ước và Truyền Thống Hội Thánh, Hội Thánh dạy rằng : nguyên tổ A-đam và E-và đã được sáng tạo trong một tình trạng "thánh thiện và công chính nguyên thủy" ( x. Cđ Tren-te: DS 1511). Sự thánh thiện nguyên thủy ấy là "ơn được tham dự vào sự sống của Thiên Chúa"( LG 2).

376 1008, 1502.          Mọi chiều kích của đời sống con người được củng cố nhờ sự chiếu tỏa ân sủng này. Bao lâu còn sống mật thiết với Thiên Chúa, con người sẽ không phải chết ( x.St 2,17; 3,19), cũng không phải đau khổ ( x.St 3,16). Sự hài hòa nội tâm nơi mỗi con người, sự hài hòa giữa người nam và người nữ ( x.St 2,25 ), sau hết sự hài hòa giữa đôi vợ chồng đầu tiên với toàn thể vạn vật, tạo nên tình trạng được gọi là "sự công chính nguyên thủy".

377 2514.        Quyền làm chủ trái đất mà Thiên Chúa đã ban cho con người ngay từ thuở ban đầu, được thực hiện trước tiên nơi con người, là việc làm chủ chính bản thân mình. Con người còn nguyên tuyền và hài hòa trong chính bản thân, vì còn tự do đối với ba thứ dục tình thường làm con người nô lệ các lạc thú của giác quan, sự ham mê của cải thế gian và đề cao "cái tôi" bất chấp những đòi hỏi của lý trí.

378 2415, 2427.          Dấu hiệu của sự thân thiện với Thiên Chúa là việc đặt con người trong vườn địa đàng ( x. St 2,8). Con người sống ở đó "để canh tác và canh gìn giữ đất đai"(St 2,15). Lao động không phải là một hình khổ ( x. St 3,17-19), nhưng là sự cộng tác của người nam và người nữ với Thiên Chúa trong việc kiện toàn vạn vật hữu hình.

379.     Đó là tất cả sự hài hòa của tình trạng công chính nguyên thủy mà ý định của Thiên Chúa đã dành sẵn cho con người. Sự hài hòa này sẽ mất đi vì tội của nguyên tổ chúng ta.

TÓM LƯỢC

380.     "Lạy Cha, Cha đã dựng nên con người giống hình ảnh Cha, và giao cho họ trách nhiệm trông coi vũ trụ, để khi phụng sự một mình Cha là Đấng tạo hóa, con người làm chủ mọi loài thọ sinh" ( MR, kinh Tạ ơn IV, 118) .

381.     Con người được tiền định để họa lại hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người - "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình" ( Cl 1,15) hầu Chúa Ki-tô trở nên trưởng tử của muôn vàn anh chị em ( x. Ep 1,3-6; Rm 8,29).

382.     Con người là "một thực thể đơn nhất gồm hồn và xác" (GS 14,1). Giáo lý đức tin khẳng định : linh hồn thiêng liêng và bất tử, được Thiên Chúa trực tiếp sáng tạo .

383.     "Thiên Chúa không tạo dựng con người đơn độc : từ khởi nguyên, "Người đã tạo nên họ có nam có nữ" (St 1,27); sự liên kết giữa họ đã tạo nên xã hội đầu tiên của con người” (GS 12,4).

384.     Mặc khải cho chúng ta biết tình trạng thánh thiện và công chính nguyên thủy của người nam và người nữ trước khi phạm tội: cuộc sống hạnh phúc của con người trong vườn địa đàng bắt nguồn từ tình thân với Thiên Chúa.

TIẾT 7:  SA NGÃ

385 309 457 1848 539.           Thiên Chúa vô cùng tốt lành nên mọi công trình của Người đều tốt đẹp. Tuy nhiên, không ai thoát được kinh nghiệm về đau khổ, về những sự dữ trong thiên nhiên, những sự dữ này hình như gắn liền với các giới hạn riêng của loài thụ tạo, và nhất là sự dữ luân lý. Sự dữ từ đâu đến? Thánh Âu-tinh nói : "Tôi đã tìm căn nguyên của sự dữ và tôi không thấy có giải đáp nào" ( x. Conf 7,7,ll), và cuộc tìm kiếm đau thương của thánh nhân chỉ tìm được lối thoát lúc người hoán cải trở về với Thiên Chúa hằng sống. Vì "mầu nhiệm của sự gian ác" (2 Tx 2,7) chỉ được sáng tỏ qua "mầu nhiệm của lòng thành tín" (l Tm 3,l6). Tình yêu của Thiên Chúa được mặc khải trong Đức Ki-tô đã biểu lộ một trật cả trương độ của sự dữ và sự vĩ đại của ân sủng (x. Rm 5,20). Vậy chúng ta phải nghiệm xét vấn đề căn nguyên sự dữ với đôi mắt đức tin hướng về Đấng duy nhất đã chiến thắng nó (x. Lc.ll,2l-22; Ga l6,ll; lGa 3,8).

I. NƠI ĐÂU TỘI LỖI NGẬP TRÀN, Ở ĐẤY CHỨA CHAN ÂN SỦNG

Thực tại của tội lỗi

386 1847.        Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người. Thật là vô ích khi kiếm cách làm ngơ hoặc tránh né thực tại bi đát này bằng cách gán cho nó những tên khác. Muốn hiểu tội là gì, trước tiên phải nhận chân mối tương quan mật thiết giữa con người với Thiên Chúa. Bởi vì, ngoài mối tương quan đó, chúng ta không thể hiểu căn tính đích thực của tội là chối bỏ và chống đối Thiên Chúa, cho dù tội lỗi vẫn đè nặng trên đời sống và lịch sử của con người.

387 1848 1739.           Thực tại của tội lỗi, nhất là của nguyên tội, chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng mặc khải của Thiên Chúa. Mặc khải này giúp ta nhận biết Thiên Chúa; không có mặc khải này ta không thể nhận chân tội lỗi là gì và sẽ tìm cách giải thích nó như một khiếm khuyết trong quá trình phát triển, một nhược điểm tâm lý, một sai lầm hoặc là hậu quả tất yếu của một cơ cấu xã hội không tương xứng v.v... Chỉ khi nào nhận biết được ý định của Thiên Chúa về con người, lúc đó người ta mới hiểu tội là lạm dụng sự tự do Chúa ban cho con người được sáng tạo để yêu mến Chúa và yêu mến nhau.

Tội Nguyên tội - một chân lý chính yếu của đức tin

388 431 208 359 729. Qua quá trình mặc khải, người ta hiểu rõ thực tại của tội hơn. Mặc dầu trong Cựu ước, dân Thiên Chúa đã đề cập đến thân phận đau thương của kiếp người qua ánh sáng lịch sử của sự sa ngã được thuật lại trong sách Sáng Thế, họ vẫn không thể nắm bắt được ý nghĩa tối hậu của lịch sử đó; lịch sử này chỉ được bày tỏ trong ánh sáng của sự chết và phục sinh của Đức Giê-su Ki-tô mà thôi. Phải biết Đức Ki-tô là nguồn ân sủng mới nhận ra A-đam là căn nguyên của tội lỗi. Được Đức Ki-tô Phục sinh cử đến, Chúa Thánh Thần - Đấng Bào Chữa đã "tố cáo tội lỗi thế gian" (Ga l6,8) bằng cách mặc khải Đấng Chuộc Tội.

389 422.          Có thể nói giáo lý về nguyên tội là "mặt trái" của Tin Mừng loan truyền Đức Giê-su là Đấng Cứu thế, mọi người đều cần được cứu độ và ơn cứu độ được ban cho tất cả nhờ Đức Ki-tô.Nhờ có cảm thức về Đức Ki-tô ( x. lCr.2,16), Hội Thánh biết rõ không thể động chạm đến mặc khải về nguyên tội mà không động chạm đến Mầu Nhiệm Đức Ki-tô.

Để hiểu trình thuật về sự sa ngã

390 289.          Trình thuật về sự sa ngã (St 3) sử dụng một ngôn ngữ tượng hình, nhưng xác định một biến cố hàng đầu xảy ra vào thời khởi nguyên lịch sử nhân loại(x.GS 13,1). Mặc khải giúp chúng ta xác tín rằng tất cả lịch sử nhân loại đều mang dấu tích nguyên tội mà nguyên tổ đã cố tình phạm ( x. Cđ. Tren-tô: DS 1513 ; Pi-ô XII; DS 3897; Phao-lô VI bài giảng 11/7/ 1966).

II.  SA NGÃ CỦA CÁC THIÊN THẦN

391 2538.        Đằng sau sự lựa chọn bất tuân của các nguyên tổ có một tiếng gọi quyến rũ chống lại Thiên Chúa ( x. St 3,1-5), vì ganh tị với con người, đã đưa nguyên tổ sa vào cõi chết ( x. St 2,24). Thánh Kinh và Truyền Thống của Hội Thánh đã cho nhân vật đó là một thiên thần sa ngã gọi là Xa-tan hay ma quỷ ( x.Ga 8,44; Kh 12,9). Hội Thánh dạy rằng thoạt đầu đó là một thiên thần tốt do Thiên Chúa tác tạo. "Chắc chắn quỷ dữ và các thứ ma quỷ khác đều được Thiên Chúa sáng tạo với bản tính tốt lành, nhưng tự chúng đã trở nên xấu" ( x. Cđ. La-tran IV năm 1215 : DS 800).

392 1850 2482.           Kinh Thánh có nói đến một tội của các thiên thần này ( x. 2Pr 2,4). Việc sa ngã là do các thụ tạo thuần linh ấy đã tự do chọn lựa từ chối Thiên Chúa và Vương Triều của Người cách triệt để và dứt khoát. Cuộc nổi loạn này được phản ánh trong lời của tên cám dỗ nói với các nguyên tổ : "Các người sẽ trở nên như Thiên Chúa" (St 3, 5). Ma quỷ là kẻ "phạm tội ngay từ thuở sơ khai" (1 Ga 3,8), là "cha sự dối trá"
(Ga 8,44).

393 1033- 1037 1022. Không phải vì Thiên Chúa thiếu lòng thương xót nhưng vì các thiên thần ấy đã chọn lựa dứt khoát, cho nên tội của họ không thể tha thứ được. "Sau khi sa ngã, các thiên thần không còn có thể hối cải, cũng như con người không thể ăn năn sám hối sau khi chết" (T.Gio-an Đa-ma-sô f.o.2,4).

394 538- 540 550 2846- 2849.            Thánh Kinh xác nhận ảnh hưởng tai hại của kẻ mà Đức Giê-su gọi là "tên sát nhân ngay từ lúc sơ khai"(Ga 8, 44), kẻ đã xúi giục Người bỏ sứ mệnh Chúa Cha trao phó ( x. Mt 4,1-11). "Sở dĩ Con Thiên Chúa xuất hiện là để phá hủy công việc của ma quỷ" ( 1 Ga 3,8). Điều tai hại nhất trong các công việc của ma quỷ là dùng sự dối trá để quyến rũ con người bất tuân Thiên Chúa.

395 309 1673 412, 2850- 2854.          Thế nhưng sức mạnh của Xa-tan không phải là vô hạn. Nó chỉ là một thụ tạo, có sức mạnh vì là thuần linh nhưng vẫn là thụ tạo: nó không thể ngăn chặn công trình xây dựng Vương Triều của Thiên Chúa. Xa-tan hành động nơi trần thế do thù hận Thiên Chúa và Vương Quốc Người được thiết lập trong Đức Giê-su Ki-tô. Hành động đó gây tác hại rất nghiêm trọng về mặt tinh thần và gián tiếp cả về mặt thể lý, nơi mỗi người và nơi xã hội; hành động ấy được Chúa quan phòng để cho xảy ra, Người là Đấng điều khiển lịch sử loài người và thế giới cách mạnh mẽ mà cũng rất dịu dàng. Việc Chúa để cho ma quỷ hành động quả là một mầu nhiệm lớn, nhưng "chúng ta biết rằng : Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người" ( Rm 8, 28).

III. TỘI NGUYÊN TỔ

Thiên Chúa thử thách tự do của con người

396 1730, 311 301.     Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Ngài và cho họ sống trong tình thân với Người. Là một thụ tạo tinh thần, con người chỉ có thể sống tình thân đó khi tự do tùng phục Thiên Chúa. Điều đó được diễn tả trong lệnh cấm con người ăn trái cây biết lành, biết dữ "vì ngày ngươi ăn nó, ngươi sẽ chết" (St 2, 17). "Cây biết lành biết dữ" (St 2, 17) nói lên một cách biểu tượng ranh giới mà con người là thụ tạo không thể vượt qua nhưng phải tự ý nhìn nhận và tôn trọng với lòng tín thác. Con người tùy thuộc vào Đấng Sáng Tạo, phải tuân theo các định luật tự nhiên và các tiêu chuẩn luân lý qui định việc sử dụng tự do.

Tội đầu tiên của con người

397 1707,2541 1850 215.       Con người bị ma quỷ cám dỗ, đã đánh mất lòng tín thác vào Đấng Sáng Tạo, và khi lạm dụng sự tự do, con người đã bất tuân mệnh lệnh của Thiên Chúa. Đó là tội đầu tiên của con người ( x. Rm 5,l9). Từ đó mọi tội lỗi đều là do bất tuân Thiên Chúa và thiếu tín thác vào lòng nhân hậu của Người.

398 2084 2113.           Trong tội này, con người đã chọn chính mình thay vì Thiên Chúa và do đó đã khinh mạn Thiên Chúa: Con người đã chọn mình bất chấp Thiên Chúa, bất chấp những đòi hỏi của tình trạng thụ tạo và do đó bất chấp cả điều tốt lành cho bản thân . Khi tác thành con người trong tình trạng thánh thiện, Thiên Chúa đã dành sẵn ơn "thần hóa" sung mãn trong vinh quang. Do ma quỷ cám dổ, con người đã muốn "nên như Thiên Chúa" ( x. St 3,5) mà "không cần Thiên Chúa, qua mặt cả Thiên Chúa, và không theo Thiên Chúa" ( Th: Niaxime le Confesseur, ambig).

399.     Kinh Thánh cho thấy những hậu quả bi đát của sự bất tuân đầu tiên đó. A-đam và E-và đã tức khắc đánh mất sự thánh thiện nguyên thủy ( x. Rm 3,23). Họ sợ hãi trước vị Thiên Chúa ( x. St 3,9-l0) mà họ quan niệm cách sai lệch, như một Thiên Chúa ganh tị, sợ mất các đặc quyền của mình ( x. St 3,5).

400 1607 2514, 602, 1008.     Trước kia nguyên tổ sống trong sự hài hòa do tình trạng công chính nguyên thủy, nay tội đã phá hủy sự hài hòa đó, làm cho những khả năng điều khiển của linh hồn trên thể xác bị thương tổn ( x. St 3,7); sự kết hợp nam nữ trở nên căng thẳng ( x. St 3,11-13); mối quan hệ giữa họ đầy những ham muốn và thống trị ( x. St 3,16). Sự hài hòa với vạn vật bị phá vỡ : thế giới hữu hình trở nên xa lạ và thù nghịch với con người ( x. St 3,17-19). Vì con người, muôn loài đã "lâm vào cảnh hư ảo" (Rm 8, 20). Cuối cùng, hậu quả đã được báo trước rõ ràng cho tội bất tuân, nay thành hiện thực : "Con người là tro bụi sẽ trở về bụi tro" (St 3,19). Sự chết đã xâm nhập vào lịch sử nhân loại ( x. Rm 5,l2) .

401 1865, 2259 1799. Từ tội đầu tiên này cả trần thế bị chìm trong tội lỗi: huynh đệ tương tàn, khởi đầu là Ca-in giết A-ben (St 4,3-15); tiếp đến là sự sa đọa của cả loài người; cũng vậy, trong lịch sử Ít-ra-en, tội thường xuyên xuất hiện, nhất là dưới dạng bất trung với Thiên Chúa Giao Ước và sự vi phạm luật Mô-sê; cả sau biến cố cứu độ của Đức Ki-tô, tội xuất hiện dưới nhiều dạng ngay giữa người Ki-tô hữu (x. 1Cr 1-6; Kh 2-3). Thánh Kinh và truyền thống Hội Thánh không ngừng nhắc nhở tội hiện diện khắp nơi trong lịch sử loài người :

Điều Thiên Chúa mặc khải cho ta biết, cũng được kinh nghiệm của ta xác nhận. Bởi vì nếu nhìn sâu tận đáy lòng, con người cũng khám phá ra mình hướng về sự dữ, và ngụp lặn trong muôn vàn sự dữ là những điều không thể xuất phát từ Đấng Tạo Hóa tốt lành . Nhiều khi từ chối không nhìn nhận Thiên Chúa như nguyên uỷ của mình, con người cũng đã phá đổ trật tự phải có để đạt tới cùng đích tối hậu, đồng thời phá vỡ mọi hòa hợp nơi chính bản thân cũng như đối với những người khác và với mọi loài thụ tạo (GS 13,1).

Hậu quả của tội A-đam trên nhân loại

402 430, 605.  Mọi người đều liên lụy với tội A-đam. Thánh Phao-lô khẳng định : "Do một người bất tuân, muôn người (nghĩa là mọi người) đã mang tội" (Rm 5,19): "Cũng như vì một người duy nhất, mà tội lỗi đã xâm nhập trần gian, và tội lỗi đã gây nên sự chết. Như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người, bởi vì mọi người đã phạm tội" (Rm 15, 12). Thánh tông đồ đối chiếu tính phổ quát của tội lỗi và sự chết với tính phổ quát của ơn cứu độ trong Đức Ki-tô : "Cũng như vì một người duy nhất đã sa ngã mà mọi người bị kết án, thì nhờ một người duy nhất đã thực hiện lẽ công chính, mọi người cũng được làm cho nên công chính, nghĩa là được sống" (Rm 5,18).

403 2606 1250.           Theo chân thánh Phao-lô, Hội Thánh luôn dạy rằng chúng ta không thể hiểu được nỗi khốn khổ lớn lao đang đè nén con người cũng như việc họ hướng chiều về sự dữ và sự chết, nếu không nối kết chúng với tội A-đam và việc nguyên tổ đã truyền lại cho chúng ta một tội mà mỗi người phải mang lấy từ khi sinh ra và tội này là "cái chết của linh hồn" ( x. Cđ Tren-tô; DS. 152). Với xác tín do đức tin này, Hội Thánh ban phép Thánh Tẩy để tha tội cho cả những trẻ em chưa từng phạm tội riêng ( x. Cđ Tren-tô : DS 1514).

404 360 50.     Bằng cách nào tội A-đam đã trở nên tội của cả nhân loại ? Toàn thể nhân loại đều ở trong A-đam "như một thân thể duy nhất của một con người duy nhất" ( T.Tô-ma A-qui-nô, mal 4-l). Do "thể thống nhất của nhân loại", mọi người đều liên lụy với tội A-đam, cũng như đồng hưởng sự công chính của Đức Ki-tô. Tuy nhiên, việc lưu truyền nguyên tội là một mầu nhiệm mà chúng ta không thể hiểu thấu trọn vẹn. Nhưng nhờ mặc khải chúng ta biết rằng A-đam đã được hưởng nhận sự thánh thiện và công chính không phải cho riêng mình, mà cho cả bản tính nhân loại : khi chiều theo cám dỗ, A-đam và E-và phạm tội với tính cách cá nhân nhưng tội đó ảnh hưởng đến cả bản tính con người mà nguyên tổ đã truyền lại trong tình trạng sa đọa ( x. Cđ Tren-tô: DS.1511-1512). Tội đó đã truyền lại cho hết nhân loại qua sinh sản nghĩa là truyền lại một bản tính loài người đã mất sự thánh thiện và công chính nguyên thuỷ. Do đó, nguyên tội được gọi là "tội" do loại suy : đó là một thứ tội con người bị "nhiễm" chứ không phải đã "phạm"; một tình trạng, chứ không phải một hành vi.

405 2515 1264.           Tội ấy mặc dầu truyền đến mỗi người ( x. Cđ Tren-tô: DS.1513), nhưng không hề mang tính cách một tội riêng nơi bất kỳ ai trong con cháu A-đam. Nguyên tội làm mất đi sự thánh thiện và công chính ban đầu, nhưng không làm hư hoại hoàn toàn bản tính loài người : Bản tính loài người chỉ bị thương tổn trong các khả năng tự nhiên, bị lâm cảnh mê muội, đau khổ và phải chết, ( hướng chiều về tội lỗi, hướng chiều này được gọi là "vật dục"). Khi ban cho con người đời sống ân sủng của Đức Ki-tô, bí tích Thánh Tẩy cũng xóa bỏ nguyên tội và quy hướng con người về Thiên Chúa; nhưng hậu quả của nguyên tội trên bản tính bị suy yếu và nghiêng chiều về sự dữ, vẫn tồn tại nơi con người và đòi buộc con người phải chiến đấu luôn mãi.

406.     Giáo lý của Hội Thánh về sự lưu truyền nguyên tội đã được minh định, vào thế kỷ V, đặc biệt là qua tư duy của Thánh Âu-tinh chống lại giáo thuyết Pélagiô, và vào thế kỷ XVI, chống lại cuộc cải cách Tin Lành. Theo Pélagiô, với khả năng tự nhiên của ý chí tự do, con người không cần ơn Thiên Chúa trợ giúp cũng có thể sống tốt lành về mặt luân lý. Ông giản lược ảnh hưởng tội A-đam thành ảnh hưởng của một gương xấu. Ngược lại, những nhà Cải Cách đầu tiên chủ trương nguyên tội đã làm con người hoàn toàn sa đọa và tiêu hủy sự tự do của con người; họ đồng hóa tội truyền đến mỗi người với xu hướng về sự dữ mà họ cho là không thể khắc phục được. Hội Thánh làm nổi bật ý nghĩa công bố đã xác định nội dung mặc khải về nguyên tội đặc biệt tại công đồng Orange II năm 529 ( DS 371-372) và Công Đồng Tren-tô năm 1546 (x.DS 1510-1516).

Một cuộc chiến cam go…

407 2015 2852 1888.  Giáo lý về nguyên tội gắn liền với giáo lý về ơn cứu chuộc nhờ Đức Ki-tô, giúp ta biết nhận định sáng suốt về hoàn cảnh và hành động của con người nơi trần thế. Vì nguyên tổ phạm tội, ma quỷ đã phần nào thống trị trên con người, mặc dầu con người vẫn còn tự do. Hậu quả của nguyên tội là con người phải làm nô lệ dưới quyền kẻ bá chủ sự chết là ma quỉ ( x. Cđ Tren-tô : x.DS.1511 - Dt 2,l4). Nếu không biết bản tính con người đã bị thương tổn, nghiêng chiều về sự dữ, người ta có nguy cơ mắc phải những lầm lẫn nghiêm trọng trong lãnh vực giáo dục, chính trị, hoạt động xã hội ( x. CA 25) và luân lý.

408 1865.        Các hậu quả của nguyên tội và của tất cả các tội riêng của con người đưa toàn bộ thế giới vào một tình trạng tội lỗi mà chúng ta có thể dùng cách nói của Thánh Gio-an để diễn tả : "tội trần gian" (Ga l,29). Với thành ngữ này, người ta muốn nhấn mạnh ảnh hưởng tiêu cực trên con người do các hoàn cảnh và cơ cấu xã hội, vốn là hậu quả của những tội lỗi ( x. RP l6).

409 2516.        Hoàn cảnh bi đát của trần thế "nằm dưới ách thống trị của ác thần" (1Ga 5,19) ( x. 1Pr 5,8) làm cho cuộc sống con người trở nên một cuộc chiến đấu.

Một cuộc chiến cam go chống lại quyền lực bóng tối tiếp diễn suốt trong lịch sử nhân loại; khởi đầu từ lúc khai nguyên và sẽ kéo dài đến ngày cuối cùng như Lời Chúa phán... Dấn thân vào cuộc chiến này, con người phải luôn luôn chiến đấu để gắn bó với sự thiện và chỉ đạt được sự thống nhất nội tâm, sau khi hết sức cố gắng với sự trợ giúp của ơn Chúa (x. GS 37,2 ).

IV. "THIÊN CHÚA ĐÃ KHÔNG BỎ MẶC CON NGƯỜI DƯỚI QUYỀN SỰ CHẾT"

410 55, 705 1609, 2568 675.  Sau khi sa ngã, con người không bị Thiên Chúa bỏ rơi. Ngược lại, Thiên Chúa kêu mời con người và tiên báo cách huyền nhiệm sự dữ sẽ bị đánh bại và con người sa ngã sẽ được nâng dậy. Đoạn này trong sách Sáng Thế được gọi là "Tiền Tin Mừng" vì đó là lời loan báo đầu tiên về Đấng Mê-si-a cứu chuộc, về cuộc chiến đấu giữa con rắn và người nữ và về chiến thắng cuối cùng của một hậu duệ người nữ này.

411 359,615 491.        Truyền thống Ki-tô giáo nhận ra trong đoạn trên lời tiên báo một "A-đam mới" (x. 1Cr.15,21-22.45), Đấng "vâng phục cho đến chết trên thập giá" (Pl 2,8), đã sửa lại sự bất tuân của A-đam mà còn mang lại ân sủng tràn đầy. Vả lại, có nhiều giáo phụ và tiến sĩ Hội Thánh nhận ra Đức Ma-ri-a, Mẹ Đức Ki-tô, là người nữ được tiên báo trong Tiền Tin Mừng và được xem như "E-và mới". Mẹ là người đầu tiên đã thừa hưởng một cách độc nhất vô nhị chiến thắng của Đức Ki-tô trên tội lỗi : Mẹ đã không hề nhiễm vết nhơ nguyên tội (x. Pi-ô IX - DS 28O3) và nhờ ân sủng đặc biệt của Thiên Chúa, Mẹ đã không hề phạm một tội nào trong suốt cuộc đời trần thế (Cđ Tren-tô. DS.1573).

412 310, 395 272 1994.          Nhưng tại sao Thiên Chúa lại không ngăn cản con người đầu tiên phạm tội ? Thánh Lê-ô Cả trả lời : "Ân sủng khôn tả của Đức Ki-tô, đem lại cho ta những điều tốt đẹp hơn những gì mà vì ganh ghét ma quỉ đã cướp mất" (Bài giảng 73,4), và thánh Tô-ma A-qui-nô cũng nói : "Sau khi con người đã phạm tội, không có gì ngăn cản bản tính loài người đượchướng về một cứu cánh cao đẹp hơn". Thiên Chúa cho phép sự dữ xảy ra để từ sự dữ rút ra sự lành tốt hơn. Do đó, thánh Phao-lô nói : "Ở đâu tội lỗi ngập tràn, ở đấy ân sủng cũng được thông ban dư dật" (Rm 5,20); và Hội Thánh hoan ca khi chúc lành nến Phục Sinh : "Nguyên tội hỡi, tội hoá thành hồng phúc, nhờ có ngươi, ta mới được Đấng Cứu Tinh cao cả dường này" (T.Tôma S.th III,1,3 ad 3).

TÓM LƯỢC

413.     "Thiên Chúa không tạo ra sự chết. Người chẳng vui thích gì khi các sinh linh hư mất ...Cái chết đã xâm nhập vào trần thế do lòng ghen ghét của ma quỷ (Kn 1,13; 2,24)".

414.     Sa-tan hoặc ma quỉ và các ác thần khác là những thiên thần sa đọa vì đã tự ý khước từ phục vụ Thiên Chúa và ý định của Người. Đây là một lựa chọn dứt khoát chống lại Thiên Chuá. Chúng đã có dụng ý lôi kéo con người cùng với chúng nổi loạn chống lại Thiên Chúa.

415.     "Được Thiên Chúa đặt trong tình trạng thánh thiện, ngay từ phút đầu của lịch sử, con người nghe theo thần dữ nên đã lạm dụng tự do của mình khi nổi dậy chống lại Thiên Chúa và muốn đạt tới cứu cánh của mình ngoài Thiên Chúa"
(GS l3,1) .

416.     A-đam, con người đầu tiên, vì phạm tội đã đánh mất sự thánh thiện và công chính nguyên thủy được Thiên Chúa ban, không những cho mình mà cho cả nhân loại.

417.     A-đam và E-và đã truyền lại cho hậu duệ một nhân tính bị tội đầu tiên làm tổn thương, không còn sự thánh thiện và công chính nguyên thủy. Sự mất mát đó được gọi là "nguyên tội".

418.     Hậu quả của nguyên tội là bản tính loài người bị suy yếu trong các khả năng, lâm cảnh mê muội, bị sự chết thống trị, hướng chiều về tội lỗi (hướng chiều này gọi là "vật dục") và như thế, mỗi người đều mắc nguyên tội.

419.     "Cùng với Công Đồng Tren-tô chúng tôi xác quyết nguyên tội được lưu truyền lại cùng với bản tính nhân loại "không phải do bắt chước mà do sinh sản" và từ đó, nguyên tội trở nên của mỗi người" (SPF 16).

420.     Đức Ki-tô chiến thắng tội lỗi đã mang lại cho chúng ta những ân huệ cao đẹp hơn những gì tội lỗi đã làm mất đi : "Ở đâu tội lỗi ngập tràn, ở đấy ân sủng được thông ban dư đầy" (Rm 5,2O).

421.     "Người Ki-tô hữu tin rằng thế giới này đã được thiết lập và giữ gìn nhờ tình yêu của Đấng Sáng Tạo, tác thành và bảo trì. Thế giới ấy đã rơi vào ách nô lệ tội lỗi; nhưng Đức Ki-tô đã nhờ cuộc khổ nạn và phục sinh bẻ gẫy uy quyền của ác thần và giải thoát thế giới" (GS 2,2)

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tgmvl