BÀI LỜI CHÚA 70 BIS
HÃY NGHE NGÀI!
Trích Tin Mừng Thánh Matthêu, 17.1-8
Sáu ngày sau khi Đức Giêsu được Phêrô tuyên xưng Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Đức Giêsu trở lại xứ Ga-li-lê. Sau hai ngày hành trình, chiều hôm ấy, Ngài cùng môn đồ đến chân đồi Ta-bor. Để các môn đồ khác nghỉ ngơi dưới đồng bằng, Ngài dẫn theo ba môn đồ đặc tuyển: Phêrô, Giacôbê và Gioan, em ông, lẩn theo các đường ngoằn ngoèo dốc, đến đỉnh đồi, rồi Ngài bắt đầu đắm mình vào cuộc nói chuyện với Chúa Cha. Còn các môn đồ, vì quá mệt mỏi, nên đã nằm xuống ngủ. Bỗng chốc, một cảnh tượng lạ lùng xảy ra: Con Thiên Chúa để lộ sự sáng láng vinh hiển, mà bình thường Ngài vẫn giấu kín để sống như một người giữa mọi người. Lập tức, Ngài biến hình trước mắt họ: mặt Ngài sáng chói như mặt trời, áo Ngài nên trắng phau như tuyết. Có hai nhân vật uy nghi hiện ra bên Ngài và cùng Ngài đàm đạo. Đó là ông Môsê và Ê-ly-a. Các môn đồ dụi mắt và vô cùng bối rối, bỡ ngỡ... Phêrô thảng thốt kêu lên:
- Thưa Ngài, may quá có chúng tôi ở đây! Nếu Ngài muốn, chúng tôi sẽ dựng ba lều cho ba Ngài.
Ông còn đang nói như trong mơ, thì xảy ra có một đám mây sáng ngời rợp bóng bao phủ ba vị, và một tiếng từ đám mây phán rằng:
- Ngài là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe lời Ngài!
Vừa nghe, các môn đồ sợ quá, ngã sấp mặt xuống đất. Nhưng, ngay sau đó, Đức Giêsu đến gần họ và giơ tay đụng đến họ mà nói:
- Hãy chỗi dậy! Đừng sợ!
Họ ngẩng mặt lên, và chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu thôi.
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Thiên Chúa giới thiệu cho chúng ta thấy một Đức Giêsu uy nghi, sáng láng, vinh hiển đến chừng nào! Có phải để chúng ta đâm sợ hãi không? Không phải! Hay để chúng ta chiêm ngắm cho thích mắt? Cũng không phải! Vậy để làm gì? Để ta đặt hết niềm tin tưởng vào Ngài. Vì thế, Chúa Cha phán dạy: Nếu các con tin tưởng hết tình nơi Ngài, là Chúa của chúng con, thì hãy nghe lời Ngài! Để ta thấy Đức Giêsu đáng ta hết lòng tin tưởng, Chúa Cha giới thiệu: “Ngài là Con Ta rất yêu dấu”. Đức Giêsu không chỉ là một ông Thày dạy xa lạ, một vị tiên tri, một tiến sĩ... Ngài là Con mà Chúa Cha rất yêu dấu, đẹp lòng Cha, và Cha luôn luôn bằng lòng, sủng ái Ngài vô cùng.
Anh chị em có sẵn lòng nghe lời Đức Giêsu dạy bảo chưa? Chắc hẳn là có. Nhưng nghe dạy điều gì? Thường ta thấy các Đấng giảng rằng: Nghe các lời dạy phải giữ điều này, phải thi hành điều nọ... Cũng đúng! Song không chỉ vậy mà thôi! Hôm nay, ta thử xem những điều Đức Giêsu dạy còn là những điều gì nữa! Xin thưa ngay: đó là những lời an ủi, trấn an, chỉ bảo, ứng đáp các nhu cầu cụ thể, thực tế trong cuộc đời nhiều khó khăn, đau khổ của ta nơi trần thế này.
Muốn hiểu điều này, ta phải tìm cho la nguồn gốc của câu phán: “Hãy nghe lời Ngài!” mà Chúa Cha phán từ đám mây. Đó là hồi xưa, khi Yavê cho dân vào đất hứa, thì ở chung với nhiều sắc dân ngoại, chúng hay nghe theo thày bói, thày chiêm, thày số, phù thủy, đống bóng, bói quẻ, chiêu hồn, nhập xác nói... Nên Yavê dặn Môsê là hãy bảo dân đừng làm những điều ấy, vì Thiên Chúa coi đó là các điều quái gở (Tl 18.9tt), tức là các điều Thiên Chúa lấy làm gớm ghiếc, xúc phạm đến Người ghê gớm lắm. Nhưng khổ nỗi nhu cầu của dân khi gặp các khổ đau, thử thách, tai bay vạ gió và muôn ngàn nỗi gian truân của cuộc đời bể đâu này, là họ phải đi hỏi ai đó cho biết phải làm gì, phải hành động theo đường lối nào; đi hỏi để trấn an nỗi buồn sầu đang dâng lên trong lòng, những bối rối đang dày vò tâm can..., vì đoán trước nhu cầu ấy, nên Yavê hứa: “Cứ yên tâm! Ta sẽ cho chỗi dậy giữa các ngươi một tiên tri như ngươi, hỡi Môsê! Ta sẽ đặt các lời của Ta nơi miệng nó và nó sẽ nói các lời Ta cho chúng. Mà vì thế, kẻ nào không nghe lời nó sẽ nói nhân danh Ta, Ta sẽ hỏi tội kẻ ấy” (Tl 18.17-19).
Như thế, đã rõ là Thiên Chúa không cho phép dân riêng Chúa bắt chước dân ngoại đi hỏi và nghe lời thây bói, thày số, thày chiêm, đồng bóng, đồng cốt... mà Chúa cho là nhảm nhí, và hơn thế là quái gở .Song phải nghe vị tiên tri mà Chúa sẽ cho xuất hiện trong dân Chúa (Tl 18.14-15).
Vậy hỏi rằng vi tiên tri ấy đã xuất hiện chưa để ta đến hỏi và nghe Ngài chỉ bảo? Đáp: đã xuất hiện rồi. Bài Tin Mừng hôm nay, chính Thiên Chúa đã trỏ cho ta biết Ngài là ai. Đó là Đức Giêsu! Và Thiên Chúa còn dặn: Hãy nghe lời Ngài! Con chí ái của Ta đó!
Chúng ta lại hỏi: Ngày nay, Đức Giêsu ở đâu để đến hỏi và nghe Ngài 7 Hỏi như thế là ngớ ngẩn, vì Đức Giêsu nói rằng: “Này, Thày ở cùứng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28.20). Ở cùng các con là ở đâu? Trước hết, ở trong phép Mình Thánh Chúa, vì Đức Giêsu có phán: “Ai ăn mình và uống máu Thày, thì ở trong Thày và Thày ở trong kẻ ấy”. Như thế, khi ta rước lễ, ấy là Đức Giêsu đến ở trong ta, ta ở trong Chúa (Ga 6.56). Vậy, hãy đến với Chúa mà trình bày các nỗi đau của mình để nghe Chúa giải đáp, chỉ dẫn... Khi ta rước lễ, Chúa đến ở trong ta, Ngài gần ta đến thế là cùng! Cha mẹ, vợ chồng, anh em ruột thịt, chỉ ở bên ta, cạnh ta; còn Chúa mới ở trong ta. Gặp rắc rối, buồn phiền vì sự đời, hãy vào trong cung thánh lòng ta, Chúa Giêsu đang ở đó. Chẳng lẽ Chúa nói dối để gạt ta? Thứ đến, khi ta có ân sủng và sống trong ơn nghĩa với Chúa bởi tin và yêu mến, thì Chúa đã ở trong ta ngay rồi, chưa cần phải nói đến lúc đi rước lễ. Đức Giêsu phán thế này: “Ai yêu mến Thày, thì sẽ giữ lời Thày, và Cha Thày sẽ yêu mến nó, và chúng ta (Cha cùng với Thày) sẽ đến với nó và sẽ đặt chỗ ở nơi mình nó” (Ga 14.23).
Nhưng có người lại hỏi thêm: “Con có đến với Chúa ngự trong Phép Mình Thánh, có rước lễ, có Chúa ngự vào lòng, có vào cung thánh trong tâm hồn con; nhưng có nghe thấy Chúa nói gì đâu? Nhiều khi hỏi Chúa, xin Chúa lời chỉ dạy, mà chẳng thấy Chúa đáp lời!”.
Đáp: Xin hỏi: Bạn không nghe thấy Chúa nói, hay là đúng hơn bạn không có tai để nghe. Số là có nhiều lần sách Tin Mừng kể rằng: sau khi Chúa dạy rồi, thì Ngài kết luận một câu như sau: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe!”. Lạ thật! Chúa nói, Chúa giảng cho mọi người, thì ta đều nghe thấy, họ đang ngồi chung quanh Chúa kìa, sao Chúa lại bảo: ai có tai để nghe thì hãy nghe! Vậy hóa ra, có những người nghe tiếng Chúa văng vẳng đấy, song kỳ thực không nghe gì cả. Tiếng Chúa đập vào tai, song không đập vào lòng, cho nên họ như không nghe và cũng chẳng hiểu gì cả. Họ chỉ có cái tai thể xác, mà không có cái tai tâm hồn, nên Chúa mới bảo ai có tai (tâm hồn), tức là lòng tin và yêu mến, thì mới nghe mà hiểu được.
Chúng tôi mách cho anh chi em một cách giúp nghe được Lời Chúa: đó là đọc Kinh Thánh. Không cần phải đọc nhiều, học nhiều, song mỗi ngày một đoạn ngấn, từ Cựu Ước đến Tân Ước. Chỗ nào không hiểu, khó hiểu, bỏ qua. Trong Kinh Thánh có biết bao chuyện, biết bao lời khuyên, biết bao chỉ dẫn... khi anh chị em đụng chuyện, Chúa Thánh Thần sẽ nhắc lại cho anh chị em một câu, hoặc một chuyện tích đã đọc, thế là anh chị em được giải đáp, được an ủi... Qua cách đó, Đức Chúa Giêsu nói với anh chị em đấy, hãy nghe Ngài! Ngài có lời đem bạn tới sự sống đời đời, và ngay bây giờ, cụ thể đem bạn tới bình an, hạnh phúc. Thiên Chúa đã ban cho ta Đức Giêsu là một vị tiên tri như Môsê để dạy bảo chúng ta. Ngày xưa, Môsê là tiên tri, nghĩa là phát ngôn viên của Thiên Chúa, hễ người dân Israen có điều gì thắc mắc, ông giải đáp, có chi kiện tụng, tranh chấp, ông phân xử. Đến khi Môsê sắp chết, Chúa không cho phép dân Người bắt chước các dân ngoại chạy đi hỏi thày bói, thày pháp, thày chiêm, thày số, đồng cốt... nhảm nhí và quái gở, nên Chúa cho chỗi đậy một tiên tri khác, để họ đến với Ngài mà được giải đáp, an ủi.
Vậy một khi đã biết ý Chúa, tuyệt đối ta không bao giờ đi em thày bói, thày số..., mà Chúa bảo là điều quái gở. Chúa còn bảo: chính vì dân ngoại hay làm các điều quái gở ấy mà Chúa đánh đuổi họ, để mặc cho họ gặp đủ tai ương, khốn khó... Thày bói, thày số, đồng bóng... là tay sai của ma quỉ, chứ không phải chuyện khoa học gì đâu, như có nhiều người, kể cả hàng giáo sĩ vẫn nói. Đôi khi bề ngoài dựa vào kinh nghiệm cho có vẻ khoa học, nhưng kỳ thực, chỉ là nói mò mẫm, nói dựa để họ kiếm ăn. Nếu họ biết tương lai hậu vận, thì họ đã chẳng phải ngồi đó để kiếm chác chút tiền của bạn, nhất là của giới phụ nữ, nhẹ dạ, dể tin, nói xuôi cũng tin, nói ngược cũng tin, miễn là khéo léo gợi trúng giây tình cảm...
Tựu chung, ngấm ngầm bên trong là ma quỉ giật giây xúi giục. Có thể nó nói trúng, nó cho ta gặp may... Quyền phép ma quỉ có thể làm những việc đó. Nhưng nó cho ta chút ít, thì lấy đi của ta rất nhiều. Không chỉ là lấy tiền, xong là lấy mất đức tin của ta. Ta nói: “Con vẫn đi dự lễ, con vẫn tin Chúa!”. Nói thế là lừa dối mình. Tin Chúa sao còn tin những kẻ mà Chúa bảo là chúng làm điều quái gở? Tin Chúa là Cha yêu thương mình, lo liệu, an bài mọi sự cho mình, Người có toàn năng phép tắc, thì sao lại không phú thác cả đời sống vào trong tay Chúa? Tin Chúa là tin chỉ mình Chúa thông suốt tương lai, tại sao lại đi hỏi các kẻ nghịch Chúa để biết tương lai hậu vận, những điều cát hung... Chẳng lẽ thày bói, thày số... cũng chỉ là người như ta, lại biết được tương lai bằng Thiên Chúa ư? Chúng có phải là những tiên tri mà Chúa cho chỗi dậy giữa dân Chúa và giới thiệu: Hãy nghe lời chúng không? Ai dám nghĩ thế là lộng ngôn, xúc phạm đến Chúa Giêsu, vì đã đám đặt những kẻ làm những việc quái gở ấy lên ngang bằng Chúa Giêsu.
Chỉ có Chúa Giêsu mới được Chúa Cha đặt làm vị tiên tri và đặt lời Người vào miệng Ngài để dạy dỗ, chỉ bảo ta và dạy: Hãy nghe lời Ngài! Chứ có bao giờ Thiên Chúa bảo tín hữu: “Hãy nghe lời thày bói!” không?
Đứng trước hiểm họa vô cùng lớn lao ấy, phần chúng ta, các gia đình đền tạ cương quyết thề với Chúa là không bao giờ đi xem bói tướng, thuật số, bừa ngải, lên đồng, phù chú..., không nghe, không tin chúng; song chỉ nghe lời một mình Chúa Giêsu thôi.
Tích truyện
Trong Chúa nhật đầu tiên tại một giáo xứ, vị linh mục vừa đến nhậm chức đã giảng một bài giảng rất văn hoa, ý tưởng sâu sắc và cảm động. Tất cả các tín hữu có mặt hôm ấy cảm thấy rất sốt sắng và phấn khởi. Nhiều người đã cảm tạ Chúa vì đã ban cho xứ đạo một lanh mục có tài ăn nói nhả ngọc phun châu.
Tiếng đồn về tài giảng Lời Chúa của linh mục lan đi mau như lửa cháy. Vì thế, vào chúa nhật kế tiếp, nhà thờ trở nên đông đảo hơn các chúa nhật khác. Mọi người nóng lòng chờ đợi bài giảng. Nhưng cha sở lại giảng một bài gần giống bài giảng tuần trước. Rồi thánh lễ Chúa nhật thứ ba, thứ tư... kế tiếp đó vẫn một bài giảng như cũ.
Hội đồng giáo xứ và nhiều bổn đạo đến hỏi cha xứ xem tại sao cha lại cứ giảng lại một bài hoài như vậy? Cha xứ trả lời:
- Tại sao anh chị em vẫn sống như cách đây sáu tuần? Khi nào anh chị em đem áp dụng những gì tôi đã trình bày trong bài giảng cũ, tôi sẽ giảng bài mới.
BÀI LỜI CHÚA 70 TER
KHÔNG NGHE LỜI CHÚA LÀ ĐIỀU NGUY HIỂM
Trích sách 1 Các Vua, ch.22
Vua A-kháp rủ vua Yô-sa-phát đi đánh thành Ra-mốt-Ga-lát. Vua này đáp:
- Chúng ta là một, tôi và ngài, dân tôi và dân ngài. Nhưng hãy thỉnh vấn ý kiến Thiên Chúa trước đã!
Vua A-kháp mới triệu tập vô số những tiên tri giả và hỏi họ có nên đi đánh thành kia không. Họ là những kẻ chuyên nịnh bợ, thấy vua đã có ý thích đánh thành kia, nên họ nói:
- Xin Đức Vua cứ đi! Tròi sẽ nộp thành đó trong tay Ngài.
Vua Yô-sa-phát thấy họ là những kẻ không tin được, mới hỏi:
- Không còn tiên tri nào thật là của Thiên Chúa sao, để ta nhờ ông mà thỉnh ý Chúa?
Vua A-kháp đáp:
- Có một người, nhưng tôi ghét hắn, vì hắn không bao giờ tuyên sấm gì may cho tôi, mà chỉ nói toàn điều khó nghe. Tên hắn là Mi-ca-da-hu.
Đành phải cho hoạn quan đi mời vị tiên tri thật đến. Là người của Thiên Chúa, Chúa dạy sao, ông nói vậy, không thêm bớt, dù đó là những điều cay đắng, khó nghe. Tiên tri nói rằng:
- Tôi đã thấy Thiên Chúa ngự trên ngai và hai bên tả hữu có hàng vạn thiên thần chầu hầu. Yavê phán: HAI sẽ dụ được A-kháp cho nó đi đánh thành Ra mốt và ngã gục ở đó?”. Có một thần tâu: “Tôi sẽ dụ được nó!”. Yavê hỏi: “Làm cách nào?”. Thần ấy đáp: “Tôi sẽ nhập vào các tiên tri giả (các thày bói, đồng cốt) và làm thẩn khí dối gạt nơi miệng chúng”. Yavê phán: “Hãy đi và làm như thế!”. Vậy này đây, thần khí dối gạt đã nhập vào miệng các tiên tri giả của vua đây, tức là Yavê đã để Vua phải mắc họa!
Nghe nói lời chân thật, Vua lại không chiu tin, còn tức giận truyền tống giam Mi-ca-da-hu. Rồi hai vua thống rảnh binh mã tiến đánh thành Ra-mốt, mặc kệ lời Thiên Chúa...
Xảy ra là, dù vua A-kháp đã trá hình, có một binh sĩ dương cung bắn vung vít, chẳng may hú họa trúng ngay vua A-kháp, vào giữa các khớp nối liền áo giáp. Binh lính vực ông lên xe trận, chạy ra ngoài vòng chiến. Rủi hôm ấy, chiến trận quá ác liệt, chẳng ai còn rảnh tay lo cho vết thương của Vua, nên đến chiều thì ông chết, máu nơi vết thương chảy loang ra cả trong xe.
Chiều tối, người ta đem xác Vua đi tống táng, rồi đem xe gội nước rửa ở bề nước xứ Samari, và đàn chó đến liếm máu ông như Thiên Chúa đã báo trước.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Có nhiều người công giáo không khác vua A-kháp mấy tí. Ông ta là một vị Vua vô đạo, hằng phạm tội lỗi nghịch mắt Thiên Chúa, nên ông sợ nghe sự thật, thích nghe những tiên tri giả, tức là những thày bói, lên đồng, chiêm tinh, thuật số,... Những người này luôn luôn nói dựa dẫm, cốt sao vừa lòng thân chủ, để được bổng lộc, khen thưởng, hoặc để kiếm tiền... Như A-kháp, người ta không thích nghe sự thật phũ phàng, có khi rất ngược ý mình. Chẳng đúng thế sao? Biết bao người công giáo, cách riêng cánh các cô các bà, khi có chuyện gì lo lắng, bị đe doạ, hay sắp xảy ra trong gia đình..., liền bỏ tiền đi đến thày bói, thày số... để nghe họ ru tai mình bằng những lời an ủi, chỉ dạy mình làm điều nọ điều kia thì sẽ được như ý mong muốn... Tâm hồn đang đau khổ, bối rối... của họ lúc ấy mong tức khấc có ai nói lời trấn an là được, dù lời ấy có giả dối, hay mình biết là không đúng cũng kệ!
Đang khi đó, họ chẳng hề chạy đến cùng Chúa hay cùng Đức Mẹ... Hoặc có chạy đến, thì cũng làm qua loa, không mấy tin tưởng. Hãy nghe vua A-kháp nói: “Có một người lạ tiên tri thật, có thể nhờ ông ta mà thỉnh ý Thiên Chúa, song tôi ghét hắn, vì hắn chẳng bao giờ báo cho tôi điều gì may mắn, chỉ toàn nói điều khó nghe”. Ông vua ấy ghét nghe sự thật, vì ông vốn là kẻ vô đạo đức, hằng làm sự tội nghịch ý Chúa. Như thế, cái lòng tà vạy, xấu xa của ông chẳng còn thích nghe sự thật nữa, chỉ còn thích nghe phỉnh gạt. Mà chính cái đó đã đưa vua đến chết thảm. Đúng thật là từ chối nghe lời của Thiên Chúa, tức là.. người ta ký bản án tử hình cho chính mình.
Nhưng có người sẽ nói ngược lại: Nào có thấy ai đi xem bói, đi chuộc bùa ngải phải chết bao giờ đâu! Chuyện vua A-kháp trong bài Kinh Thánh chỉ là để hù người ta thôi. Xin đáp: Thánh Phaolô nói: Sách Kinh Thánh, Chúa sai viết ra để dạy dỗ, cải thiện và đào tạo người ta trong đàng công chính (1Tm 3.16t). Vậy bài Kinh Thánh trên kia cũng là để dạy ta. Dạy điều gì? Đừng nhãng bỏ Lời Chúa mà đi nghe lời nhảm nhí, kẻo chết. Đành rằng ngày nay Chúa không phạt chết tỏ tường như xưa, nhưng nếu Chúa đã muốn dùng chuyện chết ấy mà dạy, thì phải có thực, tuy vấn đề ấy sẽ là chết cách nào? Ngày xưa Chúa phạt chết tỏ tường phần xác, để có chuyện cụ thể mà kể ra, chứ nếu chết thiêng liêng thì có ai thấy gì đâu mà kể chuyện được. Nhưng để dạy chúng ta tránh sự lỗi phạm như vậy, để khỏi chết phần thiêng liêng, chết phần linh hồn. Có ai trên kia đưa ra vấn nạn không thấy chết là đúng, vì sao thấy cái chết của linh hồn được. Nhưng không thấy, không phải là không xảy ra. Trước mặt Chúa, có sự chết. Trước những ai có đức tin, cũng coi là chết. Chờ đến ngày buông xuôi hai tay, thở hơi cuối cùng, lúc đó sẽ biết. Chỉ sợ không còn kịp hối lỗi.
Có ai đó lại hỏi: Làm sao bỏ Lời Chúa mà Chúa lại phạt dữ tợn như vậy, sao gọi là chúa nhân từ được!
Đáp: Chúa nhân từ, vì thương xót, nên đã có lời dạy bảo ta để ta tránh. Lòng nhân từ là ở chỗ đó. Nay đã bảo ta tránh, mà ta cứ lao đầu vào chỗ chết, thì tại ta, chứ đâu phải tại Chúa. Một người đã nhất định tự tử, cứu họ lần này, họ lại tìm cách khác. Cho nên không ai có thể cứu được người đã cứ nhất định muốn chết.
Thế tại sao, lãng bỏ Lời Chúa, đi nghe lời xằng bậy lại đến nỗi chết, tuy đó là do lỗi mình?
Đáp: Các bạn có nghe Thánh Phêrô, được Đức Giêsu hỏi: “Cả các anh nữa, không muốn bỏ Thày mà đi sao?”, liền đáp: “Lạy Thày, chúng con sẽ bỏ Thày mà đi theo ai? Thày có những lời đem đến sự sống đời đời” (Ga 6.67-68). Ở chỗ khác, Đức Giêsu nói: “Quả thật, ta long trọng tuyên bố cho các con: kẻ nghe lời Thày và tin vào Đấng đã sai Thày, thì có sự sống đời đời, và khỏi bị phán xét, vì đã được băng qua sự chết mà vào sự sống” (Ga 5.24). Và nhiều câu nói tương tự, nhất là câu này: “Ai rẫy bỏ lời Ta... sẽ có người xét xử nó: ấy chính là Lời Ta, sẽ xét xử nó trong ngày sau hết” (Ga 12.48). Vậy thì đã rõ: Chúa dạy ta những lời đem ta tới sự sống đời đời và ai nghe lời ấy cùng tin theo, thì băng qua sự chết mà vào sự sống và được sự sống đời đời..., được sống lại ngày sau hết (Ga 6.40). Còn không nghe thì lời ấy trở thành quan toà phán xét ta. Như vậy, Chúa dạy ta điều này, điều nọ, tránh điều dữ, điều hại, mà làm điều tốt. Sách Tin Mừng đầy dẫy các lời dạy đó, các bạn đã đọc và học chưa? Nhiều lắm, ta chỉ lấy một ví dụ: Chớ tích trữ kho tàng dưới đất, sẽ dễ bị ăn cắp, hay bị mối mọt..., song hãy tích trữ kho tàng trên trời. Có biết bao người đem hết sinh lực, thêm giờ, nhiều khi bán rẻ cả lương tâm, bán luôn cả thể xác để có tiền ăn xài, may sắm, để dành... Bị một tai nạn, chết..., thế là trắng tay. Cuộc sống họ đã không có giây phút nào tích trữ kho tàng trên trời, bằng cách tu thân, tích đức, ca ngợi thờ phượng Chúa, phục vụ tha nhân cả... Nói tóm, họ không có kho tàng thiêng liêng, két của họ rỗng tuếch. Ra trước toà Chúa, làm một kẻ tôi tớ vô dụng, vô tích sự, thì không thể vào hưởng mặt Chúa được. Lời Chúa sẽ phán xét và tách ta đi rẽ sang lối khác thôi, vào sống với những kẻ trầm luân như họ.
Ấy là chưa kể, bài này còn dạy ta tránh nghe xằng bậy, tiên tri giả, thày bói..., vì vua A-kháp đã nghe lời họ phỉnh phờ, xu nịnh, mà làm theo nên bị chết thảm. Nghe thày bói, chiêu hồn, gọi hồn, đồng bóng, thày bùa, thày ngải... cũng làm chúng ta chết phần thiêng liêng như vậy.
Tích truyện
Có bà kia tin các thày bói, thày số lắm. Lúc đầu, họ nói rất trúng: nào nói mua số đề, số mấy, con gì... trúng phong phóc... Nghe theo thày bảo phải đập tường này, xê dịch cái bếp ra chỗ khác, thì sẽ làm ăn nên..., quả có xảy ra thế, nên càng tin. Thế là từ đó, bà thấy đi dự lễ, đi nhà thờ chán quá, chẳng đem lại lợi lộc, tiền của, các cha giảng Lời Chúa chỉ nói những chuyện thiên đàng, hoả ngục, Chúa Mẹ thấy chẳng ăn nhằm gì với đời sống cụ thể vật chất; thế là bà bỏ không còn đến nhà thờ, đi dự lễ, xưng tội, chịu các Bí Tích nữa... Trong gia đình, tiền của dư dật, nên đến giờ đọc kinh hay đi dự lễ là mắc tổ chức ăn uống, bạn bè, đi chơi, đi nhà hàng, đi ciné... Bà ta lúc đầu còn áy náy vì bỏ thói quen lầu đời cũng ngại, sau riết rồi quen và buông xuôi, mặc tình ai muốn làm gì thì làm... Tiền bạc có dư, hễ đau một chút là có tiền xoè ra trả tiền thuốc, tiền bác sĩ..., đâu cần cầu nguyện với Chúa nữa như hồi nhà bà còn nghèo. Cứ đà đó, cơn cái hư hỏng, chơi bời, trai gái, vợ nọ con kia... Bà ta mỗi lúc lại chạy đến thày bói, đồng cô cốt cậu để nghe thánh phán..., nhưng về nhà thật là một cảnh hỗn loạn, địa ngục... Ông chồng lén lút lấy vợ bé, phòng nhì, phòng ba...; con trai đầu của bà thì rượu chè, thằng con thứ thì bỏ học, đi chơi, lập băng đi cướp xe, giật giây chuyền...; đứa con gái út cặp bồ mang bầu, đang khóc lóc đòi tự tử...
Gia đình bà, nay là một cái hoả ngục! Chính bà đã đem sự chết đến cho gia đình bà!
BÀI LỜI CHÚA 71
LÀM SAO GẶP ĐƯỢC CHÚA?
Trích sách Ysaia, ch.36-37
Hoàng đế Sê-na-kê-ríp đem một đại quân binh hùng tướng mạnh đến vây Yêrusalem. Từ nơi ông đóng ở La-kít, ông sai ba đại tướng đến Yêrusalem mang tối hậu thư bảo phải đầu hàng. Ba tướng đến với cả một đoàn vệ binh. Một trong ba tướng cất tiếng doạ nạt và còn dám phạm thượng đến Yavê Thiên Chúa:
- Đừng để Thiên Chúa của ngươi, Đấng ngươi trông cậy, lừa dối ngươi rằng: Yêrusalem sẽ không bị phó nộp trong tay Hoàng Đế Assur. Coi! Ngươi đã từng nghe Hoàng Đế ta đã thắng trên cả thiên hạ, còn các ngươi sẽ thoát ư? Hoạ chăng thần của các ngươi là Yavê có mạnh hơn thần các nước kia không? Thần của các nước đó đã chẳng cứu được chúng thoát khỏi tay Vua của ta, thì huống chi là thần của các ngươi!.
Vua của Yuđa là Ê-dê-kia cầm lấy tối hậu thư ấy mà đọc. Đoạn ông lên Đền Thờ, nơi Yavê Thiên Chúa ngự, vào gặp Ngài và trình bày thư trước Nhan Ngài.
Ông nói:
- Lạy Yavê, Chúa các cơ binh, Thiên Chúa của Israen, chính Người mới là Chúa Tể trên mọi nước trần gian, vì chính Người đã làm ra trời đất. Lạy Yavê, xin hãy nghe các lời Vua Sê-na-kê-ríp đã sai đến mạ lị Thiên Chúa hằng sống. Đã hẳn, Vua ấy đã tàn phá xứ sở các dân và huỷ diệt các thần của chúng, vì các thần đó không phải là Thiên Chúa, mà chỉ là đồ tay người phàm lấy gỗ, đá, đúc, đẽo nên mà thôi. Vậy bây giờ, lạy Yavê Thiên Chúa của chúng con, xin cứu chúng con khỏi tay nó, để mọi nước trên trần biết: chính Người mới là Thiên Chúa thật mà thôi.
Vua Ê-dê-kia gặp Chúa xong, về cung chờ đợi. Thiên Chúa sai tiên tri Ysaia đáp lời:
- Đây là lời Yavê phán về Sê-na-kê-ríp: “Ngươi đã cả dám buông lời mạ lị Đấng Thánh của Israen, Ta sẽ ra tay cứu lấy thành Yêrasalem này mà không phải bắn một mũi tên, và Ta sẽ lùa ngươi về theo con đường mà ngươi đã đến đây”.
Quả thực, đêm đó, dịch tả hoành hành, giết chết ngay 185.000 lính, và Sê-na-kê-ríp phải dỡ trại, cuốn cờ lủi thủi rút lui về Ninivê. Và xảy ra là khi ông đang cúng bái trong chúa của thần Nít-rốc, hai con trai ông đã lấy gươm ám sát ông.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Nghe bài Lời Chúa trên, người ta dễ lưu ý đến hình phạt Chúa dành cho kẻ xúc phạm đến Chúa. Đã đành thế, xong xin lưu ý anh chị em đến một điều khác: Hành vi của Vua Ê-dê-kia. ông đã làm gì khi nhận được tối hậu thư của Vua nước Assur? Ông cầm lấy thư, lên Đền Thờ gặp Thiên Chúa Yavê, và thần linh với Người mọi sự, rồi cầu xin Người ra tay cứu, Và ông đã được như lời ông xin. Đến gặp Thiên Chúa, thưa chuyện với Người và được Người giải cứu: đó là điều ta muốn nói hôm nay.
1/ Trước hết, việc gặp Chúa có cần không?
Thưa: tối cần. Vì cùng đích đời sống của ta là được hạnh phúc muôn đời với Chúa, nói nôm na là lên thiên đàng. Nhưng thiên đàng của ta khác Niết bàn Phật giáo ở chỗ ta lên thiên đàng để ở và sống với Thiên Chúa, với Chúa Kitô, chữ không phải như Niết Bàn Phật giáo, chỉ cần sống siêu thoát riêng một mình sung sướng; thanh nhàn, chẳng cần có ai. Còn thiên đàng của ta là gặp Chúa Kitô, sống VỚI Chúa Kitô trước Nhan Cha chí ái. Đó là sự sống đời đời, đó là hạnh phúc cuối cùng và bất diệt của ta.
2/ Gặp khi nào?
Cách chung, người ta thường nghĩ: gặp sau khi chết, gặp ở đời sau. Đúng, nhưng không đầy đủ. Không những đã không đầy đủ, mà đôi khi nghĩ như vậy là có hại, đó là có ý nói đến những ai cứ sống phè phỡn ở đời này, vì họ nghĩ đời sau mới gặp Chúa cơ mà, chỉ cần tính sao cho lúc sắp chết, ăn năn trở lại kịp, hoặc mời cha cố đến xức dầu, làm các phép sau hết, bôi bôi, chùi chùi vài cái, rồi miệng lầm rầm vài câu giải tội là mọi chuyện đều ổn: nước thiên đàng cầm chắc trong tay!
- Vô tình hay cố ý tính toán như thế là sai lầm tai hại. Những ai chờ đến đời sau để gặp Chúa thì không bao giờ gặp được. Kinh Thánh dạy: “Ai lại gần Thiên Chúa thì phải tin là Người có và Người thưởng công cho những ai tìm kiếm Người” (Híp-ri 11.6). Lại gần có nghĩa là gặp Chúa, sống với Chúa. Muốn được thế thì phải tin Ngài có và ra công tìm kiếm Ngài ngay ở đời này, rồi Ngài sẽ thưởng công cho, tức 1à thưởng thiên đàng cho. Vậy ngay từ đời này phải tìm Chúa, thì đời sau mới gặp. Đời này tìm gặp Chúa để tin yêu, thờ lạy, đời sau mới gặp được Chúa để làm phần thưởng.
Có người khác, không chấp nhận lối sống tính toán nói trên, song lại nghĩ: chỉ sau khi chết ta mới được gặp Chúa, thấy nhan Chúa, hạnh phúc vô cùng. Còn đời này, phần chịu cực chịu khổ, trăm điều thử thách, là nơi lưu đầy xa Chúa, Chúa như ở trên cao, nhìn xuống ta vất vả chiến đấu một mình. Những người này cũng sai lầm một phần nào, tuy không có ý tính toán xấu xa. Nhưng quan niệm của họ không đúng với Tin Mừng. Học hỏi Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa nói khác:
“Thày sẽ không bỏ các con mồ côi. Thày sẽ đến với các con. Còn ít nữa, thế gian không còn thấy Thày. Phần các con thì khác, các con sẽ thấy Thày sống và các con cũng sẽ sống. Trong ngày ấy..., các con ở trong Thày và thày ở trong các con, cũng như các con biết là Thày ở trong Cha vậy” (Ga 14.18-20).
Sau đó, Chúa Giêsu còn nói mạnh hơn: “Ai yêu mến Thày, thì sẽ được Cha Thày yêu mến, và Thày sẽ yêu mến người ấy và tỏ mình ra cho người ấy”.
Câu “các con sẽ thấy Thày sống” có nghĩa là gặp lại Thày. - “Các con ở trong Thày và Thày ở trong các con” tức là gặp nhau và thương nhau, kết hợp với nhau, đến nỗi vợ chồng thương nhau cũng không được thư thế. - Còn câu “Thày sẽ tỏ mình ra”, đó là Chúa tỏ mình ra cho ta thấy, ta gặp, ta yêu mến Ngài.
Tóm lại: gặp Chúa để được hạnh phúc, mà phải gặp ngay từ bây giờ. Ở đây nảy lên một khó khăn:
3/ Làm thế nào gặp được Chúa?
Chúa và chúng ta ở hai thế giới cách biệt: ta ở cõi phàm trần, thuộc hạ giới, còn Đức Giêsu thì kể từ khi Ngài phục sinh, rồi thăng thiên, Ngài đã lên trời, về cùng Cha, trong cõi thiên thai mầu nhiệm. Làm sao gặp nhau?
Các Tông đồ và môn đệ ngày xưa còn có cái may hơn ta là gặp được Chúa lúc Ngài còn sống tại thế: họ được tiếp xúc với Ngài hàng ngây, cùng ăn, cùng ở, được lời Ngài dạy. Đến lúc Đức Giêsu phục sinh rồi, họ vẫn còn được Ngài tiếp tục hiện ra cho họ thấy trong thời gian 40 ngày: Ngài nói, Ngài dạy, Ngài trò chuyện và cùng ăn uống một bàn với họ (x. 1Cor 15.4-8; Mt 28.9tt; Ga 20.11tt; 21.1tt; Cv 1.3-12).
Chúng ta đâu có được cái may đó, ta sinh ra ở thế kỷ 20, lại ở xa quê Chúa hằng vạn cây số, dù có sống đồng thời với Chúa, thì cũng chẳng có tàu bè gì mà đi hành hương tới Yêrusalem để gặp được. Huống chi lại còn sinh ra sau Chúa 20 thế kỷ! Vậy làm thế nào gặp Chúa được đây?
Chúa đã khôn ngoan dự liệu một phương thế làm trung gian, nhờ đó như chiếc cầu, Ngài từ cõi mầu nhiệm đến với ta (Đức Giêsu nói: “Thày sẽ đến với các con”), và cũng ở đó, ta được gặp Ngài ngay hôm nay, giữa thế kỷ 20, lúc nào ta muốn (vì thế, Chúa nói: “Phần các con, sẽ thấy Thày sống, Thày sẽ tỏ mình ra cho các con...”), nghĩa là ta gặp Chúa, Chúa gặp ta.
Phương thế làm trung gian ấy, làm chiếc cầu bắc ngang ấy là các Bí Tích. Lấy một ví dụ điển hình là Bí Tích Thánh Thể: Trước khi truyền phép đó là bánh và rượu thường; sau truyền phép, Đức Giêsu vinh hiển phục sinh từ trời cao đến dưới hình bánh rượu, Ngài có mặt đó, chúng ta đến thờ lạy Ngài, hoặc bên rước lấy Ngài, gặp Ngài, tiếp xúc với Ngài.
Thế mà, như kỳ trước đã nói: Thánh Kinh, hoặc Lời Chúa cũng là một Bí Tích. Khi để yên, cuốn sách Kinh Thánh cũng chỉ là một cuốn sách như bao cuốn sách khác; nhưng khi lấy lòng tin mà đọc, thì Chúa hiện diện đó, đang nói với ta, ta gặp Chúa, nghe Chúa, và đáp lời Chúa, y như xưa Maria ngồi dưới chân Chúa nghe Chúa vậy. Lời Chúa đem Chúa đến gặp ta là như thế đó.
Nhưng Bí Tích Lời Chúa có cái tiện lợi hơn các Bí Tích khác ở điểm này: là các Bí Tích khác, không phải lúc nào ta cũng có được, ta phải đến nhà thờ, ta phải nhờ linh mục ban cho ta. Còn đằng này, cuốn Kinh Thánh, ta có bên mình ngay trong nhà, lúc nào ta muốn, ta có thể đọc và khi đọc với lòng tin, thì Chúa đến và gặp ta, nói với ta ngay: cuộc tiếp xúc được thiết lập ngay lúc ấy, bất kể ngày hay đêm, ở nhà hay đi trên đường, hoặc trong nơi công sở, xí nghiệp...
Thật vui sướng thay! Khi gặp hoạn nạn, thử thách, khi âu sầu, đau khổ hoặc thất bại, ta mở sách Lời Chúa ra, ta gặp Chúa, Chúa sẽ nói lời an ủi. Chúa sẽ soi sáng cho ta khi ta bối rối không biết phải chọn con đường nào, hành động cách nào... Chúa sẽ thêm sức mạnh cho ta, khi ta muốn buông xuôi, bỏ cuộc, muốn chết hay muốn chạy trốn cuộc đời...; Chúa sẽ đáp ứng tất cả mọi nhu cầu tâm hồn và đời sống ta.
Gia đình ta hôm nay xin tạ ơn Chúa và vui sướng vì có cuốn sách Lời Chúa, là có Chúa ở cùng, trong gia đình mình. Giả sử có ai được phúc giữ ảnh Đức Mẹ thánh du trong nhà, hẳn nhà ấy lấy làm vinh dự lắm! Đấy chỉ là bức tượng, bức ảnh Đức Mẹ. Thế thì, cuốn sách Lời Chúa còn hơn thế, vì khi đọc lên với lòng tin, thì Chúa có mặt đó liền, chứ không chỉ là một cuốn sách nữa. Nếu gia đình nào được đặc ân cất giữ Mình Thánh Chúa, chắc cả gia đình sẽ lấy làm vinh hạnh lắm! Xưa Vua Đavít rước Hòm bia Thiên Chúa, vua đi trước, nhảy múa ca hát hết lòng ngợi khen Chúa, rồi cứ 100 bước lại giết một con chiên, 1.000 bước lại giết một con bò tế lễ lên Thiên Chúa. Mà đấy chỉ là Hòm bia vật chất, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa. Còn nay ta được chính Chúa đến gặp ta, ban sự sống và mọi phúc lành kèm theo ngay trong chính lúc ta đọc Lời Chúa, thế thì chẳng đáng ta ca hát, ngợi khen, chúc tụng và vui mừng hơn sao?
Tích truyện
Dưới dòng tít “Một ông thợ may vớ được kho tàng trị giá hàng chục vạn đô la”, nhật báo Ngôn Luận, xuất bản tại Saigon, số ra ngày 23-6-1958 loan tin như sau: “Vienne - Cách đây chừng 50 năm, một anh thợ may thành Vienne, nước áo, có bắt được một cuốn Kinh Thánh, ấn hành năm 1603. Năm nay, người thợ may đó đã 77 tuổi. Ông lão vẫn giữ được cuốn sách ấy, nhưng đã coi đó là đồ bỏ, và vứt vào một xó tủ. ông ta không bao giờ ngờ rằng, nó là quyển duy nhất viết toàn bằng tiếng La tinh còn lưu lại trên thế giới. Ngày vừa qua, ông viết thư cho một người bà con bên Mỹ và có nói sơ qua về quyển sách ấy. Người bà con này liền đi hỏi một nhà chuyên môn sưu tầm sử liệu ở một Đại học đường, thì được biết rằng: quyển sách ấy rất có giá trị và bằng lòng mua với giá 100.000 đô la.
Nhưng ông lão thợ may khi thấy rõ giá trị của quyển sách, đã nhất định Đòi được 200.000 đô la mới bán... Thật là một món bở không thể tưởng tượng được!”
Nghe truyện này, người ta liên tưởng đến rất nhiều Kitô hữu, đã đối xử với cuốn Kinh Thánh như ông thợ may: thay vì quí trọng và đọc lời của Chúa, thì coi thường và vứt vào xó... Nếu những người đó hiểu được giá trị của cuốn ấy, thì 200.000 đô la kia chẳng thể đánh giá được, vì nó là một vật báu vô giá, một của báu siêu phàm chứa đựng Lời Hằng Sống của Thiên Chúa. Thánh Phêrô nói: “Bỏ Thày con biết theo ai? vì Thày có lời đem đến sự sống đời đời”. Thì quyển sách chứa Lời Chúa giá trị bằng cả Nước Thiên đàng, vì nó đem ta đến sự sống đời đời là Nước Thiên đàng vậy.
BÀI LỜI CHÚA 72
TIN VÀ SỐNG LỜI CHÚA
Trích sách Ngôn sứ Ê-dê-kien 2.8-3.3
Thiên Chúa Yavê phán với tiên tri Ê-dê-kien rằng: - Hởi con người, ngươi hãy nghe điều ta sắp nói với ngươi... Hãy há miệng ra mà ăn điều Ta sắp ban cho ngươi.
Tôi nhìn, thì này có tay chìa ra cho tôi, và trên tay ấy có quyển sách. Chúa mở nó ra trước mặt tôi: quyển sách được viết cả hai mặt... Và Chúa phán:
- Ngươi hãy ăn quyển sách này đi! Khi đã ăn đầy bụng, thì đi truyền các lời trong ấy cho dân Ta. Nhưng trước hết, hãy nuôi bụng ngươi, hãy nhét đầy lòng ngươi với quyển sách này đây!
Vậy tôi đã ăn quyển sách và nó ngọt như mật ong nơi miệng Tôi. Chúa lại phán với tôi:
- Con người hỡi, nào hãy đi gặp dân Ta, và lấy các lời Ta mà nói với chúng...! Nếu Ta sai ngươi đến với dân ngoại, chúng sẽ nghe ngươi, còn dân Israen, dân Ta, lại không nghe ngươi đâu, vì kỳ thực chúng không muốn nghe Ta đó thôi, vì tất cả dân Ta là lũ trán dạn dầy và lòng chai đá. Nay Ta đã làm cho mặt ngươi dạn dầy y như mặt chúng,...và làm cho trán ngươi cứng như kim cương. Ngươi sẽ không sợ chúng, và không khiếp đảm trước mặt chúng, vì chúng là nhà loạn tặc!
* Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
“Hãy há miệng ra mà ăn điều Ta sắp ban cho ngươi!”. Như thế, Lời Chúa mà của ăn, của uống. Mà ăn uống là để nuôi ta sống. Qua đó, Chúa cho ta thấy: người ta không chỉ sống bằng thức ăn vật chất, nhưng còn bằng thức ăn thiêng liêng. Của ăn uống vật chất nuôi cơ thể, điều cần ấy Chúa đã ban cho ta khi tạo dựng cho ta muông chim, cầm thú, cá biển, rau quả... Nhưng Chúa không quên hồn ta cũng cần lương thực, nên đã ban cho ta lời Người. Điều này ta đã biết.
Điều hôm nay Kinh Thánh cho biết là thức ăn Lời Chúa ấy được trao cho ta dưới hình thức một cuốn sách. Như thế, ta có thể ví quyển sách ấy như trạn thức ăn, trong đó chất chứa các thức ăn của ta. Muốn ăn gì hôm nay, món nào, thì cứ lấy trong trạn đó, có đủ cả: thịt, cá, rau, tương, cà, nước mắm...
Và ta thấy tiên tri Ê-dê-kien há miệng ra nuốt quyển sách và ông chắc lưỡi khen: “Nó ngọt như mật ong nơi miệng tôi”.
Anh chị em có bao giờ cảm thấy Lời Chúa ngọt như mật ong chưa? Chắc đã có! Chúng ta chẳng đã nhiều lần thấy những người nghe giảng mà nước mất dàn dụa..., có khi vì cảm thấy Chúa thật từ bi, thương xót; lúc khác thấy Chúa sao yêu thương quá bội...; có lúc khác lại vì thấy mình sao quá tệ bạc với người Cha yêu thương ta như vậy... Dù nước mắt vui sướng hay nước mắt cay đắng vì tội mình, thì cũng mà những nước mắt gọi được là ngọt ngào cả.
Vì cái gì người Cha yêu thương đã ban cho con ăn, thì đó chỉ có thể là những sự ngon ngọt, bổ sức thôi! Há có người cha nào lại ấy đá thay bánh mà cho con ư?
Tiên tri Ê-dê-kien thì được Chúa Yavê hiện ra trao cho sách Lời Chúa mà ăn, còn ta lấy ở đâu mà được sống? Thưa lấy trong sách lời Kinh Thánh, Chúa đã ban cho ta trong Hội Thánh. Sách ấy có sẵn rồi. Hãy cầm lấy mà ăn, mà nuốt cho đầy bụng lời ngọt ngào ấy!
Kỳ trước, ta đã suy niệm: ta là người phàm trần làm sao gặp được Chúa là Đấng ngự trong cõi thiên giới. Thưa: nhờ một phương thế làm thông gian, bắc cầu, đó là Bí Tích, Bí Tích Lời Chúa nói riêng. ở đó, Chúa xuống với ta, ở đó, ta đến với Chúa mà gặp Ngài thực sự, tuy mắt không thấy, tai không nghe, song nhờ đức tin, ta biết chắc là gặp thực sự. - Mà gặp để làm gì? Có mục đích hay có ích lợi gì? Thưa có chứ! Gặp Chúa là vì Chúa mang trong tay đầy ơn sự sống, đầy ơn sủng. Chúa không khi nào gặp ta suông, chào hỏi suông, xã giao... Chúa gặp là luôn luôn ban cho ta sự sống, mà sự sống tức là hạnh phúc đời này và đời sau. Điều này có lần ta đã bàn rồi.
- Nhưng vấn đề là ta có tin thế không? Chắc anh chị em sẽ nói: tin. Coi chừng, có: hai thứ tin: một là bất toàn, hai là đầy đủ. Tin bất toàn là tin điều ấy đúng, có thế thôi. Mà trong Kinh Thánh cho biết là cái tin kiểu đó thì ma quỉ cũng có (xem như Gc 2.19): ma quỉ tin có Chúa vì nó thông minh, nó biết chắc như thế, nó không là kẻ vô thần đâu! Song Kinh Thánh nói tiếp: Nó tin thế “mà run sợ”, nghĩa là lòng tin ấy không đủ để nó được cứu rỗi, nên nó vẫn phải sa hoả ngục! Đó là lòng tin bất toàn, vì tin có, tin đúng mà thiếu hành động và sống đức tin ấy. Nó tin có Chúa, mà nó có thực hành việc thờ phượng đâu, có mến Chúa đâu, có thương người đâu! Nó luôn ghen ghét, bầy mưu chước lôi kéo người khác bỏ Chúa, phạm tội; nó lại luôn ghen ghét loài người, xúi bẩy loài người ghét nhau, giết nhau, làm hại nhau. Vậy thì cái tin có Chúa của nó không làm cho nó thoát khỏi hoả ngục. Giả sử ngày nào nó thực hành lòng mến Chúa, yêu người, dù chỉ trong một vài phút ngắn ngủi, nó sẽ được thoát lửa hoả ngục ngay. Nhưng trễ quá rồi! Ở đời sau, người ta không còn thay đổi được nữa.
Chúng ta cũng vậy, nếu ta chỉ tin có, tin sự Chúa dạy và Hội Thánh truyền là đúng, thì đức tin bất toàn ấy chẳng ích lợi mấy cho ta, chẳng cứu ta khỏi hoả ngục. Tỉ dụ: ta tin lời Kinh thánh dạy là muốn gặp gỡ Chúa để được sự sống, thì đọc và suy gẫm Lời Chúa là sẽ được như vậy, ta tin điều ấy đúng, ta không dám cãi là sai. Thế nhưng tin rồi để đó không làm theo, tức là không chịu khó chăm nghe và suy niệm Lời Chúa, không lấy sách Lời Chúa ra đọc để gặp Chúa, được sự sống từ Chúa chuyền sang ta, thì thử hỏi có ích gì? Về các điều tin khác cũng giống vậy.
Tôi có hai đứa em, một đứa là em ruột, một đứa em họ... Ba má tôi chết đi để lại cho một gia tài, gồm nhà đất... Vì hiểu lầm lời trối trăng, hai đứa dành nhau, tôi phải về tận quê để khuyên bảo và phân xử. Chúng nó không nghe, cứ nhất định đem nhau ra toà đời để kiện nhau. Tôi khuyên can, bầy rằng: Hễ kiện nhau tất có kẻ thắng, người thua, thế là sẽ ghét nhau, oán thù nhau, làm sao đi dự lễ, rước lễ, vì Chúa dạy: trước khi dâng của lễ, phải làm hoà với nhau. Sau đó, tôi còn lấy thêm một đoạn Kinh Thánh nữa: Chúa dạy không nên kiện nhau ở toà đời. Đây Lời Chúa: “Trong anh em, khi có bất bình nhau, có người dám đi thưa kiện với người ngoại đạo nơi toà đời, sao không nhờ một người nào khôn ngoan để có thế phần xử giữa anh em mình trong đạo ư? Trái lại, anh em với nhau mà thưa kiện nhau và lại còn ở trước toà người ngoại giáo. Nguyên việc kiện tụng nhau cũng là một sự sa đoạ rồi. Tại sao anh em không thà chịu bất công? Tại sao anh em không thà chịu thiệt thòi?” (1Cor 6.1-7).
Đọc lời Chúa dạy rồi, tôi hỏi hai em tôi: Có tin Lời Chúa không? Chúng thưa: Có! - Lời Chúa nói có đúng không? - Đúng! - Thế thì các em phải bỏ ý kiện tụng, làm theo Lời Chúa. Đã có anh phân xử, rồi sẽ nhờ Cha xứ phân xử này không đủ sao? - Có một đứa nói: “Không làm theo Lời Chúa được! Chúa nói thì Chúa cứ nói, chứ ai mà làm theo nổi! Đấy anh xem, cả thế gian có ai làm theo Lời Chúa đâu! Chiến tranh, bạo lực cứ diễn ra hoài đó thôi! Chúa nói là cho các cha, các người đi tu làm, chứ người ở đời không ai làm đâu!” - Và kết cục ra sao, anh chị em biết không? Hai đứa cứ đem nhau đi kiện và một bên thắng, một bên thua. Bây giờ, hai đứa ghét nhau, chửi bới nhau hoài, có lần suýt gây ẩu đả. Thật là điếm nhục cho cha mẹ, các ngài ở bên kia thế giới chắc cũng đau lòng. Hàng xóm láng giềng chê cười... Tôi ở xa không biết chúng nó bây giờ còn đi dự lễ, rước lễ nữa không... Đó, nghe Lời Chúa, tin là đúng, mà không lấy ra sống trong cuộc đời, không thực hành, thì việc tin bất toàn kia nào có ích gì? Bây giờ, chúng đang sống trong ghen ghét, trong đau khổ và sợ sệt vì hận thù, vì tìm cách chơi nhau, hại nhau, chửi nhau...
Cho nên Kinh Thánh kết luận: “Đức tin không đem ra thực hành bằng việc làm, là đức tin chết rồi” (Thư Gc 2.17,21). Rất nhiều tín hữu, sau này sẽ như ma quỉ, tin có, tin đúng, song rơi xuống hoả ngục như ma quỉ. Lúc ấy, Chúa Giêsu bảo: “Ngươi xây nhà trên cát mất rồi! Vì phàm ai nghe các lời Ta mà không thi hành thì như thế!”. Lúc ấy họ cãi Chúa: “Lạy Chúa! Lạy Chúa! Con tin có Chúa, con đọc kinh, xem lễ, lần hạt..., con nghe giảng, con ăn chay, con còn nhân Danh Chúa nói tiên tri, nhân danh Chúa mà trừ quỉ... cơ mà?” - Chúa nói: “Ta xin tuyên bố với các ngươi: Ta không hề biết các ngươi. Vì ai làm theo ý Cha Ta, thì Ta mới biết, mới kể kẻ đó là anh em, chị em Ta. Không phải cứ đọc kinh: “Lạy Chúa! Lạy Chúa! Lạy Cha!... là sẽ vào được Nước Trời đau! Thôi, hãy xéo đi xa Ta! chúng bay chỉ là phường tác quái như mọi kẻ vô đạo khác!” (xem Mt 7.21-27; 13.48-50).
Những điều Chúa dạy trên, người công giáo ta ai cũng nghe rồi, biết cả, song vẫn không mấy ai đem ra thực hành, để được sống, được vào Nước Trời? Thật đau buồn, tội nghiệp! Tôi mong ước các gia đình đã chịu khó làm việc Đền tạ mấy năm trường rồi, đừng ai bị rơi vào cảnh đó. Tôi cầu chúc cho anh chị em chịu khó thi hành Lời Chúa chứ đừng tin suông, để anh chị em được cứu rỗi, được sống và vào Nước Trời.
Có người nói: tôi nghe là hay quên! Đáp: Cái đó không phải chuyện lạ, ai mà nhớ hết được các Lời Chúa. Song điều cần là nhớ được chừng nào, phải thực hành chừng ấy, thực hành cho trọn. Dầu vậy, tôi cũng xin mách nước cho anh chị em: sở dĩ ta không nhớ là vì lòng ta ơ hờ, không để ý. Cứ xem: ai mắc nợ ta tiền, ta có nhớ không? Buôn bán thì người này nợ ít, người kia thiếu nhiều, sao ta nhớ không sai một người? Ấy là vì điều ấy ta coi trọng, ta lưu ý. Mặt khác, ta không nhớ Lời Chúa là vì ta không ôn lại trong lòng, trong trí điều Chúa dạy ta. Nghe giảng xong, ta xách áo ra về, không suy niệm lại, không ôn lại điều vừa nghe. Cho nên, tín hữu Việt Nam nghe giảng rất nhiều, rất chịu khó đi nghe giảng, giảng lớn, giảng nhỏ..., nhưng không ích lợi bao nhiêu, vì không nhớ. Mà không nhớ là do không ôn lại, không suy niệm. Mẹ Maria là gương mẫu rất khả ái cho ta trong việc này, đến nỗi Kinh Thánh phải tặng khen Mẹ: “Bà cất giữ các điều đã nghe Chúa dạy, và bà hằng suy đi gẫm lại trong lòng”. Hèn chi, Mẹ rất thương mến của ta mau thánh thiện, mau làm đẹp lòng Chúa: Thiên thần phải ca tụng: “Bà được đắc sủng nơi Thiên Chúa!”
Vậy, nếu anh chị em muốn được sự sống, được nhiều ánh sáng và ơn sủng, hãy gắng ôn nhớ lại một vài câu chính của Lời Chúa mình đã nghe trong bài giảng, lúc chia sẻ Lời Chúa. hoặc lúc đọc riêng, rồi suy đì nghĩ lại, xem Chữa muốn dạy gì... và gắng làm theo.
Nhưng, tất cả đều sẽ vô hiệu, nếu không có thêm điều này là cầu nguyện, tức là tha thiết xin Chúa ghi tạc vào lòng ta Lời Chúa dạy; và điều Chúa dạy thường khó làm, thì xin Chúa Thánh Thần ban sức mạnh vượt qua tính ươn hèn, ích kỷ mà làm theo Chúa dạy. Những nỗ lực ấy giống như ta xúc rửa hồn ta để đựng ơn Chúa và sự sống Chúa đổ vào. Một cái bình đựng đầy bùn hôi tanh, là các tính mê, nết xấu, thì còn chỗ đâu mà chứa ơn huệ sự sống Chúa?
Anh chị em thử nghe Lời Chúa hứa sau đây, xem có ham không: “Quả thật, Thày bảo các con: Ai nghe lời Thày và tin vào Cha, Đấng đã sai Thày, thì có sự sống đời đời và khỏi đến Toà phán xét, nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự sống” (Ga 5.24).
Thử hỏi: chúng ta ai chẳng sợ phán xét, ngay cả vị thánh mà lúc lâm tử, nghĩ đến phán xét công thẳng của Chúa, nghĩ lại đời mình có biết bao ích kỷ, gian dối, độc ác, hư hốt từ thuở mới có trí khôn đến nay..., vị ấy cũng run sợ đến toát mồ hôi. Thế mà đây, Chúa hứa cho ta khỏi qua toà phán xét, vào Nước Trời thẳng, có thể dám nói không phải qua lửa luyện tội. Vì sao? Vì luyện ngục là nơi thanh tẩy những gì còn vướng mắc, làm hoen ố linh hồn... Mà ai nghe Lời Chúa và thực hành thì đã thanh tẩy, luyện lọc mình ngay từ đời này. Làm ở đời này thì đời sau khỏi làm. Chính Chúa Giêsu đã phán: “Các con đã được tẩy sạch bởi lời Thày đã nói với các con” (Ga 15:3; 13.10). Quả thật, việc nghe Lời Chúa và sống theo lời ấy, đòi ta phải từ bỏ tính mê nết xấu, phải từ bỏ ích kỷ, gắng tha thứ, gắng yêu thương... Ôi! Các cái gắng đó nó tẩy ta, nó luyện là trắng tinh rồi... Vì thế, ai học Lời Chúa, sống Lời Chúa, tuỳ theo sức mình, thì khỏi lo sau khi chết có ai xin lễ cho linh hồn mình không, khỏi để dành tiền xin 1ễ cho linh hồn mình. Có người, theo chỗ tôi biết, dành dụm cả cây vàng để xin lễ cho mình sau khi chết. Giá họ để “cây” ấy mà làm ơn làm phúc, nuôi kẻ đói, mặc cho kẻ trần truồng, khố rách áo ôm lúc họ còn sống, thì hay biết mấy, họ sẽ khỏi vào luyện tội, vì Chúa nói là khỏi qua toà phán xét. Chứ còn dành tiền ấy xin lễ, thì vẫn phải vào luyện ngục đã rồi mới xin lễ cho mau ra.
Nói tóm, nếu bạn muốn được gặp Chúa, bạn hãy ham và chăm chú đọc Lời Chúa. Nếu bạn muốn được Chúa ban cho sự sống, sống hạnh phúc, sống thắng lợi, sống vui tươi, sống cho đúng ý nghĩ cuộc đời, bạn hãy đọc và học Lời Chúa, tin vào lời ấy và đem ra thực hành. Cũng vậy, nếu bạn muốn khỏi ra toà phán xét, nhưng băng ngang qua sự chết mà vào sự sống, thì hãy suy niệm Lời Chúa, cầu nguyện để sống và làm theo Lời Chúa dạy, nó luyện tẩy bạn ngay đời này, để đời sau bạn khỏi phải qua luyện tội.
BÀI LỜI CHÚA 73
TỘI NGUYÊN TỔ
Trước khi học Bí Tích Rửa tội, hoặc văn vẻ hơn: Bí Tích Thanh tẩy (đừng đọc là Thánh tẩy), ta phải tìm hiểu tội tổ tông đã, vì Phép Thanh tẩy có phận sự tẩy xoá tội tổ tông và các tội mình làm.
Trích sách Khởi Nguyên, ch.3
Rắn là một vật tinh ranh hơn mọi dã thú Thiên Chúa đã làm ra. Nó nói với người đàn bà:
- Hẳn Thiên Chúa đã phán: Các ngươi không được ăn cây nào trong vườn?
Người đàn bà đáp:
- Quả cây trong vườn chúng tôi được ăn, chỉ trừ quả cây ở giữa vườn thì Thiên Chúa cấm ăn, cấm sờ, kẻo phải chết.
Rắn nói:
- Chẳng chết chóc gì đâu! Quả nhiên, Thiên Chúa biết ngày nào các ngươi ăn nó, mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như những thiên chúa biết cả tốt xấu.
Nghe vậy, không nhịn được tính tò mò, ngươi đàn bà đã nhìn, thì thấy quả ăn chắc là ngon, nhìn cũng sướng mắt, nó thật đáng quí, để được tinh khôn. Thế rồi, không cầm mình nổi trước cám dỗ, bà đã hái quả mà ăn, bà cũng trao cho chồng ở bên bà, và ông đã ăn. Mắt cả hai đứa đã mở ra và chúng biết là chúng trần truồng. Chúng đã khâu lá vả làm khố cho mình. Chúng nghe tiếng Yavê bước đi tản bộ trong vườn lúc gió hiu hiu thổi buổi chiều hôm, và con người với vợ đi núp mình khuất mặt Yavê giữa những cây trong vườn. Yavê gọi con người mà rằng:
- Ngươi ở đâu?
Con người đáp:
- Tôi nghe tiếng bước của Người trong vườn và tôi sợ vì tôi trần truồng, nên tôi đi núp mình đi.
Yavê phán:
- Ai đã mách cho ngươi biết là ngươi trần truồng? Hoạ chăng là ngươi đã ăn cây Ta cấm?
Và con người thưa:
- Người đàn bà mà Người đã đặt bên tôi, chính y thị đã hái nơi cây ấy cho tôi, nên tôi đã ăn.
Yavê quay sang hỏi người đàn bà:
- Tại sao ngươi làm thế?
Người đàn bà thưa:
- Rắn đã phỉnh tôi nên tôi đã ăn!
Sau đó, Yavê xử phạt cả ba, và nặng nề nhất là trên con rắn.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Bài Kinh Thánh này, hầu như mọi tín hữu đều biết gần như thuộc lòng. Nhưng hiểu nó cho đúng, đã được mấy ai?
Trước hết, không được hiểu đoạn văn này như là một việc tả chân đúng từng câu, từng chữ, sát nghĩa đen: con rắn là con rắn ta thường thấy, cái cây là cái cây nào đó giống các cây mà ta biết..., trái cấm là một trái cây cũng như trái táo, trái “bom”, trái ổi... Vậy phải hiểu sao? Phải hiểu nó giống như câu chuyện ngụ ngôn, nghe kể để rút lấy cái ý muốn ám chỉ điều gì ở trong đó. Vì quả thật, chưa hề bao giờ có một con rắn lại biết nói, đó là chuyện hoang đường. Nhưng tác giả Kinh Thánh có ý ám chỉ nó là một loài quỉ quái, tinh khôn, khéo léo, biết luồn lách, và có ác tâm muốn làm hại loài người. Rắn ám chỉ về ma quỉ, hoặc một thế lực tăm tối, ác hiểm, lén lút, xúc xiểm con người làm sự trái.
Nhưng đàng khác, ta không được coi câu chuyện tả trên đây là hoang đường; trái lại, ta phải nhận là có xảy ra. Nhưng vì nó là một điều bí nhiệm, nên phải dùng thể văn bình dân, tả chuyện, tả cảnh mà kể lại, nhất là cho những người bán khai sống cách đây mấy nghìn năm được dễ hiểu, dễ nhớ. Tóm lại, ta phải vượt qua các chi tiết cụ thể, vật chất, sát nghĩa đen, mà hiểu các điều ấy theo nghĩa bóng, tức ý nghĩa nhiệm mầu mà Chúa muốn dạy cho ta. Ta hãy lấy một ví dụ: ở bên tây phương, khi đứa con nít 4, 5 tuổi ngớ ngẩn hỏi mẹ nó: Con từ đâu mà sinh ra? Ba má nó không thể nào nới cho nó về vấn đề sinh lý, việc cha mẹ giao hợp với nhau, tinh trùng gặp trứng của người nữ rồi kết thành bào thai thể nào..., cái đó quá khó đối với nó, để sau này khi nó lớn lên, đủ trí khôn, họ sẽ nói rõ. Hiện giờ phải nói bóng bẩy, bà mẹ sẽ chỉ nói: “Một hôm có con cò trắng bay trên trời, ngậm trong mỏ một cái giỏ, trong đó có con nằm, bé tí xíu, rồi con cò đậu xuống, bỏ vào bụng mẹ đây, thế là mẹ đẻ con ra, con là con bố mẹ”. Với tuổi thơ, biết từng ấy là đủ rồi. Nhưng nếu khi nó đã 20 tuổi, học đại học gì gì rồi, mà nó cứ hiểu như mẹ nó kể hồi bé, thì nó chẳng hoá ra thằng ngốc, ấu trĩ lắm sao?
Ấy thế mà việc ấy lại xảy ra cho nhiều người tín hữu mới chết chứ! Không cần nói về nhiều điều khác trong đạo, chỉ lấy một tỉ dụ là chuyện Kinh Thánh kể trên về việc ăn trái cấm, có nhiều người tín hữu nay đã trưởng thành, sống thế kỷ 20, sắp bước sang 21, mà vẫn hiểu chuyện đó như đứa con nít: là có một con rắn biết nói, có một cái cây có quả cấm (có người còn gọi đích danh nó lá trái pom nữa, thật hết nước nói), rồi ăn vào, nuốt vào bụng, còn Adong thì nuốt nửa chừng đến cổ, mắc kẹt thành cục adong ở giữa cổ...
Đáng buồn! Lỗi là do các Đấng giảng dạy không cắt nghĩa. Song tín hữu cũng có lỗi vì tỏ ra ít chịu khó tìm hiểu ý nghĩa đạo mình, học dăm câu sách phần, giáo lý hồi nhỏ, thế là cứ hiểu từng đó và y như thế cho đến bây giờ, đang khi các vấn đề ở đời, văn chương, khoa học, kinh tế, làm ăn, mánh lới..., thì họ chịu khó học lắm, rành lắm. Tôi nói đây là xin nhắn riêng các bạn trẻ, từ 13-14 tuổi trở lên..., hãy chịu khó học thêm giáo lý và Kinh Thánh, để đời sống đạo của các bạn càng tươi đẹp, vì có hiểu mới thích.
1/ Bây giờ, ta đề cập đến ý nghĩa của đoạn Kinh Thánh trên: Thiên Chúa đã tạo dựng nên loài người, Người lại cho họ hưởng dùng mọi sự vật Người dựng nên, đó là ý câu: “Mọi quả cây trong vườn, chúng tôi đều được ăn. Nhưng có một thứ cây quả Thiên Chúa cấm, sờ vào ăn vào là phải chết”. Ý nói: có một điều, con người không được chạm tới, không được chiếm lấy, nghĩa là Thiên Chúa đặt con người trong một giới hạn, không được vượt qua mà tìm cái không thuộc quyền họ, quá khả năng họ. Ở đây là cây biết tốt xấu, cái cây lạ đời này có ý ám chỉ quyền định đoạt về cái gì là tốt, là xấu cho đời mình. Quyền ấy thuộc về Thiên Chúa. Tiếm quyền ấy sẽ đem con người tới cái chết, cái hỏng cuộc đời mình.
a/ Qnyền định đoạt về tốt xấu là thế nào? Thưa là điều lợi hại mà chỉ mình Thiên Chúa có quyền định, ví dụ nói dối là xấu, là hại. Nhưng con người chiếm quyền ấy khi nói: Không, nói dối là tốt, là cần, nhất là khi nhờ nói dối, tôi đạt được điều tôi ước mong, nói dối có 1ợi cho tôi, cho nên tôi quyết định rằng đó là điều làm được và tốt (Đây là lấy ví dụ cho anh chị em dễ hiểu, chứ không phải nguyên tổ phạm có tội nói dối đó mà thôi). Làm thư thế, con người đã định đoạt về tốt xấu là điều lợi hại chi phối số mệnh con người.
b/ Như thế, nói chung lại, con người phạm tội gì? Cái tội này - mà đoạn Kinh Thánh mô tả cụ thể bằng việc ăn trái cấm - đó là khi tiếm quyền Thiên Chúa ấy, họ muốn bằng Thiên Chúa. Truyện kể rằng: “Các ngươi sẽ mở mắt”, tức là sẽ nên thượng trí, khôn ngoan, và “Các ngươi sẽ nên như những Thiên Chúa”, bằng Thiên Chúa, ngang với Thiên Chúa, thế là chẳng cần Thiên Chúa nữa, cái gì mình cũng biết được, cái gì mình cũng làm được, tốt xấu, hạnh phúc đời mình mình tự tạo lấy, đó là thiên đàng trần gian ngay đây rồi, cần gì phải cầu xin, phải tin Chúa, phải lãnh như ơn huệ của Thiên Chúa... Như thế là chối bỏ địa vị thụ tạo, tự cho mình như những Thiên Chúa, không biết ơn Chúa đã tạo dựng nên mình, chẳng biết ơn về mọi sự Thiên Chúa dựng nên trong thế giới này cho mình.
c/ Các Đấng giảng dạy từ xưa đến nay đều tóm tắt cái tội ấy lại bằng câu: tội kiêu ngạo! Song không phải cái kiêu ngạo vụn vặt con nít hay xưng trong toà, hay kiêu ngạo lẻ tẻ của ta thường ngày đối với người này, người nọ. Đây là cái thái độ kiêu ngạo tầy trời, và chống với chính Thiên Chúa nữa mới ghê chứ!
2/ Bây giờ, ta đến điểm hỏi rằng: Ai đã phạm tội ấy? Lời đáp từ xưa ta vẫn được nghe dạy là một mình ông Adong và bà Eva phạm, đó là tôi tổ tông, rồi truyền đến con cháu là tất cả giống dòng nhân loại. Bây giờ, ta nên hiểu rộng ra thế này: Không chỉ mình nguyên tổ phạm, mà cả chúng ta, cả nhân loại, bất cứ ai sinh ra làm người thì cũng mang lấy san cái mầm mống tội ấy trong mình. Chẳng phải trong chúng ta, ai cũng có kiêu ngạo đấy ư? Ai không có cái mầm mống tôi muốn làm chủ cả mọi sự, muốn tự mình định đoạt cái tốt, cái xấu. Tỉ dụ Chúa bảo ta: không được nói dối, còn ta tự nhủ: nói dối mà không làm thiệt hại ai, thì tôi làm được. Chúa định rằng: phải tha thứ, phải yêu kẻ địch thù! Thế mà nhiều người dám nghĩ: Chúa dạy thì Chúa cứ dạy, chứ ai mà làm được? Làm sao tôi tha thứ được cho kẻ đã làm hại gia đình tôi, đã sỉ nhục tôi, tôi phải báo thù mới được! Chúa dạy yêu thương ư! Làm sao yêu kẻ thù tôi được? Chúa dạy phải sống trong sạch, còn người có gia đình thì một vợ một chồng. Chúng ta nói: Chúa dạy điều khó ai mà giữ được..., vợ chồng không còn sống hạnh phúc với nhau thì tôi bồ, đi lấy người khác..., sống với nhau mà như trong hoả ngục thì sao sống nổi... Chúa khó quá Chúa vô nhân đạo, Chúa bắt người ta phải khổ... Nói tóm: chúng ta luôn luôn ngấm ngầm chống đối, muốn đi ngược ý Chúa, muốn làm mọi sự theo ý mình: đó là tội tổ tông; nó nằm trong bản thân con người rồi! Vậy, tội tổ tông là điều chúng ta cũng phạm và đang phạm hàng ngày: nói tổng quát là cái thái độ tâm hồn ta luôn muốn chống lại ý Thiên Chúa, muốn làm theo ý mình, làm chủ đời mình, không muốn uốn nắn đời mình theo ý muốn của Chúa định đoạt mà hành động sao để có lợi cho mình, theo ý thích và đam mê của mình.
3/ Hậu quả sau khi phạm tội tổ tông là gì? Bài Kinh Thánh cho biết: “Mắt họ mở ra và thấy mình trần truồng”. Không phải là không có quần áo, mà là trần trụi, nghèo xơ xác, không có gì cả. Phạm tội chống Thiên Chúa, làm chủ mình, định đoạt đời mình, họ tưởng họ sẽ được mọi sự, kỳ thực ra trắng tay. Cứ thử lấy một ví dụ: Hít-le khi tưởng mình là tài giỏi, Đức quốc xã sẽ làm bá chủ thế giới, thế là ông phát động cuộc xâm lăng các nước và chiến tranh với cả thế giới... Cuối cùng, ông đã thất bại, cả thế giới chống lại, đem quân, chiến xa, máy bay ném bom tan cả nước Đức; còn Hít-le thì phải tự sát trong một cái hầm, khi quân Đồng Minh vây Bá Linh và sắp bắt được ông. Ông đã ra trần truồng, nghĩa là trần trụi, chẳng còn gì, chính mạng ông cũng mất. Ta lấy thí dụ ấy mà áp dụng cho từng người. Nếu chúng ta muốn làm theo ý mình, tổ chức đời mình theo ý mình, làm chúa tể đời mình, mọi hoạt động đời mình theo ý riêng, đam mê, tội lỗi..., ta sẽ ra tay trắng, ra trần truồng, khi đứng trước toà phán xét... Còn gì nữa? Bài Kinh Thánh nói: Họ sợ và trốn tránh mặt Chúa, Đấng trước kia chiều chiều xuống tản bộ trong vườn dạo chơi thân mật với họ. Thế là hết tình nghĩa. Bây giờ chỉ còn tránh lánh, nếu không phải là địch thù. Còn gì nữa? Hình phạt ngay ở đời này, trong chính bản thân và điều kiện sống của mình: ông phải cật lực đổ mồ hôi, sôi nước mắt kiếm chén cơm, bà phải đau đớn trong sinh đẻ và thân phận phải luỵ phục chồng. Gieo gió chỉ gặp bão.
4/ Tình trạng ấy có tuyệt vọng không? Thưa không! Ở bài sách Thánh trên, ta không trích đăng câu tiếp theo, đó là một lời hứa hé mở niềm hi vọng cho nhân loại khốn khổ: một miêu duệ, tức là một người con cháu trong dòng dõi nhân loại, sẽ cứu nhân loại. Đó là tiên báo về Chúa Giêsu Kitô sẽ đến cứu họ, giải thoát họ khỏi tội tổ tông và các tội mình làm, thoát cảnh trần truồng và bị kết án, thắng Satan (con rắn).
Tất cả ơn giải thoát, sự toàn thắng nói trên, Đức Giêsu đã đến, đã thực hiện xong, nhờ cuộc Tử nạn và Phục sinh của Ngài. Ngài gói ghém nó lại trong Bí Tích Thanh tẩy mà gửi đến cho ta. Vậy muốn được giải thoát, được toàn thắng, ta hãy lãnh lấy Bí Tích Thanh tẩy.
Tích truyện
Xưa, có một ông hoàng trẻ mà rất kiêu, muốn người ta tôn thờ mình như vị thần, nên không cho người ta đến gần, chỉ được phép bái lạy từ xa. Một hôm, ông du thuyền trên sông, thuyền lật, ông ta bì bõm sắp chết đuối. Ông kêu cứu, dân làng nghe tiếng chạy ra, nhưng thay vì nhảy tới cứu, họ chỉ đứng xa xa trên bờ mà bái lạy rối rít.
Ông gào:
- Đến cứu ta, các bạn!
Họ trả lời:
- Chúng tôi không dám đụng đến thánh thể ngài với tay thô hèn của chúng tôi.
Mãi một lúc sau, họ mới đến vớt ông lên thì bụng ông đã phình lên vì uống nước no. Thật là một bài học đích đáng! Từ đó, ông chừa thói kiêu ngạo, cho mình và thần thánh.
BÀI LỜI CHÚA 73BIS
HAI PHƯƠNG ÁN CỦA THIÊN CHÚA
Trích thư Rôma 3.21-28
Nhưng nay thì không tuỳ vào luật nào, Thiên Chúa tỏ cho thấy cách Người làm cho người ta nên công chính, đó là nếu họ tin vào Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế, không phân biệt đó là người Do thái hay người ngoại, vì mọi người hết thảy đều đã phạm tội và khuyết hẳn vinh quang Thiên Chúa.
Nhưng nay thì họ được giải án tuyên công một cách nhưng không do ân huệ của Người mà thôi, nhờ công cuộc cứu chuộc đã thành tựu trong Đức Giêsu Kitô. Thiên Chúa đã định cho Đức Kitô phải đổ máu mình ra làm phương thế xá tội cho những kế tin. Như vậy, Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng Công Chính, trung tín giữ lời hứa Người sẽ cứu độ. Trước kia, trong thời Thiên Chúa cầm mình nhẫn nhịn, thì Người đã bỏ qua các tội lỗi loài người đã phạm. Nhưng vào thời bây giờ, Người muốn cho thấy rằng Người là Đấng trung tín giữ lời hứa cứu độ, thì Người ra tay giải án phạt và tuyên bố là công chính hoá kẻ nào nại đến lòng tin vào Đức Giêsu.
Vậy thì con người có gì mà hãnh diện tự đắc? Thưa chẳng có gì Thật vậy, chúng tôi nghĩ rằng: người ta có được giải án phạt tội và được tuyên bố là công chính, đó là bởi vì tin, chứ không phải vì làm những gì luật dạy.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Bài Kinh Thánh hôm nay, anh chị em nghe nó buồn, khô khan và khó hiểu. Nhưng nó lại là bài vô cùng căn bản, trọng đại, vì nó toát yếu tất cả đạo Kitô của chúng ta. Từ xưa, các linh mục cứ nghĩ giáo dân ít học, đem bài Kinh Thánh ấy ra đọc, giáo dân sẽ không hiểu nổi, có đem giải nghĩa cũng chúng thầm vào lông trí được. Hôm nay, chúng tôi cậy vào ơn Thánh Thần soi sáng và tin tưởng vào anh chị em mà đem ra giảng giải. Mời mọi người cố gắng động não hơn một chút nhé!
Bắt đầu ta nghe đọc: “Nhưng nay thì... “. Chữ “nhưng” là một chữ dùng đế nói ngược điều nói ở trước. Ví dụ: “Anh thích ăn, nhưng tôi không thích”. Rồi đến chữ “nay thì...”. Nay là đối nghịch với xưa. Vậy nay thì sao, mà xưa thì thế nào?
Đáp: “Xưa” Thiên Chúa có một kế hoạch khác, “nay” kế hoạch khác (gọi theo tiếng đời nay là phương án). Kế hoạch hay phương án xưa thế nào? Câu “không tuỳ vào luật nào” cho hiểu: phương án xưa là tuỳ vào luật lệ, nghĩa là sau khi nhân loại chúng ta phạm tội phản nghịch Thiên Chúa ở vườn địa đàng, Chúa đuổi ra khỏi nơi diệu quang, sống vất vả, khổ sở, càng ngày càng bị ma quỉ và tội lỗi lôi cuốn vào sự chết. Trước tình cảnh ấy, Thiên Chúa hoạch định một phương án cứu chuộc lại. Phương án ấy như sau:
Thiên Chúa, Đấng Thánh thiện, ngự trên trời, vì thương loài người lầm lạc trong đêm tối tội lỗi, mới ban lề luật chỉ đàng cho họ, để họ làm theo đó mà được cứu. Nào luật tự nhiên như luật trong lương tâm, rồi luật của các đạo, các tôn giáo bên Tây phương, cũng như đông phương, khắp nơi; chẳng hạn bên Á đông chúng ta thì có những giới luật của đạo Phật, đạo Lão, đạo Khổng, đạo ông bà... dạy người ta diệt tham sân si, phải hiếu đễ, phải nhân, nghĩa, 1ễ, trí, tín... và còn bao giới luật khác... dạy ăn ngay ở lành, đừng lấy của, giết người, hà hiếp, tham lam, bất công... - Thiên Chúa chưa lấy làm đủ, Người còn chọn một dân riêng, gọi là dân Israen, ban cho họ một bộ luật hoàn bị hơn, gọi là luật Môsê. Để thí nghiệm xem nếu thành công thì sẽ đem áp dụng truyền lan cho khắp cả thế giới.
Nhưng, anh chị em có đoán được kết quả là thế nào không? Là số không! Đây ta chỉ trích một câu tiêu biểu nhất: Thiên Chúa nhờ miệng tiên tri Ysaia mà trách dân Israen: “Ta đã chẳng tiếc công trồng một vườn nho quí, rào giậu kín đáo, đặt tháp canh, khoét bồn nho, tưới bón đủ cả; nói tóm, chẳng có gì có thể làm mà Ta đã chẳng làm cho vườn nho. Thế mà Ta lại chi gặt hái được nho chua lè, thay vì nho ngọt lịm? Ta chỉ thấy dân Israen sản xuất ra toàn độc ác, bạo tàn”, tội lỗi, thay vì đạo đức, tốt lành, yêu thương.
Thánh Phaolô cũng nhận định như thế trong thư Roma, khi ông được Chúa soi sáng nói ra thế này: “Dân Do thái cũng bị Chúa thịnh nộ, kết án, mặc dù họ có bộ luật hoàn bị hơn, mặc dù họ có phép cắt bì, mặc dù có các lời hứa”, và bao phép lạ, điềm thiêng Chúa làm cho họ, nào phép lạ đi qua biển đỏ ráo chân, bánh manna, chim cút, nước uống giữa sa mạc, được vào đất chảy tràn sữa và mật. Kết quả ra sao? Dân Do thái càng ngày càng tội lỗi, đến nỗi Chúa bỏ mặc họ, thế là quần ngoại đến tấn công, tàn phá thánh đô Yêrusalem, phá huỷ Đền Thờ, nhà tan cửa nát, dân chúng bị đi đày sang Babilon, và lần sau, Còn bị tản mác lưu vong khắp cả thiên hạ cho đến ngày nay... Kết quả của phương án xưa (gọi là phương án l) chỉ là con số không!
Còn dân ngoại thì có khá hơn không? Thưa: còn tệ gấp bội. Thánh thư Roma, kê ra một bảng các tội lỗi của họ đủ mọi thứ: loạn luân, đồng tính luyến ái, độc ác, bạo tàn, kiêu ngạo, ác quái, gian tham... Anh chị em còn nhớ lời Chúa phàn nàn: Suốt ngày từ sáng đến tối, đấu óc chúng chỉ nặn ra toàn độc dữ. Nên Thiên Chúa lấy làm hối tiếc vì đã dựng nên loài người. Sau đó, Chúa đã xoá sạch họ trên địa cầu bởi lụt Đại Hồng thuỷ (sách Khởi Nguyên, ch.6-7). Thánh thư Roma cũng kết luận: dân ngoại cũng mặc án thịnh nộ của Thiên Chúa.
Tóm tắt: Tất cả loài người, không trừ ai, đều tội lỗi, đã phạm tội và khuyết vinh quang, mất ơn sủng Thiên Chúa, như ta đọc trong bài Kinh Thánh trên đầu. Chúa ban cho họ luật, và dạy: Hễ ai giữ trọn lề luật thì nhờ đó, được sống đời đời. Rồi Chúa ngồi trên trời, chờ đợi họ lên để Người phán xét xem có giữ trọn luật không (luật lương tâm, luật tôn giáo, nhất là luật Môsê), để Người sẽ thưởng cho họ sự sống đời đời. Chẳng ai trong họ đạt tiêu chuẩn cả. Chúa như chờ mãi mà chẳng có ai đạt để cho vào thiên đàng. Chẳng một ai đạt! Abraham, Đavít... dù khá lắm trong hàng tôi trung của Thiên Chúa Đó, ấy thế mà Chúa cũng thấy các ông có phạm tội. Ta chưa quên tội ngoại tình ông phạm với bà Bét-sa-bê, vợ tướng U-ria...; sau đó, sợ tai tiếng, ông đã giết chồng bà ta để tự do lấy bà ấy về lâm vợ. Đó, người khá nhất mà cũng vậy.
Thế là phương án l, kế hoạch xưa đã thất bại hoàn toàn. Một cách nào, ta có thể nói rằng: Thiên Chúa đã thất bại. Rút kinh nghiệm đau thương ấy, Chúa bèn lập một phương án mới thứ hai: Không tuỳ vào luật nào cả. Từ nay, Chúa không bảo loài người: hễ giữ trọn luật thì nhờ đó được thưởng sự sống đời đời. Thế thì sẽ tuỳ vào cái gì? Thưa: tuỳ vào lòng tin nơi Đức Giêsu, như sau đây sẽ trình bày. Đây, phương án 2 là thế này: Thiên Chúa không còn cứ ở trên trời như trước, giữ một sự xa cách và đợi loài người chết rồi phán xét để tính sổ xem giữ có trọn luật không, được bao nhiêu công nghiệp, tập được bao nhiêu nhân đức. Và nếu Chúa phán xét thấy đủ, thì thưởng cho sự sống đời đời (x. Mt 19.17-19). Nhưng nay, Thiên Chúa xé trời mà xuống giữa loài người (Ysaia 64.19), giữa Thiên Chúa và loài người không còn có lằn ranh không thể vượt qua ngăn cách nữa. Thiên Chúa đã xuống, không phải ở giữa loài người như xưa ngự vô hình trong Đền Thờ, trên Hòm bia Giao ước, nhưng Người mặc lấy thân xác để làm một người, như chúng ta. Thánh Gioan vết: “Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm và ở giữa chúng ta” (Ga 1.14).
Làm như thế để làm gì?
Để thánh hoá bản tính loài người, hoặc nói cách khác: để biến đổi bản tính xấu xa, tội lỗi, cho sạch tội mà nên tốt lành, thánh thiện như bản tính Thiên Chúa. Vì khi Thiên Chúa mặc lấy bản tính loài người, thì xảy ra là Thiên Chúa thì thánh thiện, vô cùng vinh hiển vô tốt lành. Còn xác phàm Chúa nhận lấy thì dính đầy vết nhơ tội lỗi. Ta có thể ví Thiên Chúa là một người rất sạch sẽ, lịch sự; khi nhận lấy thân xác loài người, thì như thể Người và ở một cái phòng bần thỉu, thối tha, lộn xộn, tối tăm. Đáng lý ra, Người không chịu nổi, không sống nổi. Song vì lòng yêu thương, Người cố quyết sống để rồi dọn dẹp, quét tước, sửa sang cho nó nên sạch, nên đẹp, Người biến đối nó nên lịch sự, sạch sẽ như Người! (Rm 8.3; 2Cor 5.21; 1Pr 2.21).
Thiên Chúa biến đổi bản tính nhân loại lúc nào? cách nào?
Thưa: Ngay khi Nhập Thể trong lòng Trinh Nữ Maria, Ngài đã biến đổi, đã thánh hoá cách nào rồi, nhưng nhất là khi tế lễ mình trên thập giá. Đó là chóp đỉnh việc biến hoá, thánh hoá. Khi Đức Giêsu dâng mình tế lễ cho Chúa Cha, vì yêu mến và vâng phục Cha, thì Cha vui lòng lắm, Người chấp nhận của lễ ấy, và ban Thánh Thần xuống làm cho Đức Giêsu sống lại, thân xác Đức Giêsu được phục sinh. Từ nay, bản tính nhân loại Đức Giêsu được cứu chuộc hoàn toàn, không còn mang chút gì nhơ bẩn, tội luỵ, tối tăm, yếu đuối. Nói thế không bảo là Đức Giêsu đã phạm tội nào. Đức Giêsu không hề phạm tội, Ngài vô tội (Ga 8.46; Híp-ri 4.15), nhưng cái bản tính loài người Ngài mặc lấy thì do từ nguyên tổ Ađam, Eva truyền xuống là bản tính hư hỏng, đầy dấy vết tích tội lỗi (Rm 8.3). Ngài phải mang lấy thì mới tẩy sạch nó được chứ.
Bây giờ, ta nói tiếp, từ khi phục sinh, Thánh Thần đã đến tẩy sạch, biến đổi, thánh hoá, và làm cho toàn thân mình Đức Giêsu được đầy thần tính Thiên Chúa như Thánh Phaolô dạy trong thư Coloxê (2.9): “Bây giờ, trong cả thân xác Đức Giêsu, đều có thần tính Thiên Chúa ngự một cách sung mãn”. Như thế, Đức Giêsu giống như “cái lò bát quái” của Thái Thượng lão quân trong truyện Tây Du Ký, cái lò biến hoá, cái 1ò luyện nên thánh. Nó đã nhờ sức Chúa Thánh Thần như lửa cực nóng, luyện cái thân xác Đức Giêsu nên trong sạch, thánh thiện, đầy tràn vinh quang, ơn sủng. Đó là điều mà bây Kinh Thánh trên đầu nói: “Công cuộc cứu chuộc đã thành tựu nơi Đức Giêsu Kitô (x. Híp-ri 5.8-10).
- Hỏi: Công việc trên đây ăn nhằm gì với chúng ta, người trần, phạm đầy tội lỗi xấu xa?
Thưa: Ăn nhằm lắm chứ! Phải nói: chính vì để biến đổi, thánh hoá chúng ta mà Chúa mới làm công việc đó! Nghĩa là sau khi bản tính nhân loại cá nhân Đức Giêsu được biến đổi, tức là công cuộc cứu chuộc đã thành tựu trong Chúa Kitô, thì Thiên Chúa mời chúng ta: có muốn được biến đổi, được thánh hoá, tức là được cứu chuộc, được sự sống đời đời và được thiên đàng hạnh phúc vô cùng không? Ta đã bày ra “một phương thế xá tội” rồi đó!
Thế là ai muốn thì Chúa bảo: Ta chỉ đòi một điều kiện: hãy tin vào Đức Giêsu, gắn bó với Đức Giêsu (thường được biểu lộ ra bằng việc bên ngoài là chịu Phép Rửa tội), thì được vô trong “cái lò bát quái” là Đức Giêsu Tử nạn Phục sinh nói trên. Vào trong đó, Chúa Thánh Thần sẽ luyện ta sạch (tức là ta được tha thứ tội lỗi), được biến đổi thành con người mới, càng ngày càng thánh thiện, càng ngày Thánh Thần càng làm cho “cái tôi” khốn nạn của ta chết đi. Điều này mới quan trọng, làm chết “cái tôi” khốn nạn này là đầu mối gây ra mọi tội lỗi. Cho nên, việc tẩy luyện trong “lò bái quái Đức Giêsu” không chỉ dừng lại ở việc tha tội, song là cứ dần dần làm chết đi “cái tôi” là gốc rễ mọi tội lỗi, để từ nay, một cái tôi khác là Chúa sống trong ta (Galát 2.26). Ta sẽ đầy ơn Chúa, đầy quyền năng, được làm con Chúa, và được vào Nước Thiên Chúa, tức là Nước thiên đàng bắt đầu ngay từ trần gian (như sau sẽ bàn) và mãi mãi đến muôn đời.
Kinh Thánh nói: một khi bản thân Ngài đã nên thành toàn, thì Ngài nên nguyên nhân cứu rỗi cho ta. Đó là phương án hai của Thiên Chúa. Các anh chị em có thấy đòi điều bện là phải giữ trọn luật nào đâu! Không hề thấy! Đầy là chuyện nhưng không mà chỉ cần: Hãy tin! Mời đọc lại câu đầu của bài Kinh Thánh hôm nay thì rõ: “Nhưng nay thì không tuỳ vào luật nào, Thiên Chúa tỏ cho thấy một cách khác. Chúa làm cho người ta nên công chính mà không cần nhờ vào luật, đó là nếu họ tin vào Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế...” - “Họ được giải án phạt (được tha tội) và được tuyên bố là công chính (tức được nên thánh thiện) một cách nhưng không” bởi vì tin, chứ không phải vì làm những gì luật dạy.
Ta kết luận sao?
Thưa: Ta phải nhận định rằng: Chúa thương ta quá bội, đã lập một phương án mới hết sức dễ dàng và đồng thời lại vô cùng kỳ diệu: coi như Chúa làm hết cả. Chúng ta không còn phải gồng mình giữ luật ăn chay, tụng niệm... để lập công nghiệp nữa... Chúa lãnh lấy tất cả và làm thay cho ta rồi. Nay chỉ việc tin, tin hết lòng, tự đáy lòng, bám lấy Chúa Giêsu, gắn bó với Ngài, là được vào trong Ngài; trong đó, Thánh Thần sẽ luyện tẩy, biến đổi chúng ta...
Khi thấy Chúa thương như thế, ta chỉ biết vui mừng, ca hát, ngợi khen Chúa vô cùng vô tận, tức là hát ca tạ ơn Chúa suốt cuộc đời. Vui lên hỡi anh chị em! Hãy vỗ tay! Hãy ca hát ngợi khen Chúa! Đời chúng ta từ nay không được phép buồn, cho dù gặp cay đắng, vất vả, khổ đau. Chúng ta đang ở trong Chúa Kitô cơ mà! “Tôi sống, nhưng xem ra mà không phải tôi, chính Chúa Kitô phục sinh đang sống trong tôi. Đời sống của tôi lúc này trong thân xác, trong cuộc sống thường ngày, công ăn việc làm, giải trí, yêu đương..., tôi sống tất cả các sự đó trong lòng tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và đã phó mình chịu chết cho tôi, để tôi được sống và hạnh phúc” (Galát 2.20). Như thế, hỏi còn buồn sao được? Như thế chỉ còn vui thôi! Ôi! Chớ gì anh chị em thấu hiểu được, ắt anh chị em sẽ vui sướng và hạnh phúc!
Tích truyện
Một hôm kia, Hoàng hậu Anh quốc là Vic-to-ria ăn mặc giả làm dân, đi thăm một xưởng giấy. Chủ xí nghiệp ra đón tiếp và mời đi tham quan chỗ này, chỗ nọ, chỉ cho bà biết cách làm giấy như thế nào. Tới một chỗ có đông công nhân đang lựa lọc những giẻ bẩn mà người ta mới tải về, còn đang bay mùi rác rưởi hôi thối, khó chịu.
Bà bèn hỏi:
- Giẻ bẩn thế này mà ông dùng để làm gì?
- Thưa, để làm giấy.
- Nhưng nó vừa đen bẩn, bừa đủ thứ màu, làm sao cho ra giấy trắng được?
- Thưa, được chứ! Bởi cách chế tạo nhờ các chất hoá học thì không còn thấy màu nữa, mà chỉ ra giấy trắng như tuyết.
- Thật lạ lùng!
Sau đó, bà ra về. Cách ít lâu, bà nhận được một xấp giấy thật đẹp, trắng như tuyết, làm bằng các thứ vải dơ bẩn, hôi thối bà thấy hôm nọ. Bà bèn lấy ra một tờ giơ lên coi, thì cũng thấy hình của bà trong ấy nữa.
Chúng ta cũng vậy, là giẻ dơ bẩn, hôi hám; nếu ta tin, ta được nhập vào “lò bát quái” là Đức Giêsu phục sinh, ta bèn trở nên trắng như tuyết, được tái sinh vào một đời sống mới, công chính, thánh thiện, đến nỗi Chúa Kitô thành hình trong chúng ta.
* [Hãy cùng nhau hát một bài thật vui mừng, sống động mà ca ngợi, cám ơn Chúa].
BÀI LỜI CHÚA 74
THẾ NÀO LÀ CỨU CHUỘC
Ta đã thấy loài người chúng ta mắc tội tổ tông và các tội riêng mình làm, cho nên tất cả nhân loại ta rơi vào tình trạng hư mất, không có sự sống Thiên Chúa. Chúa đã lập hai kế hoạch để cứu chuộc chúng ta khỏi tình trạng hư mất ấy. Nếu anh chị em ta hiểu thật đúng việc cứu chuộc, lúc ấy ta mới hiểu Bí Tích Rửa tội được, vì Bí Tích Rửa tội là cái đến để chuyển ơn cứu chuộc kia tới cho ta.
Trích thư Corintô, ch.6
Anh em hãy tránh tà dâm! Phàm mọi tội người ta phạm, thì đều ở ngoài thân xác; còn kẻ tà dâm thì có tội phạm đến chính thân xác mình. Vì anh em không biết sao? Thân mình anh em (bây giờ đã) là Đền Thờ của Chúa Thánh Thần (ngự) trong anh em; anh em đã chịu lấy (Ngài) từ Thiên Chúa, và anh em không còn thuộc về mình nữa. Anh em đã được mua chuộc, giá cả hẳn hoi! Vậy anh em hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi thân mình anh em!
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Trích đoạn Kinh Thánh trên, chúng tôi không có ý bàn giải về tội tà dâm, nhưng về việc cứu chuộc. Tại sao như thế? Vì Thánh Phaolô cho biết: Thân mình của chúng ta đã được mua chuộc lại bởi máu đào của Đức Giêsu đổ ra trên thập giá; do đó, thân mình của ta không còn thuộc về ta nữa. Nó thuộc về người khác rồi, tức thuộc về Đức Kitô rồi, Ngài đã mua chuộc nó lại để dùng làm Đền Thờ cho Chúa Thánh Thần ngự. Cho nên, từ nay, ta sống là để làm vinh danh Thiên Chúa, chứ không để phạm tội nữa. Cũng y như người ta mua một cái nhà lớn, chuộc nó bằng một món tiền lớn, là để làm nhà thờ, mà nhà thờ là nơi thánh, dùng để ngợi khen, cầu nguyện, tế lễ, chứ không còn được phép dùng vào việc phàm tục nào khác, chẳng hạn như chất hàng, buôn bán, làm phòng ngủ...; huống hồ để làm nơi phạm tội ở đó! Nghe ở đoạn Kinh Thánh này có câu “mua chuộc”, ta đâm thắc mắc: việc cứu chuộc có phải là một việc chuộc lại bằng một cái giá đắt không? Thưa: Không! Ủa, thế sao Thánh Kinh ở đoạn trên, và còn ở nhiều đoạn khác nói rõ: là chuộc lại, và bằng một cái giá đắt cơ mà, chẳng hạn ở Mt 20.28: “Con Người đến không để được hầu hạ, nhưng là đề hầu hạ và thí mạng sống mình làm giá chuộc thay cho nhiều người”? Thưa: đó là một cách nói bình dân, một hình ảnh thô thiển để cho người ít học, bình dân nhất đều có thể hiểu. Nhưng việc cứu chuộc không được hiểu như một việc đem một cái giá mà mua lại. Hình ảnh ấy không được hiểu sát nghĩa đen như thế, song có ý nói rằng: Chúa đã phải cực khổ, khó nhọc lớn lao, nặng nề đến thế nào để cứu rỗi ta (cũng giống như khi ta nói: tôi đã thi đậu, song với một giá rất đắt, tức là phải hi sinh nhiều)...
Vậy thực chất, phải hiểu việc cứu chuộc, hoặc cứu rỗi ấy như thế nào mới đúng? Chúng ta sẽ nhờ các nhà thần học ngày nay dạy chúng ta, cách riêng nhờ Cha Giuse Nguyễn Thế Thuấn, nhờ các lời giảng dạy của Cha viết trong tập Kê-rích-ma II, chương dạy về sự chết cứu chuộc của Chúa Giêsu. Cha Thuấn viết: Nếu hiểu đó là một giá chuộc, thì một khi Đức Giêsu đã thanh toán sòng phẳng, giá cả đã trả hẳn hoi, tại sao Thiên Chúa lại không ban thiên đàng cho chúng ta? Thế thì Người không làm trọn phép công bằng, Người đã không tha thứ hẳn; ngược lại, Người mắc nợ ta vì cầm tiền chuộc rồi mà không sòng phẳng. Trả giá như vậy rồi, Hội Thánh còn cần làm gì, các Bí Tích chẳng còn cần nữa. Xem ra giá cả đã xong, mà thực ra chẳng xong gì cả! Hơn nữa, nếu việc cứu chuộc ta là việc mua bán như thế, nói ra ta chỉ là một đồ vật thôi sao?
Chuyện phi lý trên đây, đã được xây dựng thành một giáo lý mà ta thường được nghe giảng dạy. Giáo lý xưa ấy tóm tắt như sau:
Có cứu chuộc vì loài người đã phạm tội, mà lại phạm đến Thiên Chúa, Đấng Cao trọng vô cùng, thì đó là một tội nặng và lớn lao hết sức. Làm sao con người là loài phàm hèn có thể đền tội cho xứng. Vậy phải có một người nào lập một công nghiệp lớn lao vô cùng mới đền nổi. Đó chính là Đức Giêsu, Con Một 'Thiên Chúa, Ngài phải xuống thế làm người với tư cách là Thiên Chúa thì mọi việc Ngài làm đều giá trị vô cùng; còn với tư cách là người trong nhân loại, Ngài đứng ra đền thay cho loài người là các em của Ngài. Đức Giêsu có thể làm một việc nhỏ cũng đủ đền tội cho ta, vì dù nhỏ, việc Ngài làm cũng có giá trị vô cùng, nhưng để cho thấy sự công bình, thẳng nhặt của Thiên Chúa và cho thấy tội của loài người xúc phạm đến Thiên Chúa lớn lao chừng nào, thì Đức Giêsu phải hi sinh chịu nạn, chịu chết vô cùng đau đớn, sỉ nhục, mà đặt vào cán cân công bằng Thiên Chúa: như thế là tội được đền, giá cả sòng phẳng, làm nguôi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, thoả mãn sự công bằng của Người: thế là loài người chuộc tội đúng pháp lý vậy.
Giáo lý ấy đặt nặng tính cách pháp lý, song ta phải nhận rằng: nghe thì mạch lạc lắm, nhưng nếu phân tách kỹ và đem đối chiếu với Kinh Thánh, thì nó tỏ ra rất khiếm khuyết, không thể chấp nhận được.
1/ Khiếm khuyết trước nhất là coi việc cứu độ chỉ như để làm thoả cơn giận của Chúa một cách công bằng, qua việc đền tội thay cho ta. Có vẻ có sự báo thù nào đó: “Mắt thế mất, răng đền răng” (Mt 5.38). Thiên Chúa bị xúc phạm bởi tội, thì phải làm nguôi giận Người bằng một cái chết của kẻ xúc phạm (Chúa Giêsu chịu chết thay cho ta), thế là thoả mãn, công bằng: thật ngược với lời dạy tha thứ... ơn cứu độ đâu có nguyên chỉ là từng đó, mà còn là một cái gì tích cực hơn nhiều, quí giá hơn nhiều: là tha thứ và ban cho ta sự sống Thiên Chúa. Đây lời Kinh Thánh dạy:
“Khi xưa ta còn sống theo xác thịt tội lỗi, thì cái dục tình tội lỗi nơi thân mình ta phát sinh ra những hậu quả là sự chết, nhưng nay, nhờ thân mình Chúa Kitô hi sinh chịu chết, thì anh em thuộc về Ngài, cốt để ta sinh hoa kết quả cho Thiên Chúa” (Rm 7.4).
“Những ai chiều theo xác thịt, thì thích thú những điều xác thịt, những ai theo Thần Khí, thì thích thú những điều thuộc Thần Khí. Nhưng thích thú những điều xác thịt là chết, còn thích thú những điều Thần Khí là sống và bình an” (Rm 8.5-6). “Khi Đấng cứu thoát ta hiển linh, thì Người đã cứu ta... nhờ phép Rửa tái sinh và sự canh tân đổi mới của Chúa Thánh Thần” (Tt 3.4-5).
Xét như vậy, việc cứu chữa không phải là một sự mua chuộc đơn giản, trả giá sòng phẳng là xong, nhưng là một cuộc biến đổi toàn diện con người cũ, chiều theo tính xác thịt, các đam mê tội lỗi, mà được sự sống mới: con người cũ phải bị diệt cho chết đi, để cho con người mới sống ở đó, đúng như Thánh Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng từ nay không còn phải tôi (= con người cũ của tôi), nhưng Đức Kitô sống trong tôi” (Gal 2.20).
Vì tội là gì? Là thiếu mất sự sống của Thiên Chúa. Thánh Kinh dạy: “Mọi người đều đã phạm tội và khuyết mất vinh quang Thiên Chúa”. Vinh quang Thiên Chúa chính là sự sống bên trong của Thiên Chúa. Như thế, làm sao loài người có thể trả giá để mua hoặc chuộc lại, trừ phi chính Thiên Chúa ban lại và cho ta nhập vào lại trong vinh quang của Người. Cho nên, Đức Giêsu đã xuống thế, đã sống vâng phục Cha mọi đàng (cho đến chết cũng vâng), chứ không sống theo tính xác thịt. Ngài đã nên người đầu tiên thánh thiện, thành toàn, đẹp ý Cha, để cho ta nhập vào Ngài bởi tin, ta được thông chia sự thánh thiện của Ngài (Hr 5.8t; Ph 2.9).
2/ Vả lại, nếu nói chuộc lại bằng một giá, thì giá ấy sẽ trả vào tay ai? Có một thời, người ta đưa ra câu trả lời khá kỳ quặc: trả giá cho ma quỉ, kẻ đang cầm giữ ta làm nô lệ. Lời giải này phải bỏ, vì tính chất kỳ quái của nó. Thiên Chúa không thể mắc nợ gì với nó mà Chúa Giêsu phải trả cho nó. Cho nên, chúng tôi xin nhắc lại điều đã nói trên: trả giá chuộc chỉ là một hình ảnh, cốt ý nói việc cứu chuộc đã được thực hiện với giá lớn lao, cực khổ thế nào.
Có người khác lại nói: trả giá cho Chúa Cha, để làm thoả mãn công bằng, làm nguôi cơn giận Người và kéo xuống trên chúng ta ơn huệ của Người. Lời giải này nghĩ Thiên Chúa giống như các thần minh ngoại đạo, do ảnh hưởng ngoại giáo tiêm nhiễm vào đạo Kitô, những ông thần ấy được cúng tế ngon lành thì thôi, chứ tế lễ không đủ thì giận dữ, phá phách, cho ôn dịch, mất mùa... Nghĩ theo kiểu đó, chằng khác gì coi Thiên Chúa là một tên bạo chúa tàn ác, mà Đức Giêsu phải mua chuộc bằng quà cáp, tặng vật, lễ vật, không thì Người nổi cơn lôi đình lên lại khốn. Kinh Thánh không dạy ta như vậy, trái lại, dạy ta rằng: Thiên Chúa là Cha mong con hoang đàng trở về, và Người là Đấng đã yêu thương ta trước (1Ga 4.10). Cầu khẳng định này của Kinh Thánh thật rõ ràng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4.8,16).
Chính Thiên Chúa đã chọn ta từ trước khi tạo thiên lập địa (Ep 1.4), tức là trước khi ta sinh ra trên đời, trước cả khi ta phạm tội hay lập công phúc gì. Chẳng lẽ các câu Kinh Thánh ấy là nói xạo? Vậy, Thiên Chúa đã yêu thương ta trước và muốn chọn ta để ban sự sống cho ta trước, chứ đâu có chờ đến sau khi ta phạm tội, đền tội làm nguôi cơn giận của Người, rồi Người mới thương ta.
Mà ngay cả việc sai Đức Giêsu đến thế gian để dạy dỗ ta và chịu chết cho ta, cũng là sáng kiến của Thiên Chúa nghĩ ra trước. Lời Kinh Thánh dạy: “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian đến nỗi đã thí ban Con Một của Người, ngõ hầu phàm ai tin vào Người Con này, thì khỏi phải hư đi, nhưng được sự sống đời đời”.
Bài học hôm nay hơi khó, song rất cần thiết, giúp ta hiểu đúng hơn ơn cứu chuộc. Kỳ sau, chúng ta sẽ xem: cứu chuộc là sự biến đổi, vậy biến đổi cái gì và thế nào. Kỳ này, chỉ cần ta hiểu là cứu chuộc không phái là trả một giá, theo pháp lý, thế là xong, sòng phẳng rồi. Quan niệm này chỉ là một hình ảnh thô thiển và không nói đúng thực chất của ơn cứu chuộc.
Tích truyện
Thằng quỉ làm dấu thánh giá
Va-len mồ côi cha từ lúc lên năm, phải ở với mẹ tại một khu lao động nghèo khổ. Ngày ngày, cậu phải vào các tiệm ăn đánh giầy cho khách. Mỗi lần khách trả tiền, cậu đều làm dấu thánh giá tỏ lòng cám ơn Chúa. Tụi bạn nom thấy thế, nhiều lần to nhỏ chê bai:
- Gạo thì không lo mà lo giữ đạo!
Mặc kệ, Va-len vẫn cứ hiên ngang giữ hình thức cầu nguyện đơn sơ ấy. Đức Khổng Tử đã chẳng nói: “Học đạo ba năm mà không lo đến cơm gạo có thể thiếu, thật người đó hiếm có!”
Năm 17 tuổi, cậu được ban văn nghệ khu phố mượn đóng vai thằng quỉ. Màn đầu vừa dứt, khán giả vỗ tay hoan nghênh nồng nhiệt. Sang màn hai, trời đột ngột đổ mưa, sam sét ầm ầm. Như bao lần trước, “thằng quỉ” trên sân khấu quên mất mình đang đóng kịch, vội quì gối làm dấu thánh giá. Khán giả cười rộ lên, tưởng thằng quỉ làm hề, không ngờ Va-len cầu nguyện thật.
Sau đêm ấy, mọi người trong khu xóm hiểu được hoàn cảnh của cậu, họ chung nhau quyên tiền để giúp Va-len ăn học. Đến sau, Va-len đỗ tiến sĩ lúc 30 tuổi.
BÀI LỜI CHÚA 74BIS
HÃY ĐẾN CÙNG GIUSE
Trích tóm tắt sách Khởi Nguyên, ch.37-50
Cậu Giuse, con cưng của tổ phụ Giacob, bị anh em ghen tức, lập mưu giết. May thay, nhờ một người anh là Ruben thương tình, khuyên các người kia đừng giết, hãy vứt vào giếng cạn. Có đoàn lái buôn đi qua đó, sang Ai cập buôn bán, họ bán Giuse để cậu phải sang làm nô lệ bên xứ người. Trong cuộc đời lận đận, long đong, ba chìm bảy nổi bên đất khách, Giuse vẫn một mực trung tín thờ Chúa, nên được Chúa che chở; hơn nữa còn cất nhắc cậu lên làm chức sang quí nhất bên Ai cập.
Đó là có một lần kia, Vua Pha-ra-ô nằm mơ thấy bảy con bò mập, sau đó bị bảy con bò ốm ở dưới sông lên ăn thịt chết hết, rồi vua lại thấy bảy bông lúa mập, bị bảy bông lúa lép nuốt chửng. Không ai trong nước Ai cập giải được, kể cả các bậc quân sư, chiêm gia, phù thuỷ, bác học... Lúc ấy, Giuse còn đang bị tù, có ông quan nhớ đến, liền tâu Vua cho gọi vào triều giải mộng.
Giuse được Chúa ban ơn khôn ngoan đã giải như sau:
- Tâu Hoàng thượng, đó là điểm Thiên Chúa cho biết 7 năm tới sẽ Được mùa, lúc đỏ Hoàng thượng thấy 7 con bò mập, 7 gié lúa mập. Khi 7 con bò gầy, 7 gié lúa lép lên nuốt chửng các cái trước, đó là sau 7 năm được mùa sẽ kế tiếp 7 năm mất mùa, hạn hán khủng khiếp chưa từng thấy trong nước. Xin Hoàng thượng cấp tốc đặt vị Thừa tướng tài giỏi lo thu các lúa thóc, ngũ cốc 7 năm được mùa, hầu khi đến 7 năm đói kém lấy ra mà phân phát cho dân.
Vua liền phán:
- Còn ai tài trí, giỏi giang hơn nhà ngươi, vì chỉ có nhà ngươi giải được điểm mộng. Vậy Trẫm đặt nhà ngươi lên chức Tể tướng để lo làm việc ấy.
Quả nhiên xảy ra đúng như Giuse đã giải điềm mộng: sau 7 năm được mùa, là 7 năm đói kém, mất mùa khủng khiếp. Nhưng Giuse đã tích trữ trong các kho lớn đủ hết thóc lúa rồi, nên khi dân đói đến kêu xin Vua, Vua bảo họ:
- Hãy đến cùng Tể tướng Giuse! Ông ấy sẽ phát lúa gạo cho.
Nhờ đó dân khỏi chết. Ngay cả anh em của Giuse bên nước Ca-na-an cũng bị hạn hán, đói kém, nghe tin bên nước Ai cập có bán thóc lúa, liền kéo nhau sang mua. Sang đến nơi, Giuse phát cho tràn trề thóc lúa mang về. Sau đó, có lần kia Giuse tỏ mình cho biết: Ông là anh em của họ. Họ sợ quá! Vì Giuse bây giờ làm lớn sẽ báo thù. Song ông Giuse nói:
- Đừng sợ! Các người mưu sự dữ hại tôi, nhưng Thiên Chúa lại mưu biến dữ hoá lành, để làm ra như anh em thấy hôm nay: tôi làm Tể Tướng, ban phát thóc lúa và mọi bổng lộc cho anh em. Như thế là Chúa đặt tôi lên để cứu sống cả một dân lớn khỏi chết mà còn được sung sướng nữa!
* Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Ông Tể Tướng Giuse phân phát lúa thóc cho dân khỏi chết đói, đó là hình bóng Chúa Giêsu phân phát sự sống cho muôn người thế gian khỏi chết. Vua Pha-ra-ô nói với dân đang đói sắp chết: “Hãy đến cùng Giuse!”, thì Chúa Cha cũng nói với mọi người: “Hãy đến với Chúa Giêsu!”. Vì sao? Vì Thánh Phaolô dạy: “Vì ở trong Đức Giêsu có tất cả sự sung mãn thần tính Thiên Chúa, giàu có, phong phú vô cùng, và anh em cứ đến với Ngài là anh em sẽ được dư dật mọi sự” (Col 2.9). Cũng như ông Giuse, Chúa Giêsu đã tích chứa tất cả ơn cứu độ và mọi ơn phúc cho ta trong kho lẫm vô cùng bao la, rộng lớn là thân mình phục sinh vinh hiển của Ngài. Ta đến cùng Ngài, như xưa dân đến cùng ông Giuse, là được Chúa phân phát cho ta dư đầy mọi sự! Đó là kế hoạch mới ban ơn cứu độ của Thiên Chúa. Nói kế hoạch mới, tức là đã có một kế hoạch cũ. Kế hoạch cũ là thế nào? Kế hoạch mới là làm sao?
1/ Kế hoạch cũ: Nói theo tiếng đời này là phương án cũ. Phương án cũ này Như sau: Ngày xưa, Thiên Chúa cứ ở trên trời. Người dựng nên loài người, rồi ban cho loài người bộ luật chỉ dạy phải làm lành lánh dữ. Rồi Người ngồi chờ, khi họ chết là đến trước mặt Người chịu phán xét: Ai giữ trọn luật, Người xét sổ thấy đủ công đức, Người cho vào thiên đàng, được sống đời đời; ai không giữ đủ luật, phạm tội, Người phán xét, thấy tội lỗi là cho xuống hoả ngục khổ hình đời đời. Người chọn một thí điểm, đó là dân Do Thái, một dân riêng. Người ban cho họ một bộ luật rất tinh vi, đầy đủ, để xem có giữ được không? Nhưng Thiên Chúa thấy rằng: cuối cùng, chẳng mấy ai giữ được. Người sai các tiên tri đến thúc giục, trách mắng, khuyên bảo. Vô ích! Từ vua chí dân đều phạm đủ giống tội, nào thờ tà thần, ngẫu tượng, bói toán, dị đoan; nào bất công, ghen ghét, hằn thù, áp chế nhau, kẻ lớn làm giàu trên xương máu kẻ nghèo hèn. Nói chi đến dân ngoại, thôi thì đủ thứ tội lỗi ghê tởm. Chúa có ban cho họ luật lương tâm, mà chẳng ai nghe, cứ một mực làm sự dữ. Chúa cũng ban cho nhiều dân ngoại có những luật đạo, chẳng hạn như bên Á đông có đạo Khổng, đạo Lão...; bên ấn độ có đạo Bà la môn, đạo Phật..., cũng chẳng ăn thua gì. Thánh Phaolô đã duyệt qua tình trạng tất cả các dân tộc, Ngài nhận định: Dân ngoại cũng theo đàng tội lỗi ghê gớm, dân Do thái trong Cựu Ước dù có luật Môsê cũng tội lỗi. Tất cả đều mắc án của Thiên Chúa (xem thư Rm 1.18-3.20). Cuối cùng, Thánh Phaolô kết luận: “Nếu cứ theo luật, mà phán xét xem ai có công, ai có tội, thì tất cả loài người không ai được gọi là sạch tội, và đáng được coi là công chính trước mặt Thiên Chúa cả” (Rm 3.20).
Lúc ấy Thiên Chúa mới cứu xét lại, rút kinh nghiệm. Chúa thấy phương án cũ ấy không thành công. Chúa bèn lập một phương án mới (kế hoạch mới). Lần này chắc chắn thành công.
2/ Kế hoạch mới: Phương án mới ấy được Thánh Phaolô, khi suy gẫm về Chúa Giêsu và công trình cứu độ của Ngài, ông mới trình bày như sau (Rm 3.21-26): “Nay, kể từ nay, không tuỳ vào luật nào nữa, bãi bỏ kế hoạch dùng luật ban xuống để người ta giữ mà được cứu, như thế không thành, Thiên Chúa dùng kế hoạch mới là ban ơn cứu độ cho ai tin vào Đức Giêsu Kitô, không phân biệt dân riêng, dân chung gì cả, không phân biệt Do thái hay dân ngoại, có đạo hay không có đạo: hễ ai tin vào Đức Giêsu Kitô, thì được xoá sạch tội, được kể là công chính cách nhưng không, không đòi họ có công giữ trọn luật hay không, tức là vô điều kiện. Hễ ai tin, thì được nhập vào trong Đức Giêsu, mà thông chia ơn nghĩa dư đầy của Ngài (anh chị em nhớ đến kho lúa dư đầy của ông Giuse), vì trong Ngài, công cuộc cứu chuộc đã thực hiện xong rồi! Chỉ cần ta đến với Đức Giêsu bằng lòng tin (tức giống như đến cùng ông Giuse) là được Đức Giêsu phân phát cho mọi ơn cứu độ, đầy trần chan chứa (giống như ông Tể tướng Giuse phần phát các kho lẫm lúa thóc, ngũ cốc cho ai đói khát).
Vậy vấn đề cốt tử bây giờ cho ta, và cho hết mọi người là tìm cho được Đức Giêsu, trong Ngài đã chứa sẵn ơn cứu độ, và Ngài hết tình thương ta, sẵn lòng ban phát cho ta - (Ngài tích để làm gì nếu chẳng phải để ban ra) - Tìm được rồi, cái cần là nhập vào Ngài, vì kho lẫm tích ơn nằm trong thân mình Ngài: như Thánh Phaolô nói trên đầu: "Có ở trong Ngài tất cả sự sung mãn thần tính Thiên Chúa và ai vào trong Ngài thì được múc đầy dư dật”.
3/ Bây giờ thử hỏi: Làm sao nhập vào trong Đức Giêsu? Bằng cách nào? Ở các bài Lời Chúa khác, có dẫn giải rồi; đây chỉ xin nói phớt qua! Thánh Phaolô dạy: “Khi bằng lòng chịu phép Thanh tẩy là anh em được dìm vào trong, sự chết với Chúa Kitô, để được cùng thông chia sự sống lại trong một cuộc đời mới với Ngài (Rm 6.3tt) và được đầy tràn mọi ơn” (Rm 5.15-19). Câu của Thánh Phaolô nói trên nêu ra cách thức để nhập vào thân mình Đức Kìtô: đó là chịu thanh tẩy.
Có một câu của Đức Giêsu cho ta biết một cách nữa để nhập vào và ở trong Đức Giêsu: "Con không chỉ cầu cho các tông đồ mà thôi, nhưng còn cho những kẻ nhờ lời chúng rao giảng mà tin vào Con, để hết thảy chúng nên một ở trong chúng ta" (Ga 1l7.20-21). Như thế, tin vào Con (tức Đức Giêsu, Con Chúa Cha), thì ta nên một và được ở trong Thiên Chúa.
Xem ra có vẻ có hai cách nhập vào trong Đức Giêsu, kỳ thực hai cách đó hên kết với nhau gần như thành một. Lấy ví dụ về phép Thanh tẩy. Chịu thanh tẩy là chịu với lòng tin, nếu không thì vô ích. Trước mặt loài người, ta có vẻ là có đạo, kỳ thực ta vẫn chưa, và ta không được nhập vào Thân mình Đức Giêsu.
Chính Đức Giêsu đã truyền cho các Tông đồ rằng: “Hãy đi khắp thiên hạ rao giảng Tin Mừng cho mọi loài, Ai tin cùng chịu thanh tẩy thì sẽ được cứu, (Mc 16,16). Rõ ràng Đức Giêsu gắn liền tin với chịu phép Rửa, nhờ đó mới được cứu, tức là cứu khỏi chết đói, chết khát phần hồn, mà được no đầy ơn phúc của Chúa.
4/ Có người nói: sao dễ vậy? Chỉ cần tin và chịu phép Rửa thôi sao? Không cần lập công, giữ trọn luật, ăn chay, đền tội gì cả sao?
Đáp: Dễ vậy đó, đơn sơ vậy đó. Không cần gì khác. Giả sử ai trong anh chị em tin Chusa tự đáy lòng và chịu phép rửa. Vừa xong, chết ngay, thì lên thiên đàng thẳng cánh. Đây xin lấy Phúc Âm ra minh chứng, Anh chị em còn nhớ người trộm lành không? Cho đến lúc bị đóng đinh bên cạnh Đức Giêsu, anh ta có lập công, đền tội, giữ luật gì đâu! Trái lại, anh ta bị xử tử, vì anh ta mắc bao nhiêu tội, cướp của, giết người... Phúc Âm gọi anh ta là tên cướp, tên gian phi. Ấy thế mà anh chỉ vỏn vẹn làm một bành vi đạo đức. tin Đức Giêsu vô tội, Đức Giêsu không thể chết, Ngài sẽ vào Nước Ngài, Ngài đúng là Đấng Cứu Thế và xin Ngài nhớ đến anh. Thế là Chúa liền hứa” "Hôm nay, ngươi sẽ lên thiên đàng làm một với Ta". Đức Giêsu phong thánh cho anh ngay tại trận, cho anh được hưởng đầy ơn sự sống và sống đời đời, ngay tức khắc! Kế hoạch mới dễ như thế đó! Ta phải cảm tạ Chúa, vì lòng Chúa vô cùng tốt lành. Phải ca ngợi Chúa vì kế hoạch mới của Chúa thật diệu kỳ. Vậy cuộc đời ta chẳng lo việc gì khác, ngoài việc lo tin Chúa, tin hết lòng, tin tự đáy lòng, trông cậy vào một mình Chúa về hết mọi sự, Phép Rửa, ta đã chịu một lần rồi, ta không cần chịu lại nữa, Đức tin sẽ làm Phép Rửa sống động lại như mới.
Tích truyện
Bên nhà hàng xóm tôi, có một người đang hấp hối trên giường bệnh. Chúng tôi cùng vợ con ông ta đứng quanh giường để dò ý xem ông ra làm sao, vì bác sĩ nói giờ cuối cùng đã đến. Thình lình, người hấp hối mở mắt nhìn chúng tôi cách ngạc nhiên pha lẫn ngờ vực, sợ sệt, rồi ráng hết sức thốt ra vài tiếng vô nghĩa:
- Ái úi! Ái úi!
Chúng tôi ngơ ngác nhìn nhau, chưa hiểu ra sao, không biết ông ta định trối trăng điều gì, thì ông ta lại lắp bắp, chân tay quờ quạng:
- Ái úi! Ái úi!
Ý chừng hiểu ý chồng, chị vợ chạy lại bên cái tủ lớn, lục lạo hồi lâu, tìm được chìa khoá giấu kỹ và mở tủ, lấy ra một cái túi bằng vải thô, buộc chặt, rồi mang đến cho chồng. Té ra, chị hiểu người hấp hối đòi lấy cái túi đưa cho ông ta. Đó là vật mà ông ta cố đòi cho kỳ được trong phút cuối cùng. Suốt đời chỉ lo nhặt nhạnh, tích trữ bạc vàng cho đầy cái túi đó... Ông ta thò tay vào cách thèm thuồng, rồi lôi ra những đồng tiền vàng, bạc, nhẫn, xuyến... nhưng chúng luồn qua khe tay, không sao nắm lái được... Ông ta mân mê sờ mó những đồng tiền yêu quí..., chúng rốt lung tung, quanh mình ông, trên giường, cả trên thân thể gầy trơ xương của ông ta...
Mặt ông bỗng co rút lại trông ghê sợ. Ông ta cố ôm ghì lấy cái túi vào ngực, rồi tắt thở, không có một lời nào trối lại với người nhà để tỏ lòng thương yêu, nhớ tiếc... Trên giường rải rác những vàng và chỉ còn trơ ra cái thây ma lạnh lẽo...! Có lời Đức Giêsu dạy trong dụ ngôn người phú hộ ngu ngốc: “Đồ ngốc’! Hôm nay ta đòi ngươi trả lại hồn ngươi cho Ta, thì mọi của cải ngươi thu tích kia sẽ thuộc về ai? Như thế đó, thật ngu ngốc cho kẻ chỉ lo chất kho tàng đời này mà không biết làm giàu cho mình nơi Thiên Chúa”, không biết đến múc nơi Thiên Chúa sự giàu có cho hồn mình!
BÀI LỜI CHÚA 75
CON DÊ GÁNH TỘI
Có lần ta đã nói: việc cứu chuộc không phải là việc trả một món tiền làm giá chuộc lại linh hồn tội lỗi của ta, nhưng ý nói về tíng cách khó nhọc, giá trị công lao to lớn của Chúa hi sinh mạng sống để cứu ta và ban cho ta sự sống. Kỳ này, ta suy nghĩ về việc cứu chuộc là Đức Giêsu mang lấy tội lỗi của ta vào thân mình Ngài để khử trừ nó ngay trong thân Ngài trước. Việc mang lấy tội ta vào thân Ngài đã được Cựu Ước báo trước trong nghi lễ tạm gọi là “Oan dương”: Dương là con dê, oan là mang lấy oan nghiệt, tội vạ lên mình nó.
Trích sách Lêvi, ch.16
Ngày 10 tháng 7, dân Israen cử hành đại lễ Đền tội. Họ phải hãm mình và ăn chay chung. Đây là ngày duy nhất trong năm, vị Thượng Tế được phép vào tận trong Cung Cực Thánh, nơi Thiên Chúa ngự, và ông vào đó chỉ cốt để xin ơn xá tội, tội của mình, tội của gia đình ông, tội của toàn dân. Sau khi đã tẩy rửa cho thanh sạch, ông bận phẩm phục Thượng Tế và giết một con bò tơ, rồi bưng chén máu nó vào tạ tội cho mình và gia đình, bằng cách rẩy máu lên Bàn Xá Tội. Sau đó, ông lại ra ngoài và người ta đưa đến cho ông hai con dê: ông sẽ bắt thăm, trúng con nào, ông tế sát con ấy và đem máu vào trong Cung Cực Thánh rẩy lên Bàn Xá tội, lần này để xin tha tội cho dân. Còn con dê kia, ông cho dẫn lại đặt hai tay trên đầu dê còn sống, ông lớn tiếng xưng thú mọi tội lỗi dân đã phạm cùng mọi điều ngỗ nghịch họ đã làm, ông trút lên đầu nó mọi tội lỗi của dân, rồi ông sai một người đem thả con dê ấy vào sa mạc đồng hoang cỏ cháy, con dê sẽ mang lấy trên nó các lỗi lầm của dân chúng vào đất khô khan...
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Người ta gọi con dê đó là “Oan dương”, vì nó mang trên mình nó tất cả gánh tiền khiên, oan nghiệt của dân, rỗi bị thả vào nơi sa mạc, thú dữ sẽ ăn thịt nó... Chữ “oan” cũng còn có nghĩa là hàm oan. Vì thực ra, nó đâu có phạm tội, người ta lấy tội của dân, đặt tay trút lên đầu nó. Thế là nó trở thành vật hi sinh cho dân được sống. Đó là hình bóng thô thiển báo về Đức Giêsu, Đấng khi mang lấy thân xác loài người, thì cũng mang luôn lấy tiền khiên, oan nghiệt của loài người hết thảy. Ngài cũng sẽ bị người ta đưa ra ngoài đồng vắng, trên đồi Gôn-gô-tha, để chết đền tội cho dân được sống. Đó là điều ta bàn giải sau đây: Đức Giêsu mang lấy tội ta trong mình, Ngài khử trừ tội ta ở đó nhờ việc tử nạn; xong việc tiêu diệt tội lỗi, Ngài sống lại, đầy tràn sự sống để ban ra cho ta.
Nếu may ra có ai còn nhớ, thì ở bài 64 và 65 bàn về các Bí Tích nói chung, ta đã biết ràng: lãnh Bí Tích không phải là đi lãnh một ơn như thể đi lãnh thùng quà, song phải tham gia vào, gắn liền mình vào Đức Giêsu phục sinh, để sự sống Thiên Chúa và các hồng ân khác từ thân thể Chúa phục sinh tràn sang chúng ta, như Đức Giêsu đã dạy trong ví dụ về cành nho phải gần liền cây nho mới có nhựa sống tràn qua mà sinh hoa kết quả.
1/ Thế mà, các bạn có để ý không, ta vừa nói: phải gắn liền với thân thể phục sinh của Đức Kitô. Tại sao không nói: muốn được chuyển sự sống sang ta, ta cứ gắn mình thẳng vào Thiên Chúa có được không? Ô! Không được đâu! Thiên Chúa là Đấng vô hình, vô lượng, vô biên, cao siêu muôn trùng, sao ta gắn thẳng vào Người được. Hai bên như nước với lửa, một bên là thánh thiện, một bên là tội lỗi, làm sao gần bó với nhau được. Một ví dụ đơn sơ: cái tổ máy phát điện Trị An, phát ra hằng vạn kilô-oát điện thế cao đến hàng vạn kilô-vôn, thử hỏi ta lấy cái bóng điện nhỏ bé gắn thẳng vào đó, có được không? Không! Vậy phải có máy biến điện gắn vào cái nguồn ấy, rồi dần dần hạ xuống, đến nhà ta chỉ còn 220 vôn, hoặc 110 vôn, và một hai trăm oát, thì ta mới gắn bóng đèn được. Nơi Thiên Chúa cũng thế. Từ Thiên Chúa đến ta phải có cái máy biến điện làm trung gian, đầu kia gắn với Thiên Chúa, đầu này hạ thấp xuống gắn với ta. Máy biến điện trung gian đó là “Đức Giêsu, Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài người”. Một đầu Ngài gắn với Thiên Chúa, đầu kia Ngài cho ta gắn vào với Ngài: Do đó, trên kia nói ta phải gắn liền với thân thể Đức Giêsu phục sinh là vậy đó.
2/ Máy biến điện gắn đầu kia với Thiên Chúa vào lúc nào? Thưa: vào lúc Thiên Chúa tạo nên trong lòng Đức Mẹ một thân xác loài người, thế là Ngôi Hai Thiên Chúa xuống kết hợp, gắn chặt với thân xác ấy trong dạ Đức Mẹ. Đó là lúc mà chúng ta nhắc nhớ đến trong kinh Truyền Tin: “Chốc ấy Ngôi thứ Hai xuống thế làm người” “Và ở cùng chúng con”. Thế còn đầu này lúc nào gắn với chúng ta? Ngay lúc đầu thai đó đã được chưa? Thưa chưa! Khoan đã, phải đợi đến lúc Chúa Tử nạn rối phục sinh mới gắn ta vào được.
3/ Tại sao phải chờ đợi như vậy? Thưa: Là phải để cho Thân mình Đức Giêsu có thời giờ thấm đầy sự sống thần linh của Thiên Chúa, lúc ấy mới gắn ta vào mà chuyền sự sống ấy cho ta. Lúc thấm đầy, là lúc Tử nạn, phục sinh, lúc ấy, Chúa Thánh Thần mới thấm đầy Chúa Giêsu bằng năng lực sự sống Thiên Chúa, còn lúc trước thì chưa, cho dù Đức Giêsu đã sinh ra, hoặc đi rao giảng. Điều nói đây, chắc làm cho một số người ngạc nhiên, vì thường ta nghĩ rằng: Đức Giêsu là Thiên Chúa, thì lúc nào Ngài chẳng đầy ơn sự sống trong mình, và như thế, lúc nào Ngài chẳng ban ơn được, cứ gì lúc phục sinh. Nói đơn giản, bình dân thì như vậy cũng được, nhưng nếu lấy Kinh Thánh ra mà xét kỹ, thì các nhà thần học phần biệt tỉ mỉ hơn, và vì sợ rối trí giáo dân, cho nên không mấy khi đem ra giảng dạy. Nếu anh chị em còn nhớ, thì chúng ta đã nói qua rồi.
Kinh Thánh cho biết cuộc đời Đức Giêsu có hai giai đoạn:
a/ Giai đoạn thứ nhất: Từ khi thụ thai cho đến khi Tử nạn phục sinh, giai đoạn này Đức Giêsu chưa tế lễ mình, nên chưa được Chúa Cha ban tràn đầy Thánh Thần để Ngài phân phát ra. Đây câu Kinh Thánh này làm bằng chứng: “Cuối cuộc Đại lễ Lều, Đức Giêsu đứng trong Đền Thờ Yêrusaiem hô lớn: ‘Ai khát thì hãy đến với Ta, và kẻ tin vào Ta thì hãy uống’. Vì như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Ngài có những sông tuôn chảy nước hàng sống. Nước này, Đức Giêsu có ý nói về Thánh Thần mà các kẻ tin sẽ được lãnh, nhưng ngay lúc này Thần Khí chưa có, bởi Đức Giêsu chưa được tôn vinh” (Ga 7.37-39). Thế là Đức Giêsu mới chỉ hứa trước, còn lúc ấy Thần Khí chưa có, tức là Thánh Thần chưa tràn đầy trong Chúa Giêsu; bởi lẽ lúc ấy Đức Giêsu chưa được phục sinh tôn vinh. Vậy chưa được phục sinh tôn vinh, thì chưa có Thánh Thần để ban ra.
+ Tại sao Đức Giêsu lại chưa có Thánh Thần? Thưa: tại vì khi xuống trần mặc lấy xác phàm, thì Ngài mang lấy xác phàm dây dưa tội luỵ của trần gian như chúng ta thường nói: “Ngài mang lấy tội lỗi chúng ta, và của cả thế gian nơi mình Ngài”. Mang tội ta không phải là Đức Giêsu phạm tội. Không, Ngài không hề phạm một tội nào, song Ngài mang lấy thân xác tội lỗi của loài người. Kinh Thánh nói rõ: “Đấng không hề biết tội là gì, thì vì ta, Thiên Chúa đã làm cho Ngài thành sự tội...” (2Cor 5.21). Cáu nữa: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian với hình dung xác thịt tội lỗi”. Mục đích để làm gì? Nghe tiếp: “Để khử trừ tội lỗi” (Rm 8.3-4). Đang khi mang xác thịt tội lỗi ấy, thì làm sao Ngài có đầy tràn Thánh Thần? Phải tế lễ nó đi trên thập giá, lúc ấy tội lỗi mới bị khử trừ, Ngài một đầy Thánh Thần là sự thánh thiện của Thiên Chúa (xem bài 74bis).
+ Chúng ta thường chỉ nghĩ Đức Giêsu là Thiên Chúa, mà quên rằng Đức Giêsu cũng là người, mang thân xác, mang bản tính loài người. Xét phương diện Thiên Chúa, thì Ngài có tràn đầy Thánh Thần, đó là lẽ đương nhiên, vì do bản tính Thiên Chúa của Ngài; nhưng còn xét phương diện tính loài người, thì tự nhiên là không thánh thiện, không có Thánh Thần. Đành rằng khi kết hợp với bản tính loài người trong lòng Đức Trinh Nữ Maria, Ngôi Hai Thiên Chúa đã thánh hoá bản tính loài người ấy phần nào, song có thể nói là mới cho cá nhân Ngài thôi, chứ chưa đủ để tràn lan ra cả nhân loại và tràn sang chúng ta. Thánh Kinh nói: Ngài chưa trở nên “Thần Khí tác sinh”. Ngài chưa có Thần Khí, chưa được biến đổi bởi Thần Khí, chưa được tôn vinh, chưa ban Thánh Thần được.
b/ Chỉ đến giai đoạn hai, lúc Ngài tự tế lễ mình trên thập giá, và khi Chúa Cha chiếu nhận của lễ tốt đẹp ấy, Chúa Cha ban thưởng cho Ngài được phục sinh, thì Chúa Cha mới ban tràn đầy Thánh Thần cho Đức Giêsu, lúc ấy phần xác Đức Giêsu cũng trở nên vinh hiển, đầy tràn Thánh Thần để ban sự sống ra cho ai tin Ngài. Tử nạn phục sinh ví như cái lò đất nung Đức Giêsu cháy đỏ lửa Chúa Thánh Thần trước để rồi Đức Giêsu mới có thể đốt nóng ta.
4/ Bây giờ, chúng ta lấy lại cái tỉ dụ máy biến điện để áp dụng vào đây. Giờ đây, cái máy biến điện là Đức Giêsu phục sinh, đã sẵn sàng để chúng ta gắn vào với Ngài mà đèn linh hồn ta được bật sáng lên. Từ thân mình vinh hiển phục sinh của Ngài - tức là từ thân xác có tính loài người của Ngài giống bản tính nhân loại của ta, đồng loại với ta, vừa tầm với ta, song đã nạp đầy ắp điện Đức Chúa Thánh Thần - sẽ truyền sang những ai gắn vào với Ngài, nào là sự sống, nào là sự sáng, nào là ân sủng...
a/ Bằng cách nào ta được gắn vào Ngài, vào thân mình vinh hiển của Ngài? Các bài trước đã nói, đây chỉ xin nhắc sơ lại: Thưa bằng đức tin và phép Rửa tội. Tin và Rửa tội là gắn vào Chúa, kết hợp với Chúa, rồi được thông cho sự sống thần linh và được làm con Cha trên trời.
Về tin: Điều chúng ta muốn nhấn ở đây là sự gắn bó với Chúa chứ không phải tin là lấy trí khôn chấp nhận mấy điều khó hiểu, rồi Chúa cứ ở trên trời, ta cứ ở dưới đất, Chúa dạy gì kệ Chúa, ta làm gì kệ ta, ta sống theo thói cũ: cứ nói tục, cứ chửi nhau, cứ dối gian, cứ phạm đủ thứ tội như một người ngoại, miễn là lúc vào nhà thờ mở miệng đọc thật to kinh Tin Kính là có đức tin. Ai sống kiểu đó là lầm to! Phải đi học đạo lại. Họ chỉ có đanh xưng là Kiltô hữu, song thực chất là một người ngoại - nghĩa là sống ngoài Chúa Kitô - chết không lên thiên đàng, cho dù có làm đủ các phép sau hết, cho dù thân nhân có xin hàng ngàn lễ cầu cho linh hồn họ. Vì sao? Vì không gắn bó với Chúa, như cành liền cây nho thì sao có sự sống, họ đã lìa thân nho rồi, vì Đức Giêsu dạy: “Ai không gắn liền với Ta, thì bị quăng ra ngoài, và khô đi, sẽ bị quăng vào lửa mà bị thiêu” (Ga 15.6).
Vậy, chúng ta còn thời giờ, hãy đổi cách sống đạo: bỏ lối đạo hình thức, mà học cho biết tin thật vào Chúa, tức là gắn bó mật thiết với Chúa. Tôi xin mách nước cho các bạn nhé: (nói nhỏ vào tai) nhờ học lời Chúa chuyên cần - như ta đang làm đây - kèm với sự cầu nguyện: đó là cách tốt nhất để học biết tin và gắn bó với Đức Kitô. Chúng tôi xin nhắc lại: Tin là gắn bó với Chúa. Gắn bó! Gần bó!
b/ Về phép Thanh tẩy, ngày nay người ta bắt đầu gọi là “Phép Dìm”, sẽ dìm ta vào trong Chúa, gắn bó với Chúa một cách cụ thể hơn, có nghi lễ bên ngoài ghi dấu.
Thế là chúng ta sẵn sàng để hiểu phép Thanh tẩy rồi. Kỳ sau sẽ đề cập.
Tích truyện
Sách Kinh Thánh (lời Chúa) được tôn quí nhất, song cũng là sách mà người ta ghét nhất, ghét như kẻ trộm ghét cảnh sát, tội nhân ghét quan toà, vì cảnh sát đuổi bắt nó, quan toà lên án bỏ tù nó. Người ta kể truyện rằng: Có một vị truyền giáo nọ, rất giỏi khoa học, ông đi đâu cũng không quên mang theo cái kính hiển vi (kính lúp) đi cùng. Tới xứ của thổ dân nọ, ông cho họ dòm kính hiển vi. Trong đám đó, có mấy người kiêng sát sinh, vừa thấy sinh vật lúc nhúc cử động trong giọt nước, họ đâm bối rối quá chừng. Sáng hôm sau, một người trong bọn đi mua lại kính ấy, về nhà lấy búa đập tan tành, rồi anh ta mỉm cười đắc thắng. Tội nghiệp! Người ấy tưởng làm vậy thì nước không còn chứa sinh vật nữa để họ yên tâm lấy nước uống, nấu cơm mà không phạm tội sát sinh, nào ngờ kính hiển vi chẳng chứa đựng vi trùng, mà chỉ cho thấy vi trùng thôi.
Vậy, nhãng bỏ lời Chúa, bạn có cảm tưởng bạn là người tốt đàng hoàng, nhưng bạn lầm, tâm hồn bạn chứa đầy nết xấu, thì vẫn còn nguyên như thế, không có lời Chúa thì bạn chỉ không thấy mà thôi. Nhưng nếu bạn nhờ lời Chúa như kính soi, bạn thấy tình trạng tội lỗi bê bết, bạn sẽ ăn năn, xin Chúa tha thứ, thì bạn được cứu sống.
BÀI LỜI CHÚA 75 BIS
ĐẠO ĐỨC KHÔNG ĐỦ ĐỂ ĐƯỢC CỨU RỖI
Trích sách Công vụ Tông đồ, ch.10
Ở thành Kai-sa-ria, có người tên là Cót-nê-li-ô, đại uý trong quân đội Ý Đại Lợi, đồn trú tại Phalêtin, quê hương của Chúa Giêsu. Ông là một người đạo đức và kinh giới Thiên Chúa, rộng tay làm phúc, bố thí cho người nghèo và luôn cầu nguyện cùng Thiên Chúa. Một hôm, trong buổi cầu nguyện, vào lối giờ thứ chín giữa ban ngày, ông thấy một thị kiến: có một thần sứ thiên Chúa đến với ông và nói:
- Cót-nê-liô!
Ông kinh sợ đáp:
- Có điều gì, thưa Ngài?
Thần sứ nói với ông:
- Kinh nguyện và của bố thí nhà ngươi làm, đã được chấp nhận như của lễ tiến dâng trước Thiên Chúa. Để đáp lại lòng thành ấy, Ta bảo ngươi hãy sai người đến Yôphê và rước một người tên là Simon Phêrô đến nói cho ngươi những lời, nhờ đó ngươi và cả gia đình ngươi sẽ được cứu rỗi!
Thiên thần vừa biến đi, ông gọi hai gia nhân và một người lính đạo đức trong số người hầu cận ông, và sai họ đi rước Simon Phêrô. Được mời, và nghe Chúa đay hãy đến nhà Cót-nê-liô, cho dù ông là một người ngoại, ông Phêrô cùng với 6 anh em khác đi đến thành Kai-sa-ria, vào nhà ông đại uý, thì gặp ông và cả gia đình, cũng có mời cả thân thích và bằng hữu nghĩa thiết. Ông đại uý mới thuật lại thi kiến thiên thần hiện ra dạy bảo làm sao. Rồi ông nói:
- Vậy chúng tôi tất cả tề tựu đây để nghe lời Chúa đã truyền cho Ngài để nói cho chúng tôi.
Phêrô mở miệng rao giảng Tin Mừng về Chúa Giêsu cho họ nghe: Thiên Chúa đã xức dầu cho Đức Giêsu bằng Thánh Thần và quyền năng, rồi sai đến thế gian để dạy cho biết Ngài là Chúa muôn loài. Ngài đi đến đâu là thi ân giáng phúc và chữa lành mọi kẻ bị quỉ ma áp bức, quấy phá. Sau đó, Ngài đã chịu chết trên thập giá để chuộc tội cho chúng ta, nhưng Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại ngày thứ ba, và Ngài đã hiện ra cho chúng tôi là những nhân chứng Ngài đã chọn trước, những kẻ đã cùng Ngài chung sống hồi Ngài còn tại thế, và được cùng ăn, cùng uống với Ngài lúc Ngài hiện ra sau khi sống lại. Ngài đã truyền dạy chúng tôi phải đi rao giảng cho muôn dân rằng: Ai tin vào Ngài thì được lãnh ơn tha tội nhờ Danh Ngài, được sự sống đời đời; còn ai không tin sẽ bị án trầm luân; vì Thiên Chúa đã đặt Ngài làm thẩm phán xét xử người sống và kẻ chết...”
Phêrô còn đang nói các điều ấy, thì Thánh Thần đã xuống trên mọi kẻ đang nghe lời giảng, khiến cho các tín hữu cùng đến một lượt với Phêrô hết sức kinh ngạc, vì ơn Thánh Thần đã đổ xuống cả trên dân ngoại, khiến cho những người ấy cũng nói tiếng lạ mà cao rao, ngợi khen Thiên Chúa. Bấy giờ, Phêrô bảo người ta:
- Sao chúng ta còn ngần ngại không cho mấy người này chịu phép Thanh tẩy như ta, vì họ cũng đã được chịu lấy Thánh Thần như chúng ta?
Thế là ông ra lệnh thanh tẩy họ nhân danh Đức Giêsu Kitô.
* Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Nếu ai có trí nhớ tốt, chắc nhận thấy bài Kinh Thánh này đã được đọc một lần rồi (x. bài 67), nhưng để nhấn khía cạnh Bí Tích Lời Chúa. Lần này, xin anh chị em lưu ý đến điểm này: Đạo đức mấy cũng không đủ để được cứu rỗi. Ta thấy rõ ngay trong phần đầu câu chuyện này: Ông Đại uý nói đây rất đạo đức và kính sợ Thiên Chúa, rồi ông còn rộng tay bố thí, chứ không phải chỉ bố thí cách keo kiệt. Nhiều người chúng ta ngày ngày đi dự lễ, song không bao giờ giúp đỡ ai nghèo túng. Người hành khất đến cửa, thì đuổi họ hay tờ chối nói rằng: “Tôi không có gì đâu!”, “đi chỗ khác mà xin!”... Sau nữa, ông còn luôn luôn cầu nguyện. Khối người trong chúng ta chẳng cầu nguyện khi nào. Đọc kinh thì có, và đọc lấy lệ cho có vẻ con nhà có đạo. Ngày nay, ti vi, vidéo lại còn cướp mất cái thói quen lành thánh đọc kinh chung trong gia đình mà ngày xưa cha mẹ chúng ta vẫn làm. Có nhà, cả tháng không còn vang lên tiếng đọc kinh, ca hát ngợi khen Chúa nữa rồi. - ông đại uý Cót-nê-liô ấy còn biết kính sợ Thiên Chúa, theo tiếng Do thái có nghĩa là: trên thì ông thờ phượng tôn kính Thiên Chúa, dưới thì ông và cả gia đình tuân giữ mọi điều luật của Người, cũng giống như con cái hiếu thảo thì luôn tránh làm hay nói những điều gì làm buồn lòng cha mẹ mình. Nói tóm, ông ta là một người rất đạo đức.
Đạo đức như thế đó, mà trước mắt Thiên Chúa, Người chưa cho là đủ để được cứu rỗi, được tha tội, và được làm con cái Chúa. Điều này rõ ràng, vì chính Chúa sai thiên thần đến bảo ông như vậy. Giả sử như đạo đức của ông mà đủ để được cứu rỗi (nói nôm na: để lên thiên đàng), thì thiên thần sẽ nói thế này: “Thiên Chúa rất vui lòng về các điều ông làm, mọi cách ông ăn ở. Vậy, cứ tiếp tục như thế mãi cho đến chết sẽ được lên thiên đàng hưởng mặt Chúa...”. Thiên thần có nói vậy không, hỡi anh chị em? Không! Thế thiên thần nói sao? Anh chị em nào thử trả lời xem có đúng không?
a/ Trước hết; thiên thần nói: Những điều ông làm, cách ông kính sợ Chúa, cầu nguyện, bố thí..., thật đẹp lòng Chúa. Đó là của lễ dâng lên và Chúa đã nhận. Như thế, các điều ông làm trước đây, Chúa không chê bỏ. Nó đẹp lòng Chúa, song Thiên Chúa muốn một cái gì hơn thế nữa. Giữ luật, làm các việc lành, mới chỉ như dọn đàng mở lối.
b/ Thứ đến, Chúa muốn ta không chỉ làm đẹp lòng Người, mà phải đáp trả tình yêu Người bởi lòng tin và yêu! Cho nên đi mời người rao giảng Chúa Kitô cho ông, để ông biết Ngài là ai mà tin và yêu mới được cứu rỗi: “Hãy mời Phêrô đến nói cho ngươi những điều nhờ đó ngươi và cả gia đình ngươi sẽ được cứu rỗi”. Hoá ra những việc làm trước đây của ông chưa đủ để ông được cứu rỗi. Thật là rõ ràng! Đạo đức không đủ, không thể sinh ra ơn cứu rỗi được. Lấy ví dụ: ta có một miếng đất, phải chăng cứ ra công cầy xới, bón tưới... là tự khắc nảy ra một cây xoài cát hảo hạng? Không phải mua hay có ai cho ta cây ấy, ta mới có mà trồng vào đó. Ơn cứu rỗi cũng vậy, phải do Thiên Chúa ban cho, chứ không do công ta cày xới nảy ra. Kinh Thánh dạy: “Thiên Chúa đã cứu ta, không phải do các việc đạo đức ta làm đâu..., nhưng là nhờ Phép Rửa tái sinh...” (Titô 3.5; x. Ep 2.8-9).
Vì thế, thật là sai lầm lớn nếu người ta nghĩ rằng: cứ ăn chay trường, gõ mõ, tụng kinh, diệt dục, sống khổ hạnh, từ bỏ các tính xấu, giữ luật đi lễ, đọc kinh, không trộm cắp, không dâm bôn, chơi bời phóng đãng, không chửi tục... thế là đủ để được làm con Chúa, được cứu rỗi và sau khi chết được vào thiên đàng. Cho nên, nhiều người trong chúng ta mới hay nói câu này: “Đạo nào cũng như đạo nào, đều dạy làm lánh lánh dữ...”, tức là nghĩ rằng đạo Thiên Chúa cũng giống như đạo Phật, đạo Khổng, đạo Cao đài..., cứ làm lành, lánh dữ là được rồi. Nếu như vậy, Chúa Kitô hoá ra vô ích. Ngài từ trời xuống thế chịu chết cũng chẳng đem lại gì hơn cho tín hữu. Vì các đạo kia cũng dạy làm lành lánh dữ, cũng tốt rồi. Chúa Giêsu xuống thế là thừa. Ngài chỉ dạy những điều mà các đạo kia đã dạy trước rồi. Nghĩ như vậy là xúc phạm đến Chúa Kitô, là nghịch lại chương trình cứu độ Thiên Chúa đã sai Chúa Kitô xuống để thực hiện. Tưởng như vậy là vong ơn bội nghĩa với công ơn Giáng trần, công ơn chịu đau khổ, tử nạn trên cây thập giá của Chúa Giêsu. Nói tắt một lời, vô tình, ta thành lạc đạo mất rồi. Đó, anh chị em thấy chưa? Chỉ vì không học Lời Chúa cho kỹ, mà ta lạc đạo khốn đốn như thế đó.
Ta thử bàn giải sự sai lầm ấy rộng hơn:
Mơ ước của loài người là được vào cõi cực lạc, mà người Kitô hữu gọi là thiên đàng, là quê hương trên trời, là nơi hằng sống, nơi vĩnh phúc. Mơ ước thì vậy, song làm thế nào mà vào được? Thế là loài người ra công tìm giải pháp, tìm phương thế: từ ngàn xưa, khắp mọi thời, khắp mọi nơi, người ta đua thau bày ra các phương thế: từ Ấn Độ đến Trung Hoa, Việt Nam, từ Hi lạp sang Rôma..., từ Ai cập sang Tiểu Á..., mọi nơi, mọi đời người ta đều nghĩ rằng: tu thân tích đức, diệt dục, diệt tham sân si, hoặc lễ bái, cầu kinh, niệm Phật, ngồi thiền trút bỏ hồng trần, đi tu, khổ công luyện tập, khổ công tu hành, tu tánh... và cứ tu như thế là sẽ thành tiên, thành Phật, thành thánh, và đạt cõi tiên, cõi Niết bàn, cõi quần nên, cõi thiên đình...
Sai hết! Tất cả những việc đó chỉ là mất công vô ích. Họ tường đạt được Niết bàn, cõi tiên..., song họ đã bị ảo tưởng. Chẳng có Niết bàn, cõi tiên, cõi thiên đình nào khác, ngoài thiên đàng của Thiên Chúa chúng ta. Mà thiên đàng (hay ơn cứu rối) là của Thiên Chúa. Người ban thì mới được. Dĩ nhiên, điều nói đây thuộc về đức tin của chúng ta, và chúng ta đám quả quyết như vậy là do Chúa đã mặc khải, đã truyền dạy cho nhờ Hội Thánh, và ta tin như vậy. Còn nếu bạn nói như thế cho người không có đức tin vào Thiên Chúa hoặc người thuộc các tôn giáo khác, hiển nhiên là họ đâu có chịu, họ sẽ còn tức tối bạn, vì dám xúc phạm đến đạo của họ. Vậy, điều ta nói đây là nói trong vòng chúng ta, cho những kẻ đã tin hoặc muốn tin.
Tuy vậy, điều ta nói đây là sự thật. Mà sự thật chỉ có một. Vì chỉ có một Chúa là Thiên Chúa độc nhất, Chúa tể muôn vật, muôn loài, Chúa tể cả trời đất, âm ti, địa ngục. Hỏi rằng như thế thì có thiên đàng nào thứ hai, mà không phải thiên đàng của Chúa, mà lại do ông Phật tạo ra, hay do một thần nào khác tạo ra cho được? Phật nào bằng Chúa, thần nào bằng Chúa, để có quyền phép vô biên tạo lập một thiên đình khác ngoài thiên đàng của Thiên Chúa. Không có ai!
Vậy chỉ có một thiên đàng là thiên đàng của Thiên Chúa. Ta ví nó như nhà của Người. Vậy nhà của Người thì Người muốn cho ai vào, người ấy mới được vào. Chàng ai tự sức, gồng mình tu thân tích đức, hay tìm mưu kế nào mà lẻn vào được. Thiên Chúa là Đấng toàn trí, toàn năng, ta làm sao có thể lẻn vào hay trú ngụ trong đó mà Người lại không biết được (x. sau, bài 76 sẽ nói rộng hơn).
Thế Người cho ai được vào?
Thưa: Người cho vào kẻ nào làm đúng điều kiện Người đặt ra: đó là tin vào Chúa Giêsu, Đấng Trung Gian độc nhất giữa Thiên Chúa và loài người, Đấng Cứu độ độc nhất. Ai nghe lời giảng của Hội Thánh để biết Ngài, rồi tin vào Ngài, thì Ngài đem họ nhập vào thân mình Ngài, là vào thiên đàng. Điều này Kinh Thánh nói rõ làng và nói đi nói lại bằng đủ mọi hình thức:
- Đức Giêsu phán: “Ta là Đường, là Sự thật và là Sự sống. Không ai có thể đến với Chúa Cha nếu không nhờ Ta” (Ga 14.6). Muốn đến đâu, ta phải đi đúng đường, trên bộ có đường, dưới nước tàu thuỷ cũng có đường, trên không máy bay cũng phải bay đúng đường, nếu không sẽ đụng nhau và không tới đích. Lên thiên đàng, đến gặp Thiên Chúa Cha, cũng phải theo con đường đúng: con đường đó, Đức Giêsu bảo: chính là Ngài. Tin Ngài, theo Ngài, nhập vào Ngài, như thể vào trong chiếc tàu hay phi cơ, Ngài sẽ đưa ta đến Cha, đến nơi Cha ở, tức là thiên đàng.
Kinh Thánh dạy một câu khác: “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Người xuống trần, để phàm ai nghe Ngài, tin vào Ngài, thì được sự sống đời đời, chứ không bị hư đi trong chốn trầm 1uân” (Ga 3.16).
- “Ta là cửa, ai ngang qua Ta mà vào thì sẽ được cứu” (Ga 10.9).
- “Dưới gầm trời này, không có một người nào khác, ngoài Chúa Kitô, đã được Thiên Chúa ban xuống cho nhân loại, để nhờ vào đó mà họ trông được cứu rỗi” (Cv 4.12).
Những câu Kinh Thánh trên, cách nói có khác nhau, từ ngữ có khác nhau, nhưng tựu trung, vẫn cùng một ý tưởng, mà chúng ta đã bàn giải trên kia: không có ai khác, Phật, Khổng, Lão, Cao Đài..., không một thần nào, một thánh nào, một vĩ nhân nào, anh hùng nào, một tổ chức nào, một quyền hành nào... trên. lời, dưới đất, trong âm ti địa ngục..., hiện tại hay tương lai..., có thể cứu chúng ta, đem chúng ta vào thiên đàng hạnh phúc, đưa chúng ta đến Chúa Cha.
Vậy, từ bây giờ, ta phải tập gột bỏ não trạng: lập công nghiệp để được vào thiên đàng, tu nhân tích đức để vào thiên đàng, để được Chúa thưởng trên thiên đàng.
Những việc tu thân tích đức là tốt, là cần, ta không được khinh chê hay rãy bỏ. Chuyện ông Cót-nê-liô làm chứng: Thiên Chúa chấp nhận chúng như của lễ, song chúng chỉ là dọn đàng. Thấy người ta nỗ lực thành tâm thiện chí như thế, Chúa sẽ đoái thương ban cho người ta được ơn tin bằng một cách nào đó mà chỉ Chúa biết, hoặc thông thường hơn bằng nghe giảng Tin Mừng về Đức Giêsu Kitô và hiểu biết Ngài là ai, ngõ hầu tin vào Ngài, và nhờ tin và gắn bó với Ngài như thế, mà người ta được cứu. “Ai tiếp nhận Ngài (= Đức Giêsu), thì Ngài ban cho họ quyền làm con cái Thiên Chúa” (Ga 1.12). Đó là chính điều thiên thần trong chuyện trên đây bảo ông đại uý phải làm: mời Simon Phêrô đến rao truyền cho những lời nhờ đó được cứu. Mà Phêrô nói những lời gì? Phêrô nói về Chúa Giêsu. Nói gần xong, và coi như đã hết phần chính, thì ông đại uý và cả gia đình tin vào Đấng Cứu Chúa, Giêsu Kitô, thế là được cứu rỗi. Trong truyện ấy, ơn cứu rỗi được bày tỏ ra dưới hình thức Chúa Thánh Thần đáp xuống lòng họ, tẩy sạch tội lỗi họ - khiến họ không còn là nghịch thù, và đáng sa hoả ngục - và đồng thời làm cho họ thành con cái Thiên Chúa; do đó, họ vui mừng lên tiếng cao rao, ngợi khen Thiên Chúa là Cha họ bằng những tiếng rất lạ.
Nói như thế phải chăng không còn cần đến các việc đạo đức, giữ luật vv...? Không hề! Sau khi đã tin như nói trên, thì các việc đạo đức và giữ luật vv... còn rất cần để bồi đắp, vun quén cho ơn cứu độ còn non nớt, khỏi bị chết khô mà được phát triển, sinh hoa qua đơm quả...
Tích truyện
Có ông Vua kia muốn thử xem các con mình, ai là đứa khôn ngoan hơn để truyền ngôi lại cho, ông bèn lấy một hạt kim cương thật quí gói trong một bọc giấy rất xoàng khó coi, còn một hột kim cương giả bằng thuỷ tinh thì đặt vào trong một hộp rất đẹp, rực rỡ và ưa nhìn. Đoạn vua gọi hai hoàng tử lại cho chọn. Người con cả thấy gói xoàng, bỏ qua, chọn cái hộp thật đẹp. Sau, Vua gọi đến con út, hỏi muốn chọn cái nào. Cậu út nhìn cha bằng cặp mắt dịu hiền và nói:
- Kính thưa phụ vương, xin Cha chọn giùm con.
Vua chọn cho thứ kim cương thật trong gói xoàng, và bảo con hãy đợi để mình sửa soạn cách trọn vẹn hơn. Vua truyền lấy chiếc triều thiên đã làm sẵn, rồi trước mặt hai hoàng tử, Vua lấy gói xoàng ra, đính viên kim cương thật vào giữa, tức thì viên kim cương ấy chói loà các tia sáng muôn màu rực rỡ..., tức khắc, Vua triệu quần thần lại và tuyên bố:
- Mai sau cậu hoàng tử út này sẽ nối ngôi Cha. Vương miện này là vật bảo đảm.
Trong đời sống đạo cũng vậy, biết bao người trên thế gian chạy theo đạo nọ đạo kia, vì nghe thấy hơ hứa cho nào thành tiên, thành phật... nhờ kinh kệ, tu thân diệt dục, nghe thì hay lắm, có vẻ đúng lắm, cứ tu riết sẽ thành chánh quả, thành Phật, thành tiên, rồi họ vẽ ra quần tiên hội, hoặc tây phương cực lạc sung sướng..., nhưng hoá ra đồ giả, không thật.
Còn tín hữu Chúa Kitô là người khôn ngoan, đến xin Chúa chỉ cho: Xin Cha chọn giùm cho con, thì Chúa Cha mới đem Đức Giêsu Kitô cho ta mà nói: Đấy mới là kim cương thật, chói loà mọi sự thánh thiện, công chính, hãy nhận lấy Chúa Giêsu, hãy tin vào Ngài, các con sẽ được cứu rỗi đời đời.
BÀI LỜI CHÚA 76
PHÉP RỬA TỘI - TÁI SINH
Trích Tin Mừng Gioan 3.1-5
Ở Yêrusalem có một cụ già thông thái, quí hiệu là Nicôđêmô. Cụ có chân trong nhóm Biệt phái và là nghị viên trong Thượng Nghị Viện Do thái. Cụ đã từng nghe nhiều về Giêsu Nadarét, nhưng là người thận trọng, cụ ít tin vào những truyền phép mầu. Tuy nhiên, những phép lạ của Nhà tiên tri trẻ tuổi thành Nadarét càng ngày càng được dân chúng đồn vang dậy khắp nơi. Cụ muốn đến gặp tận mặt để hỏi cho rõ. Một đêm đẹp trời, cụ đi tìm Đức Giêsu để được hiểu về đạo lý của Ngài, sợ ban ngày sẽ lộ truyện, các bạn đồng nghiệp nghi ngờ cụ chạy theo cái mới lạ, nên cụ đến ban đêm, vả lại ban đêm thường là cho câu chuyện thêm thân mật. Gặp Đức Giêsu, cụ mở đầu câu chuyện cách khiêm tốn:
- Thưa Thày, Thày quả là Người của Chúa, vì không ai làm được những phép lạ như Thày, trừ phi là có Thiên Chúa ở với.
Thấy cụ thẳng thắn, Đức Giêsu đi thẳng vào vấn đề:
- Để vào được nước Thiên Chúa mà tôi rao báo, phải giữ một điều kiện là phải tái sinh.
Cụ Nicôđêmô mỉm cười bỡ ngỡ:
- Thế nào? Phải tái sinh? Ngần này tuổi như tôi mà phải vào bụng mẹ để sinh lại ư?
Đức Giêsu đáp:
- Thế đấy! Ai muốn vào Nước Thiên Chúa phải sinh lại cả. Song ông chớ lầm! Việc sinh lại đây là sinh bởi Chúa Thánh Thần và bằng nước. Vì nếu người ta vào bụng mẹ mà sinh ra, thì đó chỉ là chuyện thuộc phạm vi xác thịt, phạm vi sức lực tự nhiên loài người; người ấy có sinh cả 100 lần ra lại cách như thế, cũng chỉ lặp lại lần sinh trước, có gì hơn đâu. Còn đây là sự sinh ra bởi bên trên, bởi Thiên Chúa làm, bằng sức lực của Chúa Thánh Thần, thì người sinh lại lần nữa mới trở nên giống Thiên Chúa, có Thần Khí Thiên Chúa, có sự sống Thiên Chúa, ông hiểu được chưa?
Ông Nicôđêmô cúi đầu ngẫm nghĩ trước một điều quá ư mới mẻ, lạ lùng. Đức Giêsu giúp ông:
- Ông bỡ ngỡ ư?... ống có nghe làn gió thoảng qua không? Đó là một ví dụ cho ông dễ hiểu. Kìa làn gió ấy thổi đi đâu ông có biết không? Nó xuất phát từ đâu, ông cũng không rõ, song nghe tiếng. Thề thì người sinh ra bởi Thần Khí cũng vậy. Cuộc tái sinh bởi Chúa Thánh Thần làm trong tâm hồn người ta cách thiêng liêng cũng vậy, không ai xem thấy, không biết bắt đầu từ đâu, rồi đi đến đâu, nhưng công hiệu của nó thì người ta vẫn cảm nghiệm được.
Cụ già ngẩng đầu lên. Cụ có vẻ đã hiểu được phần nào:
- A! Quả thật việc tái sinh là như thế ư?
Đức Giêsu tiếp lời:
- Chính vậy! Ông là tiến sĩ trong dân mà không hiểu ư? Nếu ta nói những chuyện xảy ra dưới đất mà ông không tin, đến lúc Ta nói về những sự trên trời, ông sẽ tin sao được?
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Cụ Nicôđêmô là người thuộc đạo cũ, không hiểu việc tái sinh cũng còn được đi. Chúng ta đây, người Kitô hữu, chúng ta có hiểu không? Chưa chắc. Tệ hơn, có lẽ ta cũng chẳng để ý tìm hiểu nó nữa kia. Có người trong chúng ta có khi mới nghe nói tái sinh lần này là lần đầu cũng chưa biết chừng! Ôi! Chúa chúng ta sẽ nghĩ sao về chúng ta? Từ trước đến nay, ta sống cái gì? tư cách nào?
+ Tại sao có tình trạng trên?
Một trong những lý do chính là tại các người dạy giáo lý hoặc giảng dạy cho ta không nói về vấn đề ấy. Họ thường nói về phép rửa tội. Thế là Chúng ta đâm ra coi đó như một lễ nghi, một tục lệ, làm một lần thế là xong! Người thì cử hành lễ nghi ấy lúc nhỏ tí ti, mới sinh ra; người khác lúc lớn, học đạo và chịu phép rửa tội như là một lễ nghi kết thúc kỳ học đạo. Lễ nghi xong, ta thở phào nhẹ nhõm, từ nay, ta sống sao kệ ta, chỉ cần đi dự lễ, đọc kinh, có tội thì xưng... Nghĩ như thế, thật là tai hại..., chẳng khác gì coi Phép Rửa như một cái vé, vào đến cửa rạp, đưa cho người soát vé, họ cầm lấy coi rồi xé ngang, cho phép ta được vào rạp, thế là xong, chiếc vé ấy chỉ còn việc nhét vào túi hay vứt vào sọt rác: thủ tục đã xong!
+ Nhưng nếu như bài Phúc Âm ta đọc trên đây, chính Đức Giêsu dạy cho ta rằng đó là một việc sinh ra, chứ không hề bảo đó là một lễ nghi, thì ta nghĩ sao? Có ai coi việc sinh ra là một lễ nghi đâu? Ta cứ nghĩ đến một đứa trẻ vừa sinh ra, hoàn toàn đó không phải một lễ nghi hay thủ tục, làm xong là thôi. Trái lại, nó là một biến cố độc nhất: mọt con người sinh ra, một con người mới được ra ánh sáng mặt trời. Đó là một cuộc sống bắt đầu, và từ phút giây đó nó phát triển, nó là một sự sống, nó bắt đầu một cuộc đời... cứ phát triển mãi cho đến ngày thành nhân, vĩ nhân, anh hùng... Không phải chúng tôi sẽ khuyên anh chị em nên thay đổi cách nghĩ đâu, vì đã rõ: đây chính là lời dạy của Chúa chúng ta: phải tái sinh mới vào Nước Trời. Chúa không bảo đây là một lễ nghi, một thủ tục; song bảo: đây là một cuộc sinh ra thiêng liêng và bắt đầu một cuộc sống: chúng ta mỗi người sinh lại cách bí nhiệm bởi Chúa Thánh Thần, và từ nay, ta tiếp tục phát triển lớn lên, thành nhân..., trưởng thành trước Chúa.
+ Chúng ta thử diễn tả việc tái sinh ấy bằng hình ảnh giọt máu. Người ta thường nói: “Thằng X. là giọt máu của ông đó” Đúng thế, con cái là do một giọt máu của cha mẹ truyền vào chúng. Cứ thử máu là biết. Thì đây, khi Thiên Chúa sinh ta lại, để từ nay, ta thực là con cái Thiên Chúa, Người cũng truyền vào ta một giọt máu. Giọt máu ấy ví như là Chúa Thánh Thần mà Thiên Chúa ban xuống trong ta, thế là ta có cùng một máu với Thiên Chúa, có Thần Khí của Thiên Chúa. Vì bản tính của “Thiên Chúa là Thần Khí” (Ga 4.24). Người lấy chút Thần Khí của Người truyền sang cho ta. Vậy khi Thiên Chúa thấy ai có máu Người, mới nhận họ làm con cái, và cho họ được vào ở nhà Người. Vì thế, Đức Giêsu nói: “Phải tái sinh bởi Thiên Chúa mới vào được Nước Trời”, vì Nước Trời là nhà của Thiên Chúa.
Hình ảnh giọt máu này không xa sự thật lắm đâu! Ta hãy nghe Thánh Kinh nói: “Phàm ai sinh bởi Thiên Chúa thì không làm sự tội, vì mầm giống của Người lưu lại trong kẻ ấy” (Thư 1 Ga 3.9). Nhưng nhà chú giải cắt nghĩa: mầm giống ấy là Chúa Thánh Thần: trên kia, ta ví Chúa Thánh Thần như giọt máu, ở đây, Kinh Thánh nói Ngài là mầm giống, chẳng phải gần giống nhau sao?
+ Thiên Chúa nhét mầm giống Thánh Thần, hoặc nói cách hình bóng, Thiên Chúa truyền giọt máu Thánh Thần xuống cho ta hồi nào? Xin hãy nghe lời Kinh Thánh: “Bởi vì Thiên Chúa coi anh em là con cái thì Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Chúa Giêsu, Con Người đến trong lòng anh em, Thần Khí lúc ấy kêu lên: Abba! Cha ơi! Lạy Cha của con” (Thư Galát 4.6). Việc truyền máu ấy xảy ra hồi ta nghe giảng dạy về Chúa Giêsu và ta đáp lại bằng lòng tin, thế là Thiên Chúa nhận ta làm con, bằng cách truyền giọt máu Thần Khí xuống trong lòng ta. Rồi Phép Rửa đến đóng dấu chứng nhận. Nhờ đó, ta mới có phép xưng hô với Thiên Chúa: Lạy Cha, Cha ơi, Cha của chúng con! Và đáp lại, Thiên Chúa sẽ gọi: Con là con Cha!
Điều này, không đạo nào có thể ban được. Do đó, đừng ai trong chúng ta dại mồm dại miệng nói: đạo nào cũng như đạo nào, vì đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành. Không đúng! Có đạo nào làm cho các tín đồ nên con cái Chúa đâu, trừ đạo Chúa? Vả lại, có bao giờ Phật bảo họ là con Phật đâu? Nếu họ tự nhận là Phật tử, thì chỉ là một cách nói ví von thôi, và họ chỉ là đệ tử Phật, chứ không nghe miệng Đức Phật nói họ là con cái bao giờ. Mà cũng không nghe Phật dạy họ gọi ông ấy là cha họ cả. (Sau này, Phật giáo nói: trong con người ai cũng có Phật tánh..., đó là điều người ta thêm vào sau).
Còn chúng ta thì Thánh Kinh nói rõ: “Hãy coi, Thiên Chúa yêu thương chúng ta chừng nào: Người ban cho ta được gọi là con cái Thiên Chúa, - và thực là thế - hiện giờ, ta là con cái Thiên Chúa, cái đó sẽ ra sao, thì chưa được tỏ hiện, nhưng ta biết rằng: một khi Ngài tỏ hiện, thì ta được giống như Ngài” (Thư 1 Ga 3.1-2).
+ Thế là ta được sinh ra trong đời làm con Thiên Chúa. Có thể nói lần tái sinh này mới là sinh ra thật của ta, vì sinh lại cách bí nhiệm là sinh ra để sống và sống đời đời, còn những kẻ chỉ sinh ra bằng bụng mẹ thôi là sinh ra để rồi chết. Vì không có Chúa Thánh Thần là giọt máu, là sự sống Thiên Chúa, thì không vào được Nước Trời hằng sống. Mà không vào Nước Trời là rơi vào tối tăm, vào sự chết đời đời. Vì thế, ta có thể nói tái sinh mới là sinh ra thật, sinh ra để mà sống. Từ nay, ta là con của Thiên Chúa hơn là con của cha mẹ ta. Ta có một tên mới, đó là tên thánh, có cha mẹ mới là Thiên Chúa, có anh em mới là các thiên thần, các thánh, các tín hữu, và trước hết là Đức Giêsu mà Kinh Thánh gọi là “Trưởng Tử của một đoàn cm đông đúc” (Rm), có một quê hương mới vĩnh cửu là Nước Trời.
+ Những ai không có giọt máu Thiên Chúa, không được vào Nước Trời. Đến cửa thiên đàng khám không thấy có, thử máu không thấy có thì đi chỗ khác chơi. Thánh Gioan (8.35) nói: “Con mới được ở lại trong nhà mãi mãi. Những người các đạo khác họ lầm to, khi họ tưởng cứ tụng kinh, ăn chay trường, tu thân tích đức là lên thiên đường, lên cõi cực lạc trường sinh. Lầm to và mất công toi. Bao công khổ tu ăn chay, tụng niệm, có khi suốt đời, thành vô ích. Vì Chúa Giêsu xác định rõ: Có tái sinh mới vào Nước Trường sinh.
Một lần kia, trong một nhóm chia sẻ lời Chúa, một thiếu nữ công giáo nghe nói đến đây, tròn xoe mất ngạc nhiên và hỏi: “Thế sao? Con tưởng họ có công tu thân luyện tánh, ăn chay, tụng niệm, từ bi hỉ xả, thì họ cũng được Chúa cho lên thiên đàng chứ?”. Chúng tôi phải mất công lắm mới làm cho cô ấy hiểu được rằng: các nỗ lực tu thân luyện tánh kia không đủ để vào Nước Trời. Đức Giêsu nói rõ: “Phải tái sinh mới được vào”. ông Nicôđêmô trong bài Kinh Thánh trên đây chẳng đạo đức siêu đẳng ư? Ông thuộc nhóm Biệt phái, tức cũng ví như các tu sĩ bây giờ: cầu nguyện ngày ba lần, ăn chay tuần hai lần, giữ 10 điều răn không trách cứ vào đâu được, làm phúc bố thí... và còn nhiêu điều phúc đức nữa, không kể hết ra đây được. Mà khi đến hỏi Đức Giêsu, Ngài trả lời không đủ, phải tái sinh. Ông ấy còn là tiến sĩ dạy người ta về đạo, ông là người nhân đức và thông thái đến nỗi được chọn vào Thượng nghị viện là Hội đồng tối cao của Israen... Thử hỏi: ngay chúng ta đây, và ngay cả các tu sĩ, linh mục của ta, xét nguyên về mặt tu thân tích đức, dễ mấy ai bằng? Thế mà Chúa dạy không đủ đấy, phải tái sinh. Huống chi mấy người các đạo khác. Tại sao vậy? Vì lẽ đơn giản mà trên kia ta đã nói: tái sinh là Thiên Chúa ban Thánh Thần, làm cho người ấy có Thần Khí Thiên Chúa ví như có giọt máu của Chúa, làm con Chúa, mà làm con thì mới được vào nhà của Chúa, ở với Chúa, hưởng gia tài của Chúa! Chúng ta thử lấy một ví dụ: Nếu có đứa trẻ nào cầu bơ cầu bất đến trước cửa nhà anh chị em, nó nói: Tôi có tập võ giỏi, tôi học hành chăm chỉ, tôi ngoan, tôi tốt, rồi nó nói: vậy ông bà phải cho tôi vào ở trong nhà ông bà! Anh chị em có cho không? Anh chị em lại chẳng trả lời nó rằng: Con có mọi đức tính ấy thì quí lắm, song con không có giọt máu của chúng ta, con đâu có phải là con mà đòi vào ở với chúng ta, rồi đòi phải chia gia tài cho con thừa kế ư? Đâu có được! Không phải con chúng ta thì con vô nhà bố mẹ con mà ở! Thế đó! Chúa cũng nói với các người không có đạo, hoặc người các đạo khác như vậy.
Thế còn đối với chúng ta, theo danh nghĩa là Kitô hữu, có đạo thì sao? Phải phân biệt: Kitô hữu thật và giả! Có người chỉ là Kitô hữu bởi danh nghĩa chứ thực không là thế. Làm sao biết được? Biết được chứ! Đức Giêsu đã nói cách biết trong bài Tin Mừng trên kia: Gió từ đâu tới sẽ đi đâu ta không biết, vì là chuyện mắt thường không thấy, nhưng ta nghe được tiếng nó, thì người sinh ra bởi Thần Khí cũng vậy: Cuộc tái sinh thiêng liêng Chúa Thánh Thần làm thì người ta không thấy nhưng công hiệu của nó, hậu quả của nó thì người ta vẫn có thể nghiệm thấy được. Nó tỏ ra trong đời sống, trong hạnh kiểm, trong cử chỉ, trong lời ăn tiếng nói, trong mọi hoàn cảnh. Những Kitô hữu nào đích thật, tức là đã được tái sinh, thì đời sống và hạnh kiểm họ bày tỏ ra, họ sống xứng đáng như con cái Thiên Chúa, tốt lành, bình an, yêu thương, tiết độ, hiền từ.., như Cha mình là Thiên Chúa: “Các con hãy nên trọn lành giống cha các con trên trời”. Còn các Kitô hữu giả thì chỉ chịu phép Rửa như một thủ tục, một lễ nghi, chứ không tái sinh, không là con Chúa, nên đời sống họ bày tỏ ra toàn những tính hư nết xấu: nhậu nhẹt say sưa, tham lam, gian dối, dâm dục, phóng đãng, mê tín dị đoan, đồng bóng, chửi rủa, đánh nhau, chia bè kết đảng, hằn thù, kình địch... Thiên Chúa đâu có chút nào như thế, mà họ như thế thì họ không là con, vì con phải giống Cha. Thế thì đối với Kitô hữu giả này, dù có chịu phép Rửa tội, mà không tái sinh, thì Chúa cũng phán bảo với họ: con không là con Ta, vậy không vào Nước Trời. Nước Trời là vương quốc, là nơi ở của những ai sống theo Thần Khí. Còn ngươi, ngươi chỉ có cái lễ nghi rửa tội, mà không tái sinh, không có Thần Khí, chỉ có toàn các việc xác thịt, trần tục, ô uế... ngươi vẫn hoàn là một người vô đạo. Không có chỗ cho ngươi trong Nước Trời.
Vậy hỡi anh chị em đang làm việc đền tạ, bài hôm nay rất quan trọng, ta hãy suy đi gẫm lại để thay đổi tư duy, thay đổi cuộc sống. Ta xin Chúa thứ tha lối sống cũ chưa tái sinh, và nếu ta xin ơn tái sinh, Chúa sẽ ban lại cho ta. Cách nào? Kỳ khác ta sẽ bàn. Nhưng nên nhớ, - phải nói ngay ở đây - không phải chỉ sám hối, ăn năn, đi xưng tội là Chúa Cha ban lại ơn tái sinh đâu. Còn cần một hai điều quan trọng hơn nữa mà ta sẽ xem sau.
Tích truyện
Vào một đêm cuối năm, trời tối dần và tuyết cứ mãi rơi. Có một cô bé đầu trần, chân đất, đi đọc theo đường phố. Tay cô cầm bó diêm đem đi bán. Suốt ngày, chẳng ai mua dùm cô. Cô bé đói rét, thất thểu những bước đi run rẩy trông thật tội nghiệp. Cuối cùng, cô uể oải ngồi phố xuống góc tường. Cô bé không dám về nhà, bố sẽ đánh chết vì không đem được chút tiền về mua bánh mì. Ngồi một lát thì lạnh cóng, cô bé nghĩ rằng có thể sưởi ấm đôi tay bằng cách bật một que diêm. Que diêm bùng cháy một ánh lửa rực rỡ..., cô tưởng tượng như mình đang ngồi trước một lò sưởi tuyệt đẹp, cô duỗi đôi chân mong nó được sưởi ấm đôi chút, nhưng xui xẻo, ánh lửa tắt ngấm, lò sưởi biến mất. Cô bật một que diêm nữa, ánh lửa rọi vào bức tường, dường như cô bé thấy trong bức tường giống như một căn phòng ấm áp, có trải khăn bàn trắng, trên bàn có những bát đĩa sứ, ở giữa lại có một con ngỗng quay vàng óng, bốc lên mùi thơm phức, sốt nóng. Nhưng que diêm cháy hết lại vụt tắt, trước mặt cô bé chỉ còn bức tường lạnh lẽo. Một que diêm nữa, lần này cô bé thấy mình ngồi trước một cây Noel to lớn, lộng lẫy, đủ ánh đến màu sắc lung linh. Cô muốn đưa tay sờ cây Noel, song que diêm lại tắt. Những ánh sao trên cây Noel bay dần lên trời. Cùng lúc ấy, một ánh sao băng, xẹt một vệt sáng trên nền trời, cô bỗng nhớ đến bà ngoại, vì bà thường kể rằng: khi một vì sao rơi, ắt có một linh hồn bay lên thiên đàng. Cô chợt nhớ bà ngoại, người duy nhất trên đời yêu thương cô, nhưng bà đã qua đời. Cô đánh que diêm khác, và chao ôi! Khi ánh lửa bừng sáng, cô bé thấy bà ngoại yêu dấu đang đứng giữa vầng hào quang mỉm cười nhìn cô.
Cô bé kêu lên:
- Bà ơi! Bà cho cháu theo với! Cháu sợ khi diêm tắt, bà lại biến mất như lò sưởi, bữa ăn ngon và cây Noel lúc nãy thôi..
Và cô bé vội vàng quẹt tất cả những que diêm còn lại, như muốn giữ bà yêu dấu ở lại. Những que diêm sáng rực đến nỗi bầu trời bừng lên trong đêm như có mặt trời mọc. Và bà của cô chưa bao giờ lại đẹp như lúc này. Bà ôm cô vào lòng. Trong cảnh rực rỡ ngập tràn hạnh phúc ấy, hai bà cháu bay lên trời, xa dần trần gian để đến nơi mà hai người không còn cảm thấy đói lạnh và khổ đau nữa...
Sáng hôm sau, một ngày đầu năm giá lạnh, ở góc đường ấy, người ta thấy một cô bé bán diêm, gương mặt tái mét nhưng đôi môi vẫn mỉm cười. Cô ngồi dựa tường, tuyết phủ kín nửa người và đã bị chết cóng trong cái đêm cuối năm sương tuyết lạnh lùng ấy. Thiên hạ bảo nhau khi thấy tàn những que diêm còn vương vãi:
- Cô bé đã cố sưởi ấm cho mình đấy, song tội nghiệp...! Nó đã chết vì đói và lạnh!
Nhưng có ai ngờ: cô bé đã nhìn thấy những hình ảnh tuyệt vời và lộng lẫy như một giấc mơ. Cô bé đã cùng bà ngoại bước vào một nơi ngập tràn hạnh phúc.
(Phỏng theo tạp chí “Kiến thức ngày nay”, số 51, ngày 1-1-1991).
BÀI LỜI CHÚA 76 BIS
TÁI SINH XẢY RA Ở ĐÂU?
Trích thư Rôma, 6.3-11
Anh em có biết không: khi chúng ta được dìm vào trong Đức Kitô Giêsu (nhờ chịu phép Thanh tẩy), là chính trong cái chết của Ngài mà ta được dìm vào. Và khi được dìm vào trong cái chết của Ngài, thì chúng ta cùng được mai táng với Ngài. Nhưng sau khi chết và bị mai táng, Đức Giêsu đã chỗi dậy khỏi mồ, sống lại nhờ bởi quyền năng phép tắc của Đức Chúa Cha, thì cũng vậy, ta cũng sẽ bước đi trong một cuộc sống mới.
Bởi vì, nếu ta đã được giống Đức Giêsu mà cùng chết với Ngài, thì chúng ta cũng sẽ được giống Ngài mà sống lại. Chúng ta biết điều này là con người cũ của ta, cội rễ mọi tội lỗi đã cùng bị đóng đinh thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người cũ bị tội lỗi thống trị ấy nay đã bị huỷ diệt, thế là từ nay chúng ta không còn phải làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Vì ai đã chết, thì hết tội, thoát khỏi quyển hành thống trị của tội lỗi.
Cũng như Đức Kitô, sau khi dâng mình chịu chết có một lần thôi, thì không bao giờ Ngài phải chết nữa, quyền hành sự chết không còn thống trị được Ngài nữa; nay Ngài đang sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy kể mình là đã chết rồi đối với tội lỗi, không còn lân la bén mảng gì với chúng nó nữa, nay anh em chỉ sống cho Thiên Chúa mà thôi.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Chắc anh chị em còn nhớ đến bài “Hai phương án cứu độ của Thiên Chúa”, ở đó chúng ta có nói đến Thân mình Đức Giêsu phục sinh mà ta nhờ tin được nhập vào, ví như nhập vào trong lò Bát Quái... Anh chị em nhớ rồi chứ? (bài 74bis).
Vậy việc tái sinh xảy ra ở đó, diễn ra trong đó... Thoạt chúng ta tin Đức Giêsu hết lòng, thì theo qui luật thông thường là ta sẽ chịu phép Thanh tẩy, để đóng ấn chắc chắn cho lòng tin của ta. Cũng như ngoài chữ ký, còn có dấu mộc đỏ mới chắc chắn. Như vậy, nhờ tin và chịu Thanh tẩy, thì ta được nhập vào Đức Giêsu, đúng như lời Thánh Phaolô dạy: “Hết thảy ta được nhờ thanh tẩy mà nhập vào thân mình độc nhất (tức Đức Kitô)” (1Cor 12.13).
Điểm l: Nhập vào thì việc gì xảy ra?
Thánh Phaolô lại dạy: “Hết thảy ta được dìm vào (nhờ chịu phép Thanh tẩy) trong Đức Kitô, thì chính trong cái chết của Ngài mà ta được dìm vào” (Roma 6.3). Như thế là ta được dìm vào trong sự chết cứu chuộc của Chúa. Lấy hình bóng cái lò bát quái Của Thái Thượng Lão Quân trong truyện Tàu mà nói tương tự như thế này: khi ta được nhập vào thân mình Đức Giêsu tử nạn, phục sinh, ta được dìm vào trong lò bát quái, trong đó, máu Đức Giêsu đổ ra đền tội ta, sẽ tẩy ta sạch hết mọi tội lỗi, giặt áo linh hồn ta trắng như tuyết: nào tội tổ tông, tội riêng mình phạm từ trước cho đến lúc chịu phép Rửa, thì đều được xoá sạch hết, ta được nên công chính, hết bị án phạt. Kinh Thánh xác nhận: “Vậy bây giờ không còn án phạt nữa cho những ai ở trong Đức Kitô “ (Rm 8.1). Nói giả sử lúc ấy ta chết ngay, ta sẽ được vào thiên đàng tức thì. Thánh Kinh tả một cách cụ thể việc xoá sạch tội bằng những câu đã đọc trên kia: “Chúng ta biết điều này: là con người cũ của ta cùng bị đóng đinh thập giá với Đức Kitô, thế là con người cũ tội lỗi bị huỷ diệt (cùng bị đóng đinh là cùng chết, như Đức Giêsu đã bị đóng đinh thì đã chết). Mà chết thì hết tội, hết bị tội thống trị” (Rm 6.6-7). Thánh Phaolô còn nhấn mạnh hơn: ví như thể ta được cùng mai táng với Đức Kitô. Vì chết, có khi còn hồi sinh, có khi mới chết giả.Nhưng đã mai táng rồi thì không còn cách gì gọi là còn sống được. Ấy vậy, khi chịu phép rửa tội là ta nhập vào lò bát quái, sự chết của Đức Giêsu làm cho ta cùng chết, tội lỗi ta bị huỷ diệt, rồi bị mai táng, chôn sâu hết thảy. Tạ ơn Chúa Giêsu!
Điểm 2: Nhưng trong thân mình Đức Giêsu, không chỉ có chết, mà còn có sự phục sinh nữa; cho nên như Đức Kitô đã sống lại thế nào sau khi con người cũ bị huỷ diệt, thì ta sống lại trong một đời sống mới! Thánh Phaolô dạy rõ điều đó: “Như Đức Kitô nhờ bởi quyền năng của Cha mà được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, cũng (sống lại và) bước đi trong đời sống mới. Vì “nếu ta cùng chết với Đức Kitô, thì ta tin rằng ta cũng sẽ cùng sống với Ngài... Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết, Ngài không côn bao giờ phải chết nữa, sự chết không còn quyền gì trên Ngài nữa... Ngài đang sống, sống cho Thiên Chúa, thì cũng vậy, ta hãy kể là mình đã chết rồi đối với tội, và từ nay chỉ sống cho Thiên Chúa mà thôi (Rm 6.4,8-11). Thế là sau khi tội lỗi và con người cũ chết, là ta sống lại và sống cho Chúa.
- Mấy câu Kinh Thánh trên này hơi khô khan, nhưng chỉ vì mầu nhiệm quá cao siêu, lại muốn diễn tả bằng ngôn ngữ thiếu sót của loài người, cho nên nó phức tạp và khó hiểu... Nhưng nó nói lên một sự thật rất vui mừng cho ta. Đây, hãy xem người các đạo khác: ăn chay trường, niệm phật luôn miệng, ra công trừ diệt tham sân si, mọi đam mê dục vọng..., khổ công tu thân luyện tánh như thế, nhiều khi mất cả cuộc đời mà chưa đủ, vẫn còn sót tội này, tội nọ, gây thành tiền oan nghiệp chướng (giống như cối đá buộc vào cổ), khiến họ lại phải nhào vào vòng luân hồi... để tu lại, hoặc tu tiếp... Hầu hết họ cứ vào luân hồi rồi sinh ra kiếp khác như thế, lẩn quẩn, loanh quanh mãi đến ba bốn ngàn kiếp mà chưa thành chánh quả... Còn ta, chỉ cần một kiếp độc nhất là kiếp người hiện thời, ta tin vào Đức Giêsu cứu chuộc và được nhập vào thân mình Tử nạn phục sinh của Ngài, thế là được máu Ngài luyện sạch ngay tức thì. Nói đến đây, ta ngừng lại mà vui mừng tạ ơn Chúa Giêsu, Đấng đã lạ lùng, nhẹ nhàng, mau chóng tẩy sạch tiền khiên, (hoặc nói theo tiếng nhà Phật) tẩy sạch mọi tiền oan nghiệp chướng “cái rụp” cho ta như vậy để ta được sống đời đời.
* [Mời tất cả đứng lên hát một bài ca vui vẻ tạ ơn... Sau đó mời ngồi. Hoặc nếu thấy dài, có thể để phần sau cho một buổi khác...]
Điểm 3: Công việc lò bát quái (= thân mình Chúa Kitô) luyện tẩy chúng ta đến đây đã kết thúc chưa? Thưa: chưa, đúng hơn mới bắt đầu!
Số là vì “cái tôi” của ta nó chưa chết hẳn. Bao lâu ta còn sống ở trần gian, còn gặp bao nhiêu cám dỗ, bao thử thách, đang khi đó ma quỉ, thế gian còn đó, đứa thì xúi giục, đứa thì bầy ra nhiều cái hấp dẫn, lôi kéo, cám dỗ, quyến rũ “cái tôi” của ta!
Khi ta vừa nhập vào lò tẩy luyện, tội được tẩy sạch rồi, ta được nên công chính rồi. Nếu ta chết ngay, thì như trên đã nói, ta lên thiên đàng tức thì. Nhưng ta còn tiếp tục sống..., ma quỉ và thế gian sẽ cám dỗ ta, và muốn lôi ta ra khỏi Đức Giêsu! “Cái tôi” của ta lại bị lôi kéo... Tuy nhiên, có những người, một khi nhập vào Đức Giêsu, họ hết lòng thuộc về Chúa Giêsu, hết lòng để cho Thần Khí Chúa dẫn đưa, thì họ được sức mạnh, luôn luôn làm theo ý Chúa, họ bắt “cái tôi” của họ đầu phục Chúa hoàn toàn, thế là họ cứ sống trong ơn sủng, sống thánh thiện mãi. Cái tôi của họ nay được Đức Giêsu chiếm lấy trọn vẹn... Họ vẫn sống ở đời, vẫn ăn uống làm việc, nhưng xem ra như có một người khác đang sống trong họ, điều khiển họ, chi phối mọi hoạt động và sinh hoạt hằng ngày của họ. Đó là điều mà Thánh Phaolô đã kinh nghiệm và diễn tả như sau: “Cái tôi (cũ) của tôi đã chết rồi, đã bị đóng đinh và mai táng trong mồ cùng với Chúa Giêsu rồi. Này tôi sống (tôi vẫn ăn uống, ngủ nghỉ, làm việc...), nhưng (xem ra) không phải tôi nữa, mà là chính Đức Kitô sống trong tôi. Đời sống của tôi hiện tại trong xác phàm này, tôi sống nó trong lòng tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và phó nộp mình vì tôi” (Galát 2.19-20). Những người sống như thế, thật là tuyệt vời. Trước kia, đời họ đâu có tốt lành như thế, trái lại, “cái tôi” làm chủ hết, cái gì họ cũng làm theo ý riêng mình, thích thì làm, không thích thì thôi, thích gì làm nấy: thích ăn thì cứ ăn, thích chơi bời cứ chơi bời, thích giận ai, muốn báo thù, cứ làm cho thoả..., thích tiền, chạy theo tiền, thích danh vọng, chạy theo chiếm cho kỳ được! Lương tâm cắn rứt ư? Bẻ răng nó đi! Hoặc lấy lý nọ, cớ kia để bào chữa, để đánh lừa lương tâm, dối lòng. Vợ chồng, con cái có phàn nàn, kêu trách ư? Thây kệ, giả điếc làm ngơ, nếu tính cộc cằn hơn thì đánh đập, bịt miệng lại! Chúng tôi tạm vẽ chuyện đó dưới hình một cái nhà, là hình bóng tất cả đời sống ta, trong đó diễn ra các hoạt động, ăn uống, giải trí, vui chơi, ngủ nghỉ, liên lạc với người nọ, người kia, đọc sách trong tủ sách, buôn bán... Trong căn nhà ấy, ở giữa có một cái ghế làm ngai, trên ngai ấy, CÁI TÔI ngự trị, làm chủ, làm theo ý thích riêng của mình mọi sự, mọi việc. Đây là hình vẽ tượng trưng ấy: Vấn đề là đưa ĐỨC KITÔ lên ngai làm chủ, hạ bệ CÁI TÔI xuống, phục quyền Chúa, để Chúa dẫn dắt, điều khiển mọi sự, mọi việc. Công việc này dài hay ngắn, tuỳ lòng đại độ của mỗi người. Có người rất lâu, rất dài, có người rất chóng, rất ngắn. Bởi đó, ta nói trên kia là việc nhập vào lò luyện của Chúa Kitô mới chỉ là bước đầu. Cái TÔI ấy (Thánh Phaolô thường nói: con người cũ) là cội rễ mọi sự dữ, chúng ta đã thừa kế từ ông tổ, bà tổ Ađam, Eva. Nó phải bị hạ bệ, truất phế khỏi ngai, không được làm chủ nữa, để Chúa Kitô lên ngai, làm Chúa, làm chủ. Công việc ấy rất khó, nếu xét theo sức loài người. Song anh chị em đừng sợ, khó mà lại hoá dễ, vì trong Đức Kitô, anh chị em không chỉ có một mình như khi người ta giữ luật thời Cựu Ước, mà còn có Thánh Thần, là quyền năng Thiên Chúa giúp ta. “Ngoài Thày ra, các con không làm được việc gì”, Đức Giêsu nói như thế. Cho nên, cần nhất là cứ ở trong Đức Giêsu luôn. Thánh Phaolô nói kinh nghiệm của ông: “Trong Thiên Chúa, tôi có thể làm được mọi sự”. Vì Chúa hứa: “Ơn ta là đủ cho ngươi! Vì chưng trong yếu đuối, quyền năng Thiên Chúa mới có dịp thi thố hết hiệu năng” (2Cor 12.9). Vậy chúng ta đừng sợ, một hãy tin. Với đức tin, chúng ta sẽ thắng, sẽ thành công. Chỉ cần anh chị em hãy phú thác cho Chúa Giêsu hết cả, với một niềm tin cậy trọn vẹn, rồi anh chị em sẽ thấy phép lạ xảy ra: cuộc đời anh chị em sẽ biến đổi, sẽ sống vui mừng, sẽ thấy bình an, hoan lạc, sẽ hạnh phúc ngay từ đời này cho đến mãi đời đời.
Tích truyện
Một câu chuyện cổ tích thuật lại rằng: Khi Chúa giáng sinh, các thú vật đều tới mừng Chúa. Mỗi con đều dâng Chúa chút quà. Bò cái dâng sữa, khỉ biếu Chúa mấy trái dừa, sóc nâu bé nhỏ tình nguyện ở lại làm đồ chơi cho Chúa. Chúa Hài Đồng vui vẻ nhận tất cả. Đang lúc ấy, chàng cáo xuất hiện. Các thú vật đều ghét cáo, vì hắn ta gian manh, quỉ quyệt. Chúng chặn không cho cáo đến gần Chúa, sợ nó lại âm mưu chuyện gì đây.
Cáo nói:
- Tôi đến dâng lễ vật cho Chúa!
Nhưng chẳng thấy cáo mang theo lễ vật nào. Tuy nhiên, Chúa vẫn ra hiện cho cáo vào. Quì bên Chúa, chàng cáo thì thầm dâng cho Chúa lòng quỉ quyệt của mình.
Mọi thú vật đều bỡ ngỡ: dâng gì kỳ cục vậy? Trái lại, cáo ta vui mừng, hớn hở. Còn Chúa đặt hai tay lên đầu cáo tỏ dấu chúc lành. Xưa nay, cáo sống sung sướng trên lưng kẻ khác nhờ sự quỉ quyệt của mình. Từ đây, dâng cho Chúa rồi, nó sẽ phải kiếm ăn cực nhọc với tấm lòng lương thiện. Hoá ra chàng cáo đã dâng nhiều hơn tất cả.
Chúng ta cũng vậy, con người và đời sống ta có xấu xa, gian manh, quỉ quyệt như chàng cáo, cứ tin cậy dâng mình cho Chúa, một khi Chúa nhận của lễ, đem ta vào trong Chúa, mọi sự sẽ biến đổi tất cả.
BÀI LỜI CHÚA 76TER
CHÚA LUYỆN TA CÁCH NÀO?
Trích Tin Mừng Mathêô 4.1-10
Sau khi Đức Giêsu chịu phép Thanh tẩy nhờ tay ông Gioan Tẩy giả, Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống và lưu lại trên Ngài, thì Thán Khí dẫn đưa Đức Giêsu vào sa mạc để chịu ma quỉ cám dỗ.
Tên cám dỗ tiến lại nói:
- Ngài đã giữ chay 40 ngày, chắc Ngài đói lắm? Nếu Ngài là Con Thiên Chúa, chắc có quyền phép trong tay, thì hãy truyền cho các viên đá này biến thành bánh mà ăn!
Nhưng Đức Giêsu lấy lời Kinh Thánh mà đáp trả nó rằng:
- Có lời Kinh Thánh chép: Người ta sống không chỉ nhờ bánh, mà là nhờ vào mọi lời từ miệng Thiên Chúa xuất ra.
Bấy giờ, ma quỉ đem đặt Ngài lên đỉnh Đền Thờ, bên dưới là nhìn xuống thung lũng và vực sâu, mà nói:
- Nếu Ngài là con Thiên Chúa, thì hãy gieo mình xuống dưới, vì Thiên Chúa sẽ ra lịnh cho các thiên thần nâng Ngài trên bàn tay họ, không để cho chân Ngài vấp phải đá đâu!
Đức Giêsu xét thấy ma quỉ xúi giục mình thử thách Thiên Chúa phải làm phép lạ vô cớ đề cứu giúp một hành vi ngông cuồng, ngạo mạn của mình, nên Ngài lấy lời Chúa đáp trả:
- Không được, Kinh Thánh dạy rằng: Ngươi chở thử thách Thiên Chúa của ngươi!
Chưa chịu thua, ma quỉ bày ra keo khác, nó đem Ngài lên một núi cao, và chỉ cho Ngài thấy hết các nước thiên hạ cùng vinh quang phú quí của chúng, rồi nói với Ngài:
- Từ khi nhân loại sa ngã phạm tội, đánh mất quyền làm chủ vũ trụ, thì cả thế gian và vinh hoa phú quí các vua, các nước đều thuộc về tôi rồi, tôi muốn hiến cho ai tuỳ ý. Nếu Ngài phục mình bái lạy tôi, tôi sẽ hiến cho Ngài hết cả.
Không cầm mình được trước sự lộng hành của ma quỉ, Đức Giêsu phán:
- Xéo đi! Satan! Ta không bao giờ quì lạy ai, vì lời Kinh Thánh dạy: Ngươi phải bái lạy Thiên Chúa của ngươi, và chỉ thờ phượng một mình Người.
Bấy giờ, ma quỉ bỏ Ngài mà đi, song nó còn chờ dịp khác...
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Như đã học kỳ trước, công việc luyện tẩy trong lò tái sinh (tức là thân mình Đức Giêsu phục sinh) cốt nhất ở việc làm cho ta hạ bệ cái TÔI, cái bản ngã riêng, tội lỗi, hướng về sẽ dữ của ta, để dần dần, một cái TÔI khác là Chúa Giêsu sống và chi phối tất cả đời sống của ta. Hãy nhớ đến hình ảnh cái nhà, ở giữa có một ngai, trên đó, hồi trước 1à cái TÔI ngự trị, điều khiển... Sau đó, hạ bệ cái TÔI xuống, mời Chúa Giêsu lên ngự.
Kỳ này, ta sẽ đặt câu hỏi: Chúa dùng cách nào để luyện tẩy như thế? Thưa: Bằng lời Chúa. Đây ta sẽ xem tại sao.
Người ta kể truyện rằng có hai gia đình kia, bên này là của ông An, bên kia là của bà Bình. Hai nhà cách nhau có một bờ giậu bìm bịp, nên vui vẻ qua lại, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ nhau. Xảy ra, có mấy con cháu bà Bình về ở, thế là không biết họ bàn nhau thế nào, bà Bình bèn xây một bức giường gạch thật cao ngăn cách hai nhà, phá bỏ hàng giậu bìm bịp thân thương, khiêm tốn, nhờ đó gió lùa qua khe lá về mát nhà ông An. Ông cảm thấy bị xúc phạm. ông cho rằng bà Bình coi như nhà ông toàn là trộm cắp, nên phải xây bức tường cao ấy. Đàng khác, bức tường chắn hết gió, mùa hè nhà ông An như một cái nhà tù sau bức tường che chắn. Ông bực tức nghĩ rằng: miệng bà ta thì leo lẻo tình nghĩa, thế mà nay lầm một việc hoàn toàn vô nhân đạo như thế. Càng nghĩ, ông càng giận, và từ đó, ông cho gia đình bà Bình là đểu giả, là vô nhân đạo, và ông không thèm chào hỏi, hoàn toàn lãnh đạm, gặp cũng không thèm nhìn, để mắt đi nơi khác; ngày lễ tết, không thèm qua lại chúc mừng, thăm viếng...
Cho đến một hôm, Đi học lời Chúa, ống được Chúa dạy ông lời này: “Nếu các con yêu mến những kẻ yêu mến các con, thì các con có công gì? Há những người thu thuế tội lỗi cũng không làm thế sao? Và nếu các con chỉ chào hỏi anh em, bà con các con, thì các con cớ làm gì lạ? Há người ngoại cũng không làm thế sao? Vậy các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lãnh”. Nghe lời ấy, ông An giật mình, tin chắc lời này Chúa Giêsu nói cho chính mình ông. Phải đúng thật, từ ít lâu nay, ông đã không còn vui vẻ chào hỏi gia đình bà Bình nữa, mà chỉ vui vẻ, thân tình với anh em, bà con, bạn hữu của mình; té ra ông cư xử như một người ngoại, tức là ông sống theo cái bản ngã xấu xa, ngoại đạo, sống theo bản năng tự nhiên của cái TÔI. Chúa Giêsu đâu có sống như thế. Vậy ông nhất quyết sẽ triệt hạ cái TÔI ấy, không cho nó điều khiển tâm tình và cử chỉ của ông, ông sẽ để Chúa Giêsu sống trong ông. Và ông hạ mình xuống ăn năn thống hối, rồi ông xin Chúa dạy ông phải làm sao? Chúa Giêsu mới dạy ông phải nên trọn lành như Cha trên trời, Người vẫn ban mưa nắng và mặt trời soi sáng, sưởi ấm cho cả kẻ lành lẫn kẻ dữ... ông An quì xuống cầu nguyện, xin cho ông cố sức triệt hạ cái TÔI còn đang căm giận bà Bình, mà để Chúa Giêsu sống trong ông như ý Chúa. Thế mà, Chúa soi sáng cho ông: vào địa vị ông, Chúa sẽ vui vẻ chào hỏi bà Bình, tha thứ, hoặc đúng hơn, bỏ qua câu chuyện bức tường ô nhục kia..., không còn đếm kể đến tự ái mình bị xúc phạm, mà sẽ cư xử như chính Chúa Giêsu đang sống trong ông cư xử với bà ấy... Thế là từ ngày đó, dù bức tường ngăn cách vẫn đứng sừng sững đó, nhưng tình yêu đã vượt qua được mà đem người bên này đến bên kia.
1/ Câu chuyện có thực ấy tuy nhỏ, nhưng đã cho thấy rõ: những ai tin vào Đức Giêsu và nhập vào thân mình Ngài, thì ở trong “lò bát quái” ấy Ngài luyện cho họ diệt tan cái TÔI xấu xa, ngoại đạo, sống theo ý riêng mình, làm theo ý xấu của mình, để từ nay chỉ còn Chúa Giêsu sống trong họ, làm chủ và điều khiển mọi tâm tình, mọi hành động của họ. Và Chúa Giêsu luyện như thế bằng lời của Ngài. Ngài soi sáng cho họ nhớ lời Ngài dạy trong Kinh Thánh, cách riêng sách Phúc Âm, rồi Ngài ban ơn sức mạnh cho họ làm theo lời ấy, tức là làm theo Chúa, Chúa làm sao, họ làm vậy, Chúa sống sao, họ sống vậy. Để rồi cứ thế, càng ngày họ càng thấy không còn phái là họ sống nữa, nhưng xem ra như chúa đang sống trong bọ (x. Galát 2.20).
Hồi xưa, người ta vẫn thường nói: Phúc Âm hoá đời sống Kitô hữu, hay là: sống theo gương Đức Giêsu. Ngày nay, chúng tôi nói có màu sắc Kinh Thánh hơn là: Để Chúa sống trong ta, để Chúa làm chủ đời ta, Chúa tái sinh ta... (ấy là chúng tôi chưa kể thêm nhiều cách nói mới lạ khác như: canh tân trong Thánh Linh, Thanh tẩy trong Thần Khí, Biến đổi bởi Thần Khí...). Các cách nói có khác nhau, song cùng chung một mục đích, cùng nhắm diễn tả một sự việc.
2/ Nếu Chúa tẩy luyện chúng ta nhờ dùng Lời Chúa, thì chúng ta nhất thiết phải chăm chú nghe và giữ lời Chúa: Qua đây, ta hiểu được tại sao có nhiều người dự khoá Thánh Linh, khoá Canh tân đặc sủng..., hoặc dự khoá tĩnh tâm, linh thao...; ở đó, họ được ơn Chúa Thánh Thần rất mạnh mẽ, có người đã khóc lóc thống hối và trở lại cách nhiệt tình, bỏ đời sống tội lỗi; có người được ơn xuất thần, ngất trí, nói tiếng lạ...; có người đổi đời sống như lột xác... Nhưng chỉ được ít lâu, sự sốt sắng, nồng nhiệt ban đầu nguội dần...; con người cũ, cái TÔI ích kỷ, cái bản ngã xấu xa lại dần dần sống lại như trước kia, leo lên ngai làm chủ lại!
Ấy là vì những người đó không còn chuyên tâm đọc lời Chúa, học lời Chúa, để biết Chúa dạy gì mà làm theo. Cuộc đời con người phức tạp, biết bao điều khó xử, biết bao khó khăn cần giải quyết. Chúng ta sẽ sống, sẽ cư xử thế nào đây? Theo đường nào, lối nào; đang khi chung quanh ta chỉ nghe những luận điệu xúi giục của ích kỷ, của đam mê...; những châm ngôn ngoại đạo, phàm tục như: người ta làm sao, mình cũng cứ làm thế; sống là phải hưởng thụ cho hết mình, dại gì mà giữ mình...; cuộc đời vắn vỏi, “chơi xuân kẻo hết xuân đi, cái già xồng xộc nó thì theo sau”...; mình không làm, người khác cũng làm...; của công, ai hơi đâu mà lo... Nếu không có Chúa dạy cho ta lời Ngài để biết phải sống theo lối nào đúng ý Chúa, kẻo hư hỏng linh hồn và xác, đánh mất sự sống đời đời..., thì làm sao ta giữ mình được mà không bị cuốn phăng theo giòng nước lũ, hay bị bốc đi theo cơn lốc xoáy ấy?
3/ Bạn đừng nghĩ nghe theo lời Chúa mà sống ngược với bản ngã tự nhiên, ngược cái TÔI tự mãn, ích kỷ như thế hoài, chắc mệt lắm và buồn lắm! Phải công nhận rằng: làm ngược cái bản ngã riêng, tính mê nết xấu thì quả có khó, có mệt, và xác thịt lăng loàn của ta sẽ phản đối tùm lum... Nhưng bạn đừng sợ, như đã nói kỳ trước, Đức Giêsu sẽ ban ơn Thánh Thần vừa êm ái, vừa mạnh mẽ để giúp bạn... Chẳng vậy, hoá ra Đức Giêsu nói láo sao, khi Ngài kêu gọi ta: “Hãy đến cùng Ta, ta sẽ cho nghỉ ngơi lại sức... Hãy cứ vác lấy ách của Ta vào mình... các con sẽ tìm thấy sự nghỉ ngơi cho tâm hồn” (Mt 11.28-29). Tiến sĩ Aogutinô đã kinh nghiệm cầu nói đó cách thấm thía. Ông đã đành cả tuổi trẻ chạy theo danh vọng, chạy theo thú vui xác thịt...; cuối cùng, quá mệt mỏi, ông được ơn trở lại với Chúa, ông mới thốt lên một câu nói mà danh tiếng truyền đến hơn chục thế kỷ. Ông nói: “Quả thật, Chúa đã dựng trái tim chúng con cho Chúa, và tâm hồn chúng con không thể tìm an nghỉ ở đâu cho đến khi an nghỉ nơi Chúa”. Mới đầu thế kỷ này, Cha Sạc-lơ-đơ-Fu-cô cũng nói gần gần như vậy.
Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta cho Chúa, tức là chỉ có Chúa mới ăn khớp với đời ta, mới thôi mãn ta đầy đủ. Bỏ Chúa chạy theo mọi sự vật đời này, rồi ra con người sẽ thấy chán ngán, thất vọng ê chề. Mới đây, báo Kiến thức ngày nay (tháng 5-1993, số 107) có cho tin về ca sĩ luống tuổi Johny Halliday, cưới vợ lần thứ 6 với cô gái 18- 20 (Karine). Ở những lần cưới vợ trước, lần nào ông ta cũng nói: “Lần này, tôi đã tìm được người thích hợp cho tôi”, hoặc “Đã tìm thấy người đàn bà của đời tôi”, hoặc: “Tôi thấy cô, tôi hiểu ngay là tôi đã gặp định mệnh của mình”. Kết quả là chia tay nhau sau 1 năm, 2 năm; có lần chỉ 3 tháng. Thế mà sao khi trình diễn ca nhạc (anh là ca sĩ nổi tiếng nhất nước Pháp về nhạc Rock), anh vẫn gào lên: “Đời tôi cô đơn! với cô Karine, vợ thứ sáu này, cuộc tình sẽ kéo dài bao lâu? Người ngoài cuộc đang đánh cá với nhau...
Nếu Johny Halliday hay những ai giống như thế, mà có đầu óc tỉnh táo hơn, chắc sẽ nói lên như Aogutinô, như Sạc-lơ-đơ-Fu-cô không? Chỉ có Chúa mới cho tâm hồn tôi được nghỉ ngơi. Quả thế, chỉ có Thiên Chúa mới vừa khít cho đời ta, chỉ Người, là tất cả và luôn luôn mới, mới thoả mãn lòng con người. Chúa đã dựng ta cho Chúa là thế đó. Và chỉ khi nào chiếm được Chúa, ta mới thật được nghỉ ngơi, hạnh phúc đầy đủ. Ngoài Chúa ra thì sẽ “Sông bao nhiêu nước cũng vừa, người bao nhiêu của vẫn chưa thoả lòng”.
- Bạn sẽ nói: những câu đầy khôn ngoan và đúng sự thật ấy chỉ nhận định được sau một cuộc đời sóng gió, trầy trụa rồi, chứ còn ngoài ra - nhất là khi người ta còn trẻ, còn ham đời - mấy ai hiểu được mà làm theo? Đáp: có chứ! Biết bao tín hữu vì đã để Chúa Giêsu làm chủ đời mình, thì đã làm theo được và nhờ lời Chúa dạy, họ đã hiểu sự khôn ngoan kia không chờ tuổi tác, đã đến với họ từ sớm, ngay cả từ tuổi trẻ. Vì họ tin Đức Giêsu, và nhập vào trong thân mình Ngài, có Chúa Thánh Thần dạy họ sự khôn ngoan ấy và tẩy luyện họ. Ngài là Thần Khí sự thật mà, Ngài có phận sự - như lời Đức Giêsu hứa trong sách Tin Mừng - dẫn dắt chúng ta vào tất cả sự thật, dạy dỗ chúng ta biết sống khôn ngoan như Chúa muốn.
Tóm lại, chúng ta xác tín rằng: không học và đọc lời Chúa - kèm với cầu nguyện - không thể nào triệt hạ được cái TÔI xấu xa, ích kỷ, cái bản ngã hư hỏng, hướng chiều về tội lỗi của chúng ta. Cùng lắm, bề ngoài ta có thể thấy người giáo dân ấy làm các thủ tục tôn giáo, giữ những luật lệ bó buộc, làm những thực hành đạo đức như đọc kinh, đi dự lễ, xưng tội, rước lễ..., nhưng con người bên trong không được cải tạo, con người cũ vẫn thống trị cuộc đời, cái TÔI của họ vẫn làm chúa, làm chủ; bản ngã ích kỷ của họ vẫn chi phối; điêu khiến mọi tâm tình, suy tính, hoạt động hoặc giao tiếp của họ. Vẫn cái TÔI của họ sống trong họ, chứ Chúa Kitô chưa sống và chỉ huy đời họ.
Chúng ta đã thấy trong bài Tin Mừng đọc ở đầu gương Đức Giêsu không sống theo cái TÔI của Ngài! Ngài có thể nhủ mình: “Ta đói quá, ăn chay 40 đêm ngày rồi, ma quỉ nó gợi ý cho ta là ta có quyền phép của Con Thiên Chúa, ta hãy lấy quyền phép ấy mà làm phép lạ để có vài cái bánh ăn đỡ đói. Việc ấy có làm hại ai đâu?”. Nhưng lập tức, Đức Chúa Thánh Thần, Đấng đã xuống trên Ngài và lưu lại trong Ngài, từ khi chịu Phép Rửa, liền soi sáng cho Ngài hiểu: Loài người sống không chỉ nhờ bánh, mà còn nhờ vào mọi lời xuất ra từ miệng Thiên Chúa. Và Đức Giêsu đuổi cơn cám dỗ ấy. Ngài tự bảo lòng: Ta rán đi xuống núi tìm quán trọ nào đó, ăn chút gì đỡ đói - Đó anh chị em thấy Đức Giêsu không làm theo ý riêng của cái TÔI, như thế sẽ nghịch ý Thiên Chúa. Quyền phép Thiên Chúa ban cho Ngài lớn lao lắm, sau này Ngài sẽ làm phép lạ hoá bánh ra nhiều vô số cho 5 ngàn người ăn no nê, nhưng đó là phục vụ con cái Chúa, những người đã đi theo Ngài để nghe Ngài giảng Lời Chúa cho họ. Còn trong trường hợp cám dỗ đây là lấy quyền phép mà phục vụ cá nhân mình, cái bụng của mình..., thì là lạm dụng quyền phép. Nếu chính Đức Giêsu cũng phải lấy Lời Chúa để soi sáng cho cách xử sự và hành động của Ngài, thì huống hồ chúng ta, ta cũng phải để Lời Chúa dạy ta, luyện tẩy ta sống theo ý Thiên Chúa như vậy.
BÀI LỜI CHÚA 76QUARTER
ĐẠO BUỒN HAY VUI?
Trích Tin Mừng Luca, ch.24
Chiều chúa nhật phục sinh, trên con đường đi về Em-mau, một làng cách Yêrusalem chừng 11 cây số, hai bộ hành vừa đi vừa chuyện trò, nhưng coi bộ họ buồn bã thất vọng. Chính lúc đó, Đức Giêsu phục sinh đến nhập bọn đi cùng, nhưng họ không nhận ra Ngài. Nỗi buồn, nỗi sợ và thất vọng đã bưng mắt họ lại.
Ngài bắt đầu câu chuyện:
- Các ông nói chuyện gì với nhau mà coi bộ buồn bã vậy?
Một trong hai người, tên là Klê-ô-pha đáp:
- Ông không biết gì về các biến cố xảy ra mấy ngày nay sao? Này nhé: ông Giêsu làng Nadarét thật là một vị tiên tri có quyền năng làm nhiều phép lạ và đầy uy quyền khi giảng dạy. Thế rồi Ngài bị bắt, bị đóng đinh trên thập tự giá. Phần chúng tôi, hi vọng tiêu tan thành mây khói, vì chúng tôi tưởng Ngài sẽ giải phóng cho dân Israen. Thế mà, đã ba ngày qua rồi, kể từ hôm Ngài chết. Nói cho đúng, có vài người đàn bà kể lại những chuyện làm chúng tôi hoảng hồn: họ nói họ tới viếng mồ, thì không thấy xác Ngài, mà chỉ thấy các thiên thần hiện ra nói Ngài đã sống lại! (Ôi miệng đàn bà ấy mà, tin làm sao được). Ấy thế mà cũng có vài ông trong nhóm môn đồ đã nghe theo và đi ra mồ, và đã thấy mồ trống như mấy bà nói, còn Đức Giêsu thì họ chẳng thấy đâu. Thiên thần cũng chẳng thấy nốt!
Bấy giờ, Đức Giêsu nói cùng họ:
- Ôi, mấy kẻ ngu độn và lòng trí chậm tin vào lời Kinh Thánh đã báo trước là Đức Kitô phải chịu khổ nạn để được vào vinh quang.
Hai người ấy ngẩn mặt ra, có vẻ họ muốn nói: Có lời Kinh Thánh nào nói như vậy đâu? Thế là Ngài lấy từ sách ông Môsê viết, rồi sách các tiên tri nói, mà dẫn giải cho họ các điều viết về Đức Kitô trong suốt bộ Kinh Thánh.
Cả ba đến gần làng Em-mau, nhưng Ngài làm như thể còn phải đi xa hơn. Họ cố nài Ngài vào nghỉ chân và dùng bữa tại nhà họ. Vả lại trời đã về chiều, khách bộ hành đơn độc có thể sẽ gặp trộm cướp dọc đường..., nên Ngài đã vào nhà ở lại với họ. Và đang khi ngồi vào bàn ăn, Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra trao cho họ, thì mắt họ mở ra và họ nhận biết Ngài... Nhưng Ngài đã bỏ họ đấy mà khuất mắt họ. Lúc ấy, họ mới thú nhận với nhau:
- Chúa đó, thảo nào, lòng chúng ta đã chẳng cháy bừng bừng lúc dọc đàng Ngài giải nghĩa Kinh Thánh cho ta đấy ư?
Quá vui mừng vì được thấy Chúa, ngay giờ ấy, tức tốc họ bỏ bàn ăn, quay trở lại Yêrusalem, thì gặp các môn đồ còn đang tề tựu đó, họ liền thuật lại các việc Chúa giảng giải lời Kinh Thánh lúc đi dọc đàng và làm sao họ đã nhận biết Ngài lúc bẻ bánh.
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Nếu anh chị em chưa quên, thì đã có một lần, ta đọc bài Kinh Thánh này (x. bài 70), song đem dẫn giải về một ý khác. Còn kỳ này là cốt ý cho hiểu: không đọc và suy gẫm lời Chúa, đời sống đạo sẽ buồn sầu, không có hân hoan... Sự tích hai môn đệ Em-mau không chỉ là chuyện riêng của hai người, vì sách Thánh được viết ra là cho tất cả Giáo Hội và cho từng người chúng ta. Điều đã xảy ra cho họ, Chúa muốn bảo là cũng xảy ra cho ta. Đã từ lâu, chẳng phải mỗi người chúng ta thường đã quá chú ý đến tội lỗi của mình, miệng luôn rền rĩ than van xin Chúa tha tội, trong trí, trong lòng lúc nào cũng bị ám ảnh bởi tội, luôn sống trong lo buồn, âu sầu..., sợ Chúa phán xét, sợ rơi xuống hoả ngục, mất linh hồn? Chẳng phải là một cái đạo sợ hãi, âu sầu đó ư? Đành rằng - chúng tôi xin khẳng định một lần cho rõ - chúng ta cũng phải lo sợ phạm tội, và khi đã lỡ phạm tội rồi, thì phải lo buồn ăn năn, hối cải vì đã làm mất lòng Cha nhân ái. Những không thể để cho hầu như tất cả cuộc sống ta bị bao trùm bởi không khí tội lỗi ám ảnh, khiến cho đời ta âu sầu, ảm đạm hoài mãi! Cứ xem trong các kinh ta đọc, ngay cả trong bản kinh Thánh Lễ, quá nhiều lần van xin tha tội... Chúng tôi có một kinh nghiệm này là hễ mời một người nào tự phát cầu nguyện là y như sẽ nói: “Lạy Chúa, chúng con là kẻ có tội...” rồi “Chúng con buồn vì đã xúc phạm đến Chúa...”, rồi “Xin Chúa tha tội chúng con, chúng con không xứng đáng...”, sau đó là xin ơn... Hầu như ai cũng đã thuộc lòng mấy câu buồn tẻ đó... riết cũng đâm nhàm. - Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả, vì từ nhỏ, người ta đã cứ chõ vào tai ta những câu đại loại như thế! Đạo như thế thật buồn. Một đạo bao trùm bởi lo sợ. Thánh Gioan viết: Đó là đạo thiếu lòng mến, vì nơi lòng mến không có sợ hãi, trái lại, lòng mến trọn hảo thì không còn sợ hãi nữa, vì sợ hãi có liên quan đến hình phạt, và kẻ sống đạo mà sợ hãi, ắt là chưa trọn hảo trong lòng mến Chúa” (Thư 1 Ga 4.17-18).
Thứ đạo ấy tà đạo trước phục sinh, thứ đạo mùa Thương Khó, không biết đến phục sinh, cho dù Chúa đã sống lại từ 2.000 năm. Đạo đó của chúng ta giống hệt hai môn đệ Em-mau, Chúa đã sống lại rồi, mà họ vẫn còn buồn rầu, sợ hãi, đến nỗi chính Chúa phục sinh đến bên họ và hỏi: “Chuyện gì vậy? mà sao bộ mặt mấy ông buồn rầu, ảo não làm vậy?”. Thế là họ kể ra nỗi buồn, nỗi thất vọng của họ... Thày chúng tôi chết rồi! Thế là hết!... Chúng tôi quay trở về làng cũ Đây. Họ đáng bị Đức Giêsu trách mắng (và cả chúng ta cũng đáng): Hỡi những kẻ ngu độn và trí lòng chậm tin vào mọi lời Kinh Thánh đã nói!”
Qua lời trách của Đức Giêsu phục sinh, ta vỡ lẽ ra rằng: nếu ta sống đạo buồn bã, lo sợ là chỉ vì. ngu độn và chậm tin vào lời Kinh Thánh, nói khác đi, vì không đọc sách Thánh để thấy thuật lại những gì Thiên Chúa đã làm cho ta vì lòng thương vô bờ, nên ta cứ co quắp lại nghĩ về mình, nghĩ về sự bất xứng, tồi tệ của mình, về tội lỗi mình, nên không thể vui mừng, hân hoan tạ ơn, ngợi khen Chúa được, không tìm trong đạo niềm hạnh phúc được!!!
Hỏi: Chúa làm thế nào để chữa bệnh tâm hồn cho hai môn đồ? Bài Kinh Thánh đáp: bằng cách đơn sơ lấy sách Kinh Thánh, từ sách ông Môsê viết, và hết thảy các sách tiên tri, mà dẫn giải cho họ nghe các điều đã viết về Chúa Giêsu, về kế hoạch cứu độ nhưng không của Thiên Chúa thi hành để cứu độ thế gian. Thế là các ông sau đó thú nhận với nhau: “Lòng chúng ta lại đã không cháy bừng bừng, lúc đi dọc đàng Ngài giải nghĩa Kinh Thánh cho ta nghe đó sao?”. Thế là tâm họ đổi hẳn, từ buồn rầu, thất vọng, bị thương đau, trở thành vui mừng, hân hoan, sốt nóng, hăng hái, và nhất là họ nhận ra Chúa đã sống lại. Tức tốc ngay tối ấy, không quản ngại nguy hiểm bị cướp bóc trên đường đồi núi hẻo lánh, họ vượt mười mấy cây số trong đêm tối, để trở lại Yêrusalem báo tin đã được gặp Chúa sống lại, được Ngài giảng Thánh Kinh, được Ngài bẻ bánh cho, và được nhận ra Ngài đã sống lại... Qua những nét tả ấy, chúng ta có thể nhận thấy tâm hồn họ đã thay đổi đến mức nào, vui sướng đến mức nào! Phúc Âm gói trọn trong hai tiếng: Trước đó, đi về làng “bộ mặt ảo não”..., còn sau đó “lòng cháy bừng bừng”.
Bài học Chúa dạy cho ta hôm nay là: đời sống đạo mà không đọc và suy niệm lời Chúa, thì ảo não, buồn sầu, tẻ nhạt. Còn đời sống đạo được thấm lời Chúa, hiểu các việc Chúa làm cho ta, thì vui tươi, hân hoan, sung sướng! Qua mấy bài về hai phương án cứu độ, ta đã được Kinh Thánh thuật lại cho hiểu Thiên Chúa yêu thương ta dường nào: phương án 1, Chúa ban cho lề luật để tuân giữ mà được sự sống đời đời, song nhận thấy nhân loại không thể giữ trọn được lề luật, nên không ai được công chính hoá, mà hưởng sự sống đời đời, nên Thiên Chúa lại cất công bày ra phương án 2 tuyệt diệu hơn và chắc chắn thành công, là sai chính Con Một xuống cứu độ và chỉ đòi ta tin là được nhập vào Thân mình phục sinh đầy Thần Khí của Đức Giêsu và được xoá sạch mọi tội lỗi, nên công chính, được sự sống đời đời, được làm con Thiên Chúa (mấy lời tóm tắt gọi là để nhắc anh chị em nhổ mấy bài Lời Chúa trước đã trình bày).
Ở đây khuôn khổ bài này không cho phép chúng ta trích hết các lời Chúa, thuật tất cả những gì Thiên Chúa đã làm vì thương yêu và muốn cứu vớt ta; chỉ xin trích vài đoạn Kinh Thánh tiêu biểu mà thôi:
+ Với dân Do thái là dân Cựu Ước, vốn ngỗ nghịch, cứng đầu mà Chúa còn nói với họ thế này: “Không phải vì các ngươi là một dân hùng cường, văn minh mà Yavê đem lòng quyến luyến và đã chọn các ngươi... Nhưng vì lòng ta thương các ngươi, nên ta đã giương cánh tay uy quyền làm đủ các dấu thiêng điềm lạ chống lại Pharaô cùng binh tướng họ để cứu các ngươi ra khỏi cảnh làm nô lệ. Và các ngươi biết rằng Thiên Chúa của ngươi là Thần trung tín, Đấng giữ tín nghĩa với những ai yêu mến Người cho đến ngàn đời. Người sẽ chúc lành cho các ngươi, cho các ngươi tăng số, Người sẽ chúc lành cho hoa quả lòng dạ các ngươi và cho hoa quả đất đai: lúa, rượu mộng, dâu tươi, lứa con đàn bò, ổ dê cừu... Ngươi sẽ là kẻ diễm phúc giữa muôn dân. Nơi ngươi sẽ không có đàn bà son sẻ hiếm hoi. Yavê sẽ cất khỏi ngươi mọi thứ bịnh hoạn; và các thứ ôn thần, dịch tễ người Ai cập từng bị, Người sẽ không gửi đến nơi ngươi... Thiên Chúa còn sắp đem ngươi vào đất Hứa, một đất lành lắm khe nước, mạch suối phun trào nơi thung lũng và cả núi non, xứ lúa miến, lúa mạch với nho, vả, lựu, xứ dầu ô liu và mật ong, xứ mà ngươi không phải dè xẻn bánh ăn, nơi mà ngươi không phải thiếu thốn gì, xứ có đá sắt và mỏ đồng... ngươi sẽ ăn và được no nê, và ngươi sẽ vui sướng hân hoan chúc tụng Yavê vì đất lành Người ban cho ngươi...” (sách Thứ luật, 7.7-8.10).
+ Sau đây là bài sấm của tiên tri Ysaia, báo trước về Đức Giêsu sẽ là người Tôi Tớ phục vụ kế hoạch cứu độ của Chúa Cha để loại người được sống và hạnh phúc:
“Ai tin được điều chúng tôi đã nghe?... Đó là: Trước nhan Thiên Chúa, Ngài đã mọc lên như một chồi cây, không duyên dáng, không oai vệ bắt chúng tôi phải mến chuộng hay nể vì. Ngài bị khinh khi, và là đồ phế bỏ của người đời, chúng tôi chẳng thèm đếm xỉa. Trái lại, chính các bệnh tật chúng tôi, Ngài đã mang, chính các đau khổ chúng tôi Ngài đã vác... Ngài bị đâm thủng vì những sự ngỗ nghịch của chúng tôi, Ngài đã bị nghiền nát vì các tội vạ của chúng tôi. Đã giáng xuống Ngài hình phạt đổi lấy bình an cho chúng tôi, và nhờ những vết bầm Ngài chịu, chúng tôi được lành. Chúng tôi hết thảy đã xiêu lạc, như chiên cừu mỗi người quay theo mỗi ngả, nhưng Yavê lại để Ngài phải luỵ vì tội vạ chúng tôi. Bị đòn đánh, Ngài chịu đựng không mở miệng than van như cừu im lặng bị dẫn đến lò sát sinh... Ngài đã bị đốn phăng khỏi đất người sống... Nhưng Yavê... đã cho hồi phục kẻ hiến mình làm lễ hi sinh đền tội... Ngài sẽ thấy sự sáng... Ngài sẽ giải án tuyên công nhiều người là chính vì Ngài đã thí mạng mình không màng cái chết... đã mang lấy tội lỗi muôn người và đứng ra bầu chữa cho những kẻ ngỗ nghịch” (Ysaia 53.).
Ta thấy đó, vì thương, Thiên Chúa đã sai Con Người đến lãnh hết tội lỗi, vạ phạt, bệnh tật, đau khổ của chúng ta hết thảy lên thân mình Ngài để chịu thay, ta còn gì phải lo, ta được nên công chính, được tha thứ hết..., nay ta chỉ còn biết vui mừng cám đội ơn Chúa và hân hoan chúc tụng Người.
+ Chúa không chỉ là người cha, Chúa còn tự ví mình như người mẹ và thương ta hơn người mẹ thương con: “Trời hãy reo vui! Đất hãy nhảy mừng, vì Yavê an ủi dân Người, Người chạnh thương những kẻ cùng khốn của Người. Các ngươi đừng nói: Thiên Chúa đã quên tôi, đã bỏ tôi rồi! Mẹ nào lại quên con đẻ của mình, cạn lòng thương với đứa con dạ nó đã cưu mang. Cho dù mẹ có quên con được nữa, thì phần Ta, Ta sẽ không hề quên các người. Nây Ta đã khắc ghi ngươi trên bàn tay Ta” (Ysaia 49.13- 16).
+ Có lúc Chúa còn tự ví với người chồng thương vợ tha thiết: “Đừng sợ! vì ngươi sẽ không phải thẹn thuồng, vì chưng ngươi sẽ quên nỗi tủi thời niên thiếu... Vì Đấng kết duyên với ngươi là Chúa tạo dựng nên ngươi. Yavê các cơ binh trên trời là Người..., vì ngươi ví như thân gái bị bỏ rơi, lòng dạ tơi bời..., nhưng nào ai nỡ rẫy bỏ người vợ cưới hồi thanh xuân... Có đôi lúc (vì tội lỗi ngươi), Ta đã ngoảnh mặt khỏi ngươi một chốc, nhưng Ta lại đoái thương ngươi bởi tình nhân nghĩa muôn đời. Yavê, Đấng chuộc ngươi đã phán như vậy”.
Trước những lời Chúa khẳng định như thế, sao ta còn lo sợ, cứ nhìn vào chính mình, co rúm lại mà sợ hãi, đáng lẽ ta phải cảm kích đến chảy nước mắt ra vì lòng yêu thương nồng nàn đến vậy của Thiên Chúa và từ nay vui mừng, tin cậy, phó thác cho Người hết lòng. Đừng quay nhìn mình mà buồn sầu, lo lắng, hãy nhìn về Thiên Chúa. Việc cứu rỗi linh hồn ta, nói thật ra là việc của Thiên Chúa hơn là việc của ta. Cứ tin thật mạnh và Người sẽ làm mọi sự để cứu ta, Người sẽ biến sự dữ nên lành.
Chúng tôi không thể trích Kinh Thánh nữa, phải cả mấy trăm trang cũng không đủ. Chúng tội chỉ xin lấy một câu ở Tin Mừng Thánh Gioan để tóm tắt: “Thiên Chúa đã yêu mến thế gian như thế Đó, đến nỗi đã ban thí Con Một của Người, ngõ hầu phàm ai tin vào Ngài, thì khỏi phải hư đi, nhưng được sự sống đời đời”. Và Thánh Phaolô hỏi ta rằng: “Nếu Thiên Chúa đã không tha cho chính Con của Người, nhưng đã thí ban Ngài chịu chết vì chúng ta hết thảy, làm sao Người còn tiếc gì mà không ban muôn vàn ơn khác cho ta?” (Rm 8.32), không tiếc Con quí tử Người, Người lại tiếc các ơn nhỏ mọn ví như ba cái lẻ tẻ sao?
Tóm lại, đọc lời Chúa, suy niệm công việc, tình thương Chúa làm mà sách Thánh thuật lại, chúng ta sẽ như hai môn đệ làng Em-mau: lòng bừng bừng nóng cháy, cuộc đời sống đạo sẽ hân hoan, hạnh phúc, trên môi miệng lúc nào cũng tươi cười, và chỉ còn biết chúc tụng, tạ ơn Chúa, rồi như trẻ thơ, phó thác để Chúa lo mọi sự cho ta.
Tích truyện
Bên Tây Ban Nha, có một tượng thánh giá cổ rất đặc biệt: cánh tay trái của Chúa vẫn còn đóng vào thánh giá, còn cánh tay phải thì rời ra và đưa đến phía trước trong tư thế ban phép lành. Gốc tích sự lạ ấy như sau: Một hôm, có một tội nhân đến xưng tội với linh mục chánh xứ ngay dưới tượng thập giá này. Như thường lệ, mỗi khi giải tội cho một tội nhân có nhiều tội nặng, vị linh mục này thường tỏ ra rất nghiêm khắc. Ngoài việc đền tội nặng, linh mục còn hăm doạ nhiều điều. Người xưng tội buồn rầu, sợ hãi... Xong ít lâu, chứng nào tật đó. Một lần kia, cha ngăm đe:
- Đây là lần cuối cùng tôi giải tội cho ông!
Mấy tháng trôi qua, lại lần nữa, tội nhân ấy đến xin tha tội. Nhưng lần này, cha dứt khoát:
- Ông đừng đùa với Chúa. Tôi không thể ban phép giải tội cho ông nữa!
Nhưng lạ lùng thay, khi cha vừa khước từ tội nhân, thì ông bỗng nghe một tiếng thì thầm từ tượng thánh giá. Bàn tay phải của Chúa bỗng rời cây thập giá và ban phép lành xá tội cho hối nhân. Và vị linh mục nghe được tiếng thì thầm với ông:
- Sao con lại không xá tội cho người này? Chính Ta là người đã đổ máu chịu chết thay cho nó, chứ không phải con!
Và tiếp theo là lời từ thánh giá nói với tội nhân:
- Ta vẫn tha tội cho con, con hãy đi về bình an, và cố gắng đừng phạm tội nữa!
Từ đó, bàn tay phải của Chúa treo trên thập giá cứ ở mãi trong tư thế ấy, như không ngừng mời gọi loài người đến để ban ơn tha thứ, vì chính Chúa đã gánh lấy tất cả tội lỗi vào thân mình mà chịu đóng đinh chúng vào thập giá, để đổi lấy bình an và hạnh phúc cho loài người.
[Hãy hát một bài tạ ơn tình Chúa yêu ta. Ví dụ: “Xin tri ân, xin tri ân...”, hoặc: “Con xin dâng Ngài lòng cảm mến vô biên, con xin dâng Ngài ôi trái tim dịu hiền...”]
BÀI LỜI CHÚA 77
TIN THÌ ĐƯỢC SẠCH
Trích sách 2 các vua, ch.5
Có ông Naaman là kiện tướng bách chiến bách thắng của vua xứ Aram, nhưng ông lại mắc bệnh cùi. Vợ Naaman có một cô gái hầu việc là người Israen.
Nó nói với bà chủ:
- Ôi, nếu đức ông mà đến cùng vị tiên tri E-li-dêu, đất Israen, ắt ông ấy sẽ trừ bệnh cùi cho.
Nghe lời, Naaman lên xe, trẩy đến đất Israen, xin gặp vị tiên tri.
Nhưng E-li-dêu không ra tiếp, chỉ sai tiểu đồng ra bảo:
- Ông hãy đi tắm 7 lần trong sông Yorđan, thì ông sẽ được sạch bệnh.
Tưởng vị tiên tri khinh mình, Naaman tức giận nói:
- Kìa, ta cứ đinh ninh là hắn sẽ trịnh trọng đi ra, rồi đứng trước mặt ta mà kêu khấn Danh Chúa Yavê của hắn, đoạn giơ tay trên chỗ bệnh cùi của ta mà trừ bệnh. Chứ hắn đã không thèm ra gặp ta, còn bảo ta đi tắm ở sông Yorđan. Há nước sông Yorđan lại sạch hơn nước các sông ở xứ ta sao?
Thế là ông tức tối quay ra đi về. Thấy vậy, bầy tôi ông khuyên can:
- Chao ôi! Giả như tiên tri đã ra cho ngài một điều kiện khó khăn nào khác, há ngài lại không làm ư? Đằng này, tiên tri chỉ nói đi tắm và ông sẽ được sạch?
Thấy có lý, Naaman nghe theo, đi tắm bảy lần trong sông Yorđan đúng theo lời người của Thiên Chúa truyền và ông đã được sạch bệnh cùi, da thịt ông trơn tru, mịn màng như da thịt một trẻ nhỏ.
Ông đã trở lại gặp tiên tri mà tạ ơn, cùng tôn vinh Thiên Chúa của Israen.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Chuyện tích trên đây, thường được Giáo Hội dùng làm hình bóng về Phép Rửa: tội lỗi bám vào ta như phung cùi. Nước sông Yorđan, nơi chính Đức Giêsu đã xuống chịu phép rửa của ông Gioan Tẩy Giả, tượng trưng nước giếng Rửa tội tẩy sạch tội lỗi khỏi tâm hồn ta. Bắt đầu, ông Naaman nghĩ rằng: nước sông ở xứ Aram ông tốt hơn, nên không chịu đi tắm. Nhưng ông quên rằng: không phải tự bản chất nước rửa ông sạch bệnh cùi, song lòng tin và sự vâng phục sẽ chữa ông. Cũng giống như một lân kia, khi dân Do thái đi trong rừng vắng, vì họ phàn nàn trách Chúa nên bị phạt rắn độc cắn chết nhiều người. Họ chạy đến kêu cầu ông Môsê. Ông liền đến xin Chúa giúp. Chúa bảo ông đúc con rắn đồng, rồi cắm trên một cái gậy và dạy: “Hễ ai nhìn lên rắn đồng, thì sẽ được khỏi”. Quả đã xảy ra đúng như thế. Sau đó, sách Thánh cắt nghĩa: không phải con rắn nó chữa, nhưng chính lòng tin vào quyền phép Chúa mới chữa. Hễ ai lấy lòng tin mà nhìn lên, cái nhìn ấy làm theo lệnh Chúa, biểu lộ lòng họ tin vào quyền phép và lòng nhân từ của Chúa, thì Chúa chữa họ.
Bây giờ, ta trở lại với tích nước Yorđan rửa ông Naaman. Cho dù đây là hình bóng phép rửa tội công giáo, song nó vẫn chưa nói hết quyền phép của việc Rửa tội, nó mới chỉ nói tới một khía cạnh, là rửa sạch mà thôi. Phép Rửa còn có khía cạnh thâm sâu hơn nữa là biến đổi bên trong con người. Một sự tái sinh, và như kỳ trước đã học, một cuộc đời mới bắt đầu, cuộc đời cũ như xoá tan. Đứa bé mới sinh ra, chẳng phải nó bắt đầu một cuộc đời mới đó sao?
1/ Đến đây, tức khắc mỗi người chúng ta đều tự hỏi: Tôi đã được tái sinh lại như thế chưa?
Đáp: Xét bề ngoài, ta đã chịu phép Rửa tội rồi, tạm coi như đã tái sinh.
Xét bề trong: còn tuỳ: nếu hết lòng tin, thì phép rửa ấy tái sinh ta. Còn nếu chỉ chịu nó như một nghi lễ, mà thiếu lòng tin, thì lúc ấy, ta chưa tái sinh. Ta mới chỉ chịu một nghi lễ bề ngoài mà nó không có tác dụng biến đổi lòng ta.
Xét hậu quả: Để thấy rõ, cứ theo lời Chúa dạy: xem quả biết cây, xem hiệu quả thì biết nguyên nhân. Nếu cuộc đời ta, hạnh kiểm ta chỉ toàn diễn bày ra đủ thứ tính hư, nết xấu, tội lỗi, đó là quả xấu, quả độc thì phải kết luận rằng: ta chịu phép rửa không nên, có tiếng mà không có miếng.
Cứ nghĩ mà xem: ơn tái sinh làm ta nên con cái Thiên chúa; con thì phải giống cha, phải tốt lành, chính trực, hiền từ, nhân hậu, thương người, bác ái, tiết độ, bình an... Khi chịu Phép Rửa, là Chúa Cha ban Thánh Thần xuống trong ta. Như thế là Thần Khí ở trong ta như một thứ nhựa sống, phát sinh ra hoa quả tốt lành, như Kinh Thánh nói: “Hoa quả của Thần Khí phát sinh trong ta là: mến yêu, vui mừng, bình an, đại lượng, nhân hậu, tốt lành, tín trực, hiền từ, tiết độ...” Còn ngược lại, nếu ta chưa chịu phép rửa tội nên, thì không có Thần Khí, ta vẫn nguyên là con người cũ, sống theo tính mê, xác thịt như trước khi chịu phép Rửa. Con người cũ còn y nguyên, thì nó xúi ta sinh ra toàn hoa quả độc, như đoạn Kinh Thánh trên nói tiếp: “Các việc xác thịt phát sinh nào là: dâm bôn, ô uế, phóng đãng, tin vơ thờ quấy, mê tín dị đoan, hằn thù, không tha thứ, ghen tuông, nóng giận, đánh nhau, chia rẽ, ganh tị, say sưa, nhậu nhẹt, cờ bạc và các điều xấu xa khác giống như vậy...” (Galát 5.19-23).
2/ Tại sao có tình trạng thảm bại ấy?
Như trên kia đã nói: đó tại ta chưa hiểu đúng về Phép Rửa tội, không kể đến việc ta chịu Phép Rửa không nên, tức là không có các điều kiện cần thiết, cách riêng không có đức tin. Chỉ cần nói đến việc ta hiểu sai phép Rửa, mà ta nghĩ là một sự rửa ráy, giặt giũ như tắm rửa bên ngoài. Thiết yếu nó là sự đổi mới tận gốc rễ từ trong linh hồn đến ngoài thể xác, đến nỗi Kinh Thánh gọi là: đổi trái tim. Đây Chúa phán:
“Ta sẽ cất tấm lòng đá khỏi thân mình các ngươi. Ta sẽ thay vào đó một trái tim bằng thịt” (Edêkiên 36.26). Chúng ta lưu ý đến chữ Ta trong lời tiên tri, nó có ý nói chính Chúa làm việc ấy: Ngài ban cho ta trái tim mới. Chính Ngài sẽ cất tấm lòng đá cứng cỏi, ngỗ nghịch của loài người. Tự sức nỗ lực của loài người không thể làm được việc đó, cho dù khoa tâm lý hay nỗ lực giáo dục của xã hội loài người có giỏi mấy cũng không làm được.
3/ Vậy phải làm gì để được tái sinh?
Ông Naaman làm gì để được sạch bệnh cùi? Các người Do thái bị rắn lửa cắn làm gì để khỏi nọc độc của rắn? Anh chị em thử nói đi [... Xin dành vài phút cho anh chị em nói...]
Sau khi mọi người nói rồi, thì ai nói như sau là trúng: Ông Naaman lấy lòng tin mà đi tắm 7 lần ở sông Yorđan. Còn dân Do thái thì lấy lòng tin mà ngó lên rắn đồng. Còn nếu ai chỉ nói: ông Naaman đi tắm 7 lần ở sông Yorđan, dân Do thái nhìn lên con rắn đồng; thì kể là tạm đúng, song không đầy đủ, vì cái cần nhấn mạnh là lòng tin khi làm các việc ấy.
Áp dụng cho Ta: Ta cũng phải lấy lòng tin mà chịu Phép Rửa, song vì anh chị em đã chịu phép Rửa một lần rồi, không thể chịu lại lần nữa, thì ta chỉ còn có việc là làm sống lại phép rửa tội, hay chịu rửa tội lại cách thiêng liêng.
Thực tế là phải làm gì?
Ông Billy Gra-ham thuật chuyện rằng: ở những nơi ông giảng, người ta luôn hỏi: tôi phải làm gì? Một lần kia, có một ông Thống đốc một Tiểu Bang Hoa Kỳ đến xin gặp riêng ông Gra-ham. Hai người đi vào một phòng nhỏ, khoá cửa lại. ông kia có vẻ hết sức bối rối, băn khoăn, chứng tỏ ông đang phải kiềm chế xúc động, cuối cùng ông ấy thốt ra:
- Tôi kiệt quệ rồi. Tôi cần Thiên Chúa. ông có thể chỉ cho tôi làm sao tìm được Ngài?
Một lần khác, ông Gra-ham đến thăm các tù nhân bị án xử tử. Có một người trong bọn họ, nghe ông giảng cách chăm chú, rồi người ấy nói:
- Xin ông cắt nghĩa cho tôi biết một lần nữa, tôi phải làm sao để mọi tội lỗi tôi được tha? Tôi muốn chắc chắn được lên thiên đàng!
Quả thật, câu hỏi ấy cũng là câu hỏi của chúng ta hôm nay. Nó đã được đặt cho Đức Giêsu cách đây hai ngàn năm, sau đó, hỏi các Tông đồ. Sách Tin Mừng kể lại: Có một lần kia, một thanh niên giàu có đến sấp mình dưới chân Đức Giêsu và hỏi: “Lạy Thày nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” (Mc 10.17). Sách Công vụ thuật lại: sau khi Phêrô giảng vào dịp Chúa Thánh Thần hiện xuống, người ta cảm thấy đau đớn như đâm xé lòng và kêu lên: “Chúng tôi phải làm gì?”, thì Thánh Phêrô đáp lời họ: “Hãy hối cải và mỗi người hãy chịu thanh tẩy nhân danh Đức Kitô để được tha thứ tội lỗi, và các ngươi sẽ được lĩnh ơn Thiên Chúa, vì Thiên Chúa đã hứa ban Thánh Thần cho mọi người bất luận họ là ai, xa hay gần, Do thái hay dân ngoại” (Cv 2.37-39).
Có lần khác, câu trả lời còn vắn gọn hơn nữa. Như có lần kia, ông Phaolô và Sila bị người ghét đạo bắt giam trong ngục. Nửa đêm, thiên thần Chúa xuống trong ngục, đất rung chuyển, xiềng xích rơi xuống. Ông cai ngục tưởng mọi tù nhân đều xổng hết, ông ta lo sợ trách nhiệm, nên rút gươm tự sát. May thay, Phaolô trấn an ông ta: “Ông đừng sợ, chúng tôi còn đây cả mà!”. Thấy phép lạ vĩ đại, ông cai tù quì xuống trước Phaolô và xin: “Xin các ông bảo cho tôi biết phải làm gì để được cứu rỗi?”. Phaolô trả lời đơn giản: “Hãy tin vào Đức Giêsu và ông sẽ được cứu thoát” (Cv 16.30-31).
Thật là đơn giản. Chính vì đơn giản quá mà người ta ngờ vực. Người ta tưởng phải lặn núi trèo non, tìm thày học đạo, phải khổ công ăn chay nằm đất, tu thân luyện tánh... Chuyện duy nhất nhờ đó bạn sẽ được cứu thoát, đó là tin vào Đức Giêsu như là vị cứu Chúa độc nhất, là vị cứu độ của chính linh hồn riêng của bạn. Không cần đòi bạn phải bỏ công ăn việc làm đang có, không đòi bạn trước đó phải sắp xếp đời bạn lại cho ngay đường thẳng lối, không đòi bạn phải chỉnh đốn việc gia đình có lẽ đang lộn xộn. Ngay cả cũng chẳng bắt bạn phải bỏ những tập quán xấu đang làm bạn xa Chúa, hay làm mất lòng Chúa. Chẳng phải nhiều lần, bạn đã muốn sửa đổi, vì nghe gia đình, họ hàng phàn nàn kêu trách, nhưng bạn thấy không, bạn đâu có thành công? Nói tóm, bạn hãy đến với Chúa như bạn đang là bạn hiện thời. Trong Phúc Âm cũng vậy, bà Maria Mađalêna, người phung cùi, người mù, người bất toại, người đàn bà phạm tội ngoại tình..., họ cứ đến với Chúa Giêsu như thế đó. Cứ đến với Chúa như thế, hết lòng và tận đáy lòng tín nhiệm vào Đấng Cứu độ, chính Ngài sẽ làm bạn tái sinh và biết đổi sau. Chúng ta hãy nhớ: chính Ngài sẽ làm ta ăn năn trở lại.
Kỳ sau, sẽ vạch ra chi tiết phải tin thế nào, phải làm làm gì để đến với Chúa. Hiện giờ, chỉ cần nhớ rằng: Chúa yêu thương muốn làm cho đời ta hạnh phúc, hãy tin vào Chúa đì, như đứa con ngoan luôn tin tưởng rằng cha mẹ nó yêu thương nó và làm mọi sự để ích lợi cho nó, xây dựng một cuộc đời tốt đẹp và hạnh phúc cho nó. Chúa cũng bảo anh chị em ta tin vào lòng Chúa như vậy. Hãy bắt chước và trở nên như trẻ nhỏ!
Tích truyện
Người ta kể chuyện về một ông Bá tước, người nước Anh, ở thời Trung cổ. Ông ta sắp chết, nên gọi một người đầy tớ mà ông biết là một tín hữu sốt sắng và hỏi:
- Anh Đức ơi! Ta sắp chết, và ta nghĩ rằng ta không chắc lên thiên đàng, anh bảo ta phải làm gì?
Người nô bộc già và khôn ngoan biết ông chủ mình rất kiêu ngạo, bên nói:
- Thưa bá tước, nếu ngài muốn được cứu rỗi, ngài phải xuống chuồng heo, quì giữa phân nhơ và cầu xin rằng: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi”.
Ông chủ giận dữ nói:
- Không! Ta không thể nào làm thế! Bạn hữu và bầy tôi sẽ nghĩ thế nào về ta?
Một tuần lễ trôi qua? Thấy bệnh càng ngày càng trầm trọng, ông lại gọi người lão bộc hỏi:
- Này, hôm nọ ngươi nói ta phải làm gì để được rỗi linh hồn?
Lão bộc nhắc lại:
- Thưa ông chủ, ngài phải đi vào chuồng heo, quì xuống và xin Chúa thương xót.
Ông bá tước nói:
- Ta đã nghĩ kỹ về điều ngươi nói. Anh Đức ơi! Lần này ta sấn lòng đi Vậy ngươi hãy vực ta đi...
Ông bá tước nói đoạn, giơ tay phác cử chỉ bảo vực ông dậy để đi. Lão bộc lúc ấy nói:
- Thưa ông chủ, thôi khỏi cần! Quả thật, không còn cần ông phải đi xuống chuồng heo nữa, chỉ cần ông sẵn lòng muốn đi thì đã đủ. Chúa đã chấp nhận tấm lòng thật tình muốn của ông.
BÀI LỜI CHÚA 78
CHÚA LÀM CHỦ
Kỳ trước, ta đã xét mình thấy tuy ta có chịu nghi lễ Rửa tội, song rất nhiều người chưa được tái sinh, chưa sống đời sống mới, vẫn sống theo lối con người cũ đầy mọi thứ đam mê tội lỗi. Vậy ta phải ăn năn hối cải, kẻo không thì tình trạng tâm hồn ta sẽ giống như câu chuyện Chúa Giêsu kể hôm nay trong Tin Mừng.
Trích Tin Mừng Matthêô 12.29tt
Khi ấy Đức Giêsu nói:
- Các ngươi thử nghĩ xem: Khi một kẻ khoẻ mạnh và có vũ khí để giữ nhà, tài sản của y sẽ được an toàn. Nhưng xảy có người khác mạnh hơn đến đánh thắng y, người đó trói y lại, đoạt vũ khí và chiếm lấy nhà y và cả tài sản.
Đức Giêsu có ý nói: chính Ngài là người mạnh ấy, đã trừ được quỉ dữ, chiếm nhà của nó và đuổi nó đi. Nhưng sau đỏ, Ngài nói tiếp:
- Khi thần dữ xuất khỏi một người, thì nó đi lang thang những nơi khô cháy tìm chỗ nghỉ mà không tìm được. Bấy giờ, nó tự nhủ: Ta sẽ về lại nhà ta, nơi ta đã bỏ ra đi. Đến nơi, nó thấy nhà đó để trống và đã quét dọn sạch sẽ, trang trí hẳn hoi. Nó liền đi rủ 7 thần khác dữ dằn hơn nó, chúng vào chiếm cứ ở đó, và tình cảnh người ấy lại càng khốn nạn hơn trước.
Rồi Đức Giêsu kết luận:
- Ấy, số phận lớp người xấu xa này là số phận như vậy!
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Tâm hồn nhiều người tín hữu cũng giống như câu chuyện trên. Họ đã chịu Phép Rửa, tức là đã nhận Chúa là Người mạnh hơn, đến đánh đuổi ma quỉ đang chiếm căn nhà hồn họ. Nhưng ma quỉ chưa chịu bỏ cuộc, nó còn rảo quanh, và không tìm thấy chỗ nào tốt hơn căn nhà đó, nó quay trở lại. Khi thấy căn nhà ấy vẫn để trống không có chủ, nghĩa là linh hồn ấy sau khi rửa tội, đã không nhận Chúa làm chủ đời mình, mà lại sống cách buông tuồng, thờ ơ, giữ đạo lơ mơ. Chúa không ngự trị và làm chủ, điều khiển đời sống, nên họ sống theo ý riêng, để các nết xấu, đam mê lại xâm chiếm tâm hồn, cũng như quỉ dữ vào chiếm lại, đặc biệt lần này quỉ rủ thêm 7 quỉ dữ hơn vào và làm chủ căn nhà linh hồn ấy. Lần này, tình trạng linh hồn ấy khốn nạn hơn trước.
+ Vậy tái sinh tức thì phải nhận Chúa làm chủ đời mình, chứ đừng để trống vô chủ. Chúa làm chủ đời mình nghĩa là thế nào? Nghĩa là Chúa sẽ chi phối mọi hành vi, tư tưởng, lời nói, việc làm của ta, như một ông chủ dạy ta phải làm gì, nói gì, nghĩ gì... Ví dụ: gặp lúc bị sỉ nhục, tự nhiên, bản năng ta là muốn báo thù, rửa nhục; lúc ấy Chúa dạy: Không! Con hãy nghe Thày, hãy tha thứ và cầu nguyện cho kẻ thù. Ví dụ khác: gặp cơn cám dỗ, nó hấp dẫn ta, ta thèm lắm, nào là sắc đẹp quyến rũ, nào món tiền béo bở nhử mồi ta, nào và cuộc nhậu nhẹt say sưa thú vị, canh bạc đỏ đen hấp dẫn...; tự nhiên, ta muốn buông theo, vì nó khoái trá lắm. Nhưng nếu ta nhận Chúa làm chủ linh hồn, thì Chúa sẽ dạy: Không! Con hãy nghe lời Thày: các cám dỗ thú vui ấy rất độc, làm chết linh hồn con, con hãy từ bỏ, đừng làm... Nếu nghe theo, thì ta sống còn, nếu không nghe tiếng Chúa là chủ, thì ta sẽ chết, vì ta để quỉ dữ và 7 quỉ khác chiếm và làm chủ lại hồn ta, và tình trạng hồn ta sẽ khốn nạn hơn trước. Trong linh hồn ta, hãy làm một chiếc ngai và xin Chúa ngự trị ở đó cai quản mọi sự trong đời sống ta. (Nhớ hình vẽ cái ngai).
+ Nhưng có người sẽ vấn nạn:
Chúa làm chủ, được rồi, song cái gì Chúa cũng bắt từ bỏ, hi sinh, thì đời sống còn gì vui thú nữa? Đáp: Ta đừng lẫn lộn: Chúa không bảo ta bỏ mọi sự, Chúa chỉ bảo ta bỏ những gì tội lỗi, vì nó độc hại. Lấy các ví dụ nêu trên mà nói: chẳng hạn ta bị quyến rũ về sắc đẹp. Chúa đâu có cấm ta yêu và lấy chồng lấy vợ. Chúa chỉ bảo: hãy yêu trong sự trong sạch, lấy vợ ấy chồng đàng hoàng, rỗi cứ việc yêu nhau và vui thú với nhau. Cái Chúa bảo ta bỏ là: đã có vợ rồi, đừng tham thêm vợ khác nữa. - Ví dụ về nhậu nhẹt: Chúa có bắt ta đừng ăn uống: đừng ăn ngon đâu! Chúa chỉ dạy ta đừng lạm dụng ăn uống đến say sưa. Khi say thì mất trí khôn, ta trở thành con thú, chứ không còn là con người. Là hình ảnh Thiên Chúa, khi say sưa, ta bôi nhọ hình ảnh ấy, như thể ta muốn nói: Chúa dựng tôi giống hình ảnh Chúa ư? Không, tôi thích làm con vật hơn. Nhớ tích ông Nôê, uống rượu say (vì vô tình không biết) để đến nỗi cởi truồng, con cái cười chê! - Về các điều khác, cứ theo như thế mà xét...
Đã nói thì nói cho hết: nếu ta muốn vui thú ư? Chúa sẽ dạy ta làm ơn làm ích, đi rao báo lời Chúa, loan Tin Mừng cứu rỗi, giúp linh hồn người ta, làm việc bác ái từ thiện giúp phần xác người nghèo, người bệnh, cô nhi, quả phụ, lao tù... Nhưng việc đó đem lại cho tâm hồn những vui thú khôn tả. Hãy làm đi rồi bạn sẽ hưởng niềm vui thú ấy, vượt trên mọi vui thú xác thịt thấp hèn. Cứ so sánh sẽ rõ: ví dụ sau cơn say, bạn sẽ thấy nhức đầu, khi bạn tỉnh lại, bạn sẽ xấu hổ vì bao lời nói, cử chỉ bậy bạ, tục tĩu mà bạn say nên đâu có biết... Thành thử, các thú vui tội lỗi, chỉ là mau qua, nhưng lại luôn kéo theo hậu quả độc hại, xấu xa, tủi nhục, cắn rứt lương tâm. Quả đúng như lời Kinh Thánh dạy: “Ai làm việc lành thì tìm được vinh quang, danh dự và sự bất tử; còn ai chiều theo đường tội lỗi thì chuốc lấy gian truân, quẫn bách và lôi đình thịnh nộ của Thiên Chúa” (Rm 2.7-10). Ở một chỗ khác, Kinh Thánh dạy: Khi anh em hiến thân mình anh em làm nô lệ cho ô uế và ác quái, cho tội lỗi, thì anh em đã hái gặt được kết quả nào? Đó là những điều mà bây giờ nói ra anh em sẽ thẹn đỏ cả mặt, và kết quả là chết mất linh hồn. Nhưng ngược lại, anh em nghe Chúa mà thoát làm nô lệ sự tội, làm tôi Thiên Chúa, thì kết quả nào anh em gặt hái được? Thưa đó là hoa quả sự công chính, tốt lành, bình an, và rốt cuộc là sự sống đời đời (Rm 7.20-22); nói cách khác, ta được trở thành thần linh.
+ Vậy ta hãy ăn năn hối cải, quyết từ bỏ lối sống tội lỗi cũ, đuổi ma quỉ ra khỏi đời ta và quì xuống, xin nhận Chúa làm chủ đời sống ta. Hãy nói với Chúa: “Lạy Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu Chuộc con, Chúa đã dùng máu Chúa xoá tội con bằng phép Rửa tội, đã cho con tái sinh làm con cái Thiên Chúa. Nhưng con đã để ma quỉ cùng các tính mê nết xấu và bao tội lỗi làm chủ trong căn nhà linh hồn con lại, đưa con đến tình trạng nguy khốn ngày nay. Vậy, con xin Chúa thương đến đánh đuổi chúng ra, và từ nay, con xin Đầu Phục Chúa, nhận Chúa làm chủ đời sống con, làm Chúa Cứu độ duy nhất của con. Con xin cố gắng nghe theo mọi mệnh lệnh Chúa truyền, như một tôi trung vâng lời chủ mình. Từ nay con thề quyết không để ma quỉ và tội lỗi làm chủ đời con, khiến con đi vào vực thẳm sự chết. Xin thương xót con, xin ra tay cứu giúp con những lúc yếu đuối và những lúc bị cám dỗ; xin ban Thánh Thần là mãnh lực vô địch của Chúa mà nâng đỡ con. Amen!”
Tích truyện
Người ta kể chuyện một cậu bé đến hỏi ba rằng:
- Ba ơi! Làm sao con tin được có Chúa Thánh Thần, vì con không thấy Ngài bao giờ?
- Ba sẽ cho con thấy!
Vì ông là kỹ sư điện lực, nên ông dẫn cậu vào nhà máy điện, trỏ cho cậu máy phát điện mà nói:
- Con thấy đó, từ nó phát ra điện khí làm sáng bóng đèn nhà chúng ta, đẩy mô tơ chạy, quạt chạy, bàn ủi để làm phẳng quần áo... Chúng ta không thể nhìn thấy cái năng lực ấy, nhưng nó có thật trong máy đó và trong các dây điện.
Cậu bé nói:
- Bây giờ con tin có điện.
Cha cậu đáp:
- Đúng thế! Con tin không phải vì con thấy điện khí, nhưng vì con thấy cái mà điện khí ấy có thể làm, như ba đã tả trên kia. Cũng vậy, con tin Chúa Thánh Thần, không phải vì con nhìn thấy Ngài, song vì con nhận thấy những điều Ngài làm trong cuộc đời những kẻ nào Đầu Phục Chúa Kitô làm chủ đời mình. Những kẻ ấy có sức mạnh của Thánh Thần trong họ, thúc đẩy họ làm được những điều mà tự nhiên tính yếu đuối của con người không làm được.
Hôm nay, thay vì kinh Đền tạ, xin mọi người quì xuống, thành khẩn đọc lại lời nguyện viết ở trên.
|