Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

TÌM HIỂU VỀ PHỤNG VỤ

Nội dung:

  1. Tông Thư Kỷ niệm 25 năm Hiến chế Sacrosanctum Concilium của Đức thánh Cha Gioan-Phaolô II, Ban hành ngày 14 tháng 05 năm 1989, do ĐCV Thánh Giuse dịch 1991, theo bản Pháp ngữ của nhà xuất bản Đa ngữ Vatican.
  2. Chương IV & V, từ trang 63-73, Quyễn Phụng Vụ Giờ Kinh cho người tín hữu, bản dịch của ĐCV Thánh Quý, Cần Thơ, theo bản Pháp ngữ La prière du temps présent pour la Peuple Chrétien, của Cha Am. Roguet, Cerf. Desclée, Mame, Paris 1971

I. TÔNG THƯ CỦA ĐỨC THÁNH CHA GIOAN PHAOLÔ II
KỶ NIỆM 25 NĂM HIẾN CHẾ PHỤNG VỤ THÁNH
SACROSANCTUM CONCILIUM

Gửi đến chư huynh trong chức Giám mục và linh mục, Lời chào và phép lành Toà thánh!

1. Hai mươi lăm năm đã trôi qua kể từ ngày 4 tháng 12 năm 1963, khi Đức Thánh Cha Phaolô VI ban hành Hiến chế Sacrosanctum Concilium về Phụng vụ thánh vừa mới được các nghị phụ của Công đồng Vatican II hợp nhất trong Chúa Thánh Thần chấp nhận (1). Đó là một biến cố đáng ghi nhớ vì nhiều lý do. Bởi vì đó là trái quả đầu tiên của Công đồng được triệu tập theo ý Đức Gioan XXIII nhằm “cập nhật hóa” Giáo hội, đã được chuẩn bị bởi một cao trào phụng vụ và mục vụ, và đó cũng là một biến cố mang hy vọng sự sống và canh tân trong Giáo hội.

Khi tiến hành cải tổ phụng vụ, Công đồng đã thực hiện một cách hoàn toàn đặc biệt, mục đích cơ bản mà công đồng đã đề ra: “Phát huy đời sống Kitô giáo ngày càng hơn nữa nơi các tín hữu, làm cho những định chế nào có thể thay đổi, thích ứng với những nhu cầu của thời đại chúng ta, cổ xúy những gì khả dĩ góp phần hiệp nhất mọi người đã tin theo Chúa Kitô và kiện cường những gì hỗ trợ cho việc mời gọi mọi người vào lòng Giáo hội (2).

2. Ngay từ buổi đầu thời gian mục vụ của tôi trên ngai Phêrô, tôi đã nhất mực “đặt nặng tầm quan trọng thường xuyên của Công đồng chung Vatican II” và tôi đã “chính thức dốc tâm vào việc áp dụng Công đồng cách cẩn thận”. Tôi đã nói thêm rằng cần phải thúc đẩy đến thành quả, theo hướng của phong trào và đời sống, những mầm giống phong nhiêu mà các nghị phụ Công đồng chung, được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa,

-------------------------------------
(1) AAS 56 (1964) trg 97-134.
(2) Hiến chế Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, s. l.
(3) Sứ điệp đầu tiên gửi thế giới (17 tháng 10, 1978) AAS 70 (1978), trg 920- 921.

đã gieo vãi vào đất tốt (xem Mt. 13, 8-23), nghĩa là các giáo huấn có thẩm quyền của các ngài, và những chọn lựa mục vụ của các ngài (3). Sau đó, đã nhiều lần, tôi đã khai triển, trên những điều khác biệt, giáo huấn của Công đồng về Phụng vụ (4) và tôi đã nhắc lại tầm quan trọng của Hiến chế Sacrosanctum Concilium đối với đời sống của Dân Chúa: trong Hiến chế nầy, người ta đã có thể khám phá cốt lõi của học thuyết về Giáo hội mà Đại Hội Công đồng sẽ đề ra sau đó. Hiến chế Sacrosanctum Concilium là văn kiện công đồng đầu tiên theo thứ tự thời gian, mào đầu (5) cho Hiến chế tín lý Lumen gentium về Giáo hội và ngược lại được phong phú thêm nhờ vào giáo huấn của Hiến chế nầy.

Sau một phần tư thế kỷ, một thời gian mà Giáo hội và xã hội đã gặp bao thay đổi sâu xa và nhanh chóng, giờ đây nên vạch rõ tầm quan trọng của Hiến chế công đồng này, tính hiện thực của nó trước sự xuất hiện của những vấn đề mới và giá trị thường hằng của những nguyên tắc của nó.

I. CANH TÂN THEO HƯỚNG ĐI CỦA TRUYỀN THỐNG

3. Để đáp ứng những mong mỏi của các Nghị phụ Công đồng Trentô quan tâm đến vấn đề cải tổ Giáo hội thời các ngài,

----------------------------------------------
(3) Sứ điệp đầu tiên gửi thế giới (17 tháng 10, 1978) AAS 70 (1978), trg 920-921.
Xem đặc biệt: Thông điệp Redemptor hominis (4 tháng ba 1979), s. 7. 18-22; AAS 71 (1979), trg 268-269, 301-324, Tông huấn Catechesi trandendae (16 tháng mười 1979), s. 23. 27-30. 33. 37. 48. 53-55. 66-68; AAS 71 (1979), trg 1296-1297, 1298-1303, 1305-1306, 1308-1309, 1316. Thư Dominicae Genae về mầu nhiệm và về lễ nghi Bí tích Thánh Thể (24 tháng hai 1980. AAS 72 (1980), trg 115-148. Thông điệp Dives in misericordia (30 tháng mười một 1980), s. 13-15; AAS 72 (1980), trg 1218-1232; Tông huấn Familiaris consortio (22 tháng mười một 1981) s. 13.15.19-21.33.38-39. 55-59. 66-68, AAS 74 (1982), trg 93-96, 97, 101-106, 120-123, 129-131, 147-152; Tông huấn sau

Đức Thánh Giáo hoàng Piô V đã tiến hành cải tổ các sách Phụng vụ, trước hết là sách nguyện và sách lễ. Đó cũng là mục tiêu mà các Giáo hoàng Rôma theo đuổi suốt nhiều thế kỷ sau đó khi các ngài cập nhật hoặc xác định rõ lễ nghi và sách phụng vụ, và bắt đầu từ buổi đầu thế kỷ nầy, các ngài đã thực hiện một cuộc cải tổ tổng quát hơn.

Thánh Giáo hoàng Piô X đã thiết lập một Ủy ban chuyên trách về việc cải tổ mà ngài nghĩ rằng cần phải có nhiều năm mới hoàn tất được công trình, nhưng ngài đã đặt viên đá đầu tiên cho tòa nhà bằng cách khôi phục việc cử hành Thánh lễ Chúa nhật và cải tổ sách nguyện Rôma (6). Ngài quả quyết: “Quả thực, tất cả những điều đó, theo đánh giá của các chuyên viên, đòi hỏi một công việc rộng lớn xét về tầm vóc và thời gian đòi hỏi, vì thế cần phải có nhiều năm làm việc trước khi “tòa lâu đài” phụng vụ, có thể nói được như thế… tái xuất hiện trong vẻ đẹp huy hoàng của sự cao trọng và hài hòa của nó, một khi được tẩy rửa sạch những vết nhăn vì thời gian (7).

Rồi Đức Piô XII cũng đã lập lại dự định lớn lao cải tổ phụng vụ khi ngài ban hành Thông điệp Mediator Dei (8) và bằng việc thiết lập một Ủy ban mới về vấn đề nầy (9). Mặt khác, ngài đã có những quyết định về những điểm quan trọng, như bản dịch mới về thánh vịnh, nhằm làm cho việc cầu nguyện với thánh vịnh được dễ hiểu (10), giảm nhẹ việc giữ chay

------------------------------------------------
Thượng hội đồng Reconciliatio et paenitentia (2 tháng 12. 1984): AAS 77 (1985), trg 185-275, đặc biệt các số 23-33, trg 233-271.
(5) Diễn từ gửi các tham dự viên Đại hội các chủ tịch và Thư ký các Ủy ban phụng vụ quốc gia (27 tháng mười 1984) s. l; Insegnamenti, VII, 2 (1984) trg 1049.
(6) Tông hiến Divino afflata (1 tháng mười một 1911): AAS 3 (1911), trg 633-638.
(7) Motu proprio Abhinc duos annos (23 tháng mười 1913): AAS 5 (1913), trg 449-450.
(8) 20 tháng mười một 1947: AAS 39 (1947), trg 521-600.

Thánh Thể nhằm thúc đẩy việc hiệp lễ được dễ dàng cho mọi người, sử dụng sinh ngữ trong các lễ nghi, và nhất là lập lại vọng phục sinh (11) và Tuần thánh (12).

Ở đầu Sách lễ Rôma năm 1962 có trích lời tuyên bố của Đức Gioan XXIII như sau “những nguyên tắc lớn hướng dẫn việc cải tổ toàn bộ phụng vụ phải được đưa ra cho các Nghị phụ trong Công đồng chung sắp tới” (13).

4. Một cải tổ phụng vụ toàn bộ như thế đã đáp ứng được sự chờ đợi chung trong Giáo hội. Vì tinh thần phụng vụ đã lan rộng càng lúc càng hơn trong hầu khắp mọi giới, với mong ước được “tham dự sinh động hơn vào những mầu nhiệm rất thánh và vào việc cầu nguyện trang trọng của Giáo hội (14), cùng với khát khao nghe Lời Chúa nhiều hơn. Vì gắn liền với việc cải tổ Kinh Thánh, với phong trào đại kết, với việc nghiên cứu về Giáo hội học, nên việc cải tổ phung vụ phải đóng góp vào việc đổi mới toàn bộ Giáo hội. Tôi đã nhắc lại điều đó trong thư Dominicae Cenae của tôi: “có một liên hệ rất chặt chẽ và hữu cơ giữa việc canh tân phụng vụ và canh tân toàn bộ đời sống Giáo hội. Giáo hội hoạt động trong phụng vụ, nhưng Giáo hội cũng tự diễn đạt trong phụng vụ, Giáo hội sống phụng vụ và

--------------------------------------------
(9) Thánh bộ Lễ nghi, Ban lịch sử, s. 71. Memoria sulla riforma liturgica (1946).
(10) Piô XII, Motu proprio In cotidianis precibus (24 tháng ba 1945): AAS 37 (1945), trg 65-67.
(11) Thánh bộ Lễ nghi, Sắc lệnh Dominicae Resurrectionis (9 tháng hai 1951): AAS 43 (1951), trg 128-129.
(12) Thánh bộ Lễ nghi, Sắc lệnh Maxima Redem ptionis (16 tháng mười một 1955): AAS 47 (1955), trg 838-841.
(13) Gioan XXIII, Motu proprio Rubricarum instructum (25 tháng bảy 1960): AAS 52 (1960) trg 594.
(14) Thánh Piô X, Motu proprio Tra le solleci tudini dell’officio pastorale (22 tháng 11, 1903): Piô X Pontificis Maximi Acta, I. trg 77.
Kín múc trong phụng v ụ những nguồn lực sinh động của mình (15).

Việc cải tổ những lễ nghi và các sách phụng vụ đã được tiến hành hầu khắp ngay sau khi công bố Hiến chế Sacrosanctum Concilium và đã được thực hiện trong vòng vài năm nhờ việc làm đáng kể và vô vụ lợi của một số đông các chuyên viên và chủ chăn của mọi miền trên thế giới (16).

Công tác nầy đã được hoàn thành theo nguyên tắc công đồng: trung thành với truyền thống và cởi mở với tiến bộ chính đáng (17). Vì thế, người ta có thể nói rằng việc cải tổ phụng vụ là rất truyền thống theo qui luật của các Thánh Giáo phụ (ad normam Sanctorum Patrum) (18).

II. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO CỦA HIẾN CHẾ.

5. Những nguyên tắc chỉ đạo của Hiến chế, trước đây đã là nền tảng cho việc cải tổ, thì nay vẫn là cơ bản để hướng dẫn tín hữu đến việc cử hành sinh động các mầu nhiệm, “nguồn mạch tiên khởi và tối cần cho tinh thần Kitô hữu chân chính” (19). Ngày nay khi mà phần lớn các sách phụng vụ đã được xuất bản, dịch và lưu hành, thì vẫn cần phải không ngừng tham chiếu và đào sâu những nguyên tắc nầy.

a. Hiện tại hóa mầu nhiệm phục sinh.

6. Trước hết đó là nguyên tắc hiện tại hóa mầu nhiệm phục sinh trong phụng vụ Giáo hội: “vì chính từ cạnh sườn Chúa Kitô bị treo trên thập giá mà bí tích khả kính của toàn Giáo hội được sinh ra” (20). Tất cả đời sống phụng vụ xoay quanh hy lễ Thánh Thể và những bí tích khác, nơi đó

-----------------------------------------
(15) Thư Dominicae Cenae (24 tháng hai 1980), s. 13: AAS 72 (1980), trg 77.
(16) Xem Hiến chế Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, s.25.
(17) Xem Ibid, s.23.
(18) Xem Ibid, s.50: Sách lễ Rôma, lời nói đầu, số 6.
(19) Xem Hiến chế Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, s.14.

chúng ta kín múc tận những nguồn mạch sống động của ơn cứu chuộc (xem Is.12,3) (21). Vì thế chúng ta phải ý thức rõ là “nhờ mầu nhiệm phục sinh, chúng ta đã được mai táng với Chúa Kitô trong bí tích rửa tội, ngõ hầu cùng với Ngài, chúng ta sống một đời mới” (22). Khi người tín hữu tham dự vào bí tích Thánh Thể, họ phải hiểu rằng thực sự “mỗi khi cử hành hy lễ tưởng niệm nầy, thì chính là công trình Cứu chuộc chúng ta được thực hiện” (23). Vì thế mà các chủ chăn phải kiên nhẫn huấn luyện họ cử hành trong mỗi ngày Chúa nhật công trình kỳ diệu mà Chúa Kitô đã hoàn tất trong mầu nhiệm Vượt qua của Ngài để rồi đến lượt họ, họ loan báo Ngài cho thế giới (24). Đêm phục sinh phải tái hiện trong tâm hồn mọi người - chủ chăn và tín hữu - với tầm quan trọng duy nhất của nó trong năm phụng vụ đến độ thực sự là ngày lễ của các ngày lễ.

Bởi vì sự chết của Chúa Kitô trên thập giá và sự phục sinh của Ngài cấu tạo nên nội dung của đời sống thường ngày của Giáo hội (25) và là bảo chứng của cuộc vượt qua đời đời của mình (26), nên phụng vụ có trách nhiệm hàng đầu là không ngừng dẫn đưa chúng ta trên đường phục sinh do Chúa Kitô khai mở, nơi đó mọi người chấp nhận chết để đi vào sự sống.

7. Để hiện tại hóa mầu nhiệm phục sinh của mình, Chúa Kitô vẫn luôn hiện diện với Giáo hội, nhất là trong những

------------------------------------------------
(20) Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.5, Missel romain, Vọng phục sinh, lời nguyện sau bài đọc 7.
(21) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, ss.5-6, 47.61.102.106-107.
(22) Sách lễ Rôma, Vọng phục sinh, cải tổ việc tuyên xưng đức tin bí tích rửa tội.
(23) Ibid. Lễ chiều kính nhớ Tiệc ly của Chúa, Lời nguyện trên lễ vật.
(24) Ibid. Préface của các ngày Chúa nhật, I.
(25) Xem Thông điệp Redemptor hominis (4 tháng ba 1979) s.7: AAS 71 (1979), trg 268-270.
(26) Xem Thư Dominicae Cenae (24 tháng hai 1980) s.4: AAS 72 (1980), trg 119-121.

hoạt động phụng vụ (27). Vì phụng vụ là “nơi” đặc biệt để người Kitô hữu gặp gỡ Thiên Chúa và Đấng được Thiên Chúa sai đến, là Đức Giêsu Kitô (xem Gio. 17, 3). Chúa Kitô luôn hiện diện trong Giáo hội khi Giáo hội tụ họp cầu nguyện nhân danh Ngài. Chính thực đó là điều xây dựng nên sự vĩ đại của cộng đoàn Kitô hữu và tạo nên lý do đòi phải có sự tiếp đón huynh đệ - đến mức độ tha thứ (xem Mt 5, 23-24) – và cũng đòi phải có sự trang trọng trong thái độ, cử chỉ và những bài hát.

Chúa Kitô hiện diện và hành động trong vị linh mục cử hành (28). Linh mục không chỉ là người được trao một trách vụ, nhưng do bởi bí tích truyền chức mà ngài đã nhận, nên đã được thánh hiến để hành động “với tư cách Chúa Kitô” (In persona Christi). Vì đó mà thái độ bên trong và bên ngoài của ngài phải phù hợp với tư cách đó, kể cả đến những trang phục phụng vụ, nơi chốn ngài cử hành và những lời ngài công bố.

Chúa Kitô hiện diện trong lời của linh mục, được công bố trong cộng đoàn và qua bài giảng bình giải. Lời này phải được lắng nghe trong đức tin và đón nhận trong lời cầu nguyện. Điều đó phải được mọi người nhìn thấy ở dáng vẻ khả kính của sách và nơi công bố lời Chúa, trong cung cách của người đọc sinh và trong thái độ ý thức mình là phát ngôn viên lời Chúa trước mặt anh em của mình. Chúa Kitô hiện diện và hành động bởi quyền năng Chúa

---------------------------------------
(27) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.7. Xem Phaolô VI, Thông điệp Mysterium fidei (3 tháng 9, 1965): AAS 57 (1965), trg 762, 764.

(28) Xem Thánh bộ Lễ nghi, Huấn thị Eucharisticum mysterium (25 tháng 5, 1967), s.9: AAS 59 (1967) trg 547.

Thánh Thần trong các bí tích, và một cách đặc biệt và tuyệt vời (sublimiori modo), trong hiến tế thánh lễ dưới hình thái Thánh Thể (29), ngay cả khi Thánh Thể được gìn giữ trong nhà Chầu ngoài thánh lễ, để dự phòng trước hết cho các bệnh nhân được rước Mình Thánh Chúa và cho giáo dân tôn thờ (30). Về vấn đề hiện diện thực sự và mầu nhiệm nầy, các chủ chăn phải thường xuyên nhắc nhở, qua việc giảng dạy giáo lý, về điểm giáo lý đức tin nầy mà người tín hữu phải sống và các nhà thần học được kêu gọi đào sâu. Niềm tin vào sự hiện diện của Chúa dẫn đến dấu chứng tôn kính bề ngoài đối với thánh đường, là nơi thánh mà Thiên Chúa tỏ hiện trong mầu nhiệm của Ngài (xem Ex 3,5), nhưng nhất là qua những lần cử hành bí tích: mong sao cho những sự thánh luôn được đối xử cách thánh thiện !

b. Việc đọc Lời Chúa.

8. Điểm thứ hai là về nguyên tắc hiện diện của Lời Chúa. Hiến chế Sacrosanctum cũng đã muốn tái lập “việc đọc Thánh Kinh dồi dào hơn, uyển chuyển hơn và thích ứng nhiều hơn” (31). Lý do sâu xa của việc tái lập nầy được diễn tả trong Hiến chế phụng vụ: “ngõ hầu sự kết hợp mật thiết giữa nghi thức và lời đọc trong phụng vụ được tỏ lộ rõ rệt” (32), và trong Hiến chế tín lý về Mạc khải thần linh: “Giáo hội đã luôn luôn tôn kính Thánh Kinh, cũng như Giáo hội đã luôn làm như thế đối với chính Thánh Thể, nhất là trong phụng vụ thánh, Giáo hội không ngừng lấy bánh hằng sống từ bàn tiệc Lời Chúa và từ bàn tiệc Mình Thánh Chúa để phân phát cho tín hữu” (33). Sự phát triển đời sống phụng vụ, và tiếp đó là sự tiến bộ trong đời sống Kitô hữu sẽ không thể có được nếu người ta không thường xuyên thúc đẩy nơi các tín hữu, và trước hết là nơi các linh mục, một “lòng mộ mến say mê và

----------------------------------------------
(29) Xem Phaolô VI, Thông điệp Mysterium fidei (3 tháng chín 1965): AAS 57 (1965), trg 763.
(30) Xem Phaolô VI, Thông điệp Mysterirm fidei, trg 769-771.
(31) Xem Hiến chế phụng vụ Sacrosanctum Concilium, s. 35.
(32) Ibid.
(33) Hiến chế Tín lý Dei Verbum, s.21.

sống động đối với Thánh Kinh” (34). Ngày nay Lời Chúa được biết đến nhiều hơn trong các cộng đoàn Kitô hữu, nhưng một sự canh tân đích thực vẫn còn và luôn đặt ra những yêu cầu khác nữa: đó là sự trung thành với nghĩa xác thực của Thánh Kinh là điều luôn phải giữ: đặc biệt khi Thánh Kinh được dịch ra những ngôn ngữ khác: cung cách công bố Lời Chúa để Lời Chúa được đón nhận chính xác chân thực, việc sử dụng những phương tiện kỹ thuật thích hợp, thái độ nội tâm của các thừa tác viên Lời Chúa để chu toàn xứng đáng trách vụ của mình trong cộng đoàn phụng vụ (35), việc chuẩn bị cẩn thận bài giảng nhờ nghiên cứu và suy niệm, sự quan tâm của người tín hữu vào việc tham dự bàn tiệc Lời Chúa, lòng mộ mến cầu nguyện với thánh vịnh, ước muốn khám phá Chúa Kitô trong Thánh Kinh cũng như trong Bánh được chia sẻ, như các môn đệ làng Emmaus xưa” (36).

c. Giáo hội tự biểu lộ.

9. Sau hết, Công đồng đã muốn thấy sự hiển linh của Giáo hội trong phụng vụ. Phụng vụ là Giáo hội cầu nguyện. Khi cử hành phượng tự thần linh, Giáo hội diễn tả chính mình: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.

Giáo hội tự biểu lộ là duy nhất, sự duy nhất nầy xuất phát từ chính Thiên Chúa Ba Ngôi (37), nhất là khi dân thánh của Thiên Chúa tham dự “vào cùng một Thánh Thể, trong một lời nguyện duy nhất, bên bàn thờ duy nhất nơi Giám mục chủ tọa cùng với linh mục đoàn và các thừa tác viên của ngài” (38). Ước gì đừng có chuyện gì gây đổ vỡ và suy yếu cho sự duy nhất nầy của Giáo hội trong việc cử hành phụng vụ !

-----------------------------------------
(34) Hiến chế phụng vụ Sacrosanctum Concilium, s.24.
(35) Xem thư Dominicae Cenae (24 tháng hai, 1980), s.10: AAS 72 (1980) trg 134-137.
(36) Xem phụng vụ giờ kinh, thứ hai tuần IV, lời nguyện kinh chiều.
(37) Xem Sách lễ Rôma, Lời tựa các ngày Chúa Nhật VIII.
(38) Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s. 41.

Giáo hội diễn tả sự thánh thiện đến với mình từ Chúa Kitô (x. Eph 5, 26-27), khi được qui tụ trong một thân thể do Chúa Thánh Thần, Đấng thánh hóa (39) và ban sự sống (40). Giáo hội thông truyền cho các tín hữu mọi ân sủng và phúc lành của Chúa Cha, qua bàn tiệc Thánh Thể và những bí tích khác. (41).

Trong cử hành phụng vụ, Giáo hội diễn tả tính Công giáo, bởi vì trong Giáo hội, Thánh Thần Chúa qui tụ mọi người thuộc mọi ngôn ngữ cùng tuyên xưng một niềm tin chung (42), và từ phương Đông đến phương Tây, Giáo hội dâng lên Thiên Chúa Cha hiến lễ là Chúa Kitô và cùng dâng hiến chính mình hợp với Chúa Kitô (43).

Sau hết, trong phụng vụ Giáo hội biểu lộ là một Giáo hội tông truyền, bởi vì đức tin mà Giáo hội tuyên xưng thì được xây dựng trên chứng tá của các tông đồ, bởi vì trong việc cử hành các mầu nhiệm được giám mục kế vị các tông đồ chủ sự, hoặc do một thừa tác viên được ủy nhiệm kế tục sự nghiệp các tông đồ. Giáo hội trung thành chuyển lại những gì mình đã nhận từ truyền thống tông đồ, bởi vì việc phụng tự mà Giáo hội dâng lên Thiên Chúa dạy cho Giáo hội rằng mình có sứ vụ tỏa chiếu Tin mừng trong thế giới nầy.

Như thế, chính trước hết là trong phụng vụ mà mầu nhiệm Giáo hội được loan báo, thưởng nếm và được sống (44).

III. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG NHẰM HƯỚNG DẪN CANH TÂN ĐỜI SỐNG PHỤNG VỤ.

10. Từ những nguyên tắc nói trên rút ra được những qui luật

---------------------------------------------
(39) Xem Sách lễ Rôma, Lời nguyện Thánh Thể II và IV.
(40) Xem Ibid, Lời nguyện Thánh Thể III, Kinh tin kính CĐ Nicée-Constantinople.
(41) Xem Ibid, Lời nguyện Thánh Thể I.
(42) Sách lễ Rôma, Chúc lành trọng thể lễ Chúa nhật Hiện xuống
(43) Xem Diễn từ gửi các tham dự viên Hội nghị các Chủ tịch và thư ký Ủy ban quốc gia về phụng vụ ( 27/10/1984 )

và định hướng hướng dẫn việc canh tân đời sống phụng vụ. Nếu như việc cải tổ phụng vụ theo như mong muốn của Công đồng Vatican II có thể xem như là đã được hoàn tất rồi, thì ngược lại, việc mục vụ phụng vụ tạo nên một bổn phận thường xuyên ngõ hầu luôn kín múc ngày càng dồi dào hơn nữa trong phụng vụ sung mãn, sức mạnh đầy sinh lực, phát xuất từ Chúa Kitô và tràn lan sang các chi thể của Nhiệm thể Người là Giáo hội.

Bởi vì phụng vụ là việc thi hành chức linh mục của Chúa Kitô, nên cần thiết phải luôn duy trì cho sống động lời xác quyết của người môn đệ đứng trước sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa Kitô: “Chính Thầy đó !” (Ga 21,7). Trong phụng vụ, không thể có điều gì chúng ta làm mà được tỏ ra như là quan trọng hơn điều Chúa Kitô thực hiện cách vô hình nhưng thực sự, do Thánh Thần của Người. Vì đức tin sinh động dẫn đến đức ái, do đó sự tôn thờ, lời ca ngợi Chúa Cha và sự thinh lặng chiêm niệm sẽ luôn là những mục tiêu đầu tiên mà việc mục vụ phụng vụ và bí tích phải đạt đến.

Bởi vì phụng vụ luôn thấm nhuần Lời Chúa, nên mọi lời khác phải hòa hợp nhịp nhàng với Lời Chúa, trước hết là bài giảng, nhưng ngay cả các bài hát và các lời hướng dẫn cũng thế. Không được dùng một bài đọc nào khác để thay thế lời Thánh Kinh, và lời loài người phải phục vụ Lời Thiên Chúa, chứ không được che khuất Lời Chúa.

Bởi vì “những hành động phụng vụ không phải là những hành động riêng tư, nhưng là những cử hành của Giáo hội là bí tích hiệp nhất” (45), nên kỷ luật phụng vụ chỉ tùy thuộc nơi quyền theo phẩm trật Giáo hội (46). Chính vì đó mà không cho phép người nào, ngay cả linh mục, hoặc một nhóm nào bất cứ,

---------------------------------------------
(45) Hiến chế Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, số 26.
(46) Xem Ibid, ss. 22 và 26
(47) Xem Ibid, s. 26

được tự ý thêm vào, bỏ bớt hoặc thay đổi bất cứ điều gì (48). Sự trung thành với các lễ nghi và bản văn chính thức của phụng vụ là một bó buộc theo “luật cầu nguyện” (lex orandi), là luật phải luôn phù hợp với “luật đức tin” (lex credendi). Thiếu sót trong việc trung thành về điểm nầy có thể đụng chạm đến chính việc thành sự của bí tích.

Bởi vì là việc cử hành của Giáo hội, phụng vụ mời gọi sự tham dự đầy đủ, ý thức và sống động của mọi người, tùy theo cấp bậc và phận vụ: (49) mọi người, thừa tác viên và tín hữu, trong khi chu toàn phận vụ của mình, nên thi hành trọn vẹn những gì thuộc lãnh vực mình thôi (50). Chính vì đó mà Giáo hội quý chuộng việc cử hành cộng đồng hơn, khi bản chất của các lễ nghi đòi hỏi (51). Giáo hội khuyến khích việc huấn luyện những người giúp lễ, đọc sách, ca viên, người dẫn giải; vì những người nầy chu toàn một thừa tác vụ phụng vụ thực sự (52), Giáo hội đã tái lập việc đồng tế (53), Giáo hội khuyên nên cùng chu toàn với nhau Kinh Nhật tụng (54).

Bởi vì phụng vụ là trường dạy cầu nguyện của Giáo hội, nên xét thấy là tốt việc sử dụng và phát triển các sinh ngữ mà không bỏ việc sử dụng La ngữ đã được Công đồng giữ lại cho các lễ nghi Latinh (55), - ngõ hầu mỗi người có thể nghe và tung hô những kỳ công của Thiên Chúa bằng tiếng mẹ của mình (xem Ac 2,11); và cũng xét thấy là tốt việc thêm số những kinh tiền tụng (préfaces) và những kinh nguyện Thánh Thể, làm giàu cho kho tàng cầu nguyện và thâm hiểu những mầu nhiệm Chúa Kitô.

Bởi vì phụng vụ có giá trị mục vụ lớn lao, nên các sách

----------------------------------------------------
(48) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.22.
(49) Xem Ibid, s.26
(50) Xem Ibid, s.28
(51) Xem Ibid, s.27
(52) Xem Ibid, s.29
(53) Xem Ibid, s. 57, xem Thánh bộ Lễ nghi, Sắc lệnh chung Ecclesiae semper (7 tháng ba 1965): AAS 57 (1965) trg 410-412
(54) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium s. 99
(55) Xem Ibid, s. 36

phụng vụ đã dự trù một quyền rộng rãi cho việc thích nghi với từng cộng đoàn và những cá nhân, và cũng dự trù khả năng mở rộng cho các tinh hoa và văn hóa của các dân tộc khác nhau (56). Việc duyệt xét lại các lễ nghi nhằm tìm kiếm nét đơn sơ cao quí (57) và những dấu chỉ dễ hiểu, nhưng sự đơn sơ mong ước không được làm nghèo đi nét đẹp của các dấu chỉ. Trái lại, các dấu chỉ, nhất là những dấu chỉ bí tích, phải có được nét diễn đạt phong phú hơn nữa. Bánh và rượu nho, nước và dầu, nhưng còn cả đến hương, tro, hoa, đèn và hầu hết mọi yếu tố của tạo vật đều có chỗ đứng trong phụng vụ như là của lễ dâng lên Đấng Tạo hóa và góp phần vào nét thanh cao và vẻ đẹp của việc cử hành các lễ nghi.

IV. ÁP DỤNG CỤ THỂ CỦA VIỆC CẢI TỔ

a. Những khó khăn.

11. Cần phải nhìn nhận rằng việc áp dụng cải tổ phụng vụ đã gặp phải những khó khăn nhất là do bối cảnh chưa thuận lợi lắm bởi việc tư nhân hóa lãnh vực tôn giáo, bởi một sự chối bỏ nào đó mọi cơ cấu, bởi sự hiện diện ít rõ nét hơn của Giáo hội trong xã hội, bởi việc đặt lại vấn đề đức tin cá nhân. Người ta cũng có thể ước đoán rằng bước quá độ từ sự tham dự đơn giản, thường khá thụ động và câm lặng sang đến việc tham dự tích cực và sống động hơn đã là một đòi hỏi quá mạnh mẽ đối với nhiều người. Vì đó nảy sinh nhiều thái độ khác biệt và ngay cả đối kháng với việc cải tổ: một số người đã đón nhận những sách mới cách khá dửng dưng hoặc không tìm hiểu cũng như không làm cho người khác hiểu những động cơ của những thay đổi, một số người khác, khốn thay, vẫn cứ khư khư đơn phương bám chặt những hình thức phụng vụ trước đây, mà một số người quan niệm rằng các hình thức đó là bảo đảm duy nhất cho đức tin, sau cùng một số người khác đã khởi xướng những đổi mới tuỳ hứng,

----------------------------------------------
(56) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, ss. 37-40.
(57) Xem Ibid, s.34.

xa cách với những qui luật do Thẩm quyền Tòa thánh hoặc các giám mục thiết lập, gây xáo trộn cho sự hiệp nhất Giáo hội và lòng đạo đức của tín hữu, đôi khi đụng chạm đến cả những dữ kiện đức tin.

b. Những kết quả tích cực

12. Nhưng không vì thế mà quên rằng rất đông đảo các chủ chăn và dân Kitô giáo đã đón nhận việc cải tổ phụng vụ với tâm tình vâng phục và hăng say phấn khởi nữa. Chính vì đó phải tạ ơn Thiên Chúa vì đã ban cho ta cuộc viếng thăm của Thánh Thần Ngài trong Giáo hội, tức là công cuộc canh tân phụng vụ vừa qua (58), và bàn tiệc Lời Chúa, từ nay được mở rộng cho tất cả mọi người (59), tạ ơn vì nỗ lực to lớn được thực hiện trên khắp thế giới nhằm cung cấp cho dân Kitô giáo những bản dịch Thánh Kinh, Thánh lễ và những sách phụng vụ khác, tạ ơn vì sự tham dự gia tăng của các tín hữu vào bí tích Thánh Thể và những bí tích khác qua lời kinh nguyện và lời ca, qua những cử chỉ và lúc thinh lặng, tạ ơn vì những tác vụ do giáo dân chu toàn và những trách nhiệm họ gánh vác do chức linh mục cộng đồng họ đã lãnh nhận qua bí tích rửa tội và thêm sức, tạ ơn vì sinh lực lan tỏa của nhiều cộng đoàn Kitô giáo, sinh lực được kín múc ở suối nguồn phụng vụ.

Đó là bao động cơ để trung thành gắn bó với giảng huấn của Hiến chế Sacrosanctum Concilium và với những cải tổ mà Hiến chế cho phép thực hiện: “Việc canh tân phụng vụ là hoa trái hiển nhiên nhất của toàn bộ công trình của Công đồng” (60). Đối với nhiều người, sứ điệp của Công đồng Vatican II đã được nhận thấy trước hết qua việc cải tổ phụng vụ.

c. Những áp dụng lệch lạc.

13. Bên cạnh những thành quả của việc cải tổ phụng vụ, cần phải nhìn nhận và hối tiếc một số những lệch lạc ít nhiều trầm trọng hơn trong việc áp dụng cải tổ.

Người ta nhận thấy đôi khi có những thêm bớt trái phép, những lễ nghi được sáng chế vượt khỏi những qui luật ấn định, những cử chỉ hoặc những bài hát không nâng đỡ cho đức tin hoặc cảm thức thiêng liêng, những lạm dụng trong việc cử hành sám hối tập thể, nhưng lẫn lộn giữa chức linh mục thừa tác do việc truyền chức và chức linh mục cộng đồng của tín hữu có nền tảng trong bí tích rửa tội.

Không thể chấp nhận việc một số linh mục tự cho mình có quyền soạn những kinh nguyện Thánh Thể hoặc thay thế những bản văn Thánh Kinh bằng những bản văn thường (profanes). Những sáng kiến như thế, thay vì gắn liền với việc cải tổ phụng vụ hoặc với những sách phát xuất từ cải tổ, thì lại trực tiếp đi ngược cải tổ, bóp méo cải tổ và khiến người Kitô hữu phải mất mát những nguồn phong phú đích thực của phụng vụ Giáo hội. Các giám mục có nhiệm vụ cấm những lạm dụng nầy, bởi vì việc quản lý phụng vụ tùy thuộc giám mục, trong những giới hạn thẩm quyền (61), và vì đời sống Kitô hữu của người tín hữu phát xuất từ ngài phần nào. (62)

V. TƯƠNG LAI CỦA CÔNG CUỘC CANH TÂN

14. Hiến chế Sacrosanctum Concilium đã diễn tả sự đồng thanh nhất trí của Giám mục đoàn qui tụ chung quanh người kế vị thánh Phêrô, và với sự trợ giúp của Thánh Thần chân lý đã được Chúa Giêsu hứa ban (xem Gio 15,26): Hiến chế vẫn còn tiếp tục lôi kéo Giáo hội theo hướng canh tân

-------------------------------------------
(60) Báo cáo chung kết của Đại hội bất thường Thượng hội đồng giám mục (7 tháng 12, 1985), II, B,b,1.
(61) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.22, 1.
(62) Ibid, s.41.

và đường thánh thiện, đồng thời phát huy đời sống phụng vụ đích thực.

Những nguyên tắc đưa ra trong tài liệu này cũng là những định hướng cho tương lai của phụng vụ, sao cho việc cải tổ phụng vụ luôn được thấu hiểu và được thực hiện hơn nữa. “Vì thế cần thiết và rất thích hợp tổ chức lại việc huấn luyện tập trung (éducation intensive) nhằm giúp khám phá những phong phú chứa đựng trong phụng vụ hiện nay. (63)

Phụng vụ của Giáo hội vượt lên trên cả việc cải tổ phụng vụ. Chúng ta không đứng ở cùng một tình trạng như năm 1963, một thế hệ gồm những linh mục và tín hữu trước đây chưa hề biết đến các sách phụng vụ trước thời kỳ cải tổ, thì ngày nay đang thi hành những trách vụ trong Giáo hội và xã hội. Vì thế người ta không thể tiếp tục nói về vấn đề thay đổi như vào thời điểm phát hành tài liệu, nhưng là nói về vấn đề đào sâu luôn mãi mạnh mẽ hơn về phụng vụ Giáo hội, được cử hành theo những sách hiện hành và được sống trước hết như một thực tại thiêng liêng.

a. Việc huấn luyện Thánh Kinh và Phụng vụ

15. Nhiệm vụ khẩn thiết nhất hiện nay là việc huấn luyện Thánh Kinh và Phụng vụ cho dân Thiên Chúa, chủ chăn và tín hữu. Hiến chế đã có nhấn mạnh điểm này: “Sẽ không có hy vọng nào đạt được thành quả đó, (sự tham dự đầy đủ và sống động của toàn dân), nếu trước hết chính các chủ chăn không thấm nhuần sâu rộng tinh thần và sức mạnh của phụng vụ cũng như không đủ khả năng giảng dạy phụng vụ” (64). Đó là cả một công trình lâu dài, phải được bắt đầu trong các Chủng viện và những Học viện huấn luyện (65), và phải được tiếp tục

------------------------------
(63) Thư Dominicae Cenae (24 tháng hai 1980), s.9: AAS 72(1980) trg 133.
(64) Hiến chế Phụng vụ Sacrosanctum Concilium, s.14
(65) Xem Thánh bộ Lễ nghi, Huấn thị Inter oecumenici (26 tháng 9,1964) ss. 11-13:AAS 56 (1964), trg 879-880, Thánh bộ Giáo dục công giáo, “Ratio fundamentalis” về việc huấn luyện linh mục (6 tháng 1, 1970), ch. VIII: AAS 62 (1970), trg 361, Huấn thị In ecclesiasticam futurorum về huấn luyện phụng vụ trong các chủng viện (3 tháng 6, 1979) Roma 1979.

theo đuổi suốt đời linh mục (66). Việc huấn luyện này, được thích ứng với bậc sống của họ, cũng rất cần thiết đối với giáo dân (67), càng cần thiết hơn khi trong nhiều miền trên thế giới, giáo dân được mời gọi đảm nhận những trách nhiệm càng lúc càng cao trong cộng đoàn.

b. Việc thích ứng

16. Một trách vụ khác nữa cho tương lai là trách vụ thích ứng phụng vụ cho nhiều văn hóa khác biệt. Hiến chế đã đưa ra nguyên tắc và hướng dẫn thể thức tiến hành đối với các Hội đồng giám mục (68). Việc thích ứng các ngôn ngữ đã tiến hành nhanh chóng, mặc dù đôi lúc cũng thực hiện khó khăn. Tiếp theo là việc thích ứng về lễ nghi, có phần tế nhị hơn, nhưng cũng cần thiết. Nỗ lực theo đuổi vẫn còn dài nhằm làm cho phụng vụ được bén rễ trong những nền văn hóa khác biệt, bằng cách đón nhận nơi một nền văn hóa những cung cách diễn đạt có thể hòa nhịp với những khía cạnh của tinh thần phụng vụ đích thực và chính thống, trong sự tôn trọng tính duy nhất bản thể của lễ nghi rôma ( unité substantielle du rite romain) được diễn tả trong những sách phụng vụ (69). Việc thích ứng phải lưu ý đến sự kiện này là trong phụng vụ, nhất là phụng vụ bí tích, vẫn có một thành phần không thay đổi (une partie immuable) - bởi vì đó là do Thần lập (d’institution divine) -, mà Giáo hội là người bảo vệ, và những thành phần có thể thay đổi (parties susceptibles de changement) mà Giáo hội có quyền và đôi khi phải nói là có bổn phận thích ứng với những văn hóa của những dân tộc mới được Tin mừng hóa (70). Đây không phải là vấn đề mới mẻ trong Giáo hội: sự dị biệt phụng vụ có thể là nguồn sung mãn, cũng có thể gây nên căng thẳng, bất đồng và ngay cả ly giáo. Trong lãnh vực này, rõ ràng

----------------------------------------
(66) Xem Thánh bộ Lễ nghi, Huấn thị Inter oecumenici (26 tháng 9, 1964) ss. 141
7: AAS 56 (1964), trg 880-881.
(67) Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.19
(68) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s. 39
(69) Ibid, ss.37-40.
(70) Ibid, s.21.

là sự dị biệt không được làm hại đến sự hiệp nhất. Dị biệt chỉ có thể diễn đạt trong sự trung thành với niềm tin chung, với những dấu chỉ bí tích mà Giáo hội đã lãnh nhận từ Chúa Kitô, và với sự thông hiệp theo phẩm trật. Sự thích ứng với các văn hóa đòi hỏi một sự hoán cải nội tâm, và nếu có thể được, thì đó là những đoạn tuyệt với những tập tục tổ tiên không thích hợp với đức tin công giáo. Điều đó đòi hỏi một sự huấn luyện nghiêm túc về thần học, lịch sử và văn hóa, và đòi hỏi một sự phê phán lành mạnh để phân biệt cái gì là cần hoặc hữu ích, hoặc trái lại là bất lợi hoặc nguy hiểm cho đức tin. “Một tiến bộ thỏa đáng trong lãnh vực này chỉ có thể là thành quả của sự trưởng thành tiệm tiến trong đức tin, cảm thức về Giáo hội phổ quát, trong một sự nhất trí rộng lớn” (71)

c. Lưu tâm đến những vấn đề mới.

17. Nỗ lực canh tân phụng vụ còn phải đáp ứng được những yêu cầu của thời đại chúng ta. Phụng vụ không phải là phi nhập thể (désincarnée) (72). Từ hai mươi lăm năm nay, những vấn đề mới đã được đặt ra hoặc đã có một điểm nổi cộm mới, chẳng hạn như vấn đề thi hành chức phó tế được trao cho những nam nhân có gia đình, những trách vụ trao phó giáo dân nam và nữ, trong các buổi cử hành, các buổi cử hành phụng vụ cho thiếu nhi, cho giới trẻ và cho những người khuyết tật, những phương thức soạn thảo những bản văn phụng vụ thích hợp một xứ nào.

Hiến chế Sacrosanctum Concilium không đề cập đến những vấn đề này, nhưng đưa ra những nguyên tắc chung tổng quát nhằm phối hợp và cổ vũ đời sống phụng vụ.

-------------------------------------
(71) Diễn từ gửi nhóm giám mục Hội đồng giám mục Zaire (12 tháng tư 1983) s.5:
AAS 75 (1983), trg 620.
(72) Diễn từ gửi các thành viên Hội nghị các chủ tịch và thư ký các Ủy ban quốc gia về phụng vụ (27 tháng mười 1984) s.2: Insegnamenti, VII: 2 (1984), trg 1051.

c. Phụng vụ và lòng đạo đức bình dân.

18. Sau hết, để gìn giữ việc cải tổ và bảo đảm sự tiến bộ của phụng vụ (73), cần phải lưu ý đến lòng đạo đức bình dân Kitô giáo và những tương quan của nó với đời sống phụng vụ (74). Lòng đạo đức bình dân này không thể bị quên lãng hoặc bị đối xử dửng dưng hoặc khinh chê, bởi vì lòng đạo đức này có nhiều giá trị (75) và lâu nay tự chính mình, lòng đạo đức này diễn tả nền tảng tôn giáo của con người đối với Thiên Chúa. Nhưng nó không ngừng cần được Tin mừng hóa ngõ hầu đức tin gợi hứng cho lòng đạo đức này, được diễn tả bởi một hành vi luôn có suy nghĩ hơn và chân thực hơn. Những việc đạo đức của dân Kitô giáo (76), cũng như những hình thức sùng mộ khác, đều được đón nhận và khuyến khích, miễn là chúng không thay thế và không lẫn lộn với những cử hành phụng vụ. Mục vụ phụng vụ chân thực biết dựa trên sự phong phú của lòng đạo đức bình dân, thanh luyện chúng và hướng chúng về phụng vụ như là hiến vật của toàn dân (77).

VI. NHỮNG CƠ QUAN CHỊU TRÁCH NHIỆM VỀ CANH TÂN PHỤNG VỤ

a. Thánh bộ Phượng tự thánh và kỷ luật bí tích.

19. Trách nhiệm cổ vũ cho việc canh tân phụng vụ trước hết thuộc về Tòa thánh (78). Cách đây bốn trăm năm, Đức Sixtô V đã thiết lập Thánh bộ lễ nghi và trao cho Thánh bộ trách vụ giám sát việc thực thi phụng tự thánh, được cải tổ

-------------------------------------------
(73) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.1
(74) Xem Ibid, ss. 12-13.
(75) Xem Phaolô VI, Tông huấn Evangelii nuntiandi (8/12/1975) s. 43:AAS 68
(1976), trg 37-38.
(76) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.13
(77) Diễn từ gửi Hội nghi các giám mục Abruzzos và Molise qua chuyến viếng thăm “ad limina” (24/4/1986) ss. 3-7: AAS 78 (1986), trg 1140-1143.
(78) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s. 22, 1.

do Công đồng Trentô. Thánh Piô X cũng đã thiết lập một Thánh bộ khác về kỷ luật bí tích. Nhằm để vận dụng Hiến chế phụng vụ của Công đồng Vatican II, Đức Phaolô VI đã thiết lập một Hội đồng (79), sau đó là Thánh bộ Phượng tự thánh (80) đã hoàn thành trọng trách nhận lãnh với lòng quảng đại, đầy năng lực và nhanh nhẹn. Theo sự sắp đặt mới của hệ thống giáo triều Rôma, như Tông hiến Pastor bonus đã tiên liệu, thì mọi lãnh vực phụng vụ thánh đều được thống nhất và qui về tòa án duy nhất là Thánh bộ Phượng tự và Kỷ luật bí tích. Ngoại trừ Thánh bộ về giáo lý đức tin vẫn giữ nguyên thẩm quyền, Thánh bộ nói trên có nhiệm vụ điều chỉnh và cổ vũ phụng vụ mà các bí tích là thành phần thiết yếu, bằng cách khuyến khích hoạt động mục vụ phụng vụ (82), nâng đỡ những cơ quan khác chuyên lo về việc mục vụ phụng vụ, về thánh nhạc, về bài hát và nghệ thuật thánh (83), và giám sát về kỷ luật bí tích (84). Đó là cả một công tác quan trọng, bởi vì trước hết chính là việc trung thành gìn giữ những nguyên tắc lớn của phụng vụ công giáo, được minh họa và khai triển trong Hiến chế công đồng và đồng thời là việc thấm nhuần các nguyên tắc đó ngõ hầu cổ vũ và đào sâu việc canh tân phụng vụ trong toàn Giáo hội.

Vì đó, Thánh bộ sẽ giúp đỡ các giám mục địa phận trong trách vụ các ngài để dâng lên Thiên Chúa việc phượng thờ Kitô giáo và điều chỉnh việc phượng thờ đó theo những huấn lệnh của Chúa và luật lệ của Giáo hội (85). Thánh bộ sẽ liên lạc

-------------------------------------------
(79) Tông thư Sacram Liturgiam (25 tháng 1, 1964), ss. 3-7: AAS 78 (1966), trg
139-144
(80) Tông hiến Sacra Liturg Rituum Congregatio (8 tháng 5, 1969) AAS 61 (1969),
trg 297-305.
(81) Tông hiến Pastor Bonus (28 tháng 6, 1988), s. 69: AAS 80 (1988), trg 876.
(82) Xem Ibid, s. 65 64: 1.c. trg 876-877.
(83) Xem Ibid, ss. 63 và 66: 1.c. trg 876 và 877.
(85) Xem Hiến chế tín lý Lumen gentium, s. 26, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s.22, 1.

mật thiết và tin tưởng với những Hội đồng giám mục trong những gì liên quan đến thẩm quyền của Hội đồng Giám mục trong lãnh vực phụng vụ (86).

b. Những Hội đồng giám mục

20. Những Hội đông giám mục có trọng trách chuẩn bị những bản dịch cho các sách phụng vụ (87). Những yêu cầu hiện thời đôi khi đưa đến việc sử dụng những bản dịch tạm thời, được chuẩn nhận “ad interim” (cách tạm thời). Nhưng đã đến lúc phải suy nghĩ lại những khó khăn lâu nay, và sửa chữa một số những khuyết điểm hoặc một số điểm chưa hoàn chỉnh, bổ túc những bản dịch từng phần, sáng tác hoặc chuẩn nhận những bài hát sử dụng trong phụng vụ, giám sát việc tôn trọng các bản văn đã được chuẩn nhận, và sau hết ấn hành những sách phụng vụ trong một tình trạng mà mọi người có thể xem như là được chấp nhận lâu dài và được trình bày xứng đáng với những mầu nhiệm được cử hành.

Để thi hành công tác phiên dịch, nhưng cũng để có được sự nhất trí rộng lớn hơn theo tầm vóc toàn quốc, các Hội đồng giám mục phải thiết lập một Ủy ban quốc gia và tìm được sự cộng tác của những người chuyên môn trong những ngành khác biệt về khoa học (…) tông đồ phụng vụ (88). Cũng cần phải tìm hiểu về bản tổng kê gồm phương diện tích cực hoặc tiêu cực của Ủy ban này, về những định hướng và sự trợ giúp mà Ủy ban đã nhận được từ phía Hội đồng giám mục trong sự hình thành hoặc hoạt động của Ủy ban. Vai trò của Ủy ban này càng tế nhị hơn rất nhiều khi Hội đồng muốn bàn đến một số biện pháp nhằm thích ứng hoặc hội nhập văn hóa sâu rộng hơn (89); đó lại càng là lý do để giám sát và cắt cử vào đây những nhân sự thật chuyên môn.

--------------------------------------------
(86) Xem Tông hiến Pastor Bonus, s. 64,3: 1.c. trg 877.
(87) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s. 36 và 63.
(88) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, s. 44.
(89) Xem Ibid, s.40.


c. Giám mục Địa phận

21. Trong mỗi Địa phận, Giám mục là người phân phát chính yếu những mầu nhiệm Thiên Chúa và cũng là người tổ chức, người phát động và bảo vệ toàn bộ đời sống phụng vụ trong Giáo hội được trao phó cho ngài (90). Mỗi khi giám mục cử hành phụng vụ giữa dân ngài, thì đó chính là mầu nhiệm của Giáo hội được tỏ lộ. Vì đó mà giám mục cần phải xác tín mạnh mẽ về tầm quan trọng của những cử hành như thế đối với đời sống Kitô hữu của tín hữu của ngài. Những cử hành đó phải là mẫu mực cho toàn địa phận (91). Cũng còn nhiều việc phải làm nhằm giúp các linh mục và tín hữu thâm hiểu ý nghĩa của các nghi lễ và những bản văn phụng vụ, ngõ hầu phát triển phẩm giá và vẻ đẹp của những cử hành phụng vụ và nơi phụng vụ, hầu cổ vũ, theo cách nói của các Nghị phụ, một “huấn giáo thần bí” (catéchèse mystagogique) của các bí tích. Để chu toàn trách vụ này, giám mục phải thiết lập một hoặc ngay cả nhiều Ủy ban cấp địa phận nhằm trợ giúp ngài cổ vũ hoạt động phụng vụ, thánh nhạc và nghệ thuật thánh trong địa phận của ngài (92). Về phần Ủy ban địa phận, Ủy ban sẽ hoạt động theo tư tưởng và chỉ đạo của Giám mục, và phải đặt niềm tin tưởng vào quyền bính và sự khuyến khích của ngài để hoàn thành vai trò của mình.

Kết luận.

22. Phụng vụ không phải là tất cả hoạt động của Giáo hội, nhưng Phụng vụ là nguồn mạch và là đỉnh cao (94). Phụng vụ là nguồn mạch bởi vì, chính yếu trong các bí tích mà người

--------------------------------------------
(90) xem Sắc lệnh Christus Dominus, s.15.
(91) xem Diễn văn gửi các giám mục Ý tham dự khóa huấn luyện phụng vụ (12
tháng hai 1988) s.1:l’Osservatore Romano, 13 tháng hai 1988, trg 4.
(92) xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, ss 45-46.
(93) xem Ibid, s.10
(94) xem Ibid, s. 23.

tín hữu múc lấy dồi dào nước ân sủng tuôn chảy từ cạnh sườn Chúa Kitô trên thập giá. Lấy lại hình ảnh thân quen của Đức Gioan XXIII, phụng vụ như là giếng nước của thôn làng, nơi mỗi thế hệ đến kín múc nước luôn đầy sức sống và mát mẻ. Phụng vụ là đỉnh cao, bởi vì tất cả hoạt động của Giáo hội hướng về việc kết hiệp đời sống với Chúa Kitô và chính trong phụng vụ mà Giáo hội biểu lộ và thông ban cho tín hữu công trình cứu độ đã được Chúa Kitô thực hiện một lần thay cho tất cả.

23. Xem ra đã đến lúc cần tìm lại luồng gió lớn đã nâng Giáo hội lên vào thời điểm Hiến chế Sacrosanctum Concilium được chuẩn bị, thảo luận, bỏ phiếu, công bố và vào lúc Hiến chế đã chứng kiến những biện pháp áp dụng ban đầu. Hạt giống đã được gieo vãi: đã chịu kinh nghiệm sự khắc nghiệt của mùa đông, nhưng hạt giống đã lên mầm, đã trưởng thành nên cây lớn. Vì thế, đây đúng là vấn đề tăng trưởng hữu cơ của cây: càng đâm rễ sâu vào đất truyền thống thì cây càng mọc khỏe lên. (95) Tôi muốn nhắc lại ở đây điều mà tôi đã nói với Hội nghị các Ủy ban phụng vụ vào năm 1984: là trong công trình canh tân phụng vụ theo mong muốn của Công đồng, cần phải luôn quan tâm “cách quân bình nhất, đến phần của Thiên Chúa và phần của con người, giáo phẩm và tín hữu, truyền thống và tiến bộ, luật lệ và việc thích nghi, cái riêng và cái chung, thinh lặng và xướng hát. Như thế phụng vụ trần gian sẽ nối kết với phụng vụ thiên quốc, nơi (…) sẽ hình thành một ca đoàn duy nhất (…) để đồng thanh cất lên bài ca chúc tụng dâng về Chúa Cha nhờ Chúa Giêsu Kitô” (96).

Với ước nguyện tràn đầy tin tưởng, biến thành lời cầu nguyện trong lòng tôi, tôi ban phép lành tòa thánh cho tất cả chư huynh.

Vatican ngày 4 tháng mười hai 1988, năm thứ mười một triều đại giáo hoàng của tôi.

JOANNES PAULUS PP II

-------------------------------------
(95) Xem Hiến chế Sacrosanctum Concilium, ss 45-46, s.23
(96) Diễn từ gửi các tham dự viên Hội nghị các chủ tịch và thư ký Ủy ban quốc gia về phụng vụ (27 tháng mười 1984), s.6: Insegnamenti, VII, 2 (1984), trg 1054.

 

 

II. PHỤNG VỤ GIỜ KINH CHO NGƯỜI TÍN HỮU
(Chương IV & Chương v)

 

Chương IV
ĐÔI DÒNG LịCH Sử

1. Lời nguyện của cộng đồng địa phương

Khi chúng ta nghiên cứu về nguồn gốc và phát triển của lời cầu nguyện hằng ngày trong Hội thánh, chúng ta phải chân nhận điều này: đây không phải là lời cầu nguyện của các Giám mục, Linh mục xét như là những cá nhân, cũng không phải là lời cầu nguyện của các Đan sĩ, mà là lời cầu nguyện của cộng đồng Kitô hữu, đoàn tụ quanh vị mục tử của mình.

a. Nếu các Giám mục, Linh mục, Phó tế có bị bắt buộc tham dự vào giờ kinh nguyện, chẳng qua là do chức vụ phải tham gia với cộng đoàn, để thi hành tác vụ của mình và nêu gương mẫu cho việc phụng sự Thiên Chúa. Cho đến cuối thế kỷ IX, chưa có vấn đề đọc kinh Thần vụ riêng, chưa có việc thay thế cho việc cử hành kinh nhật tụng khi không thể tham dự vào cộng đoàn hợp nhau cầu nguyện. Người ta chỉ thấy nhắc đến điều này trong bản luật của thánh CHRODOGANG (GM. METZ, mất năm 766, có ra bản luật cho giáo sĩ dòng được qui tụ ở các nhà thờ để cử hành Thần vụ). Đàng khác, việc cử hành Thần vụ cách riêng tư là việc không thể làm được, vì không thể có được tất cả những sách cần thiết cho việc cử hành.

b. Sự xuất hiện của quyển BREVIARIUM tập trung trong một quyển mang đi được những thành phần khác nhau của Thần vụ làm thành một biến cố mới mẻ. Vào thế kỷ XIII, XIV, thói quen đọc thần vụ riêng tư bắt đầu tràn lan. Các nhà luân lý có khuynh hướng nới rộng ngày càng hơn bản danh sách các trường hợp được miễn tham dự cử hành Thần vụ ở ca đoàn (choeur) thay vào đó là đọc riêng tư.

c. Công đồng TRENTE vẫn giữ theo truyền thống: Thần vụ vẫn còn là lời nguyện của cộng đồng.

d. Phải đợi đến thế kỷ XVIII, XIX, người ta mới coi việc đọc Brevianum như là bổn phận cá nhân của mọi giáo sĩ được phong chức phụ-phó-tế trở lên. Thói quen cổ truyền (cử hành chung với nhau) tồn tại trong hình thức thần vụ của các kinh sĩ hội nhà thờ chính tòa (cf. Những buổi hát kinh chiều long trọng ngày lễ Phục sinh, Giáng sinh ở Vương cung thánh đường Sài gòn, với sự hiện diện đông đảo của giáo dân và Đức Giám Mục, với các giáo sĩ mặc áo surplis, với các thầy mặc áo Cappu uy nghiêm) và trong các buổi cử hành nơi các đan viện và tu viện.

Hình ảnh về Thần vụ của những thế hệ đầu tiên rất khác biệt:

a. Vào thế kỷ III, quyền Tông truyền của Hippolyte đã đưa ra chứng tích sau: “Ước gì các phó tế và linh mục họp nhau mỗi ngày, vào nơi mà Giám mục chỉ định. Ước gì họ giáo huấn cho những người có mặt ở cộng đoàn và sau khi đã cầu nguyện mỗi người trở về với công việc của mình…” “Ước gì các giáo dân cầu nguyện từ lúc tỉnh dậy. Nếu có buổi giáo huấn thì mỗi người nên ham thích tham dự… bởi vì khi họ đã cầu nguyện trong cộng đoàn, họ có khả năng thoát khỏi tai ác trong ngày…”

b. Khi Tertulianô nói về Kinh sáng và Kinh chiều (quyển De Oratione, số 23, 25) và gọi là Legitimae orationes (Lời nguyện chính đáng) dường như ông dựa vào việc cử hành giờ kinh sáng và kinh chiều trong cộng đoàn, theo truyền thống.

c. Vào thế kỷ IV, chúng ta có những bằng chứng rõ ràng hơn. Sách Didascalia Apostolorum tường thuật về những thói quen trước đó: “Hỡi Giám mục, khi ngài dạy bảo dân chúng hãy khuyến khích và ra lệnh cho các tín hữu đến nhà thờ mỗi ngày, sáng và chiều. Hãy tụ họp nhau mỗi ngày trong nhà thờ, sáng và chiều để hát và cầu nguyện. Buổi sáng người ta hát 62, chiều 140”

d. Bà ETHERIA, hành hương ở Giêrusalem vào cuối thế kỷ IV đã kể lại chi tiết trong quyển Hành Trình nhựt ký: “Để cho quý vị biết những cử hành mỗi ngày trong các nơi thánh, tôi nghĩ là nên trình bày với các vị, biết rằng các vị sẽ thích thú khi tường trình những chi tiết này

Mỗi ngày trước khi gà gáy, người ta đã mở các cửa của Anastasis (đền thờ Chúa Phục sinh) và mọi người đến đó: Monazontes (đan sĩ) và Parthenae (trinh nữ), ngoài họ ra còn các giáo dân nam nữ, tất cả những người muốn canh thức vào giờ sớm sủa này. Từ giờ này cho đến lúc ban ngày người ta đọc các thánh thi, trả lời các và xướng đáp các ca tiền xướng. Sau mỗi , người ta cầu nguyện. Vài ba Linh mục, nhiều Phó tế theo phiên mỗi ngày của mình đến với các đan sĩ và chính họ đọc lời nguyện sau mỗi thánh thi, mỗi ca tiền xướng. Vừa lúc ánh sáng tỏ rạng, người ta cất tiếng hát thánh thi ban mai: lúc đó Giám mục và đoàn giáo sĩ đến. Trước tiên ngài đọc một lời nguyện cho toàn dân, cho xướng tên những người ngài muốn nhắc nhở, và chúc lành cho các dự tòng. Ngài còn đọc một lời nguyện và chúc lành cho các tín hữu. Sau đó tất cả tiến đến hôn tay ngài và ngài chúc lành cho từng người lui ra và giải tán họ. Lúc đó trời sáng tỏ…”

“Vào giờ thứ 10 (giờ chiều) xảy ra lễ nghi LICEHICON tức là lucernacium của chúng ta, đoàn lũ cũng tụ tập ở đền thờ Anastasis, người ta đốt tất cả đuốc và đèn nến, người ta đọc giờ kinh chiều và tiền xướng khá lâu. Đức Giám mục đến, ngồi vào tòa cao, các Linh mục cũng ngồi vào chỗ mình: người ta ca hát thánh thi và như thói quen. Sau cùng Giám mục đứng lên, một phó tế đọc bảng tưởng niệm, như thói quen. Mỗi khi phó tế đọc đến tên người nào, số trẻ em đông đảo có mặt đó luôn thưa: Kyrie eleison, tiếng của chúng làm nên một tiếng ồn ào lạ lùng. Giám mục trước tiên một lời nguyện, mọi người cùng cầu nguyện: tín hữu và dự tòng. Giám mục chúc lành các tín hữu và giải tán họ” (II.24).

2. Lời nguyện của cộng đoàn dòng tu

Bài tường thuật của bà Ethéria đã cho thấy vai trò đặc biệt của các tín hữu nhiệt thành trong cộng đồng, đó là các đan sĩ và trinh nữ. Ở cuối thế kỷ IV, thời điểm phát sinh các hình thức tu dòng chung với nhau. Các cá nhân tham dự vào buổi cầu nguyện cộng đoàn cách khác biệt nhau, tùy vào ơn gọi của mỗi người và khả năng của họ, đó là chuyện bình thường thôi.

Ngoài những buổi cầu nguyện ở nhà thờ xứ đạo, làm như để kéo dài buổi cầu nguyện này, các nhóm tu sĩ, đặc biệt là đan sĩ bắt đầu khuếch trương những giờ cầu nguyện hằng ngày, theo những mẫu rất khác biệt nhau. Họ dùng nhiều thời giờ trong ngày cho việc thánh hóa các giờ này.

Chúng ta lưu ý điểm này: đối với các đan sĩ sống thành nhóm (cénobite), lời nguyện Thần vụ luôn được coi như là hành động của cộng đồng. Phải đợi đến lúc thành lập dòng Tên (1540) mới thấy đặt vấn đề về lối thực hành thường xuyên và phổ quát trên, do hình thức cầu nguyện ở thế kỷ XVI mang nặng tính chất nghi lễ, chữ đỏ, nên tách rời khỏi đời sống Kitô giáo.

3. Công đồng Vatican II và việc canh tân hiện tại

Hiến chế Phụng vụ (số 99) khi định nghĩa Thần vụ là “tiếng nói của Hội thánh, tức là của toàn nhiệm thể công khai ca tụng Thiên Chúa” đã một lần nữa quả quyết bản chất cộng đoàn của việc cử hành . Do đó, công đồng khuyến khích mọi người được giao phó trách vụ tư tế này luôn chu toàn chung với nhau, khi có thể… Hơn nữa, khi các mục tử được khuyến khích tổ chức “những giờ kinh chính, nhất là kinh chiều, những ngày Chúa nhật và ngày lễ, được cử hành chung với nhau trong nhà thờ. Các giáo dân cũng được tỏ tường mời gọi cầu nguyện bằng cách tham dự thần vụ: tham dự với các Linh mục hay là tụ họp với nhau mà cử hành”.

Việc canh tân sau công đồng dựa vào những chỉ dẫn trên đã đưa ra lối cử hành sao cho lời cầu nguyện này “không dành riêng cho Linh mục và tu sĩ, mà được mở rộng cho giáo dân tham dự, từng người hoặc theo nhóm… Như vậy, việc cử hành cộng đồng là hình thức bình thường của lối cầu nguyện hằng ngày của Hội thánh. Đặc điểm số một của nó là qui tụ các môn đệ của Chúa Kitô trong lời cầu nguyện, để họ trở nên giữa thế gian một dấu chỉ sống động của việc Chúa kêu gọi họ làm con Thiên Chúa và của việc Thần linh của Chúa Kitô Phục sinh đã được tuôn đổ vào lòng họ để không ngừng kêu lên: Abba, lạy Cha.

Nếu đặc điểm của không cốt ở một lược đồ (SCHÉMA) của những lời nguyện, cho bằng sự kiện trở thành lời nguyện chung của Hội thánh thì việc tổ chức cho các tín hữu ngày hôm nay tụ họp với nhau để cử hành hằng ngày, nhiều lần trong ngày là việc khó khăn. Đời sống thời nay có những điều kiện và đòi hỏi khác xa với thời văn minh thôn dã và thành thị trước đây. Lẽ ra, nhà thờ xứ đạo phải là nơi thông thường và duy nhất của việc cử hành , nhưng việc qui tụ như vậy có gặp khó khăn, do chiều kích của xứ đạo quá lớn, hoặc do đời sống bận rộn hiện nay. Ý thức công đồng đã thúc đẩy những hình thức giáo dân tụ họp với nhau để cầu nguyện, để học hỏi Phúc âm, để kiểm điểm đời sống… Đó là những môi trường thuận lợi để việc cầu nguyện chính thức của Hội thánh được phát triển, vào những giờ thuận tiện, vào những ngày quan trọng, vào những mùa quan trọng của năm Phụng vụ.

Phải suy nghĩ, tìm tòi, nghiên cứu, để được cử hành trong các gia đình, các nhóm nhỏ, các xóm đạo với sự chủ tọa của một tác viên có thẩm quyền.

Nhờ lời nguyện chung của Hội thánh này mà tình thương yêu lẫn nhau giữa các tín hữu (là yếu tố chính yếu của đời sống họ) được nuôi dưỡng. Trong những cộng đồng như thế, Chúa Kitô hiện diện và hoạt động cách đặc biệt (x. Mt. 18, 20 và HCPV số 7) để củng cố đức tin và đức ái của người tín hữu, để tỏ mình cho trần gian và hoạt động trong trần gian.

Chương V
Lời nguyện trong Thánh Linh

1. Lạy Chúa xin dạy chúng con cầu nguyện (Lc. 11,1)

“Chúng ta không biết cầu nguyện thế nào và xin gì; nhưng Thánh Thần đến giúp đỡ sự yếu hèn của chúng ta” (Rm. 8,26). Chính Chúa đã dạy cho chúng ta biết cầu nguyện khi soi sáng cho những con người nghĩ ra một số lớn lời nguyện, giúp chúng ta thông hiệp với Chúa, thân thưa với Ngài, xin Ngài ban cho những gì thiện hảo và chúc tụng Ngài cho phải đạo. Kinh Thánh không những đã trình bày cho chúng ta một Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta (đó là điều kiện cho phép chúng ta kêu cầu Ngài) mà còn giới thiệu những lời cầu nguyện mà Thánh Thần đã gợi ra, như là lời con người đáp trả cho Lời Chúa. Phần lớn những lời nguyện này được gặp thấy trong sách các .

Những bản văn Kinh Thánh này làm thành nền tảng cho đời sống cầu nguyện của Hội thánh. Dù cho trong những thời kỳ đầu, Hội thánh xem ra sử dụng những thánh thi và lời nguyện do mình sáng tác, ít ra từ thế kỷ IV, các đã chiếm chỗ nhất và đã giữ vị trí đó từ hơn 1500 năm. Dường như Hội thánh không thể khước từ nguồn phong phú này. Nếu trước đây truyền thống của Hội thánh dưới ảnh hưởng của dòng Biển Đức đã phân chia việc đọc 150 trong một tuần lễ, thì nay Vatican II phân phối cho bốn tuần lễ; lối phân chia này nhằm giúp giáo dân hiểu các hơn và biết cầu nguyện cách ý thức hơn.

Khi cộng đồng Kitô hữu cầu nguyện với , Chúa Kitô hiện diện trong cộng đồng cách đặc biệt (HCPV 7). Việc các tín hữu qui tụ cầu nguyện đã là dấu chỉ bí tích cho sự hiện diện của Chúa, sự kiện lời cầu nguyện của Hội thánh là lời cầu nguyện được linh hứng làm nhân rõ thêm mầu nhiệm hoạt động của Lời Chúa.

Trong tất cả các lời nguyện khác, có được điểm độc đáo là được Chúa Giêsu và các tông đồ sử dụng để cầu nguyện. Cho nên những bản văn này làm thành – như các bí tích - trong gia tài Phụng vụ của Hội thánh, hạt nhân kết hợp (noyau d’unité) trong không gian (giữa các Hội thánh địa phương, sử dụng mọi ngôn ngữ) và trong thời gian (vượt qua các thế hệ của dân Chúa, bắt đầu từ giao ước trước tiên).

Không loại trừ các ca vãn và các lời nguyện khác, thông qua những hình thức và cách sử dụng khác nhau, các với những thánh ca Kinh Thánh và các bài đọc Kinh Thánh làm thành những yếu tố căn bản của Thần vụ. Hơn nữa, còn nâng đỡ, gợi hứng cho việc cầu nguyện riêng tư của giáo dân.

2. Cầu nguyện với Thánh Linh

Nhằm giúp giáo dân tham dự cách ý thức và có liên quan vào việc cử hành . Công đồng Vatican II nhắc nhở một kiến thức đầy đủ hơn về Phụng vụ, về Kinh Thánh, và nhất là các là điều kiện cần thiết (HCPV 90). Vậy, bước trước tiên hướng về việc cầu nguyện bằng là thấu hiểu các bài thơ này.

A. Khai tâm

Chúng ta cần được khai tâm khi muốn thấu đáo những tài liệu văn chương phát xuất từ một thời khác, từ một nền văn hóa khác, một ngôn ngữ khác.

Cách thực tiễn và hữu hiệu nhất là trình bày một (toàn phần hay là giải nghĩa từng câu một) khi cử hành . Phần nào tương tự như bài diễn giảng (homelia) cho những bản văn Kinh Thánh trong Thánh lễ, người hữu trách chú giải ngắn trước khi hát hoặc đọc đó: giải thích ý nghĩa, tùy theo mức độ tiếp thu của cộng đồng. Nhờ đó, mà từ từ các sẽ trở thành lý thú và thân thiết, mỗi mang màu sắc riêng và mỗi câu mang những âm sắc khác biệt. Do đó những buổi học hỏi, những khóa học trở nên quí giá để giúp mọi người, nhất là giới trẻ tiến vào thế giới các .

Sách các cần phải được chuyên tâm học hỏi nhất trong bộ Kinh Thánh, vì được sử dụng rộng rãi. Đàng khác, các mang lại một cái nhìn thi vị cho phép ta tiếp cận cách tổng hợp tất cả lịch sử ơn cứu độ qua các giai đoạn tiếp diễn khác nhau và đón nhận bài học thiêng liêng của nó.

B. Chú giải

Việc chú giải các chung chung là phải được thực hiện ở ba mức độ.

1. Khởi đi từ những gì được viết ra và có liên hệ đến những sự kiện, ý tưởng, tâm tình: đây là nghĩa mặt chữ hay theo lịch sử (sens littéral ou historique passé).

2. Người ta tiến sang một lối giải thích thần học, hay đúng hơn là qui về Chúa Kitô: chỉ gặp được ý nghĩa tràn đầy khi qui chiếu vào toàn bộ Lời Chúa và vào Chúa Kitô.

3. Để sau cùng đi đến ý nghĩa mà mang lại cho tôi, cho chúng ta, ngày hôm nay. Vì chúng ta đã được tham dự vào mầu nhiệm Chúa Kitô, vào lịch sử ơn cứu độ, nên tất cả những gì được viết ra về Chúa Kitô, những gì xảy ra cho lịch sử ơn cứu độ đều liên quan đến chúng ta và bao trùm chúng ta; đều được viết ra vì chúng ta và xảy ra vì chúng ta; và vẫn còn tiếp tục xảy đến nơi chúng ta. 22 vừa diễn tả những nỗi khổ đau và niềm hy vọng của người công chính Do thái, vừa được qui về Chúa Kitô (Ga. 19,24) vừa được Chúa Kitô sử dụng trên núi Sọ để diễn tả nỗi quẫn bách thật sự cùng cực của mình, nhưng không phải là mối thất vọng (Mt. 27,48). Chúng ta vẫn có thể sử dụng Tv. 22 để bày tỏ với Thiên Chúa nỗi đau khổ của ta và đặt niềm tín thác nơi Ngài.

C. Sử dụng và lựa chọn

Các là lời cầu nguyện của Dân giao ước nên cũng là lời cầu của Hội thánh, những lời cầu nguyện cá nhân, khá nhiều, đều mang tính chất phổ quát (chữ “tôi” thay mặt cho dân Chúa). Người Kitô hữu nhận thấy mình cùng với Chúa Kitô trở thành anh em của mọi người đảm nhiệm những đau khổ của họ, tham dự vào cuộc chiến đấu của họ, ca lên nỗi chờ đợi ơn cứu độ và niềm vui mừng được ơn cứu thoát. Người Kitô hữu nhận ra mình làm tư tế, làm trung gian của tạo vật và nhân loại để ca tụng vinh quang Thiên Chúa và cầu khẩn ơn của Ngài. Trong các , chúng ta không cầu “cho người khác”, cũng không cần “nhân danh người khác” nhưng thông hiệp với cuộc sống của họ, chúng ta tham dự vào ơn cứu độ Thiên Chúa dành cho mọi thụ tạo.

Ý thức mình là tiếng nói của thế trần đang cầu nguyện (cf. “Nhờ tiếng nói của chúng con, mọi tạo vật dưới bầu trời hân hoan tuyên xưng danh Cha” (KNTT số IV) là cần thiết để chúng ta thoát khỏi lối cầu nguyện cá nhân chủ nghĩa, khiến ta chỉ giữ lại vào thích hợp với hoàn cảnh riêng tư của mình. Tuy chúng ta có thể làm như thế, khi cầu nguyện một mình, nhưng thông thường trong cộng đồng, chúng ta là tôi tớ của việc cầu nguyện trong Chúa Kitô, cùng với Hội thánh, cho những kẻ không thể hoặc không biết cầu nguyện, cho mọi tạo vật vô hồn mượn xác và tiếng nói của ta.

Các là cả một kho tàng của những lời nguyện. Có vài phù hợp với thời này, với hoàn cảnh nọ, nên cần biết rõ để lựa chọn những phù hợp nhất với hoàn cảnh (giờ, mùa, lễ, biến cố, hoàn cảnh…), phù hợp với cá nhân hay nhóm cầu nguyện. Bảng phân phối của cho mỗi ngày đã là một cơ sở quí giá, đã có sự lưu tâm đến giờ, ngày lễ, mùa… lưu tâm đến việc thông qua cách quân bình những chiều kích khác nhau của lời cầu nguyện, lưu tâm đến những tiêu chuẩn sâu xa của truyền thống và kinh nghiệm. Nương tựa vào bản phân phối trên sẽ giúp ta thoát khỏi nguy hiểm lựa chọn chủ quan, làm lời nguyện cầu của ta hóa nên nghèo nàn đi.

3. Thánh ca và bài đọc Kinh Thánh

Ngoài , những bản văn được linh hứng khác làm thành phần thường xuyên là các thánh ca và bài đọc Kinh Thánh. Những thánh ca quan trọng nhất là thánh ca Phúc âm: thánh ca của Zacharia vào kinh tối. Một số những thánh ca Cựu ước trở thành yếu tố được đọc, hát (psalmedid) như vào kinh sáng. Việc canh tân đã đưa vào kinh chiều những ca vãn, thánh ca trích từ sách khải huyền và thư thánh Phaolô.

(Thánh ca của Zacharia và Đức Trinh Nữ là mặt trời mới mọc, từ trời cao đến để soi sáng gian trần. Vai trò tiên tri của Gioan Tẩy giả loan báo Đấng cứu thế cũng chính là vai trò của Dân Chúa ngày hôm nay vậy. Buổi chiều, vào lúc mà Hội thánh muốn ta chú tâm đến việc tạ ơn Chúa, chúng ta cùng với Mẹ Maria là hình ảnh của Hội thánh ca tụng những điều kỳ diệu mà Chúa đã làm cho chúng ta, đặc biệt là cho những kẻ bé mọn và khiêm tốn, ở mọi thời và trong ngày hôm nay).

Kinh Sách (thay thế cho Kinh Matitunum, trước đây, tương ứng với Kinh đêm của các đan sĩ), mỗi ngày gồm có hai bài đọc: một bài là trích từ Kinh Thánh, có mục đích nuôi dưỡng chúng ta, giữ gìn chúng ta trong sự hiểu biết thân tình, chiêm ngắm những mầu nhiệm cứu độ và gia nhập vào nguồn suối cứu độ ấy.

4. Từ những sự hữu hình tiến đến những sự vô hình

Làm sao để việc cử hành mỗi ngày mang lại những lợi ích thiêng liêng, dưới ảnh hưởng của Thánh Thần? Chúng ta phải cụ thể hóa chương trình mà công đồng đã vạch ra:

“Tất cả những ai chu toàn Thần vụ trong Kinh Hội hoặc chung với nhau, phải thi hành nhiệm vụ ủy thác đó một cách hết sức hoàn hảo cả về tâm hồn sùng kính bên trong, cũng như cách cử hành bên ngoài.

“Nên tìm dịp thuận tiện mà hát trong Kinh Hội, hoặc hát chung với nhau” (HCPV số 99).

Những dự kiện bên trong (công đồng nói đến “tâm hồn sùng kính bên trong”) dĩ nhiên là quan trọng nhất, nhưng không thể hiện hữu mà không có những yếu tố khác, mà Vatican II gọi là “cách cử hành bên ngoài”. Chúng ta phải tránh nhìn hai khía cạnh này như là những gì tách biệt hoặc có thể tách biệt nhau được, nhất là trong một cử hành chung với nhau. Con người không phải là hồn và xác, thân xác cầu nguyện riêng; mà là một hữu thể. Tất cả cấu trúc bí tích của Hội thánh đều hàm chứa tính duy nhất sinh động của cái hữu hình và cái vô hình, cái thuộc thân xác và cái thuộc tinh thần.

Cha J. Gelineau viết trong bài: “Les éléments, de l’office et leur célébration” như sau: “Chúng ta khởi đi từ sự kiện là một cử hành, tức là một cộng đoàn Phụng vụ diễn tả bằng những dấu khả giác những thực tại vô hình, được nhận biết bằng đức tin của Hội thánh. Như vậy buổi cử hành gồm hai phần không tách biệt nhau được, đó là thực tại trên cách khả giác trong những hành động theo nghi lễ.

Thực tại vô hình, đó là sự hiện diện hoạt động của Chúa Kitô giữa những người qui tụ để cầu nguyện nhân danh Người. – đó là quyền lực của Lời Chúa được tuyên đọc, lời đó xét xử cải hóa, soi sáng, hướng dẫn, thánh hóa: - đó là lời nguyện của toàn thể Hội thánh hiện diện cách vô hình nơi mỗi tập họp Phụng vụ, - đó là ân sủng của mầu nhiệm mà ta sùng kính trong ngày, mùa phụng vụ, trong giờ. Sự biểu lộ khả giác của những điều trên, đó là cộng đồng qui tụ để cầu nguyện: - đó là các bài đọc, bài hát, những lời nguyện chung, những cử chỉ nơi thân xác.

Hai khía cạnh đó lại không thể tách biệt nhau. Không có niềm tin vào Chúa Kitô phục sinh hiện diện trong Hội thánh bằng Thánh Thần của Người thì chỉ là ngôn ngữ của nhân loại, là nghệ thuật ca nhạc và lễ nghi trống rỗng. Ngược lại, không có những diễn ta khả giác, nơi thân xác chúng ta về những thực tại của đức tin thì cũng không có Thần vụ, cũng không có Phụng vụ. Con người chúng ta phải tập họp với nhau cách hữu hình mới làm thành nên cộng đồng, - phải tuyên đọc bản văn được linh hứng để cho Lời Chúa – chính là Chúa Kitô thâm nhập vào chúng ta: - phải đọc lên, thưởng thức, ghi nhớ các để tiêu hóa được sự khôn ngoan của Thiên Chúa mà chứa đựng; - phải có lời mời gọi cầu nguyện hay những tâm tình tạ ơn Thiên Chúa, phát xuất từ con tim của chúng ta có được một tiếng nói khi đi qua phổi và cổ họng chúng ta: - những bài hát gặp được âm thanh trong miệng lưỡi chúng ta và nhịp điệu nơi các bắp thịt chúng ta. Thiên Chúa đã tạo thành chúng ta là thân xác và hơi thở sống thì chính Ngài cũng muốn cứu độ và thánh hóa toàn thể con người chúng ta. Vậy cả hồn xác chúng ta phải tham dự vào Nước Trời, vào việc hiến tế cho Chúa và ca tụng Ngài.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle