|
|
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM QUYỂN VII PHẦN I * Điều 1400: #1. Đối tượng của việc xử án là:
#2 . Tuy nhiên, những tranh chấp nảy sinh từ hành vi quyền hành chánh chỉ có thể trình lên Bề trên hay tòa án hành chánh. * Điều 1401: Do quyền riêng và chuyên nhất, Giáo Hội xét xử:
* Điều 1402: Tất cả các tòa án của Giáo Hội được điều hành theo những Điều luật sau đây, vẫn giữ nguyên những qui tắc của các tòa án Tông Tòa. * Điều 1403: #1. Những vụ án tuyên thánh cho các tôi tớ của Thiên Chúa được điều hành theo luật riêng của Giáo Hoàng. #2. Ngoài ra, những qui định của Bộ Luật nầy cũng được áp dụng cho những vụ án tuyên thánh mỗi khi luật riêng của Giáo Hoàng qui chiếu về luật phổ quát, hay mỗi khi phải áp dụng những qui tắc do chính bản chất sự việc cũng liên hệ đến các vụ án ấy. TIẾT I * Điều 1404: Không ai có quyền xét xử Tòa tối cao. * Điêu 1405: #1. Trong những vụ án nói ở Điều 1401, chỉ một mình Đức Giáo Hoàng có quyền xét xử những người sau đây:
#2 . Vị thẩm phán không có quyền xét xử một hành vi hay văn kiện đã được Đức Giáo Hoàng Rôma phê chuẩn dưới một hình thức đặc biệt, nếu không có ủy nhiệm của Ngài trước. #3. Được dành cho Tòa Thượng thẩm Rôma quyền xét xử:
* Điều 1406: #1. Nếu qui định ở Điều 1404 bị vi phạm, các án văn và các quyết định được coi như là không có. #2. Trong những vụ án nói ở Điều 1405, các thẩm phán khác tuyệt đối vô thẩm quyền. * Điều 1407: #1. Không ai có thể bị đưa ra tòa cấp một, nếu không phải là trước mặt thẩm phán Giáo Hội có thẩm quyền do một trong những danh nghĩa được ấn định trong những Điều 1408 – 1414. #2. Sự vô thẩm quyền của thẩm phán gọi là tương đối, khi thẩm phán không có danh nghĩa nào trong số các danh nghĩa vừa nói tới. #3. Nguyên cáo theo tòa án của bị cáo, nếu bị cáo có nhiều tòa án, nguyên cáo được phép lựa chọn tòa án. * Điều 1408: Bất cứ ai cũng có thể bị đưa ra trước tòa án ở nơi mình có gia cư hay chuẩn cư. * Điều 1409: #1. Tòa án dành cho người phiêu cư là tòa án nơi người ấy đang cư trú. #2. Người có gia cư hoặc chuẩn cư hay nơi cư trú mà không ai biết, có thể bị đưa ra tòa án của nguyên cáo, miễn là không có một tòa án hợp pháp nào khác. * Điều 1410: Vì lý do tọa lạc của sự vật, đương sự có thể bị đưa ra tòa nơi có vật đang tranh chấp, mỗi khi tố quyền nhằm vào chính vật hoặc khi đó là một vụ tước đoạt. * Điều 1411: #1. Vì lý do khế ước, đương sự có thể bị đưa ra tòa nơi khế ước đã được ký kết hay phải được thực hiện, trừ khi các bên đã đồng ý chọn một tòa án khác. #2. Nếu vụ án liên quan đến những nghĩa vụ phát xuất từ một danh nghĩa khác, đương sự có thể bị đưa ra tòa án nơi nghĩa vụ nảy sinh hay phải được thực hiện. * Điều 1412: Trong những vụ án hình sự bị cáo, mặc dù vắng mặt, có thể bị đưa ra tòa án của nơi tội phạm đã được thực hiện. * Điều 1413: Đương sự có thể bị kiện:
* Điều 1414: Vì lý do liên hệ, các vụ án liên hệ với nhau phải được xét xử do cùng một tòa án và trong cùng một vụ xử, trừ khi qui định của luật không cho phép. * Điều 1415: Vì lý do tiên chấp, nếu hai hay nhiều tòa án cùng có thẩm quyền như nhau, thì tòa án nào đã trước tiên và hợp pháp gọi bên cáo ra tòa, có quyền xét xử vụ án. * Điều 1416: Những vụ tranh chấp thẩm quyền giữa tòa án cùng lệ thuộc một tòa kháng cáo, sẽ do tòa án nầy giải quyết, nếu không lệ thuộc cùng một tòa kháng cáo, thì do tòa án tối cao Tông Tòa giải quyết. TIẾT II * Điều 1417: #1. Vì lý do quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng Rôma, bất cứ tín hữu nào cũng có trọn quyền đệ trình hay khởi tố nơi Tòa Thánh để Tòa Thánh xét xử một vụ án có tính cách tranh tụng hay hình sự của mình, trong bất cứ cấp xét xử nào và trong bất cứ giai đoạn tố tụng nào #2. Tuy nhiên, ngoại trừ trường hợp kháng cáo, việc thượng cầu lên Tông Tòa không đình chỉ việc thi hành quyền tài phán của thẩm phán đã bắt đầu xét xử vụ án; vì thế, thẩm phán ấy có thể tiếp tục xét xử cho đến khi tuyên án chung quyết, trừ khi Tông Tòa cho thẩm phán biết Tông Tòa đã dành vụ án cho mình. * Điều 1418: Bất cứ tòa án nào cũng có quyền nhờ một tòa án khác giúp điều tra một vụ kiện hay tống đạt các văn kiện. CHƯƠNG I MỤC 1 * Điều 1419: #1. Trong mỗi Giáo phận và cho mọi vụ kiện không bị luật minh nhiên loại trừ, thẩm phán cấp một là Giám Mục Giáo phận, Ngài có thể đích thân hay nhờ người khác thi hành quyền tư pháp, theo các Điều luật sau đây. #2. Còn nếu là vụ án về những quyền lợi hay những tài sản trần thế của một pháp nhân do Giám mục đại diện, thì tòa kháng cáo xét xử cấp một. * Điều 1420: #1. Bất cứ Giám Mục Giáo phận nào cũng buộc phải đặt một vị đại diện tư pháp hay ủy viên tài phán có thường quyền xét xử, vị nầy phải khác với vị Tổng Đại diện, trừ trường hợp Giáo phận nhỏ hẹp hay số vụ án quá ít khuyên làm thể khác. #2. Vị đại diện tư pháp họp thành một tòa án duy nhất cùng với Giám mục nhưng không được xét xử những vụ án Giám mục dành riêng cho mình. #3. Để giúp vị đại diện tư pháp, có thể bổ nhiệm nhiều cộng sự viên gọi là phó đại diện tư pháp hay là phó ủy viên tài phán. #4. Đại diện tư pháp cũng như các phó đại diện tư pháp phải là linh mục có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay ít nhất cử nhân giáo luật, và không dưới 30 tuổi. #5. Khi Tòa Giám mục khuyết vị, những vị ấy vẫn tiếp tục chức vụ, và không thể bị Giám quản Giáo phận giải nhiệm; nhưng khi có Giám mục mới, các vị ấy cần được xác nhận lại. * Điều 1421: #1. Trong Giáo phận, Giám mục phải đặt các thẩm phán Giáo phận, các vị nầy phải là giáo sĩ. #2. Hội Đồng Giám Mục có thể cho phép đặt cả giáo dân làm thẩm phán, và nếu cần thì một trong những người ấy có thể được chọn để thành lập Hiệp đoàn. #3. Các thẩm phán phải có thanh danh và có bằng tiến sĩ hay ít nhất là cử nhân giáo luật. * Điều 1422: Đại diện tư pháp, các phó đại diện tư pháp và các thẩm phán khác được bổ nhiệm cho một thời gian nhất định, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1420 #5, và các vị ấy không thể bị giải nhiệm, trừ khi có lý do hợp pháp và nghiêm trọng. * Điều 1423: #1. Thay vì các tòa án Giáo phận nói ở các Điều 1419 – 1421, nhiều Giám Mục Giáo phận với sự chuẩn y của Tông Tòa, có thể đồng ý với nhau để thành lập một tòa án cấp một duy nhất cho các Giáo phận của mình; trong trường hợp nầy, tập thể các Giám mục ấy hay một Giám mục được các Ngài chỉ định có mọi quyền mà mỗi Giám Mục Giáo phận có đối với tòa án của mình. #2. Các tòa án nói ở #1, có thể được thành lập hoặc cho bất cứ vụ án nào, hoặc chỉ cho một số loại vụ án nào đó mà thôi. * Điều 1424: Trong bất cứ vụ án nào, vị thẩm phán duy nhất có thể mời làm cố vấn cho mình hai bồi phẩm, giáo sĩ hay giáo dân, có đời sống liêm khiết. * Điều 1425: #1. Phải loại bỏ tục lệ trái ngược mà dành cho tòa án hiệp đoàn ba thẩm phán các vụ án sau đây: 1. những vụ tranh tụng về:
2. những vụ hình sự:
#2 . Giám mục có thể ủy thác những án khó hơn hay quan trọng hơn cho tòa án gồm 3 hay 5 thẩm phán. #3. Đại diện tư pháp phải mời các thẩm phán theo thứ tự luân phiên để xét xử từng vụ án một, trừ khi Giám mục ấn định thể khác cho mỗi trường hợp. #4. Ở tòa án cấp một, nếu không thể thành lập được tòa án hiệp đoàn, bao lâu tình trạng bất lực ấy còn kéo dài, Hội Đồng Giám Mục có thể ban phép để Giám mục ủy thác các vụ án cho một thẩm phán giáo sĩ duy nhất, và vị nầy nếu có thể phải mời một bồi thẩm và một dự thẩm giúp mình. #5. Một khi các thẩm phán được chỉ định rồi, đại diện tư pháp đừng thay đổi họ, nếu không vì lý do rất nghiêm trọng và phải được ghi vào sắc lệnh. * Điều 1426: #1. Tòa án hiệp đoàn phải tiến hành cách hiệp đoàn và phải tuyên án theo đa số phiếu. #2. Trong mức độ có thể, đại diện tư pháp hay phó đại diện tư pháp phải chủ tọa tòa án nói trên. * Điều 1427: #1. Trừ khi Hiến pháp định liệu thể khác, nếu có tranh chấp giữa các tu sĩ hay giữa các nhà của cùng một tu hội dòng giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng, thì vị thẩm phán cấp một là Bề trên Tỉnh dòng hoặc nếu là Đan viện tự trị, thì vị thẩm phán là Đan viện phụ sở tại. #2. Trừ khi Hiến pháp qui định thể khác, nếu có tranh chấp giữa hai Tỉnh dòng thì chính vị điều hành Tổng quyền tự mình hay nhờ người thụ ủy xét xử ở cấp một; nếu có tranh chấp giữa hai đan viện, viện phụ Bề trên của Hiệp hội đan viện sẽ xét xử. #3. Cuối cùng, nếu có tranh chấp giữa các thể nhân hoặc pháp nhân Dòng thuộc các tu hội dòng khác nhau, hoặc thuộc cùng một tu hội giáo sĩ thuộc quyền Giáo phận hay thuộc một Tu hội giáo dân, hoặc giữa một tu sĩ và một giáo sĩ triều hay một giáo dân hay một pháp nhân không thuộc Tu hội dòng, thì tòa án Giáo phận sẽ xét xử ở cấp một. MỤC 2 * Điều 1428: #1. Để thẩm cứu vụ án, vị thẩm phán hay vị chủ tịch tòa án Hiệp đoàn có thể chỉ định một dự thẩm, lựa chọn hoặc trong số các thẩm phán của tòa án hoặc trong số những người đã được Giám mục chuẩn nhận để giữ nhiệm vụ ấy. #2. Giám mục có thể chuẩn nhận cho giữ nhiệm vụ dự thẩm những giáo sĩ hay giáo dân nổi bật về hạnh kiểm tốt, về khôn ngoan và đạo lý. #3. Nhiệm vụ của dự thẩm là, theo ủy nhiệm của thẩm phán, chỉ thu thập các bằng chứng và trao cho vị thẩm phán những bằng chứng đã thu thập được; nhưng nếu ủy nhiệm của thẩm phán không định ngược lại, dự thẩm có thể quyết định phải thu thâp những bằng chứng nào và bằng cách nào, nếu cần, trong khi thi hành nhiệm vụ mình. * Điều 1429: Vị chủ tịch của tòa án Hiệp đoàn phải đình chỉ một trong những thẩm phán của Hiệp đoàn làm báo cáo viên hay phúc trình viên; vị nầy phải trình bày vụ án trong phiên họp của các thẩm phán, và dự thảo án văn trên giấy tờ; khi có lý do chính đáng, vị chủ tịch nói trên có thể thay thế người ấy bằng một người khác. MỤC 3 * Điều 1430: Trong Giáo phận phải đặt một công tố viên cho những vụ án tranh tụng trong đó công ích có thể bị lâm nguy và cho những vụ án hình sự; công tố viên có bổn phận lo cho công ích. * Điều 1431: #1. Trong các vụ án tranh tụng, việc xét định công ích có thể bị lâm nguy hay không là việc của Giám Mục Giáo phận, trừ khi luật buộc công tố viên phải can thiệp hay khi thấy rõ sự can thiệp nầy là cần thiết do bản chất của sự việc. #2. Nếu công tố viên đã can thiệp ở cấp trước thì sự can thiệp ấy được suy đoán là cần thiết ở cấp sau. * Điều 1432: Trong Giáo phận phải đặt một Bảo vệ viên cho các vụ án liên quan đến tính bất thành của việc truyền chức thánh hoặc đến tính bất thành của hôn nhân hay việc tháo gỡ hôn nhân; vị nầy có bổn phận phải đề nghị và trình bày tất cả những gì có thể được dẫn chứng cách hợp lý chống lại tính bất thành hay việc tháo gỡ nói trên. * Điều 1433: Trong những vụ án đòi công tố viên hay bảo vệ viên phải hiện diện, nếu những người nầy không được mời đến, các án từ đều vô giá trị, trừ khi chính họ, mặc dù không được mời đến, nhưng thực sự đã có mặt, hoặc sau khi khảo sát các án từ, họ đã có thể thi hành nhiệm vụ của mình, ít nhất trước khi tuyên án. * Điều 1434: Trừ khi minh nhiên định liệu thể khác:
* Điều 1435: Giám mục có quyền bổ nhiệm công tố viên và bảo vệ viên; các vị nầy phải là giáo sĩ hay giáo dân có thanh danh, có bằng tiến sĩ hay cử nhân giáo luật, khôn ngoan và nhiệt thành với công lý. * Điều 1436: #1. Một người có thể vừa giữ chức vụ công tố viên vừa giữ chức vụ bảo vệ viên, miễn là không phải trong cùng một vụ án. #2. Công tố viên và bảo vệ viên có thể được đặt lên để làm việc trong mọi vụ án hay là trong từng vụ án, nhưng các vị nầy có thể bị Giám mục bãi nhiệm vì lý do chính đáng. * Điều 1437: #1. Công chứng viên phải tham gia bất cứ vụ tố tụng nào, vì thế, các ác từ sẽ vô hiệu, nếu không có chữ ký của công chứng viên. #2. Các án từ do công chứng viên soạn có giá trị chứng từ chính thức. CHƯƠNG II * Điều 1438: Vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1444 #1, số 1:
* Điều 1439: #1. Nếu một tòa án cấp một duy nhất được thiết lập chung cho nhiều Giáo phận chiếu Điều 1423, thì Hội Đồng Giám Mục phải thiết lập một tòa án cấp hai với sự chuẩn nhận của Tông Tòa, trừ khi tất cả các Giáo phận đó đều thuộc về cùng một Tổng Giáo phận. #2. Với sự chuẩn nhận của Tông Tòa, Hội Đồng Giám Mục có thể thiết lập một hay nhiều tòa án cấp hai, kể cả ngoài những trường hợp nói ở #1. #3. Đối với những tòa án cấp hai nói ở #1 và #2, Hội Đồng Giám Mục hay Giám mục đã được Hội Đồng Giám Mục chỉ định, có tất cả mọi quyền hành mà Giám mục Giáo phận có đối với tòa án của mình. * Điều 1440: Nếu không giữ thẩm quyền về cấp tòa án xét xử chiếu các Điều 1438 và 1439, thì thẩm phán tuyệt đối vô thẩm quyền. * Điều 1441: Tòa án cấp hai phải được thành lập cùng một thể thức như tòa án cấp một. Nhưng nếu ở cấp xét xử cấp một chỉ có một thẩm phán tuyên án, theo Điều 1425 #4, thì tòa án cấp hai phải tiến hành theo thể thức Hiệp đoàn. CHƯƠNG III * Điều 1442: Đức Giáo Hoàng Rôma là vị thẩm phán tối cao đối với toàn thế giới Công giáo; Ngài đích thân xét xử hoặc qua các tòa án thông thường của Tông Tòa hoặc qua các vị thẩm phán do Ngài ủy quyền. * Điều 1443: Tòa án thông thường được Đức Giáo Hoàng Rôma thiết lập để nhận những kháng cáo là tòa Thượng thẩm Rôma. * Điều 1444: #1. Tòa Thượng thẩm Rôma xét xử:
#2 . Tòa án nầy cũng xét xử cấp một những vụ án nói ở Điều 1405 #3, hay những vụ án khác mà Đức Giáo Hoàng Rôma, hoặc tự ý hoặc do yêu cầu của các bên, đã gọi lên xét xử tại tòa án của mình và giao cho tòa Thượng thẩm Rôma; chính tòa Thượng thẩm Rôma cũng xét xử các vụ án ấy ở cấp hai và ở cấp cao hơn nữa, trừ khi đã định liệu thể khác trong phúc chiếu trao nhiệm vụ. * Điều 1445: #1. Tòa án Tối cao Tông Tòa xét xử:
#2 . Chính tòa án trên xét xử những tranh nghị phát xuất từ hành vi của quyền hành chánh trong Giáo Hội đã được hợp pháp đệ lên quyền hành chánh ấy, xét xử những tranh tụng khác có tính cách hành chánh được Đức Giáo Hoàng Rôma hay những bộ của Giáo triều Rôma giao cho tòa ấy thụ lý, và xét xử những tranh chấp về thẩm quyền giữa các bộ ấy. #3. Ngoài ra tòa án tối cao nầy còn có quyền:
TIẾT III CHƯƠNG I * Điều 1446: #1. Mọi Kitô hữu, và nhất là các Giám mục, phải ân cần cố gắng để, ngần nào có thể những kiện tụng trong Dân Chúa đừng xảy ra và được dàn xếp cách ôn hòa chóng hết sức, mà vẫn giữ đức công bình. #2. Ngay từ đầu và vào bất cứ giai đoạn nào của vụ kiện, mỗi khi thấy có hy vọng đem lại kết quả tốt, thẩm phán đừng bỏ qua mà không khuyên nhủ và giúp đỡ các bên để họ đồng ý lo tìm một giải pháp tương bình cho việc tranh chấp và phải chỉ cho họ những đường lối thích hợp để đạt tới mục đích ấy, kể cả nhờ những người có uy tín làm trung gian. #3. Nếu sự kiện tụng liên quan đến tư ích của các bên, thẩm phán phải xét xem cuộc tranh chấp có thể được kết liễu ổn thỏa hay không bằng điều đình hoặc nhờ phán đoán của các trọng tài, chiếu các Điều 1713 – 1716. * Điều 1447: Ai đã tham gia vào một vụ án với tư cách là thẩm phán, công tố viên, bảo vệ viên, đại diện, người bàu chữa, nhân chứng hoặc chuyên viên, thì sau đó không thể thành sự xét xử vụ án ấy ở cấp khác với tư cách là thẩm phán hoặc giữ nhiệm vụ bồi thẩm trong vụ án ấy. * Điều 1448: #1. Thẩm phán không được nhận xét xử một vụ án mà trong đó chính mình có liên hệ cách nào, vì lý do họ máu hay họ kết bạn trong bất cứ bậc nào theo hàng dọc và cho đến bậc thứ bốn thuộc hàng ngang, hay vì lý do giám hộ và quản tài, vì tương giao thân mật, vì thù oán cao độ hay vì lý do sẽ được một lợi lộc gì hoặc sẽ tránh được một sự thiệt hại nào. #2. Trong những trường hợp ấy, công tố viên, bảo hệ viên, bồi thẩm và dự thẩm cũng phải tránh thi hành chức vụ mình. * Điều 1449: #1. Trong những trường hợp nói ở Điều 1448, nếu chính thẩm phán không cáo thoái, các bên có thể khước từ. #2. Đại diện tư pháp xét xử về việc khước từ; nếu chính vị nầy bị khước từ, Giám mục chủ trì tòa án xét xử. #3. Nếu Giám mục là thẩm phán mà bị khước từ, chính Ngài phải từ chối xét xử. #4. Nếu việc khước từ nhằm chống lại công tố viên, bảo hệ viên hoặc các viên chức khác của tòa án, vị chủ trì tòa án hiệp đoàn hay chính thẩm phán, nếu là thẩm phán duy nhất, xét xử về sự khước biện nầy. * Điều 1450: Một khi chấp nhận việc khước từ rồi, các nhân sự phải được thay đổi, nhưng không thay đổi cấp bậc xét xử. * Điều 1451: #1. Vấn đề khước từ phải được xác định hết sức nhanh chóng, sau khi nghe các bên, công tố viên hay bảo hệ viên, nếu họ tham gia và chính họ không bị khước từ. #2. Những hành vi do thẩm phán thực hiện trước khi bị khước từ, vẫn thành sự; nhưng những hành vi nào được thực hiện sau khi có đề nghị khước từ, phải bị tiêu hủy, nếu một bên yêu cầu trong vòng 10 ngày, tính từ khi việc khước từ được chấp nhận. * Điều 1452: #1. Trong việc nào chỉ liên quan đến tư nhân thẩm phán chỉ có thể tiến hành khi nào có sự thỉnh cầu của một bên. Nhưng một khi đã có sự khởi tố hợp pháp, thẩm phán có thể và thậm chí, do chức vụ, phải tiến hành trong những vụ án hình sự hay những vụ án khác liên quan đến công ích của Giáo Hội hoặc việc cứu độ các linh hồn. #2. Ngoài ra thẩm phán còn có thể bổ túc sự sơ xuất của các bên khi đem ra các chứng cứ hay viện dẫn những khước biện mỗi khi xét là cần thiết để tránh một phán quyết bất công trầm trọng, vẫn giữ nguyên những qui định của Điều 1600. * Điều 1453: Các thẩm phán và các tòa án phải liệu sao cho tất cả các vụ án kết thúc sớm hết sức mà vẫn giữ đức công bình, và phải liệu thế nào để các vụ án không kéo dài quá một năm ở tòa cấp một, còn ở tòa cấp hai không quá sáu tháng. * Điều 1454: Tất cả các thành viên hoặc cộng tác viên của tòa án phải thề sẽ chu toàn nhiệm vụ đúng cách trung thành. * Điều 1455: #1. Trong vụ án hành sự, các thẩm phán và các phụ tá tòa án buộc phải giữ bí mật chức vụ luôn luôn, còn trong vụ án tranh tụng, phải giữ bí mật nếu sự tiết lộ một hành vi tố tụng nào có thể gây ra thiệt hại cho các bên. #2. Các vị ấy cũng phải luôn giữ bí mật về cuộc tranh luận giữa những thẩm phán thuộc tòa án hiệp đoàn trước khi phán quyết, cũng như về những lần bỏ phiếu và những ý kiến phát biểu trong đó, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1609 #4. #3. Hơn nữa, mỗi khi bản chất của vụ án hay của các chứng cớ có tính cách đặc biệt đến nỗi sự phổ biến các văn kiện hay các chứng cứ có nguy cơ làm cho người khác mất thanh danh, hay gây cớ chia rẽ, gương xấu hay sự bất tiện nào khác tương tự, thẩm phán có thể bắt buộc các nhân chứng, chuyên viên, các bên và các người bàu chữa hay các người đại diện của họ, phải thề giữ bí mật. * Điều 1456: Cấm thẩm phán và tất cả các viên chức của tòa án nhận bất cứ quà tặng nào nhân dịp xét xử vụ án. * Điều 1457: #1. Các thẩm phán nào chắc chắn và hiển nhiên có thẩm quyền lại từ chối xét xử, hay không thể dựa trên một qui định nào của luật lại tự xưng mình có thẩm quyền và xét xử cùng phán quyền các vụ án, hay vi phạm luật giữ bí mật, hay gây thiệt hại nào khác cho những người tranh tụng do man trá hoặc quá lơ đểnh, những thẩm phán trên đây có thể bị thẩm quyền trừng trị bằng những hình phạt thích đáng, kể cả hình phạt bị bãi nhiệm. #2. Những viên chức và các phụ tá tòa án cũng chịu hình phạt như vậy, nếu lỗi nhiệm vụ như nói trên đây; thẩm phán cũng có thể phạt tất cả những người ấy. CHƯƠNG II * Điều 1458: Các vụ án phải được thẩm lý theo thứ tự đã được đệ trình và đăng ký trong sổ, trừ khi có vụ nào đòi phải được giải quyết gấp hơn các vụ khác; tuy nhiên, điều nầy phải được ấn định bằng một sắc lệnh riêng có viện dẫn lý do. * Điều 1459: #1. Những hà tì khiến phán quyết có thể trở nên vô hiệu, có thể được nêu lên như khước biện trong bất cứ lúc nào hay cấp nào của việc xét xử, lại nữa chúng cũng có thể được thẩm phán công bố, chiếu theo chức vụ. #2. Ngoài những trường hợp nói ở #1, những khước biện trì hoãn, nhất là khi liên quan đến nhân thân và cách thức xét xử, phải được đệ trình trước giai đoạn đối tụng, trừ khi các khước biện ấy xuất hiện sau đó và chúng phải được giải quyết sớm hết sức. * Điều 1460: #1. Nếu có khước biện chống lại thẩm quyền của thẩm phán, thì chính thẩm phán phải xét vấn đề. #2. Trong trường hợp khước biện về vô thẩm quyền tương đối, nếu thẩm phán tuyên bố mình có thẩm quyền thì không cho phép kháng cáo chống quyết định ấy, nhưng không cấm tranh luận về tính vô hiệu và không cấm việc phục hồi nguyên trạng. #3. Nếu thẩm phán tuyên bố mình vô thẩm quyền, bên nào thấy mình bị thiệt hại, có thể thượng tố, lên tòa án kháng cáo trong hạn 15 ngày hữu dụng. * Điều 1461: Trong bất cứ giai đoạn nào của vụ án, thẩm phán nào biết mình vô thẩm quyền tuyệt đối, phải tuyên bố mình vô thẩm quyền. * Điều 1462: #1. Những khước biện về sự việc đã được phán quyết, về sự điều đình và các khước biện thất hiệu khác, được gọi là “về tố tụng chấm dứt”, phải được viện dẫn và xét xử trước khi đối tụng; sau đó, ai nêu lên các khước biện thì không thể bị bác bỏ, nhưng phải chịu phạt trả án phí, trừ khi chứng minh mình không trì hoãn khước biện vì ác ý. #2. Những khước biện thất hiệu khác phải được nêu ra trong lúc đối tụng và phải được cứu xét đúng lúc theo những qui luật liên quan đến các vấn đề phụ đới. * Điều 1463: #1. Những tố quyền phản tố chỉ có thể được đệ trình thành sự trong vòng 30 ngày tính từ khi đối tụng. #2. Những tố quyền phản tố đó phải được xét xử cùng một lúc với tố quyền khởi tố, tức là cùng một cấp tòa án, trừ khi cần phải xét xử riêng biệt hoặc thẩm phán nhận thấy xét xử riêng biệt là thuận tiện hơn. * Điều 1464: Những vấn đề liên quan đến tiền ký quỹ để trả án phí, hoặc đến việc tòa án bảo trợ miễn phí đã được xin ngay từ đầu, và các vấn đề khác tương tự, theo nguyên tắc phải được giải quyết trước khi đối tụng. CHƯƠNG III * Điều 1465: #1. Hạn kỳ tiên định, tức là thời hạn do luật ấn định để các quyền mất hiệu lực, không thể được triển hạn, và, trừ khi các bên thỉnh cầu, cũng không được rút ngắn lại cách thành sự. #2. Còn những hạn kỳ tư pháp và qui ước khi có lý do chính đáng, có thể được thẩm phán triển hạn trước khi chúng hết hạn, sau khi đã nghe các bên hay các bên đã xin, nhưng không bao giờ được rút ngắn cách thành sự, nếu các bên không đồng ý. #3. Tuy nhiên, thẩm phán phải liệu sao đừng để vì triển hạn mà vụ án kéo dài quá đáng. * Điều 1466: Khi luật không ấn định những hạn kỳ để được thực hiện những hành vi tố tụng, thẩm phán phải ấn định những hạn kỳ ấy, sau khi đã lưu ý tới bản chất của mỗi hành vi. * Điều 1467: Nếu tòa án nghỉ việc vào ngày đã được ấn định để xử án, thì hạn kỳ phải được hiểu là kéo dài đến ngày đầu tiên liền đó không phải là ngày nghỉ. CHƯƠNG IV * Điều 1468: Ngần nào có thể được, mỗi tòa án phải có trụ sở cố định, trụ sở nầy phải mở cửa vào những giờ đã được ấn định. * Điều 1469: #1. Vị thẩm phán bị bạo lực trục xuất ra khỏi địa hạt mình hay bị ngăn trở thi hành quyền tài phán tại đó, có thể thi hành quyền tài phán ấy và tuyên án ngoài địa hạt, nhưng, sau khi đã thông báo cho Giám mục Giáo phận biết việc ấy. #2. Ngoài trường hợp nói ở #1, khi có lý do chính đáng và sau khi nghe các bên, thẩm phán cũng có thể ra khỏi địa hạt của mình để thu thập chứng cớ, nhưng phải có phép của Giám mục Giáo phận nơi đến và ở tại nơi do Ngài chỉ định. CHƯƠNG V * Điều 1470: #1. Trừ khi luật đặc lập trù liệu cách khác, trong khi các vụ kiện đang được xét xử trước tòa án, chỉ được có mặt trong phòng xử những người mà luật hoặc thẩm phán đã ấn định là cần thiết để xúc tiến việc xét xử. #2. Thẩm phán có thể dùng những hình phạt thích nghi để cảnh cáo tất cả mọi người có mặt tại phiên xử đã thiếu một cách trầm trọng lòng tôn kính và vâng phục phải có đối với tòa án, ngoài ra thẩm phán cũng có thể đình chỉ không cho các luật sư và các người đại diện thi hành chức vụ nơi các tòa án Giáo Hội. * Điều 1471: Nếu người đươc thẩm vấn dùng một ngôn ngữ mà thẩm phán và các bên không hiểu, thì phải nhờ đến người phiên dịch đã tuyên thệ do thẩm phán chỉ định. Nhưng các lời khai phải được ghi lại bằng chính văn trên giấy tờ và kèm theo bản dịch. Cũng phải nhờ đến người phiên dịch, nếu phải thẩm vấn người điếc hay câm, trừ trường hợp thẩm phán muốn đương sự trả lời trên giấy tờ những câu hỏi mình đặt ra. * Điều 1472: #1. Các án từ liên quan đến nội dung vấn đề, tức là những án từ về vụ án, cũng như những án từ liên quan đến hình thức tiến hành tức là những án từ về thủ tục, đều phải được soạn thảo trên giấy tờ. #2. Mỗi tờ án từ đều phải được ghi số và phải đóng dấu chứng thực. * Điều 1473: Mỗi khi đòi các bên hoặc các nhân chứng phải ký tên vào án từ nếu một bên hay một nhân chứng không thể hay không muốn ký, điều đó phải được ghi trong án từ, đồng thời thẩm phán và công chứng viên phải xác nhận án từ đã được đọc từng chữ cho một bên hoặc nhân chứng nghe, và xác nhận một bên hoặc nhân chứng đã không thể hay không muốn ký vào. * Điều 1474: #1. Trong trường hợp kháng cáo, bản sao các án từ đã được công chứng viên chứng thực, phải được gởi lên tòa cấp trên. #2. Nếu các án từ được viết bằng một ngôn ngữ mà tòa cấp trên không hiểu, thì phải được dịch ra ngôn ngữ mà tòa đó hiểu và phải cẩn thận liệu sao cho thấy rõ bản dịch là trung thực. * Điều 1475: #1. Xét xử xong, các văn kiện thuộc sở hữu của tư nhân, phải trả lại cho họ, nhưng giữ lại một bản sao. #2. Nếu không có lệnh của thẩm phán, cấm các công chứng viên và chưởng ấn cấp phát bản sao những án từ và văn kiện đã thuộc sở hữu của tòa án. TIẾT IV CHƯƠNG I * Điều 1476: Bất cứ ai đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy hay không, đều có thể kiện nơi tòa án; còn bên bị kiện cách hợp pháp phải trả lời. * Điều 1477: Mặc dù nguyên cáo hay bị cáo đã chọn người đại diện hay người bàu chữa, họ luôn luôn phải đích thân hiện diện ở tòa theo qui định của luật hay của thẩm phán. * Điều 1478: #1. Những người vị thành niên và những người thiếu khả năng sử dụng trí khôn, chỉ có thể ra tòa nhờ cha mẹ, hoặc người giám hộ hay người quản tài, vẫn giữ nguyên qui định của #3. #2. Nếu thẩm phán xét thấy những quyền lợi của các người vị thành niên xung đột với những quyền lợi của cha mẹ, của người giám hộ hay của người quản tài, hoặc xét thấy những người nầy không thể bênh vực đầy đủ những quyền lợi của chúng, lúc ấy chúng phải ra tòa nhờ người giám hộ hay người quản tài do thẩm phán chỉ định. #3. Nhưng trong những vụ án thuộc phạm vi thiêng liêng và trong những vụ án liên quan đến phạm vi ấy, nếu người vị thành niên đã sử dụng được trí khôn, chúng có thể khởi tố và trả lời mà không cần sự ưng thuận của cha mẹ hay người giám hộ, và nếu đã đủ 14 tuổi trọn, chúng có thể tự mình khởi tố và trả lời; bằng không, có thể nhờ người quản tài do thẩm phán xét xử. #4. Những người bị cấm quản trị tài sản và những người suy nhược tâm thần, chỉ có thể đích thân ra tòa để trả lời về những tội phạm của mình hoặc do lệnh của thẩm phán; trong những việc khác, những người trên đây phải khởi tố và trả lời nhờ người quản tài của mình. * Điều 1479: Mỗi khi có người giám hộ hoặc quản tài đã được chính quyền chỉ định, người ấy có thể được thẩm phán Giáo Hội chấp nhận sau khi, nếu có thể, hỏi ý kiến Giám Mục Giáo phận của người được ủy thác cho người giám hộ hay quản tài; hoặc nếu xét thấy không thể chấp nhận người ấy được, chính thẩm phán sẽ chỉ định người giám hộ hay người quản tài cho vụ án. * Điều 1480: #1. Các pháp nhân ra tòa nhờ những người đại diện hợp pháp của mình. #2. Còn trong trường hợp không có đại diện hay người nầy lơ đễnh, thì vị Thường quyền đích thân hay nhờ người khác ra tòa nhân danh các pháp nhân dưới quyền mình. CHƯƠNG II * Điều 1481: #1. Mỗi bên có thể tự ý chọn cho mình người bàu chữa và người đại diện, nhưng ngoài những trường hợp được ấn định ở #2 và #3, mỗi bên cũng có thể đích thân khởi tố và trả lời, trừ khi thẩm phán xét là cần phải có người đại diện hay người bàu chữa giúp đỡ. #2. Trong vụ án hình sự, bị cáo luôn luôn phải có người bàu chữa do mình chọn hoặc do thẩm phán cắt cử. #3. Trong vụ án tranh tụng, nếu liên quan đến các người vị thành niên hoặc liên quan đến vụ án về công ích, thẩm phán, do chức vụ, phải cắt cử một người biện hộ, ngoại trừ trong các vụ án hôn phối. * Điều 1482: #1. Mỗi người chỉ có thể chọn cho mình một người đại diện và người nầy không được nhờ người khác thay thế mình, trừ khi đã minh nhiên được năng quyền ấy. #2. Nhưng, nếu vì lý do chính đáng, một người nào đã chọn nhiều người đại diện, thì những người nầy phải được chỉ định thế nào để giữa họ có thứ tự ưu tiên. #3. Còn về người bàu chữa phải là người thành niên và có thanh danh, ngoài ra người bàu chữa phải là người công giáo, trừ khi Giám Mục Giáo phận cho phép thể khác, và phải là tiến sĩ giáo luật, hay nếu không được như vậy thì cũng phải là người thực sự chuyên môn và được Giám mục nói trên chuẩn nhận. * Điều 1484: #1. Trước khi đảm nhận chức vụ, người đại diện và người bàu chữa phải nộp ở tòa án ủy nhiệm thư chính thức. #2. Tuy nhiên, để ngăn cản một quyền lợi khỏi bị tiêu diệt, thẩm phán có thể chấp nhận người đại diện mặc dầu không trình ủy nhiệm thư, sau khi đã có sự bảo đảm thích hợp nếu cần; nhưng án từ không có hiệu lực nào, nếu trong hạn kỳ thất hiệu do thẩm phán ấn định; người đại diện không trình ủy nhiệm thư một cách hợp thức. * Điều 1485: Nếu không có ủy nhiệm thư đặc biệt, người đại diện không thể thành sự khước từ tố quyền, việc tiến hành tố tụng hay những hành vi tư pháp; cũng không thể điều đình, thỏa hiệp, nhờ trọng tài dàn xếp, và nói chung, thực hiện những việc mà luật pháp đòi hỏi phải có ủy nhiệm thư đặc biệt. * Điều 1486: #1. Để việc giải nhiệm người đại diện hay người bàu chữa có hiệu lực, cần phải thông tri cho họ biết việc ấy và, nếu việc đối tụng đã bắt đầu, thẩm phán và bên đối phương phải được thông tri về việc giải nhiệm ấy. #2. Sau khi đã tuyên án chung kết, người đại diện vẫn còn quyền và nghĩa vụ kháng cáo, nếu người chủ ủy không từ chối. * Điều 1487: Thẩm phán có thể ra sắc lệnh giải nhiệm người đại diện cũng như người bàu chữa, hoặc do chức vụ mình, hoặc do một bên yêu cầu, nhưng phải có lý do hệ trọng. * Điều 1488: #1. Cấm cả hai không được mua chuộc trong vụ kiện, hoặc thỏa hiệp để đòi thù lao quá mức, hay để đòi một phần của đồ vật tương tranh. Nếu họ làm như thế, việc thỏa hiệp không có giá trị nào và họ có thể bị thẩm phán phạt tiền; ngoài ra, người bàu chữa có thể bị huyền chức, và nếu tái phạm, cũng có thể bị Giám mục chủ trì tòa án khai trừ khỏi danh sách các người bàu chữa. #2. Cũng có thể bị phạt như thế, những người bàu chữa và những người đại diện nào, vì muốn tránh luật pháp, nên không đệ nạp các vụ án trước những tòa án có thẩm quyền mà để cho các tòa khác xét xử có lợi hơn. * Điều 1489: Những người bàu chữa và những người đại diện nào, vì quà cáp hoặc lời hứa hẹn hoặc vì lý do nào khác, đã phản bội chức vụ mình, phải bị đình chỉ thi hành quyền bảo trợ và bị phạt tiền hay các hình phạt khác tương xứng. * Điều 1490: Nếu có thể được, trong mỗi tòa án phải cắt cử những người bảo trợ cố định, được chính tòa án trả lương để thi hành nhiệm vụ người bàu chữa hay người đại diện, nhất là trong những vụ án hôn nhân, để bênh vực bên nào muốn lựa chọn họ. TIẾT V CHƯƠNG I * Điều 1491: Bất cứ quyền lợi nào đều được bảo vệ chẳng những bởi tố quyền, trừ khi đã minh nhiên định liệu thể khác, mà còn được bảo vệ bởi khước biện nữa. * Điều 1492: #1. Tố quyền nào cũng bị tiêu diệt do thời hiệu, chiếu luật, hay do cách thức nào khác hợp pháp, trừ những tố quyền về tình trạng nhân thân, thì không bao giờ bị tiêu diệt. #2. Khước biện luôn có thể được viện dẫn và tự bản chất là vĩnh viễn; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1462. * Điều 1493: Nguyên cáo có thể khởi tố một người bằng nhiều tố quyền cùng một lúc, về cùng một việc hay về nhiều việc khác nhau, nhưng những tố quyền ấy không được tương phản nhau và không vượt thẩm quyền của tòa án mà nguyên cáo nại đến. * Điều 1494: #1. Bị cáo có thể phản tố chống lại nguyên cáo trước cùng một thẩm phán và trong cùng một vụ án vì có mối liên quan đến tố quyền chính, hoặc để bác bỏ hay để giảm thiểu yêu sách của nguyên cáo. #2. Phản tố chống lại một phản tố không được chấp nhận. * Điều 1495: Đơn phản tố phải được trình cho thẩm phán đã nhận đơn khởi tố, mặc dầu thẩm phán ấy chỉ được ủy nhiệm để xử một vụ án duy nhất, hay mặc dầu thẩm phán ấy vô thẩm quyền cách tương đối ngoài trường hợp phản tố. CHƯƠNG II * Điều 1496: #1. Người nào dựa trên những chứng cứ ít nhất có tính cách cái nhiên, chứng minh được mình có quyền trên một vật nào đó đang bị người khác cầm giữ, và mình sẽ bị thiệt hại nếu vật đó không được trao cho ai giữ gìn, người đó có quyền xin thẩm phán cho cung thác vật ấy. #2. Trong những hoàn cảnh tương tự, người ấy có thể xin cấm người khác hành xử một quyền. * Điều 1497: #1. Để bảo đảm một trái khoản, việc cung thác một vật cũng được chấp nhận, miễn là thấy đủ rõ trái chủ có quyền. #2. Việc cung thác cũng có thể áp dụng cho những vật của trái hộ tìm thấy nơi các người khác với bất cứ danh nghĩa nào, và có thể được áp dụng cho những trái khoản của trái hộ. * Điều 1498: Việc cung thác một vật và việc cấm hành sử một quyền không bao giờ có thể được quyết định, nếu sự thiệt hại sợ xảy đến có thể được bồi thường cách khác, và nếu có đủ đảm bảo thích hợp để bồi thường sự thiệt hại ấy. * Điều 1499: Khi người nào xin được thẩm quyền cho cung thác một vật hay cấm hành sử một quyền, thẩm phán có thể bắt buộc người ấy phải nạp một bảo chứng trước, để bồi thường những thiệt hại, nếu người ấy không chứng minh được quyền của mình. * Điều 1500: Về bản chất và hiệu lực của tố quyền chấp hữu, phải tuân giữ những qui định của luật dân sự nơi có vật đang bị tranh tụng về quyền chấp hữu. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |