Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
GIÁO LUẬT HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
  --- 1983 ---

QUYỂN VII
TỐ TỤNG

PHẦN III
MỘT SỐ TỐ TỤNG ĐẶC BIỆT

TIẾT I
TỐ TỤNG HÔN NHÂN
 

CHƯƠNG I
NHỮNG VỤ ÁN ĐỂ TUYÊN BỐ HÔN NHÂN BẤT THÀNH  

MỤC 1
TÒA ÁN CÓ THẨM QUYỀN

* Điều 1671 : Do luật, riêng các vụ án hôn nhân của những người đã lãnh nhận Thánh Tẩy, thuộc quyền thẩm phán Giáo Hội.

* Điều 1672 : Các vụ án về những hiệu quả thuần túy dân sự của hôn nhân thuộc quyền thẩm phán dân sự, trừ khi luật đặc lập ấn định rằng các vụ kiện ấy, nếu là những trường hợp phụ đới và tùy tòng, có thể do thẩm phán Giáo Hội cứu xét và giải quyết.

* Điều 1673 : Đối với những vụ án về hôn nhân bất thành không dành cho Tông Tòa, thì tòa có thẩm quyền là:

  • tòa án tại nơi đã cử hành hôn nhân;
  • tòa án tại nơi bị cáo có gia cư hay không chuẩn cư;
  • Tòa án tại nơi nguyên cáo có gia cư, miễn là cả hai bên đều cư ngụ trong địa hạt của cùng một Hội Đồng Giám Mục, và miễn là có sự đồng ý của vị đại diện tư pháp tại nơi bị cáo có gia cư, sau khi bị cáo đã được hỏi ý kiến;
  • tòa án tại nơi mà trong thực tế hầu hết các chứng cứ phải được thu thập, miễn là có sự đồng ý của vị đại diện tư pháp tại nơi bị cáo có gia cư; vị này trước đó phải hỏi bị cáo xem có khước biện nào không.

MỤC 2
QUYỀN KHÁNG NGHỊ HÔN NHÂN

* Điều 1674 : Những người có tư năng kháng nghị hôn nhân là:

  • những người phối ngẫu;
  • công tố viên, khi trường hợp hôn nhân bất thánh đã trở nên công khai, nếu không thể thành sự hóa, hoặc thành sự hóa thì không có lợi.

* Điều 1675 : #1. Hôn nhân nào đã không bị tố cáo khi cả hai người phồi ngẫu còn sống thì cũng không thể tố cáo khi một trong hai hay cả hai đã chết, trừ khi vấn đề thành sự của hôn nhân là vấn đề tiên quyết để giải quyết một tranh chấp khác hoặc ở tòa án Giáo Hội hoặc ở tòa án dân sự.

#2 . Còn nếu một người phối ngẫu chết khi vụ án chưa ngã ngũ thì phải giữ Điều 1518.

MỤC 3
CHỨC VỤ THẨM PHÁN

* Điều 1676 : Trước khi nhận xét xử vụ án và mỗi lần thấy hy vọng có kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương tiện phục vụ để khuyến dụ hai người phối ngầu thành sự hóa hôn nhân và tái lập đời sống chung vợ chồng, nếu có thể.

* Điều 1677 : #1 . Khi đã nhận đơn, chủ tịch hay báo cáo viên phải chiếu Điều 1508 lo thông báo sắc lệnh triệu tập ra hầu tòa.

#2 .Quá kỳ hạn 15 ngày kể từ khi thông báo, chủ tịch hay báo cáo viên, trong thời hạn 10 ngày phải do chức vụ ra sắc lệnh ấn định công thức của nghi vấn, và phải thông báo cho các bên, trừ khi một bên thỉnh cầu mở phiên tòa để đối tụng.

#3. Công thức nghi vần không những đặc vấn đề xem hôn nhân trong trường hợp này có chắc là bất thành không, lại còn phải xác định vì lý do hay những lý do nào mà hôn nhân bị kháng nghị là bất thành.

#4. Sau 10 ngày kể từ khi thông báo sắc lệnh, nếu các bên không đề xuất một ý kiến nào, chủ tịch hay báo cáo viên phải ra sắc lệnh mới để quyết định đều tra vụ án.

MỤC 4
NHỮNG CHỨNG CỨ

* Điều 1678 : #1. Bảo hệ viên, những người bảo trợ các bên và cảc công tố viên nêu vị này can dự vào vụ án, có quyền:

  • có mặt trong lúc thẩm vấn các bên, các người làm chứng và các chuyên viên, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1559;
  • được xem các án từ mặc dầu chưa được công bố, và nghiên cứu các tài liệu do các bên xuất trình.

#2. Các bên không được tham dự cuộc thẩm vấn nói ở #1, số 1.

* Điều 1679 : Trừ khi có đầy đử chứng cứ từ nguồn khác, để đánh giá các lời khai của các bên chiếu Điều 1536, thẩm phán nếu có thể, phải dùng những người làm chứng về sự đáng tin của các bên ngoài những dấu hiệu và những yếu tố bổ sung khác.

* Điều 1680 : Trong những vụ án án về bất lực hay về thiếu sự ưng thuận do bệnh tâm thần, thẩm phán phải nhờ đến sự giúp đỡ của một hay nhiều chuyên viên trừ khi hoàn cảnh cho thầy rõ ràng việc ấy là vô ích; còn trong những vụ án khác, phải giữ quy định của Điều 1574.

MỤC 5
BẢN ÁN VÀ KHÁNG CÁO

* Điều 1681 : Mỗi khi điều tra vụ án mà thấy xuất hiện một nghi vấn rất cái nhiên về hôn nhân đã không thành toại, tòa án với sự đồng ý của các bên, có thể đình chỉ vụ án về hôn nhân bất thành bổ túc viện điều tra để xin chuẩn về hôn nhân thành nhận, và sau hết chuyển đến Tông Tòa cũng án từ đơn xin chuẩn của một hay hai bên phối ngẫu cùng với ý kiến của tòa án và của Giám mục.

* Điều 1682 : #1. Bản án nào trước tiên đã tuyên bố hôn nhân bất thành, phải được chuyển, do chức vụ, đến tòa phúc thẩm, cùng với những đơn kháng cáo nếu có và những án từ khác trong vòng 20 ngày kể từ khi công bố bản án.

#2. Nếu bản án ở tòa cấp một đã tuyên bố là hôn nhân bất thành tòa phúc thẩm phải nghiên cứu những nhận xét của bảo hệ viên và cả của các bên nếu có, và phải ra sắc lệnh xác nhận ngay quyết định hay phải chấp nhận cho vụ kiện được nghiên cứu tại toa án cấp bậc mới theo đường lối thông thường.

* Điều 1683 : Nếu ở cấp phúc thẩm người ta nại một lý do mới khiến hôn nhân bất thành, tòa án có thể chấp nhận và xét xử về lý do ấy như là ở cấp một.

* Điều 1684 : #1. Sau khi bản án đã tuyên bố lần thứ nhất hôn nhân bất thành và bản an ấy lại được y nhận ở cấp phúc thẩm bằng một sắc lệnh hay bằng một bản án thứ hai, thì những người mà hôn nhân của họ bị tuyên bố là bất thành, có thể tái hôn ngay sau khi sắc lệnh hay bản án thứ hai được cáo tri cho họ, trừ khi có điều khoảng cấm tái hôn kèm theo chính bản án hoặc sắc lệnh hay trừ khi vị Thường quyền sở tại cấm tái hôn.

#2. Phải giữ những quy định của Điều 1644 và cả khi bản án tuyên bố hôn nhân bất thành đã được y nhận không phải bằng một bản án thứ hai, nhưng bằng một sắc lệnh.

* Điều 1686 : Sau khi đã nhận đơn thỉnh cầu đã được đệ nạp chiếu Điều 1677, vị đại diện tư pháp hay thẩm phán do Ngài chỉ định, có thể bỏ qua những trọng thức của vụ án thông thường, nhưng triệu tập các bên ra hầu tòa cùng với sự can thiệp của bảo hệ viên, và tuyên bố hôn nhân bất thành, nếu có một tài liệu không thể bị phản đối hay khước biện cho thấy rõ hoặc có ngăn trở tiêu hôn hoặc thiếu nghi thức hợp lệ miễn là cũng chắc chắc không kém ngăn trở đã không được miễn chuẩn, hoặc người đại diện đã không có ủy nhiệm thư hữu hiệu.

* Điều 1687 : #1. Bảo hệ viên phải kháng cáo lên tòa phúc thẩm chống lại những lời tuyên bố trên nếu khôn ngoan nghĩ rằng những hà tì nói ở Điều 1686 hoặc việc thiếu phép miễn chuẩn là không chắc chắc. Các án từ phải được chuyển lên thẩm phán tòa phúc thẩm, và vị này phải được cho biết bằng giấy tờ rằng đó là vụ tố tụng dựa trên tài liệu.

#2. Bên nào nghĩ mình bị thiệt, vẫn có quyền kháng cáo.

* Điều 1688 : Sau khi có sự can thệp của bảo vệ viên và nghe các bên thẩm phán toà phúc thẩm phải quyết định theo cùng một cách thức nói ở Điều 1686 xem bản án có phải được tiến hành theo đường lối thông thường của luật; trong trường hợp nầy, thẩm phán gởi trả vụ án về tòa cấp một.

MỤC 7
QUY TẮC TỔNG QUÁT

* Điều 1689 : Trong bản án, các bên phải được nhắc nhở cho biết những nghĩa vụ luân lý hay cả những nghĩa vụ dân sự có thể buộc bên này đối với bên kia và đối với con cái về việc cấp dưỡng và giáo dục.

* Điều 1690 : Những vụ án để tuyên bố hôn nhân bất thành không thể được xử lý theo thủ tục sử án tranh tụng bằng miệng

* Điều 1691 : Trong những Điều khác liên quan đến thủ tục, trừ khi bản chất sự việc không cho phép, phải áp dụng những Điều luật về những vụ sử án nói chung và về việc sử án tranh tụng thông thường; vãn giữ nguyên những quy tắc riêng đối với những vụ án về tình trạng nhân thân và đối với những vụ án liên quan đến công ích.

CHƯƠNG II
CÁC VỤ ÁN VỢ CHỒNG LY THÂN

* Điều 1692 : #1. Trừ khi có luật định liệu thể khác cho những địa phương đặc thù việc ly thân giữa các vợ chồng đã lãnh nhận bích tích Thánh Tẩy, có thể được quyết định do một sắc lệnh của Giám Mục Giáo Phận hay do bản án của thẩm phán, chiếu theo những Điều sau đây:

#2. Khi quyết định của giáo quyền không có hiệu lực dân sự, hay nếu thấy trước bản án dân sự không nghịch với luật Thiên Chúa Giám Mục Giáo Phận nơi cư trú của hai vợ chồng, có thể cho phép họ nại đến tòa án dân sự, sau khi đã cân nhắc những hoàn cảnh riêng biệt.

#3. Nếu vụ án liên quan cả đến những hậu quả của thuần túy dân sự của hôn nhân, thẩm phán phải liệu sau cho vụ án ngay từ đầu được chuyển sang tòa án dân sự, vẫn giữ quy định nói ở #2.

* Điều 1693 : #1. Trừ một bên hay công tố viên yêu cầu áp dụng việc xử án tranh tụng thông thường, phải dùng cách xử án tranh tụng bằng miệng.

#2. Nếu đã áp dụng cách xử án tranh tụng thông thường và nạp đơn kháng cáo, tòa án cấp hai phải tiến hành chiếu Điều 1682 #2, vẫn giữ những Điều phải giữ.

* Điều 1694 : Về những gì liên quan đến thẩm quyền của tòa án, phải giữ những quy định của Điều 1673.

* Điều 1695 : Trước khi nhận xử vụ án và mỗi khi có hy vọng đạt kết quả tốt, thẩm phán phải dùng các phương tiện có tính cách mục vụ để hòa giải hai bên phối ngẫu và khuyến dụ họ tái lập đời sống chung vợ chồng.

* Điều 1696 : Các vụ án vợ chồng ly thân cũng liên quan đến công ích, vì thế công tố viên luôn phải tham dự, chiếu Điều 1433.

CHƯƠNG III
TỐ TỤNG ĐỂ CHƯỚC MIỄN CHO
HÔN NHÂN THÀNH NHẬN VÀ VỊ TỌAI

* Điều 1697 : Chỉ hai vợ chồng hay một trong hai, mặc dầu bên kia không muốn, mới có quyền xin ơn chước miễn cho hôn nhân thành nhận và vị toại.

* Điều 1698. #1. Chỉ có một mình tông tòa xét xử xem hôn nhân có vị toại hay không và vì lý do chính đáng hay không để ban ơn chước miễn.

#2. Còn ơn chước miễn, chỉ một mình Đức Giáo Hoàng Rôma ban.

* Điều 1699: #1. Người có thẩm quyền nhận đơn xin chước miễn là Giáo Mục Giáo Phận nơi thỉnh nhân có gia cư hay chuẩn cư. Nếu thấy rõ lời thỉnh nguyện có cơ sở, vị này phải cho mở cuộc điều tra.

#2. Tuy nhiên, nếu trường hợp đề ra có những khó khăn đặc biệt thuộc phạm vi pháp lý hay luân lý, Giám Mục Giáo Phận phải xin ý kiến Tông Tòa.

* Điều 1700: #1. Vẫn giữ nguyên quy định của Điều 1681, Giám mục phải trao cuộc điều tra về những vụ án trên cho tòa án Giáo phận mình hay Giáo phận khác hoặc cho một linh mục có khả năng, cách thường xuyên hay cho từng trường hợp một.

#2. Nếu đã nộp đơn thỉnh cầu tòa tuyên bố hôn nhân bất thành, việc điều tra để chước miễn hôn nhân ấy phải được trao cho cùng một tòa án.

* Điều 1701 : #1. Trong các vụ này, bảo vệ viên luôn phải can thiệp.

#2. Không chấp nhận có người bàu chữa, nhưng trong trường hợp khó khăn, Giám mục có thể cho phép nguyên cáo hay bị cáo nhờ một chuyên viên luật giúp đỡ.

* Điều 1702 : Trong khi điều tra phải nghe cả hai bên phối ngẫu và trong mức độ có thể, phải giữ các điều luật liên quan đến việc thu thập chứng cứ trong vụ xử án tranh tụng thông thường và trong vụ án về hôn nhân bất thành, miễn là những điều luật đó có thể dung hòa được với bản chất các vụ án này.

* Điều 1703 : #1. Không công bố các án từ; tuy nhiên nếu phẩm phán thấy có những chứng cứ đưa ra gây trở ngại trầm trọng cho lời thỉnh cầu của nguyên cáo hay cho lời khước biện của bị cáo, thì Ngài phải khôn ngoan báo cho bên liên hệ biết.

#2. Đối với bên nào thỉnh cầu, thẩm phán có thể cho biết tài liệu đã đệ nạp hay chứng cứ đã nhận được và ấn định thời hạn để bên ấy đưa ra những nhận định.

* Điều 1704 : #1. Sau khi đã điều tra, điều tra viên phải đệ nạp lên Giám mục mọi án từ chung với một bản tường trình thích hợp. Vị này phải đưa ra ý kiến về sự thật của sự liên quan đến sự kiện hôn nhân vị toại cũng như liên quan tới lý do chính đáng để chước miễn và tích cách thuận lợi của ơn chước miễn.

#2. Nều việc điều tra đã được trao cho một tòa án khác chiếu Điều 1700 thì những nhận xét bên vực mối dây hôn nhân phải được soạn thảo trong tòa án ấy, những ý kiến nói ở #1 thuộc về Giám mục ủy quyền, và điều tra viên phải trao cho Ngài một bản tường trình thích hợp cùng với các án từ.

* Điều 1705 : #1. Giám mục phải chuyển đến Tông Tòa các án từ cùng với ý kiến của mình và những nhận xét của bảo hệ viên.

#2. Nều theo ý kiến của Tông Tòa cần bổ sung việc điều tra, thì sẽ thông tri cho Giám mục biết điều ấy và chỉ rõ những yếu tố cần phải điều tra thêm.

#3. Nếu Tông Tòa trả lời rằng, từ những kết luận trên không thấy rõ những sự kiện hôn nhân vị toại, lúc ấy chuyên viên pháp luật nói ở Điều 1701 #2 có thể xem xét lại trụ sở tòa án các án từ của vụ án, ngoại trừ ý kiến của Giám mục, để cân nhắc xem có thể đưa ra một điều gì hệ trọng hầu để nạp đơn xin một lần nữa hay không.

* Điều 1706 : Phúc chiếu ban ơn chước miễn được Tông Tòa chuyển đến Giám mục, vị này sẽ thông tri cho các bên, ngoài ra Ngài còn truyền lệnh ngay cho Linh mục chính xứ nơi kết hôn cũng như Linh mục chính xứ nơi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, để ghi ơn chước miễn đã ban vào sổ Hôn nhân và sổ Rửa tội.

CHƯƠNG IV
TỐ TỤNG SUY ĐOÁNNGƯỜI PHỐI NGẪU ĐÃ CHẾT

* Điều 1707 : #1. Mỗi khi không thể có một tài liệu chính thức nào của Giáo quyền hay chính quyền chứng minh người phối ngẫu đã chết, thì người phối ngẫu kia không được coi là đã hết bị dây hôn nhân ràng buộc, trừ khi Giám mục giáo phận đã tuyên bố người phối ngẫu được suy đoán là đã chết.

#2. Giám mục Giáo phận chỉ có thể ra tuyên bố nói ở #1 nếu; sau khi đã thực hiện những cuộc điều tra thích hợp, dựa trên lời khai của các người làm chứng, trên tiếng đồn hoặc trên những dấu chỉ khác, Ngài có được một sự xác thực luân lý về cái chết của người phối ngẫu, mặc dầu lâu ngày, không đủ.

#3. Trong những trừơng hợp không chắc chắc và phức tạp, Giám mục phải xin ý kiến Tông Tòa.

TIẾT II
CÁC VỤ ÁN ĐỂ TUYÊN BỐ
VIỆC PHONG CHỨC THÁNH BẤT THÀNH

* Điều 1708 : Những người có thẩm quyền tố cáo chống lại tính thành sự của một vụ phong chức thánh là chính giáo sĩ hoặc vị thường quyền Bề Trên của giáo sĩ hay Thường quyền giáo phận nơi giáo sĩ đã thụ phong.

* Điều 1709 : #1. Đơn phải được gởi tới Thánh Bộ có thẩm quyền, Thánh Bộ này sẽ quyết định xem vụ án phải được xử lý do chính Thánh Bộ của Giáo Triều Rôma hay một tòa án được Thánh Bộ ấy chỉ định.

#2. Một khi đã gởi đơn, giáo sĩ bị cấm thi hành chức thánh do chính luật.

* Điều 1710 : Nếu Thánh Bộ gởi vụ án lại cho tòa án thì phải giữ các điều về xử án nói chung và về xử án tranh tụng thông thường, trừ khi bản chất của sự việc không cho phép; vẫn giữ nguyên những quy định của Tiết này.

* Điều 1711 : Trong những vụ án này, bảo vệ viên có quyền lợi và nghĩa vụ như bảo hệ viên hôn nhân.

* Điều 1712 : Sau khi đã có bản án thứ hai xác nhận việc truyền chức thánh bất thành, giáo sĩ mất mọi quyền lợi dành riêng cho bậc giáo sĩ và được giải thoát khỏi nghĩa vụ.

TIẾT III
NHỮNG CÁCH THỨC TRÁNH XỬ ÁN

* Điều 1713 : Để tránh những vụ tranh chấp nơi tòa án, nên điều đình hay hòa giải với nhau, hoặc có thể trao việc tranh chấp cho một hay nhiều trọng tài xét xử.

* Điều 1714 : Về việc điều đình, về trung phán ước và về việc xét xử do trọng tài phải giữ những quy tắc do các bên lựa chọn, hay nếu các bên không lựa chọn quy tắc nào,thì phải giữ luật do Hội Đồng Giám mục ban hành, nếu có, hay phải giữ luật dân sự hiện hành, nơi ký thỏa hiệp.

* Điều 1715 : #1. Không thể thực hiện thành sự việc điều đình hoặc trung phán ước về những gì thuộc công ích và về những gì khác mà các bên không thể tự do định đoạt được.

#2. Nều liên quan tới những tài sản trần thế của Giáo Hội, phải giữ những trọng thức luật đã ấn định và việc chuyển nhượng tài sản Giáo Hội, mỗi khi sự việc đòi như vậy.

* Điều 1716 : #1. Nếu luật nhà nước đòi phán quyết của trọng tài phải có y nhận của thẩm phán mới có giá trị, thì phán quyết trọng tài về vụ tranh chấp trong Giáo Hội, để có giá trị trong phạm vi Giáo Luật, cần phải có sự ưng nhận của thẩm phán Giáo Hội nơi phán quyết ấy đã được ban hành.

#2. Tuy nhiên, nếu luật nhà nước chập nhận sự kháng nghị chống lại phán quyết trọng tài trước thẩm phán nhà nước, thì ở tòa Giáo Luật cũng có thể khán nghị như vậy trước thẩm phán Giáo Hội, vị này có thẩm quyền để xét xử cấp một cuộc tranh chấp ở cấp một.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle