|
|
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM QUYỂN VII PHẦN II THIÊN I * Điều 1501: Thẩm phán không được xét xử bất cứ vụ án nào, nếu người liên hệ hay công tố viên không đệ đơn yêu cầu, chiếu theo các Điều của Giáo luật. * Điều 1502: Ai muốn kiện một người nào phải đệ đơn nơi thẩm phán có thẩm quyền, trong đơn phải trình bày đối tượng của sự tranh tụng và xin được thẩm phán xét xử. * Điều 1503: #1. Thẩm phán có thể nhậm lời yêu cầu bằng miệng của nguyên cáo mỗi khi người nầy bị ngăn trở không trình đơn được, hay khi vụ án dễ cứu xét và không mấy quan trọng. #2. Tuy nhiên, trong cả hai trường hợp, thẩm phán phải truyền cho công chứng viên soạn thảo án từ trên giấy tờ, án từ ấy phải được đọc cho nguyên cáo nghe và phải được người ấy chấp thuận; án từ nầy thay thế đơn khởi tố trên giấy tờ của nguyên cáo và có mọi hiệu quả pháp lý. * Điều 1504: Đơn khởi tố phải:
* Điều 1505: #1. Sau khi nhận thấy sự việc thuộc về thẩm quyền của mình, và nguyên cáo không thiếu tư cách hợp pháp để ra tòa, thẩm phán duy nhất hay vị chủ trì tòa án hiệp đoàn, phải sớm hết sức ra sắc lệnh chấp nhận hay bác bỏ đơn xin. #2. Đơn xin chỉ có thể bị bác bỏ:
#3 . Nếu đơn bị bác bỏ vì những hà tì có thể sửa chữa được, nguyên cáo có thể viết lại đúng cách một đơn khác và trình lại cho cùng một thẩm phán ấy. #4. Để chống lại việc bác đơn, nguyên cáo luôn có trọn quyền, trong thời gian hữu hạn 10 ngày, đệ đơn kháng cáo có viện dẫn lý do hoặc lên tòa án kháng cáo hoặc lên hiệp đoàn thẩm phán, nếu đơn bị chủ tịch hiệp đoàn bác bỏ; nhưng vấn đề bác đơn phải được quyết định hết sức mau lẹ. * Điều 1506: Nếu trong hạn định một tháng tính từ khi nộp đơn, thẩm phán không ra sắc lệnh chấp nhận hay bác bỏ đơn xin, chiếu Điều 1505, bên liên hệ có thể kêu nài để thẩm phán thi hành nhiệm vụ của mình; nếu quá mười ngày tính từ ngày kêu nài mà thẩm phán vẫn không trả lời thì đơn xin phải coi như được chấp nhận. CHƯƠNG II * Điều 1507: #1. Trong sắc lệnh chấp nhận đơn của nguyên cáo, thẩm phán hay vị chủ trì tòa án phải mời hay triệu tập các bên khác ra tòa để đối tụng, ấn định xem các bên đó phải trả lời bằng giấy tờ hay phải trình diện trước mặt mình để thỏa thuận với nhau về những điều còn nghi vấn. Nếu qua những câu trả lời bằng giấy tờ nhận thấy cần phải triệu tập các bên, thẩm phán hay vị chủ trì có thể ấn định bằng một sắc lệnh mới. #2. Nếu đơn xem như là được chấp nhận chiếu Điều 1506, sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được ban hành trong vòng hai mươi ngày kể từ ngày kêu nài, như nói ở Điều ấy. #3. Nếu trong thực tế, các bên đối tượng tự động đến trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án thì không cần phải triệu tập, những công chứng viên phải ghi trong các án từ rằng các bên đã có mặt tại tòa. * Điều 1508: #1. Sắc lệnh triệu tập ra tòa phải được thông báo ngay cho bị cáo và đồng thời cũng phải được thông báo cho những người nào phải ra trình diện. #2. Đơn khởi tố phải đính kèm với lệnh triệu tập, trừ khi vì lý do quan trọng, thẩm phán nghĩ không nên thông báo đơn cho bị cáo, trước khi người nầy cung khai tại tòa. #3. Nếu vụ kiện nhằm chống lại người không được tự do quản lý những của cải đang bị tranh chấp, thì tùy trường hợp lệnh triệu tập phải được thông báo cho người giám hộ, người quản tài, người đại diện đặc biệt hay người nào, chiếu theo luật, phải nhân danh bị cáo để ra tòa đối tụng. * Điều 1509: #1. Việc thông báo các giấy triệu tập, các sắc lệnh, các phán quyết và các án từ khác phải được thực hiện qua bưu điện hay bằng cách nào khác chắc chắn nhất, vẫn giữ nguyên các qui tắc luật đặc lập ấn định. #2. Sự kiện và cách thức thông báo phải được ghi rõ trong các án từ. * Điều 1510: Bị cáo nào từ chối không nhận giấy triệu tập hay ngăn trở không cho giấy triệu tập đến tay mình, phải xem là đã được triệu tập cách hợp pháp. * Điều 1511: Nếu lệnh triệu tập không được thông báo cách hợp pháp, các án từ đều vô giá trị, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1507 #3. * Điều 1512: Khi việc triệu tập đã được thông báo cách hợp pháp, hoặc các bên đã ra trình diện trước thẩm phán để giải quyết vụ án:
TIẾT II * Điều 1513: #1. Có đối tụng khi thẩm phán ra sắc lệnh xác định nội dung của cuộc tranh tụng, nội dung nầy rút ra từ những lời thỉnh cầu và phúc đáp của các bên. #2. Những lời thỉnh cầu và phúc đáp của các bên có thể được trình bày không những trong đơn khởi tố mà còn trong lời phúc đáp việc triệu tập hay trong những tuyên bố bằng miệng trước thẩm phán; nhưng trong những vụ kiện khó hơn, thẩm phán phải triệu tập các bên để thỏa thuận với nhau về một hay nhiều nghi vấn phải được trả lời trong khi xử án #3. Sắc lệnh của thẩm phán phải được thông báo cho các bên; nếu các bên không đồng ý, thì có thể trong vòng mười ngày nại đến chính thẩm phán để xin đổi sắc lệnh; nhưng vấn đề nầy phải được giải quyết hết sức mau lẹ bằng sắc lệnh của chính thẩm phán. * Điều 1514: Một khi đã được xác định rồi, nội dung của vụ tranh tụng không thể được thay đổi thành sự, trừ khi có sắc lệnh mới, vì lý do quan trọng, theo yêu cầu của một bên và sau khi đã hỏi ý kiến các bên khác cũng như cân nhắc những lý lẽ của họ. * Điều 1515: Một khi có đối tụng, người chấp hữu của cải kẻ khác không còn là ngay tình nữa; vì thế nếu bị kết án phải trả lại của ấy thì cũng phải trả lại các hoa lợi thu được từ ngày có đối tụng và phải bồi thường các thiệt hại. * Điều 1516: Một khi có đối tụng, thẩm phán phải ấn định cho các bên một thời gian thích hợp để xuất trình và bổ sung những chứng cứ. TIẾT III * Điều 1517: Việc tiến hành bắt đầu bằng việc triệu tập; nhưng chấm dứt không những bằng việc tuyên án chung kết, mà còn bằng những cách thức khác do luật ấn định trước. * Điều 1518: Nếu một bên đương tụng chết hoặc đổi bậc sống hoặc chấm dứt chức vụ mà vì có đương sự khởi tố:
* Điều 1519: #1. Nếu người giám hộ hay người quản tài hay đại diện cần phải có chiếu Điều 1418 #1 và #3 chấm dứt nhiệm vụ, tiến hành vụ kiện được tạm thời đình chỉ. #2. Nhưng thẩm phán phải cắt cử sớm hết sức người giám hộ hay người quản tài khác; còn người đại diện trong vụ kiện có thể được thẩm phán cắt cử, nếu một bên lơ là làm việc ấy trong thời hạn ngắn do chính thẩm phán ấn định. * Điều 1520: Nếu trong vòng sáu tháng, các bên không thực hiện một hành vi tố tụng nào, mặc dầu không bị ngăn trở, thì vụ kiện thất hiệu. Luật đặc lập có thể ấn định hạn kỳ thất hiệu khác. * Điều 1521: Sự thất hiệu có giá trị do chính luật và chống lại tất cả, kể cả những người vị thành niên hay các người khác được đồng hóa với người vị thành niên, và cũng phải được tuyên bố do chức vụ, vẫn giữ nguyên quyền đòi những người giám hộ, quản tài, đại diện phải bồi thường, nếu họ không chứng minh được mình không có lỗi. * Điều 1522: Sự thất hiệu vô hiệu hóa những án từ về thủ tục chứ không vô hiệu hóa những án từ về vụ án; hơn nữa, những án từ về vụ án còn có thể có hiệu lực ở tòa án cấp khác, miễn là vụ kiện xảy ra giữa cùng những người ấy và về cùng một việc; nhưng đối với những người ngoại cuộc, chúng chỉ có giá trị tài liệu mà thôi. * Điều 1523: Khi việc xử án thất hiệu, những phí tổn do bên đương tụng nào đã gây ra, thì chính bên ấy phải gánh chịu. * Điều 1524: #1. Nguyên cáo có thể bãi nại trong bất cứ giai đoạn và cấp bậc nào của việc xử án; cũng vậy, cả nguyên cáo lẫn bị cáo có thể khước từ tất cả hay chỉ một số án từ tố tụng. #2. Để có thể bãi nại trong bất cứ giai đoạn và cấp bậc nào của việc xử án; cũng vậy, cả nguyên cáo lẫn bị cáo có thể khước từ tất cả hay chỉ một số án từ tố tụng. #3. Để có thể bãi nại, những người giám hộ và những người quản trị các pháp nhân cần phải có ý kiến hay sự đồng ý của những người buộc phải cộng tác để thực hiện những hành vi vượt quá giới hạn của việc hành chánh thông thường. #4. Để có hiệu lực, việc bãi nại phải được thực hiện bằng giấy tờ và do đương sự hay người đại diện của đương sự ký vào, người đại diện phải có ủy nhiệm đặc biệt, ngoài ra, phải được thông báo cho bên kia biết để bên ấy chấp nhận, hay ít nhất không bị bên ấy phản đối, và sau hết còn phải được thẩm phán thừa nhận. * Điều 1525: Một khi được thẩm phán thừa nhận, việc bãi nại có những hiệu quả như sự thất hiệu của vụ kiện đối với những án từ đã bị khước từ và cũng buộc người bãi nại phải gánh chịu những phí tổn liên quan tới những án từ bị khước từ. TIẾT IV * Điều 1526: #1. Ai đã quả quyết thì có trách vụ phải chứng minh. #2. Không cần chứng cứ:
* Điều 1527: #1. Có thể viện dẫn những chứng cứ thuộc bất cứ loại nào xem ra có ích để xét xử vụ án và có tính cách hợp pháp. #2. Nếu một bên yêu cầu thừa nhận chứng cứ đã bị thẩm phán loại bỏ, chính thẩm phán phải giải quyết vấn đề hết sức nhanh chóng. * Điều 1528: Nếu một bên hay một nhân chứng từ chối trình diện để trả lời trước thẩm phán, thì được phép hỏi cung họ, kể cả nhờ một giáo dân do thẩm phán chỉ định hoặc xin họ khai trước mặt công chứng viên dân sự hay khai bằng bất cứ cách thức hợp pháp nào khác. * Điều 1529: Thẩm phán không được thu thập chứng cứ trước khi có đối tụng, trừ khi có lý do nghiêm trọng. CHƯƠNG I * Điều 1530: Thẩm phán luôn có thể thẩm vấn các bên để tìm ra sự thật dễ dàng hơn, hơn nữa, thẩm phán phải thẩm vấn các bên khi một bên yêu cầu hay để chứng minh một sự kiện mà công ích đòi phải biết rõ không nghi ngờ. * Điều 1531: #1. Bên được thẩm vấn cách hợp pháp phải trả lời và phải nói hết sự thật. #2. Nếu bên nào từ chối trả lời, thẩm phán có quyền xét định xem điều gì có thể suy diễn được từ đó để chứng minh các sự kiện. * Điều 1532: Trong những trường hợp liên quan tới công ích, thẩm phán phải buộc các bên thề sẽ nói sự thật, trừ khi có lý do nghiêm trọng khuyên làm thể khác; trong những trường hợp khác, thẩm phán có thể làm như thế tùy sự khôn ngoan của mình. * Điều 1533: Các bên, công tố viên và bảo hệ viên có thể trình bày cho thẩm phán những vấn đề mà dựa trên đó một bên sẽ bị thẩm vấn. * Điều 1534: Về việc thẩm vấn các bên, phải tùy nghi giữ những gì được ấn định trong những điều 1548 #2, số 1; 1552 và 1558 – 1565 về các nhân chứng. * Điều 1535: Khi một bên nào hoặc tự ý hoặc vì thẩm phán hỏi mà quả quyết bất lợi cho mình bằng lời nói hay trên giấy tờ trước mặt thẩm phán có thẩm quyền về một sự kiện nào liên quan tới chính nội dung vụ án, việc quả quyết như thế gọi là tự thú tư pháp. * Điều 1536: #1. Việc tự thú tư pháp của một bên nếu là về công việc tư nào và không liên quan tới công ích, thì chuẩn miễn cho các bên khác khỏi phải chứng minh. #2. Nhưng trong những trường hợp liên quan đến công ích, việc tự thú tư pháp và các lời khai nào của các bên mà không có tính cách tự thú, có thể có hiệu lực chứng minh; hiệu lực chứng minh nầy phải được thẩm phán thẩm định cùng với các hoàn cảnh khác vụ án, nhưng chúng không có hiệu lực chứng minh đầy đủ nếu không được hoàn toàn bổ túc bằng những yếu tố vững chắc khác. * Điều 1537: Đối với lời tự thú ngoài tư pháp được đưa vào để xử kiện, thẩm phán có nhiệm vụ thẩm định xem lời tự thú ấy có giá trị đến mức nào, sau khi cân nhắc mọi hoàn cảnh. * Điều 1538: Lời tự thú hay bất cứ lời khai nào khác của một bên không có giá trị nào, nếu thấy rõ lời tự thú hay lời khai ấy là do lầm lẫn về sự kiện hoặc do bạo lực hay do sợ sệt trầm trọng. CHƯƠNG II * Điều 1539: Việc chứng minh bằng tài liệu, công cũng như tư, được chấp nhận trong việc xử kiện thuộc bất cứ loại nào. MỤC 1 * Điều 1540: #1. Những tài liệu công thuộc Giáo Hội là những tài liệu do một viên chức làm ra khi hành sử nhiệm vụ của mình trong Giáo Hội, vẫn giữ những trọng thức pháp định. #2. Những tài liệu công dân sự là những tài liệu được công nhận như thế theo luật của từng địa phương. #3. Các tài liệu khác là tài liệu tư. * Điều 1541: Trừ khi có những luận cứ ngược lại và hiển nhiên chứng minh thể khác, những tài liệu công chứng thực về những điều được quả quyết trực tiếp và chính yếu trong đó. * Điều 1542: Tài liệu tư, do một bên nào thừa nhận hay được thẩm phán chấp nhận, có hiệu lực chứng minh chống lại tác giả hay người ký tên và những người thụ quyền của họ, như lời tự thú ngoài tư pháp; còn để chống lại với những người ngoài cuộc, tài liệu nói trên có hiệu lực chứng minh như những lời khai không phải là những lời tự thú của các bên chiếu Điều 1536 #2. * Điều 1543: Nếu những tài liệu được chứng minh là đã bị tẩy xóa, sửa chữa, thêm thắt hay có hà tì nào khác, thẩm phán có nghĩa vụ thẩm định xem tài liệu ấy có giá trị không và giá trị tới mức nào. MỤC 2 * Điều 1544: Những tài liệu không có hiệu lực chứng minh trong việc xử kiện, nếu không phải là bản chính hoặc bản sao đã được công chứng và được đệ nạp ở văn phòng tòa án, để thẩm phán và đối phương có thể nghiên cứu được. * Điều 1545: Thẩm phán có quyền ra lệnh xuất trình trong vụ kiện một tài liệu chung cho cả hai bên. *Điều 1546: #1. Không bị bắt buột xuất trình những tài liệu, mặc dầu là tài liệu chung, khi những tài liệu ấy không thể được xuất trình mà không có nguy cơ thiệt hại chiếu điều 1548, #2, số 2, hoặc nguy cơ vi phạm luật giữ bí mật. #2 . tuy nhiên, nếu ít nhất một phần nào của tài liệu ấy có thể được trích lục và được xuất tình bằng bản sao mà không gây những bất tiện nêu trên, thẩm phán có thể ra lệnh xuất trình phần tài liệu ấy. CHƯƠNG III * Điều 1547: Việc chứng minh qua các người làm chứng được chấp hận trong bất cứ vụ án nào, dưới sự điều hành của thẩm phán. * Điều 1548: #1. Khi các người làm chứng phải nói sự thật với thẩm phán khi được hỏi cách hợp pháp. #2 . Vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1550 #2, số 2, những người sau đây được miễn trả lời :
MỤC 1 * Điều 1549: Tất cả mọi người đề có thể làm chứng, nếu không bị luật minh nhiên loại bỏ hoàn toàn hay một phần. * Điều 1550: #1. Không được nhận cho làm chứng, những người vị thành niên dưới 14 tuổi và những người suy nhược tâm thần, nhưng họ có thể được hỏi ý kiến do sắc lệnh của thẩm phán tuyên bố rằng điều đó là có ích. #2. Những người sau đây được coi là không có khả năng làm chứng:
MỤC 2 * Điều 1551: Bên nào đã trình toà một người làm chứng, có thể khước từ việc thẩm vấn người ấy; nhưng đối phương có thể yêu cầu cứ thẩm vấn người ấy. * Điều 1552: #1. Khi có nhu cầu chứng minh nhờ những người làm chứng, phải cho toà án biết tên và gia cư của họ . #2. Trong thời hạn do thẩm phán ấn định, phải trình bày cho biết những điểm mình xin những người làm chứng được thẩm vấn; bằng không, lời yêu cầu coi như bị huỷ bỏ. * Điều 1553: Thẩm phán có bổn phận hạn chế số những người làm chứng quá đông. * Điều 1554: Trước khi thẩm vấn các người làm chứng, phải thông báo tên của họ cho các bên; nhưng nếu theo sự thẩm định khôn ngoan của thẩm phán, điều đó không thể thực hiện mà không gây khó khăn trầm trọng, thì phải thông báo ít nhất trước khi công bố các chứng cứ. * Điều 1555: Vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1550, một bên có thể yêu cầu loại bỏ một người làm chứng, nếu chứng minh được là có lý do chính đáng để loại trừ, trước khi thẩm vấn người làm chứng ấy. * Điều 1556: Việc triệu tập người làm chứng được thực hiện do sắc lệnh của thẩm phán; sắc lệnh này phải được hợp pháp thông tri cho người làm chứng. *Điều 1557: Khi được triệu tập cách hợp thức, người làm chứng phải trình diện hoặc phải cho thẩm phán biết tại sao mình vắng mặt. MỤC 3 * Điều 1558: #1. Những người làm chứng phải được thẩm vấn tại chính trụ sở toà án, trừ khi thẩm phán thấy có thể. #2. Các Hồng Y, Thượng Phụ, Giám mục và những người theo luật quốc gia của mình được hưởng đặc ân tương tự, phải được thẩm vấn tại nơi chính các vị ấy đã chọn. #3. Thẩm phán phải quyết định nơi thẩm vấn những người vì xa xôi, bệnh tật hay vì ngăn trở nào khác không thể hay khó đến trụ sở toà án, vẩn giữ nguyên qui định của Điều 1418 và 1469 #2. * Điều 1559: Các bên không được tham dự cuộc thẩm vấn các nhân chứng, trừ khi thẩm phán nghĩ là phải cho họ tham dự, nhất là khi sự việc liên quan tới tư ích. Tuy nhiên, những người bàu chữa hay nhữn đại diện của họ có thể tham dự, từ khi thẩm phán nghĩ rằng phải tiến hành cách bí mật vì những hoàn cảch sự việc hay nhân sự. * Điều 1560: #1. Các người làm chứng phải được thẩm vấn riêng từng người một. #2. Nếu những người làm chứng không đồng ý riêng với nhau hay với một bên về một vấn đề quan trọng, thẩm phán có thể cho những người ấy gặp nhau, tức là đối chất với nhau, nhưng phải làm hết sức để tránh cải cọ và gây gương xấu. * Điều 1561: Việc thẩm vấn người làm chứng được thực hiện do thẩm phán hay do người được thẩm phán uỷ nhiệm hoặc do dự thẩm, và phải có sự hiện diện của công chứng viên; vì thế, trừ khi luật đặc lập định liệu thế khác, nếu các bên hay công tố viên hay bảo vệ viên hay những người bàu chữa có mặt trong cuộc thẩm vấn có những câu hỏi khác phải đặt ra cho người làm chứng, nhưng cho thẩm phán hay người thay thế thẩm phán, để chính ngưới này nêu lên những câu hỏi ấy. * Điều 1562: #1. Thẩm phán phải nhắc nhở cho người làm chứng nghhia4 vụ nặng nề là phải nói hết sự thật và chỉ nói sự thật mà thôi. #2. Thẩm phán đòi hỏi người làm chứng phải tuyên thệ chiếu Điều 1532; nhưng nếu người làm chứng từ chối tuyên thệ thì cũng phải nghe người ấy mặc dầu người ấy không tuyên thệ. * Điều 1563: Trước tiên, thẩm phán phải xác nhận lý lịch của người làm chứng; phải hỏi cho biết người ấy có liên hệ gì với các bên, và khi đặc ra cho người làm chứng những câu hỏi đặc biệt về vụ án, thẩm phán cũng phải hỏi cho biết lý do đâu và vào thời gian chính xác nào người làm chứng biết những điều mình quả quyết. *Điều 1564: Các câu hỏi phải ngắn gọn, hợp với trình độ của người được thẩm vấn, không bao hàm một lúc nhiều vấn đề, không quanh co, không xảo quyệt, không gợi ra câu trả lời, không có tính cách khiêu khích bất cứ ai và phải liên quan đến vụ án đang được xét xử. * Điều 1565: #1. Những câu hỏi không được thông báo trước cho người làm chứng. #2. Tuy nhiên, nếu các sự kiện phải đơục làm chứng đã được quên đi đến nỗi chúng không được quả quyết chắc chắn nếu không được nhắc lại trước, thì thẩm phán có thể nói trước ít nhiều điều, nếu nghĩ rằng việc làm đó không gây nguy hiểm nào. * Điều 1566: Nhân chướng phải làm chứng bằng miệng và không được đọc giấy viết sẳn, trừ khi phải nói đến những con số và sổ sách; trong trường hợp này, họ có thể tham khảo những điều ghi chú họ đã mang theo. * Điều 1567: #1. Câu trả lời phải được công chứng viên ghi ngay trên giấy tờ và công chứng viên phải ghi nguyên văn lời chứng đã được đưa ra, ít đối với những vấn đề trực tiếp liên quan tới nội dung việc xét xử. #2. Có thể chấp nhận cho dùng máy ghi âm, miễn là sau đó các câu trả lời phải được ghi chép lại trên giấy tờ, và nếu có thể, phải được những người cung khai ký tên vào. * Điều 1568: Công chứng viên phải ghi vào các án từ: lời thề đã được đọc, đã được miễn chuẩn hay bị từ chối, sự hiện diện của các bên và những người khác, các câu hỏi được ghi thêm vào do chức vụ, và nói chung, tất cả những gì đáng ghi nhớ có thể xãy ra khi thẩm vấn các người làm chứng. * Điều 1569: #1. Thẩm vấn xong, phải đọc cho người làm chứng nghe những gì công chứng viên đã ghi trên giấy tờ hay cho những người làm chứng nghe những gì đã đã được ghi qua máy ghi âm về những gì người ấy đã cung khai, và cho người làm chứng được quyền thêm, bỏ, sửa chữa, thay đổi. #2. Sau hết, người làm chứng, thẩm phán và công chứng viên phải ký vào án tù. * Điều 1570: Trước khi công bố các án từ hay những lời chứng, các người làm chứng, mặc dù đã được thẩm vấn rồi, có thể được gọi ra để thẩm vấn, khi một bên yêu cầu hay do chức vụ, nếu thẩm phán thấy điều đó cần thiết hay hữu ích, miễn là không có nguy cơ thông đồng hay hối lộ nào. * Điều 1571: Tuỳ theo ước lượng tương bình của thẩm phán, các người làm chứng phải được hoàn lại cả những phí tổn phải chịu lẫn những lợi tức đã mất vì phải ra làm chứng. MỤC 4 * Điều 1572: Trong việc thẩm định các chứng cứ, sau khi đã đòi những chứng thư nếu cần, thẩm phán phải cứu xét để biết.
* Điều 1573: Việc cung khai của một người làm chứng duy nhất không thể đáng tin hoàn toàn, trừ khi đó là một người làm chứng có tư cách và cung khai về những sự việc đã được thực hiện do chức vụ, hoặc khi hoàn cảnh sự việc và nhân sự khuyến cáo thế khác. CHƯƠNG IV * Điều 1574: Phải nhờ đến các chuyên viên, mỗi khi do qui định của luật hay của thẩm phán cần đến việc nghiên cứu và ý kiến của họ dựa trên những qui luật kỹ thuật hay khoa học, để chứng minh một sự kiện nào đó hay để biết thực chất của một việc nào. * Điều 1575: Thẩm phán có quyền bổ nhiệm các chuyên viên, sau khi đã nghe các bên hay do các bên đề nghị,hoặc, tuỳ trường hợp, thu nạp những bản phúc trình do các chuyên viên khác đã làm. * Điều 1576: Các chuyên viên cũng bị loại trừ hoặc có thể bị khước từ vì lý do như đối với người làm chứng. * Điều 1577: #1. Sau khi đã lưu ý đến điều các bên đối tụng trình bày, thẩm phán phải ra sắc lệnh từng điểm mà các chuyên viên phải nghiên cứu. #2. Phải trao cho chuyên viên những án từ của vụ án cũng như những tài liệu và những chi tiết khác người ấy có thể cần đến chu toàn đúng cách và trung thành nhiệm vụ của mình. #3. Sau khi nghe ý kiến chuyên viên, thẩm phán sẽ ấn định thời hạn phải hoàn tất việc nghiên cứu và đệ nạp bản phúc trình. * Điều 1578: #1. Mỗi chuyên viên phải làm bản phúc trình riêng biệt nhau, trừ khi thẩm phán truyền làm bản phúc trình chung để từng người ký vào; trong tường hợp này, những ý kiến bất đồng, nếu có, phải được ghi chú cẩn thận. #2. Những chuyên viên phải chỉ rõ đã dùng những tài liệu nào hay những cách thế thúch hợp nào khác để biết lý lịch về người hay sự việc hay nơi chốn, cũng phải chỉ rõ để tiến hành công việc bằng đường lối và phương pháp nào trong khi thực hiện nhiệm vụ được trao phó, và phải cho biết rõ đã dựa trên những chứng nào hơn hết để kết luận. #3. Chuyên viên có thể được thẩm phán triệu tập để cung cấp thêm những lời giải thích mà về sau thấy là cần thiết. * Điều 1579: #1. Thẩm phán phải chú ý cân nhắc chẳng những các kết luận của các chuyên viên mặc dù phù hợp với nhau, mà còn cả các hoàn cảnh khác của vụ án nữa. #2. Khi đưa ra những lý do đã quyết định, thẩm phán phải trình bày những chứng cứ nào đã đưa đến việc chấp nhận hay lại trừ những kết luận của các chuyên viên. * Điều 1580: Phải trả cho các chuyên viên những phí tổn và thù lao do thẩm phán ấn định cách hợp lý và tương bình, vẫn giữ nguyên luật đặc lập. * Điều 1581: #1. Các bên có thể chỉ định các chuyên viên tư, nhưng phải được thẩm phán chuẩn nhận. #2. nếu các thẩm phán cho phép, các chuyên viên tư này có thể tham khảo những án từ trong mức độ cần thiết, và có mặt trong khi thực hiện việc giám định; tuy nhiên, họ luôn có thể đệ nạp bản phúc trình riêng của mình. CHƯƠNG V * Điều 1582: Nếu để giải quyết một vụ án, thẩm phán thấy là thích hợp việc đi đến một nơi hay xem xét một vật thì phải quyết định điều đó bằng một sắc lệnh, trong đó, sau khi đã hỏi ý kiến các bên, phải vắn tắt kê khai những gì sẽ làm trong lúc di động đến trường sở. * Điều 1583: Phải lập biên bản về việc kiểm nhận đã được thực hiện. CHƯƠNG VI * Điều 1584: Sự suy đoán là sự phỏng định cái nhiên về một điều không chắc chắn; có thứ suy đoán pháp định là do chính luật ấn định ; có tứ suy đoán nhân định là do thẩm phán phỏng định. * Điều 1585: Sự suy đoán pháp định có lợi cho ai thì người ấy khỏi phải viện dẫn chứng cứ, nghĩa vụ này thuộc đối phương. * Điều 1586: Thẩm phán không được phỏng định những suy đoán mà luật pháp không ấn định, trừ khi dựa trên một sự kiện chắc chắn và nhất định nào trực tiếp liên hệ đến điều đang tranh chấp. TIẾT V * Điều 1587: Có vụ án phụ mỗi khi đã triệu tập để bắt đầu vụ án một vấn đề được đặt ra, vấn đề này tuy không được minh nhiên ghi trong đơn khởi tố, nhưng gắn liền chặt chẽ với vụ án đến nỗi thường phải được giải quyết trước vấn đề chính. * Điều 1588: Vụ án phụ đới được trình lên thẩm phán có thẩm quyền xét xử vụ án chính, bằng giấy tờ hay bằng miệng nêu rõ mối tương quan giữa vụ án phụ đới và vụ án chính. * Điều 1589: #1. Sau khi đã nhận được lời thỉnh cầu và nghe các bên, thẩm phán phải thật nhanh chóng quyết định xem coi vấn đề phụ đới được trình lên có nền tảng và có liên hệ đến vụ án chính hay không, hay trái lại phải bác bỏ ngay từ đầu; nếu chấp nhận vụ án phụ đới đó, thẩm phán phải quyết định xem coi vụ án ấy có nghiêm trọng đến nỗi phải được giải quyết bằng trung phán hay bằng sắc lệnh. #2. Còn nếu vụ án phụ đới không buột phải giải quyết trước án lệnh chung quyết, thẩm phán phải quyết định sẽ giải quyết khi vụ án chính được xét xử. * Điều 1590: #1. Nếu vụ án phụ đới phải được giải quyết bằng án lệnh, thì phải tuân giữ các qui tắt về vụ kiện tranh tụng bằng miệng, trừ khi vì tính nghiêm trọng của vấn đề, thẩm phán thấy thể khác. #2.Còn nếu vụ án phụ đới phải được giải quyết bằng sắc lệnh, toàn án có thể trao việc đó cho dự thẩm hay chủ tịch. * Điều 1591: Trước khi kết thúc vụ án chính, thẩm phán hay toà án vì lý do chính đáng, có thể thu hồi hoặc sửa đổi sắc lệnh hay án trung phán do yêu cầu của một bên, hoặc chiếu theo chức vụ, sau khi đã nghe các bên. CHƯƠNG I * Điều 1592: #1. Nếu bị cáo được triệu tập không ra hầu toà cũng không đưa ra lý do thích hợp để vắng mặt, hoặc không trả lời chiếu Điều 1507 #1, thẩm phán phải công bố bị cáo vắng mặt không ra hầu toà và phải quyết định để vụ án tiến hành cho đến khi có bản án chung kết và đến khi thi hành bản ấy, vẫn giữ nguyên những điều phải giữ. #2.Trước khi ra sắc lệnh nói ở #1, thẩm phán phải biết chắc, cả bằng việc triệu tập một lần nữa nếu cần, rằng việc triệu tập đã được thực hiện cách hợp pháp và đã đến tai bị cáo trong thời gian hữu dụng. * Điều 1593: #1. Nếu sau đó bị cáo ra hầu toà hoặc đã trả lời trước khi xử vụ án, bị cáo có thể đưa ra những kết luật và chứng cứ, vẫn giữ nguyên quy định của Điều 1600; tuy nhiên, thẩm phán phải liệu sao đừng để vụ án do ý đồ nào đó kéo dài trong thời gian quá lâu và không cần thiết. #2. Dầu đã không ra hầu toà hoặc đã không trả lời trước khi xét xử vụ án, bị cáo có thể chống lại bản án; còn nếu chứng minh được mình đã bị ngăn trở cách hợp pháp, ngăn trở mà tước kia d8a4 không thể chứng minh được không do lổi mình, bị cáo có thể khiếu tố để tiêu huỷ bản án. * Điều 1594: Nếu nguyên cáo không ra hầu toà vào ngày và giờ đã ấn định d8ê3 đối tụng, cũng không đưa ra lý do thích hợp về sự vắng mặt:
* Điều 1595: #1. Nguyên cáo hay bị cáo nào vắng mặt không ra hầu toà, thì đã không chứng minh nào ngăn trở chính đáng, thì buột phải trả các án phí do sự vắng mặt của mình gây ra, cũng còn phải bồi thường thiệt hại cho bên kia nếu cần. #2. Nếu cả nguyên cáo lẫn bị cáo vắng mặt không ra hầu toà, họ buột phải toàn đới trả án phí. CHƯƠNG II * Điều 1596: #1. Người nào có liên hệ, thì có đơục chấp nhận can thiệp vào vụ án trong bất cứ giai đoạn nào của vụ kiện, hoặc với tư cách là bênh vực quyền lợi của riêng mình, hoặc với tư cách là phụ trợ để giúp đỡ một bên đương tụng. #2. Tuy nhiên để được chấp nhận, trước khi kết thúc vụ án, người ấy phải nộp đơn cho thẩm phán để vắn tắt chứng minh quyền can thiệp của mình. #3.Người can thiệp vào vụ án phải được chấp nhận trong hiện trạng của vụ án, người ấy phải được dành cho một hạn kỳ ngắn và có tính cưỡng định để trình bày chứng cứ của mình, nếu vụ án đã đến giai đoạn dẫn chứng. * Điều 1597: Nếu thấy sự can thiệp của đệ tam nhân là cần thiết, thẩm phán phải triệu tập người ấy ra hầu toà, sau khi đã nghe các bên. TIẾT VI * Điều 1598: #1. Sau khi đã có được các chứng cứ, thẩm phán phải ra sắc lệnh cho các bên và người bàu chữa của các bên được quyền kiểm tra tại văn phòng toà án các án từ họ chưa biết; nếu thẩm phán không làm như thế, việc xét xử sẽ vô hiệu. Hơn nữa, cũng có thể trao một bản sao các án từ cho những người bàu chữa nào yêu cầu; còn trong những vụ án liên quan đến công ích, để tránh các nguy hiểm rất trầm trọng, thẩm phán có thể quyết định không tiết lộ cho ai biế một án từ nào đó, nhưng phải liệu sao để quyền bàu chữa luôn được giữ nguyên vẹn. #2. Để bổ sung nững chứng cứ, các bên có thể trình cho thẩm phán những chứng cứ khác; sau khi đã có được những chứng cứ khác ấy rồi, nếu xét thấy cần, thẩm phán lại ra sắc lệnh nói ở #1. * Điều 1599: #1.Sau khi đã hoàn tất mọi việc liên quan tới việc viện dẫn chứng cứ, đến giai đoạn kết ciệc xét hỏi. #2. Việc xét hỏi kết thúc, mỗi khi các bên tuyên bố không còn điều gì khác phải thêm vào hoặc đã hết thời gian hữu dụng do thẩm phán ấn định để trình bày các chứng cứ, hoặc thẩm phán tuyên bố rằng, theo mình, vụ án đã được nghiên cứu đủ rồi. #3. Dầu việc xét hỏi kết thúc cách nào đi nữa, thẩm phán ra sắc lệnh tuyên bố việc xét hỏi kết thúc. * Điều 1600: #1. Sau khi việc xét hỏi kết thúc , thẩm phán còn có thể mời các người làm chứng hay các người làm chứng khác hoặc có thể cho trình bày các chứng cứ khác đã không được yêu cầu trước đó, nhưng chỉ trong những vụ án sau đây.
#2 . Nhưng thẩm phán có thể ra lệnh hay cho phép xuất trình một văn kiện chẳng may đã không thể được xuất trình trước, không vì lỗi của người quan hệ. #3 . Các chứng cứ mới phải được công bố, vẫn giữ nguyên Điều 1598 #1. * Điều 1601: Sau khi việc xét hỏi kết thúc, thẩm phán phải ấn định một thời gian thích hợp để các bên trình bày các lời bàu chữa hay những nhận xét. * Điều 1602: #1. Những lời bàu chữa và những nhận xét phải được viết trên giấy tờ, trừ khi với sự đồng ý giữa các bên, thẩm phán xét rằng việc tranh luận tại toà là đủ. #2. Nếu những lời bàu chữa và các văn kiện chính yếu được in ra thì đòi hỏi phải có phép trước của thẩm phán, vẫn giữ nguyên nghĩa vụ giữ bí mật, nếu có. #3. Về mức độ dài ngắn của lời bàu chữa, số lượng các bản in, và những chi tiết khác như vậy, phải tuân theo qui luật của toà án. * Điều 1603: #1. Sau khi đã trao đổi cho nhau những lời bàu chữa và những nhận xét, hai bên được phép trả lời trong thời gian ngắn do thẩm phán ấn định. #2. Quyền này chỉ được ban cho các bên một lần, trừ khi vì lý do nghiêm trọng, thẩm phán xét thấy phải ban cho lần thứ hai; nhưng trong trường hợp này, quyền được ban cho một bên cũng được kể là được ban cho bên kia nữa. #3. Công tố viên và bảo vệ viên có quyền đối đáp một lần nữa những câu trả lời của các bên. * Điều 1604: #1. Tuyệt đối cấm các bên, các người bàu chữa hay cả những người khác cung cấp cho thẩm phán những thông tin không nằm trong các án từ của vụ án. #2. Nếu việc tranh tụng được thực hiện trên giấy tờ, thẩm phán có thể ấn định một cuộc tranh luận ngắn bằng miệng tại phiên toà, để làm sáng tỏ một vài vấn đề. * Điều 1605: Công chứng viên phải tham dự cuộc tranh luận bằng miệng, nói ở những Điều 1602 #1 và 1604 #2, để có thể ghi ngay trên giấy tờ những điều đã tranh luận và những kết luận, nếu thẩm phán truyền hoặc một bên yêu cầu và thẩm phán đồng ý. * Điều 1606: Nếu các bên chểnh mãng không lo bàu chữa cho mình trong thời gian hữu dụng, hoặc để mặc cho thẩm phán xem xét tuỳ sự hiểu biết và lương tâm của mình, thì thẩm phán có thể tuyên án ngay, nếu thấy rõ sự việc qua các án từ và các chứng cứ, nhưng đòi phải có nhận xét của công tố viên, nếu những người này tham gia tố tụng. TIẾT VII * Điều 1607: Sau khi đã được xét xử theo hình thức tư pháp, vụ án được thẩm phán giải quyết chung quyết, nếu là vụ án chính; nếu là vụ án phụ đới, thì được giải quyết bằng một bản án trung phán, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1589 #1. * Điều 1608: #1. Để tuyên bất cứ bản án nào, đòi thẩm phán phải biết chắc bằng một sự chắc chắn luân lý về sự việc sẽ phải được giải quyết bằng bản án. #2. Thẩm phán phải biết chắc như trên, dựa vào các án từ và chứng cứ. #3. Nhưng thẩm phán phải thẩm định các chứng cứ theo lương tâm mình, vẫn giữ nguyên các qui định của luật về hiệu lực của một số chứng cứ. #4. Nếu đã không thể biết chắc như trên được, thẩm phán phải tuyên bố không thấy rõ quyền của nguyên cáo và phải cho bị cáo trắng án ra về, trừ trường hợp một vụ nào được hưởng đặc ân của luật, trong trường hợp này phải tuyên án có lợi cho vụ ấy. * Điều 1609: #1. Trong toà án hiệp đoàn, chủ tịch hiệp đoàn phải ấn định ngày và giờ các thẩm phán hợp để bàn luận và cuộc hợp phải diễn ra trong chính trụ sở của toà án, trừ khi lý do đặc biệt khuyến cáo thể khác. #2. Đến ngày đã dược ấn định cho cuộc hợp, mỗi thẫm phán phải mang đến bản kết luận của mình trên giấy tờ và về lẽ phải trái của vụ án, và những lẽ do cứ lý cũng như cứ thực, khiến mình đã đi đến kết luận như vậy;những bản kết luận này phải được đính kèm theo những án từ của vụ án, và phải được giữ bí mật. #3. Sau khi kêu cầu Thánh Danh Thiên Chúa, mỗi thẩm phán tuần tự trình bày những bản kết luận của mình theo thứ vị, luôn bắt đầu từ người báo cáo hay phúc trình viên, tiếp đó, cuộc tranh luận diễn tiến dưới sự hướng dẫn của vị chủ tịch toà án, nhất là để xác lập những điều đã dược ấn định trong phần chủ văn của bản án. #4. Nhưng trong cuộc tranh luận mỗi thẩm phán được phép rút lại kết luận trước đây của mình, còn thẩm phán nào không muốn chấp nhận kết luận của các những người khác, có thể yêu cầu để những kết luận của mình được chuyển lên toà án cấp cao hơn, nếu có kháng án. #5. Còn nếu trong buổi tranh luận đầu tiên, các thẩm phán không muốn hay không thể đi đến một bản án, thì việc quyết định có thể dời lại một buổi hợp khác, nhưng không quá một tuần, trừ khi phải bổ túc việc điều tra vụ án chiếu Điều 1600. * Điều 1610: #1. Nếu chỉ có một thẩm phán duy nhất, chính thẩm phán sẽ soạn thảo bản án. #2. Trong toà án hiệp đoàn, báo cáo viên hay phúc trình viên có bổn phận soạn thảo bản án, viện dẫn những lý do trong số những lý do mỗi thẩm phán đã đưa ra trong cuộc tranh luận, trừ khi đa số thẩm phán đã ấn định trước những lý do phải được viện dẫn; sau đó, bản án phải được trao cho từng thẩm phán chấp nhận. #3. Bản án phải được ban hành trong vòng thời gian không quá một tháng tính từ ngày vụ án đã được xét xử, trừ khi trong toà án hiệp đoàn và vì lý do quan trọng, các thẩm phán đã ấn định một thời gian dài hơn. * Điều 1611: Bản án phải :
* Điều 1612: #1. Sau khi kêu cầu Thánh Danh Thiên Chúa, bản án phải tuần tự ghi rõ ai là thẩm phán hoặc toà án là toà nào; ai là nguyên cáo, bị cáo, đại diện là ai, với danh tánh và gia cư được ghi đúng cách, ai là công tố viên, bảo hệ viên, nếu họ tham gia tố tụng. #2. Sau đó phải trình bày vắn tắt sự kiện thuộc loại nào cùng với những kết luận của các bên và công thức của những nghi vấn. #3. Tiếp đến là phần chủ văn của bản án, sau khi đưa ra những lý lẽ mà chủ văn bản án dựa vào. #4. Sau cùng phải ghi rõ ngày và nơi đã ra bản án cùng với chữ ký của thẩm phán hay, nếu là toà án hiệp đoàn, chữ ký của tất cả các thẫm phán và của công chứng viên. * Điều 1613: Những qui luật trên đây về bản án chung quyết cũng phải áp dụng cho bản án trung phán. * Điều 1614: Bản án phải được công bố sớm hết sức, chỉ dẫn những cách thức có thể dùng để kháng cáo chống lại bản án; trước khi được công bố, bản án không hiệu lực nào cả, mặc dầu phần chủ văn, do thẩn phán cho phép, đã được thông tri cho các bên. * Điều 1615: Việc công bố hay thông báo bản án có thể được thực hiện bằng cách trao một bản sao cho các bên hoặc cho những người đại diện của họ hay bằng cách gởi cho họ bản sao ấy, chiếu Điều 1509. * Điều 1616: #1. Nếu trong văn bản của bản án có lầm lẫn về số liệu hay lầm lẫn vô tình trong khi sao lại phần chủ văn, hoặc trong khi ghi chép các sự kiện hay khi ghi chép các lời yêu cầu của các bên, hay nếu đã bỏ xót những gì mà Điều 1612 #4 đòi phải có, thì chính toà án đã ra bản án ấy phải sửa đổi hay bổ sung hoặc do một bên yêu cầu hoặc do chức vụ, nhưng luôn luôn phải hỏi ý kiến các bên và phải đính kèm một sắc lệnh vào cuối bản án. #2. Nếu có bên nào phản đối, vấn đề phụ đới phải được giải quyết bằng một sắc lệnh. * Điều 1617: Trừ bản án ra, các lời tuyên bố khác của thẩm phán là những sắc lệnh mà nếu chúng không có tính cách thuần tuý thủ tục, thì không có hiệu lực, trừ khi chúng trình bày các lý do ít nhất cách sơ lược, trừ khi chúng qui chiếu về các lý do đã được trình bày trong một án từ khác. * Điều 1618: Bản án trung phán hay sắc lệnh có hiệu lực như bản án chung quyết nếu chúng ngăn cản việc xét xử hay chấm dứt chính việc xét xử hoặc một cấp nào đó của việc xét xử, ít là đối với một bên trong vụ án. TIẾT VIII CHƯƠNG I * Điều 1619: Vẫn giữ nguyên những qui định của các Điều 1622 và 1623, tính vô hiệu nào của các án từ được ấn định do luật thiết định, mặc dù bên kháng cáo biết mà không trình cho thẩm phán trước khi tyuên án, thì được chính bản án sửa chữa để án từ có hiệu lực, mỗi khi đó là vụ án liên quan đến lợi ích tư nhân. * Điều 1620: Bản án bị vô hiệu không thể sửa chữa được nếu :
* Điều 1621 : Tố quyền tiêu huỷ nói ở Điều 1620 có thể được nêu lên theo cách khước biện, không giới hạn thời gian; còn theo cách khởi tố trước mặt thẩm phán đã tuyên án, thì trong vòng mười năm kể từ ngày công bố bản án. * Điều 1622: Bản án chỉ bị vô hiệu có thể sửa chữa được nếu:
* Điều 1623: Tố quyền tiêu huỷ trong những trường hợp nói ở Điều 1622 có thể được nêu lên trong vòng 3 tháng kể từ lúc biết bản án đã được công bố. * Điều 1624: Chính thẩm phán đã ban ra bản án, phải xét xử về tố quyền tiêu huỷ; nhưng nếu một bên sợ rằng vị thẩm phán đã ban ra bản án bị tố quyền tiêu huỷ chống đối có thiên kiến và vì vậy cho rằng vị ấy đáng nghi ngờ, có thể yêu cầu cho một vị thẩm phán khác thay thế, chiếu Điều 1450. *Điều 1625: Tố quyền tiêu huỷ có thể được nêu lên cùng lúc với kháng cáo, trong thời hạn đã được quy định cho việc kháng cáo. *Điều 1626: #1. Không những các bên khi cho rằng mình bị thiệt hại có thể nêu lên tố quyền tiêu huỷ, mà cả công tố viên hoặc bảo hệ viên, mỗi khi họ có quyền can thiệp. #2 . Trong thời hạn được quy định do Điều 1623, chính thẩm phán có thể, do chức vụ, thu hồi hay sửa chữa bản án vô hiệu mình đã ban ra, trừ khi trong thời hạn ấy kháng cáo cùng với tố quyền tiêu huỷ đã được nêu lên hoặc sự vô hiệu đã được sửa chữa do thời hạn nói ở Điều 1623 đã mãn. * Điều 1627: Các vụ về tố quyền tiêu huỷ có thể được xét xử theo những quy tắc về vụ kiện tranh tụng bằng miệng. CHƯƠNG II * Điều 1628: Bên nào nghĩ rằng mình bị thiệt hại do một bản án, cũng như công tố viên và bảo hệ viên trong những vụ đòi hỏi sự có mặt của họ, đều có quyền kháng cáo chống lại bản án lên thẩm phán cấp cao hơn; vẫn giữ nguyên quy định của Điều 1629. * Điều 1629: Không được kháng cáo chống lại:
*Điều 1630: #1. Việc kháng cáo phải được nêu lên trước thẩm phán đã ban hành bản án trong kỳ hạn cưỡng định 15 ngày hữu dụng từ lúc biết bản án được công bố. #2. Nếu việc kháng cáo được thực hiện bằng miệng, công chứng viên phải nghi lại việc kháng cáo ấy tên giấy tờ trước mặt chính người kháng cáo ấy. *Điều 1631: Nếu nảy ra một vấn đề về quyền kháng cáo, toà phúc thẩm phải rất nhanh chóng cứu xét vấn đề ấy theo những quy tắc về tố tụng bằng miệng * Điều 1632: #1. Nếu đơn kháng cáo không ghi rõ phải gởi lên toà án nào, thì được suy đoán là kháng cáo đến toà án nói ở Điều 1438 và 1439. #2. Nếu có bên nào kháng cáo lên một toà án phúc thẩm khác, thì toà án thuộc cấp cao hơn sẽ xem xét về vụ án ấy, vẫn giữ nguyên Điều 1415. *Điều 1633: Việc kháng cáo phải được tiến hành trước mặt thẩm phán toà phúc thẩm trong thời hạn một tháng kể từ khi nộp kháng cáo, trừ khi thẩm phán ra bản án đã ấn định cho bên kháng cáo một thời gian dài hơn để tiến hành việc kháng cáo. * Điều 1634: #1. Để tiến hành việc kháng cáo, điều kiện cần và đủ là bên kháng cáo nại tới thẩm phán cấp cao hơn để sửa lại bản án đã bị chống đối, kèm theo bản sao của bản án ấy và trình bày những lý do kháng cáo. #2. Nếu bên kháng cáo không nhận được bản sao của bản án bị chống đối từ toà ra bản án trong thời gian hữu dụng, thì trong lúc đó kỳ hạn không được tính, và ngăn trở ấy phải được báo cho thẩm phán toà phúc thẩm, vị này phải ra lệnh buộc thẩm phán đã ra bản án phải chu toàn chóng hết sức nhiệm vụ của mình. #3. Trong khi đó, thẩm phán ra bản án phải gởi những án từ cho thẩm phán toà phúc thẩm chiếu Điều 1474. * Điều 1635: Khi đã hết thời gian hữu dụng để kháng cáo trước thẩm phán ra bản án hoặc trước thẩm phán toà phúc thẩm thì coi như là không kháng cáo. * Điều 1636: #1. Người kháng cáo có thể từ bỏ việc kháng cáo với những hậu quả nói ở Điều 1525. #2. Nếu bảo hệ viên hay công tố viên đề xuất việc kháng cáo, thì bảo hệ viên hay công tố viên của toà án phúc thẩm có thể từ bỏ việc kháng cáo ấy, trừ khi luật định liệu thể khác. * Điều 1637: #1. Việc kháng cáo do nguyên cáo thực hiện cũng có ích cho bị cáo và ngược lại. #2. Nếu có nhiều bị cáo hay nhiều nguyên cáo, và nếu bản án bị chống đối lại do một người hay nghịch lại một người trong họ mà thôi, thì việc chống đối đó được coi là do tất cả và nghịch lại tất cả, mỗi khi điều được thỉnh cầu có tính cách bất khả phân chia hoặc điều bắt buột có tính cách toàn đới. #3. Nếu một bên kháng cáo về một điểm nào của bản án, đối phương, mặc dầu thời hạn kháng cáo đã mãn, vẫn có thể kháng cáo phụ đới về các điểm khác trong thời hạn cưỡng định là 15 ngày, tính từ ngày kháng cáo chính đã được thông báo cho đối phương ấy. #4. Trừ khi thấy rõ thể khác, việc kháng cáo được suy đoán là chống lại tất cả các điểm của bản án. * Điều 1638: Việc kháng cáo huyền chỉ việc thi hành bản án. * Điều 1639: #1. Vẫn giữ nguyên qui định của Điều1638, ở cấp phúc thẩm không thể chấp nhận một lý do thỉnh cầu mới, dù bằng cách dồn chung cho tiện, vì thế việc đối tụng chỉ nhằm giữ nguyên bản án trước hay sửa đổi hoặc tất cả hoặc một phần bản án ấy. #2. Nhưng những chứng cứ mới chỉ được chấp nhận, chiếu Điều 1600. * Điều 1640: Ở cấp phúc thẩm phải theo cùng một thủ tục như ở cấp sơ thẩm với những thích nghi xứng hợp; nhưng trừ trường hợp phải bổ sung chứng cứ, thì ngay sau khi đã đối tụng chiếu Điều 1513 #1. Và Điều 1639 #1, phải tranh tụng về vụ án và ra bản án. TIẾT IX CHƯƠNG I * Điều 1641: Vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1643, sự việc được coi là đã xét xử xong:
* Điều 1642: #1. Sự việc đã xét xử hưởng được hiệu lực pháp luật và không thể bị trực tiếp chống lại, trừ khi chiếu Điều 1645 #1. #2. Sự việc đã xét xử có hiệu lực pháp luật đối với các bên và ban tố quyền hành án cũng như quyền khước biện vì sự việc đã xét xử, khước biện này cũng có thể được thẩm phán do chức vụ tuyên bố ngăn cản một cuộc khởi tố mới về cùng một vụ án. * Điều 1643: Các vụ án về trình trạng các nhân thân, kể cả những vụ án ly thân của vợ chồng, không bao giờ trở thành cự việc đã xét xử. * Điều 1644: #1. Nếu có hai bản án giống nhau đã được đưa ra trong vụ án về trình trạng các nhân thân, thì có thể được kháng cáo lên toà phúc thẩm trong bất cứ thời gian nào, nếu đưa ra được những chứng cứ hay lý lẽ mới và quan trọng trong thời hạn cưỡng định là 30 ngày, kể từ ngày nộp đơn kháng cáo. Trong vòng một tháng kể từ khi đưa ra những chứng cứ và lý lẽ mới, toà phúc thẩm phải ra sắc lệnh ấn định chấp nhận hay bác bỏ đơn kiện mới. #2. Việc kháng cáo lên toà án cấp cao hơn để được chấp nhận xét xử lại vụ án, không đình chỉ việc thi hành bản án, trừ khi luật định liệu thể khác hoặc toà phúc thẩm truyền phải đình chỉ chiếu Điếu 1650 #3. CHƯƠNG II * Điều 1645: #1. Để chống lại một bản án trở thành sự việc đã xét xử, thì có biện pháp phục hồi nguyên trạng, miễn là thấy bản án ấy bất công tỏ tường. #2. Chỉ được coi là bất công tỏ tường :
* Điều 1646: #1. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở Điều 1645 #2, số 1-3, phải được thỉnh cầu nơi thẩm phán đã ra bản án, trong vòng ba tháng tính từ ngày biết được những lý do ấy. #2. Việc phục hồi nguyên trạng vì những lý do nói ở Điều 1645 #2, số 4 & 5, phải được thỉnh câu nơi toà án phúc thẩm trong vòng ba tháng từ khi biết bản án đã được công bố; còn nếu trong trường hợp nói ở Điều 1645 #2, số 5 mà biết trễ quyết định trước thì thời hạn bắt đầu từ lúc biết đuợc qui định ấy. #3. Các thời hạn nói trên sẽ không tính bao lâu bên bị thiệt hại còn vị thành niên. * Điều 1647: #1. Sự thỉnh cầu phục hồi nguyên trạng đình chỉ việc thi hành bản án nếu chưa bắt đầu. #2. Nhưng nếu có những dấu hiệu cái nhiên khiến nghi ngờ rằng sự thỉnh cầu đã được thực hiện nhằm trì hoãn việc thi hành, chỉ thẩm phán mới có thể quyết định cứ cho thi hành bản án, nhưng phải bảo đảm cách thích hợp với người xin phục hồi là họ sẽ được đền bù, nếu được phục hồi nguyên trạng. * Điều 1648: Khi đã cho phục hồi nguyên trạng, thẩm phán phải tuyên bố lẽ phải trái của vụ án. TIẾT X * Điều 1649: #1. Giám mục có trách nhiệm điều hành toà án phải ấn định các qui tắt :
#2 . Không được kháng cáo riêng biệt chống lại quyết định về án phí, về thù lao và về đền bù thiệt hại, tuy nhiên trong vòng 15 ngày, một bên có thể nại đến cũng một thẩm phán, vị này có thể thay đổi giá biểu phải trả. TIẾT XI * Điều 1650: #1. Bản án trở thành sự việc đã xét xử rồi, có thể đem ra thi hành, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1647. #2. Nếu là vấn đề tiên cấp dưỡng hay tiền phải trả cần thiết cho sự sống hay nếu lý do chính đáng nào khác thúc bách, thẩm phán đã ra bản án và, nếu có kháng cáo, thì cả thẩm phán toà phúc thẩm, có thể do chức vụ hay do một bên thỉnh cầu, ra lệnh thi hành tạm thời bản án bản án chưa thành sự việc đã xét xử, nhưng phải có những bảo chứng thích hợp nếu là cần thiết. #3. Nếu bản án nói ở #2 bị chống đối, thẩm phán nào có nhiệm vụ xét xử việc chống đối ấy nếu thấy việc đó cơ sở cái nhiên và việc thi hành có thể gây nên thiệt hại không thể sửa chữa được, thì có thể hoặc đình chỉ chính việc thi hành hoặc cho thi hành với điều kiện phải nộp tiền bảo chứng. * Điều 1651: Không thể có việc thi hành trước khi có sắc lệnh của thẩm phán tuyên bố chính bản án phải được cho thi hành; sắc lệnh này tuỳ theo bản chất khác nhau của các vụ án, hoặc được bao gồm trong chính văn bản của bản án hoặc phải được ban hành riêng rẽ. * Điều 1652: Nếu việc thi hành bản án đỏi phải trình sổ sách trước, thì vấn đề phụ đới được đặt ra, và phải được quyết định do chính thẩm phán đã ra bản án buột phải thi hành. * Điều 1653: #1. Trừ khi luật đặc lập ấn định thể khác, Giám mục Giáo phận nơi bản án cấp một đã được nêu ra, phải đích thân hay nhờ người khác truyền thi hành bản án. #2. Nếu Giám mục từ chối hay lơ là, thì do bên liên hệ thỉnh cầu hay cả do chức vụ, quyền bính mà toà án kháng cáo lệ thuộc chiếu Điều 1439 #3 có nhiệm vụ thi hành. #3. Giữa các tu sĩ việc thi hành bản án thuộc về Bề Trên đã ra bản án buộc phải thi hành hoặc đã uỷ quyền cho thẩm phán. * Điều 1654: #1. Người thi hành phải thi hành chính bản án theo đúng nghĩa của từ ngữ, trừ khi chính nội dung của bản án cho phép người ấy phần nào được tự do quyết định. #2. Người thi hành có quyền cứu xét những khước biện về cách thức và hiệu lực của việc thi hành, nhưng không về lẽ phải trái của vụ án; còn nếu do cách nào khác người ấy biết bản án là vô hiệu hay tỏ tường bất công, chiếu các Điều 1620, 1622, 1645, thì không được thi hành và phải trao sự việc lại cho toà đã ra bản án, sau khi đã thông báo cho các bên biết. * Điều 1655: #1. Về những tố quyền đối vật, mỗi khi một sự vật đã được xét xử là thuộc về nguyên cáo, sự vật ấy phải được trao cho nguyên cáo ngay khi vụ kiện trở thành sự việc đã xét xử. #2. Còn về những tố quyển đối nhân, khi phạm nhân bị kết án bắt buộc phải trao một động sản hay phải trả một món tiền hay trao một sự vật hay làm một việc gì khác, thì thẩm phán trong chính nội dung của bản án hay người thi hành, tuỳ sự tự do quyết định và tuỳ khôn ngoan của mình, phải ấn định hạn kỳ để chu toàn nghĩa vụ, nhưng hạn kỳ này không được dưới 15 ngày và không được quá sáu tháng. THIÊN II * Điều 1656 : #1. Tất cả các vụ án mà luật không loại trừ ra, có thể được xét xử theo thủ tục xử án tranh tụng bằng miệng nói trong Thiên Này, trừ khi một bên xin được xét xử theo thủ tục xử án tranh tụng thông thường. #2. Nều thủ tục tố tụng bằng miệng được sử dụng ngoài những trường hợp luật cho phép, những hành vi tư pháp là vô hiệu. * Điều 1657 : Việc xử án tranh tụng bằng miệng được thực hiện ở cấp một trước mặt phẩm phán duy nhất, chiếu Điều 1424. * Điều 1658 : #1 . Trừ những gì ghi ở Điều 1504, đơn khởi tố:
#2. Phải đính kèm theo đơn những tài liệu làm cơ sở cho đơn xin, ít nhất là bản sao đã được chứng thực. * Điều 1659 :#1. Nếu cố gắng hòa giải chiếu Điều 1446 # 2 đã thành vô ích, và thẩm phán thấy đơn xin có cơ sở phần nào, thì trong vòng 3 ngày, bằng sắc lệnh phê ở dưới đơn xin, phẩm phán phải truyền tống đạt một bản sao đơn xin trên giấy tờ cho văn phòng tòa án. #2. Việc tống đạt này có hiệu quả như việc triệu tập ra hầu tòa nói ở Điều1512. * Điều 1660 : Nếu những khước kiện của bị cáo đòi hỏi, thẩm phán phải ấn định cho nguyên cáo thời hạn để trả lời sao cho chính phẩm phán, nhờ các yếu tố do hai bên đưa ra, thấy rõ được đối tượng của việc tranh chấp. * Điều 1661 : #1. Mãn thời hạn nói ở Điều 1669 và 1660, và sau khi đã nghiên cứu các án từ, thẩm phán phải xác định công thức nghi vấn; rồi triệu tập tất cả những ai phải tham dự đến một phiên tòa phải họp trong vòng không quá 30 ngày, nguyên cáo và bị cáo còn nhận thêm công thức nghi vấn nữa. #2. Trong giấy triệu tập, hai bên phải được thông báo cho biết rằng, ít nhất là 3 ngày trước khi họp phiên tòa, họ có thể trình tòa một bản văn vắn tắt nào đó để chứng minh những điều họ đã quả quyết. * Điều 1662 : Trong phiên tòa, trước hết bàn đến những vấn đề nói ở những điều 1459 – 1464. * Điều 1663 : #1. Những chứng cứ được thu thập trong phiên tòa, vẫn giữ nguyên quy định của Điều 1418. #2. Mỗi bên và người bào chữa của mình có thể tham dự cuộc thẩm vấn các bên khác, các người làm chứng và các chuyên viên. * Điều 1664 : Các câu trả lời của các bên, của người làm chứng, của chuyên viên, các lời thỉnh cầu và khước biện của các người bàu chữa phải được công chứng viên ghi lại trên giấy tờ, nhưng cách sơ lược và chỉ những gì liên quan đến đến bản chất của vụ tranh chấp, và phải được những người cung khai ký vào. * Điều 1665 : Các chứng cứ đã không được nêu ra hay hỏi đến trong câu hỏi hay trong câu trả lời, thì thẩm phán chỉ có thể chấp nhận chiếu Điều 1452; tuy nhiên sau khi đã nghe dù chỉ một người làm chứng, thẩm phán chỉ có thể quyết định chấp nhận những chứng cứ mới chiều Điều 1660. * Điều 1666 : Nếu tất cả các chứng cứ đã không thể được thu nhập trong phiên tòa, thì phải ấn định một phiên tòa khác. * Điều 1667 : Khi đã thu nhập các chứng cứ xong, thì cuộc tranh luận bằng miệng sẽ được diễn ra trong cùng phiên tòa ấy. * Điều 1668 : #1. Trừ khi cuộc tranh luận cho thấy cần phải bổ túc điều gì trong việc nghiên cứu vụ án hay có điều gì khác ngăn trở việc tuyên án đúng cách, thẩm phán, sau khi đã kết thúc phiên tòa, lập tức một mình quyết định vụ án; phần chủ văn của bản án phải được đọc ngay trước mặt các bên. #2. Tuy nhiên, vì vấn đề phức tạp hay vì lý do chính đáng khác, tòa án có thể hoãn quyết định cho đến ngày thứ năm hữu dụng. #3. Toàn văn bản án cùng với các lý do nêu rõ phải được thông tri cho các bên sớm hết sức, thông thường không quá 15 ngày. * Điều 1669 : Nếu xét thầy thủ tục sử án tranh tụng bằng miệng đã được áp dụng ở cấp dưới trong những trường hợp bị luật loại trừ, thì tòa kháng án phải tuyên bố bản án vô hiệu và trả vụ kiện lại cho tòa đã tuyên án. * Điều 1670 : Trong những gì khác liên quan đến việc tiến hành thủ tục, phải giữ các quy định của các đều về sử án tranh tụng thông thường. tuy nhiên, tòa án có thể bằng sắc lệnh có viện dẫn lý do, sửa đổi các quy tắc tố tụng không cần thiết cho tính thành sự, để công việc được nhanh chóng mà vẫn tôn trong công lý |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |