Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
GIÁO LUẬT HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
  --- 1983 ---

QUYỂN V
TÀI SẢN TRẦN THẾ CỦA GIÁO HỘI

* Điều 1254: #1. Do quyền bẩm sinh độc lập với quyền bính dân sự, Giáo Hội Công Giáo có thể thủ đắc, duy trì, quản trị và di nhượng các tài sản trần thế để theo đuổi những mục đích riêng của mình.

#2. Những mục đích riêng chính yếu là: tổ chức việc thờ phượng Thiên Chúa, trợ cấp xứng đáng hàng giáo sĩ và các thừa tác viên khác, làm việc tông đồ và bác ái, nhất là đối với những người túng thiếu.

* Điều 1255: Giáo Hội toàn cầu và Tông Tòa, các Giáo Hội địa phương cũng như bất cứ pháp nhân nào khác, công hay tư, đều là những chủ thể có khả năng thủ đắc, duy trì, quản trị và di nhượng tài sản trần thế, chiếu luật.

* Điều 1256: Dưới quyền tối cao của Đức Giáo Hoàng Rôma, chủ quyền các tài sản thuộc về pháp nhân nào đã thủ đắc các tài sản ấy cách hợp pháp.

* Điều 1257: #1. Mọi tài sản trần thế thuộc Giáo Hội toàn cầu, Tông Tòa hay các pháp nhân công khác trong Giáo Hội, đều là tài sản của Giáo Hội và được quản trị theo các Điều luật sau đây, cũng như theo các qui chế riêng.

#2. Các tài sản trần thế thuộc pháp nhân tư được quản trị theo các qui chế riêng chứ không theo các Điều luật ở đây; trừ khi minh nhiên định liệu thể khác.

* Điều 1258: Trong các Điều luật sau đây, từ “Giáo Hội” không chỉ có nghĩa là Giáo Hội toàn cầu hay Tông Tòa mà thôi, nhưng còn có nghĩa là bất cứ pháp nhân công nào trong Giáo Hội; trừ khi văn mạch hay bản chất sự việc cho thấy thể khác.

TIẾT 1
THỦ ĐẮC TÀI SẢN

* Điều 1259: Giáo Hội có thể thủ đắc tài sản trần thế bằng mọi cách chính đáng theo luật hoặc tự nhiên hoặc thiết định như mọi người khác.

* Điều 1260: Giáo Hội có quyền bẩm sinh đòi hỏi ở các Kitô hữu những gì cần thiết cho các mục đích riêng của mình.

* Điều 1261: #1. Các Kitô hữu có trọn quyền góp tài sản trần thế để giúp Giáo Hội.

#2. Giám Mục Giáo phận buộc phải nhắc nhở các tín hữu về nghĩa vụ nói ở Điều 222 #1; và dùng cách thích hợp thúc bách họ thi hành nghĩa vụ ấy.

* Điều 1262: Các tín hữu phải giúp Giáo Hội bằng những trợ cấp được yêu cầu và theo các qui tắc do Hội Đồng Giám Mục ban hành.

* Điều 1263: Sau khi hỏi ý kiến Hội Đồng Kinh tế và Hội Đồng Linh mục, Giám Mục Giáo phận có quyền ấn định các pháp nhân công thuộc quyền lãnh đạo của Ngài phải đóng góp một khoản vừa phải và tương xứng với huê lợi của họ để đáp ứng những nhu cầu của Giáo phận; còn đối với các thể nhân và pháp nhân khác trong trường hợp cần thiết quan trọng và với những điều kiện như trên Ngài chỉ nên ấn định một khoản ngoại thường vừa phải; vẫn giữ nguyên những lề luật và tục lệ riêng đã dành cho Ngài quyền rộng lớn hơn.

* Điều 1264: Trừ khi luật đã định liệu thế khác, Hội Đồng các Giám mục thuộc Giáo tỉnh có quyền:

  • Ấn định các lệ phí cho những hành vi thuộc quyền hành pháp cấp ân huệ hoặc cho việc thi hành các phúc chiếu của Tông Tòa; lệ phí nầy phải được chính Tông Tòa chuẩn nhận.
  • Ấn định các của dâng cúng nhân dịp phân tác bí tích và á bí tích.

* Điều 1265: #1. Vẫn giữ nguyên quyền các tu sĩ dòng hành khất, cấm bất cứ tư nhân nào, hoặc thể nhân hoặc pháp nhân, lạc quyên cho bất cứ tổ chức hay mục đích nào có tính cách đạo đức hay tính cách Giáo Hội khi không có phép trên giấy tờ của vị Thường quyền riêng hay của vị Thường quyền sở tại.

#2. Hội Đồng Giám mục có quyền ấn định những qui tắc về vấn đề lạc quyên mà mọi người phải tuân giữ, kể cả những người theo định chế mang danh và thực sự là hành khất.

* Điều 1266: Trong mọi nhà thờ và nhà nguyện kể cả thuộc các dòng tu mà trong thực tế thường xuyên mở cửa cho các Kitô hữu lui tới, vị Thường quyền sở tại có thể ra lệnh lạc quyên đặc biệt cho những chương trình nhất định của giáo xứ, giáo phận, của quốc gia hay toàn cầu, rồi tiền lạc quyên ấy cẩn thận gởi về tòa Giám mục.

* Điều 1267: #1. Các của dâng cúng cho các Bề trên hay các người quản trị bất cứ pháp nhân nào trong Giáo Hội, dù là tư, thì được kể là dâng cúng cho chính pháp nhân ấy, trừ khi thấy rõ ngược lại.

#2. Không thể khước từ các của dâng cúng nói ở #1, trừ khi có lý do chính đáng và, trong những việc hệ trọng hơn, thì phải có phép của vị Thường quyền nếu là pháp nhân công; cũng cần phải có phép của vị Thường quyền, để có thể nhận những của dâng cúng có kèm theo một nghĩa vụ hay một điều kiện, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1259.

#3. Những của các tín hữu dâng cúng nhằm mục đích nhất định nào thì chỉ có thể được sử dụng vào mục đích ấy.

* Điều 1268: Đối với tài sản trần thế, Giáo Hội chấp nhận thời hiệu như là cách thức thủ đắc và thoát nợ, chiếu theo những Điều 197 – 199.

* Điều 1269: Các đồ vật thánh, nếu thuộc quyền sở hữu của tư nhân thì tư nhân có thể thủ đắc nhờ thời hiệu, nhưng không được dùng vào các việc trần tục, trừ khi các đồ vật thánh ấy đã mất tính cách được cung hiến hay được làm phép; nhưng nếu thuộc pháp nhân công của Giáo Hội, thì chỉ pháp nhân công khác của Giáo Hội mới có thể thủ đắc.

* Điều 1270: Các bất động sản, các động sản quí giá, các quyền lợi và các tố quyền đối nhân hay đối vật thuộc Tông Tòa, thì được thủ đắc nhờ thời hiệu sau 100 năm, còn những gì thuộc về pháp nhân công khác của Giáo Hội, thì sau 30 năm.

* Điều 1271: Vì mối dây hiệp nhất và bác ái, các Giám mục tùy khả năng của Giáo phận phải góp phần cung cấp những phương tiện mà Tông Tòa cần đến tùy hoàn cảnh thời gian, để Tông Tòa có thể phục vụ Giáo Hội toàn cầu cách đúng mức.

* Điều 1272: Ở những miền nào còn có các bổng lộc theo nghĩa hẹp, Hội Đồng Giám mục có nghĩa vụ ra những qui tắc thích hợp được Tông Tòa thỏa thuận và chuẩn y, để quản trị các bổng lộc ấy sao cho hoa lợi và, trong mức độ có thể, cả chính vốn của bổng lộc cũng được dần dần chuyển sang cho tổ chức nói ở Điều 1274 #1.

TIẾT II
QUẢN TRỊ TÀI SẢN

* Điều 1273: Đức Giáo Hoàng Rôma, do quyền lãnh đạo tối thượng, là vị Quản trị và phân phát tối cao mọi tài sản của Giáo Hội.

* Điều 1274: #1. Trong mỗi Giáo phận phải có một tổ chức đặc biệt để thu góp các tài sản và các của dâng cúng nhằm trợ cấp các giáo sĩ phục vụ Giáo phận chiếu Điều 281, trừ khi đã dự liệu thể khác cho họ.

#2. Ở đâu chưa có tổ chức dự phòng xã hội thích đáng cho các giáo sĩ, thì Hội Đồng Giám mục phải liệu cho có một tổ chức lo việc bảo hiểm xã hội tươm tất cho các giáo sĩ.

#3. Trong mỗi Giáo phận nếu cần, phải thiết lập một quỹ chung nhờ đó các Giám mục có thể đáp ứng những nhiệm vụ đối với những nhân viên khác đang phục vụ Giáo Hội, và đối phó với các nhu cầu khác nhau của Giáo phận, và nhờ đó các Giáo phận giàu hơn cũng có thể giúp các Giáo phận nghèo hơn.

#4. Tùy theo những hoàn cảnh khác nhau về nơi chốn các mục tiêu nói ở #2 và #3 có thể đạt được cách mỹ mãn hơn, bằng các tổ chức Liên Giáo phận hay bằng sự hợp tác hoặc bằng sự liên hiệp thích đáng cho nhiều Giáo phận khác nhau và cả cho toàn thể địa hạt của chính Hội Đồng Giám mục nữa.

#5. Các tổ chức trên đây, nếu có thể, phải được thiết lập sao cho có giá trị theo cả luật dân sự nữa.

* Điều 1275: Khối tài sản đến từ các Giáo phận khác nhau được quản trị theo những qui tắc đã được các Giám mục liên hệ thỏa thuận cách thích hợp.

* Điều 1276: #1. Vị Thường quyền có nghĩa vụ ân cần để ý tới việc quản trị mọi tài sản của những pháp nhân công thuộc quyền, vẫn giữ nguyên những danh nghĩa hợp pháp dành quyền rộng rãi hơn cho vị Thường quyền ấy.

#2. Các vị Thường quyền phải lo liệu xếp đặt toàn thể việc quản trị tài sản Giáo Hội, bằng cách ban hành những huấn thị riêng; trong khuôn khổ của luật phổ quát và luật đặc lập mà vẫn lưu ý tới những quyền lợi, những tục lệ hợp pháp và những hoàn cảnh.

* Điều 1277: Để thực hiện những hành vi quản trị có tầm quan trọng, xét theo tình hình kinh tế của Giáo phận, Giám Mục Giáo phận phải hỏi ý kiến Hội Đồng Kinh tế và Hiệp đoàn các cố vấn; nhưng Ngài còn cần sự ưng thuận của Hội Đồng Kinh tế và Hiệp đoàn các cố vấn để thực hiện các hành vi quản trị ngoại thường, trừ những trường hợp đã được đặc biệt xác định do luật phổ quát hay do văn kiện tặng lập. Còn việc ấn định những hành vi nào được coi là những hành vi quản trị ngoại thường, thuộc về Hội Đồng Giám mục.

* Điều 1278: Ngoài những nhiệm vụ nói ở Điều 494, #3 và #4, Giám Mục Giáo phận có thể ủy thác cho vị quản lý những nhiệm vụ nói ở những Điều 1276 #1 và 1279 #2.

* Điều 1279: #1. Việc quản trị tài sản Giáo Hội thuộc thẩm quyền của ai có trách nhiệm trực tiếp đối với người có những tài sản ấy, trừ khi luật đặc lập, các qui chế hoặc tục lệ hợp pháp ấn định thể khác, và vẫn giữ nguyên quyền can thiệp của vị Thường quyền trong trường hợp người quản trị lơ là bổn phận.

#2. Trong việc quản trị tài sản của pháp nhân công nào mà không có người quản trị do luật, văn kiện tặng lập hoặc những qui chế riêng, vị Thường quyền mà pháp nhân ấy trực thuộc, phải chỉ định những người có khả năng lo việc quản trị trong 3 năm; vị Thường quyền có thể tái bổ nhiệm những người ấy.

* Điều 1280: Pháp nhân nào cũng phải có Hội Đồng Kinh tế hay ít nhất hai người cố vấn, để giúp người quản trị chu toàn nhiệm vụ, chiếu theo qui chế.

* Điều 1281: #1. Các người quản trị thực hiện không thành sự những hành vi vượt quá giới hạn và cách quản trị thông thường, trừ khi trước đó đã được phép vị Thường quyền cho trên giấy tờ, vẫn giữ nguyên những qui định của các qui chế.

#2. Qui chế phải ấn định những hành vi vượt quá giới hạn và cách thức của việc quản trị thông thường; còn nếu qui chế không nói gì về vấn đề nầy, Giám Mục Giáo phận có thẩm quyền ấn định những hành vi ấy đối với những người thuộc quyền, sau khi hỏi ý kiến Hội Đồng Kinh tế.

#3. Pháp nhân không buộc phải trả lời về những hành vi của các người quản trị đã thực hiện cách bất thành sự, trừ khi và trong mức độ pháp nhân được hưởng lợi bởi đó; nhưng chính pháp nhân sẽ trả lời về những hành vi các người quản trị đã thực hiện cách bất hợp pháp nhưng thành sự; pháp nhân vẫn giữ nguyên tố quyền hoặc quyền thượng cầu chống lại những người quản trị đã gây thiệt hại cho mình.

* Điều 1282: Tất cả mọi người, dù là giáo sĩ hay giáo dân, dự phần vào việc quản trị tài sản của Giáo Hội do một danh nghĩa hợp pháp, buộc phải chu toàn nhiệm vụ nhân danh Giáo Hội chiếu theo luật.

* Điều 1283: Trước khi bắt đầu việc quản trị:

  • Những người quản trị phải tuyên thệ trước mặt vị Thường quyền hay đại diện Ngài, mình sẽ quản trị tốt và trung thành;
  • Phải làm một bản kê khai chính xác và chi tiết các bất động sản, động sản hoặc quí giá hoặc có giá trị văn hóa nào đó, và các tài sản khác, phải mô tả và đánh giá chúng. Bảng kê khai này phải do những người quản trị ký và được thị thực;
  • Một bản kê khai phải được lưu trữ trong văn khố của người quản trị, một bản trong văn khố Tòa Giám mục; mọi thay đổi liên hệ đến tài sản cần phải được ghi chú trong cả hai bản.

* Điều 1284: #1. Mọi người quản trị buộc phải chu toàn nhiệm vụ mình một cách cần mẫn như một gia chủ tốt.

#2. Do đó họ phải:

  • Canh chừng kẻo các tài sản được giao cho họ coi sóc hư đi cách nào hoặc bị thiệt hại, bằng cách ký những khế ước bảo hiểm nếu cần để đạt tới mục đích trên;
  • Lo liệu để quyền sở hữu các tài sản của Giáo Hội được bảo đảm bằng những phương thế hữu hiệu theo dân luật;
  • Tuân giữ những qui định của Giáo luật và dân luật hoặc những qui định người sáng lập, hay người tặng dữ hay quyền bính hợp pháp đặt ra, và nhất là ý tứ kẻo Giáo Hội phải thiệt hại vì không tuân giữ luật dân sự;
  • Cẩn thận và đúng lúc thu lợi tức các tài sản và các lời lãi rồi giữ gìn của thu được ở nơi an toàn, và sử dụng chúng theo ý định của người tặng lập hoăc theo những qui tắc hợp pháp;
  • Vào đúng thời hạn trả tiền lời của vay mượn hoặc của cầm cố và đúng lúc, lo trả vốn đã vay;
  • Với sự đồng ý của vị Thường quyền, sử dụng vào những mục đích của pháp nhân, số tiền nào còn dư sau khi đã trả các chi phí và có thể được đầu tư một cách hữu ích;
  • Ghi chép sổ thu chi cho có thứ tự;
  • Cuối mỗi năm phải làm bản tường trình về việc quản trị;
  • Sắp xếp đúng cách và lưu giữ trong văn khố thích hợp và an toàn các văn kiện và các hồ sơ làm cơ sở chứng minh quyền lợi của Giáo Hội hoặc của tổ chức đối với tài sản; khi thuận tiện, gởi nạp nơi văn khố tòa Giám mục những bản sao xác thực của những văn kiện và hồ sơ nói trên.

#3 . Thiết tha khuyên những người quản trị hằng năm thảo những bản dự

thu và dự chi; nhưng dành cho luật đặc lập việc truyền làm những bản ấy và ấn định cụ thể hơn những cách thức phải soạn thảo như thế nào.

* Điều 1285: Trong giới hạn của việc quản trị thông thường mà thôi, các người quản trị được phép lấy từ những động sản không thuộc về di sản cố định mà tặng giữ nhằm mục tiêu đạo đức hoặc bác ái Kitô giáo.

* Điều 1286: Các người quản trị tài sản:

  • Trong việc thuê mướn công nhân, phải giữ đúng cả luật dân sự về lao động và đời sống xã hội, theo những qui tắc Giáo Hội đã ra;
  • Trả lương công bình và tươm tất cho công nhân đã ký khế ước làm việc, sao cho chính họ có thể đáp ứng thích đáng những nhu cầu của chính mình và của những người thân.

* Điều 1287: #1. Bãi bỏ những tục lệ trái ngược, giáo sĩ hay giáo dân quản trị bất cứ tài sản nào của Giáo Hội mà không được miễn trừ cách hợp pháp khỏi quyền lãnh đạo của Giám Mục Giáo phận, hằng năm buộc phải làm bản tường trình cho vị Thường quyền sở tại để Ngài trao cho Hội Đồng Kinh tế xét duyệt.

#2. Về những tài sản tín hữu dâng cúng Giáo Hội, những người quản trị phải tường trình cho các tín hữu, theo những qui tắc phải do luật đặc lập ấn định.

* Điều 1288: Các người quản trị không được nhân danh pháp nhân công khởi tố, cũng không được đối chứng trước tòa án dân sự, nếu không có phép bằng giấy tờ của vị Thường quyền riêng.

* Điều 1289: Cho dù các người quản trị không buộc quản trị với danh nghĩa một giáo vụ, họ không được tự ý bỏ nhiệm vụ đã nhận; nếu vì tự ý bỏ mà gây thiệt hại cho Giáo Hội, họ phải bồi thường.

TIẾT III
KHẾ ƯỚC VÀ NHẤT LÀ VIỆC CHUYỂN NHƯỢNG

* Điều 1290: Những điều dân luật địa phương ấn định về các khế ước cách chung hay cách riêng, và về những cách tiêu diệt nghĩa vụ phải được tuân giữ do Giáo luật với những hiệu quả như trong dân luật, trong những việc thuộc quyền lãnh đạo của Giáo Hội, trừ khi những điều đã ấn định trái với luật Thiên Chúa hoặc khi Giáo luật định liệu thể khác, vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1547.

* Điều 1291: Để chuyển nhượng thành sự những tài sản đã được chỉ định hợp pháp để làm nên di sản cố định của pháp nhân công khi giá trị của chúng vượt quá mức luật định, cần phải có phép của thẩm quyền chiếu theo luật.

* Điều 1292: #1. Vẫn giữ nguyên qui định của Điều 638 #3, khi giá trị tài sản được định chuyển nhượng, nằm trong giới hạn tối thiểu và tối đa, phải được Hội Đồng Giám mục ấn định cho mỗi miền của mình, thì thẩm quyền là người được qui chế riêng ấn định, nếu là trường hợp của những pháp nhân không thuộc quyền Giám Mục Giáo phận; bằng không, thẩm quyền là Giám Mục Giáo phận cùng với sự ưng thuận của Hội Đồng Kinh tế và Hiệp đoàn cố vấn cũng như của những người liên hệ. Chính Giám Mục Giáo phận cũng cần phải có sự ưng thuận của những người nói trên để chuyển nhượng tài sản của Giáo phận.

#2. Nhưng nếu là trường hợp những tài sản có giá trị vượt mức tối đa, hay trường hợp những tài sản đã được dâng cúng cho Giáo Hội do lời khấn, hay trường hợp những tài sản quí giá về diện nghệ thuật hay lịch sử, còn cần phải có phép của Tòa Thánh để chuyển nhượng thành sự.

#3. Nếu tài sản phải chuyển nhượng có thể chia phần được, thì khi xin phép để chuyển nhượng, phải nói rõ những phần đã chuyển nhượng trước rồi; bằng không, phép cho chuyển nhượng không có giá trị.

#4. Những ai phải góp ý kiến hay phải ưng thuận trong việc chuyển nhượng tài sản thì đừng góp ý hay ưng thuận trước khi am tường cặn kẽ về tình trạng kinh tế của pháp nhân có tài sản được định chuyển nhượng cũng như về những việc chuyển nhượng đã được thực hiện.

* Điều 1293: #1. Để chuyển nhượng những tài sản có giá trị vượt mức tối thiểu đã được ấn định, còn đòi phải:

  • Có lý do chính đáng, như sự cần thiết cấp bách, có ích lợi tỏ tường, việc đạo đức, bác ái hay lý do mục vụ quan trọng nào khác;
  • Định giá tài sản phải chuyển nhượng do các chuyên viên, ghi trên giấy tờ.

#2 . Cũng phải giữ những điều đề phòng khác do quyền bính hợp pháp đã

qui định, để tránh thiệt hại cho Giáo Hội.

* Điều 1294: #1. Thường không được chuyển nhượng tài sản với giá thấp hơn giá đã được ghi trong bản định giá.

#2. Tiền thu được do việc chuyển nhượng phải được đầu tư cẩn thận nhằm sinh lợi cho Giáo Hội hay tiêu dùng một cách khôn khéo theo những mục đích của việc chuyển nhượng.

* Điều 1295: Phải giữ những đòi hỏi chiếu các Điều 1291 – 1294 chẳng những trong việc chuyển nhượng mà còn trong bất cứ dịch vụ nào, do đó tình hình di sản của pháp nhân có thể bị suy giảm, cả những qui chế các pháp nhân cũng phải hợp với những đòi hỏi nầy.

* Điều 1296: Nếu có khi nào tài sản Giáo Hội được chuyển nhượng mà không có những trọng thức cần thiết theo Giáo luật, nhưng việc chuyển nhượng lại có giá trị theo dân luật, thì thẩm quyền, sau khi cân nhắc chính chắn mọi sự, phải quyết định có nên sử dụng tố quyền và sử dụng loại tố quyền nào, nghĩa là đối nhân hay đối vật, do ai sử dụng và sử dụng chống ai, để đòi hỏi lại quyền lợi của Giáo Hội.

* Điều 1297: Hội Đồng Giám mục, sau khi đã lưu ý tới những hoàn cảnh của địa phương, phải ấn định những qui tắc về việc cho thuê mướn tài sản của Giáo Hội, nhất là về việc xin phép thẩm quyền Giáo Hội.

* Điều 1298: Trừ khi tài sản ít giá trị, không được bán hoặc cho thuê mướn những tài sản của Giáo Hội cho chính những người quản trị những tài sản ấy hoặc cho những thân nhân họ tính tới bậc bốn thuộc họ máu hay họ kết bạn, nếu không có phép riêng của thẩm quyền ban trên giấy tờ.

TIẾT IV
Ý MUỐN ĐẠO ĐỨC NÓI CHUNG VÀ TẶNG LẬP ĐẠO ĐỨC

* Điều 1299: #1. Người nào do luật tự nhiên và Giáo luật có thể để lại tự do định đoạt về tài sản của mình, thì có thể để lại tài sản nhằm mục đích đạo đức hoặc bằng hành vi sinh thời hoặc bằng hành vi nhân tử.

#2. Trong những định đoạt bằng hành vi nhân tử nhằm lợi ích Giáo Hội, thì phải tuân giữ phần nào có thể các trọng thức của dân luật; nếu những trọng thức nầy đã không được tuân giữ, phải khuyến cáo những người kế thừa về nghĩa vụ buộc họ phải thi hành ý muốn của người lập di chúc.

* Điều 1300: Các ý muốn của các tín hữu dâng cúng hoặc để lại tài sản nhằm những mục đích đạo đức bằng hành vi sinh thời hoặc bằng hành vi nhân tử, một khi đã được nhận hợp pháp, phải được thi hành hết sức cẩn thận, cả về cách thức quản trị và sử dụng tài sản; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1301 #3.

* Điều 1301: #1. Vị Thường quyền là người thi hành tất cả mọi ý muốn đạo đức, cả nhân tử lẫn sinh thời.

#2. Do quyền nầy, vị Thường quyền có thể và phải chăm nom để các ý muốn đạo đức được thi hành, cả đến bằng việc thanh tra, và các người thi hành khác sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ, phải tường trình cho Ngài.

#3. Những điều khoản ghi vào di chúc ngược lại quyền nầy của vị Thường quyền phải được coi như không có.

* Điều 1302: #1. Người nào đã nhận theo hình thức tín thác tài sản bằng những việc đạo đức, bằng hành vi sinh thời hoặc do di chúc, phải thông báo với vị Thường quyền về việc tín thác cho mình, và chỉ rõ cho Ngài mọi động sản hay bất động sản tín thác với những nghĩa vụ kèm theo; còn nếu người dâng cúng đã minh nhiên và tuyệt đối cấm điều ấy, thì không được nhận tín thác.

#2. Vị Thường quyền phải đòi buộc đặt các tài sản tín thác nơi an toàn, và phải để ý đến việc thi hành ý muốn đạo đức, chiếu Điều 1301.

#3. Đối với các tài sản tín thác giao phó cho một thành viên nào của một Tu hội dòng hay Hội đời sống Tông đồ, nếu các tài sản được dành cho một nơi hay một Giáo phận hay cho dân chúng của nơi hay Giáo phận ấy, hoặc dành để giúp những việc đạo đức, vị Thường quyền nói ở #1 và #2 là vị Thường quyền sở tại, bằng không là Bề trên cấp cao trong Tu hội giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng và trong các Hội giáo sĩ đời sống Tông đồ thuộc quyền Giáo Hoàng hoặc là vị Thường quyền riêng của chính thành viên ấy trong các Tu hội dòng khác.

* Điều 1303: #1. Dưới danh xưng “tặng lập đạo đức”, trong luật hiểu là:

  • Các tặng lập đạo đức tự trị, tức là toàn bộ tài sản dành cho các mục đích nói ở Điều 114 #2 và được thẩm quyền Giáo Hội thiết lập thành pháp nhân;
  • Các tặng lập đạo đức không tự trị, tức là các tài sản trần thế được ban tặng cách nào đó cho một pháp nhân công, với nghĩa vụ trong một thời gian lâu dài do luật đặc lập xác định, dùng các huê lợi hằng năm để cử hành thánh lễ và thi hành các công việc khác thuộc Giáo Hội đã được ấn định trước, hoặc để theo đuổi cách khác các mục đích nói ở Điều 114 #2.

#2 . Các tài sản thuộc tặng lập đạo đức không tự trị, nếu đã được giao phó

cho một pháp nhân thuộc quyền Giám Mục Giáo phận, khi mãn hạn thì thuộc về tổ chức nói ở Điều 1274 #1, trừ khi người tặng lập đã minh nhiên tỏ ý thể khác, bằng không, các tài sản được chuyển cho chính pháp nhân.

* Điều 1304: #1. Để một pháp nhân có thể thành sự nhận một tặng lập, cần phải có phép trên giấy tờ của vị Thường quyền; Ngài đừng ban phép ấy trước khi thấy rõ cách hợp lệ pháp nhân có thể chu toàn vừa nghĩa vụ mới sắp lãnh nhận, vừa những nghĩa vụ đã lãnh nhận rồi; nhất là Ngài phải lo liệu sao cho huê lợi hoàn toàn đáp ứng được những nghĩa vụ kèm theo, theo thói quen của mỗi nơi hay mỗi miền.

#2. Luật đặc lập phải ấn định thêm những điều kiện liên quan đến việc thiết định và lãnh nhận các tặng lập.

* Điều 1305: Tiền bạc và các động sản được chỉ định làm vốn phải để ngay ở nơi an toàn do vị Thường quyền chuẩn y, nhằm mục đích bảo toàn món tiền ấy hay giá trị của những động sản và theo sự phán đoán khôn ngoan của vị Thường quyền nói trên, sau khi đã hội ý những người liên hệ và Hội Đồng Kinh tế, phải sớm hết sức đầu tư một cách cẩn thận và hữu ích để có lợi cho tặng lập ấy, đồng thời ghi rõ và chi tiết những nghĩa vụ của tặng lập ấy.

* Điều 1306: #1. Các tặng lập, mặc dầu được thiết lập bằng miệng, cũng phải được ghi trên giấy tờ.

#2. Phải lưu trữ an toàn một bản văn kiện tại văn khố tòa Giám mục, một bản trong văn khố pháp nhân liên hệ đến của tặng lập.

* Điều 1307: #1. Phải làm một bản kê khai những vụ phát xuất từ những tặng lập đạo đức và đặt nó tại nơi dễ thấy để khỏi quên lãng các nghĩa vụ phải chu toàn; vẫn giữ nguyên các qui định của những Điều 1300 – 1302 và 1287.

#2. Ngoài cuốn sổ nói ở Điều 958 #1, phải có một cuốn sổ khác ghi từng nghĩa vụ, việc chu toàn những nghĩa vụ và những của dâng cúng, sổ nầy phải được giữ nơi Linh mục chính xứ hay Quản đốc Thánh đường.

* Điều 1308: #1. Việc giảm thiểu nhiệm vụ dâng thánh lễ dành cho Tông Tòa, và chỉ được thực hiện khi có lý do chính đáng và cần thiết, việc đó dành cho Tông Tòa; vẫn giữ nguyên những qui định sau đây:

#2. Nếu được minh nhiên định liệu trong văn bản thiết định những tặng lập, vị Thường quyền có thể giảm thiểu nhiệm vụ dâng thánh lễ vì lý do hoa lợi đã sút giảm.

#3. Vì hoa lợi sút giảm và bao lâu còn như thế và theo số tiền lễ hợp lệ hiện có trong Giáo phận, Giám Mục Giáo phận có quyền giảm thiểu số lễ do di tặng có quỹ tự lập hay được tặng lập do bất cứ cách nào, miễn là không ai có bổn phận và có thể bị cưỡng bách phải tăng tiền lễ.

#4. Giám Mục Giáo phận cũng có quyền giảm thiểu nhiệm vụ dâng lễ hay tiền lễ do di tặng thuộc tổ chức Giáo Hội phải dâng, nếu hoa lợi đã không đủ để tổ chức ấy đạt được mục tiêu của mình cách hữu hiệu.

#5. Vị Điều hành tối cao của Tu hội dòng giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng cũng được những quyền nói ở các #3 và #4.

* Điều 1309: Các quyền bính nói ở Điều 1308, khi có lý do cân xứng, còn có quyền chuyển các nghĩa vụ dâng lễ sang những ngày, nhà thờ và bàn thờ khác với ngày giờ và nơi chốn đã được ấn định trong bản tặng lập.

* Điều 1310: #1. Nếu người tặng lập minh nhiên trao cho vị Thường quyền việc giảm thiểu, điều hành, thay đổi những ý định của tín hữu cho các công cuộc đạo đức, Ngài chỉ có quyền thực hiện những việc nói trên khi có lý do chính đáng và cần thiết mà thôi.

#2. Nếu không thể thi hành được những nghĩa vụ bắt buộc vì hoa lợi sút giảm hoặc vì lý do nào khác không do lỗi của các người quản trị, vị Thường quyền có thể giảm thiểu những nghĩa vụ ấy một cách tương bình, sau khi hội ý với những người liên hệ, với Hội Đồng Kinh tế của mình và tôn trọng ý muốn của người tặng lập cách tốt nhất có thể; còn về việc giảm thiểu nhiệm vụ dâng thánh lễ, thì theo những qui định của Điều 1308.

#3. Trong các trường hợp khác, phải thượng cầu lên Tông Tòa.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle