|
|
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM QUYỂN VI PHẦN I TIẾT I * Điều 1311: Giáo Hội có quyền bẩm sinh và riêng biệt cưỡng chế các Kitô hữu phạm tội bằng những chế tài hình sự. * Điều 1312: #1. Những chế tài hình sự trong Giáo Hội là:
#2 . Luật còn có thể ấn định những thục hình khác, không cho người Kitô hữu hưởng một lợi ích thiêng liêng hay trần thế nào, và những thục hình nầy phải phù hợp với mục đích siêu nhiên của Giáo Hội. #3. Ngoài ra, còn được dùng những phương dược hình sự và những việc sám hối; dùng những phương dược hình sự nhất là để phòng ngừa tội phạm, còn việc sám hối chủ yếu là để thay thế hay gia tăng hình phạt. TIẾT II * Điều 1313: #1. Nếu luật thay đổi sau khi tội đã phạm thì phải áp dụng luật nào có lợi hơn cho phạm nhân. #2. Nếu luật sau bãi bỏ luật, hay ít nhất bãi bỏ hình phạt, thì hình phạt được đình chỉ tức khắc. * Điều 1314: Thường thường, hình phạt là hậu kết, nghĩa là tội nhân chỉ chịu phạt sau khi đã bị tuyên phạt; còn hình phạt là tiền kết, nghĩa là tội nhân phải chịu phạt tức khắc do đã phạm tội, nếu luật và lệnh truyền minh nhiên ấn định như thế. * Điều 1315: #1. Ai có quyền lập pháp cũng có thể ban hành những luật hình sự; lại cũng có quyền dùng luật của mình ra một hình phạt thích đáng để củng cố cả luật Thiên Chúa hay luật Giáo Hội được ban hành do một thẩm quyền cao hơn nhưng phải tôn trọng các giới hạn thẩm quyền đối địa hay đối nhân của riêng mình. #2. Chính luật có thể ấn định hình phạt hay để cho thẩm phán ấn định tùy sự xét đoán khôn ngoan của mình. #3. Luật đặc lập có thể thêm hình phạt khác nữa vào những hình phạt do luật phổ quát thiết lập cho một tội phạm nào đó; tuy nhiên chỉ nên làm như vậy trong trường hợp tối khẩn. Còn nếu luật phổ quát ngăm đe ra một hình phạt bất định hay tùy ý, thì luật đặc lập cũng có thể ấn định một hình phạt nhất định hay bắt buộc thay vào đó. * Điều 1316: Các Giám Mục giáo phận, theo mức độ có thể, phải ban hành những luật hình sự đồng nhất trong một thành hay một miền, nếu phải ra những luật như vậy. * Điều 1317: Hình phạt chỉ nên được thiết lập theo mức độ chứng thật là cần thiết để hổ trợ kỷ luật Giáo Hội một cách thích hợp hơn. Nhưng luật đặc lập không thể ban hành hình phạt sa thải khỏi bậc giáo sĩ. * Điều 1318: Nhà luật pháp đừng ngâm đe những hình hình phạt tiền kết, trừ trường hợp phải chống lại một số tội phạm đặc biệt do man trá, có thể gây gương xấu nặng hơn hay không có thể trừng phạt cách hữu hiệu bằng những hình phạt hậu kết; nhưng chỉ nên thiết lập các vạ, nhất là vạ tuyệt thông, một cách hết sức hạn chế và để phạt những tội nặng hơn mà thôi. * Điều 1319: #1. Người nào do quyền lãnh đạo ban hành những lệnh truyền ở tòa ngoài trong mức độ nào đó thì cũng trong mức độ ấy có thể dùng lệnh truyền để ngâm đe những hình phạt nhất định, trừ những thục hình vĩnh viễn. #2. Chỉ được ban hành những lệnh truyền hình sự, sau khi đã chín chắn cân nhắc sự việc, và vẫn giữ nguyên những gì được ấn định trong những Điều 1317 và 1318 về luật đặc lập. * Điều 1320: Trong tất cả những phạm vi nào mà các tu sĩ phải phục quyền vị Thường quyền sở tại, thì họ cũng có thể bị Ngài cưỡng chế bằng hình phạt. TIẾT III * Điều 1321: #1. Không ai bị trừng phạt, trừ khi người ấy bề ngoài vi phạm luật hay lệnh truyền và bị qui trách nặng nề do man trá hay do lỗi phạm. #2. Ai chủ tâm vi phạm luật hay lệnh truyền thì phải chịu hình phạt do luật hay lệnh truyền đã ấn định; còn kẻ nào đã vi phạm chỉ vì thiếu sự thận trọng cần thiết thì không bị phạt, trừ khi luật hay lệnh truyền định liệu thể khác. #3. Một khi ai đã vi phạm bề ngoài, thì được suy đoán là có trách nhiệm, trừ khi thấy rõ thể khác. * Điều 1322: Những người thường xuyên không thể sử dụng trí khôn được, thì dù họ có vẻ lành mạnh khi vi phạm luật hay lệnh truyền, cũng được kể là không có khả năng phạm tội. * Điều 1323: Người sau đây có vi phạm luật hay lệnh truyền cũng không bị một hình phạt nào:
* Điều 1324: #1. Người phạm pháp không được miễn chịu phạt, nhưng hình phạt do luật hay lệnh truyền ấn định phải được giảm khinh hay được thay thế bằng việc sám hối, nếu:
#2 . Thẩm phán cũng có thể làm như vậy, nếu có một hoàn cảnh nào khác làm cho tội phạm bớt nặng. #3. Trong những hoàn cảnh nói ở #1, phạm nhân không bị hình phạt tiền kết. * Điều 1325: Vô tri vì lười biếng hay vì giả đò hay vì cố tình không bao giờ được xét đến khi áp dụng những qui định của các Điều 1325 và 1324; say sưa hay những thác loạn tâm thần khác, nếu hữu ý gây ra để phạm tội hay để chữa mình, và đam mê được hữu ý khơi dậy hay nuôi dưỡng cũng không được xét đến. * Điều 1326: #1. Thẩm phán có thể trừng phạt nặng hơn luật hay lệnh truyền đã ấn định:
#2 . Trong những trường hợp nói ở #1, nếu hình phạt ấn định là tiền kết, có thể thêm một hình phạt khác hay một việc sám hối. * Điều 1327: Ngoài những trường hợp nói ở các Điều 1323 – 1326 , luật đặc lập còn có thể ấn định những hoàn cảnh khác miễn phạt, giảm khinh hay gia trọng, hoặc bằng qui tắc tổng quát hoặc cho từng tội phạm một. Cũng thế, trong một lệnh truyền có thể ấn định những trường hợp miễn khỏi, giảm khinh hay gia trọng hình phạt do lệnh truyền đặt ra. * Điều 1328: #1. Người đã làm hay bỏ một việc gì để thực hiện tội phạm, nhưng ngoài ý muốn, đã không hoàn thành tội phạm được, thì không mắc hình phạt đã được ấn định để phạt tội phạm đã hoàn tất, trừ khi luật hay lệnh truyền định liệu thể khác. #2. Nếu những hành vi hay những thiếu sót tự bản chất đưa đến việc thực hiện tội phạm, phạm nhân có thể buộc phải làm một việc sám hối hay chịu một dược hình, trừ khi đương sự tự ý không tiếp tục thực hiện tội phạm đã bắt đầu. Tuy nhiên, nếu đã có xảy ra gương xấu hay thiệt hại nặng nào khác hay một nguy cơ nào, thì đương sự mặc dầu đã tự ý không tiếp tục nữa, vẫn có thể bị một hình phạt xứng đáng, nhưng nhẹ hơn hình phạt đã được ấn định cho tội phạm đã hoàn thành. * Điều 1329: #1. Những người cùng phạm tội do ý muốn phạm tội chung mà không được minh nhiên nói đến trong luật hay lệnh truyền, thì nếu chính phạm bị trừng phạt bằng hình phạt hậu kết, các đồng phạm cũng phải chịu hình phạt như vậy hay những hình phạt khác tương đương hay nhẹ hơn. #2. Những người đồng lõa không được luật hay lệnh truyền nói đến, phải chịu hình phạt tiền kết gắn liền với tội phạm, nếu trong trường hợp không có sự tham gia của họ thì tội phạm đã không được thực hiện, và nếu hình phạt đó thuộc loại có thể dùng để trừng phạt họ, bằng không, họ có thể bị phạt bằng những hình phạt hậu kết. * Điều 1330: Một tội phạm nào hệ tại ở một lời tuyên bố hay ở một việc bộc lộ khác về ý muốn, học thuyết hay kiến thức, thì không kể là một tội phạm đã hoàn thành, nếu không ai nhận thức lời tuyên bố hay sự bộc lộ ấy. TIẾT IV CHƯƠNG I * Điều 1331: #1. Người mắc vạ tuyệt thông bị cấm:
#2 . Nếu vạ tuyệt thông không được gia phạt hay tuyên phạt, phạm nhân:
* Điều 1332: Người mắc vạ cấm chế thì bị cấm thực hiện những điều nói ở Điều 1331 #1, những số 1 và 2; còn nếu vạ cấm chế đã bị gia phạt tuyên phạt, phải giữ qui định của Điều 1331 #2 số 1. * Điều 1333: #1. Vạ huyền chỉ là vạ có thể phạt các giáo sĩ mà thôi; vạ nầy cấm:
#2 . Trong luật hay lệnh truyền có thể ấn định để người mắc vạ huyền chỉ không thể thực hiện thành sự những hành vi lãnh đạo, sau khi có án lệnh xử phạt hay tuyên vạ. #3. Sự ngăn cấm không bao giờ chi phối:
#4 . Và huyền chỉ cấm nhận hoa lợi, lương bỗng cấp dưỡng, hay các thứ khác như vậy thì cũng ban hành nghĩa vụ phải hoàn lại bất cứ của gì đã nhận được cách bất hợp pháp, mặc dầu ngay tình. * Điều 1334: #1. Trong những giới hạn được điều trên đây ấn định, phạm vi vạ huyền chỉ được xác định do chính luật hay lệnh truyền, hoặc do án lệnh hay sắc lệnh phạt vạ. #2. Luật, chứ không phải lệnh truyền, có thể ra vạ huyền chỉ tiền kết mà không thêm sự xác định hay giới hạn nào, hình phạt như vậy có tất cả những hiệu quả ghi ở Điều 1333 #1. * Điều 1335: Nếu vạ cấm cử hành các Bí tích hay Á bí tích hay thi hành một hành vi lãnh đạo, vạ cấm ấy được đình chỉ mỗi khi cần đến giúp đỡ các tín hữu trong cơn nguy tử; nếu vạ tiền kết chưa được tuyên bố thì vạ cấm cũng được đình chỉ mỗi khi tín hữu xin lãnh nhận Bí tích hay Á bí tích hay yêu cầu một hành vi lãnh đạo; được phép xin như trên vì bất cứ lý do chính đáng nào. CHƯƠNG II * Điều 1336: #1. Thục hình có thể phạt phạm nhân hoặc suốt đời hoặc trong một thời gian hạn định hoặc vô hạn định. Ngoài những hình phạt khác luật có thể đặt ra, thục hình gồm những loại sau đây;
#2 . Chỉ có những thục hình ghi ở #1 số 3 là những hình phạt tiền kết. * Điều 1337: #1. Vạ cấm cư ngụ trong một nơi hay một địa hạt nhất định có thể áp dụng cho giáo sĩ hoặc tu sĩ, nhưng vạ buộc cư ngụ có thể áp dụng cho các giáo sĩ triều và cho tu sĩ trong giới hạn của hiến pháp. #2. Để phạt vạ cư ngụ tại một nơi hay một địa hạt nhất định, cần phải có sự đồng ý của vị Thường quyền nơi ấy, trừ trường hợp, có một nhà dành riêng cả cho các giáo sĩ ngoài giáo phận phải đền tội hay sửa mình. * Điều 1338: #1. Những việc truất bãi và cấm chỉ ghi ở Điều 1136 #1, những số 2 và 3 không bao giờ áp dụng cho những quyền hành, chức vụ, nhiệm vụ, quyền lợi, đặc ân, năng quyền, ân huệ, danh hiệu, phù hiệu nào không ở dưới quyền hành của vị Bề trên ra hình phạt. #2. Không thể ra vạ truất bãi quyền thánh chức, nhưng chỉ có thể cấm thi hành chức ấy hay một hành vi của chức ấy; cũng vậy, không thể ra vạ truất bãi bằng cấp đại học. #3. Đối với những cấm chỉ nói ở Điều 1336 #1 số 3 phải giữ qui tắc nói ở Điều 1335 về những vạ. CHƯƠNG III * Điều 1339: #1. Vị Thường quyền có thể đích thân hay nhờ người khác khuyến cáo người ở trong dịp rất gần để phạm tội hay do điều tra bị nghi ngờ trầm trọng đã phạm tội. #2. Còn người nào do hạnh kiểm gây gương xấu hoặc làm xáo trộn trật tự trầm trọng, Ngài cũng có thể khiển trách theo cách thích ứng với những điều kiện riêng biệt của người và sự việc. #3. Phải luôn lập bằng chứng về việc khuyến cáo hay khiển trách, ít nhất bằng một văn kiện nào đó phải được giữ trong văn khố mật của tòa Giám mục. * Điều 1340: #1. Việc sám hối có thể buộc ở tòa ngoài là một việc tôn giáo, đạo đức, hay bác ái phải được thực hiện. #2. Đừng bao giờ buộc làm việc sám hối công khai vì một vi phạm kín đáo. #3. Vị Thường quyền theo sự khôn ngoan của mình có thể những việc sám hối vào phương dược hình sự, khuyến cáo hay khiển trách. TIẾT V * Điều 1341: Vị Thường quyền chỉ nên xúc tiến thủ tục tư pháp hay hành chánh để gia phạt hay tuyên phạt, khi đã thấy việc răn bảo huynh đệ, việc khiển trách hay đường lối mục vụ nào khác không đủ để có thể sửa chữa gương xấu, tái lập công lý và cải thiện người phạm tội. * Điều 1342: #1. Mỗi khi có những lý do chính đáng làm cản trở việc tố tụng tư pháp, thì có thể gia phạt hay tuyên phạt bằng sắc lệnh ngoài tư pháp; nhưng trong bất cứ trường hợp nào cũng có thể áp dụng phương dược hình sự và việc sám hối bằng sắc lệnh. #2. Không thể dùng sắc lệnh để gia phạt hay tuyên phạt những hình phạt vĩnh viễn và những hình phạt mà luật hay lệnh truyền lập ra đã cấm không được dùng sắc lệnh mà áp dụng. #3. Những gì luật hay lệnh truyền nói về thẩm phán liên quan tới việc gia phạt hay tuyên phạt trong tòa án, phải được áp dụng cho vị Bề trên nào dùng sắc lệnh gia phạt hay tuyên phạt ngoài tòa án, trừ khi thấy rõ thể khác và trừ trường hợp liên quan đến những qui định có tính cách thủ tục mà thôi. * Điều 1343: Nếu luật hay lệnh truyền cho thẩm phán quyền áp dụng hay không áp dụng hình phạt thì thẩm phán cũng có thể tùy lương tâm và sự khôn ngoan của mình giảm bớt hình phạt hay thay thế hình phạt bằng việc sám hối. * Điều 1344: Mặc dầu luật dùng những lời có tính cách lệnh truyền, thẩm phán tùy lương tâm và sự khôn ngoan mình có thể:
* Điều 1345: Mỗi khi phạm nhân, hoặc chỉ sử dụng được trí khôn một cách bất toàn mà thôi, hay đã phạm tội vì sợ sệt, hay vì thiết bách, hay vì quá đam mê, hay vì quá say sưa hoặc do sự rối loạn tâm thần tương tự thẩm phán cũng có thể bỏ bất cứ việc gia phạt nào, nếu thấy có thể dùng cách khác để lo liệu tốt hơn cho việc cải thiện phạm nhân. * Điều 1346: Mỗi khi phạm nhân đã phạm nhiều tội, nếu các hình phạt hậu kết chồng chất có vẻ quá nặng, thẩm phán có quyền, tùy sự xét đoán khôn ngoan của mình điều giảm các hình phạt trong những giới hạn tương bình. * Điều 1347: #1. Không có thể ra vạ cách thành sự nếu trước đó phạm nhân đã không được cảnh cáo ít là một lần để đương sự thôi ngoan cố sau khi đã dành một thời gian thích hợp để người ấy hối cải. #2. Có thể kể như phạm nhân đã không còn ngoan cố nữa, khi đương sự thật lòng hối hận về tội phạm, và ngoài ra, đã sửa chữa cách xứng hợp các thiệt hại và gương xấu, hay ít là nghiêm chỉnh hứa làm như vậy. * Điều 1348: Khi một phạm nhân được miễn tố hay không bị gia phạt chi cả, vị Thường quyền có thể lo liệu cho lợi ích của đương sự và cho công ích bằng những lời cảnh cáo thích hợp và bằng những đường lối khác do mối lo lắng mục vụ hay nếu hoàn cảnh đòi hỏi, cả bằng những hình phạt. * Điều 1349: Nếu hình phạt không được xác định và luật không dự liệu thể khác, thẩm phán đừng ra những hình phạt nặng hơn, nhất là những vạ; trừ khi trường hợp hệ trọng tuyệt đối đòi hỏi; tuy nhiên, thẩm phán không có thể ra những hình phạt vĩnh viễn. * Điều 1350: #1. Khi gia phạt một giáo sĩ, luôn phải liệu sao để đương sự không thiếu những gì cần thiết cho cuộc sống xứng đáng, trừ trường hợp bị sa thải khỏi bậc giáo sĩ. #2. Tuy nhiên, nếu một giáo sĩ nào vì bị sa thải khỏi bậc giáo sĩ mà thật sự túng thiếu vì hình phạt ấy, thì vị Thường quyền phải lo liệu giúp đỡ đương sự cách nào tốt nhất có thể. * Điều 1351: Hình phạt buộc phạm nhân khắp nơi cả khi người thiết lập hình phạt hay gia phạt đã hết quyền, trừ khi minh nhiên định liệu thể khác. * Điều 1352: #1. Nếu hình phạt cấm lãnh nhận Bí tích hay Á bí tích, vạ cấm nầy, bị đình chỉ bao nhiêu phạm nhân ở trong tình trạng nguy tử. #2. Hình phạt tiền kết chưa được công bố hay không công khai nơi phạm nhân cư ngụ, thì nghĩa vụ tuân giữ hình phạt ấy được đình chỉ toàn bộ hay một phần tùy trường hợp phạm nhân không thể tuân giữ mà không gặp nguy cơ sinh gương xấu trầm trọng hay mất thanh danh. * Điều 1353: Việc kháng cáo hay thượng cầu chống bất cứ án lệnh và sắc lệnh nào gia phạt hay tuyên phạt, có hiệu lực đình chỉ. TIẾT VI * Điều 1354: #1. Trừ những vị được kể ở các Điều 1353 – 1356, tất cả những ai có thể chuẩn chước một luật có hình phạt kèm theo hay miễn trừ khỏi một lệnh truyền đe phạt, cũng có thể tha hình phạt ấy. #2. Ngoài ra, luật hay lệnh truyền thiết lập hình phạt cũng có thể ban cho những người khác quyền tha hình phạt ấy. #3. Nếu Tông Tòa dành riêng cho mình hay dành cho những người khác quyền tha hình phạt, việc dành riêng ấy phải được giải thích theo nghĩa hẹp. * Điều 1355: #1. Các vị sau đây có thể tha hình phạt do luật thiết lập, nếu là hình phạt buộc phải chịu hay được tuyên bố miễn là không được dành riêng cho Tông Tòa:
#2 . Vị Thường quyền có thể tha cho những người thuộc quyền và những người ở trong địa hạt mình hay những người có thể đã phạm tội tại đó, khỏi hình phạt tiền kết do luật thiết lập nhưng chưa được tuyên bố, nếu hình phạt ấy chưa được dành riêng cho Tông Tòa; bất cứ Giám mục nào cũng có quyền tha như vậy, nhưng chỉ trong khi ban bí tích Giải Tội. * Điều 1356: #1. Những người sau đây có thể tha hình phạt hậu kết hay tiền kết được thiết lập bởi một lệnh truyền không phải do Tông Tòa ban hành:
#2 . Trước khi tha phạt, phải hỏi ý kiến tác giả lệnh truyền, trừ khi không thể hỏi ý kiến được vì những hoàn cảnh ngoại thường. * Điều 1357: #1. Vị giải tội có thể tha tòa trong thuộc bí tích vạ tiền kết tuyệt thông hay cấm chỉ chưa được tuyên bố, nếu hối nhân cảm thấy khổ sở phải ở trong tình trạng tội trọng trong suốt thời gian cần thiết để Bề trên có thẩm quyền lo liệu; vẫn giữ nguyên những qui định của các Điều 508 và 976. #2. Khi tha vạ, vị giải tội hãy buộc hối nhân trong vòng một tháng phải liên hệ với Bề trên có thẩm quyền hay với linh mục có năng quyền và tuân theo quyết định của Ngài, nếu không sẽ bị vạ lại; trong khi chờ đợi, vị giải tội phải ra việc đền tội cân xứng va, nếu cần, buộc đương sự phải sửa gương xấu và đền thiệt hại, việc liên hệ nầy cũng có thể được thực hiện nhờ vị giải tội, nhưng không nói tên của hối nhân. #3. Những người đã hưởng ơn tha các vạ gia phạt hay tuyên phạt hay tuyên phạt hay được dành riêng cho Tông Tòa chiếu Điều 976 buộc phải liên hệ như trên sau khi họ đã bình phục. * Điều 1358: #1. Chỉ được tha vạ cho can phạm đã từ bỏ thái độ ngoan cố, chiếu Điều 1347 #2; còn ai đã từ bỏ thái độ ngoan cố thì không thể từ chối tha cho họ. #2. Ai tha vạ, có thể áp dụng các biện pháp nói ở Điều 1348 hay ngay cả buộc làm một việc sám hối. * Điều 1359: Nếu ai mắc nhiều hình phạt, thì việc tha chỉ có giá trị đối với những hình phạt được nói rõ trong khi tha; còn việc tha tổng quát thì hủy bỏ mọi hình phạt, trừ những hình phạt nào phạm nhân vì gian ý đã không nói tới trong khi xin. * Điều 1360: Việc tha hình phạt do sợ sệt trầm trọng không có giá trị. * Điều 1361: #1. Có thể tha vạ cho cả người vắng mặt, hay tha với điều kiện. #2. Việc tha ở tòa ngoài phải được ban trên giấy tờ, trừ khi có lý do trầm trọng khuyên làm thể khác. #3. Phải lo đừng tiết lộ việc xin tha hay chính việc tha, trừ khi điều đó có ích lợi để bảo vệ thanh danh cho can phạm hay cần thiết để sửa chữa gương xấu. * Điều 1362: #1. Tố quyền hình sự bị thời hiệu thủ tiêu sau ba năm, trừ khi liên quan đến:
#2 . Thời hiệu bắt đầu từ ngày tội phạm được thực hiện, hay nếu là tội phạm liên tục hay thường xuyên thì bắt đầu từ ngày tội phạm chấm dứt. * Điều 1363: #1. Tố quyền chấp hành hình phạt bị thời hiệu tiêu hủy, nếu sắc lệnh thi hành án của thẩm phán nói ở Điều 1651 đã không được thông báo cho phạm nhân trong thời hạn nói ở Điều 1362, tính từ ngày án phạt trở thành việc đã xét xử. #2. Nguyên tắc trên đây cũng có giá trị nếu đã gia phạt do sắc lệnh ngoài tòa án ; vẫn giữ những gì phải giữ. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |