Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
GIÁO LUẬT HỘI THÁNH CÔNG GIÁO
  --- 1983 ---

QUYỂN II
DÂN THIÊN CHÚA

PHẦN I
CÁC KITÔ HỮU

* Điều 204: #1. Các tín hữu Kitô, với tư cách là người đã được sáp nhập vào Chúa Kitô nhờ Bí tích Thánh Tẩy, cấu thành dân Thiên Chúa và, do đó vì đã được thông phần, theo cách của mình, vào chức vụ tư tế, ngôn sứ và vương giả của Đức Kitô nên được mờI gọi mỗi người, theo địa vị riêng mình, thực thi sứ mạng Thiên Chúa đã trao cho Giáo Hội phảI chu toàn nơi trần gian.

#2. Giáo Hội nầy, được thiết lập và tổ chức như một xã hội ở trần gian, được nhận thấy nơi Giáo Hội Công giáo, do Đấng kế vị Thánh Phêrô và các Giám Mục thông hiệp với Ngài cai trị.

* Điều 205: Được thông hiệp trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo nơi trần gian là những ngườI đã được Thánh Tẩy và liên kết với Đức Kitô trong cơ cấu hữu hìnhcủa Giáo Hội nhờ mối dây hiệp nhất do việc tuyên xưng đức tin, lãnh các Bí tích và nhận quyền lãnh đạo của Giáo Hội.

* Điều 206: #1. Được liên kết cách riêng với Giáo Hội là các dự tòng những người nhờ Chúa Thánh Thần thúc đẩy, đã minh nhiên ngỏ ý xin sáp nhập vào Giáo Hội và do chính ước nguyện ấy cũng như do đời sống tin, cậy, mến họ đang sống, họ liên kết với Giáo Hội và được Giáo Hội ấp ủ như người của mình.

#2. Giáo Hội săn sóc cách riêng những ngườI dự tòng: Khi mời gọi họ sống cuộc đời Tin Mừng và khi dẫn đưa họ vào cử hành các nghi thức Thánh, Giáo Hội đã ban cho họ nhiều đặc ân khác nhau thuộc riêng các Kitô hữu.

* Đìều 207: #1. Do Thiên Chúa thiết lập, trong Giáo Hội, giữa các tín hữu Kitô có những thừa tác viên chức thánh mà trong Giáo Luật cũng gọi là Giáo sĩ; còn các người khác gọi là giáo dân.

#2. Từ cả hai hạng người nầy có những tín hữu Kitô, do tuyên giữ những lời khuyên Phúc Âm bằng lời khấn hoặc bằng những dây ràng buộc thánh khác, được Giáo Hội công nhận và phê chuẩn, được thánh hiến cho Thiên Chúa theo cách thức riêng và giúp vào sứ mạng cứu rỗi của Giáo Hội. Bậc nầy tuy không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Giáo Hội, nhưng gắn liền với đời sống và sự thánh thiện của Giáo Hội.

TIẾT I
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA MỌI TÍN HỮU KITÔ

* Điều 208: Mọi tín hữu Kitô, vì được tái sinh trong Đức Kitô, đều thực sự bình đẳng với nhau về chức vị và hành động, do đó tất cả đều cộng tác vào việc xây dựng Thân Mình Đức Kitô, mỗi người theo địa vị và nhiệm vụ riêng của mình.

* Điều 209: #1. Các tín hữu Kitô có nghĩa vụ phải luôn luôn duy trì sự hiệp thông với Giáo Hội cả trong cách hành động của mình.

#2. Các tín hữu Kitô phải rất ân cần chu toàn các bổn phận đối với Giáo Hội toàn cầu cũng như đối với Giáo Hội địa phương mà họ là thành viên chiếu theo những qui định của luật.

* Điều 210: Mọi tín hữu Kitô, tùy theo địa vị riêng, phải cố gắng sống thánh thiện và cổ võ cho Giáo Hội được phát triển và được thánh hóa liên lỉ.

* Điều 211: Mọi tín hữu Kitô có bổn phận và có quyền hoạt động để cho sứ điệpCứu Độ của Chúa ngày càng lan rộng đến tất cả mọi người thuộc mọi thời đại và mọi nơi trên hoàn cầu.

* Điều 212: #1. Các tín hữu Kitô, ý thức trách nhiệm của mình, buộc phải giữ bằng đức tuân phục Kitô giáo những gì các vị Chủ Chăn thánh thiêng như đại diện Đức Kitô minh định với tư cách là Thầy dạy đức tin hoặc qui định với tư cách là những vị lãnh đạo Giáo Hội.

#2. Các tín hữu Kitô được trọn quyền bày tỏ cho các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội những nhu cầu của mình, nhất là những nhu cầu thiêng liêng và những nguyện vọng của mình.

#3. Theo sự hiểu biết, khả năng chuyên môn và uy tín của mình, các tín hữu Kitô có quyền, đôi khi còn có bổn phận bày tỏ cho các vị Chủ Chăn thánh thiêng ý kiến của mình về những gì liên quan tới lợi ích Giáo Hội và bày tỏ những ý kiến ấy cho các tín hữu Kitô khác, nhưng vẫn tôn trọng sự toàn vẹn tín lý và luân lý và vẫn giữ lòng tôn kính đối với các vị Chủ Chăn cũng như phải lưu ý đến công ích và phẩm giá con người.

* Điều 213: Các tín hữu Kitô có quyền nhận từ các vị Chủ Chăn thánh thiêng những trợ giúp do những ơn ích thiêng liêng thuộc Giáo Hội, nhất là từ Lời Chúa và các Bí tích.

* Điều 214: Các tín hữu Kitô có quyền thờ phượng Thiên Chúa theo những qui định của Lễ nghi riêng đã được các vị Chủ Chăn hợp pháp trong Giáo Hội phê chuẩn và có quyền theo một hình thức riêng trong đời sống thiêng liêng, nhưng phù hợp với giáo lý của Giáo Hội.

* Điều 215: Các tín hữu Kitô có trọn quyền tự do thành lập và điều khiển các Hiệp Hội nhằm mục đích bác ái hay đạo đức, hoặc nhằm cổ võ ơn gọi Kitô trong thế giới, cũng có trọn quyền hội họp để cùng chung với nhau theo đuổi những mục đích ấy.

* Điều 216: Vì thông phần sứ mạng của Giáo Hội, mọi tín hữu Kitô có quyền dùng cả những sáng kiến riêng cổ võ và nâng đỡ hoạt động tông đồ, mỗi người tùy theo bậc sống và địa vị mình, nhưng không sáng kiến nào được mang danh là công giáo trừ khi thẩm quyền Giáo Hội đã đồng ý.

* Điều 217: Do Thánh Tẩy, các tín hữu Kitô được mời gọi sống phù hợp với giáo lý Phúc Âm, nên họ có quyền được hưởng một nền giáo dục Kitô, nhờ đó họ được huấn luyện thích đáng để đạt tới sự trưởng thành nhân bản và đồng thời để biết và sống Mầu Nhiệm Cứu Độ.

* Điều 218: Những ai chuyên về các môn học thánh, được hưởng quyền tự do chính đáng nghiên cứu cũng như quyền phát biểu ý kiến mình cách khôn ngoan trong những vấn đề họ chuyên môn, nhưng vẫn giữ lòng tuân phục phải có đối với huấn quyền của Giáo Hội.

* Điều 219: Tất cả tín hữu Kitô có quyền lựa chọn bậc sống mà không bị bất cứ một áp lực nào chế ngự.

* Điều 220: Không ai được phép xâm phạm cách bất hợp pháp thanh danh của người nào, cũng không được vi phạm quyền của bất cứ ai có để bênh vực đời sống riêng tư của mình.

* Điều 221: #1. Các tín hữu Kitô có quyền đòi hỏi và bênh vực cách hợp pháp những quyền họ hưởng trong Giáo Hội trước tòa có thẩm quyền của Giáo Hội chiếu luật.

#2. Nếu được thẩm quyền mời ra tòa, các tín hữu Kitô cũng có quyền chịu xét xử theo những qui định của luật, nhưng những qui định nầy phải được áp dụng cách tương bình.

#3. Các tín hữu Kitô có quyền chỉ chịu hình phạt của Giáo Hội chiếu luật.

* Điều 222: #1. Các tín hữu Kitô có nghĩa vụ phải đáp ứng những nhu cầu của Giáo Hội, để Giáo Hội sẵn có những gì cần thiết cho việc thờ phượng Thiên Chúa, dùng huê lợi của riêng mình giúp người nghèo khó.

* Điều 223: #1. Khi hành sử những quyền của mình, các tín hữu Kitô, hoặc đứng riêng rẽ hoặc tập họp trong các đoàn thể, phải lưu ý tới công ích của Giáo Hội và những quyền của người khác cũng như những bổn phận của mình đối với người khác.

#2. Để nhằm công ích, Giáo Hội có quyền điều hành việc thực thi các quyền riêng của các tín hữu Kitô.

TIẾT II
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA NHỮNG TÍN HỮU KITÔ GIÁO DÂN

* Điều 224: Ngoài những nghĩa vụ và quyền lợi chung cho mọi tín hữu Kitô và những gì được ấn định trong các điều luật khác, các tín hữu Kitô giáo dân còn có những nghĩa vụ và quyền lợi được liệt kê trong các Điều thuộc Tiết nầy.

* Điều 225: #1. Vì các giáo dân cũng như mọi tín hữu Kitô, do Bí tích Thánh Tẩy và Thêm sức, được Thiên Chúa sai đi làm việc tông đồ, nên, hoặc đứng riêng rẽ từng người hoặc tập họp trong các đoàn thể, họ có nghĩa vụ chung và quyền lợi phải ra sức làm cho mọi người trên khắp hoàn cầu hiểu biết và đón nhận Tin Mừng Cứu Độ của Thiên Chúa; nghĩa vụ nầy còn cấp bách hơn trong những trường hợp mà chỉ nhờ họ người ta mới có thể nghe Tin Mừng và nhận biết Đức Kitô.

#2. Mỗi người, theo địa vị riêng, còn có nhiệm vụ đặc biệt làm cho trật tự các thực tại trần thế thấm nhuần tinh thần Phúc Âm và trở nên hoàn hảo, và như thế, họ làm chứng cho Đức Kitô cách đặc biệt trong việc điều hành những thực tại trên và trong việc thi hành những nghĩa vụ trần thế.

* Điều 226: #1. Những ai sống bậc hôn nhân, theo ơn gọi riêng, có nghĩa vụ đặc biệt hoạt động để xây dựng Dân Chúa bằng đời sống hôn nhân và gia đình.

#2. Vì đã truyền sinh cho con cái, cha mẹ có nhiệm vụ rất nặng và có quyền giáo dục chúng, vì thế, việc lo liệu cho con cái có được một nền giáo dục Kitô giáo theo giáo lý Giáo Hội, trước hết là việc của các cha mẹ Kitô hữu.

* Điều 227: Các tín hữu Kitô giáo dân có quyền được công nhận là mình có tự do trong những vấn đề trần thế như mọi công dân. Tuy nhiên, khi sử dụng quyền tự do ấy, họ phải lo liệu để hành động của họ được thấm nhuần tinh thần Phúc Âm và phải lưu ý tới giáo lý do huấn quyền Giáo Hội trình bày. Nhưng cẩn thận trình bày ý kiến riêng mình như là giáo lý của Giáo Hội, trong những vấn đề còn có nhiều ý kiến khác nhau.

* Điều 228: #1. Những giáo dân được thấy là có khả năng thích đáng, thì có tư năng để được các vị Chủ Chăn thánh nhận vào những giáo vụ và những nhiệm vụ nào mà chính họ có thể chu toàn theo những qui định của luật.

#2. Những giáo dân ưu tư về kiến thức, về khôn ngoan và hạnh kiểm, thì có tư năng giúp các vị Chủ Chăn trong Giáo Hội với tư cách là chuyên viên hoặc cố vấn cả trong Hội Đồng, chiếu luật.

* Điều 229: #1. Các giáo dân có nghĩa vụ và quyền lợi học hỏi giáo lý theo khả năng và địa vị riêng của mỗi người, để có thể sống theo giáo lý ấy và chính mình rao giảng và biện hộ nếu cần, và để có thể góp phần mình vào hoạt động tông đồ.

#2. Họ cũng có quyền học hỏi đầy đủ hơn về các môn thánh thiêng dạy trong các đại học hay các phân khoa của Giáo Hội hoặc trong các học viện khoa học tôn giáo, ở đó họ theo các lớp và lấy bằng cấp đại học.

#3. Cũng vậy, các giáo dân có tư năng được giáo quyền hợp pháp ủy nhiệm dạy các môn thánh thiêng, nhưng vẫn giữ nguyên những qui định được đặt ra về khả năng thích hợp đòi phải có.

* Điều 230: #1. Những nam giáo dân hội đủ tuổi và những đức tính được ấn định do sắc lệnh của Hội Đồng Giám mục có thể được nhận một cách vĩnh viễn vào những tác vụ Đọc Sách và Giúp Lễ, bằng một nghi thức phụng vụ đã được qui định; nhưng việc trao những tác vụ đó không ban cho họ quyền được Giáo Hội cấp dưỡng hoặc thù lao.

#2. Những giáo dân có thể được tạm thời chỉ định chu toàn nhiệm vụ đọc sách trong những hoạt động phụng vụ; cũng vậy, mọi giáo dân có thể chiếu luật thi hành những nhiệm vụ dẫn giải viên, ca viên hoặc các nhiệm vụ khác.

#3. Ở đâu Giáo Hội cần, vì thiếu các thừa tác viên, các giáo dân, mặc dầu không có tác vụ Đọc Sách hay Giúp Lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số nhiệm vụ, như thi hành thừa tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi kinh phụng vụ, ban Bí tích Thánh Tẩy và cho rước lễ, theo những qui định của luật.

* Điều 231: #1. Những giáo dân nào được nhận làm một dịch vụ đặc biệt trong Giáo Hội cách vĩnh viễn hoặc tạm thời, buộc phải có một sự huấn luyện thích hợp cần thiết để chu toàn nhiệm vụ của mình cách chính đáng và buộc phải chu toàn nhiệm vụ ấy cách ý thức, tận tụy và cần mẫn.

#2. Vẫn giữ nguyên Điều 230 #1, những giáo dân ấy có quyền hưởng thù lao xứng đáng hợp với địa vị của mình, để nhờ đó, có thể đáp ứng thích đáng những nhu cầu của riêng họ và của gia đình, theo cả những qui định của luật dân sự nữa; cũng vậy, họ có quyền được bảo đảm cách xứng đáng về quỹ dự phòng, an ninh xã hội và trợ cấp y tế.

TIẾT III
THỪA TÁC VIÊN THÁNH HAY GIÁO SĨ

CHƯƠNG I
HUẤN LUYỆN GIÁO SĨ

* Điều 232: Giáo Hội có nghĩa vụ và có quyền riêng và độc hữu huấn luyện những người được chỉ định vào các Tác vụ Thánh.

* Điều 233: #1. Toàn thể cộng đồng Kitô hữu có nhiệm vụ tán trợ các ơn gọi để đáp ứng đủ những nhu cầu của Tác vụ Thánh trong toàn Giáo Hội; nhiệm vụ nầy đặc biệt bắt buộc các gia đình Kitô hữu, các nhà giáo dục và cách riêng các Linh mục, nhất là Linh mục Chính xứ. Các Giám mục Giáo phận là những người phải lưu tâm hơn cả về việc cổ võ các ơn gọi, phải dạy cho giáo dân của mình biết rằng Tác vụ Thánh là quan trọng và các thừa tác viên là cần thiết trong Giáo Hội và phải khơi dậy, nâng đỡ những sáng kiến để tán trợ các ơn gọi, nhất là bằng những hội được lập ra nhằm mục đích ấy.

#2. Lại nữa, các Linh mục và nhất là các Giám Mục Giáo phận phải lo sao để dùng lời nói, việc làm khôn ngoan giúp đỡ và chuẩn bị cách thích đáng những người đứng tuổi trong nam giới tự thấy mình được gọi thi hành các Tác vụ Thánh.

* Điều 234: #1. Nơi nào có những Tiểu Chủng Viện hoặc những tổ chức khác tương tự nghĩa là những nơi lo liệu thực hiện sự huấn luyện riêng về tôn giáo đồng thời với sự huấn luyện nhân bản và khoa học, nhằm tán trợ ơn gọi, thì những tổ chức ấy phải được duy trì và tán trợ; hơn nữa, nơi nào Giám Mục Giáo phận xét là hữu ích, thì phải lo thiết lập Tiểu Chủng Viện hay tổ chức tương tự.

#2. Ngoại trừ trong một số trường hợp mà hoàn cảnh khuyên làm thế khác, các thanh niên có ý muốn tiến lên chức Linh mục, phải được huấn luyện về nhân bản và khoa học như các thanh niên ở địa phương của mình được chuẩn bị để theo học cấp cao hơn.

* Điều 235: #1. Các thanh niên có ý tiến lên chức Linh mục phải được đào tạo để có một đời sống thiêng liêng xứng hợp và phải được chuẩn bị cho các nhiệm vụ riêng tại Đại Chủng Viện trong suốt thời gian huấn luyện, hoặc ít nhất là trong 4 năm nếu các hoàn cảnh đòi

buộc theo sự thẩm đoán của Giám Mục Giáo phận.

#2. Những ai cư ngụ cách hợp pháp ở ngoài Chủng viện thì Giám Mục Giáo phận phải giao phó cho một Linh mục đạo đức và có khả năng thích hợp, Linh mục nầy phải lo cho họ được huấn luyện kỹ lưỡng về đời sống thiêng liêng và về kỷ luật.

* Điều 236: Các ứng viên chức Phó tế vĩnh viễn phải được đào tạo để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và phải được giáo dục để thi hành đúng cách những nhiệm vụ riêng của chức thánh ấy, theo những qui định của Hội Đồng Giám Mục:

  • Những ứng viên trẻ tuổi phải ở trong một nhà dành riêng nào đó ít nhất là 3 năm, trừ khi vì lý do quan trọng Giám Mục Giáo phận ấn định thể khác.
  • Những ứng viên đứng tuổi, hoặc độc thân hoặc đã kết bạn, phải được huấn luyện theo một chương trình 3 năm đã được Hội Đồng Giám Mục ấn định.

* Điều 237: #1. Trong mỗi giáo phận, nơi nào có thể được và hữu ích, phải có một Đại Chủng Viện; bằng không thì phải gởi các chủng sinh đang được chuẩn bị lãnh các Tác vụ Thánh vào một Chủng viện khác hoặc phải thiết lập một Chủng viện liên giáo phận.

#2. Không một Chủng viện liên Giáo phận nào có thể được thiết lập trước khi được sự chuẩn y của Tòa Thánh về việc thiết lập và những qui chế; sự chuẩn y trên, nếu là một Chủng viện cho toàn địa hạt thì Hội Đồng Giám Mục nhận, bằng không thì các Giám Mục liên hệ nhận.

* Điều 238: #1. Các Chủng viện đã được thiết lập cách hợp pháp thì do chính luật được hưởng tính pháp nhân trong Giáo Hội.

#2. Vị Giám đốc nhân danh chủng viện điều hành mọi công việc, trừ khi những việc rõ ràng đã được thẩm quyền ấn định thể khác.

* Điều 239: #1. Trong bất cứ chủng viện nào, phải có một giám đốc đứng đầu và khi cần, phải có một phó giám đốc, một quản lý, và nếu các chủng sinh theo học ngay tại chủng viện ấy, còn phải có các giáo sư giảng dạy các môn khác nhau được sắp xếp theo một chương trình thích hợp.

#2. Trong bất cứ chủng viện nào phải có ít nhất một vị linh hướng, tuy nhiên chủng sinh vẫn được tự do đến với các linh mục khác đã được Giám mục chỉ định làm công việc nầy.

#3. Qui chế chủng viện phải lo liệu sao cho có những phương cách để các vị điều hành khác, giáo sư và cả các chủng sinh nữa, tham gia vào trách nhiệm của giám đốc, nhất là trong việc giữ kỷ luật.

* Điều 240: #1. Ngoài các linh mục giải tội thường lệ, còn phải có các linh mục giải tội khác đến chủng viện đúng kỳ, và các chủng sinh luôn được trọn quyền đến với bất cứ linh mục giải tội nào hoặc trong hoặc ngoài chủng viện, nhưng phải tôn trọng kỷ luật chủng viện.

#2. Trong việc quyết định chấp nhận các chủng sinh tiến chức hoặc thải hồi khỏi chủng viện, không bao giờ được hỏi ý kiến của linh mục linh hướng và các linh mục giải tội.

* Điều 241: #1. Giám Mục Giáo phận chỉ nhận vào Đại chủng viện những ai Ngài xét có tư năng dấn thân vĩnh viễn cho các Tác vụ Thánh thiêng, căn cứ vào các đức tính nhân bản và luân lý, thiêng liêng và trí tuệ, vào sức khỏe thể xác và tâm linh cũng như vào ý chí ngay thẳng.

#2. Trước khi được nhận vào, họ phải trình các giấy chứng minh đã lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy và Thêm Sức và các giấy tờ khác đòi phải có theo qui định của chương trình huấn luyện linh mục.

#3. Nếu là việc nhận những người đã bị thải hồi khỏi một chủng viện khác hoặc khỏi một Tu hội Dòng, còn cần phải có giấy chứng minh của Bề Trên liên hệ, nhất là về lý do tại sao họ bị thải hồi hoặc họ bỏ ra đi.

* Điều 242: #1. Trong mỗi nước, phải có chương trình huấn luyện linh mục do Hội đồng Giám Mục thiết lập căn cứ vào các qui luật đã được quyền tối cao của Giáo Hội ban hành và phải được Tòa Thánh chuẩn y. Khi phải thích nghi chương trình nầy với hoàn cảnh mới thì cũng phải được Tòa Thánh chuẩn y. Chương trình nầy phải xác định những nguyên tắc chính yếu về việc huấn luyện phải có trong chủng viện và những qui tắc tổng quát thích nghi với những nhu cầu mục vụ của mỗi miền hay mội giáo tỉnh.

#2. Các qui tắc trong chương trình nói ở #1, phải được tuân giữ trong tất cả các chủng viện thuộc giáo phận cũng như liên giáo phận.

* Điều 243: Mỗi chủng viện còn phải có nội qui riêng được phê chuẩn do Giám Mục Giáo phận hay do Giám mục liên hệ nếu là chủng viện liên giáo phận; nội qui nầy phải thích nghi với các qui tắc của chương trình huấn luyện với những hoàn cảnh riêng và nhất là phải xác định rõ hơn những điểm kỷ luật liên quan đến đời sống hằng ngày của chủng sinh và đến tổ chức của toàn thể chủng viện.

* Điều 244: Trong chủng viện, việc huấn luyện đời sống thiêng liêng, và việc giảng dạy giáo lý phải hòa hợp với nhau và phải nhằm mục đích để các chủng sinh, tùy theo tính khí của mình cùng với mức trưởng thành nhân bản đòi phải có của mỗi người, đạt được tinh thần Phúc Âm và sự liên kết chặt chẽ với Đức Kitô.

* Điều 245: #1. Nhờ sự huấn luyện đời sống thiêng liêng, các chủng sinh phải có được khả năng thích hợp để thi hành có hiệu quả thừa tác mục vụ và phải được huấn luyện để có được tinh thần thừa sai, biết rằng thừa tác vụ luôn luôn được thực hiện với đức tin sống động và đức ái, góp phần vào việc thánh hóa bản thân mình; cũng thế, họ phải học tập các nhân đức được quí trọng trong cộng đồng nhân loại, đến mức họ có thể dung hòa cách thích hợp các giá trị nhân bản với các giá trị siêu nhiên.

#2. Phải huấn luyện thế nào để các chủng sinh, vì được thấm nhuần tình yêu Giáo Hội của Đức Kitô, được gắn bó với Đức Giáo Hoàng Rôma, Đấng kế vị Thánh Phêrô, với lòng mến khiêm tốn và hiếu thảo, họ liên kết với Giám mục của mình như là những cộng sự viên trung tín và cộng tác với các anh em; nhờ sống chung trong chủng viện và nhờ mối tương quan bằng hữu thân thiết với đồng bạn, chủng sinh được chuẩn bị để sống tình hợp nhất huynh đệ với linh mục đoàn giáo phận mà họ là những đồng nghiệp trong việc phục vụ Giáo Hội.

* Điều 246: #1. Việc cử hành Thánh Thể phải là trung tâm của toàn thể đời sống chủng viện, để hằng ngày nhờ thông phần chính đức ái của Đức Kitô, các chủng sinh múc lấy nhất là từ nguồn mạch rất phong phú nầy sức mạnh tâm hồn, để hoạt động tông đồ và để sống đời sống thiêng liêng của mình.

#2. Các chủng sinh phải được huấn luyện để cử hành phụng vụ các giờ kinh, nhờ đó, các thừa tác viên của Thiên Chúa, nhân danh Giáo Hội, cầu xin Thiên Chúa cho toàn dân đã được trao phó cho mình, hơn nữa cầu xin cho toàn thể thế giới.

#3. Phải cổ võ lòng tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria cả bằng việc lần hạt Mân Côi, cổ võ việc tâm nguyện và các việc đạo đức khác, nhờ đó, chủng sinh đạt được tinh thần cầu nguyện và được vững mạnh trong ơn gọi của mình.

#4. Chủng sinh phải tập cho quen lãnh nhận Bí tích Sám hối và khuyên mỗi người đều có một Cha Linh hướng, dĩ nhiên họ được tự do lựa chọn để có thể tin tưởng bày tỏ lương tâm.

#5. Hằng năm chủng sinh phải dự những cuộc tĩnh tâm.

* Điều 247: #1. Các chủng sinh phải được chuẩn bị bằng một nền giáo dục xứng hợp để giữ bậc sống độc thân, và phải học biết quí trọng bậc sống ấy như là một ơn riêng của Thiên Chúa.

#2. Phải dạy cách thích đáng cho các chủng sinh biết những nhiệm vụ và trọng trách thuộc riêng các thừa tác viên thánh của Giáo Hội, và đừng bỏ qua mà không nói đến một khó khăn nào của đời sống linh mục.

* Điều 248: Việc đào tạo về đạo lý phải được truyền đạt cho các chủng sinh để cùng với một nền văn hóa tổng quát đáp ứng nhu cầu địa phương và thời đại, các chủng sinh có được một nền đạo lý rộng rãi và vững chắc trong các môn thánh thiêng, sao cho, một khi niềm tin của họ được xây dựng trên đó và được nuôi dưỡng từ đó, họ có thể rao giảng cách thích đáng đạo lý Phúc Âm cho những người cùng thời, theo cách thích hợp với não trạng của những người ấy.

* Điều 249: Chương trình đào tạo linh mục phải trù liệu để các chủng sinh chẳng những được học kỹ lưỡng tiếng bản xứ mà còn thông thạo tiếng La-tinh, cũng như phải có kiến thức khá đủ về các ngoại ngữ nào xem ra cần thiết hoặc hữu ích cho việc huấn luyện họ và việc thi hành Thừa tác mục vụ.

* Điều 250: Những môn triết học và thần học được tổ chức ngay tại chủng viện có thể dạy kế tiếp hay đồng thời theo chương trình đào tạo linh mục; những môn đó phải gồm ít nhất sáu năm trọn, để có hai năm trọn dành cho những môn triết học còn bốn năm trọn dành cho những môn thần học.

* Điều 251: Việc giảng dạy triết học phải đặt cơ sở trên di sản triết học có giá trị vĩnh cửu, và cũng phải quan tâm đến những nghiên cứu triết học của thời hiện đại, và phải được giảng dạy thế nào để hoàn bị nền giáo dục nhân bản của các chủng sinh, tăng mức bén nhạy cho trí tuệ, và làm cho họ có khả năng hơn để học thần học.

* Điều 252: #1. Việc giảng dạy thần học phải được thực hiện trong ánh sáng đức tin dưới sự hướng dẫn của Huấn Quyền, để các chủng sinh biết toàn vẹn đạo lý Công giáo dựa trên mạc khải thần thiêng, làm cho đạo lý ấy thành của ăn thiêng liêng cho chính họ, và có thể rao truyền và biện hộ đạo lý ấy đúng cách trong khi thi hành tác vụ.

#2. Phải đặc biệt chăm lo cho các chủng sinh được học về Thánh Kinh, để họ có được một cái nhìn về toàn bộ Thánh Kinh.

#3. Phải có những giáo trình về thần học tín lý, luôn dựa trên Thánh Kinh và Thánh Truyền, để nhờ đó các chủng sinh, đặc biệt với Thánh Tôma làm tôn sư, học biết sâu sắc hơn các mầu nhiệm cứu độ, cũng phải có những giáo trình thần học luân lý, mục vụ, giáo luật, phụng vụ, giáo sử và các môn học phụ thuộc và chuyên biệt khác, chiếu theo các qui định của chương trình đào tạo linh mục.

* Điều 253: #1. Để dạy các môn triết học, thần học và luật học; Giám Mục hoặc các Giám Mục liên hệ chỉ bổ nhiệm những người có nhân đức nổi bật, có bằng tiến sĩ hoặc cử nhân của các Đại học hoặc phân khoa được Tòa Thánh công nhận.

#2. Phải liệu bổ nhiệm từng vị giáo sư riêng biệt nhau để dạy môn Thánh Kinh, thần học tín lý, thần học luân lý, phụng vụ, triết học giáo luật, giáo sử, và các môn nào khác cần được dạy với phương pháp riêng.

#3. Vị giáo sư nào thiếu sót nghiêm trọng trong nhiệm vụ mình, thì Quyền bính nói ở #1 phải giải nhiệm họ.

* Điều 254: #1. Khi dạy các môn học, các giáo sư luôn phải lưu tâm đến tính thống nhất mật thiết và hòa hợp của toàn bộ đạo lý đức tin, để các chủng sinh cảm thấy mình chỉ học một khoa học duy nhất; để đạt điều đó cách thích hợp hơn, trong chủng viện phải có một vị điều hành toàn bộ chương trình học.

#2. Phải dạy chủng sinh thế nào để chính họ cũng có tư năng nghiên cứu các vấn đề với phương pháp khoa học bằng những tìm tòi thích hợp riêng; vì thế, phải có những bài thực tập để chủng sinh cho biết hoàn thành một số nghiên cứu bằng công sức của mình dưới sự hướng dẫn của các giáo sư.

* Điều 255: Mặc dầu toàn bộ việc huấn luyện chủng sinh trong chủng viện nhằm mục đích mục vụ, nhưng trong chủng viện phải có chương trình huấn luyện chuyên biệt về mục vụ, để các chủng sinh học biết những nguyên tắc và phương pháp liên quan đến việc thực thi thừa tác vụ giảng dạy, thánh hóa và lãnh đạo Dân Chúa, nhưng vẫn phải lưu ý tới những nhu cầu của địa phương và thời đại.

* Điều 256: #1. Phải ân cần huấn luyện các chủng sinh về những điều liên quan cách đặc biệt với thừa tác vụ thánh thiêng, nhất là việc thực hành huấn giáo và giảng giải Phúc Âm, việc thờ phượng Thiên Chúa và cách riêng việc cử hành các Bí tích, việc giao tiếp với mọi người, cả người không công giáo hoặc người không tin, việc điều hành giáo xứ và các nhiệm vụ khác phải chu toàn.

#2. Phải dạy các chủng sinh về những nhu cầu của Giáo Hội toàn cầu, để họ lưu tâm đến việc cổ võ các ơn gọi, đến những vấn đề truyền giáo, đại kết và các vấn đề khẩn trương khác, cả những vấn đề xã hội.

* Điều 257: #1. Phải liệu huấn luyện cho các chủng sinh chẳng những lưu tâm đến Giáo Hội địa phương họ đã nhập tịch để phục vụ, mà còn lưu tâm đến Giáo Hội toàn cầu nữa, và sẵn sàng dấn thân phục vụ các Giáo Hội địa phương đang gặp phải nhu cầu hệ trọng.

#2. Giám Mục Giáo phận phải liệu cho các giáo sĩ muốn rời Giáo Hội địa phương của mình để đến một Giáo hội địa phương thuộc miền khác, được chuẩn bị cách thích hợp để thực thi thường tác vụ thánh thiêng tại đó, tức là học tiếng địa phương, và hiểu biết những định chế, những điều kiện xã hội, những tục lệ và thói quen của địa phương ấy.

* Điều 258: Để các chủng sinh học biết nghệ thuật hoạt động tồng đồ bằng chính thực hành, thì trong thời gian học và nhất là trong kỳ nghỉ, luôn dưới sự hướng dẫn của một linh mục có kinh nghiệm, họ phải bắt đầu làm quen với việc mục vụ, bằng những cuộc thực tập thích hợp tùy theo tuổi tác của các chủng sinh và điều kiện của các địa phương, được ấn định do sự xét đoán của Vị Thường quyền.

* Điều 259: #1. Giám Mục Giáo phận hoặc, nếu là chủng viện liên giáo phận, các Giám mục liên hệ, có nhiệm vụ quyết định những gì liên quan đến việc lãnh đạo và quản trị chủng viện.

#2. Giám mục Giáo phận hoặc, nếu là chủng viện liên giáo phận, các Giám mục liên hệ, phải đích thân năng thăm viếng chủng viện, quan tâm đến việc huấn luyện các chủng sinh của mình, việc giảng dạy triết học và thần học tại đó, và tìm hiểu về ơn gọi, tính tình, lòng đạo đức và sự tiến bộ của họ, nhất là để ban các chức thánh thiêng.

* Điều 260: Khi thi hành nhiệm vụ của mình, mọi người có bổn phận vâng lời vị giám đốc, là người hằng ngày phải lo điều hành chủng viện, chiếu theo Chương trình đào tạo linh mục và Nội qui của chủng viện.

* Điều 261: #1. Giám đốc chủng viện và, dưới quyền Ngài, các vị điều hành và các giáo sư, mỗi người theo phận sự mình phải lo cho các chủng sinh giữ đúng các qui tắc do chương trình đào tạo linh mục và nội qui chủng viện ấn định.

#2. Giám đốc chủng viện và giám học phải ân cần lo cho các giáo sư chu toàn đúng đắn nhiệm vụ của họ, theo những qui định của chương trình đào tạo linh mục và nội qui chủng viện.

* Điều 262: Chủng viện phải được miễn khỏi thuộc quyền lãnh đạo của giáo xứ: Giám đốc chủng viện hoặc vị thụ ủy của Ngài thi hành chức vụ chính xứ đối với mọi người ở trong chủng viện, ngoại trừ vấn đề hôn phối và vẫn giữ nguyên Điều 985.

* Điều 263: Giám mục Giáo phận hoặc các Giám mục liên hệ, nếu là chủng viện liên giáo phận, mỗi vị theo phần đã được ấn định do sự thỏa thuận giữa các Ngài với nhau, phải lo cung ứng vào việc thiết lập và bảo trì chủng viện, việc nuôi dưỡng các chủng sinh, cũng như thù lao các giáo sư và những nhu cầu khác của chủng viện.

* Điều 264: #1. Để cung ứng nhu cầu chủng viện, ngoài tiền quyên góp nói ở Điều 1266, Giám mục có thể đòi buộc một khoản đóng góp trong Giáo phận.

#2. Mọi pháp nhân thuộc Giáo Hội, cả pháp nhân tư có trụ sở trong giáo phận, đều phải đóng góp cho chủng viện trừ khi các pháp nhân chỉ sống nhờ của bố thí, hoặc khi trong đó hiện có một hiệp đoàn học viên hay giáo viên nhằm cổ võ công ích của Giáo Hội; sự đóng góp nầy phải là của mọi người và tương xứng với huê lợi của những người phải đóng góp và theo các nhu cầu của chủng viện.

CHƯƠNG II
GIÁO SĨ GIA NHẬP
HOẶC NHẬP TỊCH GIÁO PHẬN

* Điều 265: Bất cứ giáo sĩ nào cũng phải nhập tịch hoặc một Giáo Hội địa phương hay một Giám vụ đối nhân hoặc một Tu hội đời sống thánh hiến hay một Hội có năng quyền nầy; như vậy, tuyệt đối không chấp nhận những giáo sĩ không dưới quyền ai hay khi phiêu cư.

* Điều 266: #1. Ai đã lãnh nhận chức phó tế thì trở thành giáo sĩ và nhập tịch Giáo Hội địa phương hoặc Giám vụ đối nhân mà họ đã được tiến cử để phục vụ.

#2. Thành viên khấn vĩnh viễn trong một Tu hội dòng hoặc đã dứt khoát gia nhập một Hội giáo sĩ đời sống tông đồ, khi đã lãnh nhận chức phó tế thì thành viên ấy nhập tịch như một giáo sĩ vào Tu hội hay Hội ấy, trừ khi đối với các Hội, Hiến pháp ấn định thể khác.

#3. Thành viên Tu hội đời, sau khi đã lãnh nhận chức phó tế, nhập tịch vào Giáo Hội địa phương nào đã cho mình tiến chức để phục vụ, trừ khi Tông Tòa ban phép cho họ được nhập tịch vào chính Tu hội ấy.

* Điều 267: #1. Để một giáo sĩ đã nhập tịch rồi, được nhập tịch cách thành sự vào một Giáo Hội địa phương khác, họ phải được Giám Mục Giáo phận ban chứng thư xuất tịch do chính Ngài ký và cũng phải được Giám Mục Giáo phận của Giáo Hội địa phương họ muốn nhập tịch ban chứng thư nhập tịch do chính Ngài ký.

#2. Như vậy, việc cho xuất tịch chỉ có hiệu quả khi đã được nhập tịch vào Giáo Hội địa phương khác.

* Điều 268: #1. Một giáo sĩ đã bỏ Giáo Hội địa phương của mình sang một Giáo Hội địa phương khác cách hợp pháp, thì chiếu luật được nhập tịch Giáo Hội địa phương ấy sau năm năm, nếu họ đã ngỏ ý bằng văn thư, vừa với Giám Mục Giáo phận tiếp nhận, vừa với Giám Mục Giáo phận của mình, và nếu không vị nào trong hai vị ấy đã tỏ ý nghịch lại bằng văn thư trong vòng bốn tháng từ khi nhận được văn thư.

#2. Sau khi đã được nhận vĩnh viễn hoặc dứt khoát vào một Tu hội đời sống thánh hiến hoặc một Hội đời sống tông đồ, giáo sĩ nào chiếu Điều 266 #2 được nhập tịch vào Tu hội hoặc Hội ấy thì được xuất tịch khỏi Giáo Hội địa phương mình

* Điều 269: Giám Mục Giáo phận đừng cho phép giáo sĩ nhập tịch, trừ khi:

  • Nhu cầu hoặc lợi ích của Giáo Hội địa phương đòi hỏi và phải giữ những qui định của luật liên quan đến việc cấp dưỡng thích đáng cho các giáo sĩ;
  • Nhờ văn thư chính thức Ngài đã biết chắc đương sự được phép xuất tịch và ngoài ra Ngài đã được Giám mục Giáo phận cho xuật tịch cung cấp những chứng từ thích hợp, bí mật nếu cần, về đời sống, tác phong và học thức của giáo sĩ;
  • Giáo sĩ đã tỏ bày với Ngài bằng giấy tờ mình muốn hiến thân phục vụ Giáo Hội địa phương mới chiếu theo luật.

* Điều 270: Chỉ có thể cho phép xuất tịch một cách hợp pháp vì những lý do chính đáng, như: ích lợi của Giáo Hội hoặc thiện ích của chính giáo sĩ; nhưng không được từ chối cho phép xuất tịch trừ khi có lý do quan trọng; tuy nhiên, giáo sĩ nào thấy mình bị thiệt thòi và tìm được Giám mục chấp nhận mình thì được phép thượng cầu chống lại quyết định ấy.

* Điều 271: #1. Ngoại trừ trường hợp thật cần thiết cho Giáo Hội địa phương mình, Giám mục Giáo phận đừng từ chối ban phép cho các giáo sĩ nào Ngài biết là sẵn sàng và nghĩ là có khả năng thích hợp đi tới những miền đang thiếu trầm trọng giáo sĩ, để thi hành Thừa tác vụ thánh thiêng tại đó; những Ngài hãy liệu cho quyền lợi và nghĩa vụ của các giáo sĩ ấy được ấn định bằng hợp đồng trên giấy tờ với Giám mục Giáo phận nơi họ đến.

#2. Giám mục Giáo phận có thể ban phép cho giáo sĩ của mình chuyển đến một Giáo Hội địa phương khác trong một thời gian đã định trước và cũng có thể tái hạn nhiều lần, nhưng các giáo sĩ nầy vẫn nhập tịch Giáo Hội địa phương mình và khi trở về được hưởng mọi quyền lợi có thể có, nếu họ đã thi hành Thừa tác vụ thánh thiêng ở đó.

#3. Giáo sĩ nào đã chuyển đến Giáo Hội địa phương khác cách hợp pháp mà vẫn nhập tịch Giáo Hội mình, có thể được các Giám mục Giáo phận mình triệu hồi vì lý do chính đáng, miễn là tôn trọng sự tương bình tự nhiên và những hợp đồng đã ký kết với Giám mục kia; cũng thế, một khi đã tôn trọng các điều kiện ấy, Giám mục Giáo phận của Giáo Hội địa phương kia, vì lý do chính đáng, có thể từ chối không cho phép giáo sĩ ấy ở lại thêm trong địa hạt mình.

* Điều 272: Giám quản Giáo phận không thể ban phép xuất tịch và nhập tịch cũng như phép chuyển sang một Giáo Hội địa phương khác, trừ khi Tòa Giám mục khuyết vị được một năm và có sự đồng ý của Hiệp Đoàn Cố vấn.

CHƯƠNG III
NGHĨA VỤ VÀ QUYỀN LỢI CỦA CÁC GIÁO SĨ

* Điều 273: Các giáo sĩ có nghĩa vụ đặc biệt tỏ lòng tôn kính và tuân phục Đức Giáo Hoàng và Vị Thường quyền của mình.

* Điều 274: #1. Chỉ các giáo sĩ mới có thể nhận giữ những chức vụ mà việc thi hành đòi phải có quyền thánh chức hay quyền lãnh đạo trong Giáo Hội.

#2. Trừ khi có ngăn trở hợp pháp miễn cho, giáo sĩ buộc phải lãnh nhận và trung thành chu toàn nhiệm vụ đã được Vị Thường quyền của mình giao phó.

* Điều 275: #1. Vì hết thảy các giáo sĩ cùng nhằm về một công việc là xây dựng Thân Thể Đức Kitô, họ phải hợp nhất với nhau trong tình huynh đệ và lời cầu nguyện, và phải cộng tác với nhau theo những qui định của luật đặc lập.

#2. Các giáo sĩ phải nhìn nhận và cổ võ sứ mạng mà các giáo dân thi hành, mỗi người theo phần mình, trong Giáo Hội và trong thế giới.

* Điều 276: #1. Trong cuộc sống của mình, các giáo sĩ có bổn phận theo đuổi sự thánh thiện một cách đặc biệt, vì khi đã được thánh hiến cho Chúa với danh nghĩa mới ngày lãnh nhận chức thánh, họ trở nên những người phân phát các mầu nhiệm Thiên Chúa để phục vụ Dân Ngài.

#2. Để có thể đạt tới sự trọn lành nầy:

  • Trước hết, các giáo sĩ phải chu toàn một cách một cách trung thành và không mệt mỏi, những bổn phận Thừa tác mục vụ;
  • Các giáo sĩ phải nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của mình nơi hai bàn tiệc Thánh Kinh và Thánh Thể, vì thế, các linh mục được khẩn khoản kêu mời hằng ngày dâng Hiến Tế Tạ Ơn, còn các phó tế thì hằng ngày tham dự vào tiệc dâng Hiến Tế ấy;
  • Các linh mục và các phó tế, ứng viên chức linh mục, buộc phải chu toàn hằng ngày Phụng vụ các Giờ Kinh theo những sách Phụng vụ riêng đã được chuẩn hậu; còn các phó tế vĩnh viễn phải chu toàn phần Kinh Phụng vụ đã được Hội Đồng Giám Mục ấn định;
  • Các giáo sĩ cũng phải tham dự các cuộc tĩnh tâm theo qui định của luật đặc lập;
  • Các giáo sĩ được khẩn khoản kêu mời chu toàn đều đặn việc tâm ngưyện, năng lãnh nhận Bí tích Sám Hối, tôn sùng đặc biệt Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa và sử dụng các phương thế thánh hóa chung và riêng khác.

* Điều 277: #1 . Các giáo sĩ buộc phải giữ đức Khiết tịnh trọn vẹn và vĩnh viễn vì Nước Trời. Và vì vậy, buộc phải giữ độc thân là đặc ân Chúa ban, nhờ đó, các Thừa tác viên thánh thiêng có thể gắn bó dễ dàng hơn với Đức Kitô bằng một trái tim không chia sẻ và có thể dấn thân tự do hơn vào việc phục vụ Thiên Chúa và loài người.

#2. Các giáo sĩ phải có sự khôn ngoan cần thiết khi giao tiếp với những người mà việc năng lui tới có thể gây nguy hại cho nghĩa vụ giữ đức Khiết tịnh hoặc nên cớ vấp phạm cho các tín hữu.

#3. Giám mục Giáo phận có thẩm quyền ấn định những qui tắc rõ ràng hơn về vấn đề nầy và trong những trường hợp riêng biệt, phán đoán về việc tuân giữ nghĩa vụ nầy.

* Điều 278: #1. Các giáo sĩ triều có quyền cùng với những người khác lập hội để theo đuổi những mục đích thích hợp với bậc giáo sĩ.

#2. Các giáo sĩ triều phải đánh giá cao cách riêng những hiệp hội nào, nhờ một luật sống thích hợp đã được chuẩn y đúng phép và nhờ sự tương trợ huynh đệ, cổ võ mình nên thánh khi thi hành Thừa tác vụ và giúp các giáo sĩ hợp nhất với nhau và với Giám mục mình.

#3. Các giáo sĩ đừng sáng lập hay gia nhập những hiệp hội nào mà mục đích hay hoạt động không thể tương hợp với những nghĩa vụ riêng của bậc giáo sĩ hoặc có thể cản trở việc cần mẫn chu toàn nhiệm vụ đã được thẩm quyền Giáo Hội trao cho.

* Điều 279: #1. Các giáo sĩ phải theo đuổi các môn học thánh thiêng, cả sau khi thụ phong linh mục và phải tuân theo đạo lý vững chắc dựa trên Thánh Kinh, đã được các tiền nhân truyền lại và vẫn thường được Giáo Hội chấp nhận như được xác định trong các văn kiện, nhất là của các Công Đồng và của các Giáo Hoàng, tránh những kiểu nói thế tục mới lạ và khoa học giả hiệu.

#2 . Chiếu theo các qui luật của luật đặc lập, các linh mục phải theo các giảng khóa mục vụ được tổ chức sau khi học được thụ phong và vào thời hạn đã được luật ấy ấn định, họ còn phải tham dự các giảng khóa, các Hội nghị Thần học, các buổi thuyết trình khác đem lại cho họ cơ hội thu thập kiến thức đầy đủ hơn về các môn học thánh thiêng và về các phương pháp mục vụ.

#3. Các linh mục cũng phải tiếp tục thu thập kiến thức về các môn học khác, nhất là, những môn liên hệ với các môn học thánh thiêng, cách riêng khi kiến thức ấy giúp cho việc thi hành thừa tác mục vụ.

* Điều 280: Các giáo sĩ rất đáng được khuyến khích theo một lối sống chung nào đó, còn ở đâu đang có đời sống chung ấy thì phải duy trì trong mức độ có thể.

* Điều 281: #1. Khi hiến thân cho Thừa tác vụ của Giáo Hội, các giáo sĩ đáng được hưởng thù lao xứng với địa vị mình, vừa xét theo bản chất của chính nhiệm vụ, vừa xét theo những hoàn cảnh địa phương và thời đại, để nhờ đó chính họ có thể đáp ứng những nhu cầu đời sống của mình và có thể trả công cân xứng cho những người phục vụ họ.

#2. Cũng phải lo liệu cho những giáo sĩ được hưởng trợ cấp xã hội, để họ đáp ứng thích đáng những nhu cầu của họ trong trường hợp bệnh hoạn, tàn tật hoặc tuổi già.

#3. Những phó tế đã kết bạn mà hoàn toàn hiến thân cho Thừa tác vụ của Giáo Hội, đáng được hưởng thù lao để nhờ đó họ có thể lo việc nuôi sống mình; còn những phó tế nào có thù lao do nghề nghiệp dân sự mà họ đang làm hoặc đã làm, thì phải dùng những lợi tức thu nhập từ đó để lo cho mình và cho những nhu cầu của gia đình mình.

* Điều 282: #1. Các giáo sĩ phải có một nếp sống đơn giản và tránh tất cả những gì có vẻ hào nhoáng.

#2. Những gì nhận được khi thi hành giáo vụ, họ được dùng để lo cho mình sống thích đáng và chu toàn nghĩa vụ của bậc mình, nếu còn dư, họ phải vui lòng dùng cho lợi ích Giáo Hội và các việc bác ái.

* Điều 283: #1. Giáo sĩ nào không có một chức vụ gắn liền với cơ sở, cũng đừng ra khỏi giáo phận mình trong một thời gian đáng kể do luật đặc lập ấn định, nếu không có phép ít nhất là phỏng đoán của Vị Thường quyền mình.

#2. Tuy nhiên hằng năm họ có quyền hưởng một thời gian nghỉ ngơi cần thiết và đầy đủ đã được luật phổ quát hoặc đặc lập ấn định.

* Điều 284: Các giáo sĩ phải mặc giáo phục xứng hợp, theo những qui tắc Hội Đồng Giám Mục đã ban hành và theo những tục lệ hợp pháp địa phương.

* Điều 285: #1. Các giáo sĩ phải hoàn toàn tránh tất cả những gì bất xứng với bậc mình, theo những qui định của luật đặc lập.

#2. Họ phải tránh những gì mặc dầu không bất xứng nhưng xa lạ với bậc giáo sĩ.

#3. Cấm các giáo sĩ đảm nhận công vụ nào có sự tham gia vào việc thi hành quyền bính dân sự.

#4. Nếu không có phép Vị Thường quyền của mình, họ đừng quản trị tài sản của giáo dân hoặc những công việc đời có kèm theo nhiệm vụ phải trình sổ sách, cấm không được đứng ra bảo đảm, mặc dầu bằng của cải riêng mình, khi không hỏi ý kiến Vị Thường quyền của mình, cũng vậy, họ phải tránh đăng ký những thương phiếu, nghĩa là những giấy tờ buộc họ phải trả tiền mà không có lý do nào xác định.

* Điều 286: Cấm các giáo sĩ đích thân hay nhờ kẻ khác kinh doanh hoặc buôn bán làm lợi cho mình hay cho người khác, nếu không có phép của giáo quyền hợp pháp.

* Điều 287: #1. Các giáo sĩ phải luôn hết sức cổ võ sự bình an và hòa thuận dựa trên công lý giữa người với người.

#2. Giáo sĩ đừng chủ động tham gia vào những đảng phái chính trị và vào việc điều khiển các công đoàn, trừ khi theo phán đoán của thẩm quyền Giáo Hội, điều đó cần thiết để bênh vực những quyền lợi của Giáo Hội hoặc để thăng tiến lợi ích chung.

* Điêu 288: Các phó tế vĩnh viễn không buộc giữ những qui định ở các Điều 284, 285 #3. Điều 286, 287 #2 trừ khi luật đặc lập ấn định thể khác.

* Điều 289: #1. Vì dịch vụ quân sự không hợp mấy với bậc giáo sĩ, nên các giáo sĩ cũng như các ứng viên tiến tới chức thánh thiêng không được tự nguyện tòng quân, nếu không có phép của Vị Thường quyền mình.

#2. Các giáo sĩ hãy sử dụng các đặc miễn mà luật hoặc các hiệp ước hoặc các tục lệ đã dành cho họ, để khỏi thi hành các nhiệm vụ và các công vụ dân sự không hợp với bậc giáo sĩ, trừ khi Vị Thường quyền riêng đã quyết định thể khác trong những trường hợp riêng biệt.

CHƯƠNG IV
MẤT BẬC GIÁO SĨ

* Điều 290: Việc phong chức thánh thiêng một khi đã thành sự, không bao giờ trở nên vô hiệu. Nhưng một giáo sĩ mất bậc giáo sĩ:

  • do án tòa hoặc do sắc lệnh hành chánh tuyên bố việc phong chức thánh thiêng không thành sự;
  • do việc ra hình phạt sa thải cách hợp pháp;
  • do phúc chiếu Tông Tòa; nhưng Tông Tòa chỉ ban phúc chiếu nầy cho các phó tế vì những lý do quan trọng, còn cho các linh mục vì những lý do rất quan trọng mà thôi.

* Điều 291: Trừ những trường hợp nói ở Điều 290 số 1, mất bậc giáo sĩ không kèm theo việc chuẩn chước nghĩa vụ độc thân, chuẩn chước nầy chỉ do một mình Đức Giáo Hoàng ban mà thôi.

* Điều 292: Một giáo sĩ, chiếu luật, mất bậc giáo sĩ thì cũng mất các quyền lợi thuộc riêng bậc giáo sĩ và cũng không còn buộc giữ những nghĩa vụ bậc giáo sĩ, vẫn giữ nguyên qui định Điều 291, bị cấm thi hành quyền thánh chức, vẫn giữ nguyên qui định Điều 976, tức khắc bị tước hết mọi chức vụ, nhiệm vụ và bất cứ mọi quyền ủy nào.

* Điều 293: Giáo sĩ đã mất bậc giáo sĩ, không thể gia nhập hàng giáo sĩ nữa, trừ khi có phúc chiếu của Tông Tòa.

TIẾT IV
GIÁM VỤ ĐỐI NHÂN

* Điều 294: Để cổ võ việc phân phối thích hợp các linh mục, hoặc để chu toàn những công việc đặc biệt, mục vụ hay truyền giáo, giúp những miền khác nhau hoặc những nhóm xã hội khác nhau, Tông Tòa có thể thiết lập các Giám vụ đối nhân gồm các linh mục và phó tế hàng giáo sĩ triều, sau khi đã hội ý với các Hội Đồng Giám Mục liên hệ.

* Điều 295: #1. Giám vụ đối nhân được quản trị theo các qui chế do Tông Tòa lập ra, có vị Giám chức đứng đầu như là Vị Thường quyền riêng, Ngài có quyền thiết lập chủng viện quốc gia hay quốc tế, cũng như có quyền nhập tịch các chủng sinh và phong chức cho họ với danh nghĩa là để giúp Giám vụ.

#2 . Vị Giám chức phải lo cho những người Ngài đã phong chức theo danh nghĩa trên vừa được huấn luyện về mặt thiêng liêng vừa được cấp dưỡng thích đáng.

* Điều 296: Nhờ những hợp đồng ký kết với Giám vụ, các giáo dân có thể dấn thân vào các việc tông đồ của Giám vụ đối nhân; còn cách thức tổ chức việc cộng tác cũng như những nhiệm vụ và quyền lợi chính yếu gắn liền với việc cộng tác ấy cần được ấn định cách thích hợp trong các qui chế.

* Điều 297: Các qui chế cũng phải ấn định những tương quan của Giám vụ đối nhân với những Vị Thường quyền sở tại của các Giáo Hội địa phương nơi Giám vụ thi hành hoặc muốn thi hành các công việc mục vụ hay truyền giáo của mình sau khi đã được sự đồng ý của Giám Mục Giáo phận.

TIỀT V
HIỆP HỘI CÁC TÍN HỮU KITÔ

CHƯƠNG I
NHỮNG QUI TẮC CHUNG

* Điều 298: #1. Trong Giáo Hội có các Hiệp Hội khác với Tu Hội đời sống thánh hiến và với các Hội đời sống tông đồ, trong các Hiệp Hội nầy, các tín hữu Kitô, giáo sĩ hoặc giáo dân hoặc cả giáo sĩ và giáo dân chung sức hoạt động nhằm phát triển một đời sống hoàn hảo hơn, hoặc nhằm cổ võ việc phượng tự công cộng hay đạo lý Kitô giáo, hoặc nhằm thực hiện những việc tông đồ khác như việc Phúc Âm hóa, việc đạo đức, hay việc bác ái, và nhằm đưa tinh thần Kitô giáo và lãnh vực trần thế.

#2. Các tín hữu Kitô nên ưu tiên ghi tên vào các Hiệp hội đã được thẩm quyền Giáo Hội thành lập, ban khen hay giới thiệu.

* Điêu 299: #1. Các tín hữu Kitô có trọn quyền thỏa thuận riêng với nhau để thành lập các Hiệp hội nhằm theo đuổi những mục đích nói ở Điều 298 #1; vẫn giữ nguyên qui định Điều 301 #1.

#2. Các Hiệp hội như thế, mặc dầu đã được thẩm quyền Giáo Hội ban khen hay giới thiệu, vẫn gọi là Hiệp hội tư.

#3. Không Hiệp hội tư nào của các tín hữu Kitô được chấp nhận trong Giáo Hội, nếu các qui chế của Hiệp hội ấy không được thẩm quyền duyệt y.

* Điều 300: Không Hiệp hội nào được lấy tên là “Công giáo” trừ khi có sự đồng ý của thẩm quyền Giáo Hội, chiếu Điều 312.

* Điều 301: #1. Chỉ có thẩm quyền Giáo Hội mới được thành lập các Hiệp hội tín hữu Kitô nhằm giảng dạy đạo lý Kitô giáo nhân danh Giáo Hội, hoặc cổ võ việc phượng tự công cộng, hay những Hiệp hội nhằm những mục đích khác, mà việc thực hiện, tự bản tính, được dành cho Giáo quyền.

#2. Nếu xét là hữu ích, thẩm quyền Giáo Hội cũng có thể thành lập những Hiệp hội tín hữu Kitô nhằm theo đuổi cách trực tiếp hay gián tiếp những mục đích thiêng liêng khác mà hoạt động của các tư nhân đã không đáp ứng đủ.

#3. Các Hiệp hội tín hữu Kitô được thẩm quyền Giáo Hội thành lập thì gọi là Hiệp Hội công.

* Điều 302: Các Hiệp hội tín hữu Kitô được gọi là Hiệp hội giáo sĩ khi ở dưới quyền điều hành của các giáo sĩ, đảm nhận việc thi hành thánh chức và được thẩm quyền công nhận như vậy.

* Điều 303: Các Hiệp hội mà các thành viên sống giữa đời nhưng thông phần vào tinh thần của một Tu hội dòng, sống đời tông đồ và nhắm tiến đến sự trọn lành Kitô giáo, dưới sự điều hành cao hơn của Tu hội dòng ấy, được gọi là “Dòng Ba” hoặc bằng một danh xưng nào khác xứng hợp.

* Điều 304:#1. Mội Hiệp hội tín hữu Kitô hoặc công hoặc tư, dù dưới danh hiệu hoặc danh xưng nào, đều phải có qui chế riêng xác định mục đích hay đối tượng xã hội của Hiệp hội ấy, trụ sở, việc điều hành và các điều kiện cần thiết để gia nhập và xác định thể thức hoạt động, xét theo nhu cầu hay lợi ích của thời đại và địa phương.

#2. Phải chọn danh hiệu hay danh xưng thích hợp với tập quán của thời đại, địa phương, nhất là chọn theo mục đích mà Hiệp hội theo đuổi.

* Điều 305:#1. Mọi Hiệp hội tín hữu Kitô đều ở dưới sự trông nom của thẩm quyền Giáo Hội, thẩm quyền nầy phải lo bảo toàn đức tin và luân lý trong các Hiệp hội ấy, và coi chừng đừng để có những lạm dụng len lỏi vào kỷ luật Giáo Hội, vì thế, thẩm quyền trên có nhiệm vụ và có quyền thăm nom các Hiệp hội ấy chiếu theo luật và các qui chế. Các hiệp hội ấy còn ở dưới sự lãnh đạo của những quyền bính nói trên theo những qui định của các Điều sau đây.

#2. Các Hiệp hội bất cứ loại nào đều ở dưới sự trông nom của Tòa Thánh; các Hiệp hội Giáo phận cũng như các Hiệp hội khác theo mức độ hoạt động trong Giáo phận, ở dưới sự trông nom của Vị Thường quyền sở tại.

* Điều 306: Để hưởng quyền lợi và đặc ân của Hiệp hội, các ân xá và các ơn thiêng liêng khác đã ban cho Hiệp hội thì đương sự chỉ cần đã được nhận vào hội cách thành sự và đã không bị thải hồi cách hợp pháp theo những qui định của luật và những qui chế riêng của Hiệp hội.

* Điều 307: #1. Việc nhận các thành viên phải được thực hiện theo luật và các qui chế của mỗi Hiệp hội.

#2. Một người có thể gia nhập nhiều Hiệp hội

#3. Thành viên các Tu hội dòng có thể ghi tên vào các Hiệp hội chiếu theo luật riêng với sự đồng ý của Bề trên mình.

* Điều 308: Không được thải hồi khỏi Hiệp hội người nào đã gia nhập cách hợp pháp, trừ khi có lý do chính đáng chiếu theo luật và qui chế.

* Điều 309: Các Hiệp hội đã được thiết lập cách hợp pháp có quyền chiếu theo luật và qui chế, ban hành những qui tắc riêng liên quan đến chính Hiệp hội, có quyền hội họp, chỉ định những người điều hành, những viên chức, những nhân viên và những người quản lý tài sản.

* Điều 310: Hiệp hội tư nào đã không được thiết lập thành pháp nhân, thì với tư cách đó, không thể là chủ thể có nghĩa vụ và quyền lợi; các tín hữu Kitô đã nhập Hội có thể cùng nhau kết lập nghĩa vụ và có thể thủ đắc và sở hữu những quyền lợi và của cải như những đồng sở hữu và đồng chấp hữu. Họ có thể thi hành các quyền lợi và nghĩa vụ ấy qua người thụ ủy hoặc đại diện.

* Điều 311: Thành viên các Tu hội đời sống thánh hiến điều khiển hoặc trợ giúp những Hiệp hội được liên kết bằng cách nào đó với Tu hội mình, phải lo liệu cho các Hiệp hội ấy giúp các việc tông đồ đang có trong Giáo phận, đặc biệt dưới quyền chỉ đạo của Vị Thường quyền, cộng tác với các Hiệp hội khác có mục đích thực thi việc tông đồ trong Giáo phận.

CHƯƠNG II
HIỆP HỘI CỦA TÍN HỮU KITÔ

* Điều 312: #1. Thẩm quyền thiết lập các Hiệp hội công là:

  • Tòa Thánh đối với các Hiệp hội toàn cầu và quốc tế.
  • Hội Đồng Giám Mục trong địa hạt của mình đối với những Hiệp hội toàn quốc, nghĩa là những Hiệp hội do chính việc thiết lập nhằm hoạt động trong cả nước;
  • Giám Mục Giáo phận mỗi vị trong địa hạt của mình đối với những Hiệp hội thuộc Giáo phận, chứ không phải vị Giám quản Giáo phận, trừ những Hiệp hội mà quyền thành lập được đặc ân Tòa Thánh dành cho người khác.

#2. Để thiết lập thành sự trong Giáo phận một Hiệp hội hoặc chi nhánh của Hiệp hội, mặc dù do đặc ân Tòa Thánh, cần phải có sự đồng ý trên giấy tờ của Giám mục Giáo phận, nhưng sự đồng ý của Giám Mục Giáo phận để thiết lập một nhà của Tu hội dòng cũng có giá trị để thiết lập một Hiệp hội riêng của dòng ấy trong cùng nhà hay trong Nhà thờ thuộc về nhà ấy.

* Điều 313: Hiệp hội công cũng như Liên hiệp các Hiệp hội công được trở thành một pháp nhân do chính sắc lệnh thành lập của thẩm quyền Giáo Hội chiếu Điều 312 và nhận sứ mệnh nhân danh Giáo Hội trong mức độ cần thiết để theo đuổi những mục tiêu mà chính Hiệp hội đề ra cho mình.

* Điều 314: Qui chế của bất cứ Hiệp hội công nào và việc tu chính hoặc thay đổi các qui chế ấy cần phải có sự phê chuẩn của quyền bính Giáo Hội có thẩm quyền thiết lập Hiệp hội theo Điều 312 #1.

* Điều 315: Các Hiệp hội công có thể tự mình đảm nhận những dự án hợp với bản chất mình, và các Hiệp hội ấy được điều hành theo qui chế, nhưng dưới sự chỉ đạo cao hơn của quyền bính Giáo Hội nói ở Điều 312 #1.

* Điều 316: #1. Ai đã công khai từ bỏ đức tin Công giáo hay đã không còn hiệp thông với Giáo Hội hay bị vạ tuyệt thông đã gia phạt hoặc tuyên phạt, thì không được nhận vào các Hiệp hội công cách thành sự.

#2. Những người đã được gia nhập cách hợp pháp mà rơi vào trường hợp nói ở #1, sau khi đã được khuyến cáo, phải bị loại ra khỏi Hiệp hội, nhưng vẫn giữ các qui chế của Hiệp hội và quyền thượng cầu lên quyền bính Giáo Hội nói ở Điều 312 #1.

* Điều 317: #1. Trừ khi qui chế tiên liệu thể khác, quyền bính Giáo Hội nói ở Điều 312 #1 có quyền chuẩn y vị Hội trưởng do chính Hiệp hội công bầu lên, hoặc cắt cử người đã được giới thiệu hoặc bổ nhiệm vị ấy do quyền riêng; còn vị Linh giám hay giáo sĩ trợ úy thì cũng do quyền đã hội ý với những viên chức cấp cao của Hiệp hội, khi thấy hữu ích.

#2. Qui tắc đã ấn định ở #1 cũng có giá trị đối với những Hiệp hội do các thành viên Tu hội dòng, nhờ đặc ân Tòa Thánh thiết lập ngoài Nhà Thờ hay Tu viện của mình; còn trong những Hiệp hội do các thành viên Tu hội dòng thiết lập trong Nhà Thờ hay Tu viện của mình, thì việc bổ nhiệm hoặc chuẩn y vị Hội trưởng và vị Linh giám thuộc quyền Bề trên của Tu hội chiếu theo qui chế.

#3. Trong các Hiệp hội không phải là giáo sĩ, thì giáo dân có thể thi hành nhiệm vụ hội trưởng; không nên chọn vị Linh giám hay Trợ úy vào nhiệm vụ ấy, trừ khi qui chế định liệu thể khác.

#4. Trong các Hiệp hội công của tín hữu Kitô trực tiếp nhằm thị hành việc tông đồ, vị hội trưởng không được là người giữ chức vụ chỉ đạo trong các đảng phái chính trị

* Điều 318: #1. Trong những trường hợp đặc biệt khi có lý do nghiêm trọng đòi hỏi, quyền bính Giáo Hội nói ở Điều 312 #1 có thể chỉ định một ủy viên để nhân danh mình tạm thời điều hành Hiệp hội.

#2. Ai đã bổ nhiệm hoặc chuẩn y vị hội trưởng Hiệp hội công, có thể vì lý do chính đáng, giải nhiệm vị ấy, nhưng sau khi đã hội ý với chính vị hội trưởng cũng như với các viên chức cấp cao của Hiệp hội theo qui chế; còn ai bổ nhiệm vị Linh giám có thể giải nhiệm vị ấy theo các Điều 192-195.

* Điều 319: #1. Trừ khi đã liệu thể khác, Hiệp hội công đã được thiết lập hợp pháp, quản lý theo qui chế các của cải mình dưới sự chỉ đạo cao hơn của quyền bính Giáo Hội nói ở Điều 312 #1. Hằng năm Hiệp hội phải khai trình kế toán với quyền bính ấy.

#2. Hiệp hội cũng phải khai trình kế toán cách trung thực với quyền bính ấy về việc sử dụng những của dâng cúng và bố thí mà Hiệp hội đã thu góp được.

* Điều 320: #1. Các Hiệp hội do Tòa Thánh thiết lập thì chỉ Tòa Thánh có thể bãi bỏ.

#2. Vì những lý do nghiêm trọng, Hội Đồng Giám Mục có thể bãi bỏ các Hiệp hội do mình thiết lập; Giám Mục Giáo phận có thể bãi bỏ những Hiệp hội do mình thiết lập, và cả những Hiệp hội, nhờ phép riêng của Tông Tòa, được thiết lập do những thành viên của Tu hội dòng với sự đồng ý của Giám Mục Giáo phận.

#3. Thẩm quyền đừng bãi bỏ Hiệp hội công, trừ khi đã hội ý với vị hội trưởng và các viên chức cấp cao khác của Hiệp hội.

CHƯƠNG III
HIỆP HỘI TƯ CỦA TÍN HỮU KITÔ

* Điều 321: Hiệp hội tư được các tín hữu Kitô chỉ đạo và điều hành theo qui định của qui chế.

* Điều 322: #1. Hiệp hội tư của tín hữu Kitô có thể thủ đắc tính pháp nhân do sắc lệnh chính thức của thẩm quyền Giáo Hội nói ở Điều 312.

#2. Không Hiệp hội tư nào của tín hữu Kitô có thể thủ đắc tính pháp nhân, nếu qui chế không được giáo quyền nói ở Điều 312 #1 phê chuẩn; nhưng việc phê chuẩn qui chế không thay đổi tính cách tư của Hiệp hội.

* Điều 323: #1. Dù các Hiệp hội tư của tín hữu Kitô được quyền tự trị theo điều 321, nhưng vẫn ở dưới sự trông nom của giáo quyền theo Điều 305, cũng như dưới sự lãnh đạo của quyền bính ấy.

#2. Tuy vẫn tôn trọng quyền tự trị riêng của các Hiệp hội, giáo quyền cũng có nhiệm vụ chăm sóc và lo sao để tránh sự phân tán sức lực và để hoạt động tông đồ của các Hiệp hội tư nhằm ích lợi chung.

* Điều 324: #1. Hiệp hội tư của tín hữu Kitô được tự do chỉ định vị hội trưởng và các viên chức theo qui chế.

#2. Nếu Hiệp hội tư của tín hữu Kitô muốn chọn một vị cố vấn thiêng liêng, thì có thể tự do chọn một vị trong số các linh mục đang thi hành Thừa tác vụ cách hợp pháp trong giáo phận; nhưng vị này cần được Thường quyền sở tại chuẩn y.

* Điều 325: #1. Hiệp hội tư của tín hữu Kitô được tự do quản lý tài sản mình có theo qui định của qui chế, nhưng thẩm quyền Giáo Hội vẫn có quyền trông nom để các tài sản ấy được sử dụng vào mục đích của Hiệp hội.

#2. Hiệp hội ở dưới quyền của vị Thường quyền sở tại, theo Điều 1310 trong những gì liên quan đến việc quản trị và sử dụng các tài sản dâng tặng. Hay để lại cho Hiệp hội nhằm làm việc thiện.

* Điều 326: #1. Hiệp hội tư của tín hữu Kitô chấm dứt theo qui chế; cũng có thể vị thẩm quyền bãi bỏ nếu hoạt động của Hiệp hội phương hại nghiêm trọng cho đạo lý hay kỷ luật của Giáo Hội, hoặc nêu gương xấu cho các tín hữu.

#2. Việc sung dụng tài sản của một Hiệp hội bị chấm dứt phải được ấn định theo qui chế; nhưng phải tôn trọng những quyền lợi đắc thủ và ý muốn của các người dâng tặng.

CHƯƠNG IV
QUY TẮC RIÊNG VỀ HIỆP HỘI GIÁO DÂN

* Điều 327: Các tín hữu Kitô giáo dân phải coi trọng những Hiệp hội đã được thiết lập nhằm những mục đích thiêng liêng nói ở Điều 298, cách riêng các Hiệp hội nhằm đưa tinh thần Kitô giáo vào lãnh vực trần thế và nhờ đó tán trợ mạnh mẽ cho việc hợp nhất mật thiết giữa đức tin và đời sống.

* Điều 328: Ai điều khiển Hiệp hội giáo dân, cả những Hiệp hội được thiết lập do đặc ân Tòa Thánh phải lo để Hiệp hội của mình cộng tác Hiệp hội khác của tín hữu Kitô, khi việc ấy hữu ích, và để sẵn sàng trợ giúp các công cuộc Kitô giáo, nhất là các công cuộc hiện hữu trong cùng địa hạt.

* Điều 329: Các hội trưởng của các Hiệp hội giáo dân phải lo cho thành viên của Hiệp hội được đào tạo đúng mức để làm việc tông đồ riêng của giáo dân.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle