|
|
QUYỂN IV PHẦN I CHƯƠNG III * Điều 987:Để tiếp nhận phương dược cứu độ của bí tích Sám Hối, Kitô hữu phải có tâm tình sẵn sàng trở về với Thiên Chúa bằng cách từ bỏ các tội đã phạm và quyết tâm sửa mình. * Điều 988:#1. Kitô hữu sau khi đã kỷ lưỡng xét thấy tội của mình, buộc phải xưng mọi thứ và đủ số các tội trọng đã phạm sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy chưa được tha trực tiếp do quyền chìa khóa của Giáo Hội và chưa xưng trong một lần xưng tội cá thể. #2 . Khuyên các Kitô hữu cũng xưng cả những tội nhẹ nữa. * Điều 989:Mọi tín hữu, sau khi đến tuổi khôn, buộc phải trung thành giữ luật xưng các tội trọng của mình một năm ít nhất là một lần. * Điều 990:Không cấm xưng tội qua thông dịch viên nhưng phải tránh những lạm dụng và gương xấu; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 983 #2. * Điều 991:Bất cứ tín hữu nào cũng có quyền xưng tội với linh mục giải tội nào đã được chuẩn nhận cách hợp pháp mà mình thích, mặc dầu vị ấy thuộc nghi lễ khác. CHƯƠNG IV * Điều 992:Ân xá là việc tha trước mặt Thiên Chúa hình phạt tạm thời phải chịu vì những tội đã được tha xét về phương diện tội; tín hữu nào có tâm tình chính đáng và thực hiện một số điều kiện đã được ấn định được hưởng ơn tha thứ nầy nhờ Giáo Hội, với tư cách là thừa tác viên ơn cứu chuộc, dùng quyền mình phân phát và ứng dụng kho tàng công trạng đền bồi của Đức Kitô và các thánh. * Điều 993:Ân xá gồm có tiểu xá hoặc toàn xá, tùy theo tha một phần hay tất cả hình phạt tạm thời phải chịu vì tội. * Điều 994:Tín hữu nào cũng có thể hưởng những ân xá hoặc tiểu xá hoặc toàn xá hoặc cho chính mình hoặc cho các người đã qua đời, dưới hình thức chuyển cầu. * Điều 995:#1. Trừ quyền bính tối cao của Giáo Hội, chỉ những ai được luật nhận là có quyền hoặc Đức Giáo Hoàng Rôma ban quyền, mới có thể ban phát các ân xá. #2 . Không một quyền bính nào dưới quyền Đức Giáo Hoàng Rôma có thể trao cho người khác quyền ban ân xá, trừ khi được Tông Tòa minh nhiên ban cho làm việc ấy. * Điều 996:#1. Để có khả năng hưởng ân xá, phải là người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, không bị tuyệt thông, sống trong tình trạng ân sủng ít là vào lúc kết thúc các việc đã được chỉ định để hưởng ân xá. #2 . Nhưng để hưởng ân xá, người có khả năng còn phải có chủ ý thủ đắc các ơn ấy và chu toàn những việc buộc phải làm trong thời gian ấn định và với cách thức thích hợp, theo nội dung của sắc lệnh ban ân xá. * Điều 997:Về việc ban và hưởng ân xá, còn phải giữ các qui định khác có trong những luật riêng của Giáo Hội. TIẾT V * Điều 998:Bí tích Xức Dầu bệnh nhân được ban bằng cách xức dầu trên bệnh nhân và đọc những lời đã được qui định trong sách phụng vụ, nhờ đó Giáo Hội phó thác cho Chúa chịu khổ nạn và được tôn vinh, những tín hữu mắc bệnh nguy hiểm để Người nâng đỡ và cứu chữa họ. CHƯƠNG I * Điều 999:Ngoài Giám mục, những người sau đây có thể làm phép Dầu dùng để xức dầu bệnh nhân:
* Điều 1000:#1. Việc xức dầu phải được thực hiện cẩn thận với những lời, theo thứ tự và cách thức đã được qui định trong các sách phụng vụ; nhưng trong trường hợp khẩn trương chỉ cần một việc xức dầu duy nhất trên trán hay trên một phần thân thể, vẫn phải đọc trọn vẹn công thức.. #2 . Thừa tác viên phải thực hiện việc xức dầu bằng chính tay mình, trừ khi có lý do quan trọng khuyên nên dùng một dụng cụ. * Điều 1001:Các Chủ chăn và các thân nhân của bệnh nhân phải lo cho các bệnh nhân bí tích nầy nâng đỡ vào lúc thuận lợi. * Điều 1002:Có thể xức dầu tập thể cho nhiều bệnh nhân cùng một lúc, theo các qui định của Giám Mục Giáo phận; bệnh nhân phải được chuẩn bị đầy đủ và có những tâm tình thích đáng. CHƯƠNG II * Điều 1003:#1. Mọi linh mục và chỉ linh mục mà thôi phân tác thành sự bí tích xức dầu bệnh nhân. #2 . Mọi linh mục đã được ủy cho coi sóc các linh hồn, có nghĩa vụ và quyền ban bí tích Xức dầu bệnh nhân cho những tín hữu đã được trao cho các Ngài chăn dắt; khi có lý do chính đáng, bất cứ linh mục nào khác cũng có thể ban bí tích nầy với sự ưng thuận ít nhất được suy đoán của linh mục nói trên. #3 . Bất cứ linh mục nào cũng được phép mang theo mình Dầu đã được làm phép, để trong trường hợp khẩn trương có thể cử hành bí tích Xức dầu bệnh nhân. CHƯƠNG III * Điều 1004:#1. Có thể ban bí tích Xức dầu bệnh nhân cho tín hữu đã đến tuổi khôn bắt đầu ở trong tình trạng nguy hiểm vì bệnh tật hay già nua. #2. Có thể ban bí tích nầy, nếu bệnh nhân, sau khi hồi phục, lại ngã bệnh nặng; hoặc nếu trong cùng một cơn bệnh kéo dài nguy cơ trở nên trầm trọng hơn. * Điều 1005:Hãy ban bí tích nầy trong trường hợp hồ nghi bệnh nhân đã đến tuổi khôn chưa, có bệnh nguy hiểm không hay đã chết chưa. * Điều 1006:Phải ban bí tích nầy cho các bệnh nhân khi còn tỉnh táo đã xin lãnh nhận ít nhất cách mặc nhiên. * Điều 1007:Không được ban bí tích Xức Dầu cho những người cố chấp sống trong tội trọng công khai. TIẾT VI * Điều 1008:Do bí tích Truyền Chức Thánh đã được Thiên Chúa thiết lập, một số người trong các Kitô hữu được đặt làm thừa tác viên thánh, nhờ được ấn tích không xóa nhòa tức là được thánh hiến và được chỉ định để mỗi người tùy theo cấp bậc của mình, chăn dắt Dân Chúa và nhân danh Đức Kitô là Đầu, họ chu toàn chức vụ giáo huấn, thánh hóa và lãnh đạo. * Điều 1009:#1. Các chức thánh là chức Giám mục, chức linh mục và phó tế. #2. Những chức ấy được trao ban bằng việc đặt tay và lời ngưyện thánh hiến được các sách phụng vụ qui định cho mỗi cấp bậc. CHƯƠNG I * Điều 1010:Phải cử hành lễ Truyền Chức trong thánh lễ vào ngày Chúa nhật hay ngày Lễ buộc, nhưng vì lý do mục vụ cũng có thể cử hành vào những ngày khác, kể cả những ngày thường trong tuần. * Điều 1011:#1. Cách chung, Lễ Truyền Chức phải được cử hành trong Nhà Thờ Chính Tòa; nhưng vì lý do mục vụ có thể được cử hành trong một nhà thờ khác hay nhà nguyện. #2 . Phải mời các giáo sĩ và các tín hữu khác tham dự lễ Truyền Chức để cuộc lễ có thật đông người tham dự. * Điều 1012:Thừa tác viên lễ Truyền Chức là Giám mục đã được tấn phong. * Điều 1013:Không Giám mục nào được phép tấn phong cho ai lên chức Giám mục nếu trước đó không biết chắc đã có sắc chỉ của Giáo Hoàng. * Điều 1014:Trừ khi có phép chuẩn của Tông Tòa, Giám mục chủ phong chính trong lễ tấn phong Giám mục phải có thêm ít nhất hai Giám mục thụ phong; nhưng tất cả các Giám mục hiện diện rất nên cùng với các vị nói trên tấn phong tuyển nhân. * Điều 1015:#1. Ai được lên chức Linh mục hay Phó tế phải được thụ phong do chính Giám mục của mình, hoặc do người có ủy nhiệm thư hợp pháp của chính Ngài. #2 . Trừ khi bị ngăn trở chính đáng, chính Giám mục riêng của đương sự phải đích thân tấn phong những người thuộc quyền mình; nhưng nếu không có phép riêng của Tông Tòa, Ngài không thể tấn phong cách hợp pháp một người thuộc quyền theo nghi lễ Đông phương. #3 . Ai có thể ban ủy nhiệm thư để lãnh nhận các chức thánh, chính vị ấy cũng có thể đích thân ban các chức ấy nếu có ấn tích Giám mục. * Điều 1016:Về việc truyền chức Phó tế cho những người muốn gia nhập hàng giáo sĩ triều, Giám mục riêng là Giám mục của Giáo phận nơi người ấy tiến chức có gia cư hoặc của Giáo phận nơi người tiến chức đã quyết tâm phục vụ; về việc truyền chức Linh mục cho các giáo sĩ triều, Giám mục riêng là Giám mục của Giáo phận nơi người tiến chức đã nhập tịch khi lãnh nhận chức Phó tế. * Điều 1017:Ngoài địa hạt riêng của mình, Giám mục chỉ có thể ban bí tích Truyền Chức Thánh khi có phép của Giám Mục Giáo phận. * Điều 1018:#1. Các vị sau đây có thể ban ủy nhiệm thư cho các giáo sĩ triều:
#2 . Giám Quản Giáo phận, Quyền Đại diện và Quyền Phủ Doãn Tông Tòa không được ban ủy nhiệm thư cho những ai bị Giám Mục Giáo phận hay Đại diện hay Phủ Doãn Tông Tòa từ chối không cho tiến chức thánh. * Điều 1019:#1. Bề trên cấp cao của Tu hội dòng giáo sĩ thuộc quyền Giáo Hoàng hoặc của Hội giáo sĩ đời sống tông đồ thuộc quyền Giáo Hoàng có quyền ban ủy nhiệm thư đễ lãnh nhận chức Phó tế và chức linh mục cho những người thuộc quyền mình, theo Hiến pháp đã gia nhập tu hội hoặc Hội cách vĩnh viễn hay chung cuộc. #2 . Việc truyền chức cho tất cả những thành viên khác thuộc bất cứ Tu hội hoặc hội nào, đều tuân theo luật dành cho các giáo sĩ triều, mọi phép riêng đã ban cho các Bề trên đều bị thu hồi. * Điều 1020:Không được ban ủy nhiệm thư nếu trước đó không có tất cả các chứng thư và văn kiện luật đòi buộc phải có, chiếu các Điều 1050 và 1051. * Điều 1021:Ủy nhiệm thư có thể được gởi tới bất cứ Giám mục nào hiệp thông với Tông Tòa, chỉ trừ Giám mục thuộc nghi lễ của người tiến chức nếu không có phép riêng của Tông Tòa. * Điều 1022:Giám mục chủ phong, sau khi nhận ủy nhiệm thư hợp pháp, không được tấn phong nếu không hoàn toàn chắc chắn ủy nhiệm thư ấy là xác thực. * Điều 1023:Các ủy nhiệm thư có thể bị giới hạn hoặc thu hồi do chính vị đã ban hoặc người kế vị, nhưng một khi đã được ban, chúng không mất hiệu lực khi vị đã ban không còn quyền. CHƯƠNG II * Điều 1024:Chỉ người thuộc nam giới đã nhận lãnh bí tích Thánh Tẩy mới được nhận lãnh thành sự chức thánh. * Điều 1025:#1. Để nhận lãnh hợp pháp chức Linh mục hay Phó tế, ứng viên, sau khi đã qua thời thử thách chiếu luật, phải có những đức tính thích đáng theo sự xét đoán của Giám mục riêng hoặc của Bề trên cấp cao có thẩm quyền, phải không mắc một bất hợp luật nào hay một ngăn trở nào, và phải hội đủ các điều kiện tiên quyết chiếu Điều 1033 – 1039; ngoài ra, các văn kiện nói ở Điều 1050 đã được thu nhập về việc điều tra nói ở Điều 1051 đã hoàn tất. #2 . Hơn nữa, ứng viên phải được Bề trên hợp pháp của mình xét đoán là có ích cho thừa tác vụ của Giáo Hội. #3 . Giám mục tấn phong người thuộc quyền mình để phục vụ một giáo phận khác biết chắc chắn người nhận lãnh chức thánh sẽ gia nhập giáo phận ấy. MỤC 1 * Điều 1026:Để nhận lãnh chức thánh, đương sự phải được tự do cần thiết, tuyệt đối cấm bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lý do nào cưỡng bách ai nhận lãnh chức thánh, hay ngăn trở không cho người ấy có đủ tư cách theo Giáo luật lãnh nhận các chức ấy. * Điều 1027:Các thỉnh nguyện viên chức Phó tế và chức Linh mục phải được huấn luyện qua một cuộc chuẩn bị kỹ lưỡng, chiếu luật. * Điều 1028:Giám Mục Giáo phận hoặc Bề trên thẩm quyền phải lo cho các ứng viên, trước khi được gọi lên chức nào; phải được dạy đầy đủ về những điều liên quan đến chức ấy và những nghĩa vụ của chức ấy. * Điều 1029:Chỉ được gọi lên chức thánh, những người được Giám mục riêng mình hoặc Bề trên cấp cao có thẩm quyền, sau khi đã cân nhắc mọi sự, khôn ngoan xét đoán là có đức tin toàn vẹn, chủ ý ngay lành, kiến thức cần thiết, danh thơm tiếng tốt, thuần phong mỹ tục, nhân đức vững chắc và các đức tính khác về thể xác cũng như tâm linh phù hợp với chức thánh sẽ lãnh nhận. * Điều 1030:Trừ khi có lý do Giáo luật, cho dầu còn kín, Giám mục riêng hoặc Bề trên cấp cao có thẩm quyền không thể cấm lên chức Linh mục các phó tế thuộc quyền mình và nhằm lên chức ấy; vẫn giữ nguyên thượng cầu chiếu luật. * Điều 1031:#1. Chỉ được ban chức Linh mục cho những người đã tròn 25 tuổi và đủ trưởng thành, hơn nữa phải giữ khoảng cách ít là 6 tháng giữa hai chức Phó tế và Linh mục; ai nhằm lên chức Linh mục chỉ được chấp nhận lên chức Phó tế sau khi đã tròn 23 tuổi. #2 . Ứng viên Phó tế vĩnh viễn nào không kết hôn thì không được nhận lên chức Phó tế ấy, nếu chưa tròn ít là 25 tuổi và được sự đồng ý của vợ mình. #3 . Các Hội Đồng Giám mục có trọn quyền ra luật ấn định tuổi cao hơn phải có để lên chức Linh mục và Phó tế vĩnh viễn. #4 . Tông Tòa dành riêng quyền chuẩn chước quá một năm về tuổi đời phải có chiếc các #1 và #2. * Điều 1032:#1. Các thỉnh nguyện viên chức Linh mục chỉ có thể được gọi lên chức Phó tế sau khi đã hoàn tất năm thứ năm của chu kỳ triết học và thần học. #2 . Sau khi đã hoàn tất chu kỳ học và trước khi được gọi lên chức Linh mục, Phó tế phải tham gia mục vụ bằng cách thực hành chức Phó tế trong một thời gian thích hợp được ấn định do Giám mục hay Bề trên cấp cao có thẩm quyền. #3 . Thỉnh nguyện viên chức Phó tế vĩnh viễn chỉ được gọi lên chức nầy sau khi đã hoàn tất cuộc huấn luyện. MỤC 2 * Điều 1033:Chỉ người đã lãnh nhận bí tích Thêm Sức mới được hợp pháp gọi lên chức thánh. * Điều 1034:#1. Chỉ được truyền chức cho thỉnh nguyện viên chức Phó tế hay chức Linh mục nếu trước đó đương sự đã được thẩm quyền nói ở Điều 1016 và 1019 ghi vào sổ các ứng viên qua một nghi lễ phụng vụ tiếp nhận, sau khi đương sự đã tự tay viết và ký tên đơn xin và được thẩm quyền ấy chấp nhận trên giấy tờ. #2 . Ai đã gia nhập bằng lời khấn vào một Tu hội giáo sĩ không buộc phải được tiếp nhận như trên. * Điều 1035:#1. Trước khi được gọi lên chức Phó tế, vĩnh viễn hay chuyển tiếp, đòi đương sự phải lãnh nhận và thi hành trong một thời gian thích hợp các thừa tác vụ đọc sách và giúp lễ. #2 . Giữa việc lãnh nhận thừa tác vụ giúp lễ và chức Phó tế phải có khoảng cách ít là 6 tháng. * Điều 1036:Để có thể được gọi lên chức Phó tế hay chức Linh mục, ứng viên phải đệ trình cho Giám mục của mình hoặc cho Bề trên cấp cao có thẩm quyền bản tuyên bố chính tay mình viết và ký, chứng minh mình sẽ tự nguyện và tự do lãnh nhận chức thánh và sẽ vĩnh viễn dấn thân cho thừa tác vụ của Giáo Hội, đồng thời xin được cho nhận lãnh chức thánh. * Điều 1037:Người sẽ được gọi lên chức Phó tế vĩnh viễn mà không kết hôn, cũng như người sẽ được gọi lên chức Linh mục, sẽ không được chấp nhận vào chức Phó tế, nếu không công khai đảm nhận trước Thiên Chúa và Giáo Hội nghĩa vụ sống độc thân, bằng một lễ nghi đã được qui định, hoặc nếu đã không tuyên khấn vĩnh viễn trong một Tu hội dòng. * Điều 1038:Phó tế nào khước từ tiến lên chức Linh mục không thể bị cấm thi hành chức thánh đã lãnh nhận, trừ khi mắc ngăn trở theo Giáo luật hay vì lý do quan trọng nào khác tùy theo sự thẩm định của Giám Mục Giáo phận hoặc của Bề trên cấp cao có thẩm quyền. * Điều 1039:Tất cả những ai được gọi lên chức thánh nào, đều phải tĩnh tâm ít nhất năm ngày, ở nơi và theo cách thức do vị Thường quyền ấn định; trước khi truyền chức, Giám mục phải được báo cho biết các ứng viên đã tĩnh tâm hợp lệ như vậy. MỤC 3 * Điều 1040:Không được lãnh nhận các chức thánh những ai đang mắc một ngăn trở nào, hoặc vĩnh viễn được gọi là bất hợp luật, hoặc đơn thuần; nhưng không có ngăn trở nào khác ngoài những ngăn trở được ghi trong các Điều sau đây: * Điều 1041:Kể là bất hợp luật để nhận lãnh chức thánh:
* Điều 1042:Kể là bị ngăn trở đơn thuần để lãnh nhận chức thánh:
* Điều 1043: Các Kitô hữu, nếu biết có ngăn trở lãnh nhận chức thánh, buộc phải trình bày với vị Thường quyền hay Linh mục chính xứ trước ngày truyền chức. * Điều 1044: #1. Kể là bất hợp luật để thi hành chức thánh đã lãnh nhận:
#2 . Kể là bị ngăn trở không được thi hành chức thánh:
* Điều 1045:Sự kiện không biết những bất hợp luật và những ngăn trở không miễn khỏi mắc những bất hợp luật và những ngăn trở ấy. * Điều 1046: Những bất hợp luật và ngăn trở được nhân lên khi chúng phát xuất từ những nguyên nhân khác nhau, chứ không từ cùng một nguyên nhân được lặp đi lặp lại, trừ trường hợp bất hợp luật từ tội cố sát hoặc phá thai có hiệu quả. * Điều 1047:#1. Được dành riêng cho Tông Tòa quyền chuẩn chước khỏi mọi bất hợp luật, nếu sự kiện làm cơ sở cho chúng đã được đưa ra tòa án. #2 . Cũng được dành riêng cho Tông Tòa quyền chuẩn chước khỏi mọi bất hợp luật và ngăn trở sau đây để lãnh nhận chức thánh:
#3 . Cũng được dành riêng cho Tông Tòa quyền chuẩn chước khỏi những bất hợp luật nói ở Điều 1041 số 3 để thi hành chức thánh đã lãnh nhận, trong những trường hợp công khai mà thôi và khỏi những bất hợp luật ở cùng một Điều ấy, số 4, cả trong những trường hợp kín. #4 . Vị Thường quyền có thể chuẩn chước khỏi những bất hợp luật và ngăn trở không dành riêng cho Tòa Thánh. * Điều 1048:Người mắc bất hợp luật không được thi hành chức thánh, có thể thi hành chức ấy, nếu trong những trường hợp kín khẩn trương hơn, không đến được với vị Thường quyền, hoặc nếu trong những trường hợp bất hợp luật nói ở Điều 1041 các số 3 và 4, không đến được với Tòa Xá Giải, và nếu có nguy cơ thiệt hại nặng hoặc mang tiếng xấu; nhưng vẫn còn nguyên nghĩa vụ phải đến sớm hết sức với vị Thường quyền hoặc Tòa Xá Giải, không cần xưng tên và nhờ vị Linh mục giải tội. * Điều 1049:#1. Trong đơn xin chuẩn chước khỏi những bất hợp luật và những ngăn trở, phải nêu rõ mọi bất hợp luật và mọi ngăn trở, tuy nhiên việc chuẩn chước tổng quát cũng có hiệu lực đối với những bất hợp luật và những ngăn trở vì ngay tình đã không nêu ra, trừ những bất hợp luật nói ở Điều 1041 số 4 hay những bất hợp luật khác đã được đưa ra tòa án, nhưng không có hiệu lực đối với những bất hợp luật và những ngăn trở đã không nêu ra vì gian ý. #2 . Nếu là bất hợp luật do tội cố sát hoặc tội phá thai, cũng phải nêu rõ số những tội phạm để việc chuẩn chước có hiệu lực. #3 . Việc chuẩn chước tổng quát khỏi những bất hợp luật và ngăn trở để lãnh nhận chức thánh, có hiệu lực cho tất cả mọi chức thánh. MỤC 4 * Điều 1050:Để người nào có thể được gọi lên chức thánh đòi phải có các văn kiện sau đây:
* Điều 1051:Về việc điều tra liên quan đến các đức tính phải có của người nhận lãnh chức thánh, phải giữ các qui định sau đây:
* Điều 1052:#1. Để Giám mục truyền chức do quyền riêng của mình có thể tiến hành việc ấy, Ngài phải biết chắc có sẵn những văn kiện nói ở Điều 1050 và, sau khi đã điều tra chiếu luật, phải biết chắc khả năng của ứng viên đã được chứng minh bằng những chứng cứ xác thực #2 . Để Giám mục tiến hành việc truyền chức thánh cho những người không thuộc quyền mình, chỉ cần ủy nhiệm thư chứng minh đã sẵn có những văn kiện trên, đã làm xong việc điều tra chiếu luật và đã biết chắc chắn khả năng thích hợp của ứng viên; nếu người tiến chức là thành viên của một Tu hội dòng hay Hội đời sống tông đồ, thì những ủy nhiệm thư ấy còn phải chứng minh đương sự đã vĩnh viễn gia nhập Tu hội hay Hội, và là người thuộc quyền của Bề trên ban ủy nhiệm thư. #3 . Mặc dù đã làm tất cả những việc nói trên, nếu vì những lý do nào đó Giám mục còn hồ nghi ứng viên có khả năng thích hợp hay không để lãnh nhận chức thánh, thì Ngài đừng cho đương sự tiến chức. CHƯƠNG III * Điều 1053:#1. Sau khi đã truyền chức, phải ghi vào sổ riêng tên của từng người đã thụ phong và tên của thừa tác viên tấn phong, nơi và ngày truyền chức; sổ riêng nầy phải được giữ cẩn thận tại Tòa Giám Mục Giáo phận nơi đã truyền chức, và phải cẩn thận lưu giữ mọi văn kiện của từng lần truyền chức. #2 . Giám mục tấn phong phải cấp cho mỗi người thụ phong một chứng chỉ chính thức về chức thánh đã nhận; những người đã được truyền chức do một Giám mục không phải của mình, nhưng với ủy nhiệm thư; họ phải trình chứng chỉ ấy cho vị Thường quyền của mình để ghi vào sổ riêng phải được lưu giữ trong văn khố. * Điều 1054:Vị Thường quyền sở tại, nếu những người thụ phong là giáo sĩ triều, hoặc Bề trên cấp cao có thẩm quyền, nếu những người thụ phong là những người thuộc quyền, cả hai vị phải báo tin cho Linh mục chính xứ nơi các đương sự đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy về mỗi lần đã truyền chức để ghi vào sổ rửa tội, chiếu Điều 535 #2. TIẾT VII * Điều 1055:#1. Do giao ước hôn nhân một người nam và một người nữ làm thành một cộng đồng sống chung với nhau suốt đời; giao ước ấy, theo bản tính tự nhiên hướng dẫn lợi ích của đôi bạn, đến việc sinh sản và giáo dục con cái; giao ước hôn nhân giữa hai người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy được Chúa Kitô nâng lên địa vị một bí tích. #2 . Vì thế, giữa hai người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, không thể có khế ước hôn nhân thành sự mà những đặc tính nầy lại càng đặc biệt bền vững, vì đó là một bí tích. * Điều 1056:Những đặc tính chính yếu của hôn nhân là: tính duy nhất và bất khả phân ly; trong hôn nhân Kitô giáo những đặc tính nầy lại càng đặc biệt bền vững, vì đó là một bí tích. * Điều 1057:#1. Sự ưng thuận của đôi bên được biểu lộ cách hợp pháp giữa những người có tư năng theo luật, làm nên hôn nhân và không quyền bính nào của loài người có thể thay thế được sự ưng thuận ấy. #2 . Sự ưng thuận hôn nhân là một hành vi ý chí, nhờ đó một người nam và một người nữ trao và nhận chính bản thân của nhau; do một giao ước bất khả thu hồi để làm thành hôn nhân. * Điều 1058:Ai không bị luật cấm đều có thể kết hôn. * Điều 1059:Hôn nhân của những người công giáo mặc dầu chỉ có một bên là công giáo, bị chi phối chẳng những người công giáo mặc dầu luật Thiên Chúa mà còn do luật Giáo Hội; vẫn giữ nguyên thuần túy dân sự của hôn nhân ấy. * Điều 1060:Hôn nhân được luật ưu đãi, vì thế khi hồ nghi, hôn nhân được coi là thành sự cho đến khi chứng minh ngược lại. * Điều 1061:#1. Hôn nhân thành sự giữa hai người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy được gọi là hôn nhân thành nhận mà thôi, nếu chưa thành toại; gọi là thành nhận và thành toại, nếu đôi bên đã theo cách thức hợp với nhân tính thực hiện tác động phu thê tự nó có khả năng sinh sản con cái; tác động nầy là mục tiêu tự nhiên của hôn nhân và làm cho vợ chồng trở thành một xương một thịt. #2 . Sau khi đã cử hành hôn nhân, nếu vợ chồng đã ở chung với nhau, hôn nhân ấy được suy đoán là đã thành toại, cho tới lúc chứng minh ngược lại. #3 . Hôn nhân bất thành sự được gọi là hôn nhân ngộ tín, nếu đã được cử hành với tình ngay của ít nhất một bên, cho đến khi cả hai bên biết chắc hôn nhân ấy không thành. * Điều 1062:#1. Hứa hôn hoặc do một bên hoặc do cả hai bên, thường gọi là đính hôn, được chi phối do luật đặc lập Hội Đồng Giám mục đã ban hành, thể theo tục lệ và luật dân sự nếu có. #2 . Đính hôn không ban tố quyền để xin cử hành hôn nhân; nhưng ban tố quyền để đền bù thiệt hại, nếu phải bồi thường. CHƯƠNG I * Điều 1063:Các Chủ Chăn buộc phải lo sao cho cộng đoàn Giáo Hội của mình giúp đỡ các Kitô hữu để bậc hôn nhân được bảo tồn trong tinh thần Kitô giáo và tiến tới trong sự hoàn thiện. Việc giúp đỡ nầy phải được thực hiện nhất là:
* Điều 1064:Vị Thường quyền sở tại có nghĩa vụ tổ chức hẳn hoi việc giúp đỡ nói trên, cả bằng cách hỏi ý kiến những người nam và người nữ giàu kinh nghiệm và chuyên môn nếu thấy thuận tiện. * Điều 1065:#1. Người công giáo chưa lãnh bí tích Thêm Sức, phải lãnh bí tích ấy trước khi kết hôn, nếu việc đó có thực hiện được mà không gây thiệt hại nặng. #2 . Để lãnh nhận bí tích Hôn Nhân cho có hiệu quả, khẩn khoản khuyên đôi bạn lãnh nhận bí tích Sám Hối và bí tích Thánh Thể. * Điều 1066:Trước khi cử hành bí tích Hôn Nhân phải biết chắc không có gì ngăn trở việc cử hành bí tích Hôn Nhân thành sự và hợp pháp. * Điều 1067:Hội Đồng Giám mục phải ban hành những qui tắc về việc khảo hạch, các đôi bạn, về những lần rao báo hôn nhân hay về những phương tiện thuận lợi khác cần có để thực hiện những cuộc điều tra trước khi cử hành hôn nhân; sau khi đã cẩn thận tuân giữ những điều trên, Linh mục chính xứ có thể tiến tới việc chủ trì hôn nhân. * Điều 1068:Trong cơn nguy tử, nếu không thể có những chứng minh khác, lời quả quyết của đôi bạn có kèm theo lời thề nếu cần, rằng mình đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy và không mắc ngăn trở nào cũng đủ, trừ khi có những dấu chỉ ngược lại. * Điều 1069:Mọi tín hữu, nếu biết có những ngăn trở nào, buộc phải trình bày cho Linh mục chính xứ hoặc cho vị Thường quyền sở tại, trước khi hôn nhân được cử hành. * Điều 1070:Nếu linh mục khác đã thực hiện những cuộc điều tra, chứ không phải Linh mục chính xứ có quyền chủ trì hôn nhân, Ngài phải sớm hết sức báo cho Linh mục chính xứ biết về kết quả những cuộc điều tra nầy, qua một văn thư chính thức. * Điều 1071:#1. Trừ trường hợp khẩn trương, nếu không có phép vị Thường quyền sở tại, đừng ai chủ trì:
#2 . Vị Thường quyền sở tại đừng cho phép chủ trì hôn nhân của người nào đã công khai chối bỏ đức tin công giáo, trừ khi đã giữ những qui tắc nói ở Điều 1125, với những thích nghi cần thiết. * Điều 1072:Các chủ chăn phải liệu ngăn ngừa những người trẻ cử hành hôn nhân trước tuổi kết hôn theo tục lệ địa phương.
CHƯƠNG II * Điều 1073: Ngăn trở tiêu hôn làm cho người ta không có tư năng để kết hôn thành sự. * Điều 1074:#1.Ngăn trở được kể là công khai khi có thể, mới có thể tuyên bố khi nào luật Thiên Chúa cấm kết hôn hay tiêu hôn. #2 . Cũng chỉ quyền bính tối cao ấy có quyền thiết lập những ngăn trở khác đối với những người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. * Điều 1075:#1. Chỉ có quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thể tuyên bố khi nào luật Thiên Chúa cấm kết hôn hay tiêu hôn. #2. Cũng chỉ quyền bính tối cao ấy có quyền thiết lập những ngăn trở khác đối với những người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. * Điều 1076:Tập tục du nhập một ngăn trở mới hoặc tập tục trái ngược với những ngăn trở hiện có đều bị phi bác. * Điều 1077:#1. Vị Thường quyền sở tại có thể cấm những người thuộc quyền ở bất cứ nơi đâu và mọi người đang sống trong địa hạt mình, không được kết hôn trong những trường hợp riêng biệt, nhưng chỉ được cấm tạm thời và khi có lý do quan trọng và bao lâu còn kéo dài. #2 . Chỉ có quyền bính tối cao của Giáo Hội mới có thể thêm điều khoản tiêu hôn vào lệnh cấm trên. * Điều 1078:#1. Vị Thường quyền sở tại có thể chuẩn chước cho những người thuộc quyền ở bất cứ nơi đâu và mọi người hiện đang sống trong địa hạt mình, khỏi mắc mọi ngăn trở thuộc quyền Giáo Hội trừ khi những ngăn trở Tông Tòa dành riêng cho mình quyền chuẩn chước. #2 . Những ngăn trở Tông Tòa dành riêng cho mình quyền chuẩn chước là:
#3 . Không bao giờ được chuẩn chước khỏi ngăn trở họ máu hàng dọc hoặc bậc hai hàng ngang. * Điều 1079:#1. Trong trường hợp nguy tử khẩn trương, vị Thường quyền sở tại có thể chuẩn chước những người thuộc quyền ở bất cứ nơi đâu hoặc mọi người hiện đang sống trong địa hạt mình, vừa khỏi phải giữ nghi thức cử hành hôn phối, vừa khỏi mắc mọi ngăn trở và từng ngăn trở công khai hay kín đáo thuộc quyền Giáo Hội, trừ ngăn trở do thánh chức linh mục. #2 . Trong cùng hoàn cảnh nói ở #1, nhưng chỉ trong những trường hợp cả việc đến gặp vị Thường quyền sở tại cũng không thể được, thì cả linh mục chính xứ lẫn thừa tác viên thánh đã được ủy nhiệm đúng cách, cả linh mục hay phó tế chủ trì hôn nhân chiếu Điều 1116 #2, cũng có quyền chuẩn chước như trên. #3 . Trong cơn nguy tử, linh mục giải tội có quyền chuẩn chước khỏi những ngăn trở kín đối với tòa trong, hoặc trong hoặc ngoài bí tích Sám Hối. #4 . Trong trường hợp nói ở #2, phải kể là không thể đến gặp vị Thường quyền sở tại, nếu chỉ có thể liên lạc với Ngài bằng điện tín hoặc điện thoại. * Điều 1080:#1. Mỗi khi mọi sự đã sẵn sàng để cử hành lễ hôn nhân, mới khám phá ra ngăn trở và hôn nhân không thể hoãn tại cho đến khi xin được phép chuẩn của thẩm quyền mà không có nguy cơ thiệt hại nặng có thể xảy đến, thì vị Thường quyền sở tại có quyền chước mọi ngăn trở, trừ những ngăn trở nói ở Điều 1078 #2 số 1, và nếu là ngăn trở kín thì mọi người nói ở Điều 1079 #2, 3 cũng có quyền ấy, nhưng vẫn giữ những điều kiện đã ấn định ở Điều 1079 #2-3 nói trên. #2 . Quyền nầy cũng có thể được dùng để thành sự hóa hôn nhân, nếu trì hoãn sẽ có nguy cơ như trên và không đủ thời gian tiếp xúc với Tông Tòa hay vị Thường quyền sở tại đối với những ngăn trở Ngài có quyền chuẩn chước được. * Điều 1081:Linh mục chính xứ hoặc linh mục hay phó tế nói ở Điều 1079 #2 phải lập tức báo cho vị Thường quyền sở tại biết phép chuẩn ở tòa ngoài, và phải ghi phép chuẩn ấy vào sổ hôn nhân. Điều 1081: Linh mục chính xứ hoặc linh mục hay phó tế nói ở Điều 1079 #2 phải lập tức báo cho vị Thường quyền sở tại biết phép chuẩn ở tòa ngoài, và phải ghi chép chuẩn ấy vào sổ hôn nhân. * Điều 1082:Trừ khi phúc chiếu của tòa xá giải ấn định thể khác, phép chuẩn khỏi ngăn trở kín đã cho ở tòa trong không thuộc bí tích, phải được ghi sổ, sổ nầy phải được giữ tại văn khố mật ở tòa Giám mục và không cần phép chuẩn nào khác ở tòa ngoài nếu sau nầy ngăn trở thành công khai. CHƯƠNG III * Điều 1083:#1. Nam chưa trọn 16 tuổi, cũng vậy nữ chưa trọn 14 tuổi, không thể kết hôn thành sự. #2. Hội Đồng Giám mục có trọn quyền ấn định tuổi cao hơn để kết hôn cách hợp pháp. * Điều 1084:#1. Bất lực giao hợp có trước khi kết hôn và vĩnh viễn, hoặc bên nam hoặc bên nữ, hoặc tuyệt đối hoặc tương đối, tự bản chất là một ngăn trở tiêu hôn. #2 . Nếu hồ nghi có ngăn trở bất lực hoặc hồ nghi về pháp luật hoặc hồ nghi về sự kiện, thì đừng ngăn cản hôn nhân và bao lâu còn hồ nghi, đừng tuyên bố là bất thành. #3 . Tình trạng thiếu khả năng sinh sản không cấm hôn cũng không tiêu hôn; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1098. * Điều 1085:#1. Người bị ràng buộc do một hôn nhân trước, mặc dầu chưa thành toại, có kết hôn cũng không thành sự. #2 . Mặc dầu hôn nhân trước là bất thành hoặc được tháo gỡ vì bất cứ lý do nào, thì không vì đó mà được phép kết hôn lần khác, trước khi thấy rõ cách hợp pháp và chắc chắn rằng hôn nhân trước đã không thành hoặc đã được tháo gỡ. * Điều 1086:#1. Hôn nhân giữa hai người mà một bên đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy trong Giáo Hội Công giáo hay đã được nhận vào Giáo Hội và không minh quyết rời bỏ Giáo Hội ấy và bên kia đã không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thì không thành sự. #2 . Đừng chuẩn chước ngăn trở nầy trừ khi đã hội đủ các điều kiện nói ở Điều 1125 và 1126. #3 . Nếu vào lúc kết hôn, một bên được dư luật coi là đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, hoặc nếu Thánh Tẩy ấy còn hồ nghi, thì chiếu Điều 1060 hôn nhân phải được suy đoán đã thành sự, cho đến khi chứng minh chắc chắn một bên đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, còn bên kia thì không. * Điều 1087:Ai đã lãnh nhận chức thánh, có kết hôn cũng không thành sự. * Điều 1088:Ai đã khấn công khai vĩnh viễn giữ đức khiết tịnh trong một Tu hội dòng, có kết hôn cũng không thành sự. * Điều 1089: Không hôn nhân nào có thể thành sự giữa một người nam và một người nữ bị bắt đem đi hay ít nhất bị giam giữ với chủ ý kết hôn với nàng, trừ khi về sau nàng đã tự ý lựa chọn hôn nhân sau khi đã được tách rời khỏi người bắt cóc và được ở một nơi chắc chắn và tự do. * Điều 1090:#1. Ai vì muốn kết hôn với người nào mà giết phối ngẫu của người ấy hay của chính mình, có kết hôn với người ấy cũng không thành. #2 . Hôn nhân cũng không thành sự giữa những người gây cái chết cho người phối ngẫu của mình bằng một hành động chung thuộc thể xác hay tinh thần. * Điều 1091:#1. Hôn nhân không thành sự giữa người có họ máu theo hàng dọc, từ dưới lên và từ trên xuống, hoặc trong hoặc ngoài hợp pháp. #2 . Hôn nhân không thành sự ở hàng ngang cho đến hết bậc thứ bốn. #3 . Ngăn trở họ máu không nhân lên. #4 . Không bao giờ được phép kết hôn, nếu còn hồ nghi hai bên có họ máu với nhau hay không, ở bậc nào đó ở hàng dọc hay ở bậc hai thuộc hàng ngang. * Điều 1092:Hôn nhân không thành sự giữa những người có họ kết bạn ở bất cứ bậc nào thuộc hàng dọc. * Điều 1093:Ngăn trở vì thanh danh công khai nẩy sinh từ hôn nhân bất thành sự, sau khi đã sống chung hoặc do ngoại hôn công khai hay tỏ tường. Ngăn trở nầy tiêu hôn ở bậc thứ nhất thuộc hàng dọc giữa người đàn ông và những người nữ có họ máu với người đàn bà, và ngược lại. * Điều 1094:Không thể kết hôn thành sự với nhau những ai có họ pháp lý do việc nhận con nuôi, trong hàng dọc hoặc ở bậc hai thuộc hàng ngang. CHƯƠNG IV * Điều 1095:Không có khả năng kết hôn.
* Điều 1096:#1. Để có thể có sự ưng thuận hôn nhân, cần hai người kết ước ít nhất phải biết hôn nhân là một cuộc chung sống cố định giữa một nam và một nữ nhằm sinh con cái do một sự cộng tác nào đó thuộc phạm vi phái tính. #2 . Sau tuổi dậy thì, phải suy đoán là có sự hiểu biết trên đây. * Điều 1097:#1. Lầm lẫn về nhân thân làm cho hôn nhân bất thành. #2 . Lầm lẫn về đức tính của nhân thân, mặc dầu là nguyên nhân của khế ước, cũng không làm cho hôn nhân bất thành, trừ khi đương sự trực tiếp và chính yếu nhằm đức tính ấy. * Điều 1098:Hôn nhân bất thành, khi người nào kết hôn mà bị lừa gạt về một tư cách nào đó của phía bên kia, do hành động man trá của phía bên ấy để được sự ưng thuận, nếu tư cách ấy tự bản chất có thể làm xáo trộn trầm trọng cuộc chung sống vợ chồng. * Điều 1099:Lầm lẫn về tính duy nhất hay tính bất khả phân ly hoặc về phẩm giá bí tích của hôn nhân, không vô hiệu hóa sự ưng thuận hôn nhân, miễn là không ảnh hưởng đến quyết định của ý chí. * Điều 1100:Biết hay tưởng rằng hôn nhân bất thành, không nhất thiết loại trừ sự ưng thuận của hôn nhân. * Điều 1101:#1. Sự ưng thuận trong lòng được suy đoán là phù hợp với những lời nói hay những dấu chỉ được sử dụng trong khi cử hành hôn nhân. #2 . Nhưng hôn nhân không thành, nếu một bên hay cả hai bên bằng một hành vi tích cực của ý chí, loại trừ chính hôn nhân hay một yếu tố chính yếu nào đó, hay một đặc tính chính yếu nào đó của hôn nhân. * Điều 1102:#1. Không thể kết hôn thành sự với điều kiện về tương lai. #2 . Kết hôn với điều kiện về quá khứ hay hiện tại thành sự hay không, là tùy nội dung của điều ấy có hay không. #3 . Những điều kiện nói ở #2 không thể được đặt ra cách hợp pháp, trừ khi có phép trên giấy tờ của vị Thường quyền sở tại. * Điều 1103:Hôn nhân không thành sự, khi ai kết hôn do bạo lực hay sợ hãi nghiêm trọng từ bên ngoài, mặc dầu người ta không cố tình gây nên, đến nỗi người ấy buộc phải lựa chọn hôn nhân để tự giải thoát. * Điều 1104:#1. Để kết hôn thành sự, hai bên kết ước cần phải có mặt cùng một lúc hoặc đích thân hoặc qua người đại diện. #2 . Cô dâu và chú rễ phải biểu lộ sự ưng thuận hôn nhân bằng lời nói, còn nếu không thể nói được, thì bằng những dấu hiệu tương đương. * Điều 1105:#1. Để kết hôn thành sự nhờ người đại diện cần phải:
#2 . Để có hiệu lực, giấy ủy nhiệm phải được ký do người chủ ủy và ngoài ra còn do Linh mục chính xứ hay vị Thường quyền sở tại nơi làm giấy ủy nhiệm, hoặc do một linh mục được một trong hai người ủy nhiệm phải được soạn thành một văn kiện chính thức chiếu theo dân luật. #3 . Nếu người chủ ủy không thể viết được phải ghi điều đó vào ngay giấy ủy nhiệm và phải thêm một nhân chứng khác, nhân chứng nầy cũng phải đích thân ký vào văn kiện; bằng không, giấy ủy nhiệm vô giá trị. #4 . Nếu người chủ ủy thu hồi ủy nhiệm hoặc hóa điên trước khi người đại diện kết hôn nhân danh người chủ ủy, hôn nhân không thành sự, dầu người đại diện hay người kết ước kia không biết những sự việc đó. * Điều 1106:Có thể kết hôn qua thông dịch viên, nhưng Linh mục chính xứ đứng chứng hôn trừ khi biết rõ thông dịch viên là người trung thực. * Điều 1107:Mặc dầu đã kết hôn không thành vì có ngăn trở hay vì thiếu nghi thức, sự ưng thuận đã có trước được suy đoán là vẫn còn cho đến khi thấy rõ không còn ưng thuận nữa. CHƯƠNG V * Điều 1108:#1. Hôn nhân chỉ thành sự khi được kết ước trước mặt người chủ trì hôn lễ, là vị Thường quyền sở tại hoặc Linh mục chính xứ hoặc linh mục hay phó tế đã được một trong hai vị trên ủy nhiệm, và trước mặt hai nhân chứng, nhưng theo những qui luật nói ở những Điều 114, 1112 #1, 1116 và 1127 # #2-3. #2 . Chỉ được coi là chủ trì hôn nhân, người hiện diện để yêu cầu hai bên kết ước biểu lộ sự ưng thuận và để nhân danh Giáo Hội chấp nhận sự biểu lộ ấy. * Điều 1109:Vị thường quyền sở tại và Linh mục chính xứ do chức vụ và trong ranh giới địa hạt của mình, chủ trì thành sự hôn lễ chẳng những của những nguời thuộc quyền mà còn của những người không thuộc quyền, miễn là một trong hai người thuộc nghi lễ La-tinh, trừ khi các vị ấy bị án lệnh hay sắc lệnh tuyệt thông hay cấm chế, hay huyền chỉ khỏi chức vụ hoặc đã bị tuyên vạ như vậy. * Điều 1110:Vị Thường quyền và Linh mục chính xứ đối nhân do chức vụ chỉ chủ trì thành sự hôn nhân của những người, mà ít nhất một trong hai người là thuộc quyền trong giới hạn thẩm quyền của mình. * Điều 1111:#1. Bao lâu còn thi hành chức vụ thành sự, vị Thường quyền sở tại và Linh mục chính xứ có thể ủy quyền kể cả quyền tổng quát cho linh mục và phó tế chủ trì các hôn nhân trong ranh giới địa hạt của mình. #2 . Để việc chủ trì hôn nhân thành sự, phải minh nhiên ủy quyền cho những người nhất định; nếu là ủy quyền riêng biệt, phải ủy quyền chủ trì một hôn nhân nhất định, còn nếu là chủ trì tổng quát, phải làm bằng giấy tờ. * Điều 1112:#1. Ở đâu thiếu linh mục và phó tế, Giám Mục Giáo phận, sau khi được ý kiến thuận của Hội Đồng Giám mục và được phép của Tòa Thánh, có thể ủy quyền cho giáo dân chủ trì hôn nhân. #2 . Phải chọn người giáo dân có khả năng thích hợp để có thể huấn luyện các đôi vợ chồng tương lai và có đủ điều kiện cử hành đúng cách phụng vụ hôn nhân. * Điều 1113:Trước khi ủy quyền riêng biệt, phải lo liệu tất cả những gì luật ấn định để chứng minh tình trạng tự do của đôi bên kết ước. * Điều 1114:Người chủ trì hôn nhân hành động bất hợp pháp nếu chưa biết chắc tình trạng tự do chiếu luật của đôi bên kết ước, và nếu chưa biết chắc, khi có thể, là đã có phép của Linh mục chính xứ, mỗi khi chủ trì hôn nhân do quyền ủy tổng quát. * Điều 1115:Hôn nhân phải được cử hành trong giáo xứ nơi một trong hai bên kết ước có gia cư hay chuẩn cư hay đã cư ngụ một tháng, hoặc nếu là những người phiêu cư, phải được cử hành trong giáo xứ nơi họ đang cư ngụ; có thể được cử hành nơi khác khi có phép của vị Thường quyền hay Linh mục chính xứ của mình. * Điều 1116:#1. Nếu không thể có hay không thể đến gặp một vị chủ trì hôn nhân có thẩm quyền chiếu theo luật mà không gặp bất tiện nặng, thì ai muốn kết hôn thật sự, có thể kết hôn cách thành sự và hợp pháp trước mặt các nhân chứng mà thôi:
#2 . Trong cả hai trường hợp, nếu có sẵn một Linh mục nào khác hay phó tế nào có thể hiện diện, thì vị ấy phải được mời đến và phải có mặt trong buổi cử hành hôn lễ cùng với các nhân chứng, tuy nhiên hôn nhân trước mặt các nhân chứng mà thôi vẫn thành sự. * Điều 1117:Nghi thức ấn định ở trên phải được tuân giữ, nếu ít nhất một trong hai bên kết ước đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy trong Giáo Hội Công Giáo và đã không minh quyết rời bỏ Giáo Hội ấy; vẫn giữ nguyên những qui định của Điều 1127 #2. * Điều 1118:#1. Hôn nhân giữa hai người công giáo hoặc giữa bên công giáo và bên đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy không công giáo phải được cử hành trong nhà thờ giáo xứ, có thể cử hành trong một nhà thờ nào khác hoặc trong một nhà nguyện, khi có phép của vị Thường quyền sở tại hay Linh mục chính xứ. #2 . Vị Thường quyền sở tại có thể cho phép cử hành hôn nhân trong một nơi nào khác xứng đáng. #3 . Hôn nhân giữa một bên công giáo và một bên không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể được cử hành trong nhà thờ hay trong một nơi khác xứng đáng. * Điều 1119:Ngoài trường hợp khẩn cấp, khi cử hành hôn nhân phải giữ các nghi lễ đã được qui định trong các sách phụng vụ Giáo Hội chuẩn y, hoặc đã được các tục lệ hợp pháp chấp nhận. * Điều 1120:Hội Đồng Giám Mục có thể soạn thảo một nghi lễ hôn nhân riêng phải được Tòa Thánh chuẩn nhận, hợp với tục lệ địa phương và dân tộc; tục lệ nầy phải được thích nghi với tinh thần Kitô giáo; nhưng vẫn giữ nguyên luật buộc vị chủ trì hôn nhân phải hiện diện, thẩm vấn và chấp thuận sự ưng thuận của đôi bên kết ước đã biểu lộ. * Điều 1121:#1. Hôn nhân được cử hành xong, Linh mục chính xứ nơi cử hành hôn nhân hay vị thay thế Ngài mặc dù không người nào trong hai đã chủ trì hôn lễ, phải sớm hết sức ghi vào sổ hôn nhân tên đôi vợ chồng, tên vị chủ trì và các nhân chứng, nơi và ngày cử hành hôn nhân theo cách thức do Hội Đồng Giám Mục hay Giám Mục đã qui định. #2 . Mỗi khi hôn nhân được cử hành chiếu Điều 1116, Linh mục hay phó tế, nếu đã có mặt trong hôn lễ, phải sớm hết sức báo cho Linh mục chính xứ hoặc vị Thường quyền sở tại về hôn nhân đã cử hành; bằng không, các nhân chứng cùng với đôi bên kết ước toàn đới phải làm việc ấy. #3 . Về hôn nhân đã được cử hành với phép chuẩn khỏi giữ nghi thức theo giáo luật, vị Thường quyền sở tại đã chuẩn chước phải lo sao để phép chuẩn và việc cử hành được ghi vào sổ hôn nhân vừa của Tòa Giám Mục vừa của giáo xứ bên Công giáo mà Linh mục chính xứ đã điều tra về tình trạng tự do. Bên Công giáo buộc phải sớm hết sức báo cho vị Thường quyền và Linh mục chính xứ về hôn nhân đã được cử hành, cũng ghi rõ nơi cử hành và nghi thức công khai đã tuân giữ. * Điều 1122:#1. Cũng phải ghi hôn nhân đã được cử hành vào sổ rửa tội, trong đó có ghi việc lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy của hai vợ chồng. #2 . Nếu một bên kết hôn không phải trong giáo xứ mình đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thì Linh mục chính xứ nơi cử hành hôn lễ, phải sớm hết sức báo cho Linh mục chính xứ nơi đương sự đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy về hôn nhân đã được cử hành. * Điều 1123:Mỗi khi hôn nhân hoặc được thành sự đối với tòa ngoài, hoặc được tuyên bố là không thành hoặc được tháo gỡ cách hợp pháp vì một lý do nào khác ngoài trường hợp một bên đã chết, Linh mục chính xứ nơi cử hành hôn nhân phải được báo cho biết để ghi đúng cách vào sổ hôn nhân và sổ rửa tội. CHƯƠNG VI * Điều 1124:Nếu không có phép minh nhiên của thẩm quyền, cấm kết hôn giữa hai người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy mà một bên đã lãnh nhận trong Giáo Hội Công giáo hoặc đã được nhận vào Giáo Hội Công giáo sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, và đã không minh quyết từ bỏ Giáo Hội ấy, còn bên kia đã gia nhập một Giáo Hội hoặc một Cộng đồng Giáo Hội không hiệp thông trọn vẹn với Giáo Hội Công giáo. * Điều 1125:Vị Thường quyền sở tại có thể ban phép trên đây, nếu có lý do chính đáng và hợp lý, nhưng đừng ban phép ấy, nếu không hội đủ điều kiện sau đây:
* Điều 1126:Hội Đồng Giám Mục vừa phải ấn định cách thức thực hiện những lời tuyên bố và lời cam kết luôn cần phải có, vừa phải ấn định cách thức để những lời tuyên bố và cam kết trên được tỏ tõ ở tòa ngoài và được bên không công giáo biết chắc. * Điều 1127:#1. Về nghi thức phải được sử dụng trong hôn nhân hỗn hợp, phải giữ những qui định của Điều 1108; nhưng nếu bên công giáo kết hôn với bên không công giáo thuộc nghi lễ Đông Phương, thì nghi thức cử hành theo Giáo Luật chỉ phải giữ là để hôn nhân được hợp pháp mà thôi; còn để hôn nhân thành sự cần phải có sự can thiệp của thừa tác viên thánh; vẫn giữ những điều khác luật truyền phải giữ. #2 . Nếu khó khăn trầm trọng ngăn trở không cho giữ nghi thức theo Giáo luật, vị Thường quyền sở tại bên công giáo có quyền chuẩn khỏi giữ nghi thức ấy trong từng trường hợp, nhưng sau khi đã hỏi ý kiến vị Thường quyền sở tại nơi cử hành hôn nhân thành sự; Hội Đồng Giám Mục có quyền ấn định những qui tắc để ban phép chuẩn nói trên trong cùng một thức như nhau. #3 . Trước hay sau khi cử hành hôn nhân theo Giáo Luật chiếu #1, cấm không được cử hành hôn nhân theo nghi thức tôn giáo một lần khác để trao đổi hay lập lại sự ưng thuận hôn nhân; cũng không được cử hành nghi thức nghi thức tôn giáo, trong đó vị chủ trì công giáo và thừa tác viên không công giáo mỗi bên cử hành theo nghi thức của mình, cả hai cùng thẩm vấn sự ưng thuận của đôi bên kết ước. * Điều 1128:Các vị Thường quyền sở tại và những Chủ chăn khác phải lo sao, để bên công giáo và các con sinh ra do hôn nhân hỗn hợp không thiếu sự giúp đỡ thiêng liêng để họ chu toàn nghĩa vụ và các Ngài giúp đôi bạn hiệp nhất với nhau trong đời sống vợ chồng và gia đình. * Điều 1129:Các qui định của những Điều 1127 và 1128 cũng được áp dụng cho những hôn nhân bị ngăn trở dị giáo nói ở Điều 1086 #1. CHƯƠNG VII * Điều 1130:Vì lý do quan trọng và khẩn trương, vị Thường quyền sở tại có thể cho phép cử hành hôn nhân cách kín đáo. * Điều 1131:Phép được cử hành hôn nhân cách kín đáo đòi:
* Điều 1132:Vị Thường quyền sở tại hết nghĩa vụ giữ bí mật nói ở Điều 1131 số 2 nếu sắp xảy ra gương mù trầm trọng, hoặc do sự giữ bí mật mà sự thánh thiện của hôn nhân bị tổn thương nặng nề, và điều phải đã được đôi bên kết ước biết trước khi cử hành hôn nhân. * Điều 1133:Hôn nhân đã được cử hành cách bí mật phải được ghi trong sổ riêng mà thôi và sổ nầy phải được lưu giữ trong văn khố mật của Tòa Giám Mục. CHƯƠNG VIII * Điều 1134:Do hôn nhân thành sự, giữa vợ chồng nảy sinh một mối dây liên kết tự bản chất là vĩnh viễn và chuyên nhất; ngoài ra, trong hôn nhân Kitô giáo, vợ chồng được củng cố và như được thánh hiến do một bí tích đặc biệt để chu toàn nghĩa vụ và nâng cao phẩm giá bậc sống của mình. * Điều 1135:Cả vợ chồng có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau đối với những gì thuộc cộng đồng đời sống vợ chồng. * Điều 1136:Cha mẹ có nghĩa vụ rất nặng nề và quyền ưu tiên lo liệu tùy theo sức mình để con cái được giáo dục vừa về phương diện thể chất, xã hội và văn hóa, vừa về phương diện luân lý và tôn giáo. * Điều 1137:Những con cái được thụ thai hoặc sinh ra do hôn nhân thành sự hay ngộ tín là những con cái chính thức. * Điều 1138:#1. Người cha là người được hôn nhân hợp pháp chứng minh, trừ khi có những bằng cớ hiển nhiên chứng minh ngược lại. #2 . Được kể là con cái chính thức, những đứa con sinh ra sau ít nhất là 180 ngày, kể từ ngày cử hành hôn nhân, hay là dưới 300 ngày kể từ ngày đời sống vợ chồng ly tán. * Điều 1139:Con cái bất hợp pháp được chính thức hóa do hôn nhân thành sự hoặc là hôn nhân ngộ tín, hay là do một phúc chiếu của Tòa Thánh. * Điều 1140:Đối với các hiệu quả theo Giáo Luật, những con đã được chính thức hóa cũng ngang hàng với con chính thức trong mọi sự, trừ khi luật đã minh nhiên định liệu thể khác. CHƯƠNG IX MỤC 1 * Điều 1141:Hôn nhân thành nhận và thành toại không thể được tháo gỡ do quyền bính nhân loại nào và vì lý do nào, trừ trường hợp một bên đã chết. * Điều 1142:Hôn nhân vị loại giữa những người đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy hay giữa một bên đã lãnh nhận bí tích ấy và một bên không, có thể được tháo gỡ do Đức Giáo Hoàng Rôma vì lý do chính đáng, khi cả hai hay một bên xin, mặc dầu bên kia không bằng lòng. * Điều 1143:#1. Hôn nhân giữa hai người không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy được tháo gỡ nhờ đặc ân thánh Phaolô vì lợi ích đức tin của bên đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy ngay khi bên nầy kết hôn lại, miễn là bên không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy bỏ ra đi. #2 . Bên không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy được kể là bỏ ra đi, nếu không muốn sống với bên đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy hay không muốn sống chung hòa thuận mà không xúc phạm đến Đấng Tạo Hóa, trừ trường hợp chính người nầy sau khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, làm cớ chính đáng cho bên kia bỏ ra đi. * Điều 1144:#1. Để bên lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy kết hôn lại thành sự, bên không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy luôn luôn phải được hỏi xem:
#2 . Việc tra hỏi nầy phải được thực hiện sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, nhưng vì lý do quan trọng vị Thường quyền sở tại có thể cho phép để thực hiện việc tra hỏi ấy trước khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, hơn nữa, Ngài có thể chuẩn chước khỏi tra hỏi hoặc trước hoặc sau khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, miễn sao qua một thủ tục ít là đơn giản và ngoài tòa án, thấy rõ việc tra hỏi ấy không thể được thực hiện được hoặc sẽ là vô ích. * Điều 1145:#1. Việc tra hỏi trên thường thường phải được thực hiện do lệnh vị Thường quyền sở tại của bên đã trở lại, vị nầy phải cho phía bên kia một thời gian để trả lời, nếu họ xin; nhưng phải cho họ biết rằng quá hạn mà không trả lời, sự im lặng của họ được coi là lời từ chối. #2 . Việc tra hỏi mặc dầu riêng tư do bên đã trở lại cũng có giá trị, hơn nữa cũng là hợp pháp nếu không thể tuân giữ cách thức đã qui định ở trên. #3 . Trong hai trường hợp phải chính thức biết rõ ở tòa ngoài về việc tra hỏi đã được thực hiện và về kết quả của việc tra hỏi ấy. * Điều 1146:Bên lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy có quyền kết hôn một lần khác với người công giáo:
* Điều 1147:Tuy nhiên, vị Thường quyền sở tại vì lý do quan trọng, có thể cho phép bên lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy hưởng đặc ân thánh Phaolô, kết hôn với bên không công giáo hoặc đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, hoặc không, cũng vẫn giữ các Điều luật về hôn nhân hỗn hợp. * Điều 1148:#1. Người đàn ông không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy mà cùng một lúc có nhiều vợ không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, sau khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy trong Giáo Hội Công Giáo, nếu khó sống với người vợ thứ nhất, có thể giữ lại một trong số những người vợ ấy, còn bỏ đi những người vợ khác, Điều trên đây cũng có giá trị đối với người phụ nữ không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy mà cùng một lúc có nhiều người chồng không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy. #2 . Trong những trường hợp nói ở #1, sau khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, hôn nhân phải được cử hành theo nghi thức hợp pháp, nếu cũng phải giữ các qui định về hôn nhân hỗn hợp và những qui định khác luật buộc phải giữ. #3 . Vị Thường quyền sở tại phải lưu ý đến những hoàn cảnh luân lý, xã hội, kinh tế địa phương và dân chúng, và lo sao để bảo đảm đủ cho những nhu cầu của người vợ thứ nhất và những người vợ khác đã bị bỏ đi, theo qui tắc đức công bình, đức bác ái Kitô giáo và đức tương bình tự nhiên. * Điều 1149:Người không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, sau khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy trong Giáo Hội công giáo mà vì lý do tù đày hay bách hại không thể tái lập được đời sống chung với bên không lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, thì có thể kết hôn một lần nữa, dù trong thời gian ấy bên kia đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy; vẫn giữ những qui định của Điều 1141. * Điều 1150:Trong trường hợp hồ nghi, đặc ân đức tin được ưu đãi. MỤC 2 * Điều 1151:Vợ chồng có nhiệm vụ và quyền giữ đời sống chung vợ chồng, trừ khi được miễn vì lý do hợp pháp. * Điều 1152:#1. Mặc dầu thiết tha khuyến khích người phối ngẫu, vì đức bác ái Kitô giáo và vì lợi ích của gia đình, đừng từ chối tha thứ cho bên ngoại tình và đừng chấm dứt đời sống vợ chồng, tuy nhiên nếu đã không minh nhiên hay mặc nhiên tha thứ lỗi lầm của bên ấy, thì mình có quyền chấm dứt đời sống chung vợ chồng, trừ khi mình đã đồng ý hay làm cớ cho tội ngoại tình hoặc chính mình cũng phạm tội ngoại tình. #2 . Kể là mặc nhiên tha thứ, nếu người phối ngẫu vô tội, sau khi đã biết về tội ngoại tình, vẫn tự nguyện sống chung vợ chồng với bên kia, còn suy đoán là mặc nhiên tha thứ, nếu vẫn sống chung vợ chồng trong sáu tháng và không đưa việc đó ra trước Giáo quyền hay chính quyền. #3 . Nếu người phối ngẫu vô tội tự ý chấm dứt đời sống chung vợ chồng, thì trong vòng sáu tháng phải trình trường hợp đó lên thẩm quyền Giáo Hội; thẩm quyền nầy sau khi đã xem xét mọi hoàn cảnh, phải thẩm định xem có thể làm cho người phối ngẫu vô tội tha thứ lỗi lầm và không kéo dài vĩnh viễn cảnh chia ly. * Điều 1153:#1. Nếu một trong hai bên phối ngẫu gây nguy hiểm trầm trọng về tinh thần hay thể xác cho bên kia hoặc cho con cái, hay nếu bằng cách nào khác làm cho đời sống chung trở nên nặng nề, thì đương sự làm cho bên kia có lý do hợp pháp để xin vị Thường quyền sở tại ban sắc lệnh cho phép ly thân và nếu chờ đợi sẽ có nguy hiểm, thì bên kia cũng được tự ý ra đi. #2 . Trong mọi trường hợp, khi hết lý do ly thân phải lập lại cuộc sống chung vợ chồng, trừ khi Giáo quyền ấn định thể khác. * Điều 1154:Một khi vợ chồng đã ly thân, luôn phải lo liệu cách thích hợp để con cái được cấp dưỡng và giáo dục cách thỏa đáng. * Điều 1155:Thật đáng khen, nếu người phối ngẫu vô tội có thể nhận lại bên kia về đời sống vợ chồng, trong trường hợp nầy đương sự khước từ quyền ly thân. CHƯƠNG X MỤC 1 * Điều 1156:#1. Để thành sự hóa hôn nhân không thành sự vì ngăn trở tiêu hôn thì ngăn trở cần phải chấm dứt hay được chuẩn chước, và ít nhất bên biết có ngăn trở phải lặp lại sự ưng thuận. #2 . Luật Giáo Hội đòi phải lập lại sự ưng thuận nói trên để việc thành sự hóa có hiệu lực, mặc dầu lúc đầu cả hai bên đã ưng thuận và sau đó đã không rút lại. * Điều 1157:Việc lập lại sự ưng thuận phải là một hành vi mới của ý chí đối với hôn nhân mà bên kia lặp lại biết hoặc ngờ rằng đã không thành ngay từ đầu. * Điều 1158:#1. Nếu ngăn trở là công khai, cả hai bên phải lặp lại sự ưng thuận theo nghi thức Giáo Luật; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1127 #2. #2 . Nếu không thể chứng minh có ngăn trở, sự ưng thuận được lặp lại cách tư riêng và kín đáo là đủ, và chỉ do bên biết có ngăn trở, miễn là bên kia vẫn duy trì sự ưng thuận đã biểu lộ; hoặc sự ưng thuận được lặp lại do cả hai bên, nếu cả hai bên biết có ngăn trở. * Điều 1159:#1. Hôn nhân bất thành vì thiếu sự ưng thuận được thành sự hóa, nếu bên trước kia không ưng thuận bây giờ ưng thuận, miễn là bên kia vẫn còn duy trì sự ưng thuận đã được biểu lộ. #2 . Nếu không thể chứng minh là thiếu sự ưng thuận, chỉ cần bên trước kia đã không ưng thuận bây giờ ưng thuận cách riêng tư và kín đáo là đủ. #3 . Nếu có thể chứng minh là thiếu sự ưng thuận, thì cần phải biểu lộ sự ưng thuận theo nghi thức Giáo Luật. * Điều 1160:Hôn nhân bất thành vì thiếu nghi thức, để được thành sự hóa, phải kết ước lại theo nghi thức Giáo luật; vẫn giữ nguyên qui định của Điều 1127 #2. MỤC 2 * Điều 1161:#1. Điều trị tại căn một hôn nhân bất thành là khi thẩm quyền thành sự hóa hôn nhân ấy mà không buộc lặp lại sự ưng thuận; việc điều trị tại căn nầy bao hàm việc chuẩn chước ngăn trở nếu có, việc chuẩn chước nghi thức Giáo Luật nếu đã không giữ, và những hiệu quả của Giáo Luật hồi tố về quá khứ. #2 . Việc thành sự hóa được thực hiện từ lúc thẩm quyền ban ơn, còn việc hồi tố được hiểu là có hiệu lực từ lúc hôn nhân đã được cử hành, trừ khi minh nhiên định liệu thể khác. #3 . Đừng ban ơn điều trị tại căn, nếu không biết chắc đôi bên muốn chung thủy với nhau trong đời sống vợ chồng. * Điều 1162:#1. Hôn nhân không thể điều trị tại căn nếu hai bên hay một trong hai bên không ưng thuận, hoặc đã không ưng thuận ngay từ đầu, hoặc lúc đầu đã ưng thuận nhưng về sau đã rút lại. #2 . Nếu từ đầu đã không ưng thuận nhưng về sau đã ưng thuận, có thể ban ơn điều trị tại căn từ lúc biểu lộ sự ưng thuận. * Điều 1163:#1. Hôn nhân bất thành vì ngăn trở hay vì thiếu nghi thức hợp pháp, có thể được điều trị tại căn, miễn là đôi bên vẫn duy trì sự ưng thuận. #2 . Hôn nhân bất thành vì ngăn trở do luật tự nhiên hoặc do luật thiết định của Thiên Chúa chỉ có thể được điều trị tại căn sau khi đã hết ngăn trở. * Điều 1164:Việc điều trị tại căn có thể được ban thành sự ngay cả khi một bên hay cả hai bên không biết, nhưng chỉ được ban vì lý do quan trọng. * Điều 1165:#1. Tông Tòa có thể ban ơn điều trị tại căn. #2 . Trong từng trường hợp, Giám Mục Giáo phận có thể ban ơn ấy, mặc dầu có nhiều lý do bất thành hóa trong cùng một hôn nhân, khi đã hội đủ các điều kiện nói ở Điều 1125 đối với việc điều trị tại căn hôn nhân hỗn hợp; nhưng Giám Mục Giáo phận không thể ban ơn nếu có ngăn trở mà một mình Tông Tòa có quyền chuẩn chước chiếu Điều 1078 #2, hoặc nếu có ngăn trở thuộc luật tự nhiên hoặc luật thiết định của Thiên Chúa, mặc dầu ngăn trở ấy đã chấm dứt. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |