BÀI LỜI CHÚA 51
BIẾT CHO ĐI...
Lần trước, Lời Chúa cho ta nghe tích một ông giàu có là Za-kêu, được ơn Chúa, mở rộng lòng bố thí nửa gia tài cho người nghèo. Lần này, là chuyện một bà goá nghèo cùng kiệt, song cũng chia sẻ cho người khác chút ít của còn lại của mình.
Trích sách 1 Vua, ch.17.7tt
Thời ấy, vào khoảng thế kỷ thứ 9, trước Chúa Giáng sinh, so với lịch Tàu là vào cuối đời Nhà Chu, bên nước Israen có vua A-kháp đã làm nhiều sự dữ nghịch mắt Yavê, nên Chúa phạt nạn hạn hán rất cay cực. Chính người của Chúa là tiên tri Ê-ly-a cũng bị đói khát. Thương người bầy tôi, Chúa truyền:
- Hãy chỗi dậy đi Sa-rép-ta, ở đó, ta sẽ cho một quả phụ nuôi dưỡng ngươi!
Ê-ly-a vâng lời, đi đến thành Sa-rép-ta, thì thấy một bà goá đang mót củi ngoài cứa thành.
Ông kêu bà ấy:
- Xin bà đem cho tôi chút nước trong bình để tôi uống!
Khi bà đi lấy, thì ông kêu bà mà nói:
- Xin bà đem cho tôi một mẩu bánh kèm tay!
Bà nói:
- Có Yavê hằng sống chứng giám: thú thật tôi chẳng còn rẻo bánh nào nữa, bất quá chỉ còn nắm bột trong vò và ít dầu trong chai. Đây tôi mót vài que củi, đoạn về dọn cho tôi và con tôi ăn rồi chết.
Êlya mới nói:
- Đừng sợ, cứ đi và làm như bà vừa nói. Song hãy làm cho tôi một cái bánh trước đã, đem đến cho tôi, bà sẽ làm cho bà và con bà sau. Vì Yavê Thiên Chúa phán thế này: “Vò bột không vơi, choé dầu không vợi! Cho đến ngày Yavê ban mưa xuống trên mặt đất”.
Nghe và tin vào Lời Chúa, bà đã đi làm theo lời Ê-ly-a bảo. Và từ đó, bà đã có đủ ăn cho bà, cho con bà và cho ông Ê-ly-a suốt năm: vì quả thật, vò bột đã không vơi, choé dầu đã không vợi trong nhà bà như lời Yavê phán qua miệng Ê-ly-a.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Đứng vào hoàn cảnh bà goá ấy, ta có đủ can đảm tin vào lời tiên tri của Chúa mà chia sẻ cho ông chút bánh cuối cùng ấy không? Bài kỳ trước, ta khen ông Za-kêu đại độ, dám chia nửa gia tài cho người nghèo, bài kỳ này, ta ca ngợi lòng hi sinh của bà goá. Nhưng khen và ca ngợi những việc ta cho là xuất chúng, phi thường, làm ta quên mất rằng: đối với tín hữu Chúa, những việc chia sẻ và bố thí lại chỉ là một bổn phận phải làm. Sách giáo lý bên Đức viết rằng: “Người Kitô hữu đừng nên coi như là bố thí, một việc chỉ là một đòi hỏi của công bình xã hội” (Catéchisme biblique, Tom III, tr.189).
Câu ấy làm ta ngạc nhiên ư? Ta hãy tìm hiểu:
1/ Điều trước hết, ta hãy nhớ lại các kỳ trước đã nói: Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự cho tất cả mọi người hưởng. như của chung ai cũng có phần, để không ai phải thiếu của cần thiết mà chết đói. Vậy Ê-ly-a đang đói khát, bà goá kia phải chia sẻ: đó là bổn phận, huống chi lại có Lời Chúa hứa cho bà không bị vơi bột, cạn dầu. Hãy nghe Thánh Kinh dạy: yêu mến Chúa và yêu thương người ta như mình là điều răn trọng nhất, và chỉ ai yêu thương mới là chu toàn lề luật (Rôma 13.9-10). Và Hội Thánh dạy: “Thiên Chúa lấy tình Cha săn sóc mọi người, và Ngài muốn rằng tất cả mọi người phải làm thành một gia đình và đối xử với nhau bằng tình huynh đệ” (Hiến chế: Vui mừng và hi vọng, số 24). Chúng ta quen coi người khác, không phải trong vòng gia đình ruột thịt, đều là người xa lạ. Còn Thiên Chúa lại muốn ta coi mọi người là anh em, chị em trong cùng một đại gia đình. Ta phải sống và cảm nghĩ như Chúa, thì mới gọi là con Chúa được. Con phải giống cha, phải cùng một tinh thần như cha. Vậy hễ coi mọi người là anh em, thì phải thương họ.
2/ Sở dĩ ta sống ích kỷ là vì từ xưa, ta chỉ được đay một thứ đạo cá nhân, bo bo lo cho mình được mọi ơn phần hồn, phần xác. Hội Thánh từ nay dạy rằng: “Hoàn cảnh biến đổi sâu rộng và cấp bách, đừng ai chủ trương một thứ luân lý duy cá nhân mà không lưu tâm hoặc không màng chi tới diễn tiến thời cuộc. Bổn phận công bình và bác ái được chu toàn mỗi ngày một hơn là do mỗi người biết tuỳ theo khả năng của mình và nhu cầu của kẻ khác mà mưu ích chung, bằng cách cổ võ và trợ giúp những tổ chức công hay tư, nhằm cải thiện những điều kiện sống của anh em mình. Lại có nhưng người, ngoài miệng thì bô bô nói phải rộng rãi và đại lượng, mà thực tế, họ luôn luôn sống chẳng quan tâm gì đến nhu cầu của người khác trong xã hội quanh mình...” (Hiến chế nói trên, số 30).
Và Hội Thánh kết luận: “Vậy mỗi người đều phải coi người đồng loại, không trừ ai, như “cái tôi thứ hai”; cho nên, trước hết phải quan tâm đến sự sống của họ, và quan tâm đến những phương tiện cần thiết giúp họ sống một đời sống xứng đáng, chứ đừng bắt chước người giàu có kia, thuật trong Phúc Âm, ăn uống no đủ mà không săn sóc gì tới người nghèo La-da-rô” (Hiến chế nói trên, số 27). Nhưng trái lại: “Kẻ có hai áo, hãy chia cho người không có, và kẻ có của ăn cũng hãy làm như thế” (Lc 3.11).
3/ Trong anh chị em có mặt đầy, có ai mắc nợ tiền nong, của cải gì người khác không? Không à? Cho đi không có ai mắc nợ, thì Thánh Phaolô cũng nói rằng: bất cứ ai trong chúng ta cũng đều mắc nợ. Anh chị em đoán thử coi mắc nợ ai? mắc nợ điều gì? Chắc có người nói: Mắc nợ Chúa! Đúng! Vì thế, trong kinh Lạy Cha, ta xin: Xin Cha tha nợ cho chúng con... Tội lỗi ta là những món nợ Thiên Chúa, ta không đền trả nổi. Ngay các ơn phúc vô vàn, vô số phần hồn cũng như phần xác Chúa ban cho ta, đó cũng là những món nợ ân tình ta đền đáp sao cho xứng! Nhưng ta còn mắc nợ ai nữa không? Thánh Phaolô dạy: “Anh em có mắc nợ... đó là món nợ tình thương nhau” (Roma 13.8). Yêu nhau là món nợ ta phải trả cho đồng loại. Không yêu thương, ta sẽ mắc nợ, và ngày phán xét, Chúa sẽ buộc tội. Còn trái lại ai yêu nhau, đó là đã trả xong món nợ, và ngày phán xét, Chúa sẽ xử khoan dung, thương xót: “Phúc cho kẻ biết xót thương, vì họ sẽ được thương xót”. Ngày đó, Chúa còn nói: bao nhiêu lần các ngươi làm những việc đó (việc thương giúp) cho một trong những người hèn mọn là anh em Ta đây, tức là các ngươi làm cho Ta vậy” (Mt 25.40).
4/ Nhưng thôi, ta tạm gác việc nói đến mắc nợ, nghe buồn và nặng nề. Ta hãy nói đến cái vui của người biết cho đi. Đây chính Chúa phán: “Ai cho thì có nhiều phúc hơn là lãnh” (Cv 20.35). Hãy xem Thiên Chúa: Ngài luôn luôn cho đi, luôn ban ơn, thí phúc. Cả cuộc sống đời đời của Ngài là để ban ơn, giáng phúc cho tạo vật, nhất là cho loài người: phúc đời này, phúc đời sau... Cho nên, Thánh Phaolô viết cho bổn đạo Côrintô: “Anh em biết lòng quảng đại bao la của Chúa chúng ta rồi đó: làm sao giàu có như Ngài, mà vì anh em, Ngài đã nên nghèo khó (nghĩa là Ngài bỏ toà cao sang, vinh hiển, xuống làm người nghèo khó, sinh trong máng cỏ, chết trần trụi trên thập giá). Để làm gì? Để làm cho anh em nên giàu có nhờ sự hạ mình xuống nghèo khó của Ngài!” (2Cr 8.9). Đó, Chúa cho ta như thế đó! Vậy, chúng ta hãy để lòng ta cảm động, trước tình thương rộng rãi vô bến bờ của Chúa Giêsu đối với ta, mà ra sức đáp ân. Đáp ân cách nào? Bằng cách thương yêu và cho đi rộng rãi với anh em mình, nhất là những người nghèo khổ, vì Chúa phán: Làm cho họ, là đền đáp chính mình Chúa!
Biết cho đi là cả một nghệ thuật biết ơn!
Biết cho đi là cả một nghệ thuật tạo hạnh phúc mình!
Biết cho đi còn là một sự khôn ngoan!
bởi vì Chúa phán: “Bố thí, giúp đỡ người nghèo là tậu được một kho tàng trên trời” (Mt 19.21). Đó là biết gửi tiền vào ngân hàng trên trời, không sợ trộm cắp, không mối mọt đục khoét, không sợ mất giá, và tỉ lệ lãi suất cao nữa! “Vì ai gieo sẻn thì gặt sẻn, gieo hậu thì gặt hậu” (2Cr 9.6). Đừng sợ giúp người khác mình sẽ thiếu thốn! Đây Lời Chúa dạy: “Thiên Chúa có quyền đổ tràn ơn lộc mọi thứ xuống cho anh em, để anh em vừa được luôn luôn sung túc mọi bề, vừa còn dư giả mà làm mọi việc phúc đức, như lời Kinh Thánh đã chép: “...Đấng đã cung cấp giống cho kẻ gieo và bánh nuôi mình cho họ”, tất sẽ cung cấp và làm dư dật giống cho anh em gieo làm phúc, và sẽ cho sinh sôi nảy nở hoa quả công đức cho anh em... Anh em sẽ được nên phú túc mọi bề, để thi hành mọi việc bác ái” (2Cr 9.8-11).
Quả thật, ta chưa thấy ai bác ái, rộng tay làm phúc và bố thí, mà phải đói bao giờ.
5/ Cuối cùng, ta hãy xem gương bổn đạo tiên khởi: họ được tràn đầy Chúa Thánh Thần, cho nên, dù họ chỉ là bổn đạo mới, mới rửa tội ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, mà họ thương yêu nhau, đùm bọc nhau, đến nỗi người lương dân phải khen: “Kìa! Xem người có đạo họ thương yêu nhau dường nào!”. Khen rồi, họ ùn ùn kéo nhau vào đạo. Còn sách Thánh Kinh thì khen họ rằng: “Cộng đoàn những kẻ tin hết thảy đều coi mọi sự như của chung: đất đai, của cải, thì họ bán đi mà phân phát cho mọi người, ai nấy tuỳ theo nhu cầu của mình... Cho nên, giữa họ không có ai phải túng thiếu... Họ cùng nhau chia sẻ của nuôi thân... Tất cả những sự ấy, họ làm với một lông hân hoan và dạ đơn thành, trong lời ngợi khen Thiên Chúa và trong sự mến phục của toàn dân” (Cv 2.42; 4.32,34).
Tích truyện
Đây là câu chuyện có thật 100%. Tháng l năm nay (1988), có một cố nhân viên Hợp Tác Xã kia, lên Đền Đức Mẹ Hằng Cứu giúp dự lễ, thì thấy kêu gọi giúp trại phung Qui Hoà. Được học Lời Chúa, biết đem thương yêu đến với mọi người. cô đã về gom góp tiền bạc lên dâng 100.000 đồng. Cô không phải là người giầu có như Zakêu, chia nửa gia tài cho kẻ khó, nhưng xét lòng đại độ và thương người nghèo khổ, thì hai bên giống nhau. Hỏi cô rằng:
- Có tiếc của không?
Cô đáp:
- Có chứ! Vì con có chút của ấy dành dụm, nên cũng tiếc lắm! Nhưng khi nghĩ đến những anh em đã bị bệnh phung cùi rúc rỉa, nhức nhối ngày đêm, mà nay còn bị thiếu thuốc men, và đói ăn thì thấy tội nghiệp quá! Phần con vẫn được Chúa cho đủ ăn, đủ mặc, thì phải biết thương đến những anh em xấu số đó chứ!
BÀI LỜI CHÚA 52
TRỌNG CỦA NGƯỜI NHƯ TRỌNG CỦA MÌNH
Chúng ta đều biết chuyện ông Tô-by-a. Ông cùng với đồng bào bị đi lưu đầy sang Ni-ni-vê. Là người giàu có, ông giúp đồng bào khốn khổ, nhất là chôn cất đồng bào bị giết và bị vất xác sau tường luỹ. Nhưng thử thách đã đến, ông bị mù cả hai mắt; do đó, của cải càng ngày càng tiêu hao hết sạch. Đây là đoạn truyện tiếp theo do ông kể lại quãng đời nghèo khổ ấy:
Trích sách Tô-by-a, ch.2. -3.
Thời ấy, An-na, vợ tôi, phải canh cửi việc vàn phận gái. Nhà tôi giao hàng cho chủ mướn và họ trả công cho nàng. Số là mồng bảy tháng ba, nàng xén tấm vải và đem giao cho chủ thuê. Họ đã trả trọn công cho nàng, lại còn làm quà cho nàng một con dê con để khao một bữa. Khi nàng về nhà và đi qua bên cạnh tôi, con dê cất tiếng kêu be be.
Tôi mới gọi nàng lại mà bảo:
- Con dê ấy ở đâu đến? Hoạ chăng là của trộm cắp? Hãy đem trả cho chủ nó. Vì ta không được phép ăn của gì trộm cắp!
Nàng đáp:
- Quà người ta tặng tôi thêm vào tiền công đó mà!
Tôi không tin và cứ bảo phải trả lại cho chủ. Tôi lấy làm xấu hổ thay cho nàng vì điều đó.
Bực mình, nàng gắt với tôi:
- Thế các việc bố thí, làm phúc của ông đã đem lại gì cho gia đình ta nào? Đó, đem mù loà, đem nghèo túng, chứ có gì nữa đâu?
Rất đỗi buồn phiền, tủi nhục, tôi đã rên lên và khóc... Tôi cất tiếng cầu xin Chúa cất tôi về nơi vĩnh cửu, để khỏi nghe những lời nhục mạ.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Tại sao ông Tô-by-a cầu xin Chúa cho ông chết? Vì cảm thấy nhục nhã! Đây nhé: Xưa giàu có, làm phúc bố thí, chôn cất kể chết, nay bị mù loà, tàn tật, nghèo túng, phải sống nhờ tiền lao động của vợ nuôi. Đó là một cái nhục, người vợ không có lòng nhân đức ấy còn nhiếc móc ông như ta vừa nghe. Bà nói: ông làm bao việc phúc đức kia, nào chúng đem lại gì cho ông? Chúa có trả công cho ông bằng tiền của không? Hay trái lại, ông bị chuốc lấy mù loà và nghèo đói. Đó là cái nhục thứ hai. Bà còn làm nhục thêm nữa cho ông là đã như thế, ông còn cứ khăng khăng trong sạch, cứ làm ra vẻ thà đói còn hơn ăn của trộm cắp. Kể ra, chúng ta cũng thấy bà vợ có lý phần nào: giá ông chịu khó kiên nhẫn hỏi vợ cho rõ ràng xem con dê ấy ở đâu, và khi vợ nói là quà biếu thì tin vợ đi. ông quá thẳng thắn và cố quyết, nên làm vợ bực tức. Nhưng dầu sao, ở đây, chúng ta phải ghi nhận điều Chúa muốn dạy ta qua thái độ ông Tô-by-a, là thà đói, chứ không thà ăn của trộm cắp.
Đó là vì:
1/ Chúa muốn ta tôn trọng của cải tha nhân:
Ông Tô-by-a đã nghĩ đúng: của ai người nấy là chủ, và quyền sở hữu ấy, ai khác đều phải tôn trọng. Thiên Chúa đã ghi luật ấy trong lương tâm, nên tự nhiên, ai ai đều biết phải trọng của người khác, không được lấy, không được xâm phạm. Hơn nữa, Chúa còn long trọng xác nhận quyền sở hữu bằng hai giới răn 7 và 10: chớ lấy của người và chớ tham muốn của người.
Nhưng tại sao phải tôn trọng của đồng loại? Xin thưa: lý do không phải vì của cải ấy thánh thiêng; hay vì nó giá trị, đắt tiền quí báu, cho bằng là vì chính người đồng loại; tức là: vì không được để cho người đồng loại phải buồn khổ, phải thiệt hại. Cái nhắm đến ở đây, trước tiên là nhắm đến con người. Và vì thương yêu họ, ta không lấy không làm thiệt hại vật gì thuộc về họ, để họ phải buồn khổ. Các đồ vật ấy như nhà cửa, dụng cụ, quần áo, tiền nong..., đã trở nên thành phần của con người họ, nên tay chân họ, đời sống họ. Chạm tới chúng là như chạm tới con người họ. Nếu Chúa dạy ta yêu thương và tôn trọng họ, thì Chúa cũng dạy ta phải tôn trọng luôn cả những thành phần ấy của con người họ nữa. Do đó, ta thấy giới răn 7 và 10 liên hệ mật thiết với đức yêu người và được nâng đỡ bởi đức yêu người. Tóm lại, yêu người thì ta không lấy của họ; xâm phạm của cải của người, đó là ta không yêu thương họ.
Chính Kinh Thánh dạy rõ ràng ở Thánh Thư Rôma 13.9: “Các điều... chớ trộm cắp, chớ tham muốn..., tất cả đều tóm lại nơi một lời này: Ngươi hãy yêu mến đồng loại như chính mình. Mà yêu mến hẳn không làm hại người đồng loại...”
Bây giờ, ta phân tách cụ thể xem tôn trọng của cải đồng loại gồm có những việc gì?
a/ Trước tiên, của ai ta không được lấy khi chưa có phép họ, tức là ta không chỉ đừng trộm cắp, cướp giật...; điều này quấy rõ, khỏi cần nói dài, mà còn giữ gìn, bảo vệ của cải họ cho đừng bị hư hỏng. Chẳng hạn, người ta phơi đậu ngoài trời, mưa bắt đầu đổ hột, ta hãy giúp đem vào nhà; thấy chiếc xe đạp ai đổ giữa đường, ta nâng nó dậy, thấy áo ai phơi sắp rơi xuống sình lấy, ta nhặt, mắc vào dây tử tế...
Cách riêng, trong những trường hợp quan trọng hoặc nguy kịch, ta càng có trách nhiệm tích cực hơn, cho dù không ai trao phó cho ta: như khi thấy lửa bắt cháy nhà hàng xóm, phải tuỳ sức đến ngay bảo vệ của cải và trợ giúp chữa lửa. Không ai nói yêu thương đồng loại mà lại dửng dưng: cháy nhà hàng xóm, bình chân như vại. Thế là không yêu thương! Bảo vệ của cải, nhà cửa họ, chính là yêu thương họ. Hoặc đang đi xe qua đường, thấy trẻ con chơi lửa gần bồn xăng gần nhà tranh dễ cháy, đừng có thái độ mà ngày nay người ta gọi là “mackeno”, tức là mặc kệ nó, sống chết mặc bay..., đường ta cứ đi, không dừng lại răn bảo, lấy cớ vội việc hay sợ bùn dây bẩn quần áo...
b/ Thứ đến, ta phải có trách nhiệm đặc biệt hơn khi của cải ấy lại được ký thác cho ta coi sóc hay sử dụng.
Khi sử dụng: phải cẩn thận và giữ gìn nó. Thường ta có tật xấu là của mình thì quí, của người lơ là. Mượn ai cuốn sách, hãy bọc bìa lại, đừng cầm đọc khi tay dính đất, nhọ nồi hay dầu nhớt, đừng quăng bừa bãi trên đất, chỗ dơ, dễ cháy, chỗ trẻ em có thể lấy chơi hay xé rách...; cũng đừng chuyền tay cho mượn khi chưa có phép của chủ nó... Về các vật khác cũng vậy...
Đôi trường hợp, các vật để ta sử dụng không có người rõ ràng đứng ra cho mượn, tỉ dụ những bàn ghế trong hội trường, rạp ciné, tiệm giải khát, ghế băng đá ngoài công viên, các đó dùng trong lớp học, sách hát trong nhà thờ, sách Kinh Thánh trong các lớp dạy Kinh Thánh hoặc nhóm chia sẻ Lời Chúa, các vật ấy có chủ, có khi chủ là một tập thể: Nhà nước, cộng đoàn, nhà thờ, nhóm Cầu nguyện..., ta cũng phải cẩn thận và gìn giữ như thể của mình.
Càng phải cẩn thận hơn nữa, khi ta là người được uỷ thác như bảo vệ, gác dan, quản lý, thủ quĩ... Kinh Thánh dạy: “Nơi người quản lý, người ta đòi phải có sự trung tín” (2Cr 4.2).
Một người bảo vệ, một nhân viên an ninh, trong vài trường hợp đặc biệt, có khi phải liều hi sinh sức khoẻ hay thí mạng để bảo vệ của cải, tài sản người ta ký thác cho mình coi sóc, cai quản...
Kỳ này thế đã đủ. Kỳ sau, ta sẽ nói đến làm thiệt hại và sự đền bù.
Trước khi chấm dứt, gia đình ta hãy ghi nhớ mấy câu cần thiết trên kia, tức là: Tôn trọng của cải tha nhân, trước tiên là vì ta yêu họ. Yêu thương thì không làm thiệt hại ai; làm buồn khổ cho ai cả! Ta hãy xét mình xem, ta đã sống như thế chưa? Cứ thử tưởng tượng ta đứng vào địa vị một người đau đớn, mất một chiếc xe đạp mà họ đã phải dành dụm cả năm trời. Đau xót biết bao! Tội nghiệp họ! Nếu ta thương người, đâu có nỡ làm họ đau đớn như thế! Chuyện đánh bạc cũng là một thứ trộm cắp. Cứ thử nghĩ xem: kẻ được bài bạc, hả hê sung sướng ăn chơi.., đang khi đó người thua bạc, đau đớn, xót xa, về nhà đánh đập vợ con, tra khảo lấy tiền chơi tiếp, rời thua nữa: cả một gia đình đói khổ, đau thương. Ta cứ ở hoàn cảnh họ xem ta khổ sở chừng nào. Vậy yêu thương người, không được làm người buồn khổ, thiệt hại. Ôi đức yêu thương của đạo Chúa dạy ta thật cao cả! Nó giúp cho con người sống hoà thuận, bình an và hạnh phúc biết bao!
Vậy nếu thế gian chạy theo ma quỉ để làm khổ người ta, thì ít ra, phần chúng ta, con cái Chúa là Cha đầy yêu thương, hãy yêu thương và tôn trọng cả người lẫn của đồng loại.
Tích truyện
Ông Vua Nhật cớ 100 bình quí, một hôm, một quần thần sơ ỷ làm vỡ một chiếc. Vua sai quân chém đầu. Một đại thần khác thấy vậy đến bên tủ chứa các bình ấy, lấy vai đẩy chiếc tủ, cả 99 chiếc đều rơi vỡ tan tành. Vua giận như điên.
Song trước khi trị tội, vua hỏi:
- Tại sao khanh cả gan làm việc điên rồ ấy?
Vị đại thần đáp:
- Hạ thần thấy vì làm vỡ một chiếc bình, mà Bệ hạ sai giết một tôi trung, thế thì 99 chiếc còn lại sẽ làm chết 99 nhân mạng nữa. Nên thần xô cho vỡ để một mình thần chết thôi.
Vua nghe lời nói, tỉnh ngộ và tha cho cả hai người.
BÀI LỜI CHÚA 53
PHẢI ĐỀN TRẢ
Ông Nê-hê-mi có phận sự giúp dân Israen từ đất lưu đầy trở về quê hương và tổ chức lại xã hội, cùng một lúc xây lại Đền Thờ Yêrusalem và thành luỹ. Ông gặp rất nhiều khó khăn. Sau đây là một trong những khó khăn ấy. Ông đã giải quyết thế nào? Ta hãy đọc Lời Chúa sau đây:
Trích sách Nêhêmi, ch.5
Trong khi xây dựng lại thành luỹ Yêrusalem. dân Israen phải tự tìm kế sinh sống rất chật vật. Nhiều người phải đi vay nợ nơi các kẻ cho vay nặng lãi vô nhân đạo, chỉ rình những lúc túng quẫn để làm giàu trên xương máu đồng bào. Tiếng kêu than đã vang đến tai Nê-hê-mi.
Người thì than:
- Con trai, con gái chúng tôi, chúng tôi phải bán đợ để có lúa ăn mà sống.
Lại cỏ kẻ khác kêu:
- Chúng tôi phải cầm cố ruộng đất hương hoả, nhà cửa tổ tiên để có của ăn trong thời đói kém.
Kẻ khác nói:
- Chúng tôi phải cầm thế vườn nho, ruộng dâu để vay bạc nộp thuế..., phải bắt con trai, con gái chúng tôi làm nô lệ, con gái chúng tôi có đứa bị hiếp đáp mà chúng tôi đành chịu bó tay; đang khi đó, nhà cửa chúng tôi bây giờ thuộc về người khác...
Khi nghe các lời oán than ấy, ông Nê-hê-mi rất phẫn uất, và ông đã triệu tập đại hội quần chúng. Ông đứng lên nói mạnh mẽ:
- Phải chăng các ông đây có những người đã không đi trong sự kính sợ Thiên Chúa, làm cho dân ngoại có cớ sỉ mạ Người? Phải chăng các ông đã muốn nghiền nát anh em mình dưới ách nặng của các ông?
Cử toạ làm thinh, không nói được lời nào. Ông nói tiếp:
- Cả tôi và anh em tôi cũng đã cho dân chúng vay bạc và lúa, chúng tôi sẵn sàng xoá món nợ đó. Vậy, phần các ông, ngay hôm nay, hãy hoàn lại cho dân nghèo ruộng đất, vườn nho, vườn dâu và nhà cửa của họ, và nếu họ đã vay lúa, dầu hay tiền bạc, các ông cũng hãy tha món nợ ấy cho họ.
Nghe lời ông, họ đã đồng thanh nói:
- Chúng tôi xin hoàn trả mọi sự, mọi vật và không đòi gì cả. Chúng tôi sẽ làm theo lời ông vừa nói.
Ông Nê-hê-mi liền cho gọi các tư tế đến và bắt họ thề phải làm như lời hứa. Đoạn ông rũ vạt áo mà nói:
- Thiên Chúa sẽ rũ như thế này khỏi nhà của Ngài và các phúc lành của Ngài những kẻ nào không giữ lời thề! Và như thế, nó sẽ bị rũ sạch và nên trống không!
Và toàn thể đại hội thưa:
- Amen! Đồng ý như vậy!
Rồi người ta ngợi khen Thiên Chúa! Quả thật, những kẻ chủ nợ đã làm theo lời hứa, và bình an đã ngự trị trong toàn dân từ đó.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Nghe tích truyện Kinh Thánh hôm nay, các anh chị em có đồng ý thấy vừa tức giận, vừa khâm phục không? Tức giận vì những người dân thánh của Chúa mà vì ham tiền của, nỡ cho vay nặng lãi anh em mình, lợi dụng lúc họ túng quẫn mà cầm cố nhà cửa, ruộng đất của họ. Nhưng cũng phải khâm phục là họ đã nghe lời răn đe của Nê-hê-mi, và vì kính sợ Chúa mà hoàn trả mọi nợ nần, cầm cố. Chuyện ấy không phải dễ đâu! Anh chị em ta đây có làm được như thế không? Đã làm thiệt hại của ai, không những phải xin Chúa tha tội, mà còn phải hoàn trả, hoặc bồi thường... Không đền trả, tội không được tha. Có nhiều người cứ tưởng lấy của người, làm hại của người, rồi đi xưng tội là xong. Đâu có đơn giản thế! Ấy vì vấn đề điều răn thứ 7 rắc rối như vậy, nên khuyên anh chị em có lỡ phạm tội gì khác thì phạm, chứ chớ phạm tội điều răn thứ 7. Lại có người tưởng chỉ tội dâm dục mời sa hoả ngục, còn tội trộm cắp thì không hề gì. Kinh Thánh không nghĩ như thế, đây: “Anh em chớ lầm tưởng mà nguy: vì tất cả những kẻ dâm dật, thờ quấy..., ngoại tình..., trộm cắp, tham ô, nghiện ngập, chửi bới, cướp giựt: các kẻ ấy đều bị loại khỏi Nước thiên đàng” (thư 1Cr 6.9-10).
Và để phòng ngừa việc lấy của người ta, Chúa cấm đến cả các sự tham muốn trong lòng của cải người khác: “Ngươi không được tham muốn nhà cửa, tôi trai, tớ gái, vợ con đồng loại, bò lừa và bất cứ vật gì của nó” (Xh, 20.17). Do đâu trộm cướp bắt đầu? Thưa: do lòng tham muốn. Và trộm cướp còn do sự lười biếng: không làm việc mà cứ muốn có ăn, có mặc. Do đó, Thánh Phaolô dạy: “Người trộm cắp, đừng trộm cắp nữa. Phải hơn, hãy tự tay chịu khó làm việc” (Ep 4.28). Nhưng tham muốn nghĩa là gì? Đứng trước cửa hàng bày một chiếc xe đạp tốt, đẹp, mình ham thích, muốn có: Chúa có cấm điều đó chăng? Không! Ước muốn và tìm cách có tiền một cách lương thiện để có chiếc xe đạp ấy, không có gì là tội cả. Tội là ở chỗ mê muốn đến nỗi tìm cách đoạt được vật ấy cách bất lương bằng sự ăn cắp, lừa gạt.
Kinh Thánh còn dạy: “Không được lường gạt người đồng loại” (Lv l9.l l). Kẻ lường gạt không chỉ vi phạm đến của cải người khác, hắn còn làm hư hỏng một cái gì quí báu hơn: đó là sự tín nhiệm, tin cậy giữa người với người.
Chúa cũng dạy không được câu thiếu, cân thừa: “Ngươi không được dùng quả cân lớn, quả cân bé, đấu lớn, đấu nhỏ; nhưng ngươi phải có quả cân và cái đấu chính xác, công minh... Thật là đồ quái gở đối với Thiên Chúa, những ai làm các điều gian phi như thế” (Tl 25.13-16).
Cũng đáng bị kết án như thế những việc làm giả dối, đồ dởm, áo giả, mũ giả, rồi những sản phẩm kém chất lượng,... Tội càng lớn, nếu những cái giả ấy can hệ đến sinh mạng người khác, chẳng hạn như thuốc tây giả. Mong nhà cầm quyền ra hình phạt rất nặng, tối đa cho những kẻ dã tâm, lòng lang dạ thú ấy, để người khác thấy đó mà sợ .
Cũng mang tội, kẻ nào chào hàng, quảng cáo lếu láo, lừa gạt, để che đậy những hư hỏng của hàng hoá mình: trái cây hư thối ở trong, mà nói vẫn còn tươi ngon...
Nhất là tội chiếm đất đai, của cải của kẻ nghèo khó, thấp cổ bé họng, hoặc lợi dụng hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn để trục lợi, đầu cơ, như ta đọc trong bài Kinh Thánh hôm nay, thì Chúa ban bố những lệnh và luật nghiêm ngặt chống lại: “Ở giữa dân Ta, có bọn ác ôn: chúng rình như lũ đánh chim, chúng lom khom đặt bẫy bắt người... Nhà chúng mưu gian ứa đầy, bởi thế, chúng đã làm lớn, tâm giàu, đã nên béo mập nhễ nhãi...” (Yêrêmia 5.26-27); “Khốn cho những kẻ đầu cơ nhà liền nhà, ruộng nối ruộng... cho kỳ hết chỗ để mình độc quyền cư trú trên toàn nội địa...” (Ys 5.8); “Thiên Chúa sẽ ra toà phán xét các dân, sẽ đi vào phiên án xử hàng kỳ mục, và vương công trong dân Người: 'Chính các ngươi đã ngốn cả vườn nho; chính trong nhà các ngươi, của cải người nghèo khó đã mất trộm... Các ngươi đã nghiền tán dân Ta, đã đạp vào mặt lũ nghèo” (Ys 3.13-15). Hẳn chúng ta còn nhớ vụ vườn nho của ông Nabốt. Vua muốn chiếm, song buồn phiền vì Na-bốt không chịu. Vợ vua bày kế giết Na-bốt với những tội chụp mũ. Na-bốt chết, Vua rảnh tay chiếm lấy vườn nho: cuộc ám sát được che phủ bởi những lý lẽ có vẻ hợp pháp ấy phơi bầy cho thấy: nơi những kẻ giàu có và quyền thế, cái lòng ham sang giàu và sống sung sướng, phè phỡn của họ không hề lùi bước trước tội ác, bất công... ngay cả phạm thượng với Chúa.
Trong thời đại ta, còn phải kể đến tội bất công, làm thiệt hại do việc làm cẩu thả, thiếu trách nhiệm, hoặc lãng phí thời giờ lao động cách vô căn cứ, không có lý do..., gây tổn thất cho xí nghiệp, nhà máy, chủ nhân hay khách hàng...
Có người hỏi: ăn cắp của công có tội không, lấy cớ vì chủ giàu có hoặc Nhà nước nhiều tiền, lắm của? Đáp: Sự kiện người chủ nhiều tiền, lắm của không là lý do cho phép ta lấy của công ấy đâu, dù chủ nhân là một tập đoàn, hoặc là Nhà nước. Người ta lắm tiền, giàu của, mặc người ta. Họ sẽ phải tính sổ với Thiên Chúa về việc họ có chia sẻ của cải, hoặc sử dụng đúng đắn hay không. Phần ta, cái tội nằm trong ta: đó là lòng tham, và hành động lén lút lấy cắp những đồ vật không thuộc quyền sở hữu của ta. Chỉ trừ một trường hợp: người chủ kia xử bất công với ta. Lúc ấy, việc trước tiên ta phải làm là thương thuyết với chủ nhân, để họ sửa lại bất công ấy. Nếu họ cứ ngoan cố, không chịu sửa chữa, lúc ấy, luân lý cho phép người làm công kín đáo lấy của chủ cái phần thiệt hại mình phải chịu do bất công của chủ. Luật luân lý gọi trường hợp này là “kín đáo đền bù”.
Cho tất cả các việc lấy của người khác nói trên và còn nhiều trường hợp khác không kể xiết, Chúa dạy phải đền trả. Lý do: của người ta, ta phải hoàn lại cho chủ nó. Quyền tư hữu đòi hỏi như vậy. Vì của cải nào có chủ nấy. Chầu về hợp phố! Làm thiệt hại thì phải bồi thường! Chiếm hữu bất hợp pháp thì phải trả lại. Muốn thi hành trọn luật điều răn thứ 7 vừa nói đó, thì việc trước tiên là phải có lòng ăn năn thống hối: vì đã có lòng tham lam mà xúc phạm đến Thiên Chúa và vi phạm đến anh em, làm buồn khổ cho họ. Không có lòng sám hối này, việc đền trả kia không đạt hết ý nghĩa, và dễ sa ngã lại. Vì như người xưa có câu: “Thiện căn ở tại lòng ta”. Sám hối là tu bổ lại cái lòng ta, cho không còn tham nữa, cho nó trở về sự thiện. Rồi sau đó, việc đền trả, hoặc bồi thường bên ngoài sẽ thể hiện cái ăn năn bên trong: vì đền trả, bồi thường là một việc đau đớn, cực nhọc cho ta. Vậy, khi ta cố gắng đền trả, làm cho sự bất công, sự vi phạm quyền lợi và của cải của anh em ta được đền bồi xứng đáng, thì ta bộc lộ sự xác thực của việc ăn năn, sám hối bên trong. Do đó, kẻ nào, khi đền trả mà cầm lấy đồ vật ấy thảy vào mặt người kia mà nói: “Đây tao trả, tao không thèm!”, thì người đó mới chỉ làm một việc đền bồi bề ngoài, mà bên trong không có lòng sám hối tội lấy của người, hắn trả lại vì hắn thấy ăn không được, nuốt không trôi! Trước toà án Chúa, hắn chưa sạch tội lấy cắp của đồng loại.
Hỏi: Khi chưa có phương thế để trả thì sao? Đáp: Phải thực sự hứa chắc chắn trong lòng trước mặt Chúa là sẽ trả khi có phương thế. Nhưng đằng khác, đừng đợi khi nào có đầy đủ mới trả, ta sẽ chẳng bao giờ thấy mình đầy đủ cả. Hãy cứ để dành mỗi lúc một chút góp lại sẽ đủ; hoặc tốt hơn trả từng phần. Trong trường hợp thật sự kiệt quệ, không còn cách nào trả nổi, hãy trình linh mục giải tội để được chỉ giáo.
Hỏi: Người bị ta lấy cắp chết rồi, thì ta trả cho ai? Đáp: Cho vợ, chồng, hoặc con cái họ. Nếu không còn ai, trình vị linh mục giải tội để ngài chỉ cách cho, hoặc làm phúc bố thí, hay cúng vào việc phúc thiện: trại cùi, cô nhi viện, viện dưỡng lão...
Hỏi: Đền trả thì mắc cở, xấu hổ, phải làm cách nào? Đáp: Có thể dùng cách nặc danh: gửi tiền cho họ qua bưu điện mà không đề tên mình, hoặc nhờ cha giải tội chuyển giùm.
Xin các bậc phụ huynh lưu ý về thiếu nhi trong vấn đề này. Ngoài các điều đã nói trên, thiếu nhi có vài điểm đặc biệt:
1/ Thứ nhất: trẻ em hay thích phá phách, nhất là đối với của công, của tập thể: ghế, bàn nhà thờ hay trường học, công viên... Việc cần làm là tập cho nó ý thức tính cách thánh thiêng của quyền lợi và của cải người khác, và làm cho chúng thấm điều đã nói ở bài trước: yêu thương thì đừng làm hại người, cho dù người ấy vắng mặt hay người ấy là một tập thể. Cái chính là yêu thương. Phải tập ngay cho các con em ta từ nhỏ, trong gia đình, biết tôn trọng vật dụng của người khác, của cha, của mẹ, của anh chị, của em nó. Dạy nó tính cách thánh thiêng của quyền tư hữu: tức là vật gì cũng do Chúa tạo dựng, rồi do con người lao lung nghĩ ra, chế tạo, nên vật gì cũng quí. Chúa uỷ thác cho mình sử dụng và quản lý, nên phải tôn trọng nó, đừng phá huỷ, hoặc chểnh mảng để lay lắt, cho nó bị hư hỏng, Tập cho con em biết trách nhiệm về của cải của nó, và tôn trọng của cải người khác, vì Chúa muốn.
2/ Huấn luyện lương tâm chúng nó để tránh nhiễm các tư tưởng người đời được phô bày cách riêng qua phim ảnh, báo chí, trình bày sự giàu có như mục đích đời người phải đạt tới với bất cứ giá nào - cách vô lương tâm, vô liêm sỉ, bằng lừa đảo - được tôn thành một nghệ thuật sống ở đời, hoặc bằng cách ăn cắp, cướp giật được coi như tài khéo. “Khôn thì sống, mống thì chết”... Những phương tiện truyền thông ngày nay đã sớm làm cho trê em biết những mưu gian lừa đảo, cướp giật, giết người cướp của. Cứ xem báo Công an là đủ rõ. Thời trước giải phóng, có chiếu một bộ phim: người kia huấn luyện cho 5 con chó đi cướp nhà băng với tất cả sự chính xác, điêu luyện như máy móc. Có lần, ta nghe thuật truyện một đứa cháu giết bà để lấy tiền đi xem xi-nê...! Tất cả những chuyện đại loại như vậy, làm cho người có trách nhiệm và bậc phụ huynh phải giật mình trước sự sa đoạ của tâm hồn con người, con người đã có thể thành lang sói, và ngay từ còn thiếu thời!!!
3/ Xin mời quí phụ huynh hãy xét lại bầu khi của gia đình mình. Trẻ con như con cá, sống mãi năm này qua năm khác trong bầu nước độc hại, tất nó sẽ nhiễm bệnh. Bầu khi gia đình mà đầy yêu thương, chia sẻ đồng đều, tôn trọng nhau, đứa trẻ ấy tất nhiễm được tâm trạng tốt. Ngược lại, bầu khí gia đình đầy ích kỷ, xâu xé nhau, đầy tinh thần duy vật (Than ôi! Đa số lai như thế!), suốt từ sáng chí tối chỉ lo có một điều duy nhất là làm tiền, là kiếm lợi, rồi cãi vã, xô xát nhau vì quyền lợi..., thử hỏi làm sao lớn lên con em ta lại không đi theo con đường mà từ bé nó đã được gia đình dẫn nó đi? Nếu từ nhỏ, cha mẹ, anh chị đã tập quen cho con em không biết kiềm chế mình, không biết từ chối mình một vật gì..., thì khi lớn lên, nhu cầu càng tăng, nó sẽ không tự kiềm chế, muốn gì, mong ước gì là phải tìm cách thoả mãn ngay. Vô tình, vì quá thương con, cưng chiều con mà đã tập cho con làm những tên kẻ cắp, cướp giật, lường gạt, gian lận, làm sâu mọt cho xã hội. Và thử hỏi, tất cả các gia đình đều làm thế, thì cả xã hội sẽ ra sao?
Ta hãy cùng nhau đọc kinh Đền tạ và cầu xin cho gia đình ta biết thực hành bài học Lời Chúa hôm nay.
BÀI LỜI CHÚA 54
ĐIỀU RĂN THỨ 8:
CHỚ LÀM CHỨNG DỐI
Ta hãy xem bài Kinh Thánh thuật lại chuyện loài người từ nguyên thuỷ đã bị Satan gieo vào lòng tinh thần gian trá thế nào:
Trích sách Khởi Nguyên, ch.3
Rắn là vật tinh ranh, xảo trá hơn mọi dã thú Thiên Chúa đã làm ra. Nó đến với bà Eva và nói:
- Hẳn Thiên Chúa đã phán: Các ngươi không được ăn cây nào trong vườn cả. (Dĩ nhiên là no có ý gieo sự ngờ vực về lòng tốt của Thiên Chúa vào lòng bà).
Ngay tình, bà cứ thực đáp:
- Đâu có! Mọi quả cây trong vườn, chúng tôi được ăn cả, chỉ trừ quả cây ở giữa vườn, thì Thiên Chúa phán: “Các ngươi chớ có ăn, kẻo chết uổng mạng. (Đó là Thiên Chúa thương chúng tôi, sợ chúng tôi phải chết vì ăn quả độc ấy).
Nhưng rắn (tức là thần tăm tối, độc ác) chỉ đợi có thế, nên hắn chộp lấy câu ấy mà đưa ý độc vào:
- Chết ư? Chết thế nào được? Quả nhiên, Thiên Chúa biết ngày nào các người ăn nó, mắt các người sẽ mở ra và các người sẽ nên như những Thiên Chúa khác, biết lành, biết dữ. Do đó, Thiên Chúa mới cấm.
Quả nhiên; người đàn bà mắc mưu gian của Rắn. Bà nghĩ: Thiên Chúa sợ con người bằng Thiên Chúa. Bà mới nhìn lên cây, quả cây ăn chắc phải ngon, mà nhìn thì thật sướng con mắt. Bà nghĩ nó đáng quí thực, cây ấy ăn vào thì sẽ được tinh khôn. Thế là bà đã hái quả ấy mà ăn và cũng đã trao cho chồng bảo chồng ăn nữa. Và thế là tai hoạ xảy ra. Họ đã bị Rắn phỉnh gạt. Mắt họ mở ra, nhưng thay vì thấy mình được bằng Thiên Chúa, thi chỉ thấy mình trần trụi (nghèo nàn đi, mất mọi cái tốt đẹp Thiên Chúa ban cho). Rồi khi Thiên Chúa đến để trò chuyện vào buổi hoàng hôn êm ả, gió thanh bình hiu hiu thổi, thi ông bà sợ quá chạy đi núp mình khuất mắt Thiên Chúa, che giấu sự nghèo nàn, trần trụi của mình. Nhưng Thiên Chúa đã gọi cả hai ra, trách phạt đích đáng.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Satan đã dùng mấy lời khéo léo gài bẫy bà Eva, hắn rất tài tình trong chiến thuật phỉnh gạt này, để đạt mục đích tối tăm: phá đổ hạnh phúc của ông bà tổ tông và của cả nhân loại. Thật khủng khiếp thay! Chỉ một vài lời nói mà có sức phá huỷ cả một công trình tạo dựng tốt đẹp của Thiên Chúa! Nhưng không phải bao giờ nó cũng phá huỷ! Vậy, ta hãy suy nghĩ về cái khả năng tốt đẹp là lời nói mà Thiên Chúa đã ban cho ta. Ta có thể lái về đàng tất là xây dựng, an ủi thông cảm; về đàng xấu là phá đổ, lường gạt, gây đau khổ...
1/ Điều trước tiên: Lời nói là một ân huệ của Thiên Chúa! Có bao giờ bạn nghĩ thế chưa? Và có bao giờ bạn cám ơn Thiên Chúa đã ban cho bạn lời nói, và không bị câm? Chắc có lần ta thấy hai người đang như trò chuyện, nhưng lại có những cử chỉ kỳ quặc: hai tay họ liên tục làm những dấu hiệu kỳ lạ và nhanh, nét mặt họ cau lại, lúc lại trợn trừng cách khó nhọc, làm ta tường họ đang cãi nhau... Lại gần, ta không nghe thấy một âm thanh nào cả! Đó là hai người câm! Tội nghiệp: họ đang cố gắng rất cực khổ dùng những dấu hiệu bàn tay, nét mặt, để nói những câu chuyện không lời. Nhưng thật là vô cùng khó khăn, cực nhọc: vì làm sao diễn tả được tất cả những gì họ cảm, họ nghĩ, họ ước ao... bằng 5 ngón tay và những cử chỉ nghèo nàn ấy?
Vì thế ta thường thấy những người câm rất hung dữ, nóng nảy, nếu không thì ngấm ngầm xa lánh mọi người, càng ngày càng chôn vùi kiếp người trong cô đơn, bị loại xa xã hội loài người...
So sánh với họ, ta thật có phúc và giàu có: sống mà nói được, đó là một sinh thú trên đời. Thường ta coi là chuyện bình thường, kỳ thực đó là một ơn huệ của Thiên Chúa. Thiên Chúa đã dựng nên ta: điều ấy đã rõ. Nhưng Ngài không chỉ dựng nên ta câm nín, như con vật thông minh mà thôi (như con chó trong nhà). Kinh Thánh bảo: Ngài yêu thương và dựng ta “theo hình ảnh của Ngài”, tức là phú cho ta khả năng suy nghĩ, trái tim yêu thương và lời nói để phô diễn những tư tưởng và tâm tình dào dạt trong lòng. Có lời nói, chúng ta được truyện trò thú vị, dốc bầu tâm sự cho vơi nỗi sầu, cười đùa cho vui càng thêm vui...
Lời nói thật là một khả năng tuyệt vời, là của báu mà bạn có được, nó làm bạn hạnh phúc. Chẳng may, ngày nào bạn bị câm, bạn sẽ thấy vô cùng bất hạnh, vô cùng cô độc, và chán sống. Vậy bạn hãy tạ ơn Chúa!
2/ Điều thứ hai: Lời nói cũng là một nghĩa vụ: Ta cám ơn Chúa đã ban cho ta lời nói. Cách biết ơn tốt nhất là sử dụng nó đúng như ý muốn của Chúa. Vậy Ngài muốn sao?
Không chỉ muốn ta nói năng, biểu lộ tư tưởng và tình cảm để vui sống, mà còn muốn rằng: nhờ truyền thông cho nhau những ý tưởng và tâm tình, kiến thức, ao ước, quyết định..., ta được học hiểu Chúa hơn mà thông hiệp với chính Chúa và thông hiệp với anh chị em đồng loại. Thế nghĩa là nhờ lời nói, ta nhận ra được Chúa yêu thương ta, ta kết hiệp với Ngài, rồi nhờ lời nói, ta nói làm sao để an ủi, xây dựng, phục vụ, giúp ích mọi bề cho anh em mình...
Buồn thay! Tội tổ tông truyền đã làm cho sự cởi mở, chân thành của ta với đồng loại bị phá huỷ, xáo trộn. Thay vì thông hiệp, yêu thương, ta gieo hận thù, chia rẽ; thay vì phục vụ, ta lường gạt, lừa dối... Cứ xem truyện Kinh Thánh kể trên kia đủ thấy: Sau khi sa ngã theo lời dụ dỗ phỉnh phờ của “Cha sự láo khoét” (Phúc Âm Ga 8.44), thì ông Ađam đổ tội cho bà Eva, bà Eva khống biết trút tội cho ai, liền tố cáo con rắn... Lời nói nay trở ngược mũi giáo: thay vì đem phúc, nay gieo hoạ, gây tang tóc, đổ vỡ, chiến tranh, đau đớn, buồn tủi..., đến nỗi Thánh Giacôbê phải than: “Lưỡi là lửa,... là tàn lửa nhỏ, thế mà đốt cháy cả đám rừng lớn... Chính hoả ngục đã nhóm lên” (Gc 3.5-6).
3/ Điều thứ ba: Nghĩa vụ phải chân thật trong lời nói cũng như cách cư xử: Thời đại ta, hình như ăn gian, nói dối, lường gạt... đã tới mức trầm trọng, tràn ngập cả mọi tầng lớp trong xã hội... Và tai hại nhất là người ta coi đấy như một sự kiện tự nhiên..., thôi đành chấp nhận vậy. Không được! Người Kitô hữu không thể có thái độ buông xuôi như vậy! Hay chúng ta không còn tin rằng Chúa phép tắc vô cùng? Rằng Chúa quyền phép có thể biến đổi xấu nên tốt? Vậy ta hãy cầu xin, đồng thời phải hành động, dù một phần nhỏ bé, tuỳ sức ta. Có người đã nói: “Thà đốt lên một ngọn đèn nhỏ, còn hơn chỉ ngồi mà nguyền rủa bóng tối”. Vậy mỗi người trong chúng ta hãy bắt đầu thắp lên một ngọn đèn nhỏ trong gia đình đã, nghĩa là ta hãy học tập và dạy cả cho con em ta ngay thẳng và thật thà trong lời nói cùng như cách cư xử. Để góp phần vào việc nầy, xin đưa thêm vài suy nghĩ và thực hành:
a/ Chức vụ của lời nói là phụng sự chân lý: lời nói chỉ đạt tới tất cả vẻ cao đẹp của chức năng nó - như ý Chúa muốn - khi nó cống hiến đúng như sự thật. Cũng như chiếc đồng hồ mà không chạy đúng giờ, lúc nhanh, lúc chậm, lúc chết... Ra ngoài phố, người ta hỏi: mấy giờ rối, ta nhìn vào đồng hồ, nó chết queo rồi! Ôi quê quá! Nếu sửa mãi không được, thì ta chỉ còn đem bán lạc xoong... Cũng vậy, khi lời nói và cung cách cư xử của ta không đi đúng sự thật, nghĩa là đúng như ta nghĩ trong lòng, và đúng như chân lý của Chúa, thì lúc ấy, ta đã làm hỏng dụng cụ Chúa ban là lời nói, ta đã phản bội chức vụ của lời nói. Và Chúa Giêsu đã dạy: “Lời nói của các ngươi phải là có thì nói có, không thì nói không, còn ngoài ra là do từ ác thần mà nói ra” (Mt 5.37). Lại có lời khác rằng: “Ta bảo các ngươi: mọi lời hư từ người ta nói ra, người ta sẽ phải trả lẽ ngày phán xét. Vì bởi lời ngươi nói, ngươi sẽ được trắng án, và bởi lời ngươi nói, ngươi sẽ bị kết án” (Mt 12.36-37).
Mặc dầu xã hội bên ngoài có điêu ngoa, điên đảo đến đâu, người Kitô hữu và gia đình Kitô hữu cứ đi cho đúng đường Chúa dạy.
b/ Không những thế, ta còn phải huấn luyện cho con em ta ngay từ nhỏ: “Bé không vin, cả gẫy cành”, tục ngữ đã nói thế. Trẻ con tự bẩm chất rất hồn nhiên và ngay thẳng, có thế nào nó tỏ ra thể ấy. Vì thế, đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ! Lúc còn nhỏ, trí óc trẻ con chưa học ở người lớn cách lừa lọc, dối gạt, bóp méo... Nó như chiếc ống kính thu hình, có sao, in vào như vậy. Do đó, ngay từ nhỏ, giúp cho con em in vào trí óc, thành tập quán ngay thật. Nhưng có một nhận xét tâm lý đáng lưu ý ở đây: chính vì khả năng trí óc trẻ con còn hạn hẹp, nên có đôi khi nó chưa có thể nhìn đúng những sự việc xảy ra, lại chưa có đủ trí nhớ chính xác để nói lại cho đúng, và khi nói ra, chưa đủ lão luyện để diễn tả cho đúng, thiếu ngôn ngữ, hoặc nhất là vì tưởng tượng của trẻ vô cùng phong phú và sống động (nó có thế tưởng tượng cái ghế nó đang ngồi rung rinh là con ngựa đang phi...), thế là điều nó nói ra không hoàn toàn đúng, ta có cảm tưởng nó nói dối, nói sai sự thật và trừng phạt.
Phụ huynh thiếu hiểu biết về điểm tâm lý, sẽ gây ra hậu quả tai hại là làm mất sự tin cậy, cởi mở của con em..., chúng cảm thấy lạc hướng, mất an toàn, vì thấy tại sao mình nói như mình hiểu, lại bị trừng phạt, đánh mắng... Và rồi, vì cảm thấy nói như lòng cảm nghĩ, thì bị phụ huynh đánh mắng, nó sẽ học cách nói dối, nói khác cái nó nghĩ để chiều lòng người lớn, thế là nó đâm mất ngay thẳng và thật thà. Học sinh cũng vậy, chúng nói dối thường là vì lo âu trước hình phạt, hoặc vì thấy thầy, cô không tin cậy vào chúng...
Bởi vậy, ở điểm này, phụ huynh phải kiên nhẫn và biết thông cảm với những khuyết điểm tâm 1ý non yếu của chúng, và hướng dẫn từ từ: với tuổi lớn dần, khả năng trí óc phát triển của chúng sẽ biết gạn lọc đâu là sự thật, đầu là sự tưởng tượng. Khi khả năng diễn tả, ngôn từ giàu có hơn, chúng sẽ nói trúng hơn. Vậy, điều cần nhất là phụ huynh đừng vội gán tội nói dối, điêu ngoa cho chúng, mà hãy biết thông cảm và uốn nắn từ từ, chỉ cho chúng thấy phải nói thế nào cho chỉnh... Làm như vậy, con em sẽ biết ơn cha mẹ, cha mẹ sẽ sung sướng vì được con cái tin cậy, cởi mở với mình. Mà chỉ giáo dục được, khi con cái tin cậy và cởi mở. Lòng chúng mà một lần khép kín hẳn lại, thì ta giáo dục mấy, dạy dỗ mấy cũng vô ích, chỉ trợt ra ngoài, hay đụng vào một cánh cửa đóng kín.
c/ Một điều cũng rất quan hệ là tránh gương xấu. Ai cũng biết: con em coi người lớn, cách riêng cha mẹ, là gương mẫu, nó nhìn theo mà học cách sống làm người. Tục ngữ có câu: Cha nào con nấy, Hổ phụ sinh hố tử. Nó như tờ giấy trắng, như ống kính thu hình, có sao ghi vậy và làm theo: Nhưng có điều quái gở - đây là một sự yếu đuối do nguyên tội truyền lại - là học cái tốt thì ít, học cái xấu, cái dở thì nhiều và rất mau. Xem thế, gương xấu của cha mẹ, anh chị lớn cứ hàng ngày treo trước mắt nó thật nguy hại biết chừng nào! Không ngờ, bao cha mẹ đã toàn chỉ đường dối trá, lường gạt cho con em mình! Chắc nhiều bậc phụ huynh quên trách nhiệm trước toà phán xét của Chúa về các gương xấu. Chúa chúng ta đã cảnh cáo mạnh mẽ: “Kẻ nào làm cớ vấp phạm cho một trong các kẻ nhỏ này, thì thà nó bị khoanh cối đá vào cổ rồi nhận chìm đáy biển còn hơn. Khốn cho thế gian vì những cớ vấp phạm. Tất nhiên không thể tránh việc có gương xấu, song khốn cho kẻ làm dịp gây gương xấu và vấp phạm...” (Mt 18.6-7).
Ngược lại, chúng tôi xác tín rằng: dù ngoài xã hội có đầy dẫy gương xấu về gian dối, nếu trong gia đình, cha mẹ đã nhờ ơn Chúa và biết lấy lời Chúa mà uốn nắn con cách khéo léo, để tâm hồn nó nhiễm tính ngay thẳng, thật thà, thì ảnh hưởng xã hội không thể lung lay tâm hồn nó được, hay nếu có, cũng chỉ phần nào thôi!
đ/ Trong số những ảnh hưởng xấu bên ngoài, phải kể đến phim ảnh, báo chí, truyền hình, sách truyện... Vì trục lợi vô lương tâm, người ta đã cho ra đời những văn hoá phẩm, trong đó trình bày sự gian xảo, dối trá, lường gạt, căm thù, tranh cãi như những phương thế hữu hiệu và rất tự nhiên để dành quyền lợi, để mưu sinh, để có tiền tiêu xài, để làm giàu... Cha mẹ có lòng muốn con em mình nên người thật thà, thì sẽ lưu tâm chỉnh đốn cách khéo léo những sự trình bày sai lệch đó. Cấm con em đọc mọi sách báo, xem mọi phim ảnh là điều không thể làm được... Vậy, tốt hơn cả là hướng dẫn chúng xem và đọc sao cho khỏi bị tổn hại. Hẳn ta còn nhớ ví dụ: cá vàng sống trong bồn nước hư thối, cứ sống mãi, thở hít trong đó, tất nó sẽ nhiễm bệnh. Vậy phải giải độc nước ấy đi, tức là chỉ dẫn cho con em biết học cái tốt, trừ cái xấu trình bày trong các văn hoá phẩm nói trên.
Trong công cuộc trường kỳ giáo hoá, cha mẹ phải kiên nhẫn làm thường xuyên, chứ không chỉ lâu lâu mới la om xòm vài câu là đủ bổn phận. Chúng ta quá bận bịu trăm công ngàn việc, đúng vậy, song nếu ta thương con cái thật lòng và muốn nó hạnh phúc, ta phải cố gắng thôi. Trong cuộc giáo hoá, phụ huynh không những phải kiên nhẫn - điều rất cần! - mà còn phải nhẹ nhàng, êm ái, có chừng mực, đầy thông cảm và yêu thương, gây nơi con tình cảm tin cậy, nhất là phải khuyến khích con làm điều thật thà, ngay thẳng, một thành công nhỏ của chúng, ta cũng nên khen thưởng, khích lệ. Chớ nóng nảy, đánh mắng làm chúng thấy nặng nề và đâm khiếp đảm, tuyệt vọng và chai lỳ. Chúng là cây non mà, sao lại đối xử với chúng ngang tầm với mình, đòi chúng phải có ngay những tâm tình mà chính mình phải mất cả đời mới tập được! Kinh Thánh đã dạy: “Hỡi các người làm cha, đừng gắt gao làm phẫn chí uất hận con cái, kẻo chúng đâm tuyệt vọng” (Cl 3.21).
Trong giờ cầu nguyện và học Lời Chúa tại gia đình này, ta hãy cùng nhau xin Chúa chúc lành cho công cuộc giáo dục của ta, cũng xin Chúa ban ơn cho cả chúng ta - những phụ huynh và người trưởng thành - được biết dùng lời nói của mình cho đúng ý Chúa.
Tích truyện
Ông chủ kia một hôm sai đầy tớ ra chợ:
- Hãy mua cái gì ngon nhất về cho ta uống rượu!
Người đầy tớ đi chợ, mua cái lưỡi heo, về xào lăn thật ngon đem lên. Ông chủ ăn khen ngon. Lần sau, ông tại sai đi chợ, nhưng mua món gì dở nhất. Người đầy tớ cũng lại mua lưỡi heo.
Ông chủ ăn xong, ngạc nhiên hỏi:
- Tại sao lần trước, ta sai ngươi mua đồ ăn ngon nhất, ngươi cũng mua cái lưỡi, lần này mua đồ dở nhất cũng là cái lưỡi?
- Thưa ông chủ, đúng thế, vì cái gì tốt lành cũng do cái lưỡi, mà cái gì xấu xa người ta nói ra cũng do cái lưỡi.
BÀI LỜI CHÚA 55
GIAN DỐI VỚI CHÚA THÁNH THẦN
Sau khi Chúa về trời, Hội Thánh sơ khai ở Yêrusalem rất yêu thương nhau, họ góp chung của cải lại để các Tông đồ phân phát cho những tín hữu túng thiếu: người có nhà, có đất thì bán đi, nộp tiền vây quĩ chung hoàn toàn tự động và tự nguyện, chẳng ai bắt buộc. Chỉ nguyên vì Chúa Thánh Thần mở lòng họ ra, biết thương yêu nhau, có thế thôi.
Đang tốt đẹp như thế, mà có một trường hợp gian dối xảy ra như sắp kể. Hèn chi Thánh Phêrô phải can thiệp một cách cứng rắn dễ sợ, để ngăn ngừa gương xấu về sau.
Trích sách Công Vụ Tông Đồ, ch.5
Nguyên do là có hai vợ chồng tín hữu kia, tên là A-na-ny-a và Sa-phy-ra bán một thửa đất, song đã khấu trừ giấu đi một phần giá, rồi đem số tiền còn lại góp vào quĩ các Tông đồ, làm như thể đã nộp tất cả giá tiền bán đất. Biết được sự man trá của họ, Phêrô nói:
- Anh A-na-ny-a, làm sao Satan đã xúi anh gian dối với Chúa Thánh Thần, mà giấu đi một phần giá đất như thế? Đất đai là của anh, sau khi bán đi, anh vẫn hoàn toàn là chủ và có quyền định đoạt. Hà tất phải bày ra chuyện nói dối này. Không phải anh đã nói dối với người ta đâu, mà là với Thiên Chúa.
Vừa nghe lời ấy, anh ta ngã lăn xuống đất và tắt thở. Mọi người nghe tin đều phát sợ kinh hồn. Vừa chôn cất y xong thì bà vợ đến, không biết gì về chuyện xảy ra. Ông Phêrô lên tiếng hỏi:
- Chị Sa-phy-ra, hãy nói cho ta hay thửa đất anh chị đã bán giá ngằn này phải không?
Chị ấy đáp:
- Vâng!
Phêrô liền bảo:
- Tại sao anh chị lại thông đồng với nhau mà thử thách Thánh Thần Chúa? Này, những người chôn chồng chị vừa về đến cửa, họ sẽ đến khiêng cả chị đi nữa!
Lập tức, bà ta ngã nhào xuống chân ông và tắt thở. Và tráng niên đã đem bà đi chôn bên cạnh chồng bà. Toàn thể Hội Thánh cùng mọi người nghe biết các việc ấy đều kinh hoàng.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Cái tội của hai vợ chồng ấy không phải là cho cộng đoàn ít, mà không cho tất cả, song là ở chỗ gian dối. Họ có quyền cho hay không cho cũng được, Thánh Phêrô đã nói rõ. Song họ đã gian dối, cho một phần mà nói dối là cho tất cả. Mà như thế là nói dối với Thánh Thần, nghe theo ma quỉ xúi giục, nó vốn là Cha của sự láo khoét, điêu ngoa. Giữa một cộng đoàn đang đầy trong sạch, thánh thiện và yêu thương nhau, họ là một vết nhơ đen tối đến làm hỏng, đổ vỡ. Ta hãy tưởng tượng một bức tranh quí giá và vô cùng đẹp đẽ, đánh đổ lọ mực lên đó!
Chắc mọi người đều còn nhớ ở bài kỳ trước, có tích truyện “ngụ ngôn về cái lưỡi”. Nhà ngụ ngôn trữ danh Hi lạp, ông Ê-dốp, sống cách đây 2.500 năm, đã dùng ngụ ngôn cái lưỡi để mô tả sự tốt đẹp, quí báu của miệng lưỡi khi biết nói điều ngay thẳng, tốt đẹp và xây dựng; và ngược lại, sự xấu xa, phá hoại của miệng lưỡi chỉ biết nói lời lừa đảo, dối gian...
1/ Kinh Thánh cũng nói: “Dã thú, chim muông, rắn rít, cá biển, nói tóm mọi loài, nhân loại đều trị được. Còn cái lưỡi, không ai trong loài người có thể trị nổi, một tai hoạ vô phương trấn áp, nó đầy những nọc độc giết người... Cũng bởi một miệng lưỡi mà phát ra lời chúc dữ và lời chúc lành. Vậy hỡi anh em! Để xảy ra như thế là không được. Há mạch nước do cùng một lỗ lại phun ra cả nước mặn lẫn nước ngọt sao?” (Gc 3.7-11).
Đó, Kinh Thánh vừa dạy: Hỡi anh chị em, để xảy ra như thế là không được! Hai vợ chồng A-na-ny-a là Kitô hữu, miệng họ ban sáng ban tối dâng lời chúc tụng, ngợi khen Chúa, thế rồi lại đang tâm nói lời gian dối, xúc phạm đến Chúa, lừa đảo cộng đoàn anh chị em mình. Đến lượt chúng ta: để xảy ra như thế cũng không được, tức là chúng ta miệng thì đọc kinh, ca hát, nói yêu Chúa và thương người, thế rồi cùng cái miệng đó, trong cuộc sống giao dịch hàng ngày, lại dối Cha, dối Chúa, lừa đảo đồng loại mình để thủ lợi cho mình.
Quả thực, sống ngay thẳng, thật thà trong lời nói và việc làm là điều vô cùng khó khăn, nhất là khi sự thành thật gây cho ta phiền phức, xấu hổ, thiệt hại hay đau đớn! Tỉ dụ: bạn trẻ đi chơi với bồ về, ba bạn hỏi: “Mày đi đâu về, đi chơi với ai?” - hoặc cha mẹ tức giận hỏi: “Đứa nào đã lấy cắp tiền của tao?” - hoặc trong lớp, thày giáo hỏi: “Ai đã cóp bài thi?” - hoặc ngoài đường đụng xe: “Ai có lỗi?”...
Quả thật, trong những trường hợp như trên và có khi gay cấn hơn, không phải chuyện dễ khi dám nói thật. Phải là tâm hồn có can đảm và nhất là đã luyện tập thường xuyên mới dám nói thật với bất cứ giá nào. Người luôn thẳng thắn và thật thà là một người anh hùng trước mặt Chúa cũng như trước mặt người ta. Người anh hùng ấy, trước mắt, ta chỉ thấy có Đức Giêsu: trước những kẻ cầm gươm giáo, gậy gộc đến bắt Ngài đem đi giết, Ngài tự nhận: “Chính là Ta! “ (Ga 18.4-5), đang khi tông đồ cả, Chúa đặt làm đầu Hội Thánh thì chối Thày đến ba lần: “Tôi không hề biết ông Giêsu!”.
Kinh Thánh nói về Thiên Chúa: “Thiên Chúa đâu phải là người để mà điêu ngoa, gian dối (Ds 23.19). “Lời của Yavê đều là lời chính trực, và mọi việc Người làm đều là trung tín. Người mến chuộng tín nghĩa, công minh” (Tv 33,4).
Nếu Chúa và Thày của ta như vậy, đương nhiên đồ đệ của Ngài cũng phải mang dấu hiệu đặc thù là sự ngay thẳng, thật thà. Do đó, Chúa Giêsu dạy: “Chúng con phải đơn thật như chim câu” (Mt 10.16) - “Trong lời nói: có thì nói có, không thì nói không, kỳ dư là dơ ác thần mà ra cả “ (Mt 5.37).
Thánh Phaolô nhắn nhủ thêm: anh em hãy ăn ở sao xứng với địa vị là con người mới đã được tạo dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, trong công chính và thánh thiện, bắt nguồn trong sự thật. Bởi thế, anh em hãy đoạn tuyệt hẳn với dối trá, mỗi người hãy nói thật với người đồng loại, vì chúng ta đều là chi thể của nhau như tay đâu có làm hại chân, chân đâu có lừa gạt tay? (Ep 4.24-25).
2/ Để có can đảm sống ngay thật như Lời Chúa dạy, ta hãy cùng nhau học hỏi về sự nói dối trước tiên:
A/ Nói dối là gì?
Đáp: Là nói điều gì không đúng sự thật. Như thế đủ chưa? Thưa: chưa! Xin lấy ví dụ: Thày giáo hỏi: chín lần chín là bao nhiêu? Một học sinh nhanh nhảu đáp: 80! - Không đúng! Đó là cầu nói dối ư, vì không đúng sự thật? Thưa không! Đó là một câu nói sai lầm song không phải là nói dối.
Như thế, nói dối phải có thêm một điều kiện nữa: nói điều sai, dù ta biết là không thật mà cứ nói. Phải có yếu tố: biết là không thật. Do đó, ta cần bình tĩnh khi nghe ai nói sai, đừng vội dán lên trán họ nhãn hiệu “quân gian dối”. Chúng ta còn nhớ lần trước đã nói: con nít thuật lại nhiều điều sai, mà không phải nói dối, vì trí óc còn non nớt của chúng... Đừng vội trừng phạt chúng.
B/ Vì lý do nào, người ta gian dối?
a/ Vì sợ...: Sợ đủ loại: sợ bị phạt, bị chế nhạo, sợ mất quyền lợi (ví dụ: không dám xưng mình là công giáo vì sợ mất công ăn việc làm, mất sở...), sợ thiệt hại, hoặc vì muốn tránh né - hay muốn được việc…
b/ Vì muốn giúp kẻ khác: Đây là thứ nói dối mà nhiều người nghĩ lầm không có tội. Ví dụ: anh nói dối để tránh cho em khỏi bị đòn...
c/ Vì muốn đùa chơi: Cũng như trên, nhiều người coi là không có tội. Song coi chừng, vì từ đùa chơi, người ta dễ thành nói dối thật. Chỉ không phải là nói dối khi câu nói đùa chơi quá thô kệch, đến nỗi ai ai cũng nhận thấy là một câu nói đùa.
d/ Vì muốn hại người khác, hoặc bởi ghen tuông, ganh tị, căm thù, hoặc vì thích thú làm khổ người khác. Ví dụ: rỉ tai báo cáo sai lầm, mách nước sai để kẻ khác bị hỏng việc, bị thiệt hại, bị thua lỗ... Kẻ nói dối này, nếu gây thiệt hại quan trọng, thì phạm tội trọng và phải bồi thường.
e/ Vì muốn khoe mình: Nói thêm, nói bớt, phóng đại cho người ta phục... Đây thường là những kẻ muốn làm cho người ta thấy mình tốt đẹp, sang quí, tài giỏi hơn sự thực. Thường những lời nói quá ấy là nói dối, vì cố ý không nói đúng như sự thực mà trong bụng mình nghĩ.
3/ Có người nói: Tôi nói dối đâu có làm hại ai mà gọi là có tội?
Nói dối, dù không làm hại ai trực tiếp, sờ sờ, cũng có tội, nếu ta chịu khó suy xét kỹ như sau.
a/ Thánh Tôma tiến sĩ nói: “Nói dối là thứ bạc giả thiêng liêng mà ai cũng chê ghét”. Nói dối là phản nghịch lại với bản chất của lời nói. Đây, Thánh Tôma tiến sĩ cắt nghĩa: “Tự bản chất, nói dối là một điều xấu, bởi vì lời nói là dấu hiệu chuyển đạt ý tưởng. Khi dùng lời nói chuyển đạt một điều mà lòng ta không nghĩ, thì đó là điều bất chính, là nghịch lẽ tự nhiên”.
b/ Kinh Thánh đưa lý do sâu xa hơn: Thiên Chúa là Đấng Chân thật, nơi Người không hề có chút gian dối. Còn ma quỉ thì được gọi là “Cha của sự láo khoét, là đồ điêu ngoa”, “Từ bản chất, nó là kẻ gian dối” (Ga 8.44). Chẳng phải chính nó tự ban đầu đã nói dối, phỉnh phờ ông bà nguyên tổ, để cám dỗ họ sa ngã, mất ơn nghĩa với Chúa, chết phần linh hồn ư? Vậy, chúng ta sẽ là con cái Thiên Chúa, khi đi đúng sự chân thật, hay sẽ là con cái của ma quỉ, khi điêu ngoa, lừa dối, tức là thông chia tính điêu ngoa của nó.
Bởi đó, tất cả mọi hình thức nói dối, ngay cả nói dối chơi, đều bị giáo lý của Hội Thánh công giáo coi là bất chính, là tội cả, nặng nhẹ tuỳ trường hợp.
c/ Bây giờ, xét đến hậu quả trong xã hội: Nói dối gây nguy hại rộng lớn: nó là bệnh ung thư phá huỷ xã hội loài người. Chẳng phải chính bạn đã có lần bực mình nói: “Từ nay, tao không còn tin ai nữa!”, vì thấy trong giao dịch xã hội, người ta luôn dối trá, lường gạt bạn? Lời nói của người ta ngày nay mất giá rồi! Cho nên, muốn người khác tin thì phải thề thốt. Mà có kẻ cũng nuốt lời thề luôn nữa, thế thì còn biết tin ai đây? Nói dối đã làm đổ vỡ liểng xiểng sự tín nhiệm giữa người với người, ngay cả giữa người công giáo với nhau. Nhiều khi buồn nản quá, ta thốt lên: “Tin đạo chứ không tin người có đạo!” vì vỗ ngực tự xưng là người công giáo mà cũng ăn gian nói dối như kẻ vô đạo. Vậy giữa đại dương đầy xảo trá, ta hãy là ốc đảo của chân thật.
Kết thúc bài này, chúng ta ai ai cũng phải đấm ngực thú nhận: Tôi đã phạm tội nhiều trong điều này, tôi đã không đi trong chân lý, trong sự thật như Chúa là Đấng Chân thật, không hề gặp có gì gian dối, là tối tăm nơi Người. Vậy, ta hãy dâng giờ Đền tạ này để tạ tội với Chúa.
Tích truyện
Thằng Phong mấy hôm nay thấy biếng ăn, lừ đừ, ba má nó nhìn nhau lo lắng. Thế rồi đêm sau nó phát sốt nóng lạnh, cả nhà lo sợ không biết nó đau bệnh gì. Vội đem đi bác sĩ. Đến nơi, thằng Phong thấy bác sĩ bảo nó thè lưỡi ra cho ông coi: Lưỡi nó trắng. Sau đó, bác sĩ cho nó liều thuốc xổ.
Khi lành bệnh, Phong nhớ lại, hỏi ba nó:
- Tại sao khám bệnh, các cụ lang đông y thì bảo thò tay ra, rồi các cụ cầm lấy tay bấm mạch, còn bác sĩ tây y lại bảo thè lưỡi?
Ba nó tức cười vì nhận xét ấy, trả lời:
- À bác sĩ bảo con thè lưỡi là vì hễ nơi bao tử ta có bệnh. thì khiến lưỡi nên trắng. Đời sống ta càng vậy, con ạ! Hễ lòng ta có gì thì lưỡi ta tỏ ra như thế!
Miệng ứa tràn ra những điều chất chứa trong lòng. Lòng người ta như bao tử, nếu chứa đầy điêu ngoa, gian trá, chỉ muốn được việc mình, hại việc người, thì miệng lưỡi sẽ phun ra các điều lươn lẹo, dối gian...
BÀI LỜI CHÚA 56
AB-SA-LÔM ĐẸP TRAI MÀ GIAN HÙNG
Trích sách 2 Samuel, ch.14 và 15
Trong toàn thể Israen, không ai đẹp trai bằng Ab-sa-lôm, nhưng cũng không ai độc ác và gian hùng như hắn. Chính hắn đã giết Am-nô, anh ruột mình. Lần này, hắn mưu đồ chiếm đoạt ngai vàng của cha là Đavít Đại vương.
Để đạt mục tiêu, kẻ tham vọng giả bộ nịnh bợ lấy lòng dân. Trước hết, hắn làm dân ngưỡng mộ vẻ đẹp trai của hắn, cách riêng bộ tóc dầy và đẹp như của Sam-son thuở trước. Sau đó, hắn tậu xa giá, ngựa và 50 người chạy trước, rồi lượn đi lượn lại làm dân loá mắt, trầm trồ khen ngợi.
Sớm sớm, hắn đến trước Công Môn, nơi người dân đến chờ vua xử án, gặp ai, hắn cũng tiến lại gần nắm tay họ ra bộ ân cần, hoặc kéo lại ôm họ tỏ dấu yêu thương và nói:
- Vụ của ông rất hợp lẽ phải. Chỉ tiếc Vua chưa đặt tôi làm thẩm phán, tôi sẽ xử cho ông, giải oan cho ông để ông thắng kiện.
Cứ như thế, hắn mua chuộc được lòng mọi người Israen. Khi đã thành công trong trò mị dân, hắn đến đánh lừa cha mình.
Hắn tâu Vua:
- Thưa Vua cha, con đã khấn hứa với Thiên Chúa là sẽ dâng Ngài một lễ tế tạ ơn, vì Ngài đã nhậm lời con, cho con được nghĩa cùng cha, là tha thứ tội giết anh, và cho con lại được về kinh đô kề cận bên cha. Vậy cha có thể cho con đi đến Hêbron để chu toàn lời khấn đó không?
Dĩ nhiên là Đavít không có lý do gì để từ chối. Ab-sa-lôm tức thời đi Hê-bron cùng với đồng đảng; đồng thời, hắn phái tay sai đến các chi tộc trong dân, mời họ đến Hê-brôn để làm hậu thuẫn. Mọi sự đã được dàn xếp trước, đến đúng lúc, Ab-sa-lôm giết vật để dâng tế lễ, theo hiệu kèn đồng báo, các đồng đảng hắn trà trộn trong dân làm cò mồi sẵn, cất tiếng hô:
- Ab-sa-lôm muôn năm! Hãy làm Vua trên chúng tôi!
Dân chúng nghe vậy cũng hùa theo hô lên:
- Ab-sa-lôm muôn năm! Ab-sa-lôm là Vua chúng tôi muôn năm!
Thế là cuộc âm mưu đảo chánh đã thành công. Nghe tin báo, vua Đavít thu thập bầy tôi, vợ con bỏ hoàng cung chạy trốn...
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Phải nhận là Ab-sa-lôm đã tài tình trong mưu đồ chiếm ngôi Cha, cũng như trước đó đã thành công trong mưu đồ giết anh ruột mình. Song không ai chối được hắn là tay gian hùng, kẻ giả hình, nịnh bợ và mị dân. Nhưng Thiên Chúa sẽ làm rối con đường kẻ vô đạo. Sau này, hắn sẽ chết vì chính sự gian dối và tội ác hắn bày ra.
Nhưng đó là chuyện sau.
Đứng trước câu chuyện này, chúng ta sẽ khen hay chê hắn?
Nếu ta chê - mà đó là điều chắc, vì ai trong chúng ta còn chút lương tâm mà không kết án những sự gian dối, xảo trá, nịnh bợ. Nhưng khổ một nỗi là khi chê người, chúng ta có ý thức đúng mức tầm quan trọng độc hại của sự gian dối, lừa thày phản bạn chưa? Nhất là trong xã hội ngày nay đầy dẫy những lường gạt, dối gian? Trong hai tháng qua, các bài Lời Chúa dạy ta thật thà, ngay thẳng trong lời nói và trong hành động, đã làm ta bớt gian dối và sống thật thà, ngay thẳng hơn chút nào chưa?
Bài Lời Chúa hôm nay sẽ giúp ta đi sâu hơn vào trong vấn đề này. Bước theo vết chân của Ab-sa-lôm, có nhiều người trong lối sống và cư xử tỏ ra thiếu chân thực: thật họ là thế này, họ lại tỏ ra mình thế khác, với mục đích lừa dối người ta.
Có thể chia họ ra mấy loại:
1/ Thứ nhất: Kẻ giả hình: Đó là kẻ tỏ ra tốt, dễ thương, đạo đức hơn bản chất thực sự của hắn. Trong Phúc Âm, Chúa đã vạch mặt họ: “Khi ngươi bố thí, thì chớ thổi loa trước mặt như bọn giả hình làm nơi Hội đường và phố xá, hầu được vinh nơi người đời...” - “Khi cầu nguyện thì chớ làm như bọn giả hình, chúng ưa đứng cầu nguyện trong Hội đường và các ngả đàng phố xá đông người, hầu được bày ra cho người ta thấy... Cũng vậy, khi ăn chay, thì chớ sầm mặt lại như bọn giả hình, chúng làm mặt mày mất dạng, để ra dáng ăn chay trước mặt người ta” (Mt 6.2tt).
Đúng thế, các kẻ ấy tìm cách tỏ mình ra tốt hơn, đẹp hơn thực chất của họ. Khi họ bố thí chẳng hạn, đâu có phải vì lòng xót thương người nghèo, họ cố làm rình rang, khua trống gõ chiêng, ghi sổ vàng..., cho người khác lưu ý đến việc làm của họ mà khen tặng. Việc bố thí kia chỉ là chiếc mặt nạ che đậy tham vọng sâu kín là “cầu vinh nơi người đời”.
Trong cuộc sống hàng ngày, thấy nhan nhản những thứ người như thế trong đó có ta, ngay cả trẻ con nữa. Tỉ dụ: làm bộ tốt với thày cô giáo, mục đích muốn kiếm điểm cao, đang khi sau lưng thì nói xấu họ, trong bụng thầm ghét họ. Hoặc giữa đám trẻ con, có đứa tỏ ra dễ thương, tự nguyện giúp đỡ hoặc lăm vài việc tỏ tình bạn hữu, bên ngoài như thiên thần tốt lành, những bên trong như tên lưu manh, đã biết toan tính trục lợi... Lại có người giả cách đi dự lễ hàng ngày, xưng tội, chịu 1ễ đàng hoàng, nhưng cốt để được chấm là người công giáo sốt sắng, được khen lao, có khi còn cốt ý mưu đồ đen tối hơn... như đã từng thấy trong lịch sử! Thực tâm đâu phải vì tin và thờ Chúa, mà y chỉ muốn đạt được sự tín nhiệm của các Bề trên trong đạo, hầu cất nhắc y lên chức cao mà thực hiện ý đồ ghê gớm!
2/ Kẻ giả bộ: Cũng có thể xếp loại này vào loại người giả hình trên, song nhẹ hơn: ví dụ giả bộ đau ốm, hay đau ốm hơn là thực để cha mẹ thương cho nghỉ học, nghỉ lao động... Giả bộ nghèo khổ để kích thích lòng trắc ấn của người ta (nơi sân các thánh đường trong thành phố ta thiếu gì bọn băng chân, băng tay, bôi phẩm đỏ... ngồi chìa tay xin bố thí... Kỳ thật chỉ là những kẻ lười biếng lao động, có khi còn tệ hơn, là những tên ma đầu, có nhiều tiền cho vay lãi, ăn uống phè phỡn...). Hoặc giả bộ bị vợ hất hủi, xử tệ, đem tâm sự với các cô gái ngây thơ để gợi lòng thương hại, hòng mưu chiếm đoạt trái tim cô...
3/ Kẻ nịnh bợ: Là kẻ dùng lời nói để khen ngợi, tầng bốc, hoặc bào chữa lỗi của người nào đó, đang khi trong bụng hắn nghĩ khác và khinh khi. Đó chỉ vì hắn muốn lấy lòng nhằm trục lợi riêng tư...
Thái độ ta phải có:
Là người công giáo, con cái Thiên Chúa hoàn toàn chân thật, ta phải chân thật trong lời nói và hành động, rập theo sự hoàn toàn chân thật không hề thay đổi của Thiên Chúa! Chúa Giêsu dạy: “Các con hãy nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện”. Mọi sự gian dối, giả bộ, nịnh hót..., đều là bất chính, nghịch với Thiên Chúa, và bất xứng với Ngài.
Thường thường, ta gian dối đã quen, thành tật, thành nếp, nên ta không còn lưu ý đến mấy nữa. Đôi khi lương tâm có cắn rứt, ta lại nhủ mình để trấn an: gian dối đôi chút có sao đâu, đâu có phải tội trọng... Thế là dần dần, từ gian dối nhẹ đến nặng lúc nào ta không hay, giật mình nghĩ lại thì đã muộn, ta lỡ đi quá đà mất rồi, tội lỗi, gian ác chất đống làm ta vừa sợ sệt, vừa nản lòng. Tay đã trót nhúng chàm, thì cứ để nhúng luôn, đến đâu hay đến đó...
Do đó, bạn thấy chưa? Cái nguy hiểm nhất của thái độ bất chính trực gian dối là dần dà, người ta đi đến tin tưởng rằng ở đời, giả hình, gian dối, lường gạt là qui luật tranh đấu để sống an ninh và sung sướng. Tâm hồn họ sẽ đâm chai lỳ và mù quáng, cuối cùng, họ đi đến chỗ từ chối Thiên Chúa và không thể ăn năn trở lại, vì không chấp nhận nổi các đòi hỏi đúng đắn và ngay thẳng của Ngài. Chính vì thế, trong sách Khải Huyền, kẻ bất chính trực, kẻ gian dối bị xếp chung với kẻ thờ bụt thần, ma quỉ và cùng bị một án trầm luân như họ:
“Thiên Chúa, Đấng ngự trên ngai trời, phán rằng: Ai không sẽ thừa hưởng sự sống và mọi của lành làm cơ nghiệp. Còn lũ đớn hèn, bội tín, vô luân, dâm dật, phù phép, thờ quấy và gian dối hết thảy, thì phần của chúng là vũng lửa sinh diêm (đời đời)” (Kh 21.7-8).
Câu 15 sau đó nói mạnh hơn: “Đuổi hết ra ngoài (cõi vĩnh phúc) phường khuyển súc, phù phép, dâm bôn..., thờ quấy và mọi kẻ yêu chuộng cùng làm điều gian dối”. Điều ấy dễ hiểu: trong Vương quốc toàn thiện, toàn chân, toàn mỹ của Thiên Chúa (và Nước Trời), làm sao kẻ gian dối có thể lọt vào. Không có chỗ cho kẻ ấy. Trong ánh sáng, không có chỗ cho tối tăm.
Tích truyện
Oát-sing-tơn (Washington), sau này là tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, hồi nhỏ, một lần kia nhận được quà sinh nhật là cái rìu con. Thích thú, cậu cầm rìu, chạy ra vườn chặt cây nọ cây kia, để thử chất sắc bén. Không may, cậu chặt cả cây anh đào nhỏ rất quí, mà cha cậu hết sức quan tâm, chăm chút. Khi cha cậu khám phá cây anh đào bị chặt, ông tìm xem ai đã làm việc ấy.
Dĩ nhiên, ông chẳng mất công mấy đã tìm ra. Sợ hãi nhưng cậu còn kịp suy nghĩ:
- Chuyện này nguy to? Nhưng nếu mình chối, sẽ phải nói dối, mà mình nhất định không nói dối.
Và cậu thú tội với cha:
- Cha ạ! Con đã chặt cây anh đào bằng cái rìu này!
Cha cậu mừng vì thấy con có can đảm nhận lỗi, đã tha cho cậu trận đòn và nói:
- Con đã thành thật, mà thành thật thì quí hơn l.000 cây anh đào!
BÀI LỜI CHÚA 57
CÁI LƯỠI LÀ LỬA HOẢ NGỤC
Trích sách 1 Sa-mu-en, ch.21 và 22
Khi Đavít chạy trốn vua Sao-lê, đang muốn giết ông vì ghen tị, thì một hôm, ông đến làng Nôb, ở đó có đặt Khám Giao Ước của Thiên Chúa. Ông ra mắt vị Tư tế A-khi-mê-lếch và xin Người cho ông ăn.
Tư tế đáp:
- Tôi không có sẵn bánh thường, chỉ có bánh thánh, bánh dâng hiến cho Thiên Chúa.
Ta nên biết: bánh này chỉ có tư tế mới được phép ăn. Ăn xong, Đavít nói với tư tế:
- Ông có sẵn cây giáo hay cây gươm nào không?
Tư tế đáp:
- Chỉ có cây gươm của Gôliát mà ông đã hạ sát ở thung lũng Cây Sến. ông muốn lấy cứ lấy
- Đavít cầm lấy, lên đường chạy trốn xa mặt vua Sao-lê. Nhưng không ngờ, hôm ấy, có một người máy tớ thân tín của vua Sao-lê, tên là Đô-ếch, đang ở đó, y đã lén thấy tất cả mọi việc, nên đã về tố cáo với Vua Sao-lê. Vua sai đi triệu Tư tế A-khi-mê-lếch và cả gia đình đến.
Vua nổi giận quát:
- Tại sao ngươi đã cho Đavít ăn, lại còn cấp khí giới cho nó? Thế là ngươi đồng loã với hắn chống lại ta!
Tư tế thực tình tâu:
- Tôi không hề biết Đavít bị Vua phế bỏ, tôi vẫn tưởng ông là phò mã và là cận vệ thân tín của Vua. Xin Đức Vua đừng bắt tội tôi tớ của ngài và cả gia đình tôi!
Nhưng Nhà Vua phán:
- Thế nào ngươi và tất cả gia đình ngươi cũng phải chết.
Quay lại quân cấm vệ, Vua ra lệnh:
Hãy tuốt gươm xử tử các người này đi!
Nhưng các cấm vệ của Vua đứng im không nhúc nhích, vì họ không muốn tra tay giết hại Tư tế của Thiên Chúa. Vua mới bảo Đô-ếch:
- Ngươi hãy quay lại chém các tư tế đi!
Đô-ếch đã vung gươm chém chết cả thảy hôm đó là 85 người, bắt đầu từ A-khi-mê-lếch và tất cả dòng dõi con cháu tư tế ấy. Vua Sao-lê chưa hả giận, ông còn sai tuốt gươm làm cỏ tất cả đàn ông, đàn bà, trẻ con và ngay đến chiên dê, bò lừa của làng Nôb. Chỉ còn lại khám Giao Ước cô độc trong một làng chìm trong im lặng, giữa các tử thi đẫm máu!
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm lời Chúa
Tất cả cuộc chém giết tàn ác ấy, ai là thủ phạm đầu tiên? Thưa: cái lưỡi độc địa của tên Đô-ếch! Hắn biết Vua đang tức giận Đavít, thế mà hắn tố cáo tư tế là một người vô tội, ngay tình, vẫn tưởng Đavít là phò mã của vua... Như thế, hắn đã phạm trọng tội, hơn nữa, hắn lại vu cáo cho Tư tế cái ý xấu là có ý đồng loã với Đa vít... Hậu quả của một lời tố cáo, vu khống ghê gớm đến thế đó: Cả một làng bị giết hết! Cả một dòng dõi tư tế bị tru diệt! Quả đúng như lời Thánh Giacôbê nói: Cái lưỡi là lửa... của hoả ngục... (Gc 3,6).
Chúng ta đang học về điều răn thứ 8: chớ làm chứng dối! Thực ra, phải nới rộng thêm: cấm hết mọi hình thức gian dối, lừa đảo, nịnh hót, giả hình, tố cáo láo, vu vạ, bội thề, chỉ trích vô cớ, bôi nhọ, nói xấu, nói hành... kể ra không xiết.
1/ Kỳ này, ta bàn đến việc tố cáo, vu cáo, hoặc làm chứng dối. Các điều này, ngoài cái tội nói dối, nói gian không đúng với sự thực, còn thêm tội gây thiệt hại cho người ta, như sẽ bị tù, bị phạt, bị bồi thường, bị mất công ăn việc làm, hoặc mất thanh danh... Tất cả những thiệt hại vật chất và tinh thần ấy, người vu cáo phải đền bồi cân xứng. Khi đi xưng tội, đừng tưởng chỉ xưng suông là xong cả và yên lương tâm rồi!
2/ Về việc bội ước, bội thề: Ta cũng phải thẳng thắn, chính trực ngay trong lời hứa hay cam kết nữa. Cũng thường gọi là sự trung tín với lời hứa, lời thề..., từ những việc lớn như cam kết trong hôn nhân, hay lớn hơn nữa, các hiệp ước giữa trường quốc tế... cho chí các việc hứa hẹn thông thường, nhỏ bé trong cuộc sống hàng ngày. Kẻ hứa mà không giữ, người đời đều gọi là kẻ hèn. Cho nên, đã hứa là làm, đã hẹn là đến, đến đúng giờ. Nếu không, cũng là một thứ lừa dối: phải xin lỗi, nếu thực có những chuyện bất ngờ xảy đến cản trở. Trong chuyện buôn bán, đã hứa bán một đồ gì, thế mà về nhà nghe nói ra nói vào, tiếc của, thụt lui không bán nữa, đem bán cho người khác để được giá cao hơn: đó là bội ước. Tốt nhất là đừng vội hứa hẹn gì, hãy đắn đo trước đã. Cho dù hứa với một đứa trẻ, thì người chính trực cũng không nuốt lời. Chúng ta còn nhớ tích ông Mạnh Tử, nghe thấy vợ dỗ con đang khóc và hứa là chiều bố về, bố giết heo cho con ăn... Mạnh Tử phải sai giết heo thật để khỏi phụ lời hứa với con. Mạnh Tử thật là người quân tử! Mà ta lại còn là con Chúa nữa, chẳng lẽ không bằng quân tử sao? Thêm một chuyện nhỏ làm ví dụ: Ta thường hứa cầu nguyện cho người nọ, người kia, ta có nhớ cầu cho họ như đã hứa không? Còn lời hứa của ta với Chúa trong phép Rửa tội, hứa với người, ta cố giữ, chẳng lẽ hứa với Chúa, ta lại coi thường?
Khi người Tây phương nói câu: “Tôi nói lời danh dự!”, thì có chết họ cũng làm cho bằng được, thật đáng ta khâm phục bắt chước: Bên Đông phương, người ta cũng có câu khí khái không kém: “Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy”: một lời hứa nói ra, thì cỗ xe bốn ngựa chạy theo cũng không kịp để lấy lại. Đó là con người biết tự trọng. Còn người không biết tự trọng thì thế này: nếu có ai xúc phạm danh dự và tự ái của ta, thì ta đùng đùng nổi giận, đòi bồi thường danh dự, đang khi đó, ta tự bôi nhọ danh dự bằng cách dễ dàng nuốt lời hứa, nói dối trá...; thế là đòi người khác trọng mình, mà mình không trọng mình.
Do đó, giữ lời hứa, lời kết ước là điều khó. Phải có can đảm. Nhưng, thế mới là đáng mặt làm người và làm con Chúa.
3/ Về sự cẩn mật là im lặng: Đã đành, khi nói phải nói thật, nhưng không phải bất cứ điều gì cũng nói. Không biết làm thinh khi cần là ngu ngốc và thiếu cầm mình tự chủ, Tức là có những điều mình không nên nói, không được phép nói, như trường hợp một bí mật phải giữ kín, hoặc nói ra một điều gì phương hại đến kẻ khác, tức là lỗi bác ái: chẳng hạn bí mật của gia đình, con cái không được lộ cho người ngoài, hoặc bí mật giữa bạn bè, giữa hội đoàn..., chắc ai cũng nghe thấy nói về bí mặt nghề nghiệp: linh mục phải tuyệt đối giữ kín những điều nghe được trong toà cáo giải: bác sĩ, luật sư cũng vậy...
Phải biết giữ im lặng! Nghe tưởng chừng dễ, nhưng thực tế rất khó. Kinh Thánh dạy: “Có một thời để nói, có một thời để làm thinh”. Thật là một ơn lớn cho ai biết nói một câu tử tế vào đúng lúc cần thiết.
Kinh Thánh còn dạy:
“Kẻ nín thinh, được kể là khôn,
Kẻ đa ngôn thì bị ghét bỏ.
Người khôn làm thinh đợi dịp
Kẻ khoác lác không kể chi thời” (Huấn ca 20.5-7).
Cách ngôn Ả rập có câu: “Khi bạn nói, làm sao lời nói hữu ích hơn là im lặng”. Thánh Phaolô dạy: “Đừng có lời hư từ nào xuất từ miệng anh em, nhưng lời lẽ phải lương thiện, có hiệu lực xây dựng và sinh ích cho người nghe” (Ep 4.29).
Về điểm cẩn mật và biết làm thinh, đừng nói khi không nên, thiết tưởng chị em phụ nữ phải đề phòng hơn. Vì từ cổ chí kim, từ đông sang tây, đều một mực nói: các cô các bà hay cà kê, dê ngỗng, kể chuyện chồng, chuyện con, chuyện hàng xóm, láng giềng... thôi thì đủ thứ, nói ngày nói đêm không bao giờ hết. Vì thế, mới có câu chuyện đố vui này: Hỏi tại sao người đàn bà thường sống lâu hơn đàn ông? - Đáp: Vì họ còn nhiều chuyện phải nói, và nói chưa hết, thì chưa chết được.
Do đó, “đa ngôn, đa quá”, Kinh Thánh cũng như cách ngôn ta đều nói vậy (Cn 10.19). Người phụ nữ phạm không biết bao lỗi lầm vì lời nói bừa bãi và vì nói nhiều: nào nói xấu, nói hành, kể chuyện riêng tư của người ta làm mất thanh danh, nhất là hay phịa ra nhiều chi tiết, thêm thắt cho chuyện mình kể thêm thú vị, thành ra nói dối lúc nào không hay...
Xin chị em phụ nữ hãy nghe Lời Chúa dạy: “Nơi môi miệng con, hãy có then cài, cửa đóng” (Hc 28.25). Hãy nghe nhiều hơn nói! Nghe rồi đưa lên đầu để suy nghĩ, lựa lọc, chứ đừng vừa nghe là tọt xuống trái tim, thế là gặp dịp đầu tiên, liền tuôn ra liền, vì trái tim không có cái lọc, không có cái thắng!
Cách riêng phải càng giữ miệng lưỡi trong cuộc sống gia đình với chồng, với con. Kinh Thánh đã cảnh cáo:
“Đàn bà oang oác lắm mồm,
Như loa thúc trận hết ngày lại đêm,
Chồng nào phải sống cảnh trên
Suốt đời như giữa trận tiền chiến tranh” (Hc 26.27).
Riêng với thanh thiếu niên, xin lưu ý điều mà ngày nay hay mắc phải là nói tục, chửi thề. Một thói tục xấu xa và ngoại đạo đã làm ô uế cửa miệng rất nhiều thanh thiếu niên công giáo. Xin phép cho nói rõ ra, đó là những câu: “Đù má”, “Địt mẹ” và đại loại những cầu tục tĩu, bẩn thỉu như thế, khống thể chấp nhận được trên môi miệng của những người con cái Chúa, là những người chỉ biết nói lời yêu thương, miệng chỉ biết chúc phúc, chỉ nói những lời tốt đẹp xây dựng.
Chúa Giêsu đã cảnh cáo nghiêm nghị:
“Lòng ứa đầy những gì thì miệng nói ra cái ấy.
Kẻ ác thì tự kho ác mà kéo ra điều ác.
Nòi rắn độc, làm sao các ngươi có thể nói
ra điều lành, khi lòng các ngươi đầy sự ác.
Mà Ta bảo các ngươi, mọi lời hư từ nói ra,
người ta sẽ phải trả lẽ ngày phán xét” (Mt 12.34-37).
Tích truyện
Đời Chiến quốc, có người tên Biện Hoà tìm được ở núi Kim Sơn một viên ngọc, đem dâng vua Lê Vương. Vua trao cho thợ ngọc xem, thì y bảo là đá. Vua giận, sai chặt chán trái của Biện Hoà. Đến đời vua Bảo Vương, Hoà lại đem viên ngọc dâng lên. Thợ ngọc lại bảo là đá, nên Hoà bị chặt thêm chân mặt. Qua đến đời vua Sở Văn Vương, Hoà định đem ngọc đi dâng nữa, những vì cụt hết hai chân, nên ôm ngọc mà khóc 3 ngày 3 đêm đến chảy máu mắt.
Có người hỏi, thì Hoà đáp:
- Không phải vì tôi muốn được thưởng mà đi dâng ngọc, song tôi đau đớn chỉ vì ngọc mà lại bảo là đá, ngay mà bảo là gian.
Vua nghe được chuyện, sai thợ ngọc đập viên đá ra, thì quả có một viên ngọc phách vô cùng đẹp đẽ. Liền đặt cho ngọc ấy là ngọc Biện Hoà. Nhưng lúc ấy, hai chân của Biện Hoà chẳng còn nữa. Cũng chỉ vì lời tâu sai!
BÀI LỜI CHÚA 58
VỀ DANH DỰ
Trích sách 1 Ma-ca-bê, ch.1-2
Ở đất Israen, khoảng hai thế kỷ trước Chúa giáng sinh, là một thời tao loạn, vô đạo và tàn ác. Đế quốc Hi lạp xâm lăng và đô hộ đất Israen, họ đem các thờ bái ngoại đạo và lối sống vô đạo du nhập vào đất thánh của Thiên Chúa, hơn nữa, họ bãi bỏ các luật thánh, tàn phá Đền Thờ và cướp các đồ thờ bằng vàng và ngọc quí. Khắp nơi đều vang tiếng rên la, than khóc... Đáng buồn nhất là có nhiều người Israen đã đâm hư đốn, chối bỏ lương tâm và danh dự của người dân thánh vì sợ hãi, sợ mất mạng, mất của cải...; họ đã chối bỏ đạo, hùa theo làm nhiễu sự dữ. Cũng may, còn cỏ lắm người tỏ ra biết tự trọng, ở mạnh mẽ, can đảm, nhất định thà chết chứ không vi phạm Giao ước thánh với Thiên Chúa.
Trong số đó, có ông Mat-ta-thy-a cùng với 5 con trai can đảm đứng lên chống lại. ông tuyên bố:
- Cho dù tất cả các dân tộc trong Đế quốc của Hoàng Đế đều tuân lệnh ông ấy, mà chối bỏ việc thờ bái của tổ tiên mình, tôi và con cái tôi, anh em tôi đây, cứ bước đi trong Giao ước của tổ tiên chúng tôi đã thề nguyền với Thiên Chúa.
Vừa nói các lời ấy xong, thì một người Do thái tiến lên thờ bái bụt thần trước mặt mọi người theo lệnh Hoàng Đế. Mat-ta-thy-a thấy thế, thì bừng bừng cơn nghĩa nộ, vì nhiệt thành với Thiên Chúa, ông lao mình tới mà hạ sát tên ấy ngay chân bàn thờ... Rồi ông lật đổ bàn thờ và hô lớn:
- Phàm ai nhiệt thành bảo vệ Lề luật thánh và Giao ước, thì hãy ra đi theo tôi!
Ông và các con ông đã chạy trốn lên núi lập chiến khu và bỏ lại mọi sự họ có trong thành...
...Bấy giờ, cớ nhiều đoàn thể tận tình với đạo thánh và tất cả những ai trốn lánh tai hoạ cũng tìm đến gia nhập với họ...
...Từ đó, họ phát động những cuộc du kích chiến đánh phá quân Hi lạp vô đạo..., cho đến ngày toàn thắng, đuổi được quân xâm lược dành độc lập và tự do tôn giáo cho dân tộc họ.
* Đó là Lời Chúa? - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Ông Mat-ta-thy-a thật là một người đáng mọi người tôn trọng, kính vì! Cũng như Trần Bình Trọng nước Nam ta, lúc ông khẳng khái tuyên bố:
“Thà làm quỉ nước Nam,
Còn hơn làm Vua đất Bắc!”
Hoặc lời chí khí này của Trần Quốc Tuấn lúc thế giặc cực kỳ quẫn bách:
“Nếu Bệ hạ muốn đầu hàng,
hãy chặt đầu tôi trước đã!”
Những người ấy là những người trọng danh dự của chính mình, mà không hề tỏ ra kiêu ngạo hay tự ái rởm! Họ trung thành với Chúa, với tổ quốc quê hương, không tham sinh uý tử, bán đạo, bán nước cầu vinh... Họ không ngần ngại liều mạng sống bênh vực đạo, bênh vực công lý...
Đó là bài học về danh dự, về danh thơm, về tiếng tốt!
Hình như trong xã hội nhiễu nhương ta đang sống, người ta đã bán rẻ danh dự từ lâu rồi, chỉ vì nhu cầu sinh sống vật chất quá thúc bách... Luân lý và đạo đức đã tuột dốc trầm trọng. Đầy chính là lúc Kitô hữu chúng ta nên dừng lại suy nghĩ về danh dự, là nền móng của cuộc sống trong xã hội, không có nó, xã hội sẽ lung lay. Mà danh dự lại là một ân huệ của Thiên Chúa. Bạn có biết điều ấy không?
Quả thật, có những ân huệ của Thiên Chúa mà chúng ta thường ít khi nghĩ đến, chẳng hạn sức khoẻ. Có sức khoẻ là ta có thể đi đây đi đó, đi chợ, đi chơi phố, đi nhà thờ..., thấy được bao cái hay, cái đẹp, cái lạ: “Đi một đàng, học một sàng khôn”: có sức khoẻ, ta làm được bao việc tốt, ích lợi cho gia đình, cho đồng loại... Chẳng may, ngày nào tai nạn đến làm ta bị què chân, cụt tay, hay bệnh hoạn đến ghì chặt ta trên giường hết năm này đến năm khác: lúc ấy, ta mới thấy sức khoẻ là quí biết bao! Sức khoẻ là vàng! Gần nhà tôi có một bà liệt giường mười mấy năm nay, hằng ngày, bà chỉ cầu xin: “Xin Chúa cho con chút sức khoẻ, để con đi nhà thờ, và để con được cùng các anh chị em đi làm tông đồ!” - Thế mà đến nay bà vẫn chưa được.
Vậy, ta cũng nhau bàn về một ân huệ Thiên Chúa ban, mà rất nhiều ngươi trong chúng ta chỉ nhớ đến khi đã đánh mất, đó là DANH DỰ!
1/ Danh dự là gì? Ta sẽ hiểu là gì khi thấy một anh thanh niên trong khu xóm được chính quyền khen thưởng huy chương lao động, hoặc thấy đội banh quốc gia đoạt cúp vô địch tại Thế Vận Hội, hoặc bố ta được đắc cử vào Quốc Hội... Ta sẽ hiểu rằng: chiếc huy chương, chiếc cúp, hay chức dân biểu là những dấu hiệu bên ngoài nói lên cái sự người ta nhìn nên giá trị hoặc đức độ bên trong của đương sự. Người ta nhìn nhận bao công khó của anh thanh niên: nào anh đã hết sức lao động, đã xông pha đến những chỗ nào khó khăn, nặng nhọc nhất, anh đi làm đúng giờ, và là người ra về sau hết mọi người..., anh có sáng kiến cải tiến kỹ thuật cho công trình được xúc tiến mau lẹ..., có lần anh đã liều mạng sống để giữ vững cái đập đang sắp bị nước lũ cuốn phăng đi... Ai ai nghe nói về anh chàng đồng thanh: “Thanh niên như anh, không có đến người thứ hai đâu!”, Biết bao cô gái ước mơ được anh làm chồng mình.
Những người như thế, ta bảo họ được mọi người ngưỡng mộ, yêu mến, trọng nể: người ấy có danh thơm, tiếng tốt, có danh dự.
2/ Nền tảng của danh dự: Thoạt tiên, ta nghĩ danh dự của một người nào là cái giá trị, cái đức độ của riêng người đó, đã do cung cách sống của họ tạo nên. Đúng! Song người Kitô hữu ta còn đi xa hơn: danh dự của con người, trước hết là ân huệ của Thiên Chúa.
Thật thế! Thiên Chúa, Đấng chói loà thánh thiện và vinh hiển, đã không dựng nên loài người - một vật yếu ớt giữa bao mãnh thú, nhỏ bé giữa vũ trụ nguy nga - nhưng đã tạo đựng họ theo hình ảnh của Ngài: Kinh Thánh ca ngợi:
“Lạy Yavê, Chúa chúng tôi!
Danh Người uy anh dường bao trên khắp cõi trần!
Khi tôi trông lên trời, do ngón tay Người làm ra,
trăng sao vằng vặc Người đã định chỗ”.
So sánh như vậy thì:
“Phàm nhân là cái gì để Người nhớ đến?
Con người là chi để Người phải bận tâm?”
(Quả thực, con người thật nhỏ bé và yếu ớt trước tất cả vũ trụ, thế mà):
“So với thần linh, Người đã dựng nên họ không thua mấy tí,
Vinh dự huy hoàng là triều thiên người ban tặng cho họ” (Tv 8.).
Được đặt lên địa vị vinh dự cao sang như thế, nhưng con người ta ngã phản nghịch đánh mất vinh dự huy hoàng của mình rồi! Song Thiên Chúa không bỏ con người tàn tạ trong hư hỏng và nhục nhã. Một lần nữa, Thiên Chúa lại đến nâng con người lên: Người sai Con Một là Đức Yêsu xuống tái tạo danh dự và vinh quang cho con người, lần này một cách hiển hách hơn trước. Công trình này không phải là việc chắp vá một cái bình đổ vỡ, mà là một phép mầu, tái tạo cho tốt đẹp, kỳ diệu hơn. Chẳng thế mà Hội Thánh ca ngợi Thiên Chúa rằng: “Lạy Thiên Chúa là Đấng tạo dựng con người cách lạ lùng, nhưng còn tái tạo họ cách kỳ diệu hơn nữa”.
Trước kia, được tạo dựng nên hình ảnh Thiên Chúa, nay thì nhờ Chúa Kitô, còn được làm con của Thiên Chúa, thông chia mọi vinh hiển, danh dự, quyền năng của chính Con Một hằng sống của Thiên Chúa là Đức Yêsu phục sinh.
Như vậy, nếu con người - tự bẩm chất do Thiên Chúa dựng nên - đã đáng trọng kính, thì nay được làm con Thiên Chúa, lại càng đáng trọng, đáng kính, đáng vinh quang, vinh dự hơn nữa, khi người đó sống trong ân nghĩa, tự do và yêu thương. Cha của ông Ôrigênê, một nhà thần học lỗi lạc thế kỷ thứ 3, mỗi khi lại gần nôi con, ông quì xuống vái lạy và hôn ngực con. Với ai bỡ ngỡ, ông nói: “Con tôi, đã được chịu phép Thanh tẩy, bây giờ nó là con Thiên Chúa, Chúa Ba Ngôi ngự trong nó, sao tôi lại không bái lạy?”. Còn Thánh Phaolô nói: “Vinh quang, danh dự và bình an, cho người nào làm sự lành!” (Rm 2.10).
3/ Danh dự cần cho đời sống nhân loại: Tự nhiên, ai cũng mong muốn được kính trọng, đánh giá tốt bởi đồng loại. Không ai muốn bị người khác khinh thường, phỉ nhổ, chê bai. Người nào luôn sống trong mặc cảm bị khinh chê, ghét bỏ, không thể sống được, hoặc sống chỉ còn như súc vật - loài vật không có danh dự, không biết xấu hổ - như thế kể như họ đã chết! Bởi thế, ta mới thấy danh dự là điều kiện cần thiết của đời sống nhân loại. Kìa, ta nhớ lại cha ông tổ tiên chúng ta, lúc đạo nho còn thịnh hành, Đức Khổng đã dạy cho biết sống sao cho thành người Trượng Phu, Quân Tử, tức là sống xứng với địa vị mình: quân, thần, phụ, tử: Vua sống cho ra vua, bầy tôi cho ra bầy tôi, cha cho đáng mặt cha, con cho đúng đạo làm con, hầu cho có chết đi, danh thơm còn để lại muôn đời trong sử xanh!
“Thà chết vinh, còn hơn sống nhục!”
Biết bao người chỉ nghĩ đến danh dự mà thấy có sức thúc đầy để thực hiện những việc anh hùng, diệu kỳ. Ngược lại, cũng có khối kẻ chỉ nhờ nghĩ đến sự mất danh dự, đã dừng lại trên con đường tội ác.
Một xã hội chỉ lành mạnh và văn minh, một cuộc sống chỉ thật có tính người, khi đàn ông tôn trọng đàn bà, cha mẹ tôn trọng con cái, người trên trọng kẻ dưới, người giàu không khinh khi người nghèo khổ...; nói tóm: người này tôn trọng người kia, đồng loại mình, hình ảnh Thiên Chúa, dù đã là con Thiên Chúa hay đang được kêu gọi sẽ làm con Thiên Chúa.
Gia đình chúng ta đồng tâm nhất trí nhớ và nhắc nhở nhau nhớ đến vinh dự Thiên Chúa đã ban cho mỗi người chúng ta, và quyết chí không bao giờ chà đạp bởi những hành vi đê hèn, nhuốc nhơ. Quyết chí chưa đủ, ta hãy tha thiết cầu xin Thiên Chúa, Đấng đã ban cho ta vinh dự huy hoàng, chỉ thua kém thần linh một tí, cũng ban thêm ơn cho ta gìn giữ nó.
Tích truyện
Trên đường chạy loạn, Hoa Hâm cửng đoàn tuỳ tùng gặp một người lạ cũng chạy loạn, năn nỉ xin nhập đoàn. Các tuỳ tùng đồng ý. Chỉ có Hoa Hâm nói:
- Ta có mấy người, hiểm nguy, may mắn, sướng khổ đùm bọc lấy nhau. Bây giờ thêm một người nữa, liệu khi hữu sự có lo cho người ta chu đáo không?
Các tuỳ tùng năn nỉ xin cho người lạ. Sau cùng Hoa Hâm cũng thuận. Cả đoàn tiếp tục đi. Đi được xa xa, người lạ bỗng xảy chân rơi xuống giếng. Đoàn tuỳ tùng sợ khó nhọc và trách nhiệm phiền phức, nên bỏ đi. Hoa Hâm bất mãn nói:
- Đã nhận người ta cùng đi, lúc người ta lâm nạn, bỏ người ta sao đành?
Ông liền ra lệnh cho tuỳ viên vớt lên, tìm cách cứu chữa cho lành. Nhưng rủi, người ấy ngộp nước và tắt thở. Hoa Hâm tận tuỵ cho mai táng chu tất với lòng tiếc thương.
BÀI LỜI CHÚA 59
TRỌNG DANH DỰ
Trích lược 1 Sa-mu-en, ch.14
Trong một cuộc chiến chống quân Phi-li-tinh, cậu Yô-na-tan, con của Vua Sao-lê, đã gieo rắc kinh hoàng trong đạo quân bên địch, làm họ thua chạy tán loạn. Vua Sao-lê muốn đuổi theo tận diệt hết quân địch, ông mới thề độc rằng:
- Kẻ nào, từ nay cho đến chiều dám đụng đến lương thực, trước khi ta diệt hết kẻ địch, kẻ ấy là đồ chúc dữ và phải chết.
Thế là toàn dân quân Israen đều giữ chay mà chạy theo Vua đuổi giặc. Hoàng tử Yô-na-tan cùng cận vệ cũng xuất trận theo Vua Cha. Họ hành quân xuyên qua một đám rừng có nhiều bầy ong mật. Lúc ấy, mọi người đều mệt lả và đói, tuy vậy, dân quân Israen không ai dám đụng đến mật ong, vì đã có lệnh của Vua. Chỉ riêng Yô-na-tan, không nghe thấy lời thề của cha, đã lấy một chiếc que múc mật ong ăn. Một cận vệ cất tiếng nói:
- Cha cậu đã thề độc cho kẻ nào ăn, sao cậu dám ăn?
Nhưng Yô-na-tan đáp:
- Phải chi cho dân quân ta ăn chút gì để khỏi kiệt sức, có phải sẽ làm quân địch thảm bại hơn nữa ư?
Hôm sau, Vua Sao-lê muốn thỉnh vấn Yavê xem cuộc hành quân truy diệt hôm nay sẽ thành công không, thì Thiên Chúa Yavê không trả lời. Ông mới tìm duyên do, thì bắt thăm trúng Yô-na-tan.
Vua ra lệnh:
- Yô-na-tan, hãy thuật lại cho cha hay: con đã làm gì?
Can đảm, hiên ngang, Yô-na-tan không khiếp sợ mà chối, mất danh dự của một con người dám làm dám chịu. Chàng đã kể lại việc chàng ăn mật ong rồi kết luận:
- Và này con đây, con bằng lòng chết!
Vua truyền đem chém, nhưng dân chúng tâu vua:
- Yô-na-tan sẽ chết sao, khi cậu đã làm cho ta đại thắng trong trận giặc này? Thật là điều gở. Nhân danh Yavê hằng sống, sẽ không một sợi tóc nào trên đầu cậu rơi xuống đất, vì chính với Thiên Chúa mà cậu mới chiến thắng như thế hôm nay.
Nhờ lời kêu van của dân, Yô-na-tan đã khỏi phải chết.
* Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Tuy không biết lệnh Vua cha, nhưng sau khi đã được nhắc nhở, Yô-na-tan có vẻ không tán thành lời thề của Vua Cha: vì trong cuộc chiến, sức khoẻ là tối cần, tại sao lại cấm không cho dân ăn, lại phải ăn chay? Về sau, khi Vua Cha biết được cậu đã lỗi lịnh, cậu không hề sợ mà chối: trái lại hiên ngang nhận lỗi và sẵn lòng chết. Đó là một người can đảm và trọng danh dự: dám làm thì dám chịu!
Vì thế, kỳ này chúng ta cùng nhau suy nghĩ về:
1/ Danh dự là một của báu:
Nếu có ai khen bạn: “Anh hay chị ấy là người đáng tin cậy, hoặc là người tài giỏi”, bạn có vui không? Đã hẳn, lời khen chân thật, ai chàng vui thích. Hơn thế, nó còn là một sự kích thích, thúc đẩy khiến ta nỗ lực để cứ mãi xứng đáng với lời khen ấy.
Như thế, danh dự là một điều quí báu và cần thiết cho đời sống. Chỉ có điều là danh dự rất khó được, mà lại dễ mất. Lấy thí dụ về sự thật thà: không phải kẻ nội thật đôi lần, hoặc nhiều lấn sẽ được tiếng là thật thà, ngay thẳng, mà phải luôn luôn nói sự thật và không sợ doạ nạt hay trừng phạt, ngay cả cái chết, như Yô-na-tan trong chuyện Kinh Thánh ở trên. Như thế, để được thanh danh, thật khó! Nhưng mất nó lại rất dễ: người ta đã thấy có kẻ chỉ cần nói dối một lần, là từ đó không ai còn tin hắn nữa, cho dù sau này nó nói thật cả trăm lần: hắn mất thanh danh rồi!
2/ Cho nên gìn giữ thanh danh, bảo vệ danh dự là một nhân đức lớn. Thánh Tôm tiến sĩ liệt vào sổ các “đức đại đảm”. Chúng ta thường nghĩ nhân đức là những việc thiêng liêng, như ai đọc kinh, hãm mình, cầu nguyện... nhiều, thì là người nhân đức, mà quên rằng các đức tính nhân loại mà ta thực hành cho tốt cũng là nhân đức. Chẳng thế mà Thánh Phaolô dạy:
“Hỡi anh em, phàm những gì là chân thật, những gì là khả kính, những gì là công minh, là tinh tuyền, là khả ái, là danh thơm tiếng tốt, và nếu có nhân đức nào, nếu có điều đáng khen nào... thì anh em hãy chú trọng đến tất cả!” (Ph 4.8).
Đó, Thánh Phaolô dạy ta phải chú trọng đến cái gì tốt đẹp ở nơi nhân loại..., trong đó có danh thơm, tiếng tốt. Trọng danh thơm, tiếng tốt: tức là biết đánh giá mình cách đúng đắn, chứ không tâng bốc mình quá đáng, tự trọng mình cách phải lẽ, chứ không phải là tự ái tầm bậy: thì đó là điều hợp lẽ đời cũng như lẽ đạo. Ai khinh thường danh dự, dửng dưng không biết xấu hổ vì điều bất nghĩa, đó không là dấu kẻ ấy nhân đức, trái lại, đó là dấu một tâm hồn thoái hoá, xuống cấp, tính tình nhu nhược. Người nào mất danh dự, người ta bảo rằng: về mặt xã hội, hắn như đã chết rồi!
Hãy xem Đức Giêsu, Đấng đã nói: “Ta không tìm vinh quang cho Ta, song cho Đấng đã sai Ta”, thế mà trước các lời cáo gian Ngài bị quỉ ám, Ngài đã bảo vệ danh dự thế nào? Ngài bảo: “Ta không bị quỉ ám, những Ta tôn kính Cha Ta, mà các ngươi lại sỉ nhục Ta. Nhưng chính Cha Ta là Đấng tôn vinh Ta...” (Ga 8.48tt). Khi nhóm Biệt phái bôi nhọ việc trừ quỉ của Ngài mà bảo rằng Ngài nhờ thông đồng với tướng quỉ để trừ quỉ, thì Ngài lai nói: “Nếu Satan trừ Satan, thì nước nó chia bè chống nhau, đâu nó có dại thế? Cho nên, ta nhờ quyền năng Thiên Chúa mà trừ quỉ, đó là phúc cho các ngươi, vì là dấu Nước Thiên Chúa đã đến trên các ngươi” (Mt 12,24tt),
Còn lúc tên đầy tớ Thày Thượng Tế vả mặt Ngài cách lếu láo, Ngài điềm tĩnh trách nó: “Nếu Ta đã nói không phải, thì hãy làm chứng đâu là không phải, mà nếu là phải, sao lại đánh Ta?” (Ga 18.22t).
Xin lưu ý: Bảo vệ danh dự khác với tìm kiếm hư danh hoặc tự ái hão huyền. Tìm kiếm hư danh bên ngoài là cốt để tôn mình lên hơn kẻ khác tới mục đích ích kỷ, thế thì giống như Biệt phái giả hình mà Đức Giêsu đã hằng lên án:
“Hãy coi chừng, đừng phô trương công đức trước mặt người ta, để hòng được thấy... Bọn giả hình, khi bố thí, thì thổi loa, đánh trống cho mọi người ngoài đường, nơi phố xá, nơi Hội đường, hầu được vinh nơi người đời... Mọi việc họ làm, họ đều làm để được người ta thấy, vì thế mà nới rộng thủ phù và làm to tua áo (những dấu hiệu tỏ ra họ giữ luật ghê lắm). Ăn tiệc, thì họ đòi ngồi mâm nhất, trong nhà thờ thì đòi ngồi chỗ danh dự. Ngoài công trường, phố xá họ bắt người tà chào và tung hô họ là “sư phụ”...” (Mt 6.1tt; 23.5tt).
Bởi đó:
3/ Có hai thứ vinh dự: Một vinh dự bên ngoài nơi người đời, một vinh dự bên trong trước mặt Thiên Chúa. Đây là dấu để phân biệt: kẻ nào chỉ kiếm tìm danh dự mà không tìm kiếm sự thật, sự thiện, đó là kẻ háo danh. Hắn không khác gì một người thợ đòi tiền công mà không làm được một việc gì đáng công ấy. Thánh Aogutinô nói: “Ngươi đừng đi tìm vinh quang, song hãy làm việc thiện, rồi vinh quang sẽ tìm đến với ngươi”. Như thế, là có hai thứ người đi tìm vinh dự: kẻ hám danh thì khác với kẻ tìm kiếm sự thiện, rồi vinh dự do đó đến với họ như phần thưởng xứng đáng cho việc lành phúc đức của họ. Hữu xạ tự nhiên hương!
Chính Đức Giêsu đã cho thấy hai hạng người ấy khác nhau thế nào: “Khi ngươi bố thí, thì chớ đánh trống, thổi loa như bọn giả hình vẫn thường làm nơi nhà thờ và phố xá, hầu được vinh nơi người đời. Như thế là họ đã được thưởng nơi người đời rồi. Còn ngươi bố thí, thì tay trái đừng biết việc tay phải làm, hầu việc ngươi bố thí được giữ kín và Cha ngươi là Đấng thấu suốt kín đến sẽ tra công cho ngươi” (Mt 6.2-4).
Và các việc khác như cầu nguyện, ăn chay..., Chúa cũng đều dặn như vậy. Ta thấy đó: kẻ thì cầu vinh nơi người đời, còn kẻ thì giữ kín, chỉ để Cha trên trời thấy mà trả công cho. Chính Đức Giêsu cũng đã làm như vậy: “Ta không cầu vinh nơi người ta... Nếu ta tự tìm vinh quang chính mình, vinh quang của Ta chỉ là không. Song chính Cha Ta là Đấng tôn vinh Ta” (Ga 5.41; 8.54).
Thánh Phaolô kết luận: “Ai muốn vinh vang, hãy vinh vang nơi Chúa mà thôi” (1Cr 1.31).
Là môn đệ của Chúa, ta hãy tìm vinh vang trong Chúa, tức làm sự thiện, sự thật, rồi chính Thiên Chúa sẽ làm vinh ta. Đừng tìm hư danh nơi người đời như Pha-ri-sêu và những kẻ giống họ: Họ đã lìa xa Thiên Chúa và bị kết án: “Khốn cho ký lục và Biệt phái giả hình, các ngươi giống như mồ mả tô vôi, mã ngoài hình như đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương cốt, thây ma và mọi thứ xú uế. Cũng vậy, bên ngoài các ngươi có vẻ công chính, đạo đức, tốt lành trước mắt người ta, nhưng bên trong, trước mắt Thiên Chúa thì đầy giả hình và vô đạo” (Mt 23.27tt).
Người chỉ tìm vinh vang trong Chúa thì dẫu có bị người đời hiểu lầm, thậm chí bị bôi nhọ, sỉ nhục, bắt bớ..., ngay cả bởi người thân thuộc nữa, họ vẫn yên lòng. Lương tâm ngay lành, thẳng thắn và trong suốt làm chứng cho họ là đủ. Người thế gian đối xử như vậy thường vì ác ý, nhưng cũng vì hiểu lầm. Ta thường thấy: người này được ca tụng, được khen ngợi và tôn trọng hơn công họ đáng được, đang khi kẻ khác có công lại chẳng ai biết đến. Đau đớn thật! Nhưng, là người con Chúa, ta hãy an tâm: chúng ta có một người Cha, là Thiên Chúa, Đấng thấu suốt nơi kín ẩn, thấu suốt tấm lòng, Ngài sẽ hoàn trả cho ta, như chính Chúa Giêsu đã nói thế (Mt 6.1tt). Chúa còn an ủi, nhờ lời Thánh Phêrô rằng: “Cùng được chung phần đau khổ của Đức Kitô chừng nào, anh em hãy vui mừng; ngõ hầu khi vinh quang của Ngài mạc khải ra, anh em được vui mừng hớn hở. Nếu anh em phải chịu sỉ vả vì Danh Đức Kitô, thì phúc cho anh em, vì Thần Khí vinh quang, Thần Khí của Thiên Chúa sẽ đậu lại trên anh em” (1Pr 4.13t).
Tích truyện
Mục đích các bài Lời Chúa kỳ này là để giúp chúng ta biết trọng danh dự mình, bảo vệ thanh danh của mình. Xem các truyện cổ thời xưa, thấy người ta rất trọng danh dự, thà chết không để mình bi ô danh. Sau đầy là một tích:
Truyện Tam quốc diễn nghĩa, hồi 19, kể rằng: Tào Tháo thắng trận, đem các tù binh ra xử tội. Một viên tướng của Lã Bố là Trần Cung bị giải đến. Tào Tháo hỏi:
- Ông vẫn mạnh khoẻ chứ?
Trần Cung không đáp, song vặn lại:
- Ngươi bụng dạ bất chính, nên ta bỏ ngươi.
Tháo nói:
- Ông trách tôi là người bất chính, sao ông lại đi theo Lã Bố?
Cung trả lời:
- Lã Bố là người vô mưu mà thôi, chứ không có quỉ trá, gian hùng như ngươi.
Tháo lại hỏi:
- Ông tự cho là mưu trí, sao nay đến nỗi này?
Cung nhìn vào Lã Bố nói rằng:
- Chỉ giận rằng người này không nghe mưu kế của ta. Nếu như nghe lời ta thì chưa chắc.
- Bây giờ ông nghĩ sao?
Cung nói to:
- Bây giờ chỉ có chết mà thôi!
- Ông đã vậy, còn mẹ già và vợ con ông thì sao?
- Tôi nghĩ: người nào lấy đạo đức mà trị thiên hạ, thì không hại bố mẹ người ta; người nào thi hành nhân nghĩa ở thiên hạ, thì không làm đứt tuyệt hương hoả người ta. Vậy mẹ già và vợ con tôi, sống chết ở trong tay ông. Phần tôi đã bị bắt, xin chịu chết ngay, trong lòng không vướng víu điều gì.
Tháo nghe nói, còn có ý lưu luyến. Trần Cung bước thẳng xuống lầu, tả hữu lôi lại không được; Tháo khóc tiễn biệt, Trần Cung cũng không ngoảnh cổ lại. Tháo truyền lính hầu:
- Lập tức phải đem mẹ già và vợ con Trần Cung về Hứa Đô phụng dưỡng. Hễ ai chậm trễ, ta sẽ chém đầu.
Cung nghe Tháo nói, cũng làm thinh, vươn cổ ra cho quân chém, chứ không chịu đầu hàng kẻ gian hùng. Ai trông thấy cũng cảm thương sa nước mắt. Tháo sai lấy quan khách khâm liệm, đem về táng ở Hứa Đô.
BÀI LỜI CHÚA 60
TÔN TRỌNG DANH DỰ NGƯỜI KHÁC
Trích sách Dân số, ch.12
My-ri-am, chi của Môsê, cũng đã được ơn nói tiên tri, ở trong dân Israen ai cũng gọi bà là Nữ tiên tri (x. Xh 15.20). Ấy thế mà, một ngày kia, bà đã quên ơn trọng ấy của Chúa, đã đánh mất uy tín mình, bà đã vì ganh tị với Môsê hoặc vì tức giận với em dâu, là vợ Môsê. mà đi nói phạm đến Môsê:
- Dễ thường Yavê chỉ phán dạy qua miệng Môsê mà thôi sao? Ông ta có chi đặc biệt đâu! Đó, ông ta cũng lấy vợ thuộc dân ngoại. Yavê lại đã không phán dạy qua miệng của chúng ta đó ư?
Môsê là con người rất đỗi khiêm nhu. Ông đã nghe thấy lời dèm pha, nói xấu ấy để hạ giá ông, nhưng ông đã nhẫn nhục chịu đựng.
Nhưng cả Yavê cũng đã nghe thấy. Bất thần, Yavê gọi My-ri-am và cả A-ha-rôn đã đồng loã với bà nói phạm đến Môsê, và bảo:
- Hãy nghe đây! Nếu giữa các ngươi có được tiên tri nào, thì đó là Ta chỉ tỏ mình Ta ra bằng thị kiến hoặc phán bảo nó trong mộng. Còn với Môsê, tôi tớ của Ta, thì không thế! Trên tất cả Nhà Ta,. nó là người tín cẩn. Ta nói nó mặt đối mặt như bạn thân, nhãn tiền, chứ không bằng chiêm bao, và nó đã được thấy hình bóng của Yavê. Vậy tại sao các ngươi dám nói dèm pha, xúc phạm đến tôi tớ của Ta?
Và cơn giận của Yavê bừng cháy phạt họ. Yavê vừa dứt lời, thì phong hủi đã bám vào da bà My-ri-am loang lổ, sống như chết, nửa thân mình bị ròi bọ rúc rỉa.
Môsê đã cầu xin Chúa xá tội cho chị mình và chữa lành. Chúa phán:
- Vì ngươi đã cầu xin cho nó, nó sẽ được khỏi, nhưng nó vẫn phải đuổi ra ngoài trại mà ở ngoài rừng 7 ngày.
Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Qua bài Kinh Thánh trên, ta hiểu ngay: đừng bao giờ được phép nói hành, nói xấu ai cả; huống chi người thuộc về Chúa, cỡ như Môsê. Trong tai chúng ta, phải luôn vang lên lời: “Tại sao các ngươi dám nói dèm pha xúc phạm đến tôi tớ Ta?”
Bởi vậy, bài hôm nay, ta phải suy nghĩ:
1/ Tại sao phải tôn trọng danh người khác?
Vì chúng ta đã xem kỳ trước, danh dự là của báu, người ta quí hơn mạng sống, đến nỗi có người liều chết để giữ danh thơm của mình. Ở đây, ta còn đi xa hơn: vì ta là Kitô hữu, ta còn có lý do riêng và cao trọng hơn khiến phải trọng danh dự người ta. Đây Lời Chúa dạy: “Mọi điều các người muốn người ta làm cho mình, thì các ngươi cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7.12). Ta muốn người khác trọng danh tiếng ta, không nói hoặc làm gì phá hoại danh dự ta, thì Chúa dạy ta hãy trọng danh thơm người ta như thế. Lời dạy khác: “Nợ gì với ai, hãy trả cho người ấy: ...sợ người phải sợ, kính người phải kính...” (Rm 13.7). “Hãy tôn trọng mọi người, hãy yêu mến anh em, hãy kính sợ Thiên Chúa...” (1Pr 2.17). Chúa không chỉ dạy, Ngài còn làm gương: sau khi ma quỉ đã gieo vào lông Yuđa cái ý định nộp bắt Đức Giêsu..., Ngài đã chỗi dậy khỏi bàn tiệc, cởi áo ngoài ra, thắt khăn ngang lưng, quì xuống, lấy nước rửa chân tất cả các môn đệ, kể cả Yuđa đang rắp tâm phản Thày. Ngài đã làm một việc chỉ dành cho nô lệ. Sau đó, Ngài bảo: 'Nếu Ta là Chúa và là Thày các con, mà đã rửa chân cho các con, thì các con cũng hãy rửa chần cho nhau như gương Ta đã làm đó'” (Ga 13.). Ngài là Thiên Chúa, là Thày, mà cúi mình quì xuống trước tạo vật, và hầu hạ các ông với một sự khiêm nhường, như vậy tỏ ra Ngài tôn trọng họ đến chừng nào.
2/ Động cơ nào thúc đẩy ta phải trọng danh dự người ta? Đành rằng, việc tôn trọng phải biểu lộ ra bằng cử chỉ bên ngoài, như gương Đức Giêsu nêu trên, nhưng nó sẽ không thành thực, nếu không có một lý do bên trong thúc đẩy: lý do đó là linh hồn của cử chỉ bên ngoài. Vậy, lý do bên trong đó là: sự nhìn nhận tự trong lòng, cách thật tình, cái giá trị của người khác. Khi ta khinh bỉ ai trong lòng, mà bề ngoài ta làm những cử chỉ lễ độ, tôn kính, đó là cử chỉ giả hình, giả bộ.
Nhìn nhận giá trị người khác là thế nào?
a/ Điểm trước hết là coi mọi người - bất cứ ai, già trẻ, lớn bé, nam nữ, nghèo cũng vậy, mà tàn tật cũng thế- là một con người, hình ảnh của Thiên Chúa, rất được Thiên Chúa yêu thương và tôn trọng họ. Kinh Thánh nói: “Phàm nhân là gì để Người nhớ đến? Con người là chi để Người bận tâm? So với thiên thần, Người dựng nên họ không thua mấy tí, vinh dự huy hoàng là triều thiên mà Người ban tặng cho họ” (Tv 8.5-6). Kẻ được Thiên Chúa tôn trọng và ban vinh dự huy hoàng như thế, ai dám không tôn trọng? Dù họ có xấu đi, Thiên Chúa Cha van thấy hình ảnh Con mình trong họ. Do đó, mọi người đều đáng ta tôn trọng, dù bề ngoài họ có nghèo nàn, có đốn mạt đến thế nào. Vì thế, trên kia, Thánh Pbêrô dạy: “Hãy tôn trọng hết mọi người!” (1Pr 2.17). Và Đức Giêsu không ngần ngại đi lại, ăn uống với những người tội lỗi, thu thuế, là hạng người dưới mắt dân Do thái đã sa đoạ, và bị loại ra ngoài lề tôn giáo và xã hội, đáng khinh bỉ. Thế mà Đức Giêsu lại đến với họ, bầu bạn với họ. Đức Giêsu cho biết: Ngài tôn trọng họ, danh dự của họ ở chỗ họ là con Thiên Chúa, họ có nhân phẩm, họ là con người.
Vậy, cha mẹ cũng phải tôn trọng con cái, tuy chúng là con mình. Nhiều cha mẹ coi con cái như đồ vật mình tạo ra, nên có quyền thống trị, độc tài muốn đánh chửi thế nào cũng được. Đó là hành vi tội lỗi. Chồng cũng phải tôn trọng vợ: vì sao? Thánh Phêrô bảo: “Hãy biết điều, thân phận nữ tính của họ mỏng giòn, yếu đuối, nhưng các người làm chồng phải biết kính vì họ như không người sẽ cùng đồng thừa hưởng cơ nghiệp sự sống đời đời” (1Pr 3.7).
Ngoài xã hội, không chỉ trọng kính người ta theo tôn ti đẳng cấp, mà - vì mình là Kitô hữu - còn phải tôn trọng người khác ngược với cách đánh giá thông thường của người đời, tức là trọng kính cả những ai bé nhỏ, nghèo hèn, không đáng đếm xỉa... như nói trên kia.
b/ Cách cư xử, đối đãi sẽ phải thế nào? Không thể nói hết vả lại, ai cũng biết rồi. ở đây, xin phép nhắc sơ qua vài điều:
- Hãy nghĩ tốt cho người ta.
- Kinh Thánh còn dạy: “Hãy coi kẻ khác trổi trang hơn mình! (Ph 2.3).
- Các lỗi lầm họ, ta che giấu đi bằng một sự thinh lặng đầy bác ái trừ phi vì ích lợi cho họ, cho cộng đồng, ta buộc phải nói ra. Song ngay ở đây, cũng phải từ tâm, gượng nhẹ.
- Đừng báo thù bằng cách bôi nhọ, dèm pha, hạ uy tín như bà My-ri-am trên kia.
- Các hình thức bên ngoài biểu lộ sự lễ phép và xã giao. Lễ phép lạ thái độ của người văn minh.
- Bảo vệ danh dự người khác khi bị tấn công cách ác ý, bất công. Hãy đứng về phe bênh vực tiếng tốt của họ. Đau buồn chia sớt cùng họ, khi họ bị tổn thương danh dự - Tốt nhất là đừng nghe ai nói hành, nói xấu người khác. Nếu bạn có can đảm, hãy cắt ngang câu chuyện. Nếu không, bạn hãy bẻ lái câu chuyện sang hướng khác, cùng lắm, bạn hãy im lặng, một sự im lặng ngầm phản đối. Sau cùng, bạn còn có thể phản đốm bằng cách đứng dậy, bỏ đi chỗ khác, biểu lộ sự không tán thành của mình. - Nếu có ai đưa ra những ngờ vực về kẻ khác, bạn có thể nói: “Anh suy bụng ta ra bụng người đó!”, hoặc: “Ở đâu mà chị biết điều ấy? Có thấy tận mắt không? Tôi sẽ đi hỏi đương sự, nếu không đúng thì chị sẽ mất gì nào?” - Tốt hơn hết, ta hãy nói tốt cho người đang bị người ta nói xấu, ít ra cũng tìm cách bào chữa, hoặc nhắc nhở mọi người: “Chúng ta ai cũng sai phạm, vấp váp cả!”
Vậy, trước khi kết thúc, ta hãy để vang vọng lại Lời Chúa trách phạt bà My-ri-am: “Tại sao các ngươi dám nói dèm pha xúc phạm đến tôi tớ của Ta?”
Tích truyện
Trích Tam quốc diễn nghĩa, hồi 23
Tào Tháo lộng quyền, dám khinh rẻ cả Vua. Các quan rất tức giận, song vì Tháo rất quyền thế, không ai dám làm gì. Chỉ có một số đại thần âm mưu định giết Tháo. Trong số đó có Cát Bình, là thày thuốc trẻ của Tháo, cùng nhau uống máu ăn thề sẽ tìm dịp đánh thuốc độc cho Tháo chết. Một hôm, Tháo bị nhức đầu, Cát Bình sắc siêu thuốc độc. Nhưng được mật báo, Tháo liền giả vờ không uống. Cát Bình bị ép phải uống trước. Biết là bị lộ, Bình sấn lại đè Tháo để đổ thuốc vào. Tháo đẩy thuốc ra, đổ cả xuống đất, gạch đều nứt nẻ vỡ tung. Bị bắt, Cát Bình không hề sợ. Bị tra tấn đến thịt nát xương tan, Bình không hề hé môi khai tên các bạn đồng mưu.
Bình mắng:
- Mày là thằng giặc dối vua lừa dân, cả thiên hạ đều muốn giết mày! Chẳng có ai sai tao cả. Nay việc không thành, chỉ có chết là cùng”.
Bị đánh nát thịt, Bình ngất đi, tỉnh dậy lại nói:
- Không ai sai tao, có trời sai tao đến giết mày thì có!
Tháo sai chặt tay. Bình nói:
- Mất tay, ta còn miệng để nuốt giặc, còn lưỡi để chửi giặc.
Tháo sai lính cắt lưỡi... Lúc ấy, Bình quay đầu hướng về Đình Vua, bái lạy rồi đập đầu xuống thềm mà chết. Người sau làm thơ khen rằng: “Cực hình không chịu khuất, muôn thuở còn lưu, chết thảm vẫn như sinh”.
BÀI LỜI CHÚA 61
VU OAN GIÁ HOẠ
Trích sách Công Vụ Tông đồ 14.8-20
Ở thành Lys-tra, nơi Thánh Phaolô đến giảng Tin Mừng, khi dân thành mục kích cảnh một người bại chân từ lòng mẹ được chữa lành tức khắc, thì họ cất tiếng la lên:
- Ông này là thần linh mặc lốt người phàm đã xuống với ta!
Và họ đem bò cùng tràng hoa ra ngoài tam quan để cúng tế. Phaolô và người bạn là Ba-na-ba thấy thế xé áo ra, nhảy vào giữa dân chúng kêu lên rằng:
- Này các ông làm gì thế? Chúng tôi cũng là người như các ông mà! Chúng tôi đến đây chính là để rao giảng cho các ông phải bỏ những sự cúng bái huyễn hoặc đó mà trở lại nhìn nhận và thờ phượng Thiên Chúa chân thật và hằng sống, Đấng Tạo dựng trời đất và biển cả cùng muôn loài muôn vật.
Phải vất vả lắm, Phaolô mới làm cho dân bỏ ý định cúng tế các ông. Ấy vậy mà mới đó là thế, nay vừa có mấy người Do thái từ đâu kéo đến, dèm pha, nói xấu, vu oan cho Phaolô, thì đã làm dân chúng thay lòng đổi dạ. Dân chúng quay ra ném đá Phaolô và tưởng ông đã chết, họ lôi ra bỏ ngoài thành. Môn đồ hay tin, đã đến cứu chữa, và ông đã chỗi dậy được. Hôm sau, ông ra đi khỏi đó, tiếp tục rao giảng nơi các thành khác.
* Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Ghê gớm thay những lời dèm pha, vu khống độc địa. Chỉ cần vài lời là từ chỗ muốn tôn lên làm thần linh để cúng tế, loài người đã thay lòng đổi dạ, coi người ấy như kẻ thù phải giết đi. Lời nói tốt, khó khăn lắm mới đem lại chút vinh dự, lời nói xấu, dễ dàng phá tan danh dự và huỷ diệt mạng sống người ta. Vì thế, hôm nay ta phải vạch ra các lỗi phạm đến danh dự để tránh xa.
1/ Điều trước tiên, mọi tội bắt nguồn từ lòng mà ra: Chúa cũng dạy thế: “Những điều bởi miệng ra, mới làm cho người ta ra nhơ uế. Vì những điều bởi miệng ra, thì xuất từ lòng..., từ lòng xuất ra những suy tính xấu xa: nào là giết người, ngoại tình, dâm bôn, trộm cắp, chứng dối, dèm pha: đó là những điều làm người ta ra nhơ uế” (Mt l5.11,18-20). - Người đời cũng có câu: “Thiện căn là tự lòng ta”. Vậy, tội lỗi phạm danh dự người khác cũng xuất phát từ trong tư tưởng: đó là khi do trí khôn ta xét đoán liều, giải thích bất lợi cho đồng loại, hoặc vô cớ ta tỏ ra nghi kỵ, xa lánh. Rồi sau đó, miệng ta sẽ dễ dàng nói ra lời chỉ trích, chê bai, dèm pha, nói xấu... Ngay chỉ khi các ý nghĩ xấu có ở trong trí ta, thì người đó đã bị hạ giá, bị khinh bỉ, bị từ rẫy trước mắt ta rồi. Đó là ta bắt đầu xúc phạm đến danh dự họ rồi đó. Bao ví dụ xảy ra cho Đức Giêsu trong Tin Mừng cho thấy điều đó. Một lần kia, người ta khiêng đến trước Đức Giêsu một người bất toại. Thấy lòng tin của họ, Đức Giêsu bảo người ấy: “Hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha (và tha tội, tức sẽ được khỏi bệnh)”. Có mấy ký lục ở đó nghĩ trong lòng: “Y nói phạm thượng!”. Nhưng biết được ý nghĩ của họ, Đức Giêsu bảo: “Vì sao các ông nghĩ những điều ngang trái cho tôi trong lòng vậy?” (Mt 9.1-8). Lần khác, Đức Giêsu được mời đến ăn cơm tại nhà ông Biệt phái. Có cô gái đàng điếm trong thành ấy, nghe biết, thì đến xức dầu, khóc lóc thống hối tội mình. Thấy vậy, ông Biệt phái nghĩ xấu trong lòng: “Ông Giêsu này chắc chẳng phải tiên tri hoặc đạo đức gì ráo trọi, nếu không, sao ông ta để người con gái rờ đến mình, mà không biết đó là gái làng chơi ư?” (Lc 7.36tt). Sau đó, Đức Giêsu cho ông Biệt phái một bài học, đến khi ông ta thấy cô gái được tha tội và tâm hồn bình an, ông mới sáng mắt ra.
Vậy, Kitô hữu hãy kiểm soát và tự chủ tâm tư mình, làm chủ những khó chịu mơ hồ, những nghi kỵ vô căn cớ và quá đáng. Hãy lấy chân 1ý soi rọi và chúng mà làm tan rã chúng đi. Đành rằng một sự khôn ngoan dè dặt tối đa sẽ giữ ta khỏi nhiều vỡ mộng, hoặc tỉnh ngộ đau đớn, giúp ta tránh khỏi bị mắc lừa, khỏi nhiều thiệt hại; song ngược lại, quá khôn ngoan, quá dè dặt và nghi kỵ cũng đóng kín cửa lòng, không làm cho người khác phát triển nhiều khả năng, không cho đua nở bao niềm vui sáng tạo do một tình yêu cởi mở và đôi chút liều lĩnh. Sự quá dè dặt, nghi kỵ giống như khí lạnh mùa đông, làm co rúm người ta lại, làm cho không khí gia đình và cộng đoàn nên khô khan, tẻ lạnh...
2/ Điều thứ hai: Về nói xấu nói hành: Đó là tội nói điều xấu của người khác, dù điều ấy đã có phạm thật, hoặc tính xấu người ấy có thật. Những kẻ thèo lẻo, lắm miệng, những kẻ có tính bất cẩn, hoặc muốn khoe mình biết nhiều chuyện... thường hay phạm tội này. Đó là những sự truyền miệng, rỉ tai lỗi kín ẩn, hoặc hành động tư riêng, kín đáo của người khác... Rồi người ta dễ dàng vẽ rắn, thêm chân, ít xít ra nhiều, đi từ cái mới chỉ có vẻ là tội, thành ra đã chắc chắn phạm rồi, hoặc nói về kẻ mới lỡ nói dối một lần, thành kẻ chuyên môn nói dối...
Chúa dạy: “Giữa anh em là Kitô hữu, đừng để có sự nói hành, nói xấu nhau” (Gc 4.11). “Kẻ che phủ lỗi lầm người ta, sẽ gây tình bằng hữu, còn kẻ thèo lẻo, chia rẽ cả bạn thân tình” (Cn 17.9; 16.28).
Lưu ý: Nói lỗi của người khác khi không cần thiết là có tội nói xấu, nói hành. Nhưng khi cần thiết thì không, mà đôi khi còn cần nữa: đó là khi vì ích lợi cho đương sự, hay ích chung trong cộng đồng. Chính Chúa còn bảo phải có bổn phận nói ra nữa. Nhưng nói thế nào, cách nào? Hãy nghe Chúa dạy: “Nếu trong anh em, có ai trót phạm tội gì đó, mà ngươi biết được, thì ngươi hãy đến cùng người đó, nhẹ nhàng, khéo lên tìm cách sửa lỗi nó, riêng ngươi và nó thôi. Nếu nó nghe ngươi, thế là người đã lợi được anh em ngươi, tức là đã cứu được họ, đã làm ích lợi cho họ. Nếu nó không nghe, hãy đi mời thêm một hai người nữa, để có lời thuyết phục mạnh mẽ hơn. Còn cuối cùng, nếu nó vẫn không nghe, lúc ấy mới trình thưa lên các đấng có quyền trong cộng đoàn...” (Mt 18.15tt).
3/Điều thứ ba: Lời vu oan giá hoạ: Đó là nói những điều người ta không có, không làm, không phạm. Nhiều khi những lời này đã đi đến chỗ giết người. Người ta kể truyện rằng có anh thanh niên không mấy đàng hoàng kia phải lòng một cô thiếu nữ, và đến xin cưới nàng làm vợ. Dĩ nhiên, chàng ta nhận được một câu từ chối đích đáng. Để trả thù, hắn bia ra một chuyện bết sức bỉ ổi và phao tin ấy ra. Tin đồn lan ra nhanh chóng, có những cái tai dễ dàng đón nghe và tin ngay, rồi đem truyền ra khắp thành, đến nỗi không bao lâu, cô gái không còn dám thò mặt ra đến đâu nữa. Càng ngày, nghĩ đến thân phận mình bị oan ức, cô càng tủi phận, hổ ngươi, càng bị cô lập và thần kinh cô đâm rối loạn; nhục nhã đã đưa cô đến chỗ nhảy xuống nước tự vận. Hậu quả của một lời vu khống có thể là thế đấy: giá của một mạng người! Xem thế, kẻ bị mất thanh danh, đó là kẻ đã chết. Kẻ làm mất thanh danh thật là kẻ sát nhân. Do đó, cả Thiên Chúa lẫn loài người đều ghét! Kinh Thánh nói: có sáu điều Thiên Chúa gớm ghét, đó là kẻ làm chứng gian, vu oan giá hoạ, đặt điều, dối trá” (Cn 6.16,19). Cũng giống hạng này là kẻ phóng đại lỗi lầm kẻ khác, hoặc trình bày lỗi lầm dưới màu sắc đầy đen tối. Cho tất cả các hạng trên, Kinh Thánh kết án:
“Đồ khốn kiếp cái lưỡi mách lẻo, vì nó hại biết bao nhiêu người... Nó phá huỷ cả thành trì kiên cố, đã lật nhào bao lâu đài người lớn, đã đuổi đi những người vợ hiền thục... Nhiều người chết gục vì gươm, nhưng cũng chẳng bằng chết vì đầu lưỡi!”. Rồi Kinh Thánh kết luận: “Nơi miệng con hãy có cửa đóng then cài! Hãy đề phòng kẻo sa ngã về đầu lưỡi!” (Hc 28.13-18,25b-26).
Đến đây, tạm ngưng, lần sau sẽ nói tiếp bài học.
Vừa nghe Lời Chúa dạy và suy niệm, gia đình ta phải thú nhận với lòng khiêm nhường rằng: mỗi người từ lớn chí bé đã phạm tội này, và phạm dễ dàng như một thói quen, không còn mấy khi để ý mà sửa, cho dù bao lần đi xưng tội rồi, và bao lần đọc câu: “Con sẽ dốc lòng chừa cải và làm việc đền tội cho xứng”. Vậy gia đình ta hãy làm việc đền tội cho xứng như thế này: là từ nay, không để tai nghe nói xấu, nói vu oan..:, là từ nay dốc lòng luôn nói tốt cho người khác. Hễ không có gì tốt để nói về người khác, thì đừng nói gì cả. Nói chuyện trời mưa, trời gió, chuyện chợ búa, quần áo, chuyện đá banh, cờ tướng...
Tích truyện
Thời Tam Quốc bên Tàu, có hai tên nghịch tặc, may mắn cướp được quyền cao chức trọng trong triều đình, một tên là Lý Thôi, tên kia là Quách Dĩ. Chúng lộng quyền đến nỗi bức bách Vua phải nghe lời chúng sai khiến. Vua buồn lắm, muốn giết hai đứa. Có người hiến kế:
Thần nghe nói vợ Quách Dĩ rất hay ghen, nay sai người đến dèm pha chồng nó gian dâm với vợ Lý Thôi, hai đứa tất sẽ giết lẫn nhau.
Vua khen phải, sai quan Dương Bưu thi hành kế ấy. Bưu về sai vợ vào thăm vợ Quách Dĩ mà nói:
- Tôi nghe chồng chị thường vào phủ Lý Thôi, nói là mưu việc lớn, kỳ thực là tư tình với vợ ông ấy. Chị nên giữ gìn đừng cho đi lại nữa!
Vợ Quách Dĩ tin ngay, đem lòng ngờ vực chồng:
- Thảo nào, mấy đêm nay nhà tôi không về, hoá ra đi làm việc vô liêm sỉ ấy. Xin cám ơn chị đã cho tôi biết, để tôi cản chồng tôi.
Từ đó, vợ Quách Dĩ cản chồng. Lý Thôi mời sang uống rượu, bà không cho đi. Lý Thôi đem biếu một mâm rượu thịt, bà bỏ thuốc độc vào rồi cho chó ăn thử. Chó ăn chết liền. Từ đó, Quách Dĩ tin vợ và có bụng nghi ngờ Lý Thôi... Cứ thế, dần dà hai tên nghịch thần ấy từ chỗ nghi kỵ, đâm ra chém giết lẫn nhau. Cũng chỉ do một lời vụ khống!
BÀI LỜI CHÚA 62
NÓI XẤU NÓI HÀNH
Trích sách Dân số, ch.22
Trên đường tiến về Đất Hứa, một ngày kia, dân Israen đi đến gần xứ Mô-áp. Vua dân ấy tên là Ba-lắc, vì sợ Israen đánh chiếm đất mình, nên mướn một thày phù thuỷ tên là Ba-lam để tuyên lời trù ẻo, nói xấu dân Israen. Nhưng Thiên Chúa sai Thần Sứ hiện ra bảo ông:
- Ngươi chỉ được nói điều gì Ta truyền cho ngươi!
Sáng sớm, chỗi dậy, Ba-lam thắng lừa lên đường, với ý định ngấm ngầm làm trái ý Chúa, mà làm theo ý vua Ba-lắc đã mướn ông với nhiều tặng vật quí báu. Bừng bừng nổi giận vì ý xấu đó, Thần Sứ Chúa đứng trên đường chặn lối, gươm trần cầm tay. Con lừa ông cưỡi thấy vậy rẽ xuống đồng, nhưng Ba-lam đánh nó, bắt phải lên đường cũ. Lần này, con lừa tránh né Thần Sứ, thì đi sát bờ tường, ép chân Ba-lam vào tường. Ba-lam tức giận, lại đánh lừa. Cuối cùng, không biết tránh bên nào, nó phục xuống trước Thần Sứ, Ba-lam nổi nóng, đánh nó dữ tợn. Thiên Chúa cho lừa mở miệng nói:
- Tôi đã làm gì để ông đánh đập tôi ba lần như thế?
Ba-lam hét lên:
Mày đáng tội! Phải chi tao có thanh gươm nơi tay, tao đã giết mày!
- Tôi không phải là con lừa ông đã cưỡi suốt đời ư? Đã bao giờ tôi có thói làm cho ông như thế chưa? Hãy nhìn mà coi: ai đã chặn đường tôi?”.
Thiên Chúa mở mắt cho Ba-lam thấy Thần Sứ, cầm gươm đứng trước mặt. Hoảng sợ, ông vội sấp mình xuống đất. Thần sứ Yavê phán:
- Ta xuất hiện chống lại ngươi, vì ngươi lên đường làm nghịch ý Ta. Giả như con lừa không tránh né mặt Ta ba bận, thì chính ngươi đã bị Ta giết!
- Tôi có tội... nếu điều tôi sắp làm không đẹp mắt Ngài, thì tôi xin trở về!
Thần Sứ phán: - Không! Ngươi cứ đi! Nhưng chỉ phải nói những lời Ta truyền cho ngươi...
Phán xong, Thần Sứ biến đi... Ba-lam tiếp tục đi đến nơi núi cao, từ trên đó nhìn xuống, thấy dân Israen ở dưới thung lũng, và ông đã mở miệng tuyên các lời chúc lành mà Thiên Chúa đặt vào miệng ông, thay vì trù ẻo, nói xấu như trước kia định làm.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Rõ ràng, Thiên Chúa không muốn ta nói xấu về người khác. Qua câu chuyện rất cổ và bình dân của Kinh Thánh, ta thấy Thiên Chúa xuất thân chận lại ý đồ xấu xa của Ba-lam. May mắn cho ông là con lừa biết tránh né - ý muốn nói con lừa còn biết sợ Chúa, không dám cứ đưa chủ đi con đường tội lỗi - chứ không thì Ba-lam đã bị giết. Cuối cùng, Chúa đặt vào miệng ông những câu chúc lành, buộc ông nói ra: Thiên Chúa muốn dạy con người phải nghĩ sự tốt, nói sự lành cho người khác, nếu không sẽ bị trừng phạt nặng nề. Cùng với bài Lời Chúa đây, ta nối tiếp bài học kỳ trước về những tội phạm đến danh dự người khác.
Tội xúc phạm trực tiếp danh dự và bản thân người khác bằng cách sỉ vả, lăng nhục, chế nhạo: Các sách Tin Mừng đã kể lại bao điều sỉ nhục và lăng mạ Chúa Giêsu, nhất là hồi Thương Khó. Nhắc sơ qua thế đã đủ, chẳng cần phải dài dòng. Có điều ta nên chú ý là việc sỉ vả, lăng nhục người khác chính là do lòng ghét người đó, nếu dám giết thì giết ngay, còn không dám giết thì sỉ vả, lăng nhục để hả cái giận, cái căm thù của lòng mình. Nọc độc ở chỗ đó: ở trong dòng mà ra.
Cũng còn một cách khác làm người ta tổn thương danh dự, song một cách tiêu cực và thụ động, đó là từ chối những dấu kính trọng cần có đối với ai ta phải kính hoặc từ chối không chào hỏi họ: Đây không có ý nói đến tính vì mắc cở, rụt rè không chào hỏi, hoặc không tỏ ra kính trọng người đáng kính, song nói đến sự cố tình làm vì ngạo nghễ, vì khinh miệt... Chẳng hạn đi ngoài đường, gặp người bậc trên mà kênh kênh, tỏ dấu khinh bỉ không chào, không kính.
Cũng còn thêm một tội xúc phạm thanh danh, đó là khi không có lý do cần thiết mà mình tìm cách moi móc, khám phá những tội hoặc tính xấu - cho dù có thật - của người khác.
Ở trên nói, không có lý do cần thiết, không được moi móc tội lỗi hoặc tính xấu. Vậy lý do cần thiết là gì?
a/ Lý do sửa lỗi: Tội lỗi và tính xấu là những cái làm mất danh dự con người hơn cả; do đó, người ta ai cũng muốn che giấu đi. Bởi vậy, việc sửa lỗi cho người ta là chính để bảo vệ danh dự họ. Có người làm điều xấu cho dù biết là xấu, cũng có người làm vì không biết là xấu, hoặc biết mà không có can đảm sửa lại. Cho nên ở sách Tin Mừng Mt 18.15tt, Chúa dạy có bổn phận sửa lỗi anh em, làm sao cho họ biết mình không ác ý và muốn bảo vệ danh dự cho họ, mình không phán xét hay coi khinh họ. Vậy, lần đầu tiên, phải đến riêng một mình với họ. Nếu không thành công, lúc ấy mới được bộc lộ ra cho một hay hai người thân thiết, hoặc bạn thân, hoặc cha mẹ, bà con... Mục đích nhờ hai người ấy dùng uy tín hay tài khéo thuyết phục họ...
b/ Lý do ngăn ngừa sự lỗi: Chẳng hạn khi có kẻ bất lương đang sắp làm hại ai, ta khôn khéo bảo cho kể ngay thật, kẻo họ bị ăn cắp, bị lừa đảo, hoặc khi phải ngăn kẻ đơn sơ khỏi bị lôi cuốn vào đàng xấu, lây tính xấu... Những lúc ấy, ta buộc lòng phải nói sự xấu hoặc tội của kẻ gian ra để người ta tránh.
Đồng loã: Đây là điều người ta ít lưu ý: Sẽ không có hay sẽ bớt những tội nói xấu, vu khống... rất nhiều, nếu không có ai nghe những lời độc địa ấy cách vui thích. Kinh Thánh nói:
“Không củi thì lửa tắt,
Không người thèo lẻo,
cuộc cãi lộn chẳng còn” (Cn 26.20).
Giống như kẻ oa trữ đồ gian phi cũng đồng tội với kẻ ăn trộm, thì cũng thế, kẻ thích nghe nói hành cũng đồng tội như kẻ nói hành. Vì thế, có câu ngạn ngữ Tây phương như sau: “Kẻ nói hành có ma quỉ trên lưỡi, còn kẻ nghe có ma quỉ trong tai”.
Lần kia, có kẻ nói hành, bị một người ở đó nói thẳng vào mặt: “Cấm phóng uế ở đây!”. Người ấy đã không muốn mình thành đồng loã, nên đã phản ứng như thế.
Đền bồi, bồi thường: Tây phương có câu ngạn ngữ:
“Mất tiền của, mất ít
Mất danh dự, mất lớn lao
Mất Thiên Chúa, mất tất cả”.
Không có tên ăn trộm nào làm người ta nghèo đi cho bằng kẻ làm mất danh dự người ta. Chưa ai có thể tính hết được bao nhiêu thảm hoạ đã xảy ra do miệng nói hành, do miệng vu oan giá hoạ. Ta còn nhớ chuyện ông Giuse bị bà vợ quan Po-ti-pha bên Ai cập vu oan... Có biết bao người phải tù tội hàng chục năm, có nhiều người đã mất mạng chỉ vì có kẻ vu oan, nói xấu, sàm tấu...
Vậy, làm thiệt hại to lớn như thế mà không phải đền bồi sao? Có, và phải bồi thường lớn lao hơn vì mất danh dự là mất nhiều hơn mất của cải, câu ngạn ngữ nói trên đã làm chứng. Mà ở điều này, ngay cả nhiều Kitô hữu cũng không bao giờ biết đền bồi, vì nghĩ rằng xong chuyện rồi thì thôi. Đâu có được! Làm hại thì phải bồi thường.
Điều khốn đốn nhất là làm hại của cải, bồi thường thì dễ, còn đền bồi danh dự mới vô cùng khó khăn.
Nhiều khi bắt đầu chỉ là một câu nhỏ nhẹ rỉ tai bà bạn, nhưng từ đó điều xấu được truyền lan ra như một đám cháy rừng. Chỉ cần một tàn thuốc, một que diêm, mà cháy cả trăm nóc nhà. Xét như thế, gia đình ta càng cần phải tránh tội nói xấu, nói hành, vu oan giá hoạ như tránh rắn độc. Phải thật lòng khiêm nhường mà nhận rằng chỉ có Thiên Chúa mới sửa chữa nổi tất cả sự tai hại mình đã gây ra. Chỉ mình Ngài mới phục hồi danh dự lại cho nạn nhân. Còn phần kẻ là tác giả sự thiệt hại, phải cố gắng hết khả năng mà đền bồi sự thiệt hại ấy.
Trong trường họ nói xấu, vu oan: Rút lời, nói lại là điều không còn kịp nữa, vậy phải làm sao? Hãy phàn nàn vì đã nói, rồi khéo léo đề cao các việc tốt, các tính tốt, các công lao của nạn nhân trước những ai đã nghe mình nói xấu.
Trong trường họ sỉ nhục, lăng mạ: Buộc phải có lời xin lỗi. Trong nhiều trường hợp, lời xin lỗi này có thể được thay thế bằng một việc biểu lộ rõ ràng sự tôn trọng đối với nạn nhân: thế cũng đủ.
Việc xin lỗi nói trên, hay phục hồi danh dự cũng phải làm công khai, nếu đã nói xấu họ công khai. Giáo dân Việt Nam hãy nhớ cách riêng tránh tội chỉ trích gay gắt, sỉ nhục hoặc phỉ báng hàng giáo sĩ, đặc biệt các linh mục. Hãy nhớ tích bà My-ri-am, chị ông Môsê, đã dèm pha, xúc phạm danh dự và chức vụ ông, tức khắc bị trừng phạt nặng nề, vì có Lời Chúa dạy: “Chớ đụng tới kẻ Ta đã xức dầu”. Hồi trước, tội công khai sỉ nhục ấy bị dứt phép thông công, tức là vạ tuyệt thông.
Cuối cùng, ta hãy suy nghĩ điều này: Thiên Chúa đã phán xét rất nghiêm không những kẻ bỏ lơ không giúp miếng cơm, manh áo cho những người hèn mọn, nghèo khó: “Hỡi phường bị chúc dữ! Hãy xéo đi xa Ta mà vào lửa đời đời đã dọn sẵn cho ma quỉ và bộ hạ của chúng, vì xưa Ta đói khát, các ngươi không cho ăn uống, trần truồng đã không cho áo mặc...”; thì huống chi Ngài sẽ phán xét nặng nề hơn biết bao kẻ vì không giữ mồm giữ miệng đã phá hoại cuộc đời của một con người khi làm mất thanh danh họ, có khi còn phá hoại hạnh phúc của cả gia đình nữa!
Tích truyện
Xưa có một vị tướng, sau khi đánh chiếm được một nước kia, liền ra công tiễu trừ hết mọi đồ đảng, vây cánh của địch. Nhân dịp ấy, có một ông quan của triều đình đó, muốn lập công liền cáo tội quan nọ, quan kia. Sau khi các quan đó bị trảm quyết rồi, ông nọ tưởng mình sẽ được trọng dụng và lĩnh thưởng. Ai dè, ông tướng quát bảo võ sĩ đem hắn ra chém.
Nghe hắn kể công lao, vị tướng đáp:
- Kể ra thì ngươi cũng có chút công. Nhưng so với tội của ngươi, thì chẳng thấm vào đâu! Đó là cái tội phản bạn: Nếu các quan là bạn ngươi, mà ngươi không ngượng miệng cáo tội, đến nỗi họ phải chết, huống hồ là Ta - kẻ xa lạ với nhà ngươi. Xảy ra chuyện gì, chắc ngươi không ngại tố cáo ta. Thôi, ta giết ngươi trước đi cho khỏi mang hoạ về sau!
Nói xong sai chém đầu, đem đầu bêu giữa chợ làm gương cho kẻ ác mồm ác miệng.
BÀI LỜI CHÚA 63
CÁC BÍ TÍCH
Trích Sách xuất hành, ch.14
Dân Israen làm nô lệ bên Ai cập quá khổ: phải đào đất, nung gạch để xây cất những đền đài, những kim tự tháp dưới làn roi da ác nghiệt luôn luôn quất lên mình. Đàng khác, ông vua Pha-ra-ông sợ dân Israen tăng số mau sẽ đông hơn dân Ai cập, thành mối nguy cho dân nước ông, nên ông đã ra lệnh hễ đàn bà Israen sinh con trai thì phải bóp mũi chết ngay... Còn biết bao tàn ác, hung bạo khác không kể xiết đổ trên đâu đoàn dân khốn khổ, làm họ chỉ còn biết ngày đêm than van, kêu xin Thiên Chúa đừng bỏ họ, hãy mau mau ra tay cứu nguy.
Thiên Chúa đã nhận lời kêu xin và sai ông Môsê đến, dùng đủ mọi phép lạ phạt vua và dân Ai cập, để họ đành phải cho dân ra đi. Nhưng dân vừa ra đi được vài hôm, Pha-ra-ông lại hối tiếc, ông liền truyền lệnh cho một đại đội kỵ mã và xe chiến theo ông chạy đuổi bắt dân Israen trở lại. Và họ đã đuổi kịp bên bờ Biển Đỏ. Nhìn lại đằng sau, thấy đoàn hùng binh rầm rập đuổi tới nơi, đằng trước mặt, Biển Đỏ chắn ngang, dân Do thái run sợ, rồi kêu ca, trách móc Môsê và Thiên Chúa. Họ gào khóc lên:
- Bên Ai cập hết mồ chôn rồi hay sao, mà đưa chúng tôi đến đây để chôn chúng tôi?
Môsê đáp lại:
- Đừng sợ! Một hãy trông chờ Thiên Chúa sẽ cứu các ngươi bằng quyển phép vạn năng của Người!
Lúc ấy, Thiên Chúa truyền Môsê giăng tay trên sóng biển, biển liền rẽ ra hai bên như hai bức tường, để lộ ở giữa lòng biển một con đường khô ráo. Môsê bảo dân hãy bước vào lòng biển. Vâng lời và tin vào Thiên Chúa, dân Do thái bước vào lòng biển ráo chân mà tiến sang bờ bên kia. Thấy thế, đoàn quân Ai cập cũng nhào xuống theo sau. Nhưng Thiên Chúa đã gieo hỗn loạn vào đoàn quân: ngựa lồng lên không chịu chạy, các xe chiến sa lầy hoặc lật nhào, thấy thế, họ hãi hùng thét lên:
- Hãy chạy trốn mau! Thiên Chúa của Israen đang chiến đấu cho họ chống lại ta!
Nhưng không kịp nữa, theo lệnh Thiên Chúa truyền, Môsê đã lại giăng tay trên biển, tức thì nước dựng đứng hai bên, nay ập lại, nuốt chửng cả Pha-ra-ông lẫn đạo binh chiến xa và kỵ mã tinh nhuệ nhất.
Dân Do thái đã lên bờ bên kia, ngoái cổ lại nhìn, họ thấy xác quân Ai cập nổi lềnh bềnh, trôi giạt đầy bờ, Lúc ấy, họ nhận ra Thiên Chúa đã ra tay quyền phép cứu họ một cách lạ lùng. Đầy lòng biết ơn, nước mắt tràn trụa, họ đồng thanh ca vang lời ngợi khen Thiên Chúa:
“Vang lên muôn lời ca!
Ta ca ngợi Chúa!
Vì uy danh Người cao cả.
Chiến mã với kỵ binh,
Người đã quăng chìm đáy biển!”
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Thấy dân gặp nguy kêu khấn, Thiên Chúa đã ra tay cứu họ cách kỳ diệu: bất nước biển rẽ đôi cho dân đi ở giữa lòng biển ráo chân. Xét kỹ thì thấy, dân có lý mà sợ: nước biển dựng đứng hai bên có thể bất thần ập xuống chôn vùi họ, nhưng họ đã tin vào Chúa, nghe theo lệnh Môsê, nhắm mắt bước vào lòng biển, như bước vào cái chết. Nhờ sự vâng phục bước vào lòng biển ấy mà họ đã đi đến được bờ bên kia, tìm được cái sống qua cái chết: họ đã đến bến bờ tự do, hoàn toàn được giải phóng.
Câu chuyện Kinh Thánh ấy là hình ảnh báo trước về việc Thiên Chúa cứu chúng ta, bằng các Bí tích, khi chấp nhận tin Ngài, ta bước vào trong các Bí tích để tìm được sự sống Thiên Chúa trong đó. Vậy Bí tích là gì?
1/ Thường thường, tín hữu VN tin rằng: 7 Bí Tích là nguồn ban ơn thánh, ví như 7 mạch suối phun nước. Rồi họ hăm hở đến lãnh các Bí tích, lòng đinh ninh là được ơn thánh.
Điều đó đúng! Song chưa đủ! Vì nếu có ai hỏi họ được ơn gì, đa số họ rất lúng túng, không biết được ơn gì. Họ giống như người ham hố, cứ nghe thấy có nơi nào phát quà, phát chẩn thì chạy tới lãnh đem về, chẳng cần biết cái đó là cái gì, để làm gì, mình có cần hay không, và dù mình không cần thì để cho con, cho cháu, hoặc để dành đó phòng khi cần...
Thái độ ấy vấp phải một sai lầm tai hại: họ nghĩ ơn Bí Tích cũng giống như các sự vật đời này, cứ chìa tay ra là lãnh được. Không phải thế! Không phải cứ chịu Bí Tích là được ơn, nhưng phải chịu cho nên mới được. Bây giờ mới vỡ lẽ ra là từ bấy lâu nay, biết bao tín hữu đi chịu các Bí Tích mà chẳng được gì, hoặc được rất ít, nhưng vì đây là chuyện thiêng liêng, không đo, không đếm được, cho nên họ không thấy mình trống rỗng... Tuy vậy, cũng có cách thấy được. Thấy ở đâu? Ở hậu quả của nó. Như cây tốt, thì sinh quả sum xuê, ngon ngọt; cây cằn cỗi, thì sinh ít quả, và quả nó héo hắt, chua lòm. Ở đây cũng vậy, những người chịu Bí Tích mà không được ơn ích gì, thì thấy lộ kết quả xấu ở đời sống họ liền. Còn nếu chịu cho nên và được ơn thật, thì có khi chỉ chịu một vài lần là cuộc đời họ đã biến đổi nên tốt lành, thánh thiện..., chứ không lề mề, khô khan, có đạo mà đời sống chẳng khác gì kẻ vô đạo.
2/ Bây giờ ta tìm hiểu: Chịu Bí tích cho nên là thế nào? Thưa: là lãnh Bí tích với lòng tin, với lòng khát khao, và với ý ngay lành.
Chính Đức Giêsu đã vạch ra cho thấy. Một hôm kia, trong Đại Lễ Lều, các tư tế Do thái đang cùng đoàn kiệu xếp hàng đi xuống giếng để múc nước vào chiếc Bình Vàng, kiệu về, để biểu lộ Chúa sẽ ban cho họ mưa hoà gió thuận để được mùa, thì Chúa Giêsu có mặt đó hô lớn tiếng rằng:
“Ai khát thì hãy đến với Ta,
Và kẻ tin vào Ta, hãy uống đi!”
Vì như lời Kinh Thánh báo trước: “Họ đến uống nước mạch sự sống từ lòng Đấng Thiên Sai tuôn chảy ra” (Ga 7.37-38).
a/ Chúa nói đến khát: ai khát, tức là giống như kẻ đi trong sa mạc khô cháy, thấy khát và ước vọng một ngụm nước mát uống vào cho khỏi chết. Họ ao ước, khát khao ngụm nước ấy mãnh liệt dường nào! Hoặc giống như kề đang lênh đênh giữa biển trên con thuyền ọp ẹp, mong thấy có chiếc tàu thuỷ lớn đi ngang qua, họ sẽ la hò, sẽ cầm áo quần, phất lên để kêu gọi tàu đến vớt họ...
Lên lãnh Bí tích, ta có lòng khao khát như thế chưa, hay theo thói quen, người ta đi, mình cũng đi, người ta chịu Bí Tích, ta cũng chịu?
b/ Còn về lòng tin, Chúa đã nói: “Ai tin thì hãy uống!”. Thế mà có nhiều người cứ lên lãnh Bí Tích đại mà chẳng biết tin điều gì, để được gì. Họ chẳng khác gì, trong những dịp Đại Lễ, có những người ngoại đạo thấy vui, nhộn nhịp, cũng vào nhà thờ dự lễ, rồi khi thấy bổn đạo lên rước lễ, họ cũng lên: vì họ không tin việc rước lễ, nên nghe chỉ như lên ăn một miếng bánh tráng, chẳng hơn chẳng kém! Ấy là chưa kể, như Thánh Phaolô nói: Ăn uống Mình Thánh bất xứng là ăn uống án phạt vào mình!
Mà có lòng tin chung chung cũng không đủ. Phải có lòng tin sáng suốt, biết mình làm gì, Bí Tích mình chịu là cái gì? để được gì? cái đó đòi buộc điều chi?
Muốn được có đức tin như vậy, điều trước tiên là phải học hỏi cho biết. Sau khi đã biết, thì mỗi lần đi chịu Bí Tích, còn phải nhớ lại và giục lòng tin cho nó sống động lại ngay lúc đó. Tại sao? Vì thói quen dễ làm cho đức tin ra chai lì. Thêm nữa, tuy chúng ta đã là người có đạo, nhưng bởi lòng đạo của ta không được sốt sắng, hoặc bởi chung quanh ta, bao nhiêu thói quen phù phép, pháp thuật, mê tín, bùa ngải của người ngoại đạo gây ảnh hưởng trên ta, ta dễ đi chịu Bí Tích với tâm trạng đi lãnh một thứ bùa phép gì đó thiêng liêng, tuy không do ma quỉ ban, nhưng do Chúa ban, song cũng có tính cách ma thuật, bùa phép.
Mà tâm trạng bùa phép, ma thuật là như thế nào? Bùa phép, ma thuật có đặc tính hễ có ai nhờ một thày bùa, thày pháp làm, thì dù ta có muốn hay không, ta ngủ hay thức, cái bùa phép ấy do sức ma quỉ cứ sẽ phát sinh hiệu lực. Tỉ dụ: Bà X. nhờ thày pháp “thư” hoặc “ếm” bùa một người tình địch, thì dù có người này muốn hay không, biết hay không biết, cái bùa cái ngải đã được nhét dưới gối, hay pha vào nước cho họ uống thế là họ bị. Nên có nhiều người bị thư, bị ếm mà không biết do đâu. Bí Tích thì khác! Không phải linh mục cứ làm các phép trên mình ta, là nó sinh ơn, dù muốn hay không muốn, dù ta chia trí lo ra, bơ thờ, nguội lạnh, khô khan.
Ai hiểu Bí Tích như thế là coi Bí Tích là ma thuật, phù phép. Ai chịu Bí Tích cách ấy là chịu Bí Tích với tâm trạng ma thuật, phù phép, thành thử chịu Bí Tích không nên, không ích lợi thiêng liêng, chưa kể nếu có ý xấu thì còn phạm thánh nữa.
Không! Bí Tích không phải bùa phép, ma thuật. Nó chỉ sinh ơn trong người nào, khi người ấy muốn cách tự do, người đó ước ao, khao khát và tin tưởng mà chịu. Anh chị em có thấy sự khác nhau chưa?
Lý do đơn giản là: Trong Bí Tích, chính Chúa Giêsu hiệu diện và hoạt động. Mà Chúa tôn trọng sự tự do của ta, Ngài chỉ hoạt động và ban ơn cứu độ cho ai kết hợp với Ngài bằng lòng tin, lòng mến, lòng khao khát. Ngài không như ma quỉ áp đặt bùa phép, bất chấp ta muốn hay không, để làm hại ta. Đó là ngón chuyên môn của ma quỉ. Còn Chúa chỉ ban ơn cho ai thật lòng muốn, muốn cách tự do, muốn cách ý thức và tin tưởng vào Ngài. Vì Ngài yêu thương, nên Ngài tôn trọng ta, tôn trọng là dấu yêu thương cao độ. Thử hỏi, có thật là tình yêu nữa không, khi bắt ép người ta lấy mình, cho dù người ta không muốn, không yêu mình? Câu chuyện vô tuyến truyền hình “I-sau-ra” đã cho thấy rõ: Lê-ông-chi-ép ép nàng I-sau-ra phải lấy ông ta..., ông ta tưởng là ông yêu nàng. Ngay cả ông đã từ chối bán nàng 15 triệu rây, ông cho là bằng chứng to lớn của tình yêu. Nhưng Isaura đáp: Đó không phải là tình yêu, đó chỉ là ham muốn chiếm đoạt, đó chỉ là đam mê... Vì tình yêu là một tình cảm trong sáng và sinh ra điều thiện. Vì tình yêu là tôn trọng người kia...
Nói tóm, Chúa Giêsu hiện diện trong các Bí Tích, và Ngài hoạt động qua các Bí Tích. Vì Chúa hiện diện trong đó, cho nên ta phải lấy lòng tin, lòng mến, lòng khao khát, sốt sắng mà kết hợp với Ngài, thì Ngài mới thông truyền ơn sang cho ta. Các dấu Bí Tích chỉ là phương tiện bề ngoài, tự nó không là chủ các ơn, nên tự nó không ban ơn. Ơn thì chỉ mình Chúa Giêsu ban được mà thôi. Nhưng Chúa dùng các lời và các vật, các dấu tích bên ngoài ấy để mà ban ơn. Tỉ như khi ta chặt cây bằng dao. Tuy là lưỡi dao chặt, song lại nhờ sức ở tay ta chuyền qua nó. Tay có tài khéo, thì chặt ngay ngắn, tay vụng về thì chặt nhem nhúa. Ơn là sức của Chúa truyền qua; các lời, các vật, các dấu tích bên ngoài (nước rửa tội, rượu, bánh thánh, dầu...) là con dao Chúa sử dụng. Cho nên, đi chịu một Bí Tích là đi gặp Chúa đang hiện diện ở đó, và kết hợp với Ngài bằng tin, mến, khát khao..., để Chúa chuyển ơn qua đó cho ta (trích phỏng theo tài liệu: “Tin lành cứu rỗi” của Cha Trần Hữu Thanh, DCCT, bài 24, Đà Lạt, 1962).
Tích truyện
Thời cổ ở nước La mã, có vài ông Hoàng Đế, khi lên ngôi thì ngày đăng quang có tục lệ tung tiền cho dân đang tụ họp ở đó nhặt. Một gần kia, có một Hoàng Đế tung ra một số những tấm giấy, chứ không tung tiền như mọi khi. Có rất nhiều người dân không biết giá trị của các tấm phiếu ấy, thấy những tấm giấy ấy, họ nghĩ là vô giá trị, không thêm nhặt. Chỉ có vài người khôn, biết giá trị thì hết sức chịu khó nhặt. Hoá ra đó là những tấm ngân phiếu, cầm đem vào ngân khố đổi ra thành tiền. Những người khôn ấy đã chẳng mấy chốc trở nên triệu phú.
BÀI LỜI CHÚA 64
LÃNH HAY THAM GIA
Trích sách Xuất hành, ch.14 (tiếp)
Có tin báo cho Vua Ai cập là dân Israen đã chạy trốn rồi. Bấy giờ, vua Pha-ra-ông đổi lòng:
- Tại sao ta lại thả Israen ra đi để chúng khỏi làm tôi ta?
Ông cho thắng xe trận, điểm 600 chiến xa và kỵ binh đuổi theo... Đang khi đó, Israen đã đến gần biển, thấy dân Ai cập đuổi đến nơi thì khiếp sợ quá đỗi, và đã kêu lên Yavê...
Yavê phán với Môsê:
- Hãy bảo con cái Israen cứ trẩy đi, còn ngươi hãy nâng gậy lên..., hãy rẽ nước biển làm hai, cho chúng nó đi vào lòng biển chân khô ráo...”
Môsê giơ gậy trên biển... và Yavê đã làm cho nước rẽ thành hai. Nước đã nên như tường thành hai bên tả hữu: Israen đi vào trong lòng biển, chân khô ráo. Quân Ai cập thốc đuổi cũng vào theo sau tận trong lòng biển. Và xảy ra là vào lối sáng sớm, Yavê trên cột lửa và mây, ngó sang phía quân Ai cập, và gieo tán loạn... làm xiêu vẹo bánh xe chúng và chúng phải vất vả đẩy xe đi. Thấy vậy, chúng bảo nhau:
- Chết ta rồi, Yavê, Chúa chúng thờ đang chiến đấu bênh vực chúng chống lại ta. Hãy mau chạy trốn!
Nhưng không kịp nữa rồi! Yavê đã dạy Môsê cầm gậy giơ trên biển, và biển đã ập lại như cũ, nhận chìm xe trận và kỵ binh, không còn mống nào sống sót.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Ta vừa nghe: dân Israen tin cậy vào Chúa, nghe theo lệnh Chúa đi vào lòng biển không nao núng... và đã được cứu thoát. Đó là điều ta học hôm nay, phải đi vào trong đường Chúa bày sẵn cho ta mới được cứu Ở đây, con đường Chúa bày ra là các Bí Tích. Nhưng ta hãy đi từ đầu: tại sao Chúa lại bày ra các Bí Tích?
1/ Hồi nguyên thuỷ, khi tất cả trời đất và muôn vật côn phục tùng Thiên Chúa, tuân theo các luật của Người, lúc ấy, Thiên Chúa trị vì trên tất cả loài người cũng như thiên nhiên, trật tự được ổn định. Đó là thời hoàng kim, muôn vật đều được yên ổn và loài người hoàn toàn hạnh phúc, vì sống trong tình nghĩa với Thiên Chúa, hoà thuận với nhau.
Nhưng từ khi ma quỉ xuất hiện, xúi giục họ và họ đã dại dột nghe theo mà bất tuân ý Chúa, phản nghịch với Thiên Chúa (được Kinh Thánh mô tả bằng câu chuyện ăn trái cấm). Từ đó, mọi sự đã bị đảo lộn: con người từ chối không chịu vâng phục, tức là từ chối quyền trị vì của Chúa, họ đã bị án phạt: không những mất tình nghĩa với Chúa, mà còn phải chết, phải làm lụng vất vả, chịu nhiều đau đớn, cực khổ... Nói tóm là mất ơn cứu độ, mất hạnh phúc đời này và đời sau. - Tình cảnh kể trên của loài người được minh hoạ trong sự tích Quả dưa hấu, đã chiếu trên màn ảnh nhỏ cách đây không lâu. Tương truyền Thái Tử An Tiêm đang sống sung sướng trong Hoàng cung, được Vua Cha yêu quí. Nhưng có hai ông quan ghen tị, rình dịp làm hại. Một hôm, Vua Cha muốn tuyển hoàng tử nào xứng đáng nhất để truyền ngôi. An Tiêm được trúng tuyển. Để làm bằng, Vua Hùng Vương trao cho chàng thanh bảo kiếm. Nhưng chàng không nhận vì xét mình bất xứng. Hai ông quan kia đem câu chuyện xuyên tạc đi rồi mách lại với Vua. Vua Hùng Vương nổi giận, truất hết mọi công danh, phú quí và đày An Tiêm ra một đảo hoang vu, cằn cỗi để lao động cực nhọc và chết ở đó, vì Vua Cha cho rằng chàng đã bất phục tùng. Sau nhờ trồng được quả dưa hấu, nên đã được cứu.
Câu chuyện cho thấy bất phục tùng, phản nghịch gây nên bất hạnh đến chừng nào.
Trở lại tình trạng khốn đốn của nhân loại, ta sẽ hỏi: Có ai đứng ra làm trung gian phục hồi lại địa vị hạnh phúc cũ cho nhân loại không? Thưa: có! Đó là Đức Giêsu Kitô!
2/ Công việc của Đức Giêsu sẽ làm là: thiết lập lại trật tự đã đổ vỡ, phục hồi lại quyền trị vì của Thiên Chúa bằng hai mặt:
- Đối với ma quỉ: Ngài tiêu diệt các ảnh hưởng, các quyền lực của chúng.
- Đối với loài người: Gỡ họ ra khỏi quyền lực của ma quỉ, đem họ trở về phục tùng Thiên Chúa, được ơn tha thứ, được lại ơn nghĩa với Thiên Chúa, và được hạnh phúc.
Đức Giêsu dùng việc gì để thực hiện công trình lớn lao ấy? Thưa: bằng lời giảng dạy chân lý Nước Trời và nhất là bằng cuộc tử nạn làm lễ hi sinh đền tội, và sau đó là bằng sự sống lại để ban sự sống thần linh. Rồi Chúa gói ghém tất cả công cuộc ấy trong các Bí Tích, để ai đến lãnh thì được cứu độ. Có điều là Đức Giêsu thực hiện việc phục hồi và giảng hoà đó giúp ta, nhưng không làm thay thế ta, để ta chỉ ngồi chờ ơn tha thứ rớt từ trời xuống. Nói thế không ngoa đâu! Chẳng phải từ trước đến nay, hầu hết chúng ta đều nghĩ như thế sao? Không phải ta vẫn coi các Bí Tích như các máng chuyển ơn xuống cho ta, và ta chỉ việc ngồi chờ lãnh mà thôi sao?
Vậy đúng hơn, ta phải tham gia, phải đi vào, phải thông dự vào cái chết và sống lại của Chúa Giêsu, ở trong đó, ta được gặp Chúa Cha, lãnh ơn tha thứ, được giảng hoà, được cứu độ. Cứ lấy câu chuyện An Tiêm trên kia làm ví dụ. Khi chàng đang bị đầy ải nơi đảo hoang vu ấy, mà giả tỉ có ai đứng ra làm trung gian đến xin Vua Hùng Vương tha tội cho, thì người đó sẽ dẫn chàng đi cùng mình đến đền Vua, vào gặp Vua mà quì phục xuống xin ơn tha thứ.
Đây cũng vậy, Đức Giêsu đã dùng sự chết và phục sinh mà giảng hoà ta với Thiên Chúa, Ngài sẽ dẫn dắt ta vào cùng gặp Chúa Cha, quì phục xuống lãnh ơn tha thứ, ơn cứu độ. Nói bóng bẩy như thế chỉ cốt để bảo rằng: ta phải tham gia, thông dự vào sự chết và phục sinh của Chúa Giêsu, khi ta lãnh các Bí Tích. Bí Tích nào cũng vậy, song ở Bí Tích Rửa tội thì rõ rệt hơn cả. Đầy ta hãy nghe Thánh Kinh dạy về điều ấy: “Chẳng lẽ anh em không biết rằng: khi ta chịu phép Rửa tội, thì chính trong sự chết của Ngài mà ta được dìm vào ư? Vậy khi ta chịu Rửa tội là ta vào nằm trong mồ đá để được mai táng làm một với Chúa Giêsu trong sự chết, ngõ hầu như đức Kitô, khi Ngài được quyền phép của Chúa Cha làm cho sống lại ra khỏi mồ đá, thì cả ta nữa, ta cũng được ngoi lên khỏi mồ đá sự chết, mà bước đi trong đời sống mới” (Rm 6.3-4).
Rồi Thánh Kinh kết luận: “Nếu ta có cùng vào chịu chết với Chúa Giêsu như thế, thì ta mới sẽ được cùng sống lại với Ngài”, mới được ơn tha thứ tội, được giảng hoà, được ơn nghĩa với Chúa (Rm 6.5).
Đó, anh chị em thấy rõ chưa? Chịu Bí Tích là thông dự, là tham gia vào cái chết và sống lại của Chúa Kitô như thế, chứ có đâu chỉ là một sự thụ động, chờ lãnh một cái ơn, y như thể lãnh một thùng quà của ngoại quốc gửi về!
Trong bài Kinh Thánh hôm nay ta đọc trên đầu, Chúa cũng dạy về sự tham gia ấy: dân Israen đang nguy ngập, thấy cái chết ập đến sau lưng: quân đội Ai cập đuổi đến nơi, trước mặt có biển chắn ngang. Họ đã kêu van Thiên Chúa, Chúa đã nhậm lời, bảo Môsê giơ tay cầm gậy lên rẽ biển thành hai cho dân đi vào ráo chân. Giả sử thấy lòng biển rẽ ra, hai bên nước dựng đứng như tường thành, họ đâm sợ mà không dám đi vào, vì sợ nhỡ nước ập xuống đè chết, thì họ đâu có được cứu thoát! Họ phải vâng lời Chúa, tin cậy vào lòng lành của Chúa, vào quyền phép Người mà đi vào lòng biển, chẳng khác gì đi vào sự chết; nhờ đó họ mới sang đến bờ bên kia mà sống, còn dân Ai cập, thì bị Môsê giơ gậy cho biển ập vào chết không còn một mống.
Ở những kỳ sau, ta sẽ học hỏi: Tham gia và thông dự vào cái chết và phục sinh ấy như thế nào, cách nào?
Ở bài hôm nay, tạm thời chúng ta rút ra một điều thực hành về sự tham gia ấy như sau: khi đi chịu bất kỳ Bí Tích nào: phép Giải tội, phép Mình Thánh, Rước lễ, Thánh Lễ..., ta hãy giục lòng tin rằng:
“Lạy Chúa Cha, con cùng Chúa Kitô đi vào gặp Cha trong Bí Tích mầu nhiệm này đây! Con tin chắc con sẽ được Cha ban cho con sự sống của Cha!”
Tích truyện
Xưa bên Tâu có một ông vua bị một người em âm mưu cướp ngôi. Thất thế, vua phải cùng quần thần chạy trốn, bỏ hoàng cung, phi tần, mỹ nữ, gấm vóc lụa là, yến tiệc, giàu sang phú quí... Người em lên ngôi, liền đem quân đuổi theo để tróc nã cho kỳ giết được mới thôi. Vua anh chạy trốn ngày này đến ngày nọ. Vì quá lâu và gian nan tân khổ, cho nên các quần thần dần dần nản chí, bỏ trốn hầu hết, chỉ còn vài người hết sức trung thành, quyết theo phò giá cho đến cùng. Có ngày chạy lạc vào rừng, không còn gì ăn, vua tôi đều đói lả. Cả khi đi săn bắn về chẳng được con gì. Chẳng lẽ để vua chết đói sao? Thế rồi, đến bữa, vua bỗng thấy được ăn một bát cháo thịt rất ngon. Mãi mấy ngày sau, vua mới biết là có một trong mấy trung thần cùng theo vua trong gian khổ, đã thương vua, nên cắt thịt đùi nấu cháo vua ăn. Vua vô cùng cảm động. Đến sau, nhờ hồng phúc tổ tiên, Vua đã tập trung được quân đội, kêu gọi người hiền tướng giỏi. Nhiều binh tướng trước kia theo người em chiếm ngôi, nay thấy Vua em càng ngày càng lộ chân tướng tàn ác, hoang dâm, nên đã quay về với Vua anh... Chẳng bao lâu, thế quân đã mạnh, Vua anh bèn đem quân sĩ về đánh chiếm lại ngai vàng. Lúc khải hoàn, người được Vua khen thưởng trước tiên không phải là vị nguyên soái đã chiếm lại được Kinh đô, mà là vị trung thần đã xả thịt nấu cháo Vua ăn:
- Năm trước, đang khi mọi người bỏ Trẫm vì không chịu nổi cảnh nằm gai nếm mật, chỉ có khanh và vài quần thần nữa vẫn cứ một dạ trung quân theo Trẫm. Hơn nữa, ngày Trẫm lâm nạn, không còn lương khô, đói khát trong rừng sâu, khanh đã không tiếc thân xẻ thịt mình nấu cháo cho Trẫm ăn. Nhờ công trung nghĩa của khanh, nhờ sự hi sinh của khanh, mà hôm nay Trẫm mới lấy lại được ngôi của Tiên Đế. Nhờ những hi sinh cao cả ấy mà hôm nay mới có ngày vinh quang. Vậy thì khi gian nan, khanh đã đồng cam khổ, thì lẽ tất nhiên ngày nay Trẫm ngự ngai cửu trùng vinh hiển, khanh cũng phải được chung phần vinh hoa phú quí với Trẫm.
Sau đó, Vua đã thăng thưởng cho quan ấy công hầu nhất phẩm triều đình, xây cho một dinh cơ đồ sộ, với gấm vóc lụa là ngàn tấm, bạc vàng mấy ngàn lượng, cùng lọng vàng, cờ quạt và tướng sĩ, kẻ hầu người hạ vô vàn vô số
Như vậy đó, phải đồng cam thống khổ mới đồng dự vinh quang.
BÀI LỜI CHÚA 65
THÔNG TRUYỀN SỰ SỐNG
Trích sách Khởi Nguyên, ch.2.4tt
Vào ngày Thiên Chúa làm ra đất trời, thì trên đất chưa có cây cối, ruộng vườn nào, vì Thiên Chúa chưa cho mưa xuống trên đất và chưa có người để canh tác đất đai... Thiên Chúa đã nắn hình người với bụi lấy từ đất đai rồi Ngài hà hơi sống vào mũi nó và người đã thành vật sống.
Và Thiên Chúa đã trồng vườn cây ở Ê-đen, Ngài đặt con người đã được Ngài nắn ra vào trong vườn đó. Thiên Chúa đã cho tự đất mọc lên mọi thứ cây coi sướng mắt và quả thì ăn ngon lành. Chúa còn đặt một cây sự sống ở giữa vườn, cùng cây biết lành dữ. Một con sông từ Ê-đen chảy đến để cho vườn có nước uống. Thiên Chúa đã đem con người đặt trong vườn diệu quang ấy để nó canh tác và giữ vườn.
* Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Bài Kinh Thánh trên đây kể sự tích Thiên Chúa dựng nên con người đầu tiên, là một bài tả rất cổ xưa và bình dân đến mức ngây ngô, làm như thể Thiên Chúa có chân tay mà nắn như ông thợ gốm nắn hình đúc tượng... Tuy vậy, ý nghĩa đạo lý của nó lại sâu sắc: đang khi Chúa tạo dựng thì làm như ông thợ gốm, còn khi nắn xong con người từ bụi đất thì Thiên Chúa có làm một việc hơn ông thợ gốm: là lấy hơi sống từ trong mình Chúa mà truyền vào con người, và con người từ đó là một vật có sự sống của Thiên Chúa. Độc nhất vô nhị trong mọi loài mọi vật, chỉ loài người là có sự sống của Thiên Chúa!
Nhưng, sau này chúng ta được biết là con người vì nghe ma quỉ xúi giục đã phạm tội, đánh mất sự sống lạ lùng ấy đi. Làm sao để có lại đây? Không có sự sống ấy thì con người sẽ hư mất đời đời, tức là bất hạnh, khổ não vô cùng, muôn đời ngàn kiếp.
Công việc lấy lại sự sống ấy cho ta, là công trình của Chúa Giêsu Kitô. Ngài lập công chịu chết đền tội cho ta, để xin Chúa Cha ban lại sự sống ấy. Và khi đã được rồi, thì Ngài thông truyền lại cho ta. Sau đây, xin trích bài của Cha Trần Hữu Thanh (“Tin lành cứu rỗi”, bài 24, Dalat, 1962):
“Thường người đời lúc sắp đi xa thì nói với gia đình và bạn hữu tiếng từ giã, và lúc sắp chết lại nói tiếng vĩnh biệt!
Đức Chúa Giêsu, trái lại, lúc sắp chịu chết lại nói với môn đệ: “Thày không để các con mồ côi đâu! Thày sẽ đến cùng các con. Còn ít lâu nữa, thế gian chẳng còn xem thấy Thày, nhưng các con sẽ thấy Thày, vì Thày sống và các con cũng sẽ sống” (Ga 14.19). Chỉ một mình Đức Giêsu nói được những câu lạ lùng đó. Đi mà còn ở lại, ở lại mà chúng con thấy được, còn thế gian không thấy.
Chúa Giêsu không nói về bản tính Thiên Chúa của Ngài. Bản tính Thiên Chúa tất nhiên là không thấy được, cho dù nó ở khắp mọi nơi. Chúa nói về bản tính loài người của mình mà Ngài đã mặc lấy khi xuống thế làm người. Và Ngài bảo: các môn đệ sẽ thấy Ngài đến lại, vì họ sẽ được sống như Ngài sống. Mà đó là mục đích của việc Ngài xuống thế làm người.
1/ Vậy ta hãy xem: là Ngôi Lời Thiên Chúa (hoặc ta thường gọi là Ngôi Hai, Chúa Con), nên Chúa đầy sự sống, đầy vinh quang, đầy ơn sủng. Ngài xuống làm người là để đem cả cái kho tàng sự sống ấy ban cho loài người, để loài người cũng trở nên giống Chúa.
Nhưng chỉ ai tin và chịu Phép Rửa tội mới lãnh được sự sống ấy. Chẳng phải chúng ta thường nói: chịu phép Rửa tội thì được ơn nghĩa, được ơn thánh sủng của Chúa đấy ư? Mà ơn nghĩa, ơn thánh sủng là gì? Thưa: là chính sự sống của Đức Chúa Trời Ba Ngôi thông truyền cho ta, để biến hoá ta là loài phàm hèn nên giống Chúa Ba Ngôi, vì chưng có sự sống của Chúa. Đó là điều mà ta thấy đoạn Kinh Thánh trên kia tả qua hình ảnh Thiên Chúa Yavê hà hơi sống vào mũi con người. Sự sống thần linh ấy, Đức Chúa Cha đã từ đời đời thông qua cho Đức Chúa Con (Ngôi Lời) như ngọn đèn thông ánh sáng ra. Mọi sự sang trọng tốt đẹp, cả bản tính Đức Chúa Cha chuyền qua cho Chúa Con hết. Nên Cha sinh Con mà Cha Con bằng nhau, tốt đẹp như nhau.
2/ Khi xuống thế mặc xác trong lòng Đức Mẹ, Đức Chúa Con lại thông truyền qua cho bản tính loài người của mình, nhất là khi sống lại, đến nỗi Thánh Phaolô nói rằng: “Trong phần thể xác Đức Giêsu, có đầy tràn tất cả sự Viên Mãn của bản tính Thần linh của Thiên Chúa” (Cl 2.9). Vì thế, cả hồn xác Đức Giêsu đầy dẫy sự sống Thiên Chúa, đầy dẫy ơn nghĩa (Ga 1.14).
3/ Ta muốn được ơn nghĩa, được sự sống của Thiên Chúa để nên con cái Chúa thật, ta phải kết hợp với bản tính loài người của Chúa Giêsu. Đó là ý nghĩa câu Đức Giêsu nói: “Ta là cây nho, các ngươi là nhành; ai lưu lại trong Ta, kẻ ấy sinh nhiều hoa trái, còn ai không lưu lại trong Ta, thì sẽ bị quăng ra ngoài và khô héo đi” (Ga 15.5-6). Vì không có nhựa sống từ cây chuyền sang, thì cây khô héo đi, không còn sống mà cũng chẳng sinh hoa trái tốt lành gì. Còn ai đón nhận Chúa Giêsu, kết hợp với Ngài, thì Ngài cho quyền làm con Thiên Chúa, được tái sinh..., và do tự sự sung mãn của Ngài mà họ lãnh được hết ơn này đến ơn khác (x. Ga 1.16).
Như vậy, ở trong Đức Giêsu, lưu lại trong Ngài, kết hợp với Ngài, thì được Ngài truyền sư sống Thiên Chúa sang cho.
Sự kết hợp này là thế nào?
Thưa: là một sự kết hợp mầu nhiệm, trí ta không hình dung ra được, chỉ lấy những ví dụ mà so sánh: Trên kia, Chúa Giêsu đã so sánh việc ta kết hợp với Ngài như cành nho kết hợp với thân cây nho. Thánh Phaolô sau này lại nói rõ hơn: như chi thể hợp nhất với thân thể và với đầu thành thân thể mầu nhiệm. Có kết hợp mật thiết như thế, sự sống mới chuyền qua được.
4/ Nhờ cái gì mà ta được kết hợp với Chúa mật thiết như vậy? Thưa: nhờ bí tích.
Như trên đã nói: nhờ tin vào Chúa Giêsu và chịu phép Rửa nhân danh Ngài. Thánh Phaolô nói rõ: “Hết thảy các tín hữu, được nhờ Phép Thanh tẩy mà nhập vào Thân mình độc nhất (là Chúa Giêsu), và hết thảy ta đã cùng được uống Thần Khí” (tức là được no nê sự sống Thiên Chúa) (1Cr 12.13).
5/ Ở đây, chắc có người thắc mắc: làm sao ta như thế này, là những con người đang sống ở trần gian mà kết hợp với thân xác Đức Giêsu ở trên trời được?
Đáp: Nếu thân xác hiện thời của Chúa Giêsu mà vẫn chỉ nguyên là xác phàm hèn như chúng ta, thì ta không thế kết hợp được. Nhưng thân xác của Chúa, sau khi dâng mình tế lễ trên thập giá để đền tội ta, thì xác đó đã được Đức Chúa Cha cho sống lại, làm cho cả sáng lên, vinh hiển lên, làm cho thần linh hoá. Mà đã thần linh hoá, thì không gian và thời gian không ngăn cách Ngài với ta được. Xác ta thì khác, xác ta ở đâu thì chỉ ở đó, muốn đến đâu thì phải đi, và hoạt động tại nơi đó mà thôi, ta sống ngày giờ nào thì hoạt động ngày ấy, giờ ấy. Thân xác thần linh hoá của Đức Giêsu thì hoạt động khắp nơi và cùng mọi thời gian.
Hiện nay, nói nôm na là xác Chúa ở trên trời (không phải là ở trên không trung hay trên mây đâu), song là cách nói để chỉ Đức Giêsu đang ở trong Thiên Chúa, mà Thiên Chúa thì ở khắp mọi nơi, không xa ta, không ở trên ta. Vì thế, Đức Giêsu bảo: “Nước Trời ở giữa các ông”. Vì thế, nếu ta tin vào Chúa và chịu Bí tích Rửa tội, là ta được nhập vào trong Chúa tức khắc, làm chi thể Chúa, làm nhánh nho gắn liền với thân nho, là ở trong Chúa và Chúa ở trong ta, và tức khắc, sự sống thần linh của Ngài truyền sang ta ngay. Mắt ta không thấy, trí ta khó hiểu, song Chúa đã phán thật, Thánh Kinh và Hội Thánh đã dạy, ta hãy tin vững vàng.
Đó là mầu nhiệm của đạo ta!
Mầu nhiệm tuy ta không thấy và không hiểu rõ, vì là việc Chúa làm thì nó phải cao cả, vĩ đại, xứng với sự cao trọng siêu vời của Chúa. Cũng như một nhà bác học làm một điều gì kỳ diệu, con nít làm sao mà hiểu nổi, tất nhiên nó cũng sẽ bảo đó là một sự mầu nhiệm quá trí suy lường của nó. Huống chi Chúa còn cao trọng và thông minh hơn nhà bác học vạn phần.
Kết luận: Tuy là mầu nhiệm, song Chúa lại làm cho ta hưởng, nó liên can đến ta, nó có ích cho ta, nó can hệ đến phần rỗi đời đời của ta, đó là:
Tin vào Chúa Giêsu và chịu Bí Tích Rửa tội, tức thì được kết hợp với thân xác, (hoặc nói cách thần học hơn) với nhân tính Đức Giêsu, và tức khắc được thân xác ấy truyền sang cho ta sự sống thần linh của chính Thiên Chúa; và do đó, được làm con cái Thiên Chúa và được thừa kế gia nghiệp là Nước Trời và cả vũ trụ.
Kể ra làm người công giáo như thế cũng sướng thật! Ta hãy tạ ơn Chúa và hãy vui mừng! Hãy sống sao đừng mất ơn thánh sủng để chờ ngày vào trong hạnh phúc toàn vẹn với Chúa!
Tích truyện
Một cậu bé da đen đi học ở một trường mà phần đông là trẻ da trắng, bao phen thấy nó mình đen thui, đen thủi, nên chê cười chế nhạo. Đau khổ nhiều mà không biết làm sao tránh khỏi. Mãi một hôm, cậu bé nghĩ bụng: mình sẽ thay đổi nước da. Và nhất định làm theo dự định đó. Bữa nọ, thày giáo thấy vắng mặt cậu, bên hỏi đám học sinh. Một trò thưa rằng thấy cậu bé đi đằng sau trường, phía khu rừng có lạch nước, đang dùng cát kỳ cọ hai cánh tay đen. Thỉnh thoảng, nó dừng tay, rửa cát dính vào da, rồi nhìn xem màu da đen mất chưa. Chao ôi! Đau rát hết sức mà vẫn mất công toi, màu đen vẫn còn y nguyên. Vài phút sau, thày giáo gọi cậu:
- Này em, làm gì đấy?
Cậu giật mình thưa:
- Em cố sức trừ bỏ da đen, để nên người da trắng, song không sao được.
Về phần linh hồn cũng vậy, dù ta cố gắng mấy cũng không thể làm cho linh hồn đen đủi, tội lỗi trở nên trắng tinh và thánh thiện được. Cũng như phải có máu da trắng chuyền vào mới thành da trắng, thì cũng phải có ơn sủng của Chúa chuyền vào linh hồn mới làm ta nên trắng sạch, thánh thiện và trở nên con Thiên Chúa. Chính Đức Giêsu chuyền cho ta ơn sủng ấy.
BÀI LỜI CHÚA 66
MẶT CHÌM MẶT NỔI CỦA BÍ TÍCH
Trích Tin Mừng Thánh Máccô, ch.5
Cùng với các môn đệ, Đức Giêsu đi đến nhà ông Trưởng Hội Đường, tên là Yai-rô, có đông dân chúng theo Ngài. Trong đoàn lũ ấy, có một phụ nữ bị bệnh mất máu đã 12 năm, bà đã đi chữa ở một số đông thày thuốc, nhưng tiền thì mất tật vẫn còn, lại ra tệ hơn nữa. Trong cơn khốn khổ ấy, hôm ray, bà được nghe đồn về Đức Giêsu, bà bỗng chợt nghĩ:
- Dẫu tôi chỉ rờ được áo choàng của Ngài, tôi cũng được cứu chữa!
Không chần chừ, bà chen vào đám đông, để gần Đấng Cứu Thế và rờ áo choàng của Ngài. Tức khắc, dòng máu đang chảy liền ngưng. Bà biết nơi thân mình đã được lành bệnh rồi. Bà đang khoan khoái vì mưu mẹo của mình thành công, thì chính lúc đó, Đức Giêsu quay lại nhìn đám dàn chúng sau lưng và hỏi với giọng nghiêm nghị:
- Ai đã rờ áo Ta?
Mọi người đều ngơ ngác nhìn nhau. Các môn đệ mới nói với Ngài:
- Dân chúng chen lấn chung quanh Thày tứ phía như thế này, mà Thày hỏi ai rờ đến Thày sao?
Đức Giêsu đáp:
- Có kẻ đã rờ đến áo Ta một cách cố ý, vì Ta thấy có sức nhiệm từ mình Ta xuất ra làm một phép lạ!
Nói xong, Ngài ngó quanh như để tìm ra kẻ đã làm thế. Tia mắt Ngài chiếu thẳng vào người phụ nữ vừa được lành bệnh. Biết không còn có thể trốn tránh, bà ấy run sợ, đến sấp mình trước mặt Ngài và nói cho Ngài biết tất cả sự thật đã xảy ra cho bà. Thay vì trách mắng sự liều lĩnh của bà, Thày nhân lành lại nói:
- Đừng sợ! Lòng tin của con đã cứu chữa con. Hãy đi bằng yên và lành hẳn tật nguyền của con!
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Ở đây, ta thấy có ba chuyện. Một: việc sờ áo bên ngoài, hai: lòng tin bên trong, ba: sức nhiệm mầu từ Chúa xuất ra chữa bà ấy lành. Tự nó, việc sờ cái áo không thể có sức chữa lành. Chính quyền lực nhiệm mầu bên trong của Chúa chữa lành, nhưng lại như thể chuyền qua cái áo ấy mà chữa. Nhưng nếu bà ta không có lòng tin, thì sức nhiệm mầu của Chúa sẽ không chuyền qua, cho dù có sờ áo đến trăm lấn. Thực vậy, dân chúng chen lấn đụng chạm đến áo Chúa có hàng trăm lần, mà không thấy ai được ơn gì. Vậy, lòng tin mới mở được sức nhiệm mầu và nhận được ơn chữa lành.
Giai thoại này là hình bóng cho thấy về Bí Tích cũng vậy, có ba chuyện: một, mặt nổi bề ngoài là các dấu tích: như nước, rượu, dầu xức...; hai, mặt chìm bên trong: ơn thánh Chúa; ba, lòng tin của người đến lãnh Bí Tích. Người đến lãnh Bí Tích, thì bên ngoài thấy họ làm một cử chỉ, chẳng hạn: lãnh hình bánh, lãnh dầu xức... Còn bên trong, Thiên Chúa chuyền ơn thánh, sự sống Thiên Chúa, thịt mình Chúa Kitô, hoặc sức mạnh của Chúa Thánh Thần..., tuỳ theo Bí Tích. Nhưng họ chỉ lãnh được các ơn thần linh ấy, nếu họ có lòng tin, lòng sốt sắng, lòng khao khát.
Điều mà chúng ta phải học, đó là: phải vượt lên ý nghĩ đi lãnh Bí Tích là lãnh cách thụ động một ơn gì đó, để đạt tới ý nghĩ cốt yếu này: Thiên Chúa can thiệp vào đời ta và làm một hành động cứu độ nơi ta. Nói cách khác: Bí Tích là một biến cố đổi đời ta, chứ không chỉ là lãnh một ơn nho nhỏ gì đó.
Bây giờ, ta thử tìm hiểu điều đó. Trước hết, xin anh chị em đừng thối chí vì mấy bài kỳ này hơi khó và khô khan. Chúng ta đang học giáo lý mà; mà giáo lý cấp cao nay ta đang học lại gọi là thần học cơ đấy!
Vậy có hai mặt: mặt chìm và mặt nổi, như trên đã cắt nghĩa:
1/ Mặt nổi thì dễ hiểu: khi ta đi chịu Phép Bí Tích, ta thấy Thày cả trao hình bánh, rượu cho ta chịu lấy; hoặc khi đi xưng tội, ta thú tội rồi, linh mục giơ tay và đọc lời xá giải; hoặc khi chịu phép Hôn Phối, thì hai bên nam nữ trao nhẫn và nói lời cam kết coi nhau là vợ chồng... Các Bí Tích khác cũng giống vậy. Đó chỉ là những dấu tích bề ngoài, các nghi tiết thấy được, do Chúa và Giáo Hội ấn định; nhờ đó, Thiên Chúa thông chuyền ơn thánh, tình yêu và sự cứu độ của Người cho ta bên trong.
2/ Mặt chìm: Đã chìm là ở sâu bên dưới hoặc ở bên trong, ta không thể lấy giác quan nhận thấy được. Cái chìm ấy, nói nôm na là ơn thánh, song như đã nói trên, cách nói nôm na ấy dễ làm ta lầm tưởng mà coi nó chỉ là một cái gì, một vật gì Chúa ban, ta lãnh cách thụ động. Kỳ thực, ta phải coi đó là một biến cố, một sự can thiệp của Thiên Chúa làm trong con người của ta, để cứu độ ta. Đây nhé, ta thử lấy đoạn thư Rm 6.1-11, ta sẽ thấy Thánh Phaolô dạy rằng: Bí Tích rửa tội là một sự can thiệp kỳ diệu của Thiên Chúa, biến đổi con người từ tình trạng tội lỗi và hư mất, sang tình trạng sống lại và sống một đời mới:
“Vậy, nhờ phép Thánh tẩy, ta được mai táng làm một với Đức Giêsu trong sự chết, ngõ hầu như Đức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, đã được sống lại từ cõi chết, cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới”.
Đọc câu Kinh Thánh ấy, anh chị em phải thấy ở trong Phép Rửa tội, Chúa Cha làm một hành động nhiệm mầu, lớn lao, thay đổi thân phận con người, Một giáo sư thần học rất lừng danh nói: “Trong Bí Tích này, một cái gì đã được thực hiện, một bước đã đi mà không bao giờ có thể lùi lại: trước đó, một người không phải là thành viên của Giáo Hội, Dân Thiên Chúa, bây giờ là thành viên”, nghĩa là trước kia, hắn là kẻ ngoại, mà số phận là phải trầm luân hoả ngục, nay trở nên con yêu dấu của Thiên Chúa. “Nếu sau đó, người ấy hoá ra bất trung, việc ấy sẽ không phải là một sự trở lui lại thân phận ngoại đạo cũ nữa. Một cái gì đã được thực hiện rõ rệt, nếu nó sa xuống hoả ngục, thì cũng với tư cách là con Thiên Chúa mà sa đoạ. Một biến cố đã xảy ra trong con người nội tâm: đó là người ấy bước vào trong Chúa Kitô, giờ đây ở trong Đức Kitô”. Thánh Gioan Kim Khẩu dạy người dự tòng rằng: Sau khi rửa tội, Thiên Chúa đã chôn vùi con người cũ và phục sinh họ thành một người mới, tái tạo họ thành một tạo vật mới...”. Một thành khác, Thêôđô, dạy: “Con được làm nghĩa tử của Thiên Chúa, ...được sinh ra lại và trở nên hoàn toàn khác hẳn”. Đó ta nghe chưa? Một biến cố, một sự mới lạ, kỳ diệu xảy ra trong ta, đổi thân phận con người ta từ đen ra trắng, từ ngoại đạo thành con Nước Trời.
Xin nêu một ví dụ nữa về phép xả giải. Cũng vậy, người tội lỗi là con chiên lạc, một đứa con hoang đàng, nay được trở về ràn, được về lại nhà Cha, và Cha đón tiếp, mừng rỡ, ôm con vào lòng hôn lấy hôn để, xỏ nhẫn vào tay, đi giầy vào chân, mở tiệc mừng và cả thần thánh trên trời đều mừng vui (ta nhớ lại bài Phúc Âm tình phụ tử và đứa con hoang đàng): đó là một biến cố, một sự hoà giải giữa hai cha con. Ta thấy đó, đâu phải là một việc rửa giặt sơ sài, tẩy uế tội phạm qua loa, một sự đổ rác vào thùng, cho lương tâm nhẹ nhàng, bớt cắn rứt. Trái lại, đây là một biến cố mãnh liệt, trong đó, quyền năng cứu độ của Máu Chúa Giêsu đụng đến thân phận người tội lỗi và cải hoá thân phận đó, để nó được đứng vào hàng ngũ những kẻ được cứu độ.
Về Bí Tích Thánh Thể cũng vậy: khi ta đi dâng lễ và lên rước lễ, thì đâu có phải chỉ là đi xin ơn, càng tệ hơn là làm một thủ tục Giáo Hội buộc, để khỏi mắc tội trọng. Trái lại, đó là đi đến hiệp cùng Chúa Giêsu mà tế lễ: đây là một tế hiến cao cả, lớn hơn cả tế lễ trời đất của dân ngoại, tế đàn Nam Giao của các Vua bên Tàu và Việt Nam ở Huế.
Đây là cuộc tế lễ trên núi Gôn-gô-tha xưa được “tái hiện” trên bàn thờ, ta được cùng Chúa Giêsu dâng lên Cha cái tế lễ đổ máu đào ấy để tru diệt tội lỗi của cả trần gian, như trong Tin Mừng nói: “Này là Chiên của Thiên Chúa, Đấng trừ khử tội lỗi của thế gian”. Nhờ tế lễ ấy, ma quỉ bị đánh bại, tội lỗi hết làm chủ trên ta. Rồi đến lúc rước lễ, ta được ngồi vào bàn tiệc, được thông hiệp, kết buộc với Chúa Giêsu, để như cành kết buộc vào cây thì nhựa sống của cây tràn sang mà làm nhành cày không khô héo, đáng vứt vào lò lửa, mà trái lại, được tươi tốt sinh hoa kết trái cho sự sống đời đời.
Các Bí Tích khác cũng thế, khỏi nói dài dòng, tuy mỗi Bí Tích lại mang sắc thái khác nhau...
Tóm lại, ta thấy ở bề chìm trong nội tâm, Bí Tích là những biến cố lịch sử, trong đó quyền năng cứu độ và yêu thương của Thiên Chúa đến tìm gặp người ta, để rứt họ ra khỏi thân phận tội lỗi và đưa họ vào trong cuộc sống thần linh, thân mật với Thiên Chúa. Vậy Bí Tích là một cái gì ăn vào đời sống, chứ không phải là sự phân phát ơn sủng đơn thuần, như kiểu rót nước vào chén; nhưng là một sáng kiến, một tác động của Thiên Chúa can thiệp vào vận mạng siêu nhiên của người tín hữu.
Thế còn phần ta, ta làm gì?
Mấy bài kỳ trước đã nói rồi: ta phải tích cực tham gia - một sự đáp ứng, một sự đón nhận, biểu lộ bằng đức tin. Cứ nhìn gương ông A-bra-ham: Thiên Chúa can thiệp vào đời ông, hứa cho ông nào làm Tổ phụ một dân đông đúc, cho ông đất hứa làm cơ nghiệp,... A-bra-ham đã đáp ứng lại thế nào? Bằng niềm tin cụ thể và hoạt động. Đây, Chúa phán: “Hãy bỏ quê hương, nhà cửa... Hãy đi đến một nơi xa Ta sẽ chỉ cho sau!”. Thế là ông tin, bỏ cả, lên đường đi, và Kinh Thánh cho biết là ông đi mà không biết mình đi đâu, vì Chúa chỉ nói: đến nơi mà ta sẽ chỉ cho sau. Lúc khác, Chúa hứa cho ông một dòng dõi đông đúc, thế mà, khi ông có được một cậu con trai là I-sa-ác, thì Chúa bảo phải đem nên núi kia, giết đi mà tế Chúa. A-bra-ham đã vững tin và làm theo, vì ông tin Chúa hứa cho một dòng dõi, vậy mất I-sa-ác, Chúa sẽ cho đứa con khác, nên ông cứ làm theo lời Chúa phán.
Gương Đức Mẹ Maria cũng. vậy. Điều này anh chị em đã biết nhiều rồi.
Tích truyện
Như trên đã nói: Bí Tích là biến cố, làm rồi thì không hồi lại, hoặc xoá bỏ đi. Giáo Hội mới dùng một hình ảnh để cho dễ hiểu rằng: đó là một ấn tích không thể xoá bỏ cho đến đời đời. Vì thế, có ông Hoàng Đế Rôma ngày xưa, tên là Giu-li-a-nô bội giáo, biết rằng Phép Rửa và Thêm Sức ghi ấn tín trên mình, nên sau khi bỏ đạo, ông ta muốn xoá ấn tích ấy, ông lấy đá cạo da trán, và cho giết bò dê tế thần để làm nhục Chúa, rồi lấy máu ấy tưới dội lên cả thân thể. Nhưng ông ta quên rằng: đấy là ấn tích thiêng liêng, một lần ghi và bề sâu của tâm hồn thì chẳng có gì vật chất xua nổi, cho dù ông đã chối đạo công khai.
BÀI LỜI CHÚA 67
KINH THÁNH CŨNG LÀ MỘT BÍ TÍCH
Trích sách Công Vụ Tông Đồ, ch.10+11
Ở thành Kai-sa-ria, có ông Côt-nê-liô, đại uý trong quân đội Rôm, rất thiện cảm với đạo Thiên Chúa, ông sống đạo đức, kính giới Yavê, rộng tay làm phúc bố thí và luôn cầu nguyện.
Chúa sai thiên thần đến bảo:
- Kinh nguyện và việc bố thí của ngươi làm, đã nên như của lễ dâng lên Yavê, nhưng như thế chưa đủ để ngươi được cứu rỗi. Ngươi hãy sai người đi rước Simon-Phêrô đến, để ông nói cho ngươi những lời, mà nhờ đó, ngươi và cả gia đình sẽ được cứu rỗi.
Thiên thần vừa biến đi, ông liền gọi hai gia nhân và một người lính sai đi rước Thánh Phêrô. Phêrô ngần ngại, vì phải đến và trọ ở nhà một người ngoại đạo, song trong một thị kiến, Chúa đã phán bảo là đừng ngại, cứ đi. Ông Phêrô đem theo sáu người đi cùng. Vào nhà ông đại uý Cót-nê-li-ô, ông này ra đón rước và kể lại chuyện thiên thần hiện ra thế nào, rồi ông ta kết luận:
- Vậy bây giờ, cả gia đình tôi tề tựu đây để nghe mọi điều Chúa truyền cho Ngài nói cho chúng tôi.
Thế là Phêrô mở miệng giảng:
- Chúa Giêsu Kitô đã xuống thế, đã được Thánh Thần xức dầu, đi giảng đạo, đi đến đâu thi ân giáng phúc, xua đuổi quỉ ma đang áp bức thống trị loài người đến đấy. Cuối cùng, Chúa bị người ta đóng đinh trên thập giá, song chết rồi, Thiên Chúa đã cho Ngài sống lại, và tôn làm Chúa Tể cùng đặt Ngài làm Thẩm phán trong ngày tận thế để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
Đang khi ông Phêrô nói các lời Chúa như thế, thì ông Cót-nê-li-ô hết lòng tin Chúa Giêsu, tin vào Chúa là Đấng Cứu độ độc nhất. Lòng tin ấy đã tẩy sạch ông khỏi mọi tội lỗi; cho nên, để làm dấu bề ngoài cho mọi người biết, Thiên Chúa đã ban Thánh Thần xuống cho ông và cả gia đình, khiến họ hân hoan vui sướng nói các thứ tiếng lạ mà cao rao Thiên Chúa. Thấy thế, Phêrô nói với mọi người:
- Nào ai có thể ngăn cấm những người này chịu Phép Bí Tích Rửa tội, vì họ đã được Chúa ban Thánh Thần cho họ rồi, cũng y như Chúa đã ban cho chúng ta ngày lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống?
Nói rồi, Phêrô ra lịnh thanh tẩy họ nhân danh Đức Giêsu Kitô, để họ được nhập vào Hội Thánh. Mọi người đều đồng thanh ngợi khen và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cả cho dân ngoại cũng được nghe Lời Chúa và được ơn sự sống.
* Đó là Lời Chúa! - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
Qua câu chuyện trên, ai ai đều thấy rõ: chính thiên thần Chúa dạy ông Cót-nê-li-ô đi mời Thánh Phêrô đến để nói những Lời, nhờ đó mà ông được cứu rỗi, ông và cả gia đình. Như thế, Lời Chúa có sức ban ơn cứu rỗi cho ai nghe và tin. Vậy, Lời Chúa là một Bí Tích, cũng như các Bí Tích khác có sức ban ơn cứu rỗi, có sức ban Chúa Thánh Thần.
Chỉ vì không hiểu như thế, nên vẫn có người ngạc nhiên tại sao lại gọi Thánh Kinh, Lời Chúa là Bí Tích. Ngạc nhiên như thế, phần lớn là vì người đó vẫn coi Bí Tích như cái máng thông ơn nọ, ơn kia, còn Kinh Thánh (Lời Chúa) thì có ban ơn gì đâu!
Nếu anh chị em chưa quên, thì từ các bài đầu của loạt bài nói về Bí Tích, chúng ta đã cố gắng dẫn giải rằng: Bí Tích không có mục đích ban các ơn lặt vặt, ơn nọ, ơn kia, nhất lại là các ơn vật chất! Vì thường ta hay nghĩ như thế, nên ta có nhiều thái độ lệch lạc. Chẳng hạn, ta dạy con cái rằng: Khi rước lễ xong, Đức Chúa Giêsu ngự vào lòng con, con hãy xin cho ba má khoẻ mạnh, làm ăn phát tài, để có tiền cho con ăn học; hoặc: con hãy xin cho con học hành tấn tới, cho em con khỏi bệnh...
Ví dụ khác: có vài người, bình thường rất khô khan, nay bỗng dưng thấy đi xưng tội, dự lễ, rước lễ hàng ngày. Bà con công giáo mừng quá xá!... Vài tháng sau mới vỡ lẽ ra rằng: họ sắp vượt biên, hoặc sắp rời VN sang Mỹ, nên đi lễ, rước lễ để xin ơn đi được thuận buồm xuôi gió; hoặc khá hơn, để tích luỹ ơn Chúa cho chắc ăn, sợ sang bên kia là nơi giàu sang, ăn chơi sa đoạ, sẽ thiếu ơn Chúa mà sa ngã mất linh hồn.
Xét cho cùng, làm thế không phải là xấu, là sai, cũng là do ý tốt. Song ta không khỏi buồn thấy họ coi các Bí Tích như nguồn ban các ơn lặt vặt. Họ không hiểu Bí Tích là phương thế Chúa Giêsu lập ra đề đưa ta đến thông chia sự chết, ngõ hầu nhờ đó mà được thông phần sự sống lại của Chúa, tức là ơn cứu rỗi vĩ đại! Việc cứu chuộc ta, Chúa đã thực hiện xong cách đây 2.000 năm. Ta không có mặt đó như Đức Mẹ đứng dưới chân thập giá, thì làm sao mà thông phần?
Phải có phương thế nào chứ? Cho nên, Chúa khôn ngoan vô cùng, đã nghĩ ra những phương thế để giúp ta - cho dù ta sống cách xa Chúa hàng ngàn năm vẫn có thể thông phần vào sự chết và phục sinh của Chúa mà được cứu độ. Các phương thế thông phần và tiếp xúc với Chúa ấy là các Bí Tích.
Kinh Thánh - Lời Chúa cũng tạo nên tiếp xúc và thông hiệp với Chúa: vậy nó là Bí Tích. Chỉ có điều là Giáo Hội chưa chính thức và long trọng tôn nó lên hàng 7 Bí Tích kia. Vậy ta tạm gọi Kinh Thánh là Bí Tích ngoại ngạch, ngoài biên chế, cũng như ngày nay chính Công Đồng Vatican 2 cũng gọi Giáo Hội là Bí Tích, nhưng nó đâu có tên trong số 7 Bí Tích ấy đâu!
Tuy nó ngoài biên chế, song Lời Chúa có hiệu năng vô cùng lớn lao. Nếu đem so sánh, có thể nói nó ngang hàng với Bí Tích Thánh Thể. Nói có sách, mách có chứng. Sau đầy, xin trích vài chứng lấy từ sách của một nhân thần học: cha F.X. Durrweh: “Trong Đức Kitô Cứu thế”, sách do Đức Cha Nguyễn Sơn Lâm, Dalat dịch 1975.
Chứng thứ nhất: Giáo Hội ta, từ những thời đầu tiên, khi đã nhận thấy sự giống nhau giữa hai Bí Tích (Mình Thánh và Lời Chúa), cả hai đều cho ta sự hiện diện của Chúa, cho nên Giáo Hội cất giữ Mình Thánh và sách Kinh Thánh trong cùng một nơi. Ngày nay, anh chị em có thể thấy vài nhà thờ hoạ lại cách xử sự đó (tỉ dụ nhà thờ Xóm Chiếu, nhà thờ xứ Thuận Phát...): người ta xây cất hai Nhà Tạm: một Nhà Tạm trong cuốn Kinh Thánh, một Nhà Tạm giữ Mình Thánh, hai Nhà Tạm bằng nhau, ngang hàng nhau.
Chứng thứ hai: Công Đồng Vatican 2 mới đây đã xác nhận sách Kinh Thánh ngang hàng Mình Thánh, khi dạy rằng: “Giáo Hội luôn luôn tôn kính Kinh Thánh như chính Mình Thánh Chúa, nhất là trong phụng vụ thánh. Giáo Hội không ngừng lấy bánh ban sự sống từ (bàn tiệc) Lời Chúa cũng như từ (bàn tiệc) Mình Thánh Chúa ban phát cho các tín hữu...”, để họ múc được sức sống của Thiên Chúa (Hiến Chế: Lời Thiên Chúa, số 21).
Qua hai chứng trên, anh chị em đã thấy rõ Lời Chúa cao trọng và được tôn kính ngang Mình Thánh Chúa, và Giáo Hội lấy sức sống của Thiên Chúa từ hai cái đó (ví như bánh từ hai bàn tiệc) mà nuôi linh hồn tín hữu.
Giáo Hội là mẹ ta thì thực hành như vậy, còn ta là con cái thì sao? Buồn thay! Con cái làm ngược ý mẹ, tức là ta chỉ tôn trọng có Mình Thánh Chúa mà thôi. Cứ thử xét mà coi: ta hăm hở chen nhau đi rước Mình Thánh, chứ mấy ai hăm hở cầm lấy Sách Thánh mà đọc đâu? Tại sao? Vì ta nghĩ: Đi rước lễ thì được ơn, còn đọc Lời Chúa thì khó nhọc mà có được ơn gì đâu?
Nhưng, cho dù phải nói đến chuyện ban ơn, thì có thật Kinh Thánh - Lời Chúa không ban ơn gì không? Chứng sau đây sẽ giải thích:
Chứng thứ ba: Mình Thánh Chúa và Lời Chúa, hai bên ban ơn bằng nhau. Ta hãy đọc Tin Mừng theo Thánh Gioan, ch.6 mà coi: từ câu 35-47: Đức Giêsu nói về Lời Chúa ví như bánh từ trời xuống cho người ta ăn. Mà khi ăn bánh Lời Chúa thì được ơn gì? Phúc Âm vạch rõ hai ơn chính:
- Thứ nhất: có sự sống đời đời,
- Thứ hai: ngày sau hết Chúa sẽ cho họ sống lại.
Rồi từ câu 51-58: Chúa nói về Phép Thánh Thể, cũng ban hai ơn chính y hệt như thế:
- Thứ nhất: ai ăn bánh này, thì có sự sống đời đời,
- Thứ hai: Ta sẽ cho nó sống lại ngày sau hết.
Chỉ vì không học Lời Chúa trong Thánh Kinh, nên ta không thấy Lời Chúa cũng ban những ơn cao trọng như Mình Thánh Chúa. Vậy hôm nay, bằng vào chính Lời Chúa dạy, bằng vào các lời Hội Thánh truyền, mong rằng anh chị em biết một lần cho rõ.
Có điều mà các ơn nói trên, không nên hiểu như các ơn lặt vặt ta hằng kêu xin. Thực ra, đây là cái gì còn hơn các ơn ấy, đây chính là sự sống, sự sống Thiên Chúa, mà khi án bánh Lời Chúa (hoặc ăn bánh Mình Thánh Chúa), ta được thông phần vào. Sự sống là cái gì căn bản hơn các ơn lặt vặt, nói chi đến các ơn vật chất cũng tỉ như anh chị em là bậc cha mẹ, anh chị em thông cho con cái mình sự sống của mình lần đầu khi sinh chúng ra trên đời, chẳng phải đó là cái gì căn bản và cao trọng hơn những cái lặt vặt mà sau này anh chị em sẽ cho chúng nó, như cơm ăn, áo mặc, tiền của, đồ chơi, đồ dùng ư? Đối với Thiên Chúa cũng vậy, sự sống đời đời là chính sự sống thần linh ở trong Thiên Chúa, nay ai ăn bánh Lời Chúa, tức là nghe Lời Chúa và tin vào Chúa, lúc ấy, Thiên Chúa sẽ làm cho họ thông phần sự sống thần linh của Người. Bài Lời Chúa đọc lúc đầu đã cho thấy bằng chứng tỏ tường: ông Cót-nê-li-ô và cả gia đình nghe và tin vào Lời Chúa (do ông Phêrô giảng) mà được ơn sự sống và được Chúa Thánh Thần ngự xuống, ngay cả trước khi lãnh Bí Tích Rửa tội. Khi đã hiểu rõ, từ nay, ta quyết tâm hăm hở tìm Lời Chúa mà đọc, hăm hở đi lãnh Bí Tích Kinh Thánh - Lời Chúa.
Tích truyện
Vua Fê-đê-rích, nước Phổ, rất có lòng thương lính. Ông gặp người lính nào là liền thân mật hỏi han. Thường ông hay hỏi ba câu này:
-Anh ra đời được bao năm rồi?
-Anh đã hầu việc ta bao nhiêu năm?
-Anh có bằng lòng về lương bổng và chỗ ăn chỗ ở không?
Ba câu ấy, ông thường có thói quen hỏi theo thứ tự kể trên. Có một anh lính mới, là người ngoại quốc, không biết chút tiếng Phổ nào. Ngày kia, hắn được lệnh tới gặp Vua. Hắn bối rối không biết nói. Các bạn dạy hắn mấy câu cần để đối đáp:
Cứ theo thứ tự Vua thường hỏi, thì mày sẽ đáp câu thứ nhất là: “Hai mươi mốt”, hỏi câu thứ hai thì đáp: “Một”, hỏi câu thứ ba thì đáp: “Cả hai”, cứ nhắm mắt đáp cũng đúng.
Đến trước mặt Vua, anh tân binh chào theo lối nhà binh, rồi đứng thẳng chờ vua hỏi. Chẳng may cho hắn, lần nầy, Vua lại hỏi cầu thứ hai trước:
- Anh đã hầu việc ta được bao năm?
Chằng chút ngần ngại, hắn đáp thuộc lòng:
- Hai mươi mốt!
Ngạc nhiên, Vua hỏi tiếp câu thứ nhất:
- Hai mươi mốt năm rồi? Ủa lạ? Thế anh ra đời bao nhiêu năm rồi?
Thấy vẻ ngạc nhiên của Vua, hắn tưởng Vua lấy làm thích thú vì trẻ tuổi như vậy mà đã được xung vào đội ngự lâm quân cao quí dường ấy, hắn bèn đáp:
- Một!
Càng kinh ngạc hơn, Vua liền hỏi tiếp:
- Quái lạ! Anh mới sinh ra đời được một năm, mà lại đã hầu Ta hai mươi mốt năm. Chắc anh hay là Ta, một người đã hoá điên rồi!
Hắn dạn dĩ đáp:
- Cả hai!
Nghe vậy, Vua đập bàn quát to:
- Chà! Anh vô phép quá, dám bảo ta điên à? Đây là lần thứ nhất một tên lính dám bảo ta điên.
Thấy Vua nổi giận, anh lính vội vàng dùng tiếng nước mình mà thưa rằng mình không hiểu tiếng Phổ, nên các bạn dạy sau anh nói làm vậy. May thay, Vua cũng hiểu tiếng nước hắn, bèn phì cười mà phán:
- Thật vậy à? Thế thì anh nên kíp học tiếng Phổ! Ta chắc anh sẽ trở nên một lính giỏi.
Anh chị em là lính của Chúa Giêsu, cần phải hiểu biết tiếng của Ngài mà vâng theo. Tiếng phán ấy chép cả trong Kinh Thánh. Nếu anh chị em không hiểu Kinh Thánh, không hiểu Lời Chúa nói, trên đời sẽ bị lắm phen sai lạc, lầm lỗi, làm trò cười cho thiên hạ. Ta hãy đọc kinh Đền tạ, để xin Chúa tha tội chểnh mảng, lơ là học Kinh Thánh - Lời Chúa.
BÀI LỜI CHÚA 68
LAO CÔNG TÌM LƯƠNG THỰC ĐỜI ĐỜI
Trước khi đọc bài KinhThánh, ta hãy xem bối cảnh của nó. Chắc ai cũng biết: sau khi Đức Giêsu làm phép lạ hoá bánh ra nhiều nuôi 5.000 người ăn no, dân chúng vui mừng quá, họ nghĩ: Vị Cứu Tinh đến rồi, đem ấm no, hạnh phúc cho họ! Thế là họ hè nhau xúm lại định công kênh Đức Giêsu lên làm vua, để cứ ban cho họ bánh, thịt, cá ăn mãi. Thấy họ hiểu lầm sứ vụ của mình, Đức Giêsu bỏ đi lên núi cầu nguyện.
Hôm sau, Ngài sang bên kia Biển Hồ, ở tại Ca-pha-na-um. Dân chúng một phen nữa lặn lội kéo đến với Ngài. Thấy họ mất bao công lao đuổi theo Ngài vì của ăn vật chất, no đấy rồi lại đói đấy, Đức Giêsu mới khuyên bảo lời sau đây:
Trích Tin Mừng Thánh Ga, 6.26-27
Đức Giêsu nói với người Do thái:
- Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi: các người tìm Ta, không phải vì các ngươi đã thấy dấu lạ hôm qua Ta làm mà đến xin Ta bánh sự sống đời đời; song chỉ vì hôm qua các ngươi được ăn một bữa no nê, nay lại muốn ăn nữa. Này, hãy lao công khó nhọc như thế đừng vì của ăn mau hư thối, nhưng vì của ăn có sức giữ tồn tại mãi đến sự sống đời đời, mà Con Người sẽ ban cho các ngươi”.
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm lời Chúa
Theo bài Lời Chúa kỳ trước, ta biết Bí Tích Lời Chúa ban cho kẻ tin hai ơn rất lớn, sánh ngang bằng hai ơn do Bí Tích Mình Thánh Chúa ban, ấy là:
- Sự sống đời đời,
- Sự sống lại ngày sau hết.
Trong bài Lời Chúa kỳ này, rõ ràng chúa muốn dạy ta tránh thái độ ham những của ăn vật dụng thế tạm mau qua chóng hết, mà đem hết sức lực tìm kiếm của ăn có sức nuôi ta sống mãi cho đến đời đời.
Vậy, phần ta, đã đánh giá đúng mức sự sống đời đời chưa, hay còn coi thường?
Là tín hữu, đã nghe quen tai câu “sự sống đời đời”, thành thử không còn thấy tất cả giá trị nữa. Cũng như khí trời hay nước lã, cần thiết cho cuộc sống ta vô cùng, nhưng thường ngày có mấy ai để ý? Chỉ khi nào gặp cảnh ngộp thở sắp chết, hoặc bị lạc giữa sa mạc hay hoang đảo khô cằn, sắp chết khát, lúc ấy mới thấy...
Về sự sống đời đời cũng vậy, người có đức tin sáng suốt mới thấy nó quí trọng, cần thiết, họ tìm mọi phương thế để có nó cho bằng được, có rồi lai gìn giữ cho khỏi mất, bồi dưỡng cho thêm phong phú. Ngược lại, người có đức tin lu mờ, nguội lạnh, sẽ coi nó có cũng được, không cũng được, còn thì càng tốt, mất cũng chẳng can chi. Đối với hạng người này, cái gì quan trọng nhất? Tiền của, ti vi, vidêo, quần áo, xe cúp, xe con, lác thú, nhậu nhẹt đã đời là những cái cần thiết nhất, và họ để tất cả đầu óc, sức lực, thì giờ vào các chuyện đó. Họ đã quên Lời hằng sống nhắn nhủ: “Hãy lao công tìm kiếm không phải của ăn mau hư nát, chóng qua, song của ăn có sức giữ gìn tâm hồn mãi cho đến đời đời. Mà của ăn ấy, Ta sẽ ban cho”.
Ngài ban cách nào và ta được làm sao?
Cố nhiên, sự sống đời đời Ngài ban, ta làm sao sờ được, thấy được! Nên Ngài đã gói ghém nó vào bao bì, bao bì ấy là Lời Chúa, là điều thấy được, nghe được. Ai nghe và tin Lời ấy, thì được sự sống đời đời gói trong đó nuôi hồn sống mãi. Cũng giống như khi ta ăn bánh, thịt, rau, cá... Các thứ ấy không nuôi ta, chính các chất giấu trong đó như chất đạm, chất béo, chất sắt..., các chất bổ này mới nuôi ta.
Vậy khi Chúa ban cho ta sự sống đời đời, ta cùng nhau phân tích nó xem nó có cái gì nuôi sống ta?
Trước hết, ta tách chữ đó ra hai phần.: một là sự sống, hai là đời đời
1/ Về chữ đời đời thì:
Thường người ta lại hiểu nhầm sự sống đời đời là sự sống đời sau, sau khi chết, được lên thiên đàng. Cho nên họ nghĩ: nếu là sự sống đời sau, thì để sau hãy lo, lúc gần chết hãy lo tu tỉnh, hay mới lo mời Cha, rước Thày...; còn hiện tại hãy lo sự sống đời này cái đã: lo làm ăn, lo kiếm tiền, lo vui chơi, may mặc cho sướng cái đã...
Ngay cả người có đạo tử tế cũng vì hiểu hẹp hòi, nên họ tách đôi đời họ ra làm hai ngăn riêng biệt. Ngăn thứ nhất thì lo sự sống đời sau bằng cách đi lễ, đọc kinh, lần hạt, lập công nghiệp nhiều để đời sau được sung sống, giống như kiểu ông trùm sò lo vơ vét, chất bóp, ăn mắm mút giòi dành dụm tiền của để mai mốt tuổi già sống sung túc. Ngăn thứ nhì thì lo sự sống đời này: lo ăn, lo làm, lo vui chơi giải trí..., phần lớn thời giờ họ dành cho các việc này, vì họ nghĩ họ đã lo đủ cho đời sống của họ tách rời nhau, đi song song bên nhau,
Như thế không đúng! Vậy phải nghĩ sao? Trước tiên: sự sống đời đời không phải là sự sống đời sau, nhưng Chúa ban cho ta để ta sống ngay ở đời này, bắt đầu từ đời này, ở đời này mà không có, thì đời sau cũng không. Tức là trong mọi sự, mọi việc, mọi lúc, từ việc thờ phượng cho chí trăm công ngàn việc lớn nhỏ, kể cả các việc vật chất như kiếm tiền, ăn uống, ngủ nghỉ..., ta cũng phải lấy sự sống của Chúa trà trộn vào các việc đời, làm sao khi làm các việc đời, ta làm với tư cách là con cái Chúa: ăn cũng ăn với tư cách con cái Chúa, làm việc cũng với tư cách con cái Chúa, cứ như vậy trong mọi việc, mọi hành động, lời ăn tiếng nói. Có nhiều người tách đôi ra như đã vừa nói trên kia; cho nên ở nhà thờ, họ dự lễ sốt sắng, đọc kinh to tiếng; mà ra đồng rồi thì họ cũng chửi tục, đánh lộn, buôn gian bán lận như kẻ ngoại đạo. Thánh Phan-xi-cô Sa-le-di-ô tả: “Trong nhà thờ, họ như thiên thần, ở ngoài đời, họ như quỉ sứ”.
2/ Còn về sự sống thì thế nào? Sự sống là sự sống của Thiên Chúa, sự sống có trong mình Thiên Chúa, làm Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống, làm Người vô cùng hạnh phúc. Sự sống hạnh phúc vô bến bờ ấy, Thiên Chúa muốn cho loài người được chung phần. Khi ta lãnh được món quà, tại sao ta muốn chia sớt cho người chung quanh? Khi ta trúng số độc đắc, ta chia cho bà con, con cái, cháu chắt mỗi người một chút. Ta vốn ích kỷ mà còn thế, huống hồ Thiên Chúa rộng lượng vô cùng. Ta chia sẻ chút ít thôi, vì ta sợ hết. Còn Thiên Chúa thì có ban cho loài người, các thiên thần và giả sử có muôn vạn loài người nào khác trên các tinh tú..., thì Người cũng không bao giờ hết, càng cho, Người càng thấy sự sống Người sâu thẳm, phong phú vô tận.
Vậy khi kẻ nào nghe Lời Chúa, tin vào Chúa, và chịu Phép Thanh tẩy, kể ấy được Chúa chia cho sự sống riêng của Người. Vì thế Kinh Thánh đoan chứng: “Anh em được thông chia cùng một bản tính thần linh của Thiên Chúa” (2Pr 1.4), tức là thông chia sự sống của Thiên Chúa vậy. Hay nói bóng bẩy, anh em có giọt máu của Chúa trong mình. Cũng như đời, người ta thường nói: con cái là giọt máu của cha mẹ, vì đã truyền cho nó chính dòng máu của mình, làm cho nó là con ruột và có sự sống để sinh ra làm người. Anh chị em thường thấy người ta khoe: Tôi là con ông Tổng Trưởng này, tôi là cháu bà Thủ Tướng nọ..., tôi dòng dõi tôn thất nhà vua... Nào Công Tằng Tôn Nữ nọ, nào Bửu này, Hữu kia... Họ vinh quang vì mang trong mình giọt máu của Nhà Vua, của Bộ Trưởng... Cũng may Bác Hồ của chúng ta không có vợ, có con, chứ không thì ngày nay khối kẻ vỗ ngực xưng mình là con cháu ông. Thế thì người tín hữu được mang trong mình sự sống Thiên Chúa, Chúa Tể trời đất, sao không lấy làm vinh dự? Thánh Lêô Cả Giáo Hoàng, trong một bài giảng về chức vị làm con Thiên Chúa, đã kêu lên: “Hỡi Kitô hữu! Chớ gì anh em hiểu chức vị cao sang khôn sánh của mình! Hãy sống xứng đáng với địa vị cao quí vô cùng ấy! “ Chức vị mà chính các thiên thần phải ước ao thèm thuồng! Khi hỏi tại sao Kitô hữu lại coi thường? Chắc ta sẽ trả lời: vì họ không có đức tin mấy. Trả lời đúng lắm? Vì Thánh Kinh dạy: “Đức tin là phương thế nhận thức được các thực tại thần linh mà mắt người trần xác thịt không thấy” (Hr l l.l). Tuy vậy, ta còn có thể trả lời cách khác: vì họ không đem sống cái chức vị ấy. Có sống mới thấy nó lộ ra giá trị, hữu ích, cao quí... Ví như một người đỗ bằng kỹ sư, tiến sĩ, song người đó cứ nằm lì ở nhà, thì tất cả cái kho kiến thức, tài năng kỹ sư, bác sĩ ấy chẳng trổ tài ra được không giúp ích cho ai, chẳng đem lợi lộc gì cho bản thần. Cũng vậy, nếu sự sống Thiên Chúa ban cho ta, ta đem chôn giấu đi, hoặc không đem ra sống trong đời thường nhật, sự sống ấy không phát huy năng lực, không phát sinh hoa trái, không làm ích cho ai, cũng không làm lợi cho bản thân mình... Thế rồi, các việc đời: lo làm ăn, lo vui chơi, các cám dỗ, các sự thế gian, các trò ma quỉ bày đặt sẽ mau chóng lớn lên như cỏ dại, gai rừng mà làm chết ngột sự sống ấy đi... Do đó, Thánh Giacôbê mới nói: “Anh nói là anh có đức tin, có sự sống Thiên Chúa ư? Hãy lấy việc làm mà bày tỏ và minh chứng sự sống ấy cho tôi coi chứ! Nếu đức tin anh nói có, sự sống Thiên Chúa anh nói có, mà thực hành bằng việc làm không có, thì đức tin ấy là đức tin chết tiệt rồi, sự sống Thiên Chúa trong anh cũng đã tiêu diệt từ lâu, (Gc 2,14tt).
Tích truyện
Một hôm, một người có đạo gặp một người vô đạo. Người vô đạo hỏi:
- Anh đi đâu về?
- Tôi đi nhà thờ về!
- Bữa nay, nhà thờ giảng gì?
- Giảng về vấn đề nên thánh!
- Anh đã nên thánh chưa?
Anh có đạo đáp:
- Anh coi cái mặt tôi đây thì đủ biết!
- À để coi thử!
Nói rồi, anh vô đạo tát một cái thật mạnh vào mặt anh có đạo. Anh này quạu cọ, chửi mắng om sòm. Người vô đạo nói:
- Ủa, tự xưng là mặt nên thánh, sao còn chửi mắng?
- Tôi nói cái mặt nên thánh, chứ có nói cái miệng đâu! Nên thánh ở trong óc, trong bụng, chứ có ở ngoài mặt đâu! Sao anh thử tôi?
- Ủa! Bây giờ cái thánh nó chạy vô óc, vô bụng rồi sao? Thôi tôi cú óc, thoi bụng coi nó có thánh không nhé!
Người vô đạo nói:
- Mày đánh tao lần nữa, thì tao cho một thoi, cho mày chết nhăn răng.
- Ủa! Nói nên thánh ở óc, ở bụng, sao còn đòi đánh tôi?
- Cái tay, cái chân chưa nên thánh, nên tao đánh được.
Người vô tín nói:
Ôi! Tưởng anh nên thánh trọn vẹn, chớ anh nên thánh mới có trong óc, trong bụng! Xin anh hãy nên thánh trọn vẹn mới thật là người sống đạo. Bằng không, thì tính anh còn xấu hơn tôi. Thế mà xưng là con cái Chúa!
BÀI LỜI CHÚA 69
LỜI BAN SỨC SỐNG
Trích sách Khởi nguyên, ch.6-8.
Sau khi Ađam, Eva sa ngã và bị đuổi ra khỏi địa đàng, loài người sinh sản ra đông đúc. Nhưng Yavê thấy loài người càng ngày càng làm sự dữ, suốt ngày từ sáng đến tối, họ chỉ suy tính làm những điều tội lỗi. Yavê hối tiếc vì đã dựng nên con người và Người đã phải đau phiền trong lòng. Người quyết định sẽ xoá sạch khỏi mặt đất hết thảy loài người cùng với mọi giống chim muông, cầm thú. May thay! Chỉ có một mình ông NOÊ là người ăn ở có đức nghĩa trước mặt Thiên Chúa. ông sinh được ba con trai: Sem, Kham và Gia-phét. Lúc ấy, Yavê phán với Noê:
- Ngươi hãy đóng một chiếc tàu lớn, vì ta sắp cho lụt Hồng Thuỷ đến trên cõi đất mà huỷ diệt hết mọi loài, mọi vật dưới gầm trời. Phần ngươi, ngươi ăn ở có nghĩa với Ta, Ta sẽ cứu ngươi và vợ con, cháu chắt ngươi. Cùng với gia đình ngươi, ta sẽ cứu mỗi loài, mỗi vật một cặp, cho vào tàu của ngươi.
Noê đã vâng theo lời Thiên Chúa dạy không sai sót điều nào. Đóng tàu xong, Chúa bắt đầu cho mưa 40 ngày, 40 đêm, mưa trút xuống như thác, nước dâng lên cao đến nỗi mọi núi non cao nhất cũng bị phủ lấp. Mọi loài, mọi vật, mọi người đều chết hết. Còn tàu Noê, nổi trên nước và mọi người trong tàu đều được cứu sống. Nước ngập như thế 150 ngày, sau đó từ từ cạn dần, khi đất đã lộ ra, ông Noê hạ tàu trên sườn núi và bước ra khỏi tàu. Trước ơn lạ lùng cứu Thoát đó Noê và gia đình lấy đá lập một bàn thờ và dâng lễ tế tạ ơn
* Đó là Lời Chúa? - Tạ ơn Chúa!
Suy niệm lời Chúa
Ở đâu có loài người, là thấy có đủ thứ tội lỗi, thời xưa cũng như thời xưa. Thiên Chúa thánh thiện vô cùng, không thể làm ngơ trước sự dữ, sự tội. Hình phạt nhất định phải đến, không chóng thì chày. Hồi đó, may có ông Noê là người ăn ở có nghĩa với Chúa. Noê đã làm gì để được cứu thoát?
Ông làm một điều điên khùng! Nhưng vì Chúa dạy thì ông vâng lời đó là đóng một chiếc tàu. Các bạn cứ thử tưởng tượng chút xem. ở giữa một làng quê đang nắng ráo, thanh bình, yên vui, bỗng nhiên, dân làng thấy ông Noê đóng một chiếc tàu to quá cỡ. Kinh Thánh cho biết: dài l50m, rộng 25m, cao l5m. Ai ai cũng cười nhạo ông. Hình như Đức Giêsu cũng gợi đến thái độ cười nhạo hoặc ít ra dửng dưng ấy khi Ngài nói: “Vào lúc Noê đóng tàu, thiên hạ cứ ăn uống, cứ lấy vợ lấy chồng cho đến ngày Noê vào tàu và Hồng Thuỷ đến...” (Lc 17.26-27).
Họ cười nhạo ông, vì đang nắng ráo, bình yên thế này lại đi đóng tàu, mà lại đóng ngay giữa Đồng bằng, nơi không có sông có biển. Nên họ yên chí họ khôn, Noê khùng, thế là họ cứ việc ăn uống, chơi bời, lấy vợ lấy chồng, xây nhà dựng cửa... Chắc ông Noê cũng lắm lúc bị lời chế diễu làm ông lung lay, cũng cảm thấy hình như mình điên thật., bỗng chợt nhớ lại Lời Chúa bảo, thế là ông nhấm mắt tin vào Chúa rồi cấm đầu làm việc... Nào có ai ngờ, lụt Hồng Thuỷ đến đã chứng tỏ ai khôn, ai dại, ai tỉnh, ai điên! Khi chiếc tàu kia bắt đầu nói lên mặt nước mênh mông, các người cười nhạo ông và cứ tiếp tục ăn chơi đâu rồi? Họ có còn cười nhạo nữa chăng? Họ bi tiêu diệt hết rồi! Kết quả: Lời Chúa dạy, Noê đã tin và làm theo, lời ấy đã cứu sống ông và cả gia đình. Đó chẳng phải là Lời Chúa đem đến sự sống ư? Ông Noê được cứu sống phần xác khỏi Hồng Thuỷ tiêu diệt, là hình bóng chỉ về việc Lời Chúa cũng cứu sống ta cả hồn xác như vậy.
Kỳ trước, ta đã nói Lời Chúa ban ơn thứ nhất là sự sống đời đời. Còn ơn thứ hai, được sống lại ngày sau hết, sẽ dành đến phần bàn về sự sống lại cho tiện.
Kỳ này, ta tìm hiểu tiếp, Lời ban sự sống nghĩa là thế nào?
1/ Trước hết, ta quay nhìn Đức Giêsu:
Trong những lễ trọng, linh mục chủ tế đến trước bàn đọc Sách Thánh, vạch hình thánh giá trên sách, rồi vạch ba hình thánh giá trên trán, trên môi, trên ngực. Giáo dân ở dưới cũng làm như vậy. Khi công bố Lời Phúc Âm xong, chủ tế hôn Sách Thánh, còn giáo dân tung hô: Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!”. Trong các lễ trọng thể, còn có rước sách, bồi lễ cầm nến sáng chầu hai bên, linh mục xông hương Sách Thánh nữa.
Tại sao làm những nghi thức long trọng như vậy cho một cuốn sách?
Thưa: Không phải cho một cuốn sách đâu, nhưng chính là cho Lời thần thánh của Chúa Kitô đang được đọc lên vang dội vào tai chúng ta, như thể Chúa Kitô đang đứng đó phán dạy cho ta nghe.
Loài người cất giữ với lòng trọng kính các lời của những bậc danh nhân, thánh hiền, ngay đến cả các sưu tập thơ phú hoặc tư tưởng, lời hay ý đẹp của người xưa, coi đó như những viên ngọc quí, cất đi cho các thế hệ mai sau thưởng thức, tìm được nguồn vui thú tinh thần, và tu tỉnh bản thân, xây dựng xã hội...
Những lời thần thánh của Đức Giêsu còn quí báu và đầy ý nghĩ hơn gấp bội, và còn ban sự sống đời đời, vì đó là Lời của Sự Khôn Ngoan Vĩnh Hằng của Thiên Chúa.
Trong ba năm, Lời Vĩnh Hằng ấy, tức là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa đã xuống ở giữa trần gian, đem từ trời xuống kho tàng “sự thật” để giảng dạy cho loài người. Chính vì Ngài làm sự thật, Ngài mang sự thật toàn diện xuống nói cho loài người, nên ta thấy Ngài giảng dạy không phải như mấy ông giáo tổ lập đạo khác: các ông chỉ là người trần gian, nên phải tu luyện, rồi đi tìm học đạo, sau nhiều năm công phu dò dẫm mới nghĩ rằng tìm ra một chân lý mà dạy cho đồ đệ, như Đức Phật Thích Ca, như Đức Khổng Phu Tử... Còn Đức Giêsu không bao giờ phải hỏi ý kiến hay bàn bạc với người ta: Tôi nói có đúng không hay sai? Nếu sai chỗ nào, xin giúp ý kiến cho tôi sửa? Không bao giờ Ngài do dự hay có những câu: Có lẽ... Có thể... Hình như... Trái lại, lời Ngài dạy chắc nịch: “Quả thật, quả thật, Ta bảo các ngươi...” Vì Ngài biết mình là ai: “Ta là Đàng, là Sự thật và là Sự sống!”
2/ Quay nhìn về loài người:
Loài người sống ở trần gian đầy tối tăm và lầm lạc, như thể người mù rờ rẫm đi trong đêm tối, đi mà không biết mình đi đâu, có kẻ tưởng đi đúng đường, mà hoá ra lại đi lạc, kẻ khác rơi xuống hố, đâm vào bụi gai... Tức là có ý nói loài người không biết đâu là sự thật là, cùng đích đời mình, nên có người nghĩ hạnh phúc là trong danh vọng, kẻ khác cho rằng trong giàu tiền lắm của, kẻ khác nữa cho rằng trong cuộc săn đuổi các khoái lạc, tứ đổ tường... Kẻ thì nói hạnh phúc con người chỉ ở đời này, chơi đi, ăn đi cho thoả, chẳng có kiếp sau, kiếp trước, chẳng có thiên đàng, hoả ngục gì cả; kẻ khác lại nói có nhiều kiếp, tu thân diệt dục kiếp này chưa xong, lộn vào kiếp sau đền tội và tu tiếp...
Thiên Chúa thương xót loài người tối tăm, lầm lác như thế, vô phương tìm ra đường sự sống và hạnh phúc thật, nên đích thân Con của Người phải xuống dạy.
3/ Chuyển Lời Chúa đến với ta thế nào?
Những lời dạy quí báu đó, các tông đồ và môn đồ của Đức Giêsu là những người đầu tiên đã nghe, đã tin và đã sống. Phần Đức Giêsu, sau khi thực hiện xong sứ mệnh, Ngài đã về trời lại, về nơi Ngài đã ở trước bên Cha từ thuở đời đời. Các tông đồ đã ghi nhớ kỹ các điều mắt thấy tai nghe về các lời dạy và các hành động của Thày Chí Thánh, và cách ghi nhớ chắc chắn nhất là chép vào sách. Chúa Thánh Thần đã đến soi sáng trí khôn và hướng dẫn ngòi bút họ viết sao cho đúng như Chúa muốn. Vì thế, họ chỉ có thế viết đúng sự thật. Phần chúng ta, sinh ở thế kỷ 20, không được diễm phúc nghe Chúa, thấy Chúa, song không sao, Chúa còn ca ngợi: “Phúc cho kẻ không thấy Thày mà vẫn tin”. Và hơn thế, Chúa còn cầu nguyện cách tha thiết rằng: “Lạy Cha, con không chỉ cầu cho các môn đồ đang có mặt đây, mà còn cầu xin cho các kẻ sau này nghe lời chúng mà tin vào Con, xin Cha cũng thánh hoá nữa”.
Như vậy, các Lời Chúa dạy, việc Chúa làm để chỉ đường cho ta tới hạnh phúc thiên đàng đã được ghi chép vào sách, còn phần nào nhiều quá không chép xuể, thì được vào “bộ nhớ” của Hội Thánh và truyền lại cho ta, không sai trệch, cách trung thực, vì có Chúa Thánh Thần hỗ trợ, Ngài là Thần Khí Sự thật!
Phần ta, khi đón nhận và tin Lời Chúa mà Hội Thánh chuyển lại cho ta, đó là ta đón nghe chính Chúa như Chúa dạy: “Ai tiếp đón các con là tiếp đón Ta, ai nghe các con là nghe Ta, và tiếp đón Ta là tiếp đón Cha, Đấng đã sai Ta” (Lc 10.16; Mt 10.40). Lời Thánh Phaolô khen tín hữu Thesalônikê sau đầy, chúng là khen chúng ta: “Tôi không ngớt tạ ơn Thiên Chúa, bởi chưng anh em đã chịu lấy lời Thiên Chúa do chúng tôi rao giảng, thì anh em đã đón nhận lấy, không phải như lời của những người phàm, mà là như lời của chính Thiên Chúa, mà quả thật là thế” (1Tx 2.13).
4/ Ta phải có thái độ nào trước Lời Chúa?
Trong cuộc đời, ta luôn cẩn trọng đón lấy và ghi nhớ các lời cha mẹ, thày cô giáo... Thường nghe trẻ con nói: “Ba tao bảo thế này..., ba tao nói thế kia...”. Đối với nó, ba nói là sự thật, ba nó là ông trời, nó tin vào ba nó, không ai có thể làm nó lung lay lòng tin. Người lớn cũng vậy, biết bao lời dạy của cha mẹ, thày dạy, ta vẫn ghi nhớ đến suýt cuộc đời: “Hồi ấy, ba tôi có dặn tôi thế này... hoặc má tôi khuyên tôi thế kia...”
Cha trên trời còn có lòng ưu ái, yêu thương, lo lắng cho ta vô ngần hơn thế, nên đã sai Đức Giêsu, Con Một Người, đến dạy dỗ, hi sinh đền tội cho ta khỏi chết đời đời. Cứ thử hỏi, một người hi sinh mạng sống để bảo đảm lời nói, hắn ta không thể còn nghi ngờ gì, vì không phải lời nói suông. Đức Giêsu đã nói, đã dạy ta con đường sự thật, Ngài đã lấy mạng sống hi sinh đi để lời nói ấy có giá trị. Có vị giáo tổ lập đạo nào đã lấy mạng sống hi sinh cho tín đồ của mình chưa? Cái chết của Đức Giêsu chứng tỏ cho ta biết những lời Ngài dạy là chỉ vì yêu thương ta và muốn mưu ích cho ta. Ai không nghe, không tin vào lời Ngài, quả thật là người lòng chai dạ đá, vô tâm, vô tình, vong ơn bội nghĩa: hơn nữa, là người dại dột, ngu xuẩn.
Thánh Phêrô đã thay mặt các môn đồ mà nhận tin lời Đức Giêsu: “Lạy Thày, bỏ Thày con biết theo ai? Vì Thày có những lời đưa đến sự sống đời đời”.
Đón nhận Lời Chúa không chỉ là cử chỉ đền đáp ân tình của Chúa thương yêu, lo lắng cho ta, mà còn là nhu cầu của chính bản thân ta nữa:
Lời Chúa ban sự sống, như cơm bánh ban sức sống cho thân xác ta. Con người còn có linh hồn và linh hồn cũng cần phải được nuôi dưỡng, xin các bạn đừng quên! Lương thực cho linh hồn phải là thiêng liêng như linh hồn là giống thiêng liêng. Cái đói của thân xác thấy được, nên ai cũng sợ và ra sức kiếm đồ ăn, thức uống nuôi nó: nhưng còn cái đói, cái chết của linh hồn, người ta không thấy được nên không sợ. Chính ở đây, loài người chia hai phe: người khôn, kẻ dại. Kẻ chỉ thấy cái nhãn tiền, kẻ còn thấy cả cái linh thiêng. Được Lời Chúa dạy, họ tin, đức tin làm họ thấy cái người đời không thấy. Cũng như chuyện Noê, ông tin Lời Chúa báo trước sẽ có lụt Hồng Thuỷ ngay giữa lúc trời vẫn khô ráo, bình yên vô sự... Lúc Hồng Thuỷ đến mới thấy, ông sống, mọi kẻ kia chết hết. Cái khôn, cái dại lúc đó, lúc quyết liệt ấy mới bày tỏ ra. Và số phận hoạ phúc, không còn thay đổi được nữa, kẻ mở mắt ra thấy mình dại thì cũng quá muộn rồi, và muôn đời muôn kiếp khổ đau trầm luân là phần công lênh trả cho cái dại dột nhất thời của họ. Cũng như cô gái non nớt kia, cha mẹ dạy dỗ cho biết e dè, khôn ngoan thì không nghe, cứ nói có gì xấu đâu, có gì đâu mà sợ...; đến lúc bị lợi dụng, tan nát đời hoa, tên sở khanh truất ngựa truy phong, lúc đó mới mở mắt ra thì trăm năm ôm hận, một thời xuân sắc tàn phai hết rồi còn chi...
Ở đây có một điều lầm lẫn tai hại: đó là nhiều người, ngày nay chỉ coi linh hồn như là một cái trí khôn, nên họ chỉ nuôi nó bằng khoa học, triết học, lời hay ý đẹp ở các sách vở, phim ảnh, truyền hình... Thưa: như thế không đủ, linh hồn ta, ngoài chức năng trí tuệ, còn có cái linh hướng về tầm linh, thiêng linh. Vậy nó cần của ăn thiêng linh nữa, mà chỉ Lời Chúa và ơn sủng mới ban cho mà thôi. Kinh nghiệm đời cho thấy sự khác biệt đó: có biết bao kẻ học cao trí thức đỗ đủ thứ bằng cấp, tiến sĩ, phó tiến sĩ, bác sĩ..., mà vẫn kỳ thực là những tên lưu manh, sa đoạ, độc ác, ích kỷ, hại dân hại nước. Đó là những kẻ mới nuôi cái phần trí, mà không nuôi cái phần linh trong mình. Do đó, Chúa Giêsu dạy: “Con người không chỉ sống bằng cơm bánh, mà còn sống bằng các Lời Chúa phán ra” (Mt 4.4). Lời Chúa nuôi ta, có nghĩa là không chỉ soi sáng trí khôn ta biết đàng phải, đàng thật mà đi, nhưng nhất là còn ban sức mạnh thúc đẩy ý chí ta làm được sự lành, tránh sự dữ, phục vụ, thương yêu tha nhân, xây dựng xã hội...
Cách riêng các bạn trẻ, các bạn đang ở lứa tuổi học hành, tức là tâm hồn các bạn đang mở ra khao khát đón nhận đủ mọi thứ: học chữ, học nghề, học sống, học ăn, học nói, học gói, học mở... Nói tóm lại, tâm hồn các bạn đang khao khát chân lý. Chớ gì đang khi học các môn học bồi đường trí tuệ, các bạn đừng bỏ đó cái phần linh trong các bạn. Thiếu nó, các bạn không bao giờ là con người đầy đủ.
Tích truyện
Ở Ấn độ, một thanh niên đến cùng một vị thày tu đang ngồi bên bờ sông Hằng và xin chỉ cho làm thế nào để tìm được Thượng Đế. Vị Thày tu nắm lấy Anh, dìm xuống nước một lúc đến gần như ngộp thở. Khi người thanh niên lên bờ, vừa sặc sụa, vừa hổn hển hỏi vị chân tu:
- Tại sao thày làm vậy?
Ông đáp: - Khi nào con khao khát Thượng Đế mãnh liệt như con khát khao khí thở lúc con bị dìm xuống dòng sông, lúc ấy, con sẽ tìm thấy Ngài như dìm được sự sống cho con!
BÀI LỜI CHÚA 70
LỜI SƯỞI ẤM TÂM HỒN
Trích Tin Mừng Thánh Gioan, ch.24
Chiều hôm ấy, có hai môn đồ đang đi về làng Em-mau, cách thủ đô Yêrusalem 11 cây số: vừa đi, họ vừa chuyện vãn với nhau về các việc mới xảy ra liên quan đến cuộc Thương khó và cái chết của Đức Giêsu. Đang lúc đó, chính Đức Giêsu đến gặp họ và đi cùng, nhưng họ không nhận ra Ngài. Ngài hỏi:
- Các ông nói chuyện gì cùng nhau mà thấy buồn bã vậy?
Một người tên là Klê-ô-pha đáp:
- Duy chỉ mình ông là người ở Yêrusalem không hay biết các việc xảy ra mấy ngày vừa qua sao?
Ngài hỏi:
- Việc gì vậy?
Họ đáp:
- Việc ông Yêsu Nadarét: ông thật là một vị tiên tri có quyền năng làm nhiều phép lạ và đầy uy lực giảng dạy, thế mà không biết tại sao hàng lãnh đạo của chúng tôi lại lên án tử hình và đã đóng đinh Ngài. Phần chúng tôi, chúng tôi đã hi vọng rằng: chính Ngài là Vị giải phóng Israen. Thế mà, đã ba ngày rồi kể từ hôm Ngài chết. Quả thực, có vài người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi hoảng hồn: họ nói họ tới mồ, thì không còn thấy xác Ngài, mà lại thấy các thiên thần hiện ra nói rằng Ngài đã sống lại. Nghe lời các bà, vài ông trong nhóm chúng tôi đã đi tới mồ, và đã thấy mồ trống như mấy bà nói, còn Đức Giêsu thì họ không thấy.
Bấy giờ, Ngài nói cùng họ:
- Ôi! Những kẻ ngu độn và lòng trí chậm tin vào lời các tiên tri báo trước rằng: “Đức Kitô phải chịu khổ nạn đã rồi mới vào vinh quang!”.
Rồi khởi từ Môsê và hết thảy các tiên tri, Ngài dẫn giải cho họ các điều đã viết về Đức Kitô trong suốt bộ Kinh Thánh. Cả ba đến gần làng Em-mau, nhưng Ngài làm như thể còn phải đi xa hơn.
Họ cố nài ép Ngài:
- Hãy nghỉ chân tại nhà chúng tôi, vì trời đã về chiều, đi đường sẽ nguy hiểm vì trộm cướp.
Nên Ngài đã vào nhà ở lại với họ. Và đang khi ngồi bàn ăn, Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra, Ngài trao cho họ, thì mắt họ mở ra và họ nhận biết Ngài..., nhưng Ngài đã bỏ họ mà biển đi.
Và họ nói cùng nhau:
- Lòng chúng ta đã chẳng cháy bừng lửa sốt nóng lúc dọc đàng Ngài giải nghĩa Kinh Thánh cho ta đó ư?
Ngay giở ấy, bỏ bàn ăn, họ quay trở lại Yêrusalem gặp các môn đồ còn đang tề tựu, để thuật lại các việc xảy ra dọc đàng và làm sao họ đã nhận biết Ngài lúc bẻ bánh.
* Đó là Lời Chúa! - Lạy Chúa Kitô, ngợi khen Chúa!
Suy niệm Lời Chúa
“Chẳng phải lòng chúng tôi đã cháy bừng lửa sốt nóng lúc Ngài giảng giải Kinh Thánh cho ta nghe đó ư?”. Lời hai môn đệ Em-mau đã vang lên như một sự thực đã hai mươi thế kỷ nay, và sẽ còn vang lên mãi như một sự thực cho đến tận thế: hễ ai nghe lời Kinh Thánh cách thành tâm, sẽ thấy tâm hồn mình được sưởi ấm, tâm trí nên sáng suốt, sống bình an, vui tươi và hạnh phúc. Cứ xem-hai môn đệ Em-mau, lúc đầu âu sầu, thất vọng não nề, họ đã mất hi vọng, bao công lao bỏ nhà cửa, vợ con, nghề nghiệp đi theo Đức Giêsu, những tưởng Ngài sẽ làm nên đại sự, nhưng Ngài đã bị tử hình... Thế là hết! Nghe ngóng vài ngày chẳng thấy gì, họ quay về làng cũ, nối lại nghề xưa...
Thế mà, lúc sau đó, khi được Đức Giêsu dẫn giải Kinh Thánh, họ phải thú nhận: lòng họ nóng bừng lên, đức tin đã tắt nay lại bừng sáng, hi vọng tiêu ma nay nhóm lại, họ hăng hái đi ngay trong tối đó đường xá ngày xưa nguy hiểm, cướp bóc về đêm - để trút hết nỗi mừng đang bùng vỡ trong con tim họ.
Nhưng chúng ta, chúng ta nghĩ thầm: họ được Đức Giêsu đích thân đến đi cùng và giảng giải Kinh Thánh, chúng tôi đâu có được Ngài hiện đến dạy đâu...
Hãy nghe lời Đức Giêsu đáp: “Ta đứng ở cửa và gõ, ai nghe tiếng Ta và mở cửa, thì Ta sẽ vào với nó và Ta sẽ dùng bữa tối với nó và nó với Ta” (Kh 3.20). Đức Giêsu vẫn luôn đứng bên cửa lòng ta, Ngài vẫn gõ để ta mở cửa cho Ngài vào với ta. Như vậy đã rõ không phải Ngài không đến với ta, mà chính ta không mở cửa và không mời Ngàu vào. Cũng như hai môn đệ Em-mau, nếu lúc ấy họ từ chối không cho Đức Giêsu đi cùng, thì sao họ có phút làm lòng như thế?
1/ Vậy, lúc chúng ta đọc Kinh Tháuh một mình hay ở nhà thờ, nếu chúng ta mở tai linh hồn ra cho Chúa vào, Chúa sẽ đích thân nói với ta những điều làm ta được an ủi, phấn khích. Chúa vẫn đích thân nói với mỗi người chúng ta ngày hôm nay. Đức Kitô nói với ta không phải như một người bạn ở xa liên lạc bằng thư từ, bởi vì Kinh Thánh nói: “Thiên Chúa đâu có ở xa chúng ta” (Cv 17.27) và câu khác nói: “Đức Kitô ở ngay trong lòng ta” (Ep 3.l7). Thánh Augutinô bảo: “Ta hãy nghe Tin Mừng như Đức Kitô đang ở giữa ta”, Phúc Âm là chính miệng Đức Kitô đang nói”. Với người có lòng tin, chúng ta nghe đọc Kinh Thánh, nhưng kỳ thực là tiếng Đức Kitô đang nói với ta. Vì thế ta nói: “Đó là Lời Chúa! Tạ ơn Chúa!”.
Chúng ta thường thích nghe truyện các thánh, hay khá hơn thích đọc sách tu đức, đạo đức. Đành rằng nó viết dễ hiểu hơn, nhưng đó là Lời Chúa đã loãng ra rồi, ở các sách đó, ta chỉ còn nghe thấy tiếng vọng yếu ớt của chính Lời Đức Kitô. Vì thế, chị Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, không còn thích đọc các sách tu đức, thiêng liêng lạt lẽo của loài người viết, chị quyết định chỉ đọc Sách Thánh thôi. Nhưng thời ấy, Sách Thánh bằng tiếng La tinh, và không in ra cho bổn đạo dùng, chỉ có những đoạn trích đăng trong các sách lễ quanh năm là được dịch ra tiếng bản quốc. Thế là chị Têrêsa chịu khó chép tất cả các đoạn đó, làm thành một tập riêng. Lúc chị qua đời, người ta tìm thấy tập vở chép các đoạn Kinh Thánh trong túi trên ngực chị. Các đoạn Kinh Thánh ấy đã là lương thực nuôi tâm hồn chị, đã là kim chỉ nam, là la bàn chỉ hướng cho cuộc đời chị, cách riêng chỉ cho chị con đường thơ ấu thiêng liêng, đã làm chị mau chóng nên thánh thiện tuyệt đối, con đường ấy đã nổi tiếng khắp thế giới, đã đưa bao tâm hồn mau nên thánh như chị.
2/ Lời Chúa có mãnh lực lạ lùng lắm: Cứ so sánh một chút: tại sao có câu:
“Roi song đánh đoạn thì thôi,
Một lời xiết cạnh muôn đời không quên”
Lời người ta, ví như roi song, roi mây đánh đau lắm, nhưng roi mây, roi song có đau, một lúc là hết: còn lời cay chua, châm biếm, đến muôn đời còn làm ta đau. Vậy lời nói của loài người cao thượng hay tầm thường, an ủi hay thoá mạ, đều có sức mạnh tâm lý thấu đến tâm can ta, có thể làm ta trở thành xấu, hay ngược lại làm ta biến đổi thành người tốt, huống nữa là lời của Chúa Tể càn khôn, Đấng phép tắc vô cùng. Vì vậy, Kinh Thánh dạy: “Lời Chúa sắc bén như gươm hai lưỡi, đâm thấu suốt tâm can...” (Hr 4.12).
3/ Thấu suốt như thế để làm gì? Không phải để làm ta khổ vô ích, song nó vạch rõ các hang hốc tối tăm, ích kỷ, tội lỗi của ta, nó làm cho chính ta thấy rõ sự khốn hèn của ta, để ta sửa chữa, mà khỏi nguy hiểm phần hồn, cho ta được cứu rỗi. Bắt đầu rất khó chịu, nhưng sau từ từ sẽ thấy bình an, vui sướng, Lời Chúa lúc ấy sẽ sinh an ủi trong tâm hồn: nên Thánh Phaolô viết: “Tất cả những điều được viết ra là để giáo huấn chúng ta, hầu nhờ sự kiên nhẫn theo Chúa, và nhờ niềm an ủi của Thánh Kinh ban cho, mà ta được nức lòng trông cậy” sẽ được phúc trường sinh đời đời (Rm 15.4). Thánh Kinh ban an ủi, hân hoan, những khoái trá tinh khiết, những ủi an nuôi dưỡng lòng tin cậy, những nâng đỡ, khích lệ khiến sách Ma-ca-bê đã phải viết: chúng tôi chẳng cần gì và cần ai cả, bởi để an ủi, chúng tôi đã có Sách Thánh đang ở trong tay chúng tôi”.
4/ Các thánh giáo phụ đã tìm kiếm hết mọi hình ảnh để tả vẻ giàu có phong phú của Kinh Thánh. Thánh Giê-rô-ni-mô nói: “Lời Tin Mừng thật là của ăn và của uống, và thứ bánh đầy chất bổ béo”. Thánh Am-brô-xi-ô nói: “Thánh Kinh là thuốc chữa hết mọi bệnh tật”, “Hãy cầm lấy Thánh Kinh mà uống, trong đó có thuốc chữa cho tất cả mỏi bệnh tật”, đó là lời Thánh Ao-gu-ti-nô. Còn Thánh A-tha-na-xi-ô bảo: Kinh Thánh làm cho cừu địch của ta phải tẩu thoát (giống như hồi Đức Giêsu bị cám dỗ, Chúa cũng dùng một câu Kinh Thánh làm cho ma quỉ phải xéo đi). Tại sao vậy? Tại vì trong Kinh Thánh có Chúa hiện diện, và ma quỉ không thể chịu được sự hiện diện này, nên nó phải kêu lên: Xin Ngài đừng phá việc chúng tôi trước thời đã định”.
5/ Nhưng người công giáo tôn thờ Thánh Thể rất siêng năng, nhưng coi thường Sách Thánh. Nhưng họ đã lầm, vì nếu họ không nghe Lời Chúa để hiểu và thêm mạnh tin, thì họ không đủ tâm trạng để đón nhận Thánh Thể cách xứng hợp và có ơn ích. Bí quyết mở lòng người ta đón nhận Thánh Thể, đó là Thánh Kinh. Do đó, biết bao nhiêu tín hữu coi thường Lời Chúa, cứ đi chịu thánh Thể suốt bao năm trường, mà có thấy tốt lành, đạo đức gì hơn đâu!
Tin Mừng Thánh Gioan có câu: “Ai bởi Thiên Chúa thì nghe lời Thiên Chúa” (8.47). Bởi Thiên Chúa là sinh bởi Thiên Chúa, thuộc về con cái Thiên Chúa, thì nghe lời Thiên Chúa. Vì khi ta tôn kính, trọng vọng ai, ta sung sướng nghe lời người ấy. Kìa xem một cô gái đang yêu, cô chú ý nghe từng lời, từng chữ của người yêu, rồi cô nhớ lấy hết, kể lại cho người bạn nghe: Anh ấy bảo tao thế này, thế nọ... Kìa xem con cái hiếu thảo, lời nào của cha mẹ, họ cũng lấy làm trọng... Hãy xem cô Maria, em bà Mat-ta, cô ngồi hàng giờ dưới chân Chúa, nghe lời Chúa, đến nỗi Chúa phải khen: “Maria đã chọn phần tối hảo, nó sẽ không bao giờ bị mất phần ấy cả”; ý nói: cô đã yêu mến và tôn trọng Chúa, Chúa sẽ không bao giờ để cô mất phần thưởng đời đời.
Vậy các bạn có bởi Thiên Chúa không? Có thuộc về Chúa không? Hãy tỏ ra bằng cách ham nghe Lời Chúa. Đó là dấu bạn đang sống trong ơn nghĩa Chúa. Kẻ ham nghe Lời, cũng giống như người cảm thấy đói. Đó là dấu sức khoẻ tốt - Thánh Gioan Kim Khẩu nói vậy - vì kẻ không thấy đói, không thấy thèm ăn là dấu có bệnh. Cũng vậy, ai chán nghe giảng, nghe Lời Chúa thấy mệt mỏi, không thích, người ta kết luận chắc chắn rằng: tình trạng linh hồn ấy không ổn. Họ tránh nghe Lời Chúa như kẻ đau mắt tránh ánh sáng. Hơn thế, họ còn căm tức, chống báng khi có ai đem Lời Chúa đến nói cho họ. Khi ma quỉ muốn lôi kéo một cô hay một cậu thanh niên nào xuống vực thẳm, việc trước hết là nó làm cho họ ghét nghe giảng dạy.
Cho nên, ham nghe Lời Chúa là dấu họ sinh bởi Chúa, là con cái Chúa, thuộc về Chúa. Hơn nữa, còn là dấu họ yêu mến Người. Chắc có bạn nói: Nghe giảng buồn lắm, thể thao hay ciné và vidéo vui thú hơn nhiều: ở đấy thấy nhiều cái mới lạ, hấp dẫn và giải trí, mà chẳng phải suy nghĩ gì nhiều. Thật ra, chẳng ai cấm bạn đi xi-nê, chơi thể thao..., nhưng bạn đừng bỏ việc nghe Lời Chúa, nghe giảng dạy. Nhiều bạn trẻ quá đòi hỏi: không có linh mục nào giảng vừa ý họ. Bạn đi quá trớn rồi đó! Làm sao các linh mục phải hết thảy là những nhà hùng biện trứ danh được? Đừng quên rằng: lời chân lý có giá trị hơn là hùng biện. Vì nếu chỉ đi nghe giảng để tìm cái hay, cái vui trong đó, hoặc tìm những lời lẽ, lý luận hay ho, thì Thánh Phaolô đã cẩn thận dặn rằng: “Coi chừng, nếu anh em đòi như thế, thì hoá ra anh em xây đức tin của mình trên lý 1ẽ khôn ngoan người đời, chứ không xây trên quyền phép của Thiên Chúa” (1Cr 2.5). Nói cách khác, đó không còn là tin, mà là bị thuyết phục bởi tài hùng biện.
Bạn có muốn tâm hồn bạn không đi lạc hướng mà hỏng mất cuộc đời? Hãy đọc Lời Chúa! Bạn có muốn thấy vui tươi mà sống, thấy đời mình có lý nghĩa không? Hãy chăm đọc hoặc nghe Lời Chúa! Bạn có muốn được tâm hồn bình an, đầy an ủi, đầy lửa nóng, hăng hái trong yêu mến Chúa và phục vụ tha nhân không? Hãy đến với Thánh Kinh! Lời Chúa sẽ ban cho bạn được tất cả các điều đó. Hai môn đệ Em-mau đã thú nhận: “Lòng chúng ta chẳng đã bừng bừng lên khi nghe Ngài giảng giải Thánh Kinh cho ta đó ư?”
Tích truyện
Thánh Gioan Vi-a-nê, là cha sở một họ đạo nhà quê, nghèo và nhỏ bé bên Pháp. Ngài giảng rất vụng về, nhiều khi lúng túng quên đầu quên đuôi, có lúc không biết nói gì, đứng đực ra trên tòa giảng rồi khóc. Các bổn đạo có chế nhạo hoặc bỏ đi không? Không đâu! Bởi sự thánh thiện của Ngài, bài giảng vụng về, song lại có một sức siêu nhiên đâm thấu lòng họ, làm họ cũng chảy nước mắt ra... Cứ từ từ, làng quê ấy, trước khi Ngài đến làm Cha sở, thì nhậu nhẹt, chơi bời, nhảy nhót, say sưa...; dần dần, họ đã thay đổi hẳn và trở thành một họ đạo gương mẫu và thánh thiện. Một hôm, có một sĩ quan cao cấp đến nghe Ngài giảng. Người ta hỏi:
- Ông cảm nghĩ về bài giảng làm sao?
Ông đáp:
- Thường thường, tôi không mấy bằng lòng về cha giảng, nhưng lần này, nghe cha Via ne.giảng, tôi không mấy bằng lòng về chính tôi.
Ông hối tội và ăn năn trở lại.
|