Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
GIÁO LUẬT HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
  --- 1983 ---

QUYỂN II
DÂN THIÊN CHÚA

PHẦN III
CƠ CẤU PHẨM TRẬT CỦA GIÁO HỘI
(Tiếp theo)

MỤC 2: TÒA GIÁM MỤC KHUYẾT VỊ

* Điều 416: Tòa Giám mục khuyết vị khi Giám mục Giáo phận qua đời, khi từ nhiệm và Giáo Hoàng chấp nhận, khi được chuyển nhiệm và khi lệnh bãi nhiệm đã được tống đạt đến Ngài.

* Điều 417: Tất cả những gì Tổng Đại diện hoặc Đại diện Giám mục đã làm thì vẫn có hiệu lực cho đến khi các Ngài biết Giám Mục Giáo phận đã qua đời. Cũng vậy, những gì Giám mục Giáo phận hoặc Tổng Đại diện hoặc Đại diện Giám mục đã làm thì vẫn có hiệu lực cho đến khi các Ngài biết chắc về văn kiện kể trên của Giáo Hoàng.

* Điều 418: #1. Trong vòng hai tháng, từ khi biết chắc về việc chuyển nhiệm, Giám mục phải đi đến Giáo phận mới và nhận Giáo phận theo Giáo luật, chính ngày Ngài nhận Giáo phận mới thì Giáo phận cũ khuyết vị.

#2. Từ khi biết chắc về việc chuyển nhiệm đến khi nhận Giáo phận mới, theo Giáo luật, đối với Giáo phận cũ, Giám mục chuyển nhiệm:

  • Có quyền bính và nhiệm vụ như Giám Quản Giáo phận, còn Tổng Đại diện và Đại diện Giám mục thì hết quyền, nhưng giữ nguyên Điều 409 #2;
  • Được hưởng trọn lương bổng theo chức vụ.

* Điều 419: Khi Tòa Giám mục khuyết vị và cho đến khi đặt Giám Quản Giáo phận, việc lãnh đạo Giáo phận thuộc Giám mục phụ tá và nếu có nhiều Giám mục phụ tá thì thuộc vị thâm niên hơn theo thời gian thăng chức; nếu không có Giám mục phụ tá thì thuộc Hội Đồng Cố Vấn trừ khi Tòa Thánh đã dự liệu thể khác. Ai lãnh đạo Giáo phận trong những trường hợp ấy, lập tức phải triệu tập Hội Đồng có thẩm quyền để cắt cử Giám Quản Giáo phận.

* Điều 420: Khi Đại diện Tông Tòa hay Phủ Doãn Tông Tòa khuyết vị, quyền lãnh đạo được đảm nhận do vị Quyền Đại diện hay Quyền Phủ Doãn được vị Đại diện Tông Tòa hay vị Phủ Doãn Tông Tòa ngay sau khi nhận chức bổ nhiệm để làm việc ấy mà thôi; trừ khi Tòa Thánh định liệu thể khác.

* Điều 421: #1. Trong vòng tám ngày kể từ khi được tin Tòa Giám mục khuyết vị, Hội Đồng Cố Vấn phải bầu lên vị Giám Quản Giáo phận, tức là vị sẽ tạm thời lãnh đạo Giáo phận, vẫn giữ nguyên qui định Điều 502 #3.

#2. Nếu trong thời gian qui định, bất cứ vì lý do nào, vị Giám Quản Giáo phận chưa được bầu lên cách hợp pháp, thì việc đề cử vị ấy thuộc quyền Trưởng Giáo tỉnh, và nếu chính Giáo Hội Trưởng Giáo tỉnh khuyết vị hoặc Giáo Hội Trưởng Giáo tỉnh cùng với Giáo Hội thuộc Giáo tỉnh khuyết vị, thì việc đề cử thuộc Giám mục Giáo tỉnh thâm niên hơn theo thời gian thăng chức.

* Điều 422: Giám mục phụ tá và nếu không có Giám mục phụ tá, thì Hội Đồng Cố Vấn phải báo cho Tông Tòa sớm hết sức về các chết của Giám mục; cũng vậy, vị Giám Quản Giáo phận được đắc cử phải báo cáo về việc mình đã được chọn.

* Điều 423: #1. Chỉ được đề cử một Giám Quản Giáo phận mà thôi, mọi tục lệ nghịch lại đều bị bãi bỏ; bằng không thì việc bầu cử là vô hiệu.

#2. Giám Quản Giáo phận không được kiêm chức Quản lý; vì vậy, nếu vị Quản lý Giáo phận được bầu làm Giám Quản thì Hội Đồng Quản lý tài sản phải chọn một vị Quản lý khác tạm thay.

* Điều 424: Phải bầu Giám Quản Giáo phận chiếu theo các Điều 165 – 178.

* Điều 425: #1. Chỉ có thể được đề cử thành sự vào chức vụ Giám Quản Giáo phận, linh mục nào đã 35 tuổi trọn và chưa được chọn, bổ nhiệm, hay giới thiệu làm Giám mục của Giáo phận khuyết vị.

#2. Phải chọn làm Giám Quản Giáo phận linh mục nào trổi vượt về đạo đức và khôn ngoan.

#3. Nếu những điều kiện qui định ở #1 đã không được tôn trọng, vị Trưởng Giáo tỉnh hoặc nếu chính Giáo Hội Trưởng Giáo tỉnh khuyết vị, thì Giám mục thuộc Giáo tỉnh thâm niên hơn theo thời gian thăng chức, khi biết rõ sự thực, phải đề cử vị Giám Quản Giáo phận cho lần nầy; các hành vi của người đã được chọn nghịch với những qui định ở #1 là đương nhiên vô hiệu.

* Điều 426: Khi Giáo phận khuyết vị, người nào lãnh đạo Giáo phận trước khi đề cử vị Giám Quản Giáo phận, có quyền bính mà luật dành cho vị Tổng Đại diện.

* Điều 427: #1. Giám Quản Giáo phận có những nghĩa vụ và quyền bính của Giám Mục Giáo phận, trừ những gì bản chất sự việc hoặc chính luật loại trừ.

#2. Sau khi đã chấp nhận việc đắc cử, Giám Quản Giáo phận đắc thủ quyền bính mà không cần sự chuẩn y của bất cứ ai, giữ nguyên nghĩa vụ nói ở Điều 833 số 4.

* Điều 428: #1. Khi Tòa khuyết vị, không được đổi mới gì cả.

#2. Những người tạm thời lãnh đạo Giáo phận không được làm bất cứ điều gì có thể gây thiệt hại hoặc cho Giáo phận hoặc cho quyền lợi Giám mục; đặc biệt cấm các Ngài và cũng cấm bất cứ ai khác tự mình hoặc nhờ người khác lấy hoặc hủy bất cứ tài liệu nào của Tòa Giám mục hoặc sửa đổi điều gì trong những tài liệu ấy.

* Điều 429: Giám Quản Giáo phận có nhiệm vụ cư trú trong Giáo phận và dâng lễ cầu cho dân chiếu Điều 388.

* Điều 430: #1. Nhiệm vụ Giám Quản Giáo phận chấm dứt khi Giám mục mới nhận Giáo phận.

#2. Việc giải nhiệm Giám Quản Giáo phận dành cho Tòa Thánh; nếu chính vị Giám Quản từ nhiệm thì đơn từ nhiệm chính thức phải được trình cho Hội Đồng có thẩm quyền bầu cử và không cần được chấp nhận; khi vị Giám Quản Giáo phận bị giải nhiệm hoặc từ nhiệm hoặc từ trần, phải bầu một vị Giám Quản Giáo phận khác chiếu Điều 421.

TIẾT II: NHỮNG TỔ CHỨC
KẾT HỢP CÁC GIÁO HỘI ĐỊA PHƯƠNG

CHƯƠNG I: GIÁO TỈNH VÀ GIÁO MIỀN

* Điều 431: #1. Để cổ võ hoạt động mục vụ chung của nhiều Giáo phận gần nhau, tùy theo hoàn cảnh về người và nơi chốn, và để tán trợ thích đáng hơn các quan hệ của các Giám Mục Giáo phận với nhau, các Giáo Hội địa phương gần nhau hơn sẽ họp thành Giáo tỉnh có ranh giới nhất định của một địa hạt.

#2. Từ nay theo nguyên tắc sẽ không có Giáo phận miễn trừ; bởi vậy, mỗi Giáo phận và các Giáo Hội địa phương khác, ở trong ranh giới địa hạt của Giáo tỉnh nào đó, phải là thành viên của Giáo tỉnh ấy.

#3. Chỉ quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có quyền thành lập, bãi bỏ hoặc thay đổi các Giáo tỉnh, sau khi đã bàn hỏi với các Giám mục liên hệ.

* Điều 432: #1 . Trong Giáo tỉnh, Công Đồng Giáo tỉnh và Trưởng Giáo tỉnh có quyền hành chiếu theo luật.

#2. Giáo tỉnh đương nhiên có tính cách pháp nhân.

* Điều 433: #1. Nếu thấy có lợi, nhất là trong những nước có rất nhiều Giáo Hội địa phương, các Giáo tỉnh gần nhau hơn có thể do đề nghị của Hội Đồng Giám mục, được Tòa Thánh hợp lại thành Giáo Miền.

#2. Giáo miền có thể thiết lập thành pháp nhân.

* Điều 434: Hội nghị các Giám mục thuộc Giáo miền có bổn phận cổ võ sự hợp tác và hoạt động mục vụ chung trong Miền; tuy nhiên, hội nghị ấy không có những quyền mà các Điều của Bộ Luật nầy đã dành cho Hội Đồng Giám mục; trừ các Điều Tòa Thánh đã đặc biệt ban cho hội nghị ấy.

CHƯƠNG II: TRƯỞNG GIÁO TỈNH

* Điều 435: Đứng đầu Giáo tỉnh là Trưởng Giáo tỉnh, vị nầy là Tổng Giám mục lãnh đạo một Giáo phận; chức vụ ấy được gắn liền với Tòa Giám mục do Giáo Hoàng chỉ định hay chấp thuận.

* Điều 436: #1. Trong các Giáo phận thuộc Giáo tỉnh, Trưởng Giáo tỉnh có nhiệm vụ:

  • Lo cho đức tin và kỷ luật Giáo Hội được tuân giữ nghiêm chỉnh và báo cáo với Giáo Hoàng những lạm dụng nếu có;
  • Đi kinh lý, nếu đã được Tòa Thánh chấp thuận trước, khi Giám mục thuộc Giáo tỉnh đã bỏ không đi kinh lý;
  • Bổ nhiệm vị Giám Quản Giáo phận chiếu Điều 421 #2 và 425 #3.

#2. Khi hoàn cảnh đòi hỏi, Tòa Thánh có thể giao cho Trưởng Giáo tỉnh

những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt được ấn định trong luật đặc lập.

#3. Trưởng Giáo tỉnh không có quyền lãnh đạo nào khác trong các Giáo phận thuộc Giáo tỉnh; nhưng Ngài có thể thi hành các chức vụ Thánh trong tất cả các nhà thờ như Giám mục trong Giáo phận của mình, nhưng nếu là Nhà Thờ Chính Tòa, thì báo trước cho Giám mục Giáo phận.

* Điều 437: #1. Trưởng Giáo tỉnh buộc phải đích thân hoặc nhờ đại diện xin Đức Giáo Hoàng dây Pallium trong vòng ba tháng kể từ ngày được tấn phong Giám mục, hoặc nếu đã được tấn phong Giám mục rồi, thì kể từ ngày được bổ nhiệm theo Giáo luật; dây nầy biểu hiện quyền bính mà luật ban cho Ngài trong Giáo tỉnh của mình trong sự hiệp thông cùng Giáo Hội Rôma.

#2. Trưởng Giáo tỉnh có thể dùng dây Pallium chiếu luật Phụng vụ trong bất cứ nhà thờ nào của Giáo tỉnh mà Ngài đứng đầu, nhưng tuyệt đối Ngài không được dùng dây ấy ngoài Giáo tỉnh mình, cho dầu có sự chấp thuận của Giám Mục Giáo phận.

#3. Nếu chuyển sang một Tòa Trưởng Giáo tỉnh khác, thì Trưởng Giáo tỉnh cần phải có một dây Pallium khác.

* Điều 438: Danh hiệu Thượng Phụ và Giáo Trưởng ngoài đặc quyền về danh dự, không bao hàm một quyền lãnh đạo nào khác trong Giáo Hội La-tinh, trừ khi thấy rõ thể khác trong một số trường hợp do đặc ân Tòa Thánh hoặc do tục lệ đã được công nhận.

CHƯƠNG III: CÔNG ĐỒNG ĐỊA PHƯƠNG

* Điều 439: #1. Công đồng Toàn Hội, nghĩa là Công Đồng tập họp tất cả các Giáo Hội địa phương thuộc cùng một Hội Đồng Giám Mục phải được nhóm họp mỗi lần Hội Đồng Giám Mục ấy xét thấy là cần hay hữu ích với sự chuẩn nhận của Tông Tòa.

#2. Qui tắc được ấn định ở #1 cũng có giá trị đối với việc cử hành Công Đồng Giáo Tỉnh trong một Giáo tỉnh mà ranh giới trùng với lãnh thổ của một nước.

* Điều 440: #1. Công Đồng Giáo Tỉnh cho các Giáo Hội địa phương của cùng một Giáo tỉnh, phải được nhóm họp mỗi lần đa số các Giám Mục Giáo phận trong Giáo tỉnh xét là nên giữ nguyên Điều 439 #2.

#2. Khi Tòa Giám Mục Trưởng Giáo tỉnh khuyết vị thì không được triệu tập Công Đồng Giáo Tỉnh.

* Điều 441: Hội Đồng Giám Mục có nhiệm vụ:

  • Triệu tập Công Đồng Toàn Hội;
  • Chọn địa điểm họp Công Đồng trong địa hạt của Hội Đồng Giám Mục;
  • Chọn vị Chủ tịch của Công Đồng Toàn Hội trong số các Giám Mục Giáo phận, vị nầy phải được Tòa Thánh chấp thuận;
  • Xác định chương trình nghị sự và các vấn đề sẽ được bàn cãi, ấn định ngày khai mạc và thời gian của Công Đồng Toàn Hội, dời đi nơi khác, kéo dài hay bế mạc Công Đồng.

* Điều 442: #1. Trưởng Giáo tỉnh có nhiệm vụ với sự đồng ý của đa số các Giám mục thuộc Giáo tỉnh:

  • Triệu tập Công Đồng Giáo tỉnh;
  • Chọn địa điểm họp Công Đồng Giáo tỉnh trong địa hạt của Giáo tỉnh;
  • Xác định chương trình nghị sự và các vấn đề sẽ được bàn cãi, ấn định ngày khai mạc và thời gian của Công Đồng Giáo tỉnh, dời đi nơi khác, kéo dài và bế mạc Công Đồng.

#2. Trưởng Giáo tỉnh và nếu Ngài bị ngăn trở cách chính đáng, thì vị Giám

mục thuộc Giáo tỉnh đã được các Giám mục khác thuộc Giáo tỉnh bầu lên, có quyền chủ tọa Công Đồng Giáo Tỉnh.

* Điều 443: #1. Phải triệu tập tham dự các Công Đồng địa phương và tại các Công Đồng ấy, có quyền bỏ phiếu biểu quyết:

  • Các Giám Mục Giáo phận;
  • Các Giám mục phó và các Giám mục phụ tá;
  • Các Giám mục hiệu tòa khác đang thi hành trong địa hạt một nhiệm vụ đặc biệt do Tông Tòa hoặc do Hội Đồng Giám Mục giao phó.

#2. Có thể mời tham dự các Công Đồng địa phương các Giám mục hiệu

tòa khác, cả những vị nghỉ hưu đang sống trong địa hạt; các vị nầy có quyền bỏ phiếu biểu quyết.

#3. Phải mời các vị sau đây tham dự các Công Đồng địa phương với quyền tư vấn mà thôi:

  • Các Tổng Đại diện và các Đại diện Giám mục của tất cả các Giáo Hội địa phương trong địa hạt.
  • Các Bề Trên cấp cao của các Tu hội Dòng và của các Hội đời sống Tông đồ, số người sẽ được ấn định cho các Bề Trên nam cũng như các Bề Trên nữ do Hội Đồng Giám Mục hoặc do các Giám mục của Giáo tỉnh, và đã được hết thảy các Bề Trên cấp cao liên hệ của các Tu Hội và Hội có trụ sở trong địa hạt bầu lên;
  • Các Viện Trưởng Đại học của Giáo Hội và Đại học Công Giáo cùng các khoa trưởng phân khoa thần học và giáo luật có trụ sở trong địa hạt;
  • Một số Giám đốc Đại chủng viện, số người sẽ được ấn định như ở số 2, được các Giám đốc các chủng viện ở trong địa hạt bầu lên.

#4. Cũng có thể mời tham dự các Công Đồng địa phương với quyền tư

vấn mà thôi, các linh mục và một số tín hữu khác, nhưng sao cho số các người ấy không quá bán số các người nói đến ở # #1-3.

#5. Ngoài ra, nên mời tham dự các Công Đồng Giáo Tỉnh các Kinh sĩ Hội nhà thờ chính tòa, Hội Đồng Linh mục, và Hội Đồng Mục vụ của mỗi Giáo Hội địa phương, nhưng mỗi giới nầy chỉ gởi hai thành viên do họ chỉ định một cách hiệp đoàn, nhưng các người nầy chỉ có quyền tư vấn.

#6. Có thể mời các người khác tham dự các Công Đồng địa phương với tư cách là quan sát viên, nếu Hội Đồng Giám Mục xét là nên đối với Công Đồng Toàn Hội, hoặc nếu trưởng Giáo tỉnh cùng với các Giám mục thuộc Giáo tỉnh xét là nên đối với Công Đồng Giáo Tỉnh.

*Điều 444: #1. Tất cả những người được triệu tập tham dự các Công Đồng địa phương, thì phải tham dự, trừ khi họ mắc ngăn trở chính đáng, thì buộc họ phải báo cho vị Chủ tịch Công Đồng biết ngăn trở ấy.

#2. Những ai được triệu tập tham dự các Công Đồng địa phương và có quyền biểu quyết tại các Công Đồng ấy, nếu họ mắc ngăn trở chính đáng, họ có thể gởi người đại diện đi dự; người đại diện chỉ có quyền tư vấn mà thôi.

* Điều 445: Đối với địa hạt mình, Công Đồng địa phương quan tâm đáp ứng các nhu cầu mục vụ của dân Chúa và có quyền lãnh đạo, nhất là quyền lập pháp, sao cho có thể quyết định mà vẫn giữ luật chung của Giáo Hội, những gì xét là thích hợp để tăng trưởng đức tin, để tổ chức hoạt động mục vụ chung, để hướng dẫn thuần phong mỹ tục và để gìn giữ, cổ võ hoặc bảo vệ kỷ luật chung của Giáo Hội.

* Điều 446: Sau khi Công Đồng địa phương bế mạc, vị Chủ tịch phải lo liệu gởi tới Tông Tòa tất cả các biên bản của Công Đồng, các sắc lệnh do Công Đồng biểu quyết chỉ được công bố sau khi đã được Tông Tòa duyệt xét; chính Công Đồng xác định thể thức công bố bắt đầu có hiệu lực.

CHƯƠNG IV: CÁC HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC

* Điều 447: Hội Đồng Giám Mục, một định chế thường trực, là tổ chức kết hợp các Giám mục của một quốc gia hay một địa hạt nào đó, cùng nhau thi hành chiếu theo luật, một số nhiệm vụ mục vụ cho các tín hữu Kitô thuộc địa hạt, để phát huy lợi ích lớn hơn mà Giáo Hội đem lại cho loài người, nhất là bằng các hình thức và phương pháp làm việc Tông đồ thích hợp với hoàn cảnh địa phương và thời đại.

* Điều 448: #1. Hội Đồng Giám Mục, theo nguyên tắc chung, bao gồm các Giám chức của tất cả các Giáo Hội địa phương thuộc cùng một quốc gia chiếu Điều 450.

#2. Còn nếu hoàn cảnh người và việc yêu cầu theo thẩm định của Tông Tòa, sau khi đã hội ý các Giám Mục Giáo phận liên hệ, thì có thể thành lập Hội Đồng Giám Mục cho một địa hạt hẹp hơn hay rộng hơn, và như vậy, hoặc chỉ gồm các Giám mục của một số Giáo Hội địa phương ở trong một địa hạt nào đó, hoặc gồm các Giám chức của Giáo Hội địa phương thuộc nhiều quốc gia khác nhau, quyền thiết lập những qui tắc riêng cho mỗi Hội Đồng Giám Mục cũng là của Tòa Thánh.

* Điều 449: #1. Việc thành lập, bãi bỏ hoặc đổi mới các Hội Đồng Giám Mục thì thuộc quyền tối cao của Giáo Hội, khi đã tham khảo ý kiến của các Giám mục liên hệ.

#2. Hội Đồng Giám Mục được thiết lập cách hợp thức đương nhiên theo luật có tính cách pháp nhân.

* Điều 450: #1. Tất cả các Giám Mục Giáo phận trong địa hạt và các vị đồng hóa với các Ngài do luật, cùng các Giám mục phó, các Giám mục phụ tá và các Giám mục hiệu tòa khác đảm nhận trong địa hạt một nhiệm vụ đặc biệt do Tông Tòa hoặc do Hội Đồng Giám Mục ủy thác, đương nhiên theo luật thuộc Hội Đồng Giám Mục. Cũng có thể mời các vị Thường quyền thuộc nghi lễ khác, nhưng các vị nầy chỉ có quyền tư vấn mà thôi, trừ khi qui chế của Hội Đồng Giám Mục quyết định thể khác.

#2. Các Giám mục hiệu tòa khác cũng như Đại sứ của Giáo Hoàng, không phải đương nhiên là thành phần của Hội Đồng Giám Mục.

* Điều 451: Mỗi Hội Đồng Giám Mục phải soạn thảo qui chế riêng, các qui chế nầy phải được Tông Tòa chuẩn nhận, trong đó, ngoài những điều khác, phải sắp xếp các phiên họp khoáng đại của Hội Đồng, và phải lo thành lập Hội Đồng thường trực và Văn Phòng Tổng Thư ký của Hội Đồng, cùng các chức vụ khác và các ủy ban mà theo thẩm định của Hội Đồng sẽ giúp đạt tới mục đích hữu hiệu hơn.

* Điều 452: #1. Mỗi Hội Đồng Giám Mục phải chọn cho mình vị Chủ tịch, xác định người đảm nhận chức vụ quyền chủ tịch khi vị Chủ tịch gặp ngăn trở chính đáng, và chỉ định vị Tổng Thư ký theo qui tắc của qui chế.

#2. Vị Chủ tịch Hội Đồng, và khi vị nầy gặp ngăn trở chính đáng, vị quyền chủ tịch chủ tọa không những các phiên họp khoáng đại của Hội Đồng Giám Mục, mà còn chủ tọa Hội Đồng thường trực nữa.

* Điều 453: Hội Đồng Giám Mục phải họp khoáng đại ít là mỗi năm một lần, và ngoài ra, mỗi khi hoàn cảnh đặc biệt yêu cầu, theo các qui định của qui chế.

* Điều 454: #1. Trong các phiên họp khoáng đại của Hội Đồng Giám Mục, các Giám Mục Giáo phận và các vị được luật đồng hóa với các Ngài, cùng các Giám mục phó, đương nhiên chiếu luật, có quyền biểu quyết.

#2. Các Giám mục phụ tá và các Giám mục hiệu tòa khác thuộc Hội Đồng Giám Mục có quyền biểu quyết hay quyền tư vấn tùy theo các qui định của qui chế Hội Đồng, nhưng phải giữ vững điểm nầy là khi bàn về việc soạn thảo hay sửa đổi qui chế, thì chỉ những vị đã nói ở #1 mới có quyền biểu quyết.

* Điều 455: #1. Hội Đồng Giám Mục chỉ có thể ban hành những sắc lệnh tổng quát trong những vấn đề mà luật phổ quát đã ấn định hay ủy nhiệm đặc biệt của Tông Tòa đã ấn định như thể do Tự sắc hoặc do yêu cầu của chính Hội Đồng.

#2. Để các sắc lệnh nói ở #1 được ban hành thành sự tại phiên họp khoáng đại thì phải được ít là hai phần ba số phiếu Giám chức thuộc Hội Đồng có quyền biểu quyết, và sắc lệnh ấy không có hiệu lực nếu chưa được Tông Tòa chuẩn nhận, và không được chính thức công bố.

#3. Thể thức công bố và thời gian các sắc lệnh bắt đầu có hiệu lực sẽ do Hội Đồng Giám Mục ấn định.

#4. Trong những trường hợp luật phổ quát cũng như ủy nhiệm đặc biệt của Tông Tòa không ban cho Hội Đồng Giám Mục quyền hành nói ở *1, thì mỗi Giám Mục Giáo phận giữ trọn thẩm quyền của mình, và Hội Đồng hoặc vị Chủ tịch không có quyền hành động nhân danh tất cả các Giám mục, trừ khi tất cả và từng Giám Mục đã đồng ý.

* Điều 456: Sau khi phiên họp khoáng đại Hội Đồng Giám Mục bế mạc, vị Chủ tịch phải gởi về Tông Tòa bản báo cáo về các biên bản cũng như các sắc lệnh của Hội Đồng, vừa để tường trình các biên bản lên Tông Tòa, vừa để Tông Tòa có thể chuẩn nhận các sắc lệnh, nếu có.

* Điều 457: Hội Đồng thường trực các Giám mục có nhiệm vụ lo chuẩn bị chương trình nghị sự cho phiên họp khoáng đại của Hội Đồng và các quyết định đã được biểu quyết tại Hội Đồng được đem ra thi hành đúng mức, Hội Đồng thường trực cũng có nhiệm vụ làm các việc khác đã được ủy thác theo qui chế.

* Điều 458: Văn phòng Tổng thư ký có nhiệm vụ:

  • Soạn báo cáo về các biên bản và các sắc lệnh của phiên họp khoáng đại của Hội Đồng thường trực Giám mục, và thông tri các biên bản ấy cho mọi thành viên của Hội Đồng, cũng soạn thảo các biên bản khác đã được vị Chủ Tịch Hội Đồng hoặc Hội Đồng thường trực ủy thác cho.
  • Thông tri cho các Hội Đồng Giám Mục lân cận các biên bản và các tài liệu mà Hội Đồng tại phiên họp khoáng đại hoặc Hội Đồng thường trực các Giám mục quyết định thông tri cho họ.

* Điều 459: #1. Quan hệ giữa các Hội Đồng Giám Mục, nhất là các Hội Đồng Giám Mục gần nhau hơn, phải được cổ võ, để phát huy và bảo tồn lợi ích lớn hơn

#2. Nhưng mỗi khi các Hội Đồng bàn tới những công việc hay những vấn đề có tính cách quốc tế, thì phải hỏi ý kiến Tông Tòa.

TIẾT III
TỔ CHỨC NỘI BỘ CỦA GIÁO HỘI ĐỊA PHƯƠNG

CHƯƠNG I: HỘI ĐỒNG GIÁO PHẬN

* Điều 460: Hội Đồng Giáo phận là Hội Nghị gồm những linh mục và những tín hữu Kitô khác của Giáo Hội địa phương đã được chọn để trợ giúp Giám Mục Giáo phận trong việc mưu ích cho toàn thể cộng đồng Giáo phận chiếu theo các Điều sau đây.

* Điều 461: #1. Hội Đồng Giáo phận phải được triệu tập trong mỗi Giáo Hội địa phương khi hoàn cảnh đòi hỏi, theo thẩm định của Giám Mục Giáo phận và sau khi đã tham khảo ý kiến của Hội Đồng Linh Mục.

#2. Nếu Giám Mục coi sóc nhiều Giáo phận, hoặc nếu Ngài coi sóc một Giáo phận như là Giám mục riêng của Giáo phận ấy, nhưng coi sóc Giáo phận khác như là Giám Quản Tông Tòa thì Ngài có thể chỉ triệu tập một Hội Đồng cho tất cả các Giáo phận đã được ủy thác cho Ngài.

* Điều 462: #1. Chỉ có Giám Mục Giáo phận mới triệu tập Hội Đồng Giáo Phận, chứ không phải vị tạm thời lãnh đạo Giáo phận.

#2. Giám Mục Giáo phận chủ tọa Hội Đồng Giáo phận, nhưng Ngài có thể ủy quyền cho vị Tổng Đại diện hoặc cho vị đại diện Giám Mục làm nghĩa vụ nầy cho mỗi khóa họp của Hội Đồng.

* Điều 463: #1. Những người sau đây phải được triệu tập như những thành viên của Hội Đồng Giáo phận và bắt buộc phải tham dự:

  • Giám mục phó và các Giám mục phụ tá;
  • Các Tổng Đại diện và các Đại diện Giám mục cùng vị Đại diện tư pháp;
  • Các kinh sĩ Nhà Thờ Chính Tòa;
  • Các thành viên Hội Đồng Linh Mục;
  • Những tín hữu Kitô giáo dân, cả những thành viên các Tu Hội đời sống thánh hiến do Hội Đồng Mục vụ bầu lên theo thể thức và với số người do Giám Mục Giáo phận ấn định, hoặc nơi nào không có Hội Đồng Mục vụ thì theo tiêu chuẩn do Giám Mục Giáo phận ấn định;
  • Giám đốc Đại chủng viện Giáo phận;
  • Các linh mục quản hạt;
  • Ít là một linh mục trong mỗi giáo hạt, do tất cả linh mục coi sóc các linh hồn trong giáo hạt bầu lên; ngoài ra còn phải bầu một linh mục khác để nếu linh mục kia mắc ngăn trở thì linh mục nầy sẽ thay thế;
  • Một vài Bề Trên các Tu Hội Dòng và Hội đời sống Tông đồ có nhà trong Giáo phận, được bầu lên với số người và theo thể thức do Giám Mục Giáo phận ấn định.

#2. Giám Mục Giáo phận có thể mời tham dự Hội Đồng Giáo phận, với tư

cách là thành viên Hội Đồng, những người khác, hoặc là giáo sĩ hoặc là thành viên các Tu Hội đời sống thánh hiến hoặc là tín hữu Kitô giáo dân.

#3. Nếu Ngài xét là thích hợp, Giám Mục Giáo phận có thể mời tham dự Hội Đồng Giáo Phận, như là quan sát viên, một vài thừa tác viên hoặc thành viên của các Giáo Hội hay cộng đồng Giáo Hội không hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội Công Giáo.

* Điều 464: Thành viên Hội Đồng, nếu bị ngăn trở chính đáng, không có quyền cử đại diện tham dự nhân danh mình nhưng phải báo cáo cho Giám Mục Giáo phận biết về ngăn trở ấy.

* Điều 465: Tất cả các vấn đề đã được đề nghị, phải được đưa ra cho các thành viên tự do bàn cãi trong các khóa họp của Hội Đồng.

* Điều 466: Tại Hội Đồng Giáo Phận, nhà lập pháp duy nhất là Giám Mục Giáo phận, các thành viên khác của Hội Đồng chỉ có quyền tư vấn mà thôi, chỉ một mình Ngài ký vào các tuyên ngôn và sắc lệnh của Hội Đồng, các tuyên ngôn và sắc lệnh nầy chỉ được công bố do quyền Ngài.

* Điều 467: Giám Mục Giáo phận phải chuyển đạt văn bản các tuyên ngôn và các sắc lệnh của Hội Đồng cho Trưởng Giáo tỉnh và cho Hội Đồng Giám Mục.

* Điều 468: #1. Giám Mục Giáo phận có quyền theo thẩm định khôn ngoan của Ngài, tạm ngưng hoặc giải tán Hội Đồng Giáo Phận.

#2. Khi Tòa Giám Mục khuyết vị hoặc bị ngăn trở, Hội Đồng Giáo phận đương nhiên chiếu luật bị đình hoãn cho đến khi vị Giám Mục Giáo phận kế vị ra quyết định tiếp tục Hội Đồng hoặc tuyên bố chấm dứt Hội Đồng.

CHƯƠNG II: TÒA GIÁM MỤC GIÁO PHẬN

* Điều 469: Tòa Giám Mục Giáo phận gồm những cơ quan và nhân viên giúp Giám mục trong việc lãnh đạo toàn thể Giáo phận, nhất là trong việc điều hành hoạt động mục vụ, trong việc quản trị Giáo phận cũng như trong việc thi hành quyền tư pháp.

* Điều 470: Việc bổ nhiệm những người thi hành chức vụ tại Tòa Giám Mục thuộc quyền Giám Mục Giáo phận.

* Điều 471: #1. Tất cả những người được chấp nhận vào các chức vụ tại Tòa Giám Mục, phải:

  • Tuyên hứa trung thành chu toàn nhiệm vụ theo thể thức do luật hay Giám mục ấn định;
  • Giữ bí mật trong giới hạn và theo thể thức do luật hoặc Giám mục ấn định.

* Điều 472: Đối với những vụ và những người liên quan đến việc thi hành quyền tư pháp tại Tòa Giám mục, thì phải giữ các qui định của quyển VII về tố tụng, còn những gì thuộc về việc quản trị Giáo phận thì phải giữ các qui định của các Điều sau đây.

* Điều 473: #1. Giám Mục Giáo phận phải lo cho tất cả mọi việc liên quan đến việc quản trị của toàn thể Giáo phận được phối hiệp cho hợp lệ và tổ chức thế nào để mưu ích tốt hơn cho phần Dân Chúa đã được giao cho Ngài.

#2. Chính Giám Mục Giáo phận có nhiệm vụ phối hiệp hoạt động mục vụ của các vị Đại diện, Tổng Đại diện hoặc Đại diện Giám Mục; khi nào xét là nên, thì có thể đặt một vị Đổng lý Tòa Giám mục, vị nầy phải là một linh mục, và có nhiệm vụ dưới quyền của Giám mục, phối hiệp những gì liên quan đến các việc hành chánh phải giải quyết, và cũng có nhiệm vụ lo cho các người làm việc tại Tòa Giám mục chu toàn nghiêm chỉnh phận sự đã được giao cho mình.

#3. Trừ khi theo thẩm định của Giám mục các hoàn cảnh địa phương đòi hỏi thể khác, hãy bổ nhiệm vị Tổng Đại diện, hoặc nếu có nhiều Tổng Đại diện, thì bổ nhiệm một trong các vị ấy lên làm Đổng lý Tòa Giám mục.

#4. Khi nào xét là nên, để cổ võ thích đáng hơn hoạt động mục vụ, Giám mục có thể thiết lập Ban Cố Vấn Giám mục, gồm có các Tổng Đại diện và các Đại diện Giám mục.

* Điều 474: Để các văn kiện của Tòa Giám mục có hiệu lực pháp lý và cũng để thành sự, phải do Đấng Thường quyền ban hành ký cùng với Chưởng ấn hay Công chứng viên của Tòa Giám mục; nhưng vị Chưởng ấn Tòa Giám mục buộc phải báo cho vị Đổng lý Tòa Giám mục biết về các văn kiện ấy.

MỤC 1
CÁC TỔNG ĐẠI DIỆN VÀ ĐẠI DIÊN GIÁM MỤC

* Điều 475: #1. Trong mỗi Giáo phận, Giám mục Giáo phận phải bổ nhiệm một vị Tổng Đại diện, vị nầy có thường quyền chiếu các Điều sau đây và giúp Giám mục trong việc lãnh đạo toàn bộ Giáo phận.

#2. Theo lệ thường, phải đặt một Tổng Đại diện mà thôi, trừ khi diện tích rộng lớn hay dân số của Giáo phận hoặc những lý do mục vụ khác khuyên nên làm thể khác.

* Điều 476: Mỗi khi việc lãnh đạo tốt Giáo phận đòi hỏi Giám mục Giáo phận còn có hể đặt một hay nhiều Đại diện Giám mục, các vị nầy có thường quyền mà luật chung dành cho vị Tổng Đại diện, hoặc trong một phần nhất định của Giáo phận, hoặc cho một loại việc nào đó, hoặc đối với một tín hữu thuộc một nghi lễ nhất định, hay một nhóm người nào đó, chiếu các Điều sau đây.

* Điều 477: #1. Tổng Đại diện và Đại diện Giám mục do Giám Mục Giáo phận tự do bổ nhiệm và có thể tự do bãi nhiệm, giữ nguyên qui định của Điều 406; Đại diện Giám mục mà không phải là Giám mục phụ tá, chỉ được bổ nhiệm cho một thời gian được xác định trong chính văn thư bổ nhiệm.

#2. Khi Tổng Đại diện vắng mặt hay cản trở cách chính đáng, Giám Mục Giáo phận có thể bổ nhiệm một người khác thay thế, qui tắc ấy cũng áp dụng đối với Đại diện Giám mục.

* Điều 478: #1. Tổng Đại diện và Đại diện Giám mục phải là linh mục không được ba mươi tuổi, tiến sĩ hoặc cử nhân giáo luật hay thần học, hoặc ít ra thông thạo các môn ấy, đáng tin cậy vì đạo lý lành mạnh, vì tính chính trực, khôn ngoan và kinh nghiệm trong việc điều khiển công việc.

#2. Chức vụ Tổng Đại diện và Đại diện Giám mục không thể kiêm nhiệm chức vụ kinh sĩ xá giải, và cũng không được giao cho những người cùng có họ máu đến bốn đời với Giám mục.

* Điều 479: #1 . Do chức vụ, Tổng Đại diện có trên toàn Giáo phận quyền hành pháp, là quyền thuộc Giám mục Giáo phận do luật, tức là quyền để làm mọi hành vi hành chánh, ngoại trừ các hành vi mà Giám mục đã dành riêng cho mình hay những hành vi mà luật đòi hỏi phải có ủy nhiệm đặc biệt của Giám mục.

#2. Đương nhiên chiếu luật, quyền nói ở #1 cũng thuộc vị Đại diện Giám mục, nhưng đối với phần địa hạt nhất định, hoặc đối với loại công việc, hoặc đối với các tín hữu thuộc nghi lễ nhất định, hay thuộc nhóm người mà Ngài đã được bổ nhiệm mà thôi, trừ những vụ mà Giám mục đã dành riêng cho mình, hay cho vị Tổng Đại diện, hoặc những gì luật đòi phải có ủy nhiệm đặc biệt của Giám mục.

#3. Cũng thuộc phạm vi Tổng Đại diện và Đại diện Giám mục, trong phạm vi thẩm quyền của các Ngài, các năng quyền thông thường do Tông Tòa ban cho Giám mục cũng như việc thi hành các phúc chiếu trừ khi đã tiên liệu rõ ràng thể khác, hoặc khi việc thi hành nầy đã được ban cho Giám mục Giáo phận vì tài năng riêng của Ngài.

* Điều 480: Vị Tổng Đại diện và vị Đại diện Giám mục phải tường trình cùng Giám mục Giáo phận về các việc quan trọng phải làm và đã làm, và không bao giờ hành động nghịch ý muốn và tinh thần của Giám Mục Giáo phận.

* Điều 481: #1. Quyền của vị Tổng Đại diện và của vị Đại diện Giám mục chấm dứt khi thời gian ủy nhiệm đã mãn, khi từ nhiệm và, vẫn giữ nguyên các Điều 406 và 409, khi việc bãi nhiệm đã được Giám mục Giáo phận tống đạt, và khi Tòa Giám mục khuyết vị.

#2. Khi chức vụ Giám mục Giáo phận bị đình chỉ, thì quyền của vị Tổng Đại diện và của vị Đại diện Giám mục cũng đình chỉ, trừ khi các Ngài có chức Giám mục.

MỤC 2:
CHƯỞNG ẤN, CÁC CÔNG CHỨNG VIÊN KHÁC VÀ VĂN KHỐ

* Điều 482: #1. Phải cắt đặt ở mỗi Tòa Giám mục một Chưởng ấn mà nhiệm vụ chính là lo soạn thảo và tống đạt các văn thư của Tòa Giám mục, trừ khi luật riêng qui định thể khác.

#2. Nếu xét thấy là cần thì Chưởng ấn có thể có một phụ tá gọi là Phó Chưởng ấn.

#3. Chưởng ấn và Phó Chưởng ấn đương nhiên là Công chứng viên và thư ký của Tòa Giám mục.

* Điều 483: #1. Ngoài Chưởng ấn ra, có thể cắt đặt những công chứng viên khác, chữ ký của họ chứng thực bất cứ văn thư nào, hoặc chỉ các văn thư tòa án mà thôi.

#2. Chưởng ấn và các công chức viên phải là những người có thanh danh và không có gì đáng nghi ngờ, trong những vụ có thể liên hệ đến thanh danh của linh mục thì công chứng viên phải là linh mục.

* Điều 484: Nhiệm vụ của các công chứng viên là:

  • Soạn thảo các văn thư và tài liệu về các sắc lệnh, các qui định, các nghĩa vụ và những gì khác đòi hỏi các Ngài phải can thiệp;
  • Lập biên bản cách trung thực về những việc đã tiến hành, ghi rõ nơi, ngày, tháng, năm và ký tên.
  • Xuất trình các văn thư hay tài liệu từ bản gốc cho những ai xin cách hợp pháp, nhưng phải giữ những điều cần phải giữ, và chứng thực các phó bản là hợp với bản chính.

* Điều 485: Giám mục Giáo phận có thể tự do bãi nhiệm các Chưởng ấn và các công chứng viên khác, còn Giám Quản Giáo phận thì không có quyền, trừ khi có sự đồng ý của Hội Đồng Cố Vấn.

* Điều 486: #1. Tất cả các tài liệu liên quan đến Giáo phận và các giáo xứ phải được giữ gìn hết sức cẩn thận

#2. Tại mỗi Tòa Giám mục, phải lập văn khố Giáo phận hay nơi lưu trữ văn thư, ở một nơi chắc chắn, trong đó các tài liệu và văn kiện liên quan đến các công việc thiêng liêng cũng như trần thế của Giáo phận được lưu giữ, sắp xếp trật tự và khóa giữ cẩn thận.

#3. Phải lập biên bản kê khai hay mục lục các tài liệu có trong văn khố, với bản tóm lược ngắn gọn của mỗi văn kiện.

* Điều 487: #1. Văn khố phải khóa lại và chỉ Giám mục và Chưởng ấn có chìa khóa mà thôi. Không ai được phép vào văn khố, ngoại trừ khi có phép của Giám mục hoặc của Đổng lý Tòa Giám mục cùng với phép của vị Chưởng ấn.

#2. Những người liên hệ có quyền đích thân hoặc nhờ người đại diện nhận bản sao chính thức viết tay hay phóng ảnh các tài liệu tự bản chất là công khai và liên quan đến tình trạng của bản thân họ.

* Điều 488: Không được mang các tài liệu ra khỏi văn khố, ngoại trừ trong một thời gian ngắn và với sự ưng thuận của Giám mục hoặc với sự ưng thuận của Đổng lý Tòa Giám mục cùng Chưởng ấn.

* Điều 489: #1. Cũng phải có một văn khố mật tại Tòa Giám mục, hay ít ra có một cái tủ hoặc một cái hộc trong văn khố chung, tuyệt đối đóng kín và khóa lại, và không thể dời đi nơi khác được, trong đó lưu trữ cách cẩn thận các tài liệu phải giữ kín.

#2. Hằng năm phải hủy các tài liệu và các vụ hình sự liên quan đến phẩm hạnh khi bị cáo đã chết, hoặc khi các vụ ấy đã kết thúc bằng án văn xử phạt được mười năm, nhưng phải giữ lại một bản tóm tắt về sự vụ cùng với văn bản của bản án chung kết.

* Điều 490: #1. Chỉ Giám mục có chìa khóa văn khố mật mà thôi.

#2. Khi Tòa Giám mục khuyết vị, thì không được mở văn khố hoặc tủ văn kiện mật, ngoại trừ trường hợp cần thiết thật sự, do chính Giám Quản Giáo phận.

#3. Không được lấy tài liệu ra khỏi văn khố hoặc tủ văn kiện mật.

* Điều 491: #1. Giám mục Giáo phận phải lo liệu để các văn thư và tài liệu của các văn khố các Nhà Thờ Chính Tòa, các nhà thờ Kinh sĩ hội, các nhà thờ giáo xứ, cùng các nhà thờ khác có trong địa hạt của Ngài cũng được giữ gìn cẩn thận, và phải lập bản thống kê hay mục lục thành hai bản, một bản giữ tại văn khố riêng, bản kia giữ tại văn khố Giáo phận.

#2. Giám mục Giáo phận cũng phải lo cho trong Giáo phận có một văn khố lịch sử và các tài liệu có giá trị lịch sử phải được lưu trữ trong văn khố ấy và được xếp đặt có hệ thống.

#3. Muốn xem hoặc mang ra khỏi văn khố các văn thư và các tài liệu nói ở #1 và #2, thì phải tuân theo các qui tắc do Giám Mục Giáo phận ấn định.

MỤC 3: HỘI ĐỒNG KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ

* Điều 492: #1. Trong mỗi Giáo phận phải lập Hội Đồng Kinh tế, do chính Giám Mục Giáo phận hoặc người Ngài ủy nhiệm đứng đầu, và Hội Đồng nầy gồm ít nhất ba tín hữu Kitô thật thông thạo về kinh tế cũng như về dân luật và có tiếng liêm khiết, do Giám mục bổ nhiệm.

#2. Các thành viên Hội Đồng Kinh tế phải được bổ nhiệm cho một nhiệm kỳ năm năm, nhưng mãn thời gian nầy, họ có thể được tái bổ nhiệm cho những nhiệm kỳ năm năm khác.

#3. Không được nhận vào Hội Đồng Kinh tế những người cùng có họ máu hay họ kết bạn đến bốn đời với Giám mục.

* Điều 493: Ngoài những nhiệm vụ đã được giao cho trong quyển V “về tài sản trần thế của Giáo Hội”, nhiệm vụ của Hội Đồng Kinh tế là hằng năm, theo các chỉ thị của Giám Mục Giáo phận, lập ngân sách các khoản thu chi dự trù cho việc lãnh đạo chung của Giáo phận trong năm tới và cuối năm chứng thực số thu chi.

* Điều 494: #1. Trong mỗi Giáo phận, sau khi tham khảo ý kiến của Hiệp đoàn tư vấn và Hội Đồng Kinh tế, Giám mục bổ nhiệm một vị quản lý, vị nầy phải là người thực sự thành thạo về kinh tế và đặc biệt liêm chính.

#2. Vị Quản lý được bổ nhiệm cho một thời gian là năm năm, nhưng mãn thời gian nầy có thể được tái bổ nhiệm cho những kỳ hạn năm năm khác nữa; không nên bãi chức vị Quản lý đang còn trong nhiệm kỳ, trừ khi Giám mục xét thấy có lý do quan trọng sau khi đã hội ý với Hiệp đoàn tư vấn và Hội Đồng Kinh tế.

#3. Vị Quản lý có nhiệm vụ quản trị tài sản Giáo phận dưới quyền Giám mục theo cách thức đã được Hội Đồng Kinh tế ấn định và lấy từ lợi tức đã thu được của Giáo phận chi cho những khoản mà Giám mục hay những người khác được Ngài ủy quyền đã ra lệnh cách hợp pháp.

#4. Cuối năm , vị Quản lý phải tính sổ thu chi cùng Hội Đồng Kinh tế.

CHƯƠNG III: HỘI ĐỒNG LINH MỤC VÀ HIỆP ĐOÀN TƯ VẤN

* Điều 495: #1. Trong mỗi Giáo phận, phải thiết lập Hội Đồng Linh mục, là Hội nghị những linh mục đại diện cho Linh mục đoàn như là nghị viện của Đức Giám mục; Hội Đồng Linh mục có nhiệm vụ, chiếu theo luật pháp Giám mục trong việc lãnh đạo Giáo phận, để phát huy tối đa lợi ích mục vụ của phần Dân Chúa đã được giao phó cho Ngài.

#2. Trong các Giáo phận Đại diện Tông Tòa và Phủ doãn Tông Tòa, thì vị Đại diện hoặc vị Phủ doãn phải thiết lập một Hội Đồng gồm ít nhất là ba linh mục thừa sai, mà các Ngài phải hỏi ý kiến, kể cả bằng thư từ, trong những việc quan trọng.

* Điều 496: Hội Đồng Linh mục phải có qui chế riêng do Giám Mục Giáo phận chuẩn y, nhưng phải lưu ý tới những qui tắc Hội Đồng Giám Mục đã đề ra.

* Điều 497: Về việc bổ nhiệm các thành viên Hội Đồng Linh mục:

  • Chừng một nửa số thành viên sẽ do chính các linh mục tự do bầu, chiếu theo các Điều sau đây và chiếu theo qui chế;
  • Một số linh mục đương nhiên phải là thành viên chiếu theo qui chế, nghĩa là các linh mục thuộc Hội Đồng do chức vụ đã được trao phó cho các Ngài;
  • Giám Mục Giáo phận có toàn quyền bổ nhiệm cách tự do một ít linh mục khác.

* Điều 498: #1. Có quyền bầu cử và ứng cử để thành lập Hội Đồng Linh mục:

  • Tất cả các linh mục triều đã nhập tịch Giáo phận;
  • Các linh mục triều không nhập tịch Giáo phận, cùng các linh mục thành viên của một Tu Hội Dòng hoặc của một Hội Dòng đời sống Tông đồ nào, hiện ngụ trong Giáo phận và thi hành một chức vụ nào đó để mưu ích cho Giáo phận.

#2. Trong mức độ qui chế dự liệu, có thể ban quyền bầu cử, ứng cử ấy

cho những linh mục khác có gia cư hoặc chuẩn cư trong Giáo phận.

* Điều 499: Thể thức bầu cử các thành viên của Hội Đồng Linh mục phải do qui chế ấn định, sao cho trong mức độ có thể, các linh mục trong Linh mục đoàn đều được đại diện nhưng phải lưu ý tới các thừa tác vụ khác nhau và các miền khác nhau của Giáo phận.

* Điều 500: #1. Thuộc về Giám Mục Giáo phận; việc triệu tập Hội Đồng Linh mục, chủ tọa và ấn định các vấn đề sẽ được bàn tại Hội Đồng hoặc tiếp nhận các vấn đề sẽ được bàn tại Hội Đồng hoặc tiếp nhận các vấn đề do các thành viên đề nghị.

#2. Hội Đồng Linh mục chỉ có quyền tư vấn mà thôi, Giám Mục Giáo phận phải tham khảo Hội Đồng trong những việc quan trọng hơn, nhưng chỉ cần có sự đồng ý của Hội Đồng trong những trường hợp mà luật đã minh nhiên ấn định.

#3. Hội Đồng Linh mục không bao giờ có thể hành động mà không có Giám Mục Giáo phận, cũng chỉ có một mình Ngài phải lo phổ biến những gì được ấn định chiếu theo #2.

* Điều 501: #1. Các thành viên của Hội Đồng Linh mục phải được đắc cử cho một thời gian đã được ấn định trong qui chế, nhưng sao cho toàn bộ hay một phần nào đó của Hội Đồng được thay thế trong vòng năm năm.

#2. Khi Tòa Giám mục khuyết vị, Hội Đồng Linh mục chấm dứt và Hiệp đoàn tư vấn đảm nhiệm các công việc của Hội Đồng; trong vòng một năm kể từ khi nhậm chức, Giám Mục phải lập lại Hội Đồng Linh mục.

#3. Nếu Hội Đồng Linh mục không làm tròn nhiệm vụ đã được giao phó để mưu ích cho Giáo phận, hoặc lạm dụng cách nghiêm trọng nhiệm vụ ấy, thì , sau khi tham khảo ý kiến vị Tổng Giáo tỉnh, hoặc nếu là vấn đề của Tòa Trưởng Giáo tỉnh, tham khảo ý kiến của Giám mục thâm niên hơn thuộc Giáo tỉnh xét về ngày thăng chức, Giám Mục Giáo phận có thể giải tán Hội Đồng Linh mục, nhưng trong vòng một năm phải lập lại Hội Đồng ấy.

* Điều 502: #1. Trong số các thành viên của Hội Đồng Linh mục, Giám Mục Giáo phận tự do bổ nhiệm một số linh mục không ít hơn sáu người và cũng không nhiều hơn mười hai người, để họp thành Hiệp đoàn tư vấn trong thời gian năm năm, với những nhiệm vụ do luật ấn định, nhưng mãn thời gian năm năm, Hiệp đoàn tư vấn vẫn tiếp tục thi hành các nhiêm vụ riêng của mình cho đến khi Hiệp đoàn tư vấn mới được thành lập.

#2. Giám Mục Giáo phận đứng đầu Hiệp đoàn tư vấn, nhưng khi Tòa Giám mục bị ngăn trở hoặc khuyết vị, thì vị đứng đầu là người tạm thời thay thế Giám mục, hoặc nếu vị nầy chưa được cắt đặt thì là linh mục thâm niên hơn trong Hiệp đoàn tư vấn xét về ngày phong chức.

#3. Hội Đồng Giám mục có thể ấn định trao cho Hội Kinh sĩ Nhà Thờ Chính Tòa các nhiệm vụ của Hiệp đoàn tư vấn.

#4. Trong các Giáo phận Đại diện Tông Tòa và Phủ doãn Tông Tòa, thì các nhiệm vụ của Hiệp đoàn tư vấn thuộc Hội Đồng Thừa sai nói ở Điều 495 #2 trừ khi luật ấn định thể khác.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle