|
|
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM QUYỂN IV PHẦN III TIẾT 1 * Điều 1205:Nơi thánh là những nơi đã được cung hiến hay làm phép theo như các sách phụng vụ đã qui định, để dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa hay chôn cất các tín hữu. * Điều 1206:Việc cung hiến một nơi là quyền của Giám Mục Giáo phận và những ai được luật coi là tương đương với Ngài, các vị nầy có thể trao việc cung hiến ấy trong địa hạt của mình cho bất cứ Giám mục nào, hay trong những trường hợp ngoại lệ cho bất cứ linh mục nào. * Điều 1207:Các nơi thánh thì do vị Thường quyền làm phép; nhưng làm phép các nhà thờ thì được dành riêng cho Giám Mục Giáo phận; cả hai vị có thể ủy quyền cho một linh mục khác làm việc ấy. * Điều 1208:Sau khi đã cung hiến hay làm phép nhà thờ cũng như sau khi đã làm phép nghĩa địa, phải soạn thảo chứng thư về việc ấy, phải giữ một bản tại Tòa Giám Mục, một bản tại văn khố của nhà thờ. * Điều 1209:Một nhân chứng đáng tin không thể nghi ngờ, cũng đủ để chứng minh việc cung hiến hay làm phép một nơi nào đó, miễn là bằng chứng ấy không làm thiệt hại ai. * Điều 1210:Trong nơi thánh chỉ cho phép làm những gì giúp thi hành hay thăng tiến việc phụng vụ, lòng đạo đức và sùng mộ, và cấm bất cứ những gì không xứng với nơi thánh. Nhưng vị thường quyền có thể cho phép từng lần dùng, dùng vào các việc khác, miễn là không nghịch với nơi thánh. * Điều 1211:Những nơi thánh bị xúc phạm do những hành vi được thực hiện tại đó gây tổn thương nặng nề và làm tín hữu vấp phạm, những hành vi nầy, theo xét đoán của vị Thường quyền sở tại, là những hành vi nghiêm trọng và nghịch lại với nơi thánh, đến nỗi không được phép cử hành việc phượng tự tại đó, cho đến khi làm một nghi lễ sám hối đền tạ theo các sách phụng vụ. * Điều 1212:Những nơi thánh mất tính cung hiến hay làm phép, nếu phần lớn bị phá hủy hay bị đem ra sử dụng vào những việc phàm tục một cách thường xuyên hoặc do sắc lệnh những vị Thường quyền có thẩm quyền hoặc do thực tế. * Điều 1213:Giáo quyền được tự do thi hành các quyền và nhiệm vụ của mình trong các nơi thánh. CHƯƠNG I: NHÀ THỜ * Điều 1214:Nhà thờ là nhà thánh dành riêng cho việc thờ phượng Thiên Chúa, nơi các tín hữu có quyền lui tới để thực hành việc thờ phượng Thiên Chúa, nhất là cách công cộng. * Điều 1215:#1. Không nhà thờ nào được xây cất, nếu không có sự đồng ý minh nhiên bằng giấy tờ của Giám Mục Giáo phận. #2 . Giám Mục Giáo phận chỉ nên đồng ý, nếu sau khi đã hỏi ý Hội Đồng Linh mục và Quản đốc các thánh đường lân cận mà thấy nhà thờ mới có thể đem lại lợi ích cho các linh hồn, và sẽ không thiếu những phương tiện để xây cất nhà thờ và làm việc thờ phượng Thiên Chúa. #3 . Cả những Tu hội dòng, mặc dầu đã được Giám Mục Giáo phận đồng ý cho phép lập nhà mới trong Giáo phận hay trong thành phố, cũng phải có phép Ngài trước khi xây cất nhà thờ ở một nơi nào đích xác và nhất định. * Điều 1216:Khi xây cất và tu bổ nhà thờ phải hỏi ý kiến của các nhà chuyên môn và phải giữ những nguyên tắc và qui tắc phụng vụ và mỹ thuật thánh. * Điều 1217:#1. Khi đã xây xong nhà thờ mới phải được sớm hết sức cung hiến hoặc ít là phải được làm phép, theo luật phụng vụ thánh. #2 . Các nhà thờ, nhất là nhà thờ chính tòa và nhà thờ giáo xứ, phải được cung hiến cách trọng thể. * Điều 1218:Mỗi nhà thờ phải có tước hiệu riêng và tước hiệu nầy không được thay đổi sau khi đã hoàn tất việc cung hiến. * Điều 1219:Trong nhà thờ đã được cung hiến hay làm phép một cách hợp pháp, có thể cử hành mọi hành vi phượng tự Thiên Chúa; vẫn giữ nguyên những quyền thuộc giáo xứ. * Điều 1220:#1. Mọi người liên hệ phải lo giữ các nhà thờ được sạch và đẹp xứng với nhà Thiên Chúa và loại bỏ những gì không thích hợp với nơi thánh. #2 . Để bảo quản những đồ thánh và quí giá, phải thường xuyên săn sóc giữ gìn và dùng những phương tiện an toàn thích hợp. * Điều 1221:Trong lúc cử hành các nghi lễ thánh, việc vào nhà thờ phải được tự do và miễn phí. * Điều 1222:#1. Nếu nhà thờ không thể được dùng cách nào nữa vào việc thờ phượng Thiên Chúa và cũng không thể tu bổ lại, Giám Mục Giáo phận có thể chuyển sang cho dùng vào những việc trần thế không bất xứng. #2 . Khi có những lý do trầm trọng khác khiến một nhà thờ không dùng được nữa, vào việc thờ phượng Thiên Chúa, Giám Mục Giáo phận, sau khi hỏi ý kiến Hội Đồng Linh mục, có thể chuyển sang cho dùng vào việc trần thế không bất xứng, với sự đồng ý của những người có quyền hợp pháp đối với nhà thờ ấy, và miễn là lợi ích của các linh hồn không vì đó mà bị thiệt hại. CHƯƠNG II NHÀ NGUYỆN VÀ NHÀ NGUYỆN TƯ * Điều 1223:Nhà ngưyện là nơi vị Thường quyền ban phép để thờ phượng Thiên Chúa vì lợi ích của một cộng đồng hay một nhóm tín hữu tập họp tại đó, các tín hữu khác cũng có thể lui tới nơi ấy với sự đồng ý của Bề trên có thẩm quyền. * Điều 1224:#1. Vị Thường qưyền chỉ nên cho phép cần phải có để thiết lập nhà nguyện, sau khi đã đích thân hay nhờ người khác đến quan sát nơi dành làm nhà nguyện và thấy nơi ấy đã được bố trí xứng đáng. #2 . Khi đã được phép rồi, nhà nguyện không thể được chuyển sang cho dùng vào việc trần thế nếu không có phép của vị Thường quyền ấy. * Điều 1225:Trong các nhà nguyện đã được thiết lập cách hợp pháp, có thể cử hành mọi nghi lễ thánh, trừ những nghi lễ nào luật hoặc qui định của vị Thường quyền sở tại cấm, hoặc nghịch lại với những qui tắc phụng vụ. * Điều 1226:Nhà nguyện tư là nơi đã được vị Thường quyền sở tại cho phép dùng vào việc phượng tự Thiên Chúa, vì lợi ích của một hay nhiều thể nhân. * Điều 1227:Các Giám mục có thể thiết lập cho mình một nhà nguyện tư, nhà nguyện tư nầy được hưởng những quyền lợi như một nhà nguyện. * Điều 1228:Để cử hành thánh lễ hay các nghi lễ thánh khác trong một nhà nguyện tư nào, cần phải có phép của vị Thường quyền sở tại; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1227. * Điều 1229:Nên làm phép nhà nguyện và nhà nguyện tư theo nghi lễ được qui định trong các sách phụng vụ, nhưng chúng phải được dành riêng để thờ phượng Thiên Chúa mà thôi, và không được dùng vào bất cứ việc gì trong gia đình. CHƯƠNG III: ĐỀN THÁNH * Điều 1230:Đền thánh là nhà thờ hay nơi thánh nào khác, có đông đảo tín hữu hành hương tới đó vì lòng sùng mộ đặc biệt, với sự chấp thuận của vị Thường quyền sở tại. * Điều 1231:Để có thể gọi là Đền Thánh toàn quốc thì phải được Hội Đồng Giám mục chấp thuận; để có thể gọi là Đền Thánh quốc tế, phải có sự chấp thuận của Tòa Thánh. * Điều 1232:#1. Vị Thường quyền sở tại có thẩm quyền phê chuẩn qui chế Đền Thánh Giáo phận; Hội Đồng Giám mục có thẩm quyền phê chuẩn qui chế Đền Thánh quốc gia; chỉ một mình Tòa Thánh có thẩm quyền phê chuẩn qui chế Đền Thánh quốc tế. #2 . Qui chế phải ấn định cách riêng về mục đích, quyền bính của vị Quản Đốc, quyền sở hữu và việc quản trị các tài sản. * Điều 1233:Có thể ban cho Đền Thánh một số đặc ân mỗi khi thấy nên làm như vậy vì hoàn cảnh địa phương, vì số đông đảo các người hành hương và nhất là vì lợi ích của các tín hữu. * Điều 1234:#1. Tại các Đền Thánh phải lo cho các tín hữu có các phương tiện cứu độ dồi dào, như ân cần rao giảng Lời Chúa, cổ võ cách thích hợp đời sống phụng vụ, nhất là bằng việc cử hành bí tích Thánh Thể và bí tích Sám Hối, cũng như duy trì các hình thức sùng đạo bình dân đã được chuẩn nhận. #2 . Phải trưng bày và gìn giữ an toàn trong các Đền Thánh hoặc các nơi kề cận, những kỷ vật dâng cúng có giá trị nghệ thuật bình dân và biểu lộ lòng sùng đạo. CHƯƠNG IV: BÀN THỜ * Điều 1235:#1. Bàn thờ hay bàn trên đó cử hành Hiến tế tạ ơn, gọi là cố định, nếu được xây gắn liền với nền nhà, và vì thế không thể di chuyển được; gọi là di động, nếu có thể di chuyển được. #2 . Trong mọi nhà thờ nên có bàn thờ cố định, còn trong các nơi khác dành cho việc cử hành nghi lễ thánh, bàn thờ có thể cố định hay di động. * Điều 1236:#1. Theo truyền thống Giáo Hội, mặt bàn thờ cố định phải bằng đá và còn phải làm nguyên một phiến đá tự nhiên. Nhưng cũng có thể dùng một vật liệu khác xứng đáng và rắn chắc, theo sự xét đoán của Hội Đồng Giám mục. Còn các cột hay phần chống đỡ có thể làm bằng bất cứ vật liệu nào. #2 . Bàn thờ di động có thể làm bằng bất cứ vật liệu rắn chắc nào, hợp với thông lệ phụng vụ. * Điều 1237:#1. Bàn thờ cố định phải cung hiến, còn bàn thờ di động phải cung hiến hoặc làm phép theo nghi lễ được qui định trong các sách phụng vụ. #2 . Phải theo truyền thống cổ kính cất giữ di tích các Thánh Tử đạo hay các Thánh khác dưới bàn thờ cố định theo các qui tắc được ghi trong các sách phụng vụ. * Điều 1238:#1. Bàn thờ mất tính cách đã được cung hiến hay đã làm phép chiếu Điều 1212. #2 . Khi dùng nhà thờ hay nơi thánh khác vào việc phàm tục, thì bàn thờ cố định hay di động không mất tính cách đã được cung hiến hay đã được làm phép. * Điều 1239:#1. Cả bàn thờ cố định lẫn bàn thờ di động chỉ được dùng vào việc thờ phượng Thiên Chúa, hoàn toàn không được dùng vào bất cứ việc phàm tục nào. #2 . Dưới bàn thờ không được chôn cất thi thể nào; chẳng vậy, không được phép cử hành Thánh lễ trên bàn thờ đó. CHƯƠNG V: NGHĨA ĐỊA * Điều 1240:#1. Nơi nào có thể, phải có nghĩa địa riêng của Giáo Hội hay ít ra một khoảng đất trong nghĩa địa dân sự dành cho tín hữu đã qua đời, và khoảng đất nầy phải được làm phép cho đúng cách. #2 . Nếu không được như vậy, thì mỗi lần từng ngôi mộ phải được làm phép cho đúng cách. * Điều 1241#1. Các giáo xứ và các Tu hội dòng có thể có nghĩa địa riêng. #2 . Các pháp nhân khác hay các gia đình cũng có thể có nghĩa địa hay phần mộ riêng, phải được làm phép tùy theo sự xét đoán của vị Thường quyền sở tại. * Điều 1242:Không được chôn cất thi thể trong nhà thờ, trừ thi thể Đức Giáo Hoàng Rôma, hoặc thi thể các Hồng Y hay các Giám Mục Giáo phận, kể cả các Giám Mục Giáo phận hồi hưu, thì phải được chôn cất trong nhà thờ của mình. * Điều 1243:Luật đặc lập phải ấn định những qui tắc thích hợp về kỷ luật phải giữ trong các nghĩa địa, nhất là về những gì liên quan tới việc bảo vệ và duy trì tính cách thiêng liêng của những nơi ấy. TIẾT II: THỜI GIỜ THÁNH THIÊNG * Điều 1244:#1. Chỉ một mình quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có quyền thiết lập, chuyển dịch, hủy bỏ những ngày lễ cũng như các ngày sám hối chung cho Giáo Hội toàn cầu; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1246 #2. #2. Các Giám Mục Giáo phận có thể ấn định cho Giáo phận hay các nơi thuộc quyền mình, các ngày lễ hoặc ngày sám hối riêng, nhưng chỉ từng lần mà thôi. * Điều 1245:Vẫn giữ nguyên quyền Giám Mục Giáo phận nói ở Điều 87, Linh mục chính xứ, vì lý do chính đáng, và theo qui định của Giám Mục Giáo phận, có thể trong từng trường hợp chuẩn chước khỏi nghĩa vụ phải giữ ngày lễ hay ngày sám hối, hoặc thay thế bằng các việc lành khác; Bề trên Tu hội dòng hay Hội đời sống tông đồ, nếu là những tổ chức giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng, cũng có quyền ấy đối với những người thuộc quyền mình và những người khác đêm ngày cư ngụ trong nhà. CHƯƠNG I: CÁC NGÀY LỄ * Điều 1246:#1. Chúa nhật là ngày cử hành Mầu nhiệm Vượt Qua theo truyền thống Tông đồ, ngày đó phải được giữ như là ngày lễ buộc chính yếu trong toàn thể Giáo Hội. Cũng thế, phải giữ những ngày lễ Sinh Nhật Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta, lễ Hiển Linh, lễ Thăng Thiên, lễ Mình và Máu Rất Thánh Đức Kitô, lễ Thánh Maria Mẹ Thiên Chúa, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm và Hồn Xác lên trời, lễ Thánh Giuse, lễ hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, sau cùng là lễ Các Thánh. #2 . Tuy nhiên, khi được Tông Tòa chuẩn nhận trước, Hội Đồng Giám mục có thể hủy bỏ hay chuyển sang ngày Chúa nhật một số lễ buộc. * Điều 1247:Chúa nhật và các lễ buộc khác, tín hữu buộc phải tham dự thánh lễ; lại nữa, phải kiêng những việc làm và những hoạt động làm cản trở việc thờ phượng Thiên Chúa, niềm vui riêng trong ngày của Chúa, hoặc việc nghỉ ngơi tinh thần và thể xác cần phải có. * Điều 1248:#1. Ai đã tham dự thánh lễ cử hành bất cứ ở đâu, theo lễ nghi Công giáo hoặc chính ngày lễ hoặc chiều ngày áp lễ, thì đã giữ trọn luật buộc phải tham dự thánh lễ. #2 . Nếu vì thiếu thừa tác viên thánh hay vì lý do quan trọng nào khác không thể tham dự vào việc cử hành thánh lễ tạ ơn, rất nên khuyến khích các tín hữu tham dự vào Phụng vụ Lời Chúa nếu được cử hành theo qui định của Giám Mục Giáo phận trong nhà thờ giáo xứ hay nơi thánh nào khác, hoặc cầu nguyện trong một thời gian thích hợp, một mình hoặc trong gia đình hay tùy dịp trong các nhóm gia đình. CHƯƠNG II: CÁC NGÀY SÁM HỐI * Điều 1249:Luật Thiên Chúa buộc mọi Kitô hữu phải làm việc sám hối, mỗi người theo cách thức của mình, nhưng để mọi người hiệp nhất trong việc sám hối chung, những ngày sám hối được qui định để những ngày ấy các Kitô hữu cầu nguyện cách đặc biệt, thi hành việc đạo đức và bác ái, từ bỏ chính mình bằng việc chu toàn các nghĩa vụ riêng cách trung thành hơn, và nhất là bằng việc giữ chay và kiêng thịt, chiếu theo các Điều sau đây. * Điều 1250:Những ngày và Mùa Sám Hối trong Giáo Hội toàn cầu là những ngày thứ sáu trong cả năm và Mùa Chay. * Điều 1251:Phải kiêng thịt, hay kiêng của ăn nào khác theo qui định của Hội Đồng Giám mục, các ngày thứ sáu trong năm, trừ khi những ngày ấy trùng với một ngày nào khác trong số những ngày lễ trọng; còn luật kiêng thịt và ăn chay thì phải giữ ngày thứ tư Lễ Tro và ngày thứ sáu kính cuộc khổ nạn và sự chết của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta. * Điều 1252:Ai đã trọn 14 tuổi buộc phải giữ luật kiêng thịt; còn luật ăn chay buộc tất cả những người thành niên cho đến khi bắt đầu 60 tuổi. Tuy nhiên các vị Chủ chăn và cha mẹ phải lo sao để cả những người vị thành niên không buộc ăn chay kiêng thịt cũng được thấm nhuần tinh thần sám hối đích thực.* Điều 1253:Hội Đồng Giám mục có thể ấn định rõ hơn luật giữ chay và kiêng thịt, cũng như có thể thay thế toàn phần hay một phần việc kiêng thịt và ăn chay bằng những hình thức sám hối khác, nhất là bằng những việc bác ái và việc đạo đức. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |