Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
GIÁO LUẬT HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
  --- 1983 ---

QUYỂN II
DÂN THIÊN CHÚA

PHẦN III
CƠ CẤU PHẨM TRẬT CỦA GIÁO HỘI
(Tiếp theo)

CHƯƠNG IV
CÁC HỘI KINH SĨ

* Điều 503: Hội Kinh sĩ, hoặc thuộc Nhà Thờ Chính Tòa hoặc thuộc Nhà thờ Hiệp đoàn, là Hiệp Đoàn Linh mục có nhiệm vụ cử hành các nghi lễ phụng vụ long trọng hơn tại Nhà Thờ Chính Tòa hoặc Nhà thờ Hiệp đoàn; ngoài ra, Hội Kinh sĩ Nhà Thờ Chính Tòa còn phải chu toàn những nhiệm vụ mà luật hoặc Giám Mục Giáo phận trao phó cho.

* Điều 504: Việc thành lập, thay đổi hoặc bãi bỏ Hội Kinh sĩ Nhà Thờ Chính Tòa được dành cho Tông Tòa.

* Điều 505: Mỗi Hội Kinh sĩ, hoặc thuộc Nhà Thờ Chính Tòa hoặc thuộc Nhà thờ Hiệp đoàn, phải có qui chế riêng do hành vi hợp pháp của Hội Kinh sĩ thiết lập và được Giám Mục Giáo phận chuẩn nhận, không được thay đổi cũng không được bãi bỏ các qui chế ấy, trừ khi có sự chấp thuận của Giám Mục Giáo phận.

* Điều 506: #1. Qui chế của Hội Kinh sĩ ấn định việc thành lập Hội Kinh sĩ, nhưng luôn phải giữ nguyên các luật về việc tặng lập; xác định những gì Hội Kinh sĩ và mỗi kinh sĩ phải làm để chu toàn việc phụng tự thánh và thừa tác vụ; quyết định các buổi họp để bàn về các việc Hội Kinh sĩ, và ấn định các điều kiện cần thiết để các công việc được thành sự và hợp pháp, nhưng vẫn giữ nguyên những qui định của luật phổ quát.

#2. Cũng phải xác định trong các qui chế tiền thù lao phải trả vừa cố định vừa tùy công tác đã hoàn thành và cũng phải xác định phù hiệu của các kinh sĩ, nhưng vẫn phải lưu ý đến các qui tắc Tòa Thánh đã ra.

* Điều 507: #1. Phải có một vị trong số các kinh sĩ đứng đầu Hội Kinh sĩ, và cũng phải cắt đặt các chức vụ khác, chiếu theo qui chế, cũng phải để ý đến tục lệ hiện hành trong vùng.

#2. Có thể giao những chức vụ khác cho những giáo sĩ không thuộc Hội Kinh sĩ để họ giúp các kinh sĩ, chiếu theo qui chế.

* Điều 508: #1. Kinh sĩ xá giải thuộc Nhà Thờ Chính Tòa cũng như thuộc Nhà Thờ Hiệp đoàn, do chức vụ, có thường quyền tha ở tòa bí tích các vạ tiền kết chưa tuyên bố, không dành riêng cho Tông Tòa, trong Giáo phận thì tha cho cả những người ngoại cư, còn đối với người thuộc Giáo phận thì có quyền tha cả khi họ ở ngoài địa hạt của Giáo phận, quyền nói trên không thể ủy cho người khác.

#2. Ở nơi nào không có Hội Kinh sĩ thì Giám Mục Giáo phận đặt một linh mục để thi hành nhiệm vụ ấy.

* Điều 509: #1. Giám Mục Giáo phận chứ không phải Giám Quản Giáo phận, có quyền, sau khi hỏi ý kiến Hội Kinh sĩ, trao ban tất cả và mỗi chức vụ Kinh sĩ trong Nhà Thờ Chính Tòa cũng như trong Nhà Thờ Hiệp đoàn, mọi đặc ân ngược lại đều bị bãi bỏ; Giám Mục Giáo phận cũng có quyền phê chuẩn người đã được Hội Kinh sĩ tuyển chọn để đứng đầu Hội Kinh sĩ.

#2. Giám Mục Giáo phận chỉ trao ban chức vụ Kinh sĩ cho những linh mục lỗi lạc về đạo lý và đời sống liêm khiết, đã thi hành thừa tác vụ cách đáng khen.

* Điều 510: #1. Không được liên kết những giáo xứ với Hội Kinh sĩ nữa; còn những giáo xứ nào đã liên kết với một Hội Kinh sĩ nào rồi, thì Giám Mục Giáo phận phải tách rời các giáo xứ ấy khỏi Hội Kinh sĩ.

#2. Trong một nhà thờ, vừa là nhà thờ giáo xứ, vừa là nhà thờ Hội Kinh sĩ, phải bổ nhiệm một vị Linh mục chính xứ được tuyển chọn trong hoặc ngoài số các kinh sĩ; Linh mục chính xứ nầy buộc thi hành tất cả các nghĩa vụ và được hưởng các quyền lợi và các năng quyền chiếu theo luật thuộc Linh mục chính xứ.

#3. Giám Mục Giáo phận có quyền ấn định một số qui tắc để các việc mục vụ của Linh mục chính xứ và các nhiệm vụ riêng của Hội Kinh sĩ được phối trí cách xứng hợp, tránh sao cho Linh mục chính xứ không gây trở ngại cho những việc thuộc Hội Kinh sĩ và Hội Kinh sĩ không gây trở ngại cho những việc thuộc giáo xứ; nếu có tranh chấp, thì Giám Mục Giáo phận sẽ giải quyết và tiên vàn Ngài phải lo liệu để đáp ứng thích đáng các nhu cầu mục vụ của các tín hữu.

#4. Của dâng cúng cho một nhà thờ vừa là nhà thờ giáo xứ vừa là nhà thờ Hội Kinh sĩ được suy đoán là dâng cho giáo xứ, trừ khi thấy rõ thể khác.

CHƯƠNG V
HỘI ĐỒNG MỤC VỤ

* Điều 511: Trong mỗi Giáo phận, tùy theo hoàn cảnh mục vụ, hãy thành lập Hội Đồng Mục vụ, Hội Đồng nầy có nhiệm vụ, dưới quyền Giám mục, nghiên cứu, đánh giá những gì liên quan đến các việc mục vụ trong Giáo phận và đề nghị những kết luận thực tiễn về các việc ấy.

* Điều 512: #1. Hội Đồng Mục vụ gồm những tín hữu Kitô hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công Giáo; giáo sĩ, thành viên các Tu Hội đời sống thánh hiến, nhất là giáo dân, tất cả được chỉ định theo cách thức do Giám Mục Giáo phận ấn định.

#2 . Các tín hữu Kitô được đề cử vào trong Hội Đồng Mục vụ phải được chọn sao cho họ đại diện thật sự toàn thể phần Dân Thiên Chúa là Giáo phận, xét theo các miền khác nhau trong Giáo phận, các địa vị xã hội và các nghề nghiệp, cũng như xét theo phần họ đóng góp hoặc riêng rẽ hoặc chung với các người khác trong việc tông đồ.

#3. Chỉ nên đề cử vào Hội Đồng Mục vụ những tín hữu Kitô trổi vượt về đức tin vững chắc, về hạnh kiểm tốt và khôn ngoan.

* Điều 513: #1 . Hội Đồng Mục vụ được thiết lập cho một kỳ hạn, chiếu theo qui chế, do Giám Mục ban hành.

#2. Khi Tòa Giám mục khuyết vị, Hội Đồng Mục vụ chấm dứt.

* Điều 514: #1. Chỉ có Giám Mục Giáo phận có quyền triệu tập Hội Đồng theo nhu cầu của việc tông đồ và chủ tọa Hội Đồng, cũng chỉ một mình Ngài có quyền công bố những gì đã được bàn cãi tại Hội Đồng, Hội Đồng Mục vụ chỉ có quyền tư vấn.

#2. Phải triệu tập Hội Đồng ít nhất một năm một lần.

CHƯƠNG VI
CÁC GIÁO XỨ,
CÁC LINH MỤC CHÍNH
VÀ PHÓ XỨ

* Điều 515: #1. Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu Kitô nhất định, được thành lập cách cố định trong Giáo Hội địa phương mà việc coi sóc mục vụ được trao cho một Linh mục chính xứ như là Chủ chăn riêng của giáo xứ ấy, dưới quyền của Giám Mục Giáo phận.

#2. Việc thành lập, bãi bỏ và thay đổi các giáo xứ thuộc quyền một mình Giám Mục Giáo phận mà thôi; Ngài đừng thành lập, hoặc bãi bỏ và cũng đừng thay đổi các giáo xứ cách đáng kể, trừ khi đã tham khảo ý kiến của Hội Đồng Linh mục.

#3. Giáo xứ đã được thành lập hợp pháp đương nhiên chiếu luật có tính pháp nhân.

* Điều 516: #1. Trừ khi luật định liệu thể khác, chuẩn giáo xứ được đồng hóa với giáo xứ; chuẩn giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu nhất định trong Giáo Hội địa phương, được giao cho một linh mục như là Chủ chăn riêng, nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt chưa thiết lập thành giáo xứ.

#2. Khi có những cộng đoàn nào không thể được thiết lập thành giáo xứ hay chuẩn giáo xứ, Giám Mục Giáo phận phải lo liệu cách khác cho việc coi sóc mục vụ của các cộng đoàn ấy.

* Điều 517: #1. Khi nào hoàn cảnh đòi hỏi, việc mục vụ của một giáo xứ hoặc cùng một lúc của nhiều giáo xứ khác nhau, có thể được giao cách toàn đới cho nhiều linh mục, nhưng theo qui tắc này là, một trong các linh mục ấy, là người điều khiển việc mục vụ, nghĩa là người chỉ huy hoạt động chung và chịu trách nhiệm trước Giám mục về hoạt động ấy.

#2. Nếu vì thiếu linh mục, Giám Mục Giáo phận xét là nên cho một phó tế hoặc một người không có ấn tích linh mục hoặc một nhóm người tham dự vào việc thi hành mục vụ giáo xứ, thì Ngài phải đặt một linh mục với các quyền hạn và năng quyền của một linh mục Chính xứ để điều khiển việc mục vụ.

* Điều 518: Theo luật chung, giáo xứ phải có tính cách đối địa, nghĩa là bao gồm hết thảy các tín hữu Kitô của một địa hạt nhất định; nhưng khi nào xét là nên, thì phải lập những giáo xứ đối nhân, xét theo tiêu chuẩn nghi lễ, ngôn ngữ, quốc tịch của các tín hữu Kitô thuộc một địa hạt nào đó và cũng có thể, theo một tiêu chuẩn nào đó.

* Điều 519: Linh mục chính xứ là Chủ chăn riêng của giáo xứ đã được trao phó cho Ngài; Ngài thi hành mục vụ của cộng đoàn đã được giao cho dưới quyền của Giám Mục Giáo phận mà Ngài đã được kêu gọi chia sẻ với Giám mục thừa tác vụ của Đức Kitô, để thi hành cho cộng đoàn ấy các nhiệm vụ giảng dạy, thánh hóa và cai quản, cả với sự cộng tác của các linh mục khác hay phó tế và với sự trợ giúp của các tín hữu Kitô giáo dân, chiếu luật.

* Điều 520: #1. Pháp nhân không thể là Linh mục chính xứ, nhưng Giám Mục Giáo phận chứ không phải Giám Quản Giáo phận, với sự ưng thuận của Bề Trên có thẩm quyền, có thể giao một Giáo xứ cho một Tu Hội Dòng Giáo sĩ hay cho một Hội Giáo sĩ đời sống tông đồ, kể cả bằng cách lập giáo xứ ngay trong nhà thờ của Tu Hội hoặc của Hội, với qui tắc nầy là một linh mục duy nhất phải là Linh mục chính xứ của giáo xứ, hoặc nếu việc mục vụ được giao cách toàn đới cho nhiều người thì một linh mục duy nhất phải là vị điều khiển giáo xứ như đã nói ở Điều 517 #1.

#2. Việc trao một giáo xứ nói ở #1 có thể là vĩnh viễn hay cho một thời gian nhất định nào đó, trong cả hai trường hợp phải có hợp đồng trên giấy tờ giữa Giám Mục Giáo phận và Bề Trên có thẩm quyền của Tu Hội hay của Hội, trong đó, ngoài các việc khác phải ấn định rõ ràng và kỹ lưởng những gì liên quan đến việc phải làm, đến nhân sự dành cho việc đó và đến vấn đề tài chính.

* Điều 521: #1. Để được bổ nhiệm thành sự làm chính xứ phải là người có thánh chức linh mục.

#2. Còn phải trỗi vượt về đạo lý lành mạnh và hạnh kiểm liêm chính, có lòng nhiệt thành lo cho các linh hồn và có các đức tính khác, nhất là những đức tính luật chung hay luật riêng đòi hỏi để coi sóc giáo xứ liên hệ.

#3. Để giao chức vụ Linh mục chính xứ cho ai thì phải biết chắc người ấy có khả năng , bằng phương thức do Giám Mục Giáo phận ấn định, kể cả bằng khảo hạch.

* Điều 522: Linh mục chính xứ phải được hưởng tính cách ổn cố, và vì thế phải được bổ nhiệm cho một thời gian vô hạn định; Giám Mục Giáo phận chỉ có thể bổ nhiệm Linh mục chính xứ cho một thời gian nhất định, nếu Hội Đồng Giám Mục đã ra sắc lệnh chấp nhận điều đó.

* Điều 523: Giữ nguyên qui định của Điều 682 #1, việc bổ nhiệm vào chức Linh mục chính xứ thuộc quyền Giám Mục Giáo phận và Ngài được tự do bổ nhiệm, trừ khi có người nào được quyền giới thiệu hoặc bầu cử.

* Điều 524: Giám Mục Giáo phận phải giao giáo xứ khuyết vị cho người mà sau khi đã cân nhắc mọi hoàn cảnh, Ngài xét là có khả năng chu toàn việc khi coi sóc giáo xứ đó, phải loại bỏ mọi thiên vị; để nhận định về khả năng, Giám mục phải tham khảo ý kiến vị Quản hạt và phải điều tra thích đáng và nếu cần thì tham khảo ý kiến của một số linh mục và của cả những tín hữu Kitô giáo dân.

* Điều 525: Khi Tòa Giám mục khuyết vị hoặc vì cản trở, Giám Quản Giáo phận hay vị nào khác tạm thời cai quản Giáo phận có quyền:

  • Cắt đặt hay chấp thuận linh mục đã được giới thiệu hoặc bầu cử hợp pháp để coi sóc giáo xứ;
  • Bổ nhiệm các linh mục chính xứ, nếu Tòa khuyết vị hoặc bị cản trở đã được một năm.

* Điều 526: #1. Linh mục chính xứ chỉ nên coi sóc một giáo xứ mà thôi; nhưng vì thiếu linh mục hay vì hoàn cảnh khác có thể giao việc coi sóc nhiều giáo xứ gần nhau cho cùng một linh mục chính xứ.

#2 . Trong cùng một giáo xứ chỉ có một Linh mục chính xứ, hoặc một người điều khiển chiếu Điều 517 #1, mọi tục lệ trái ngược đều bị bãi bỏ và mọi đặc ân trái ngược đều bị thu hồi.

* Điều 527: #1. Ai đã được đề cử đảm nhận việc coi sóc một giáo xứ thì lãnh nhiệm vụ đó và buộc phải thi hành kể từ khi nhậm chức.

#2. Vị Thường quyền sở tại hoặc linh mục do Ngài ủy quyền chủ sự lễ nhậm chức của Linh mục chính xứ theo cách thức được luật riêng hoặc tục lệ hợp pháp chấp nhận; nhưng vì lý do chính đáng, vị Thường quyền có thể miễn giữ cách thức ấy; trong trường hợp nầy, việc miễn chuẩn một khi đã được thông báo cho giáo xứ sẽ thay thế cho việc nhậm chức.

#3. Vị Thường quyền sở tại sẽ ấn định thời hạn phải làm lễ nhậm chức giáo xứ; nếu thời gian hữu dụng qua đi mà không có ngăn trở chính đáng, Ngài có thể tuyên bố giáo xứ khuyết vị.

* Điều 528: #1. Linh mục chính xứ có bổn phận phải liệu để Lời Chúa được loan truyền trọn vẹn cho các người cư ngụ trong giáo xứ; bởi vậy Ngài phải lo dạy cho các tín hữu Kitô giáo dân về các chân lý đức tin, nhất là bằng cách giảng dạy Phúc âm các ngày Chúa nhật và các lễ buộc, cùng dạy giáo lý, Ngài hãy tán trợ các việc giúp phát triển tinh thần Phúc âm, cả những việc thuộc về công trình xã hội; Ngài hãy quan tâm cách riêng đến việc giáo dục các trẻ em và thanh niên theo tinh thần công giáo; Ngài hãy làm mọi cách, cả với sự cộng tác của các tín hữu Kitô để lời loan báo Tin Mừng đến tận những người không còn sống đạo nữa, hoặc những người chưa tuyên đức tin chân thật.

#2 . Linh mục chính xứ hãy liệu để Thánh Thể trở nên trung tâm việc tập họp các tín hữu của giáo xứ; Ngài hãy chịu khó lo cho các Kitô hữu được nuôi dưỡng nhờ việc cử hành sốt sắng các Bí tích, cách riêng cho họ năng đến cùng các Bí tích Thánh Thể và Giải tội; Ngài cũng phải ra sức hướng dẫn họ cầu nguyện cả ở trong gia đình và ý thức tích cực tham gia vào phụng vụ thánh, mà vị Linh mục chính xứ trong giáo xứ của Ngài phải điều hành, dưới quyền của Giám Mục Giáo phận, và Ngài có bổn phận coi chừng đừng để xảy ra lạm dụng.

* Điều 529: #1. Để nhiệt thành thi hành nhiệm vụ Chủ chăn, Linh mục chính xứ hãy lo tìm hiểu các tín hữu đã được giao cho Ngài coi sóc; Ngài phải thăm viếng các gia đình, chia sẻ các lo âu, nhất là các đau khổ và tang tóc của họ, an ủi nâng đỡ họ trong Chúa, và khôn khéo sửa dạy họ nếu họ có điều gì sai sót; với một lòng bác ái dồi dào, Ngài hãy giúp đỡ các người đau ốm, nhất là các người hấp hối, ân cần ban Bí tích bồi dưỡng họ và phó thác linh hồn họ cho Chúa; Ngài hãy ân cần cách riêng, chăm sóc các người nghèo, các người đau khổ, các người cô đơn, các người lưu vong cùng các người gặp khó khăn đặc biệt; Ngài cũng ra sức nâng đỡ bậc vợ chồng và bậc cha mẹ chu toàn bổn phận riêng của họ và cổ võ sự tăng trưởng đời sống Kitô hữu trong gia đình.

#2. Linh mục chính xứ hãy nhìn nhận và khuyến khích phần riêng các tín hữu Kitô giáo dân đóng góp vào sứ mạng của Giáo Hội, bằng cách cổ võ các Hội đoàn của họ nhằm mục tiêu tôn giáo. Ngài hãy cộng tác với Giám mục của mình và với linh mục đoàn của Giáo phận, Ngài cũng hoạt động để các tín hữu quan tâm đến sự hiệp thông trong giáo xứ và để cho họ cảm thấy mình là thành phần vừa của Giáo phận vừa của Giáo Hội toàn cầu và tham gia hay nâng đỡ các công cuộc nhằm phát huy sự hiệp thông ấy.

* Điều 530: Các việc được trao riêng cho Linh mục chính xứ làm là:

  • Ban Bí tích Thánh Tẩy;
  • Ban Bí tích Thêm Sức cho những người trong cơn nguy tử, chiếu Điều 883 số 3;
  • Ban Của Ăn Đàng và Ban Bí tích Xức Dầu bệnh nhân, giữ nguyên qui định của Điều 1003 #2 và 3, và ban phép lành Tông Tòa;
  • Chủ trì hôn lễ và chúc hôn;
  • Cử hành lễ nghi an táng;
  • Làm phép giếng Rửa Tội trong mùa Phục Sinh, dẫn đầu các cuộc kiệu ngoài nhà thờ, và làm các phép cách trọng thể ngoài nhà thờ;
  • Cử hành thánh lễ cách long trọng hơn trong các ngày Chúa nhật và các ngày lễ buộc.

* Điều 531: Mặc dầu ai khác đã thi hành một công tác nào cho giáo xứ, người ấy phải sung vào quỹ giáo xứ các của mà các tín hữu Kitô dâng cúng trong dịp nầy, trừ khi biết rõ người dâng có ý khác đối với của dâng cúng tự nguyện; sau khi hội ý Hội Đồng Linh mục, các Giám Mục Giáo phận có quyền ra qui định về việc sử dụng các của dâng cúng ấy, cũng như về việc thù lao các giáo sĩ làm cùng một công tác nói trên.

* Điều 532: Trong mọi công việc có tính cách pháp lý, Linh mục chính xứ đại diện giáo xứ chiếu luật; Ngài phải lo sao cho các tài sản của giáo xứ được quản trị chiếu các Điều 1281 – 1288.

* Điều 533: #1. Linh mục chính xứ có bổn phận phải cư trú tại nhà xứ gần nhà thờ; tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt, nếu có lý do chính đáng, vị Thường quyền sở tại có thể ban phép cho Ngài ở nơi khác, nhất là tại nhà chung cho nhiều linh mục, miễn là liệu sao để chu toàn các bổn phận giáo xứ cách thích đáng và thuận lợi.

#2. Trừ khi có lý do quan trọng, hằng năm linh mục chính xứ được phép vắng mặt tại giáo xứ để đi nghỉ, tối đa là một tháng liên tục hoặc cách quãng; những ngày Linh mục chính xứ tĩnh tâm một lần hằng năm không kể vào thời gian đi nghỉ nầy; nhưng hễ vắng mặt khỏi giáo xứ hơn một tuần lễ, thì Linh mục chính xứ phải báo cáo với vị Thường quyền sở tại.

#3. Giám Mục Giáo phận có nhiệm vụ lập những qui tắc để khi Linh mục chính xứ vắng mặt thì việc coi sóc giáo xứ sẽ do một linh mục có năng quyền cần thiết đảm nhiệm.

* Điều 534: #1. Sau khi đã nhậm chức coi sóc giáo xứ, Linh mục chính xứ buộc dâng ý lễ cầu cho dân được trao phó cho Ngài mỗi ngày Chúa nhật và các ngày Lễ buộc trong Giáo phận; nếu Ngài mắc ngăn trở chính đáng không dâng ý lễ như vậy được, thì những ngày ấy Ngài phải nhờ linh mục khác dâng ý lễ thay, hoặc chính Ngài sẽ dâng ý lễ vào những ngày khác.

#2. Linh mục chính xứ nào coi sóc nhiều giáo xứ, thì buộc dâng một ý lễ mà thôi cho toàn thể dân được trao phó cho Ngài trong các ngày nói ở #1.

#3. Linh mục chính xứ nào đã không chu toàn nghĩa vụ nói đến ở #1 và #2 thì đã bỏ bao nhiêu ý lễ phải dâng bao nhiêu ý lễ cầu cho dân càng sớm càng tốt.

* Điều 535: #1 . Trong mỗi giáo xứ phải có sổ sách của giáo xứ, tức là Sổ Rửa tội, Sổ Hôn phối, Sổ tử và những sổ khác theo các qui định của Hội Đồng Giám mục, hoặc của Giám Mục Giáo phận; Linh mục chính xứ phải trông coi để các sổ ấy được ghi chép kỹ lưỡng và được giữ cẩn thận.

#2. Trong Sổ Rửa tội cũng phải ghi Thêm Sức cùng những gì liên quan đến tình trạng pháp lý của các tín hữu Kitô theo Giáo luật , như Hôn phối, nhưng vẫn giữ nguyên Điều 1133, như việc nhận dưỡng tử, cũng như việc chịu Chức Thánh, việc tuyên khấn vĩnh viễn trong một Tu Hội Dòng và việc thay đổi nghi lễ, tất cả các điểm ghi chú nầy luôn luôn phải ghi vào Chứng chỉ Rửa tội.

#3. Mỗi giáo xứ phải có một con dấu riêng; các Chứng chỉ về tình trạng pháp lý của các tín hữu Kitô theo Giáo luật cũng như tất cả các văn thư có thể có tầm quan trọng pháp lý phải được chính Linh mục chính xứ hay người thụ ủy ký tên và đóng dấu của giáo xứ.

#4. Mỗi giáo xứ phải có một cái tủ hay văn khố để lưu giữ các sổ sách của giáo xứ, cùng các thư tín của các Giám mục và những văn kiện khác phải được lưu giữ vì nhu cầu hay lợi ích, tất cả các giấy tờ ấy phải được Giám Mục Giáo phận hay người thụ ủy xem xét vào dịp kinh lý hay vào một thời gian khác thuận lợi và Linh mục chính xứ phải coi chừng, đừng để các giấy tờ ấy lọt vào tay người ngoài.

#5 . Các sổ sách lâu đời của giáo xứ cũng phải được giữ gìn cẩn thận chiếu theo qui định của luật đặc lập.

* Điều 536: #1. Nếu thuận lợi, theo sự phán đoán của Giám Mục Giáo phận, sau khi hội ý với Hội Đồng Linh Mục, thì nên thành lập trong mỗi giáo xứ Hội Đồng Mục vụ, Linh mục chính xứ đứng đầu Hội Đồng ấy để trong đó các tín hữu Kitô cùng với những kẻ chia sẻ việc coi sóc mục vụ trong giáo xứ do chức vụ của họ, góp phần cổ võ hoạt động mục vụ.

#2. Hội Đồng Mục vụ chỉ có quyền tư vấn và được điều hành theo những qui tắc do Giám Mục Giáo phận qui định.

* Điều 537: Trong mỗi giáo xứ phải có Hội Đồng Kinh tế, Hội Đồng nầy được điều hành không những theo luật chung mà còn theo những qui tắc do Giám Mục Giáo phận ban hành để trong đó các tín hữu Kitô được tuyển chọn theo những qui tắc trên, giúp Linh mục chính xứ trong việc quản lý tài sản của giáo xứ, giữ nguyên qui định của Điều 532.

* Điều 538: #1. Linh mục chính xứ chấm dứt nhiệm vụ do Giám Mục Giáo phận giải nhiệm, hoặc thuyên chuyển, chiếu luật; do chính Linh mục chính xứ xin từ nhiệm vì lý do chính đáng và để thành sự, việc từ nhiệm ấy đã được Giám mục chấp thuận, và do thời hạn đã mãn, nếu Linh mục chính xứ đã được bổ nhiệm cho một thời gian nhất định theo qui định của luật đặc lập được nói đến ở Điều 522.

#2. Việc giải nhiệm Linh mục chính xứ nào là thành viên của một Tu Hội Dòng hoặc đã nhập tịch Hội đời sống tông đồ, phải được thực hiện chiếu Điều 682 #2.

#3. Linh mục chính xứ nào đã 75 tuổi trọn thì được yêu cầu đệ đơn từ nhiệm với Giám Mục Giáo phận, để sau khi đã xem xét các hoàn cảnh về người và về nơi, Giám Mục Giáo phận chấp thuận cho từ nhiệm hay hoãn lại, Giám Mục Giáo phận phải lo cho Linh mục chính xứ từ nhiệm được trợ cấp nơi ăn chốn ở xứng đáng theo các qui tắc do Hội Đồng Giám Mục ấn định.

* Điều 539: Khi giáo xứ khuyết vị hoặc khi Linh mục chính xứ bị ngăn trở không thi hành nhiệm vụ mục vụ trong giáo xứ được, vì bị giam cầm, bị lưu đày hay bị trục xuất, khi trở thành vô năng hay vì thiếu sức khỏe hoặc vì một lý do nào khác, thì Giám Mục Giáo phận phải đề cử sớm hết sức một Giám quản giáo xứ, tức là một linh mục để thay thế Linh mục chính xứ chiếu Điều 540.

* Điều 540: #1. Giám quản giáo xứ cũng có những nghĩa vụ và hưởng những quyền lợi như Linh mục chính xứ, trừ khi Giám Mục Giáo phận ấn định thể khác.

#2 . Giám quản giáo xứ không nên làm gì có hại cho các quyền của Linh mục chính xứ hoặc có thể thiệt hại cho các tài sản của giáo xứ.

#3. Giám quản giáo xứ sau khi đã làm xong nhiệm vụ, phải phúc trình với Linh mục chính xứ.

* Điều 541: #1 . Khi giáo xứ khuyết vị cũng như khi Linh mục chính xứ bị cản trở không thi hành nhiệm vụ được, thì trước khi cắt đặt một Giám quản giáo xứ, việc tạm thời lãnh đạo giáo xứ thuộc về Linh mục phó xứ, nếu có nhiều phó xứ, thì thuộc về vị nào được bổ nhiệm trước hết, và nếu không có phó xứ, thì thuộc về Linh mục chính xứ do luật đặc lập ấn định.

#2. Ai đảm nhận việc lãnh đạo giáo xứ chiếu khoản #1, phải lập tức thông báo cho vị Thường quyền sở tại về việc giáo xứ khuyết vị.

* Điều 542: Các linh mục đã được trao cách toàn đới việc coi sóc mục vụ một giáo xứ hoặc nhiều giáo xứ một trật, chiếu Điều 516 #1, thì:

  • Phải có những đức tính nói ở Điều 521;
  • Phải được bổ nhiệm hay cắt đặt chiếu theo các qui định của những Điều 512 và 524;
  • Chỉ được quyền coi sóc mục vụ kể từ khi nhậm chức; vị Điều khiển các linh mục nầy nhậm chức chiếu theo các qui định của Điều 527 #2, còn các linh mục khác thì việc tuyên xưng đức tin cách hợp pháp thay thế cho việc nhậm chức.

* Điều 543: #1. Nếu việc coi sóc mục vụ của một giáo xứ hoặc nhiều giáo xứ cùng một lúc được trao cho nhiều linh mục cách toàn đới, mỗi người trong các Ngài, theo sự sắp xếp đã được chính các Ngài ấn định, có bổn phận chu toàn các nhiệm vụ và các công việc của Linh mục chính xứ nói ở Điều 528, 529 và 530. Tất cả đều có quyền chủ trì hôn lễ, cũng như có mọi năng quyền chuẩn chước mà luật đương nhiên ban cho Linh mục chính xứ, nhưng phải thi hành các quyền ấy dưới sự hướng dẫn của vị Điều khiển.

#2. Tất cả các Linh mục thuộc nhóm:

  • Buộc phải giữ luật về cư trú;
  • Phải bàn bạc sắp xếp với nhau để một vị trong nhóm cử hành thánh lễ cầu cho dân, chiếu Điều 534;
  • Trong các việc có tính cách pháp luật, chỉ một mình vị Điều khiển hành động nhân danh giáo xứ hoặc các giáo xứ đã được giao cho nhóm.

* Điều 544: Khi một linh mục nào trong nhóm, được nói đến ở Điều 517 #1, hay vị Điều khiển nhóm chấm dứt chức vụ, cũng như khi một người trong nhóm trở thành vô năng để thi hành nhiệm vụ mục vụ, thì giáo xứ hay các giáo xứ đã được trao phó cho nhóm coi sóc không khuyết vị , Giám Mục Giáo phận sẽ bổ nhiệm một vị Điều khiển khác, nhưng trước khi Giám mục bổ nhiệm một vị Điều khiển khác, linh mục nào trong nhóm được bổ nhiệm trước hết phải chu toàn nhiệm vụ ấy.

* Điều 545: #1. Mỗi khi cần hay thuận lợi để việc coi sóc mục vụ giáo xứ được chu toàn thích đáng, Linh mục chính xứ có thể có thêm một hoặc nhiều phó xứ, các vị nầy, với tư cách là cộng tác viên của Linh mục chính xứ và chia sẻ những lo lắng của Ngài, cùng Ngài bàn bạc và nghiên cứu, để thi hành thừa tác mục vụ, dưới quyền Ngài.

#2. Linh mục phó xứ có thể được cắt cử hoặc để góp phần trong việc thi hành toàn bộ thừa tác mục vụ cho toàn thể giáo xứ hay cho một nhóm tín hữu Kitô nào đó của giáo xứ, hoặc để thi hành một thừa tác vụ nào đó trong nhiều giáo xứ một trật.

* Điều 546: Để được bổ nhiệm thành sự làm phó xứ, đương sự phải có thánh chức Linh mục.

* Điều 547: Giám Mục Giáo phận tự do bổ nhiệm phó xứ, sau khi, nếu Ngài xét là nên, đã hội ý với Linh mục chính xứ hoặc những Linh mục chính xứ của những giáo xứ mà Linh mục phó xứ được cử tới, kể cả các Linh mục quản hạt, giữ nguyên qui định của Điều 682 #1.

* Điều 548: #1. Nghĩa vụ và quyền lợi của phó xứ được ấn định, chẳng những do các Điều của chương nầy, do qui chế của Giáo phận và văn thư của Giám Mục Giáo phận, mà còn được xác định cách đặc biệt hơn do ủy nhiệm của Linh mục chính xứ.

#2. Trừ khi thư của Giám Mục Giáo phận đã liệu thể khác, phó xứ do chức vụ, buộc phải giúp Linh mục chính xứ trong toàn bộ thừa tác vụ giáo xứ, trừ việc dâng lễ cầu cho dân, và Ngài cũng phải thay thế Linh mục chính xứ trong trường hợp luật định.

#3. Phó xứ phải đều đặn báo cáo với Linh mục chính xứ về các chương trình mục vụ đang làm hay sẽ làm, sao cho Linh mục chính xứ và phó xứ hoặc các phó xứ chung sức hợp lực với nhau, có thể lo việc coi sóc mục vụ giáo xứ mà họ cùng chịu trách nhiệm.

* Điều 549: Trừ khi Giám Mục Giáo phận đã liệu thể khác chiếu Điều 533 #3, và trừ khi Giám Quản Giáo xứ đã được cắt đặt, khi Linh mục chính xứ vắng mặt, thì phải tuân giữ các qui định của Điều 541 #1; trong trường hợp nầy, phó xứ có tất cả các nghĩa vụ của Linh mục chính xứ, trừ nghĩa vụ dâng lễ câu cho dân.

* Điều 550: #1. Phó xứ có bổn phận cư trú trong giáo xứ, hoặc nếu Ngài đã được cắt đặt cho nhiều giáo xứ một trật, thì cư ngụ tại một trong các giáo xứ ấy, nhưng vị Thường quyền sở tại, vì lý do chính đáng, có thể cho phép Ngài cư trú nơi khác, nhất là ở tại nhà chung cho nhiều linh mục, miễn là việc thi hành các nhiệm vụ mục vụ không vì thế mà bị thiệt hại gì.

#2. Vị Thường quyền sở tại hãy lo cổ võ, khi có thể được, một nếp sống chung nào đó tại nhà xứ giữa Linh mục chính xứ và các phó xứ.

#3. Về thời gian nghỉ ngơi, phó xứ cũng có quyền lợi như Linh mục chính xứ.

* Điều 551: Về các của tín hữu Kitô dâng cho phó xứ nhân dịp thi hành thừa tác mục vụ, thì phải giữ các qui định của Điều 531.

* Điều 552: Giám Mục Giáo phận hoặc Giám Quản Giáo phận có thể bãi nhiệm phó xứ vì lý do chính đáng, giữ nguyên qui định của Điều 682 #2.

CHƯƠNG VII
CÁC QUẢN HẠT

* Điều 553: #1. Quản hạt, cũng gọi là Hạt trưởng hay linh mục trưởng, hoặc gọi bằng tên khác, là linh mục đứng đầu một Giáo hạt.

#2. Trừ khi luật đặc lập ấn định thể khác, Quản hạt do Giám Mục Giáo phận bổ nhiệm sau khi, tùy theo phán đoán khôn ngoan của Ngài, đã hội ý các linh mục thi hành thừa tác vụ trong Giáo hạt liên hệ.

* Điều 554: #1. Để bổ nhiệm vào chức vụ Quản hạt, là chức vụ gắn liền với chức vụ Linh mục chính xứ của một giáo xứ nào, thì Giám mục phải chọn một Linh mục nào, theo hoàn cảnh địa phương và thời đại, Ngài xét là đủ tư cách.

#2. Quản hạt phải được bổ nhiệm cho một thời gian nhất định do luật đặc lập ấn định.

#3. Giám Mục Giáo phận có thể tự do bãi nhiệm Quản hạt vì lý do chính đáng, theo phán đoán khôn ngoan của Ngài.

* Điều 555: #1. Ngoài những năng quyền do luật đặc lập ấn định ban cho Ngài cách hợp pháp, Quản hạt có nhiệm vụ và quyền lợi:

  • phát huy và phối hợp hoạt động mục vụ chung trong giáo hạt.
  • lo cho giáo sĩ trong Giáo hạt của Ngài sống xứng đáng với bậc giáo sĩ và ân cần chu tất các phận sự của mình.
  • liệu cho các nghi lễ tôn giáo được cử hành theo các qui định của Phụng vụ thánh, cho việc trang hoàng và thẩm mỹ của các nhà thờ cùng đồ vật thánh được tuân giữ cẩn thận, nhất là trong việc cử hành thánh lễ và giữ Mình Thánh Chúa, cho sổ sách giáo xứ được ghi chép đúng và lưu trữ hẳn hoi, cho tài sản của Giáo Hội được quản trị cẩn thận, sau cùng liệu cho nhà xứ được coi sóc ân cần.

#2. Trong Giáo hạt đã được giao phó, Quản hạt:

  • phải đôn đốc cho giáo sĩ theo các qui định của luật đặc lập, tham dự các lớp học, các buổi hội nghị, hoặc thuyết trình về thần học vào thời gian đã được ấn định chiếu Điều 278 #2;
  • lo sao cho các linh mục thuộc Giáo hạt mình luôn luôn có được sự giúp đỡ tinh thần nhất là săn sóc những vị lâm hoàn cảnh khó khăn hơn hoặc đang gặp nhiều vấn đề.

#3. Quản hạt phải lo sao cho các Linh mục chính xứ của Giáo hạt mình

mà Ngài biết là đau nặng, được sự giúp đỡ đầy đủ tinh thần và vật chất, cho những ai trong các Ngài qua đời được an táng xứng đáng. Ngài cũng phải coi chừng kẻo trong những dịp bệnh hoạn hay tang chay, sách vở, tài liệu, đồ vật thánh và các thứ khác thuộc về Giáo Hội bị hư hỏng hoặc thất lạc mất mát.

#4. Quản hạt có bổn phận kinh lý các giáo xứ của Giáo hạt mình theo sự chỉ định của Giám Mục Giáo phận.

CHƯƠNG VIII
CÁC QUẢN ĐỐC THÁNH ĐƯỜNG VÀ CÁC LINH GIÁM

MỤC 1
CÁC QUẢN ĐỐC THÁNH ĐƯỜNG

* Điều 556: Các Quản đốc Thánh đường ở đây hiểu là những linh mục đã được giao cho việc coi sóc một nhà thờ, không phải là nhà thờ giáo xứ, cũng không phải là nhà thờ Hội Kinh sĩ, cũng không phải là nhà thờ thuộc nhà của một cộng đoàn tu sĩ, hoặc một Hội Đời sống Tông Đồ, trong đó cộng đoàn hoặc Hội ấy cử hành các lễ nghi.

* Điều 557: #1. Quản đốc Thánh đường do Giám Mục Giáo phận tự do bổ nhiệm, giữ nguyên quyền bầu cử hoặc giới thiệu của người có quyền ấy cách hợp pháp; trong trường hợp nầy, Giám Mục Giáo phận có quyền chuẩn y hay cắt cử.

#2. Dù nhà thờ thuộc về một Tu Hội Dòng Giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng, Giám Mục Giáo phận vẫn có quyền cắt cử một Quản đốc Thánh đường do Bề trên giới thiệu.

#3. Quản đốc Thánh đường coi sóc một nhà thờ gắn liền với một chủng viện hoặc một trường do các giáo sĩ điều khiển là chính Giám đốc chủng viện hay giám hiệu, trừ khi Giám Mục Giáo phận đã quyết định thể khác.

* Điều 558: Giữ nguyên qui định của Điều 262, Quản đốc Thánh đường không được phép làm các việc giáo xứ nói ở Điều 530, số 1-6, trong nhà thờ đã được giao cho Ngài, trừ khi linh mục chính xứ chấp thuận, hoặc nếu cần gì thì ủy quyền.

* Điều 559: Trong nhà thờ đã được giao phó cho Ngài, Quản đốc Thánh đường có thể thực hiện các cuộc cử hành phụng vụ; cả những cuộc cử hành long trọng, giữ nguyên các luật tặng lập chính đáng và miễn là, theo phán đoán của vị Thường quyền sở tại, không phương hại cách nào cho thừa tác vụ giáo xứ.

* Điều 560: Khi xét là nên, vị Thường quyền sở tại có thể truyền cho Quản đốc Thánh đường thực hiện cho dân chúng trong nhà thờ của Ngài một số việc, kể cả việc giáo xứ và mở cửa nhà thờ cho những nhóm tín hữu Kitô nhất định, để họ thực hiện những cuộc cử hành phụng vụ tại đó.

* Điều 561: Nếu không có phép của Quản đốc Thánh đường hoặc của một Bề trên khác hợp pháp, không ai được phép cử hành Thánh Thể, ban Bí tích hay làm các việc thánh nào khác trong nhà thờ, phép ấy phải được ban hoặc từ chối, chiếu theo luật.

* Điều 562: Dưới quyền của vị Thường quyền sở tại và theo các qui chế chính đáng và các quyền thủ đắc, Quản đốc Thánh đường có nhiệm vụ lo cho các việc thánh được cử hành xứng đáng trong nhà thờ đúng các qui tắc phụng vụ và các qui định của Giáo luật, cho các nghĩa vụ được chu toàn cách trung thành, cho tài sản được quản trị cách ân cần, phải lo để ý đến việc bảo trì và trang hoàng các đồ vật thánh và cơ sở thánh, cũng đừng làm gì không xứng hợp cách nào với sự thánh thiện của nơi chốn và sự cung kính phải có đối với Nhà Chúa.

* Điều 563: Vị Thường quyền sở tại vì lý do chính đáng theo phán đoán khôn ngoan của Ngài, có thể bãi nhiệm Quản đốc Thánh đường cho dù đã do những người khác bầu lên hoặc giới thiệu, giữ nguyên điều Điều 682 #2.

MỤC 2
CÁC LINH GIÁM

* Điều 564: Linh giám là linh mục đã được trao cách cố định ít là một phần việc coi sóc mục vụ của một cộng đoàn hoặc một nhóm tín hữu Kitô đặc biệt, việc coi sóc nầy phải được thi hành chiếu theo luật chung và luật đặc lập.

* Điều 565: Trừ khi luật đã định liệu thể khác hoặc khi những quyền lợi đặc biệt thuộc về người nào đó cách hợp pháp, vị Thường quyền sở tại có quyền bổ nhiệm Linh giám, Ngài cũng có quyền cắt cử người đã được giới thiệu hoặc chuẩn nhận người đã được đắc cử.

* Điều 566: #1. Linh giám phải có tất cả các năng quyền mà việc mục vụ chính đáng đòi hỏi. Ngoài những năng quyền của luật đặc lập hoặc do sự ủy nhiệm đặc biệt ban cho, Linh giám do chức vụ, còn có năng quyền giải tội do các tín hữu đã được giao cho Ngài coi sóc, rao giảng Lời Chúa cho họ, ban của Ăn Đàng và bí tích Xức dầu bệnh nhân cùng bí tích Thêm Sức cho những người lâm cơn nguy tử.

#2. Tại các bệnh xá, nhà tù và trong các hành trình đường thủy, Linh giám còn có năng quyền xá giải các vạ tiền kết không dành riêng và chưa được tuyên bố, nhưng chỉ trong những nơi ấy mà thôi, giữ nguyên qui định của Điều 976.

* Điều 567: #1. Vị Thường quyền sở tại không bổ nhiệm Linh giám một nhà của Tu Hội Dòng giáo dân, khi chưa tham khảo ý kiến của Bề Trên, vị nầy có quyền giới thiệu một linh mục nào đó sau khi đã hỏi ý kiến cộng đoàn.

#2. Linh giám có nhiệm vụ cử hành hoặc điều khiển các việc phụng vụ, nhưng Ngài không được xen vào việc quản trị nội bộ của Tu Hội.

* Điều 568: Đối với những người vì điều kiện cuộc sống không thể hưởng sự coi sóc bình thường của các Linh mục chính xứ, như các người di tản, các người lưu đày, các người tị nạn, các người du mục, các người đi biển, thì, trong mức độ có thể, nên cắt đặt Linh giám coi sóc họ.

* Điều 569: Các Linh giám quân đội thì có luật riêng.

* Điều 570: Nếu nhà thờ gắn liền với trụ sở của một cộng đoàn hoặc của một nhóm người mà không phải là nhà thờ giáo xứ, thì Linh giám sẽ là Quản đốc Thánh đường ấy, trừ khi việc coi sóc cộng đoàn hoặc nhà thờ đòi hỏi thể khác.

* Điều 571: Khi thi hành trách nhiệm mục vụ của mình, Linh giám phải giữ liên hệ cần thiết với Linh mục chính xứ.

* Điều 572: Về việc bãi nhiệm Linh giám thì phải giữ qui định của Điều 563.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle