PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG 09

Tháng 01 I Tháng 02 I Tháng 03
Tháng 04 I Tháng 05 I Tháng 06 I Tháng 07
Tháng 08
I Tháng 09 I Tháng 10 I Tháng 11 I Tháng 12

 

Ngày 3 tháng 9
THÁNH GHÊ-GÔ-RI-Ô CẢ Giáo Hoàng Tiến Sĩ

Gương Thánh nhân

Thánh Ghê-gô-ri-ô sinh tại Rô-ma năm 590, trong một gia đình quý tộc, giàu có. Cha ngài là ông Gót-đi-a-nô, một nghị viên nổi tiếng của đô thành.

Thánh nhân được mang danh là Ghê-gô-ri-ô Cả, vì ngài là con của một nghị viên danh tiếng, là cháu của thánh trinh nữ Tat-si-la, là một vị Giáo Hoàng tài ba thánh thiện, và nhất là vì những hoạt động lớn lao của ngài trong Hội thánh.

Năm 33 tuổi, thánh nhân giữ chức tổng trấn Rô-ma. Người ta thường thấy ngài trong bộ y phục sang trọng lộng lẫy, ngày ngày đi kinh lý đô thành. Nhưng ngài luôn nuôi trong lòng lý tưởng tu trì và hiến thân phục vụ Chúa, nên sau khi thân sinh qua đời, ngài dủ bỏ chức tước thế gian, gia nhập tu viện; ngài đã đổi lớp y phục lộng lẫy sang trọng thành bộ áo nhà tu nghèo khổ. Trước kia người ta thấy ngài oai vệ đi kinh lý trong đô thành, ngày nay lại thấy ngài tận tụy đi chăm sóc bệnh nhân, giúp đỡ những người nghèo khổ, hầu hạ những kẻ ăn mày, và chính ngài cũng đi ăn xin hằng ngày với họ. Ngài đã biến các lâu đài do cha ngài để lại thành những bệnh viện, những nhà tế bần. Và nhờ phần gia tài được hưởng, ngài đã lập thêm nhiều tu viện.

Ngoài ra việc cứu tế và mở mang thêm tu viện, thánh nhân còn lo tập rèn đức hạnh, trau dồi kiến thức. Ngài chuyên cần học hỏi Kinh Thánh, chăm lo ăn chay, hãm mình, cầu nguyện.

Năm 578, thánh nhân được lãnh chức phó tế và sau đó được sai đi Công-tăng-ti-nốp, đại diện cho Đức Giáo Hoàng. Sau 7 năm làm sứ thần Tòa Thánh, thánh nhân được triệu về Rô-ma, làm vụ viện trưởng tu viện thánh An-rê. Và năm 590, khi Đức Giáo Hoàng Pê-la-gi-ô thứ 2 từ trần, ngài được bầu lên kế vị.

Từ đó, thánh nhân lo chấn chỉnh Giáo hội, củng cố quyền tối thượng của Tòa Thánh. Công trạng lớn nhất của triều Giáo Hoàng ngài là các cuộc canh tân trong Giáo hội. Chính ngài đã cải tổ phụng vụ, canh tân luật giáo sĩ, chỉnh đốn thánh nhạc (thánh nhạc bình ca lưu truyền cho đến ngày nay đã mang tên ngài: Nhạc Ghê-gô-ri-ô, truyền giáo cho các dân man-di, và thuyết phục các anh em Đông phương ly khai.)

Thánh nhân viết nhiều sách hướng dẫn mục vụ và tu đức. Đặc biệt những lá thư ngài gởi cho đủ mọi hạng người trong và ngoài Giáo hội, khuyên bảo đàng nhân đức cũng như bổn phận từng người. Ngài làm việc không ngừng như thế, nhưng lại luôn trách mình, cho rằng mình chưa làm đủ bổn phận, nhất là bổn phận rao giảng Lời Chúa. Ngài nói: “Hỡi con người, Ta đã đặt ngươi làm tuần canh trên nhà Ít-ra-en”. Ta hãy xem, Chúa gọi kẻ Người sai đi rao giảng là tuần canh. Người tuần canh luôn phải đứng ở trên cao để có thể nhìn thấy từ xa có gì đang đến. Thế nên ai được đặt làm tuần canh dân chúng thì phải dùng đời sống mà đứng ở trên cao, để có thể canh chừng giúp ích cho dân. “Thật là đau khổ cho tôi, khi phải nói lên những điều nầy, vì khi nói như thế, tôi đang tấn công chính mình: lưỡi tôi đã không rao giảng đủ, và khi rao giảng đủ thì đời sống tôi lại không đi đôi với lời tôi nói”.

Thánh nhân qua đời ngày 12 tháng 3 năm 604, và được mai táng trong thánh đường Thánh Phê-rô.

* Quyết tâm

Mỗi ngày lo đổi mới tâm hồn, cải thiện đời sống mình cũng như gia đình ngày càng tốt đẹp hơn, hy sinh bác ái hơn, theo gương thánh Ghê-gô-ri-ô Cả Giáo Hoàng.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa luôn hướng dẫn và âu yếm chăm nom đoàn chiên Chúa. Xin nhận lời thánh Ghê-gô-ri-ô chuyển cầu, mà ban thần trí khôn ngoan cho các vị mục tử Chúa đã đặt làm đầu Hội thánh, và ban cho các ngài được niềm vui, vì thấy đoàn chiên phát triển không ngừng. Chúng con cầu xin…


Ngày 05 tháng 9
THÁNH PHÊ-RÔ NGUYỄN VĂN TỰ & GIU-SE HOÀNG LƯƠNG CẢNH
Linh Mục và Trùm Họ Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Theo Chúa là chấp nhận hy sinh thử thách, vì “tôi tớ không hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga. 15, 20). Người môn đệ càng chịu gian lao thử thách càng nên giống Chúa, và nhờ đó mà làm chứng cho Chúa như Lời Người phán: “Anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và dân ngoại được biết” (Mt, 10, 18).

Thánh Phê-rô Tự và Giu-se Cảnh tử đạo hôm nay đã làm chứng cho vua chúa quan quyền và dân ngoại biết Chúa. Khi các quan tra tấn về ý nghĩa các đồ thờ và nghi lễ trong đạo, thánh Phê-rô Tự đã giảng đạo lý cho họ. Và trong khi thánh Giu-se Cảnh bị quân lính lôi qua Thánh Giá, ngài co hai chân lên, miệng thì đọc kinh cầu nguyện lớn tiếng cho mọi người nghe.

Phê-rô Nguyễn Văn Tự sinh năm 1796, tại Ninh Cường, tỉnh Nam Định, trong một gia đình sống đạo sốt sắng siêng năng. Nhờ đó, Chúa thương gọi cậu dâng mình cho Chúa ngay từ nhỏ. Năm 1826, thầy Tự học xong thần học và thụ phong Linh mục. Sau đó, cha xin gia nhập dòng Thánh Đa-minh. Từ đó, vị tân Linh mục đem hết tài lực Chúa ban mà phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn. Mặc dầu lúc đó cơn bắt đạo đang gay gắt khốc liệt, cha vẫn chịu khó lén lút thi hành sứ vụ rao giảng Tin mừng, và ban phát các Bí tích cho giáo hữu. Có lúc quan quân truy lùng gắt gao, ban ngày cha phải ẩn trốn, chỉ làm việc mục vụ ban đêm, khi quan quân đã về căn cứ của họ.

Năm 1838, Đức Cha cử cha đến giúp họ đạo Kẻ Mốt, tỉnh Bắc Giang. Cha đến nhiệm sở mới chưa được bao lâu thì bị phát giác. Ngày 29 tháng 06 quân lính đến vây bắt cha, may nhờ một người ngoại đạo cho cha ẩn trốn trong vườn ông. Nhưng quân lính lục soát thấy đồ thờ áo lễ và chén lễ của cha, họ tập hợp các tín hữu đánh đập tra khảo, buộc khai nơi cha trú ẩn. Ông lang Ninh sợ bị đòn đau, đã khai chỗ cha ẩn trốn. Thế là cha bị bắt cùng với thầy giảng Đa-minh Úy là trợ tá của cha.

Và ngày 03 tháng 07, quân lính bắt thêm được bốn ông trùm, trong số đó có ông trùm Cảnh là nguời cùng chịu tử đạo một ngày với cha Tự. Họ áp giải tất cả về Ninh Thái (Bắc Ninh) và tống giam vào ngục. Hôm sau, quan cho gọi cha Tự ra công đường, yêu cầu giải thích ý nghĩa các đồ thờ, áo lễ và chén thánh mà quân lính đã tịch thu của cha. Nhân dịp nầy, cha giải thích việc thờ kính tế lễ Chúa và giảng đạo lý cho các quan nghe. Thật đúng như lời Chúa Giê-su: Cha bị điệu ra trước mặt quan quyền để làm chứng cho họ và dân ngoại.

Sau nhiều lần tra tấn rồi dụ dỗ mà không lay chuyển được lòng tin sắt đá của vị anh hùng, quan đệ án về triều đình xin xử giảo cha (dùng dây siết cổ cho đến chết), nhưng nhà vua đã đổi lại án trảm quyết (chém đầu). Sáng ngày 05 tháng 09 năm 1838, quân lính điệu cha ra pháp trường. Dọc đường, thấy dân chúng kéo theo sau đông đảo, cha xin phép quan nói với họ ít lời. Quan cho phép, cha liền giảng đạo cho họ. Và chính cha hôm nay chịu chết để làm chứng đạo Chúa là đạo thật.

***

Giu-se Hoàng Lương Cảnh sinh năm 1763, tại Lãng Ván tỉnh Bắc Giang. Lớn lên, ông học nghề thuốc và đã trở nên lương y tài giỏi bậc nhất trong vùng. Đặc biệt ông rất thương người, tận tụy chăm sóc bệnh nhân, luôn chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Mỗi khi chữa trị cho bệnh nhân, ông thường bảo họ cầu xin Ơn Trên cho mau bình phục. Nhiều người được khỏi bệnh thì tin tưởng Chúa, trở lại đạo. Đối với những người bệnh nặng, ông khuyên họ tin theo Chúa để được cứu rỗi. Ông đã rửa tội được nhiều người trong giờ hấp hối, nhất là các trẻ em. Giáo dân thấy ông nhiệt thành làm tông đồ như thế thì mến phục và chọn ông làm trùm họ.

Để làm việc tông đồ đắc lực hơn, ông đã xin gia nhập dòng ba thánh Đa-minh. Hằng ngày ngoài ra việc chăm sóc bệnh nhân, ông dùng thời giờ còn lại để đọc kinh cầu nguyện. Một hôm, đang lúc ông cầu nguyện, có người đến rước đi chữa bệnh và rửa tội cho con họ. Mặc dù biết tình thế khó khăn nguy hiểm, quân lính đang truy lùng bắt đạo, nhưng ông cũng can đảm hy sinh đi giúp họ. Đang lúc ông chữa bệnh thì bị phát giác, quân lính đến vây bắt ông, giải về Bắc Ninh, giam chung với cha Tự vào đầu tháng 07 năm 1838. Lúc đó ông đã 75 tuổi. Dù tuổi già sức yếu, ông vẫn rán sức cố gắng chịu mọi cực hình khổ cực. Ông luôn cầu nguyện, kêu xin Chúa ban ơn thêm sức cho ông trung thành bền đỗ theo Chúa, làm chứng cho Chúa. Có lần quan bắt ông bước qua Thánh Giá, ông liền quỳ xuống hôn kính ảnh Chúa chịu nạn. Quan tức giận, bảo quân lính kéo ông qua, ông co hai chân lên và lớn tiếng đọc kinh ăn năn tội, xin Chúa tha thứ việc làm ngoài ý muốn của ông.

Thấy không cách nào làm cho vị anh hùng đức tin bỏ đạo, quan kêu án gởi về kinh. Và ngày 05 tháng 09 năm 1838 ông đã được phúc tử đạo cùng với cha Phê-rô Tự, tại pháp trường Xài Bông.

Đức Thánh Cha Lê-ô 13 tôn phong ông và cha Tự lên Chân Phước ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô 2 đã suy tôn các ngài lên bậc Hiển Thánh.

* Quyết tâm

Hằng ngày siêng năng đọc kinh cầu nguyện xin ơn bền đỗ tin theo Chúa, và sẵn sàng chịu gian nan thử thách để làm chứng cho Chúa, theo gương thánh Phê-rô Tự và Giu-se Cảnh tử đạo.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô. Chúa chúng con. A-men.


Ngày 8 tháng 9
SINH NHẬT ĐỨC TRINH NỮ MA-RI-A

Ngày lễ sinh nhật Đức Mẹ là niềm vui lớn lao cho toàn thể nhân loại, vì là ngày mầng kính Mầu nhiệm khởi đầu của ơn cứu chuộc, như lời thánh An-rê Giám mục thành Cô-rê-ta nói:

“Chúng ta mầng kính việc Mẹ Thiên Chúa sinh ra như mầu nhiệm khởi đầu, còn tận cùng là việc Ngôi Lời mặc lấy xác phàm. Quả vậy, nay Đức Trinh nữ sinh ra, được nuôi dưỡng và khôn lớn, để chuẩn bị làm Mẹ Thiên Chúa, Vua mọi thế hệ.

Nhờ đó, chúng ta được hai mối lợi: một là được tới CHÂN LÝ, hai là được thoát khỏi cảnh sống NÔ LỆ cho chữ viết của lề luật. Điều đó xảy ra thế nào và cách nào? Chắc chắn ánh sáng tới thì bóng tối qua đi, và ân sủng đem lại tự do cho chữ viết: ngày lễ trọng hôm nay chính là ranh giới, đem CHÂN LÝ đến tiếp vào những hình bóng loan báo cũ và lấy các điều mới đến thay cho những cái xưa.

Vì vậy, mọi tạo vật hãy đồng ca và nhảy mừng, và cùng hoan hỷ trong ngày nầy. Hôm nay trời và đất hãy cùng nhau mừng lễ. Dưới thế và trên trời hãy cùng nhau mở hội. Vì chưng hôm nay đã thiết lập đền thánh cho Đấng Tạo dựng mọi loài, và nhờ một sự an bài mới mẻ và tuyệt diệu, một tạo vật đã nên nhà mới đón tiếp Đấng Tạo Hóa”

Trong cả năm phụng vụ, Hội thánh chỉ mầng có ba lễ Sinh nhật: Sinh nhật của Chúa Giê-su, sinh nhật của thánh Gio-an Tẩy giả và sinh nhật Đức Mẹ. Lý do là vì chỉ có ba Vị mới xứng đáng được mầng ngày sinh nhật, vì các ngài không vướng mắc tội tổ tông truyền, được thánh hóa ngay từ lúc còn ở trong lòng mẹ.

Ngày lễ sinh nhật của Đức Mẹ là ngày vui mầng cho toàn thể nhân loại, vì từ lâu loài người mong chờ ơn cứu độ, nay Đức Mẹ sinh ra để được Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế họ mong đợi. Trong ngày trọng đại nầy, Giáo hội hân hoan ca tụng Mẹ:

“Lạy Trinh nữ, Đức Mẹ Chúa Trời,
Ngày sinh của Mẹ đem Tin mừng cho cả trần gian,
Vì Đức Ki-tô, Chúa chúng con.
Là Mặt Trời soi đường ngay nẻo chính.
Đã từ cung lòng Mẹ sinh ra,
Người là Đấng hủy bỏ lời chúc dữ.
Đem lại muôn phúc lành,
Đấng tiêu diệt thần chết.
Và ban phúc trường sinh”.

Ngày sinh nhật của Đức Trinh nữ Ma-ri-a chẳng những là một niềm vui trọng đại, mà còn là một việc lạ lùng đối với loài người. Hai thánh Gio-kim và An-na cha mẹ ngài đã già nua không có con, nên không hy vọng gì có người trong gia tộc được sinh ra Đấng Cứu Thế như lời Chúa hứa, vì ông bà thuộc dòng dõi vua Đa-vít, theo Lời Chúa thì Đấng Cứu Thế thuộc dòng tộc nầy. Ông bà cầu nguyện kêu xin Chúa, và Chúa đã nhậm lời, cho bà An-na mang thai trong lúc tuổi già. Và khi đến ngày, bà đã sinh hạ Ma-ri-a là kẻ được Chúa chọn cưu mang Con Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu độ duy nhất của loài người.

* Quyết tâm

Mầng ngày sinh nhật Đức Mẹ, tôi quyết học hỏi và bắt chước các nhân đức của Mẹ, để cộng tác với Chúa trong công cuộc cứu rỗi đồng bào đồng loại.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, ngày sinh nhật của Đức Giê-su Con Một Chúa. Chúa đã mở đầu kỷ nguyên cứu độ, thì hôm nay, ngày sinh nhật của Thánh Mẫu người, xin Chúa cũng rộng ban muôn phúc lộc. Và cho chúng con hưởng bình an. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 13 tháng 9
THÁNH GIOAN KIM KHẨU Giám Mục Tiến Sĩ

* Gương Thánh nhân

Thánh Gioan được mang danh là Kim khẩu, có nghĩa là Miệng vàng, vì tài hùng biện xuất sắc của Ngài.

Thánh nhân sinh năm 344, tại Ăn-ti-si, nước Sy-ri, là con trai duy nhất của một sĩ quan thời đó. Ông mất sớm để lại người vợ mới 20 tuổi với đứa con trai là Gioan. Mẹ ngài từ chối tái hôn, ở vậy nuôi con cho đến chết. Nhờ đó, thánh nhân được mẹ đào tạo chu đáo ngay từ nhỏ về phần đạo đức cũng như nhân bản. Lớn lên, Gioan được học khoa luật và nghệ thuật ăn nói với ông Li-ba-ni-ô, một nhà hùng biện thời danh.

Năm 20 tuổi, Gioan đã tốt nghiệp, và đứng ra biện hộ trước tòa một cách hết sức hùng hồn, khiến cho nhiều người khen ngợi thán phục. Và từ đó ngài bắt đầu bước lên nấc thang danh vọng.

Nhưng năm 372, mẹ ngài qua đời. Ngài thấy cô đơn hiu quạnh, và hiểu rằng mọi sự ở đời đều chóng qua mau hết. Thế là ngài quyết định từ bỏ tất cả: gia đình, danh vọng, thế gian, hiến dâng mình cho Chúa. Ngài vào hang núi gần Ăn-ti-si, sống đời ẩn sĩ, ngày đêm ăn chay, hãm mình, cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh. Nhưng vì sống quá khắc khổ, ngài ngã bệnh, phải trở lại Ăn-ti-si. Ở đây, thánh nhân gia nhập hàng giáo sĩ và năm 388 được thụ phong Linh mục.

Kể từ đó, thánh nhân bắt đầu đi rao giảng Lời Chúa khắp nơi. Tài hùng biện của ngài đặc biệt đến nỗi đi tới đâu, người ta cũng ùn ùn kéo đến nghe ngài giảng, nhiều lần có cả trăm ngàn người. Và nhờ lời ngài giảng dạy, nhiều kẻ tội lỗi đã ăn năn trở lại, những người theo lạc giáo cũng hồi tâm hối cải.

Vì tài hùng biện và nhân đức đặc biệt, năm 398 thánh nhân được chọn làm Thượng phụ Giáo chủ Công-tăn-ti-nốp. Mặc dầu làm lớn, ngài vẫn sống đơn sơ khiêm tốn, chuyên cần giảng dạy, giúp đỡ kẻ nghèo, chăm sóc những người bệnh tật như lúc còn là Linh mục. Nhưng điều làm cho thánh nhân bận tâm hơn hết là chỉnh đốn lại hàng giáo sĩ và sửa các thói xa hoa phóng túng của triều đình. Ngài biết những việc làm đó không phải dễ, và nhất là có thể gây khó khăn rắc rối cho mình, song ngài vẫn can đảm thực hiện vì lợi ích của Giáo hội và dân chúng.

Đúng như dự đoán, khi thánh nhân dựa vào Phúc âm chỉ trích các thói xấu của triều đình, thì hoàng hậu Eu-đô-xi phẩn nộ. Bà liên kết với Thượng phụ Giáo chủ A-lết-săn tìm cách hại ngài. Năm 403 thánh nhân bị họ cách chức và đày đi Ạt-mê-ni.

Dù bị tù đày gian khổ, thánh nhân vẫn một lòng kiên trung tuân theo Thánh ý Chúa. Ngài nói: “Anh em không nghe Chúa nói sao: Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp lại vì danh Ta, thì Ta ở giữa họ”. Vậy ở đâu có một dân đông đảo liên kết với nhau bằng đức ái thì Người không có mặt ở đấy sao? Chính Người bảo đảm cho tôi, chứ nào tôi có cậy sức lực riêng mình? Tôi có lời Người làm bảo chứng. Đó là chiếc gậy, là sự an toàn, là nơi trú ẩn bình yên cho tôi, cho dù tất cả vũ trụ có nổi dậy, tôi vẫn bám giũ vào câu nói của Người, tôi đọc lời ấy, và đó là tường thành, là đồn lũy của tôi. Lời đó là lời nào? “Ta ở cùng với các con mọi ngày cho đến tận thế”.

“Đức Ki-tô ở với tôi. Tôi sợ chi ai? Sóng biển có gầm thét, đại dương có nổi dậy, vua chúa thế gian có thịnh nộ: đối với tôi tất cả cũng thường như màng nhện thôi. Vì chưng tôi luôn nói: Lạy Chúa, xin vâng ý Chúa: không phải ý người nầy, người khác, nhưng là ý Chúa muốn con làm. Đó là thành lũy, là đá tảng vững chắc, là gậy chống không xiêu té cho tôi. Thiên Chúa muốn thế nào, tôi cũng xin vâng”.

Thánh nhân qua đời tại nơi lưu đày, ngày 14 tháng 9 năm 407. Và năm 438, xác ngài được long trọng rước về Công-tăn-ti-nốp.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Gioan Kim khẩu, hằng ngày lo giúp Chúa sửa chữa lỗi lầm thiếu sót của những người trong gia đình và xã hội, dù có phải khó khăn gian khổ cũng sẵn lòng vâng theo thánh ý Chúa.

* Lời nguyện

Lạy Chúa là nguồn sức mạnh cho những kẻ cậy trông. Chúa đã ban cho Giáo hội một khuôn mặt sáng chói là Thánh Giám mục Gioan Kim khẩu, nhờ tài hùng biện lạ lùng và lòng can đảm hiên ngang trước mọi cơn thử thách. Xin Chúa cũng ban cho chúng con được thấm nhuần lời thánh nhân giảng dạy, và có sức chịu đựng như người. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 14 tháng 9
SUY TÔN THÁNH GIÁ

Dưới thời hoàng đế Hê-ra-li-út thứ nhất, những người Ba-tư theo Hồi giáo đã xâm chiếm thành thánh Giê-ru-sa-lem và cướp lấy Cây Thánh Giá thật Chúa Giê-su đã chịu đóng đinh, mà thánh nữ Hê-lê-na đã tìm thấy, và để ở trong thành thánh cho mọi người kính viếng suy tôn. Hê-ra-li-út quyết định phải chiếm lại cho được Cây Thánh Giá quí báu nầy. Năm 627, nhà vua kéo quân sang đánh Ba-tư, và đã chiếm lại được Thánh Giá Chúa.

Ngày trở về, nhà vua được mọi người hân hoan đón rước. Dân chúng kẻ thì cầm nhành ô-liu, người cầm đuốc sáng ra nghênh đón Thánh Giá Chúa. Khi tới Giê-ru-sa-lem, vua tiến vào đền thờ trên đồi Can-vê, đặt Thánh giá trong đó. Từ sau biến cố nầy, Hội thánh lập lễ Suy Tôn Thánh Giá, để muôn đời kính nhớ ngày dân thành Giê-ru-sa-lem cung nghênh Thánh giá Chúa.

Thánh An-rê Giám mục thành Cơ-rê-ta giảng giải ngày lễ trọng đại nầy như sau: “Chúng ta cử hành lễ Suy Tôn Thánh Giá đã đẩy lui bóng tối và đem lại ánh sáng. Chúng ta mầng lễ Suy Tôn Thánh Giá, và chúng ta được đưa lên cao làm một với Đấng chịu đóng đinh, để sau khi lìa bỏ trái đất với tội lỗi ở đó, chúng ta được lãnh nhận những sự trên trời. Chiếm được Thánh Giá thì được của to lớn dường nào, vì ai chiếm được Thánh Giá là chiếm được kho tàng. Vậy tôi dùng chữ kho tàng là cố ý gợi lên tên và ám chỉ điều quí giá tốt đẹp nhất; nơi đó, nhờ đó và vì đó có tất cả nội dung phần rỗi của ta và đã hoàn lại cho ta. Thật vậy, nếu không có Thánh Giá thì Chúa Ki-tô đã không bị đóng đinh. Nếu không có Thánh Giá, thì sự sống đã không được treo lên cây, và nếu sự sống không được treo lên, thì từ cạnh sườn, suối nước trường sinh đã không trào máu và nước ra để xóa tội trần gian; văn khế tội nợ đã không được xé đi; chúng ta đã không được tự do, chúng ta đã không được hưởng nhờ cây hằng sống, và thiên đàng đã không được mở ra, và hỏa ngục đã không bị giải giáp…”

“Thánh Giá được gọi là vinh quang của Đức Ki-tô và là sự suy tôn Người. Nó là chén Người đã khát khao và là tổng hợp mọi hình khổ Người đã chịu thay cho chúng ta. Tại sao Thánh Giá là vinh quang Đức Ki-tô, thì con hãy nghe chính Người nói: “Giờ đây Con Người được tôn vinh và Thiên Chúa được tôn vinh nơi Người, và Thiên Chúa sẽ còn tôn vinh Người nữa.” Và Người thêm: “Lạy Cha, xin hãy tôn vinh Con trong vinh quang Con đã có nơi Cha trước khi có thế gian”. Và còn tiếp: “Lạy Cha, xin hãy tôn vinh Cha. Có tiếng từ trời phán: “Ta đã tôn vinh và Ta sẽ tiếp tục tôn vinh”, điều đó ám chỉ vinh quang Người sẽ được trên Thánh Giá”.

“Còn việc Thánh Giá là sự suy tôn Đức Ki-tô thì bạn hãy nghe chính Người bảo: “Khi nào Ta bị treo lên cao, Ta sẽ kéo mọi người đến cùng Ta”. Do đó, bạn thấy Thánh Giá là vinh quang của Đức Ki-tô và là sự suy tôn Người”

* Quyết tâm

Hết lòng tôn kính Thánh Giá Chúa Ki-tô là vinh quang và là sự suy tôn Người, và hằng ngày sẵn lòng vác Thánh Giá theo Người để cứu rỗi mình và kẻ khác.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Con Một Chúa chịu khổ hình thập giá để cứu chuộc loài người. Xin cho chúng con mai sau được hưởng nhờ quả phúc cây thập giá, mà ngày nay chúng con vẫn một lòng yêu mến suy tôn. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 15 tháng 9
ĐÚC MẸ SẦU BI

Hôm qua, Hội thánh suy tôn Thánh Giá Chúa Giê-su, tưởng nhớ Chúa chịu chết đau thương trên Thập Giá để cứu chuộc loài người. Hôm nay Hội thánh mời gọi mọi người tưởng niệm sự thương khó của Đức Ma-ri-a, Mẹ đã thông phần sự đau khổ với Con, Mẹ đã kết hiệp nỗi thống khổ của Mẹ vào sự thương khó của Con, để cộng tác với Người trong công cuộc cứu rỗi nhân loại.

Mẹ đau khổ biết bao:
- Khi nghe ngôn sứ Si-mê-ông tiên báo: lưỡi gươm sẽ đâm thâu lòng Mẹ.
- Lúc đang đêm Mẹ Con phải chạy trốn sang Ai-cập
- Lúc lạc mất Con, Mẹ phải tìm kiếm ba ngày mới gặp lại trong Đền Thờ.
- Khi Mẹ đi theo Con trên đường lên Núi Sọ, vai vác Thánh Giá mình đầy vết tích máu me.
- Khi thấy Con bị quân lính đóng đinh tay chân vào Thập Giá đau đớn xót xa.
- Lúc môn đệ hạ xác Con xuống khỏi thập giá, Mẹ thấy Con chết đau thương tất tưởi.
- Khi ông Giu-se A-ri-ma-tha và cụ Ni-cô-đê-mô chôn xác Con trong mồ, Con và Mẹ từ đây xa cách…

Thật đúng là một cuộc tử đạo trong tâm hồn, như lời Thánh Bê-na-đô đã nói: “Cuộc tử đạo của Đức Trinh nữ được gợi lên trong lời tiên tri của Si-mê-on cũng như trong bài tường thuật cuộc khổ nạn của Chúa. Vị thánh tiên tri già đã nói về trẻ Giê-su rằng: “Nầy, Người có mệnh làm dấu gợi lên chống đối, và hướng về Đức Ma-ri-a ông nói: và hồn Bà mũi gươm sẽ đâm thâu”. Quả thật, ôi Mẹ diễm phúc, lưỡi gươm đã đâm thâu lòng Mẹ. Nó không đâm thâu lòng Mẹ sao được, khi nó đâm vào thân xác Con Mẹ ! Thật vậy, Đức Giê-su tuy là của mọi người, nhưng phải nói đặc biệt là của Mẹ, khi Người đã trút linh hồn thì lưỡi gươm tàn bạo không còn làm tổn thương gì cho linh hồn Người nữa, nó không tha cho kẻ đã chết mà nó không còn làm hại gì được, nó đâm thủng cạnh sườn Người, nhưng thực ra nó đâm thâu lòng Mẹ. Linh hồn Người không còn ở đó, nhưng tâm hồn Mẹ thì không sao tránh được. Sự đau đớn đã đâm thâu tâm hồn Mẹ, khiến chúng con có thể nói một cách thích đáng rằng: Mẹ còn hơn người tử đạo, vì nơi Mẹ niềm thông cảm đau khổ của Con khiến Mẹ đau đớn hơn cả sự đau đớn trên thân xác.

“Rồi lời sau đây đối với Mẹ không sắc bén hơn lưỡi gươm sao, vì quả thật nó xuyên thủng tâm hồn, đi đến chỗ phân rẻ tâm hồn và tâm linh. Lời rằng: Hỡi Bà, nầy là con Bà ! Ôi trao đổi gì mà kỳ vậy? Mẹ được trao Gioan thay vì Giê-su, tớ thay vì chủ, trò thay vì Thầy, con của Dê-bê-đê thay vì Con Thiên Chúa, người phàm thay vì Thiên Chúa thật. Làm sao nghe như thế mà tâm hồn đầy âu yếm của Mẹ không bị đâm thâu, trong khi tâm hồn chúng con dù chai lỳ sắt đá, chỉ nhớ đến thôi, cũng đã tan nát rồi”.

* Quyết tâm

Hằng ngày sẵn lòng chịu mọi sự gian lao đau khổ, hiệp cùng sự thương khó của Đức Mẹ, để cùng Mẹ cộng tác vào công trình cứu rỗi của Chúa Giê-su.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, khi Đức Ki-tô chịu treo trên thập giá, Chúa đã muốn cho Thánh Mẫu của Người đứng kề bên mà thông phần đau khổ. Xin cho Hội thánh Chúa biết noi gương Thánh Mẫu, mà kết hiệp với Đức Ki-tô chịu khổ hình, để mai ngày được phục sinh vinh hiển cùng với Đức Ki-tô, là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa…

 

Ngày 16 tháng 9
THÁNH CO-NÊ-LI-Ô GIÁO HOÀNG & SÍP-RI-A-NÔ
GIÁM MỤC Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Dưới thời vua Đê-ci-ô bách hại, thánh Giáo Hoàng Pha-bi-a-nô đã được phúc chết vì đạo. Sau đó hơn một năm, Hội thánh mới chọn được Đức Giáo Hoàng mới, đó là thánh Co-nê-li-ô. Ngài là một vị Giáo Hoàng cương trực thánh thiện.

Lúc đó trong Giáo hội xảy ra cuộc tranh cải sôi nổi về những người đã chối đạo. Họ là những người trong các cuộc bắt đạo, đã vì quá sợ mà tế thần. Vậy có nên tha cho họ không? Có được nhận họ trở lại với Hội thánh không?

Thật sự họ là những người đã chối bỏ đạo. Nhưng trong thâm tâm, họ nghĩ là vì họ quá sợ, hoặc vì mua chuộc chứng chỉ giả, nên không mắc tội mắc vạ. Sau khi họp bàn với các Đức Giám mục, Đức Thánh Cha Co-nê-li-ô tuyên bố tha thứ và đón nhận họ trở lại với Hội thánh. Nhưng nhóm giáo sĩ ly khai chống đối. Đứng đầu nhóm nầy là Linh mục Nô-va-ti-a-nô. Họ khẳng định phải loại trừ những người chối đạo nầy ra khỏi Hội thánh, dứt phép thông công họ. Vì thế mà có cuộc tranh luận dằn dai trong Giáo hội, làm cớ cho vua quan phần đời lợi dụng cơ hội chống phá đạo.

Vua Gan-lô mở lại cuộc bách hại. Đức Co-nê-li-ô bị bắt với một số đông giáo sĩ và giáo dân.

Bị vua quan tra tấn hành hạ, ngài vẫn một lòng can đảm tuyên xưng đức tin. Tin đó làm cho mọi người hân hoan phấn khởi, nhất là thánh Síp-ri-a-nô hết lòng khen ngợi: “Làm sao diễn tả cho hết niềm phấn khởi và nỗi vui mầng ở đây, khi chúng tôi biết được những thỉnh đạt và can đảm của anh em: rằng ở đó, chính đại huynh dẫn đầu anh em trong việc tuyên xưng đức tin; và việc tuyên xưng của anh em làm cho việc tuyên xưng của người đứng đầu nổi hẳn lên. Vì khi dẫn đầu đi tới vinh quang, đại huynh đã lôi kéo được nhiều người cùng đi tới vinh quang, đại huynh đã thuyết phục được cả dân tuyên xưng đức tin, khi đại huynh sẵn sàng tuyên xưng trước hết thay cho tất cả mọi người, đến nỗi chúng ta không biết phải ca tụng điều gì trước nơi anh em: đức tin mau mắn vững bền của đại huynh hay là đức ái của anh em không muốn tách rời khỏi đại huynh? Lòng can đảm của vị Giám mục dám đi tiên phong đã được công chúng công nhận…”

Thánh nhân bị đày ở Con-tum-sen-la, và qua đời tại đó ngày 14 tháng 9 năm 253.

Thánh Síp-ri-a-nô là bạn thân của Đức Co-nê-li-ô nên được mầng lễ cùng ngày với nhau. Ngài sinh tại Cat-ta năm 210, trong một gia đình ngoại đạo.

Thánh nhân là một nhà trí thức lỗi lạc, làm giáo sự dạy khoa hùng biện và luật. Năm lên 45 tuổi, ngài đã được Linh mục Cê-ci-li-ô hướng dẫn vào đạo. Từ đó, thánh nhân bán hết gia tài phân phát cho người nghèo, hiến dâng đời mình cho Chúa. Ngài được thụ phong Linh mục năm 249 và sau đó được bầu làm Giám mục Cat-ta. Là một mục tử nhiệt thành nhân đức, ngài dốc hết toàn lực chỉnh đốn lại đời sống của giáo sĩ cũng như giáo dân đã từ lâu sa sút vì những cuộc bách hại, để chuẩn bị họ đương đầu với những cơn bắt bớ về sau. Đúng như thánh nhân dự đoán. Năm 257, hoàng đế Va-lê-ri-a-nô lại ra chiếu chỉ bắt đạo, và thánh nhân là một trong những người bị bắt đầu tiên. Ngày 14 tháng 9 năm 258, ngài bị điệu ra trước tòa án để chịu xử trảm.

“Sáng ngày 14 tháng 9, dân chúng lũ lượt kéo đến công trường Xét-tô theo lệnh quan kinh lược Ga-lê-ri-ô Mắc-xi-mô. Cũng chính quan kinh lược hạ lệnh hôm ấy phải điệu Síp-ri-a-nô đến cho ngài ngồi xử ở tiền đường. Xô-xi-ô-lô. Khi Giám mục Sip-ri-a-nô đến, quan kinh luợc hỏi:

- Chính ông là Tha-xi-ô Síp-ri-a-nô phải không?
Đức Giám mục Síp-ri-a-nô trả lời:
- Vâng, chính tôi.
Quan kinh lược Ga-lê-ri-ô Mắc-xi-mô nói:
- Ông là cha của bọn đầu óc phạm thánh phải không?
Đức Giám mục Sip-ri-a-nô trả lời:
- Vâng.
Quan bảo:
- Các thánh thượng lệnh cho ông phải tế thần.
Đức Giám mục trả lời:
- Tôi không tế thần.
Ga-lê-ri-ô Mắc-xi-mô bảo:
- Suy nghĩ kỹ đi.
Đức Giám mục đáp:
- Ngài cứ theo luật mà làm, đối với một vấn đề chính đáng như thế tôi chẳng cần suy nghĩ gì cả. Ga-lê-ri-ô Mắc-xi-mô cùng với Hội đồng nghị quyết, và cuối cùng phải tuyên án rằng:
- Phạt xử trảm Síp-ri-a-nô.
Đức Giám mục Síp-ri-a-nô thưa:
- Tạ ơn Chúa.
Thế là Thánh Giám mục Síp-ri-a-nô được phúc tử đạo ngày 14 tháng 9 năm 258, dưới triều hoàng đế Va-lê-ri-a-nô.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Co-nê-li-ô và Síp-ri-a-nô tử đạo, hằng ngày tôi quyết trung thành làm tôi Chúa, dù có phải gian lao thử thách cũng sẵn lòng chịu vì Chúa.

* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban cho dân Chúa hai vị mục tử nhiệt thành và cũng là chứng nhân bất khuất là thánh Co-nê-li-ô và Síp-ri-a-nô. Xin nhận lời hai thánh chuyển cầu, mà ban cho chúng con can trường giữ vững đức tin, và không ngừng hoạt động cho Giáo hội được hiệp nhất. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 17 tháng 9
THÁNH RÔ-BÊ-TÔ BÊ-LA-MI-NÔ Giám Mục Tiến Sĩ

* Gương Thánh nhân

Thánh Rô-bê-tô Bê-la-mi-nô, sinh ngày 4 tháng 10 năm 1542, tại miền Bắc nước Ý, trong một gia đình cha mẹ đạo đức sốt sắng. Nhờ đó, ngài sớm hấp thụ nền đạo hạnh và đàng nhân đức.

Năm lên 14 tuổi, cha mẹ gởi cậu đến học với các cha Dòng Tên. Cậu học thông minh xuất sắc, nên cha cậu định sẽ cho học môn y khoa. Ý cậu muốn dâng mình cho Chúa, nhưng bị cha từ chối. Mãi đến năm 17 tuổi, cậu mới được cha chấp thuận cho vào Dòng Tên.

Sau thời gian học triết lý, thần học, Kinh Thánh, và tập rèn nhân đức, thầy Rô-bê-tô được chịu chức Linh mục năm 1570. Từ đó, ngài chuyên môn đi giảng thuyết và dạy thần học tại Lu-ve nước Bỉ.

Lúc đó lạc thuyết Tin lành đang lan rộng, thánh nhân dùng lời giảng dạy và viết sách giáo lý để bảo vệ đức tin chân thật. Nhiều người Tin lành nhờ nghe ngài giảng và xem sách của ngài mà trở lại.

Năm 1576, Bề trên gọi ngài về Rô-ma, giao cho trọng trách giảng dạy giáo lý, đối phó với các cuộc tấn công của anh em Tin lành. Trong thời gian nầy, thánh nhân cho xuất bản sách: “Các vấn đề tranh luận”, để giải đáp các thắc mắc của lạc giáo.

Năm 1599, Đức Giáo Hoàng Clê-men-tê thứ 8 nâng thánh nhân lên chức Hồng Y. Từ đó, ngài chăm lo mọi việc cho toàn thể Hội thánh. Ngài phụ giúp Đức Thánh Cha giải quyết vụ án Ga-li-lê, và các cuộc tranh luận về ơn thánh giữa các Linh mục dòng Đa-minh và Dòng Tên. Luôn luôn ngài làm việc cách hăng say nhiệt thành, lúc nào cũng hoàn tất mọi trách vụ được giao phó. Ngài cho việc phục vụ Chúa và Hội thánh là êm ái dịu ngọt. Người nói: “Ôi ! Chúa êm ái ngọt ngào và đầy tình thương xót, ai lại không phục vụ Chúa hết tình, khi đã nếm một chút nào sự dịu ngọt, được phục quyền Chúa như cha nhân từ?

“Lạy Chúa, Chúa truyền dạy tôi tớ Chúa điều gì? Chúa phán: Hãy mang lấy ách của Ta, và ách của Chúa thế nào? Chúa phán: Ách của Ta êm ái và gánh Ta nhẹ nhàng. Vậy ai mà chẳng vui lòng mang lấy ách không đè nén nhưng còn khích lệ, gánh không nặng nề mà còn bổ dưỡng. Bởi vậy Chúa đã nói thêm cách chính đáng rằng: Các con đã tìm được an nghỉ cho tâm hồn. Và cái gì là ách của Chúa mà lại không làm cho mệt nhọc, song còn mang lại an nghỉ? Đó là giới răn thứ nhất và quan trọng hơn hết: Hãy yêu mến Thiên Chúa là Chúa ngươi hết tâm hồn. Còn gì dễ dàng hơn, dịu ngọt hơn, êm ái hơn là sự hoàn thiện, sự mỹ vị và tình yêu, mà Chúa là tất cả những cái đó, ôi lạy Chúa là Thiên Chúa con !”.

Như thế bí quyết phục vụ Chúa mà lấy làm êm ái nhẹ nhàng, theo thánh Rô-bê-tô, chính là Tình yêu. Yêu Chúa thì luôn luôn sẵn sàng hoan hỷ giúp việc Chúa. Thương người thì mê thích phục vụ anh em.

Thánh Rô-bê-tô qua đời ngày 17 tháng 9 năm 1621, được phong thánh năm 1928 và tiến sĩ Hội thánh năm 1931.

* Quyết tâm

Hằng ngày biết lo dùng lời nói, việc làm, nhất là gương sáng đời sống, gìn giữ và bảo vệ đức tin chân chính và tông truyền, theo gương thánh Rô-bê-tô Bê-la-mi-nô.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Giám mục Rô-bê-tô Bê-la-mi-nô trí thông minh và lòng dũng cảm tuyệt vời, để người bảo vệ đức tin của Hội thánh. Vì lời thánh nhân nguyện giúp cầu thay, xin cho dân Chúa biết giữ đức tin ấy vẹn toàn. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH EM-MA-NU-EN NGUYỄN VĂN TRIỆU Linh Mục Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Người Việt Nam rất trọng chữ HIẾU: Hiếu với Chúa là Thượng Phụ, hiếu với cha mẹ là Hạ Phụ. Thánh Em-ma-nu-en Nguyễn Văn Triệu đã nêu gương hiếu thảo đó cách tuyệt vời cho mọi người qua mọi thế hệ. Vì hiếu với mẹ, ngài đã thăm viếng dưỡng nuôi và gầy dựng cho bà một mái nhà che nắng đỡ mưa, trong khi cơn bắt đạo của vua Cảnh Thịnh rất gắt gao, ngài phải bận rộn với bao nhiêu công tác mục vụ tông đồ: chăm sóc đoàn chiên trong lúc nguy hiểm khốn khó, để chu toàn bổn phận thảo hiếu đối với Chúa là Thượng Phụ.

Em-ma-nu-en Triệu sinh năm 1756 tại làng Kim Long, tỉnh Phú Xuân (Huế). Cha là ông Cai Lương, làm quan đời chúa Nguyễn.

Năm lên 15 tuổi, cậu nhập quân đội, dưới quyền chỉ huy của cha cậu. Lúc quân Tây Sơn nổi lên chống chúa Nguyễn, cha cậu được lệnh đem quân kháng cự. Nhưng ông bị tử trận, để lại cho cậu người mẹ phải chăm sóc dưỡng nuôi. Vì nội chiến cứ liên tục tiếp diễn, các phe phái nổi lên chống đối lẫn nhau gây ra cảnh tương tàn tương sát rất bi thảm. Đất nước điêu linh, nhân dân lầm than khốn khổ. Thảm cảnh đó làm cho cậu Triệu suy nghĩ mà ngán ngẫm cuộc đời, thấy đời toàn là tranh giành cấu xé nhau, người trong một nước chẳng biết thương yêu nhau, đùm bọc lẫn nhau, lại chém giết sát hại nhau. Những việc đó khiến cậu nghĩ đến Chúa. Chúa là Tình yêu, Tình yêu thương xót, Tình yêu cứu độ, và cậu muốn hiến dâng mình phục vụ Tình yêu cao cả đó. Tình trạng đã bi đát như thế, lại thêm nạn đói khổ sở hành hạ khắp nơi, người người lâm cảnh thiếu thốn, nhà nhà phải tản cư tìm phương sinh sống. Mẹ cậu cũng lâm cảnh khổ cực như mọi người. Vì lòng hiếu thảo, cậu không thể để mẹ già đói khát. Cậu xin giải ngũ, ra Bắc lập kế sinh nhai để nuôi mẹ già, đồng thời để tìm dịp thực hiện ý nguyện phụng sự Chúa và phục vụ đồng bào đồng loại. Lúc đó cậu đã 30 tuổi, đã 15 năm ở trong quân ngũ với biết bao kinh nghiệm cuộc đời.

Trong thời gian ở đây, anh Em-ma-nu-en Triệu được phước gặp Đức Cha Khâm, đương kim Giám mục giáo phận Đông đàng Ngoài. Anh ngỏ ý muốn dâng mình giúp việc Chúa với Đức Cha… thấy anh lớn tuổi, nhưng rất nhiệt tình và giàu kinh nghiệm, Đức Cha thương nhận lời. Ngài gởi anh học thần học tại Trung Linh. Và năm 1793, thầy Triệu được thụ phong Linh mục, lúc đã 37 tuổi.

Từ đó, vị tân Linh mục dày dặn kinh nghiệm đem hết nhiệt huyết phụng sự Chúa là Thượng Phụ của mình, để đáp đền Tình thương cao cả của Người, để đem Tình yêu cứu rỗi đến cho người đồng hương đồng loại. Sau gần sáu năm hoạt động tông đồ, cha Em-ma-nu-en thương nhớ mẹ già đang sống ở Phú Xuân, nên xin phép Đức Cha về thăm mẹ. Mẹ con gặp nhau thật bùi ngùi cảm động ! Sau hơn 12 năm xa cách, nay mẹ đã già, tóc bạc phơ, xót xa nhất là khi thấy mẹ không có nhà trú ngụ phải ăn nhờ ở đậu với người thân quen. Thế nên cha quyết định ở lại cất cho mẹ một mái nhà làm nơi nương tựa. Và mặc dầu chỉ ở lại một thời gian ngắn để giúp đỡ mẹ già, cha cũng không bỏ qua việc thi hành chức vụ mục tử. Cha thăm viếng các giáo hữu và dâng Thánh lễ tại các họ đạo gần đó. Sáng sớm ngày 08 tháng 08 năm 1798, cha đang dâng Thánh lễ tại xứ Thợ Đúc, thì quan quân đến vây bắt, vì lúc đó vua Cảnh Thịnh ra lệnh bắt đạo gắt gao.

Suốt 40 ngày tù ngục, cổ mang gông, tay chân bị xiềng xích, nhiều lần bị tra tấn đánh đập, cha vẫn can trường giữ vững đức tin, thà chết chẳng thà chối Chúa bỏ đạo. Thế nên sáng ngày 17 tháng 09 quân lính dẫn cha ra pháp trường Bãi Dâu xử trảm. Đến nơi, cha quỳ gối cầu nguyện, rồi đưa cổ cho lý hình thi hành phận sự, cho linh hồn được về cõi phúc ngàn thu.

Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã phong Chân Phước cho cha ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 suy tôn cha lên bậc Hiển Thánh.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Em-ma-nu-en Triệu, Linh mục tử đạo, hết lòng hiếu thảo với Chúa và với cha mẹ, bằng cách suốt đời yêu thương phục vụ.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 18 tháng 09
THÁNH ĐA-MINH TRẠCH Linh Mục Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Trong số các thánh Tử đạo Việt Nam , Thánh Đa-minh Trạch chẳng những để lại cho hậu thế gương trung thành bền đỗ chịu cực hình vì Chúa, mà còn can đảm rao giảng đạo Chúa cho những kẻ bắt bớ giết hại mình. Suốt thời gian bị giam trong ngục, thánh nhân bị tra khảo đánh đập nhiều lần. Có lần sau khi đánh đập dữ dội, quan buộc ngài bước qua thập giá bỏ đạo. Thay vì làm theo lời quan dạy, vị anh hùng tử đạo dõng dạc nói:

- Bẩm quan, Thiên Chúa là Đấng Tạo hóa dựng trời đất đã dùng Thánh giá mà đem lại sự sống đời đời cho nhân loại. Nếu quan muốn được sống muôn đời bất diệt, quan hãy kính lạy Thánh giá.

Chính vì lời nói đó mà quan nổi giận kết án trảm quyết ngài, đem lại cho người triều thiên tử đạo vinh hiển.

Đa-minh Trạch sinh năm 1793, tại xứ Ngoại Bồi, tỉnh Nam Định.

Ngay từ nhỏ, cậu đã ước muốn đi tu làm Linh mục, nên xin vào ở với cha xứ, để nhờ ngài dạy dỗ và tập rèn đức hạnh. Sau một thời gian, cha thấy cậu có lòng đạo đức, trí thông minh, nên gởi vào chủng viện, tiếp tục học hành tu luyện. Và khi đã mãn khóa thần học, thầy Đa-minh được thụ phong Linh mục lúc 30 tuổi. Năm sau, cha xin gia nhập dòng Thánh Đa-minh và tuyên khấn ngày 03 tháng 06 năm 1825.

Đức Cha sai cha đi coi sóc bổn đạo ở xứ Quần Cống, rồi sau đó đến xứ Lục Thủy. Ở đâu, cha cũng nhiệt thành thi hành sứ vụ, tận tụy hy sinh chăm sóc đoàn chiên. Và mặc dầu bị bệnh lao phổi, sức khỏa suy yếu, cha vẫn cố gắng tuân giữ luật dòng, hằng ngày chuyên cần cầu nguyện, ăn chay hãm mình, để làm gương cho giáo hữu. Đặc biệt cha rất quan tâm đến việc giảng đạo cho lương dân. Noi gương thánh Phao-lô tông đồ, cha luôn tìm dịp đến với những người chưa biết Chúa, rao giảng Tin mừng Cứu rỗi cho họ, dẫn đưa họ về với Chúa. Chính do nhiệt thành truyền giáo như thế mà năm 1839, cha bị quân lính bắt, vì lúc đó vua Minh Mạng cấm đạo gắt gao. Nhưng nhờ dân chúng thương, hùn tiền chuộc cha nên cha được thả về.

Tháng tư năm 1840, cha đi Ngưỡng Nhân thăm hai Linh mục bạn. Dọc đường, cha bị quân lính phát hiện, bắt giải đến phủ Xuân Trường, rồi chuyển về giam ở tỉnh Nam Định.

Ở trong ngục, dù bệnh hoạn yếu đuối và bị xiềng xích khổ sở, cha cũng ráng sức chịu khó nâng đỡ khuyến khích các tín hữu cùng bị giam chung với cha, giúp họ kiên trì giữ vững đức tin và bền lòng trông cậy Chúa. Hằng ngày cha qui tụ họ lại, đọc kinh cầu nguyện, lần chuỗi Môi Khôi, kêu xin Chúa và Mẹ ban ơn thêm sức chịu đựng cực hình tra tấn. Nhờ đó cha giúp được nhiều người bền đỗ trung thành theo Chúa, sẵn sàng chịu khổ chịu chết vì Chúa, đặc biệt cha giúp Tô-ma Toán đã chối Chúa bỏ đạo, trở lại ăn năn thống hối và can đảm chịu chết vì Chúa.

Trong thời gian gần năm tháng bị giam trong ngục, quân lính dẫn cha ra công đường tra tấn nhiều lần, buộc cha đạp lên Thánh giá chối đạo. Lần nào cha cũng nhất quyết từ chối, thà chết chớ không bước qua Thánh giá. Có lần sau khi cho lính đánh cha nhừ tử, quan ra lệnh:“ Hãy bước qua thập giá để được sống.” Cha liền quỳ xuống hôn kính Thánh giá, rồi khuyên quan hãy tôn kính Thánh giá Chúa với mình để được sống muôn đời. Thật là anh hùng can đảm, thấy chết trước mắt mà chẳng lo chẳng sợ, lại còn mạnh mẽ giảng đạo cho kẻ bắt bớ mình… Quan nổi giận, cho lính đánh cha túi bụi, rồi làm án gởi về kinh. Bản án được vua Minh Mạng châu phê và buộc thi hành tức khắc. Thế là ngày 18 tháng 09 năm 1840, quân lính điệu cha ra pháp trường Bảy Mẫu, chém đầu theo lệnh nhà vua, đưa linh hồn vị anh hùng truyền giáo vào cõi sống muôn đời.

Ngày 27 tháng 05 năm 1900, Đức Thánh Cha Lê-ô 13 suy phong cha Đa-minh Triệu lên Chân Phước. Và Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô 2 suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh, ngày 19 tháng 06 năm 1988.

* Quyết tâm

Nhiệt thành rao giảng đạo Chúa khi thuận tiện cũng như lúc khó khăn, và luôn sẵn sàng hy sinh giúp đỡ anh em đồng đạo trung thành bền đỗ theo Chúa thờ Chúa cho đến chết, như thánh Đa-minh Triệu Linh mục tử đạo.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.

 

Ngày 19 tháng 9
THÁNH GIA-NU-A-RI-Ô
Giám Mục Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Thánh Gia-nu-a-ri-ô, sống vào thế kỷ thứ ba. Lòng nhân đức và tài trí thông minh của ngài đã đưa ngài lên chức Giám mục giáo phận Bê-nê-ven. Ngài hết sức từ chối chức vị cao trọng đó, vì ngài khiêm tốn, thấy mình bất xứng trước mặt Chúa. Nhưng Đức Giáo Hoàng ra lệnh, nên thánh nhân không dám từ chối.

Từ ngày lãnh chức Giám mục, thánh nhân càng sống khắc khổ nghiêm nhặt hơn, cố ý hãm mình dâng lên Chúa, để cầu nguyện cho hàng giáo sĩ và đoàn chiên. Ngài luôn sống gần gũi, khuyến khích họ trung thành bền đỗ phụng sự tôn thờ Chúa, vì Hội thánh lúc đó đang bị hoàng đế Đi-ô-lê-si-en bách hại, nhiều người đã bị bắt, bị giết vì đạo, nhưng cũng có số người vì nhát đảm đã bỏ Chúa tế thần.

Thánh nhân rất đau lòng mỗi khi nghe tin con chiên chối đạo. Ngày nọ, khi biết có 4 Ki-tô hữu bị tống giam vì đức tin, ngài lén đến thăm họ, khuyên bảo họ can đảm tuyên xưng Chúa Ki-tô. Viên tổng trấn thành phố hay tin liền ra lệnh bắt giữ ngài. Hôm sau, ông truyền dẫn ngài đến và bảo:

- Hãy tế thần đi, ngươi sẽ được sống.

Thánh nhân trả lời:

- Tôi không thờ lạy bụt thần ma quỷ như các ông. Tôi chỉ thờ một Thiên Chúa là Đấng Tạo hóa cao cả hơn hết.

Viên tổng trấn ra lệnh bỏ ngài vào lò lửa cho chết cháy. Nhưng Chúa cứu ngài bình an vô sự như ba thanh niên Do-thái xưa. Và người ta giam ngài vào ngục. Từ đây, thánh nhân vui mầng gặp lại các con chiên của mình. Ngài khuyên bảo họ:

- Chúng con hãy can đảm lên, đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không làm gì hại được linh hồn. Chúng con hãy kính sợ Đấng phạt chúng con trong hỏa ngục, hãy trung thành theo Đấng đó, để được sống đời đời.

Ít hôm sau, viên tổng trấn dạy dẫn ngài ra và bảo:

- Ngươi hãy tế thần đi, ta sẽ cho về với đồ đệ ngươi.

Thánh nhân đáp:

- Quan cứ luật mà xử tội, không bao giờ tôi bỏ Chúa mà theo ma quỷ được.

Đứng trước lòng kiên trung của thánh nhân, viên tổng trấn không còn cách nào hơn là ra lệnh chém đầu ngài.

Thánh nhân đã được phúc tử đạo năm 305, dưới thời hoàng đế Đi-ô-lê-si-en. Năm 1493 di hài của ngài được dời về Náp-lơ, và được dân thành tôn làm thánh bổn mạng. Họ rất tin tưởng ngài, chạy đến nhờ ngài cầu thay nguyện giúp mỗi khi gặp gian nan khốn khó. Tương truyền thánh nhân đã cứu họ khỏi nạn núi lửa Vê-su và máu ngài đã làm nhiều việc lạ, nhưng không có bằng chứng nào chắc chắn về các hiện tượng nầy.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Gia-nu-a-ri-ô, tôi trung thành bền đỗ theo giúp việc Chúa cho đến chết, và hằng ngày mời gọi nhiều người cùng trung thành với Chúa, sẵn lòng chịu khổ cực vì Chúa.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, ngày hôm nay chúng con tưởng niệm thánh Gia-nu-a-ri-ô tử đạo.

Xin Chúa rộng ban cho chúng con mai sau được cùng thánh nhân hưởng hạnh phúc trên trời. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 20 tháng 9
THÁNH AN-RÊ KIM, PHAO-LÔ CHUNG
và các bạn Tử đạo

* Gương Thánh nhân

Sau khoảng 60 năm đạo Chúa được rao truyền trên đất nước Triều Tiên, Hội thánh phải lâm cơn bách hại. Nhiều người Ki-tô hữu bị bắt bớ giam cầm, và bị giết vì đức tin; trong số đó có thánh An-rê Kim, Phao-lô Chung và nhiều giáo dân khác. Đang khi bị tù tội tra tấn, các ngài chẳng những vui lòng chấp nhận vì Chúa, mà còn an ủi khích lệ nhau trung kiên theo Chúa.

Dưới đây là những lời khích lệ của thánh An-rê Kim Linh mục: “Anh em và các bạn rất thân mến, hãy suy đi nghĩ lại: Từ khởi thủy Thiên Chúa đã sắp đặt trời đất và mọi loài; sau cùng, anh em hãy suy vì lý do và ý định nào mà Thiên Chúa đã tác tạo từng người giống hình ảnh Ngài và như họa ảnh Ngài. Vậy nếu trong thế gian đầy nguy hiểm và gian khổ nầy mà chúng ta không nhận biết Thiên Chúa là Đấng Tạo hóa, chúng ta sinh ra và sống ở đời nầy thật vô ích. Mặc dù nhờ Thiên Chúa chúng ta sinh ra, cũng như nhờ Thiên Chúa chúng ta nhận lãnh phép rửa tội, gia nhập Giáo hội, đồng thời mang quí danh là môn đệ hoàn hảo của Chúa, nhưng chỉ có danh hiệu mà không có thực chất, thì việc chúng ta sinh ra và gia nhập Giáo hội đều là hư không, hơn nữa việc nầy còn phản bội Thiên Chúa và ân sủng của Người. Chúng ta đừng sinh ra thì tốt hơn là lãnh nhận ơn Chúa và phạm tội chống lại Người…”

“Anh em rất thân mến, anh em hãy biết rằng Chúa chúng ta là Đức Giê-su xuống thế gian chịu muôn vàn đau khổ cho tới cùng, đồng thời dùng cuộc khổ nạn của mình mà thiết lập Giáo hội, và làm cho Giáo hội tăng trưởng bằng khổ nạn của các tín hữu. Dù đàn áp và chống đối, các quyền lực thế gian không bao giờ có thể thắng Giáo hội. Sau khi Chúa lên trời, kể từ thời các tông đồ cho đến nay, Hội thánh tăng trưởng khắp nơi giữa những đau khổ”.

“Còn bây giờ, ròng rã 50 năm trở lại đây, kể từ lúc Hội thánh đi vào đất Triều Tiên của chúng ta, người tín hữu lại đã bị bách hại, ngay cả hôm nay cuộc bách hại còn đang nặng nề, đến nỗi nhiều người cũng là bạn hữu với nhau trong cùng một đức tin, trong đó có tôi, đang chịu cảnh tù ngục, cũng như cả anh em cũng đang sống giữa đau khổ. Vì chúng ta làm nên một thân thể như thế, làm sao lòng chúng ta lại không buồn? Theo tình cảm nhân loại, làm sao chúng ta không cảm thấy nỗi đau đớn phải chia ly?”

“Tuy nhiên, như lời Kinh Thánh nói, Thiên Chúa quan tâm đến sợi tóc nhỏ nhất trên đầu, và quan tâm bằng sự thông suốt của Người; vậy tại sao lại không cho rằng cuộc bách hại như thế là lệnh của Thiên Chúa, là phần thưởng hoặc cuối cùng là hình phạt của Người?”

“Thế nên chúng ta hãy tuân theo ý Chúa, và anh em hãy hết lòng chiến đấu cho thủ lãnh là Đức Giê-su ở trên trời, và chiến thắng ma quỷ thế gian nầy, như Đức Ki-tô đã chiến thắng”.

Chính nhờ nâng đỡ khích lệ nhau, và với ơn Chúa giúp, các ngài đã anh dũng tuyên xưng đức tin vào Chúa Ki-tô cho đến chết, và đã đổ máu ra làm chứng cho Chúa.

* Quyết tâm

Hằng ngày khuyên lơn nhắc nhở những người thân yêu siêng năng sốt sắng thờ phượng Chúa, làm tôi Chúa, nhất là sẵn sàng chịu khổ chịu cực vì Chúa, theo gương các thánh An-rê Kim, Phao-lô Chung và các bạn tử đạo.

* Lời nguyện

Lạy Chúa là Đấng tạo thành và cứu độ muôn dân. Chúa đã mời gọi dân tộc Triều Tiên đón nhận đức tin Công giáo, để gia nhập cộng đoàn Thiên Chúa chọn. Chúa lại ban cho cộng đoàn nầy tăng trưởng nhờ lời tuyên xưng của các bậc anh hùng, là hai thánh An-rê Kim, Phao-lô Chung, cùng các bạn tử đạo. Xin nhậm lời cầu nguyện của các ngài, mà ban cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, là trung thành tuân giữ giới răn Chúa cho đến khi nhắm mắt lìa đời. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH GIOAN CÓT-NAY TÂN
Linh Mục Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Đối với các thánh tử đạo, đặc biệt thánh Gioan Tân tử đạo hôm nay, thử thách bách hại chẳng phải là cực hình khốn khổ mà là niềm vui mầng hạnh phúc nhất trên đời, chẳng những các ngài sẵn lòng chịu khổ chịu chết vì Chúa, các ngài còn coi đó là nguồn hân hoan diễm phúc.

Khi bị bắt nhốt trong củi giải về Sơn Tây, cha Gioan Tân hết sức vui mầng. Suốt dọc đường, ngài luôn ca hát ngợi khen cảm tạ Chúa. Trong ba tháng tù cũng như khi bị đưa ra pháp trường xử án, cha vẫn vui vẻ tươi cười hát thánh ca, vì tin chắc sẽ được làm chứng cho Chúa, sẽ được phần thưởng lớn lao như lời Chúa hứa: “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả, và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mầng nhảy múa, vì nầy đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Lc. 6, 22-23).

Gioan Cót-nay sinh ngày 28 tháng 02 năm 1809 tại Lou-đun, nước Pháp, trong một gia đình đạo đức sốt sắng. Nhờ đó khi lớn lên cậu được Chúa thương gọi giúp việc Chúa, nên sau khi mãn trung học, cậu đã xin gia nhập Chủng viện. Và do ơn Chúa soi sáng, cậu ước muốn đi giảng đạo ở miền xa. Thế nên năm 1830, thầy Gioan xin vào Đại Chủng Viện thừa sai Pa-ri, dọn mình chịu chức phó tế để đi truyền giáo ở Viễn Đông.

Tháng 3 năm 1832, thầy đã đến Ma Cao, và được Bề Trên sai đi tỉnh Tứ Xuyên ở Trung Quốc. Nhưng vì đường sá khó khăn trở ngại, thầy tạm đến ở Việt Nam, chờ hai người giáo hữu Trung Hoa đến đón rước. Chẳng may những người nầy mắc bệnh chết dọc đường, thầy phải quay về Hà Nội, xin ở lại giảng đạo tại Việt Nam và lấy tên là Tân. Sau một thời gian học tiếng và tập sự thi hành mục vụ, ngày 20 tháng tư năm 1934, Đức cha Du phong chức Linh mục cho thầy, và sai đi giúp xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây. Trong ba năm ở đây, cha luôn luôn tận tụy hy sinh cho đoàn chiên, chăm sóc giúp đỡ cả phần hồn lẫn phần xác cho họ. Ngoài ra việc dâng Thánh lễ, ban Bí tích, giảng dạy giáo lý ở nhà thờ, cha thường xuyên đi thăm viếng bệnh nhân, người già yếu. Nhất là các giáo hữu bê bối nguội lạnh, tìm cách an ủi khích lệ họ.

Lúc đó ở Bầu Nọ có băng cướp do tên Đức cầm đầu. Chúng thường cướp giật tài sản của dân làng, làm cho nhiều người phải điêu đứng khổ sở. Các giáo hữu trong họ đạo thấy vậy thì hợp với dân làng vây bắt chúng nộp cho quan. Tên Đức tức giận, tìm cách trả thù. Hắn tố cáo dân làng chứa chấp Tây dương Đạo trưởng (Linh mục nước ngoài). Nhưng quan tổng trấn Sơn Tây lúc đó không tha thiết gì đến lệnh bắt đạo của vua, nên ông ta làm ngơ. Thấy vậy, hắn dùng mưu kế khác, nhất định trả thù cho được. Hắn cho người đem vũ khí chôn giấu gần chỗ cha Tân ở, rồi tố cáo cha xúi dân làm loạn, chống lại triều đình. Quan liền đem quân đến làng Bầu Nọ bao vây khám xét, khi thấy vũ khí, quan ra lệnh tìm bắt cha Tân. Quân lính tìm thấy cha trốn trong bụi rậm liền bắt nhốt vào củi, giải về Sơn Tây ngày 20 tháng 06 năm 1837. Suốt dọc đường, cha luôn vui mầng ca hát cảm tạ Chúa, vì Người đã thương cho cha được dịp làm chứng cho Người.

Ở Sơn Tây, nhiều lần quan cho điệu cha ra tòa tra tấn đánh đập, bắt ép cha nhận tội âm mưu làm loạn, chống đối vua chúa quan quyền. Nhưng cha trả lời: “Thưa quan, tôi là Đạo trưởng. Hằng ngày tôi dạy bảo người có đạo thờ Chúa kính vua, lẽ nào tôi làm ngược lại lời tôi giáo huấn mà chống đối vua quan.”

Quan giận dữ, cho đánh cha bằng roi có gắn những miếng chì bén nhọn, rách nát cả thịt da; máu chảy đầm đìa. Nhưng cha vẫn vui lòng chấp nhận, không than trách lời nào. Quan lại buộc cha bước qua Thập giá chối đạo. Cha liền ôm lấy Thánh giá hôn kính. Quá tức giận, quan kết án chém đầu cha. Nhưng vua Minh Mạng đã đổi án lăng trì (phân thây).

Ngày 20 tháng 09 năm 1837, cha được đưa ra pháp trường, lòng tràn ngập hân hoan, miệng luôn hát thánh ca cảm tạ ngợi khen Chúa, vì được phước chịu chém đầu phân thây để làm chứng cho Chúa.

Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã phong Chân Phước cho cha ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988. Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô 2 suy tôn cha lên Hiển Thánh.

* Quyết tâm

Noi guơng thánh Gioan Tân Linh mục tử đạo, hằng ngày siêng năng rao giảng đạo Chúa và sẵn sàng chịu khổ chịu cực vì Chúa. Nhất là khi gặp thử thách gian khổ thì vui lòng chấp nhận và hân hoan cảm tạ Chúa, vì được dịp làm chứng cho Chúa và sẽ được phần thưởng lớn lao.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 21 tháng 9
THÁNH MÁT-THÊU TÔNG ĐỒ Thánh Sử

* Gương Thánh nhân

Thánh Mát-thêu sinh tại xứ Ga-li-lê. Lớn lên, ngài làm nghề thu thuế cho đế quốc Rô-ma, lúc đó đang cai trị dân Do-thái. Đây là một nghề mà người Do-thái cho là tội lỗi xấu xa, là nghề nhơ uế theo luật, vì những người làm nghề nầy cộng tác với lương dân, với chính quyền ngoại xâm, đàn áp bốc lột đồng bào, nhất là vì họ thường dùng nhiều thủ đoạn gian dối để làm giàu trên mồ hôi nước mắt của dân chúng.

Mọi người càng khinh bỉ, ghét bỏ, kết tội họ, Chúa Giê-su càng thương yêu cứu giúp họ, vì Người đến không phải để kêu gọi người công chính, mà Người đến để kêu gọi kẻ tội lỗi ăn năn hối cải, hầu được Người tha tội, cứu rỗi.

Chúa Giê-su thấy Mát-thêu đang ngồi thâu thuế, Người thương ông, gọi ông làm môn đệ Người, như lời thánh Bê-đa tường thuật sau đây: “Đức Giê-su thấy một người đang thu thuế tên là Mát-thêu và phán bảo ông: Hãy theo Ta ! Người không nhìn với cái nhìn thể xác, nhưng với lòng xót thương bên trong. Người thấy người thu thuế và vì nhìn với lòng thương xót và tuyển chọn, nên Người phán bảo ông: Hãy theo Ta ! Nhưng theo có nghĩa là bắt chước; không phải theo bằng bước chân cho bằng thực hành nhân đức trong cuộc sống. Ai nói mình sống trong Đức Ki-tô cũng phải tiến bước như Người. Và ông chỗi dậy theo Người. Chẳng có gì lạ lùng khi thoạt nghe tiếng Chúa truyền, người thu thuế liền bỏ những lợi lộc trần gian mà ông đang kiếm tìm và giũ bỏ tất cả của cải để theo chân Đấng mà ông thấy không có chút tiền của nào. Vì khi kêu gọi ông qua lời nói bên ngoài, chính Chúa đã dạy dỗ cách vô hình bên trong để ông theo Người; Người chiếu dọi vào tâm trí ông ánh sáng của ơn thánh để ông hiểu rằng: Đấng kêu gọi ông từ bỏ của cải trần gian tạm bợ, có thể ban thưởng cho ông kho tàng chẳng hư nát trên trời.

Chuyện Xảy đến khi Chúa đang nằm dùng bữa trong nhà, nhiều người thu thuế và tội nhân đến dùng bữa với Đức Giê-su và môn đệ Người. Thế là một người thu thuế trở lại đã nêu gương cho nhiều người thu thuế và tội nhân thống hối. Và đó là một điềm tốt cho biết vị tông đồ và tiến sĩ dân ngoại sau nầy sẽ ra sao; khi trở lại, ngài đã bắt được một đoàn tội nhân đến bến cứu độ, và công việc truyền bá Tin mừng mà sau nầy ngài sẽ chu toàn khi đã tiến bộ về nhân đức, thì ngay từ khi mới có đức tin ngài đã bắt đầu rồi. Nếu chúng ta muốn tìm hiểu câu chuyện ở đây sâu xa hơn, thì nên biết, không phải Mát-thêu chỉ dọn cho Chúa một bữa ăn phần xác trong nhà vật chất, nhưng đẹp hơn nữa, ngài đã dọn cho Người một bữa ăn trong tâm hồn với đức tin đức mến của mình, như chính Người đã phán: Nầy Ta đứng trước cửa mà gọi; nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa, Ta sẽ vào nhà dùng bữa với người ấy.

Chúng ta sẽ mở cửa tiếp đón Người và nghe tiếng Người, đó là những khi chúng ta vui lòng đón nhận những lời nhắn nhủ thầm kín hay công khai của Người, mà thực hành những việc nhận ra mình phải làm”.

Thấy Chúa dùng bữa với các người thu thuế và kẻ tội lỗi như thế, những người Pha-ri-sêu kiêu ngạo, khinh dễ những người đó, phê bình chỉ trích Chúa. Họ nói với môn đệ Chúa:

- “Sao Thầy các ông lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?

Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói:

- Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu nầy: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt. 9, 11-13).

Đúng thật Chúa Giê-su được Chúa Cha sai đến thế gian để cứu vớt kẻ tội lỗi. Bằng chứng cụ thể Người đã kêu gọi Mát-thêu và bạn hữu ông hôm nay, chẳng những Chúa kêu gọi Mát-thêu trở lại với Người, mà còn chọn ông làm môn đệ Người, đem ơn cứu rỗi của Người đến cho nhiều người khác.

Thánh Mát-thêu rao giảng Chúa Giê-su bằng lời nói, bằng việc làm và bằng sách Tin mừng ngài, đó là cuốn Tin mừng theo thánh Mát-thêu.

Theo truyền thuyết, thánh nhân đã giảng đạo tại Ê-ti-ô-pi, Ba-tư và đặc biệt đã chết để làm chứng cho Chúa tại đó.

* Quyết tâm

Suốt đời tôi luôn nhớ cám ơn Chúa, vì Chúa đã thương tha tội cho tôi. Và để tỏ lòng biết ơn, tôi lo dùng lời nói, việc làm rao giảng đạo Chúa, theo gương thánh Mát-thêu tông đồ thánh sử.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã mở lượng từ bi khôn tả, chọn một người thu thuế là Mát-thêu làm tông đồ rao giảng Tin mừng. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, mà cho chúng con biết noi gương Người, luôn hết tình gắn bó với Đức Ki-tô, là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.

 

THÁNH PHAN-XI-CÔ PHAN
VÀ TÔ-MA THIỆN
Linh Mục và Chủng Sinh Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Danh vọng, chức quyền, của cải thế gian không lôi cuốn được các vị anh hùng Tử đạo. Các ngài khinh thường các thứ đó, vì biết rõ chúng phù vân, nay còn mai mất, không vững bền tồn tại. Các ngài hy sinh từ bỏ chúng, chọn lấy gia sản vững bền, chức quyền vĩnh cửu trên trời, như thánh Phan-xi-cô Phan và Tô-ma Thiện đây.

Lúc chủng sinh Tô-ma Thiện bị bắt dẫn đến trước mặt quan, thấy anh trẻ đẹp, vẻ mặt thông minh giỏi giắn thì đem lòng thương, khuyên anh bỏ đạo, ông sẽ gả con gái cho, và xin vua ban chức tước của cải. Nhưng vị anh hùng đức tin trẻ tuổi đã khẳng khái nói: “Tôi chỉ mong được chức tước gia tài trên trời, chớ không màng chi danh vọng của cải dưới đất.” Và khi vua Minh Mạng gọi cha Phan vào triều đình giúp việc, ngài thấy cha tận tình phục vụ thì muốn ban chức tước bổng lộc cho cha, nhưng cha nhất quyết từ chối và nói:“ Xin đa tạ đức vua có lòng thương tôi. Nhưng tôi xin nhường lại cho người khác, vì tôi phục vụ vua chỉ vì bổng lộc trên trời.”

Phan-xi-cô Rắc-ca (Jaccard) sinh năm 1799, tại miền Sa-vu (Savou) nước Pháp. Lúc nhỏ cậu rất ham chơi nên thường bỏ học. Nhưng nhờ nghe lời cha mẹ bà con khuyên bảo, nhất là vì ước muốn làm Linh mục, cậu đã cố gắng siêng năng học hành, gia nhập chủng viện. Năm 20 tuổi, cậu được lên Đại chủng viện, và hai năm sau thầy Phan-xi-cô xin vào Hội Thừa Sai Pa-ri, để chuẩn bị đi giảng đạo ở miền xa. Ngày 15 tháng 3 năm 1823, thầy thụ phong Linh mục và lìa bỏ quê hương lên đường phụng sự Chúa. Nhưng vì đường sá khó khăn, mãi đến đầu năm 1826, cha mới đến Việt Nam, được Đức Cha cho ở tại chủng viện An Ninh (Quảng Trị) để học tiếng Việt. Trong thời gian ở đây cha lấy tên là Phan, và được chọn làm giám đốc chủng viện đó luôn.

Năm 1827, vua Minh Mạng ra lệnh tập trung tất cả các vị thừa sai về Huế, viện cớ để làm thông ngôn và dịch sách cho triều đình, kỳ thực là cố ý quản thúc và ngăn cản không cho giảng đạo. Cha Phan đang làm giám đốc chủng viện An Ninh ở Quảng Trị cũng được lệnh dời về Huế. Hằng ngày cha ở trong cung điện, dịch các tài liệu thư từ tiếng Pháp ra tiếng Việt, giảng dạy lịch sử Âu Mỹ cho những người vua gởi tới. Việc gì vua giao phó, cha cũng hoàn thành tốt đẹp, nên vua định khen thưởng cha. Nhưng cha từ chối vì không màng gì đến chức tước bổng lộc thế gian. Cha chỉ xin vua cho rời khỏi hoàng cung, đến ở họ đạo Dương Sơn gần đó để phục vụ vua, thực sự ý cha muốn xin về đó là để làm việc tông đồ, phụng sự Chúa theo chí hướng của mình.

Được vua chấp thuận, cha dọn về ở Dương Sơn, hằng ngày lo chăm sóc phần hồn, giúp đỡ phần xác cho các tín hữu. Chẳng may lúc đó dân làng Cổ Lão tranh giành đất đai với bổn đạo Dương Sơn, tố cáo những người nầy theo đạo. Thế là 73 người có đạo bị bắt, cha Phan bị kết án tử hình. Nhưng vua Minh Mạng khoan hồng, thay vì giết cha thì bắt giam trong cung điện để giúp việc triều đình.

Giữa lúc đó ở miền Nam có ông Lê Văn Khôi nổi lên chống đối triều đình, vua sợ người có đạo theo phe ông, nên ra sắc chỉ bắt đạo gay gắt. Nhiều Linh mục bị bắt, chủng viện An Ninh bị triệt hạ. Nhưng cha Kim là giám đốc chủng viện trốn thoát, vua nổi cơn thịnh nộ truyền bắt cha Phan thay thế, và tống ngục ngày 07 tháng 03 năm 1838 cùng với chủng sinh Tô-ma Thiện.

Tô-ma Thiện sinh năm 1820, trong một gia đình đạo đức ở làng Trung Quán, tỉnh Quảng Bình. Ngay từ nhỏ, cậu đã ước muốn làm Linh mục, nên xin đến ở với cha Chính tại họ Kẻ Sen để học hành và tập luyện nhân đức. Năm 18 tuổi, cậu được gởi vào chủng viện ở Di Loan do cha Kim làm giám đốc. Nhưng ngày cậu đến Di Loan thì chủng viện đã bị phá hủy, cha Kim đã ẩn trốn, cậu bị bắt giải về Quảng Trị, nhốt chung với cha Phan.

Quan thấy cậu trẻ tuổi, vẻ mặt khôi ngô tuấn tú, tương lai còn nhiều triển vọng thì đem lòng thương, khuyên bảo bỏ đạo, hứa sẽ gả con gái và xin vua ban cho chức tước bổng lộc. Cậu nhất quyết không chối Chúa bỏ đạo, và từ bỏ tất cả mọi thứ vinh hoa phú quí đó. Cậu chỉ mong được hưởng phúc lộc bền vững trên trời. Thấy cậu khinh thường lòng ưu ái của mình, quan tức giận, cho đánh đòn nhừ tử rồi tống vào ngục.

Trong suốt thời gian hơn 06 tháng bị giam trong ngục, chủng sinh Tô-ma Thiện và cha Phan-xi-cô Phan phải mang xiềng xích, nhịn đói nhịn khát khổ sở, và nhiều lần bị đem ra tra tấn đánh đập, buộc bước qua Thánh giá chối đạo. Nhưng hai cha con vẫn can đảm trung thành giữ vững đức tin, cương quyết sẵn sàng chịu khổ chịu chết vì Chúa. Hằng ngày hai cha con cùng nhau cầu nguyện, kêu xin Chúa ban ơn thêm sức cho được bền đỗ theo Chúa đến cùng.

Đứng trước lòng tin bất khuất của hai chứng nhân anh dũng, quan không còn biết làm cách nào khác hơn là kết án xử trảm. Nhưng khi gởi về kinh, vua Minh Mạng đã đổi lại án xử giảo. Ngày 21 tháng 09 năm 1838, quân lính dẫn hai chiến sĩ đức tin ra pháp trường tròng dây vào cổ, kéo hai đầu dây thật mạnh cho đến chết.

Ngày 27 tháng 05 năm 1900, Đức Thánh Cha Lê-ô 13 tôn phong các ngài lên bậc Chân Phước, và Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 suy tôn lên Hiển Thánh, ngày 19 tháng 06 năm 1988.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Phan-xi-cô Phan và Tô-ma Thiện tử đạo, sẵn lòng từ bỏ mọi vinh hoa phú quí danh vọng tạm bợ ở đời nầy, và vui lòng hy sinh chịu khó vì Chúa, để được hưởng hạnh phúc vinh hiển bất diệt trên trời.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 26 tháng 9
THÁNH CỐT-MA VÀ ĐA-MI-A-NÔ Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Hai thánh Cốt-ma và Đa-mi-a-nô là anh em ruột, sinh ở Á-rập. Mồ côi cha ngay từ nhỏ, các ngài được bà mẹ nhân đức huấn luyện bề đạo hạnh rất chu đáo.

Lớn lên, Cốt-ma và Đa-mi-a-nô được mẹ gởi học y khoa ở Sy-ri. Nơi đây, các ngài dần dần nổi tiếng về nghề thuốc cũng như đạo đức. Sau thời gian học tập, các ngài bắt đầu hành nghề thầy thuốc; với ý nguyện trong khi chữa bệnh phần xác, các ngài có thể cứu phần hồn cho bệnh nhân. Thế nên các ngài chữa bệnh hoàn toàn miễn phí, không nhận của ai chút thù lao nào. Hơn nữa, các ngài được Chúa giúp chữa ai cũng khỏi bệnh, nên số bệnh nhân đến ngày càng đông. Các ngài phải làm việc suốt ngày và có khi cả ban đêm. Nhiều khi gặp những người mắc bệnh nặng hoặc khó chữa trị, các ngài phải kết hợp chữa trị bằng thuốc đi đôi với lời cầu nguyện. Những người được các ngài chữa lành, đều biết rõ điều đó, nên họ bắt chước các ngài và xin các ngài dạy cầu nguyện, như các tông đồ xưa xin Chúa dạy các ông. Nhờ đó, nhiều bệnh nhân sau khi lành mạnh đã tin tưởng Chúa.

Giữa lúc đó, hoàng đế Đi-ô-lê-si-en ra chiếu chỉ bắt đạo. Nhà vua sai các quan chức lùng bắt các người có đạo, bắt họ phải tế thần. Ai vâng nghe thì thả về, người nào bất tuân sẽ giết chết hoặc lưu đày khổ sai.

Tuân lệnh hoàng đế, các quan chức rảo khắp các thành thị làng mạc gom bắt hết các Ki-tô hữu. Những người mê theo tà thần từ lâu thấy hai thánh Cốt-ma và Đa-mi-a-nô chữa bệnh, đã kéo nhiều người bỏ thần của họ mà tin theo Chúa. Họ ghen tức và ấm ức trong lòng. Nay có dịp nhà vua ra lệnh bắt đạo, họ liền tố cáo với tổng trấn Ly-si-a. Tổng trấn truyền bắt các ngài, và bảo phải dâng hương tế thần, nhưng các ngài thưa:

- Chúng tôi chỉ thờ Thiên Chúa thôi. Ngoài ra, chúng tôi không thờ ai khác nữa, vì không có ai cao cả quyền phép bằng Ngài.

Quan trấn bảo:

- Nếu các ngươi không tế thần, các ngươi phải chết.

Các ngài trả lời:

- Thiên Chúa sẽ cho chúng tôi sống đời đời.

Thấy không thể hăm dọa các thánh được, tổng trấn dùng đến bạo lực. Ông truyền cho binh lính hành khổ các ngài dữ tợn, nhưng các ngài vẫn can đảm chấp nhận vì Chúa ! Cuối cùng nhà quan thấy cực hình gian khổ không chuyển lay lòng các ngài nổi, nên ra lệnh chém đầu các ngài.

Hai thánh nhân được chọn làm bổn mạng các lương y, và tên các ngài được đặt cho nhiều thánh đường và bệnh viện bên phương Đông.

* Quyết tâm

Noi gương hai thánh Cốt-ma và Đa-mi-a-nô, lo dùng nghề nghiệp hằng ngày mà giúp đỡ phần xác và cứu vớt phần hồn mọi người.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, trong ngày kính hai thánh tử đạo Cốt-ma và Đa-mi-a-nô, chúng con khẩn nguyện cho mọi người biết ca tụng Chúa là Đấng cao cả, vì Chúa đã ban vinh quang bất diệt cho hai vị thánh, lại vì Chúa là Đấng quan phòng luôn che chở chúng con. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 27 tháng 9
THÁNH VINH-SƠN PHAO-LÔ Linh Mục

* Gương Thánh nhân

Thánh Vinh-sơn được nổi tiếng nhất về đức bác ái. Ngài là ngôi sao sáng chói về tình yêu thương đồng loại, ngài làm rạng danh cho nước Pháp và Giáo hội trên khắp hoàn cầu. Nghe danh ngài, ai ai cũng đều kính yêu mến phục tấm lòng vàng của ngài.

Thánh nhân sinh tại Pô-uy, nước Pháp, trong một gia đình nghèo khó nhưng rất đạo đức.

Vì là con nhà nghèo, nên lúc nhỏ Vinh-sơn phải phụ giúp cha mẹ chăn cừu. Ngày ngày cậu sống giữa đồng quê, bạn bè với các trẻ nghèo khó chăn chiên cừu. Cậu thấy mình nghèo nhưng có nhiều người còn nghèo hơn mình nữa. Từ đó cậu đem lòng thương mến họ. Lâu nay cậu để dành tiền cha mẹ cho được 50 xu, đó là cả gia tài của cậu. Cậu lấy cho những người cùng khổ. Và mỗi lần cha mẹ sai đi xay bột ở nhà máy, cậu lén lấy một ít cho bạn nghèo.

Thấy con có lòng bác ái lại thông minh, cha mẹ cho Vinh-sơn nghỉ chăn cừu để lo việc học hành, và cậu tỏ ý muốn dâng mình cho Chúa. Cậu nghĩ là khi làm Linh mục, cậu sẽ giúp đỡ người nghèo được nhiều hơn. Cha cậu là ông Gioan-Phaolô thấy gia đình bẩn chật, không thể lo cho con đi tu nổi, nhưng vì thấy con cứ nài xin mãi, nên ông cũng hy sinh, bán bầy cừu để lo cho Vinh-sơn vào dòng thánh Phan-xi-cô. Thấy cha mẹ hết sức thương lo cho mình, cậu tận tâm học hành và luyện tập nhân đức. Nhờ đó cậu học hành giỏi giắn và càng thêm tuổi, càng thêm khôn ngoan đạo đức.

Năm 20 tuổi, thầy Vinh-sơn được gởi đến Ta-lu học thần học, ngài thi đỗ bằng tiến sĩ, và sau đó được thụ phong Linh mục. Một năm sau, thánh nhân sang Mạc-sây lãnh di sản của một người bạn trối cho ngài để giúp đỡ kẻ nghèo. Trên đường về ngài bị bọn cướp lấy hết của cải và bán ngài cho một người nghịch đạo. Lúc đầu, ngài bị ngược đãi khổ sở, gặp nhiều thử thách về đức tin. Nhưng dần dần thánh nhân đã hoán cải lòng ông ta, nhờ đức hiền lành và sự thẳng thắn của ngài. Ông nầy chẳng những theo đạo, mà còn đưa ngài đến Tu-lu.

Vì thánh nhân có lòng thương mến kẻ nghèo khổ cách đặc biệt, nên Bề trên đặt ngài làm tuyên úy các tù nhân và những người nô lệ. Ngài đem hết khả năng phục vụ các người khốn khổ nầy. Hằng ngày, ngài tiếp xúc mật thiết với họ, đáp ứng các nhu cầu vật chất, tinh thần, nhất là đời sống luân lý và đạo đức của họ. Dường như Chúa quan phòng dẫn dắt ngài có mặt khắp các nơi có người đau khổ, tù đày, nghèo khổ, bệnh tật. Công việc cứu tế mỗi ngày một nhiều. Ngài không quán xuyến một mình nổi, ngài thấy cần có nhiều người cộng tác giúp đỡ. Ngài tổ chức nhiều Hội từ thiện, thành lập Dòng Nữ tu bác ái.

Từ đó hội dòng ngài sáng lập mọc lên khắp nơi trong cả nước Pháp, lan rộng đến các nước Ba-lan, Ý và ngày nay các Nữ tu bác ái của ngài có mặt khắp nơi trên khắp thế giới, chuyên lo giúp đỡ người nghèo khổ, chăm sóc kẻ bệnh hoạn tàn tật, nuôi dưỡng trẻ mồ côi, thăm viếng ủy lạo kẻ tù đày… Ngài luôn nhắc nhủ những người làm công tác từ thiện: “Phải quý trọng việc phục vụ người nghèo hơn hết, và phải phục vụ ngay không được trì hoãn. Nếu trong giờ kinh nguyện mà phải mang thuốc hay sự giúp đỡ nào đến cho một người nghèo khổ, thì hãy yên tâm đi đến với họ, dâng việc làm đó cho Chúa như đang nguyện kinh. Đừng bối rối tâm hồn, đừng xao xuyến lương tâm, vì phải phục vụ người nghèo mà bỏ buổi kinh nguyện. Vì không phải là bỏ Chúa khi vì Người mà đã đi xa Người, nghĩa là bỏ một công việc của Thiên Chúa để thực hiện một công việc ngang hàng như vậy”.

Kiệt sức vì phục vụ người nghèo khổ, thánh nhân ngã bệnh và qua đời đêm 27 tháng 9 năm 1660, được phong Hiển Thánh ngày 16 tháng 6 năm 1737. Ngài được Đức Thánh Cha Lê-ô 13 chọn làm Bổn mạng các tổ chức từ thiện bác ái trong Hội thánh.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Vinh-sơn Phao-lô, hằng ngày tôi lo giúp đỡ người nghèo khổ, bệnh tật xung quanh tôi, và mời gọi nhiều người cộng tác trong công việc từ thiện bác ái nầy.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Vinh-sơn Phao-lô Linh mục mọi đức tính xứng bậc tông đồ, để thánh nhân phục vụ người cùng khốn và đào tạo hàng giáo sĩ. Xin cho chúng con biết nghe lời người dạy, bắt chước việc người làm mà xả thân vì bác ái. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 28 tháng 9
THÁNH VEN-SẾT-LAO Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Thánh Ven-sết-lao sinh tại Bô-hem Tiệp-khắc, khoảng năm 905. Cha ngài là vua Vơ-ra-ti-lát rất đạo đức thánh thiện, nhưng mẹ ngài là người ngoại giáo, lại thù ghét đạo. Bà chỉ lo dưỡng dục em của ngài là Bô-lết-lao theo tà đạo mà bỏ bê ngài, nên bà nội là thánh nữ Lút-min-la đem ngài về dạy bảo bề đạo hạnh. Nhờ đó ngay từ nhỏ, thánh nhân đã có lòng mến Chúa yêu người đặc biệt. Ngài mộ mến cách riêng Chúa Giê-su Thánh Thể. Ngày nào ngài cũng đến nhà thờ dự Thánh lễ và giúp lễ.

Khi cha là vua Vơ-ra-ti-lát băng hà, thánh nhân được tôn lên làm vua kế vị. “Nhờ ơn Chúa, ngài đã được hoàn thiện trong đức tin. Thật vậy, ngài đã làm phúc cho mọi người nghèo, cho kẻ trần truồng mặc, cho kẻ đói ăn, tiếp rước khách lữ hành theo lời Tin mừng dạy. Ngài không cho ai đối đãi bất công với các quả phụ. Ngài yêu thương hết mọi người sang hèn, ngài giúp đỡ các thừa tác viên của Chúa, và ngài chỉnh trang nhiều nhà thờ.

Nhưng các lãnh chúa miền Bê-hem trở nên kiêu căng, họ xúi giục và nói với Bô-lết-lao em ngài rằng:“Hoàng huynh Ven-sết-lao đã âm mưu với hoàng thái hậu và những cận thần để giết ngài đó.”

Lúc đó người ta cử hành lễ cung hiến đền thờ trong các thành phố, vua Ven-sết-lao đi thăm mọi đô thị. Ngài vào thành của Bô-lết-lao đúng ngày Chúa nhật lễ hai thánh Cốt-ma và Đa-mi-a-nô. Dự Thánh lễ xong, ngài muốn trở về Pơ-ra-ha. Nhưng Bô-lết-lao đã mời ngài ở lại với mưu đồ gian ác rằng:

- Tại sao anh lại đi?

Hôm sau người ta đánh chuông để đọc kinh sáng. Vừa nghe chuông, Ven-sết-lao đã nguyện:

- Lạy Chúa, ngợi khen Chúa đã cho con sống đến sáng nay.

Và chỗi dậy, ngài đi đọc kinh sáng.

Bô-lết-lao liền theo ngài ra đến cửa; ngài nhìn em và nói:

- Nầy em, hôm qua em đón tiếp anh tử tế quá.

Nhưng ma quỷ đã rỉ tai Bô-lết-lao và làm cho lòng hắn ra hư hỏng. Hắn rút kiếm ra và trả lời với Ven-sết-lao rằng:

- Bây giờ em muốn đón tiếp anh cách tử tế hơn nữa.

Nói rồi, hắn dùng kiếm chém đầu ngài.

Ven-sết-lao quay về phía hắn và nói:

- Em âm mưu gì đó?

Rồi nắm lấy hắn, ngài đánh hắn ngã xuống đất. Nhưng một trong những cố vấn của Bô-lết-lao đã chạy lại đánh thẳng vào tay ngài. Ngài bị thương nơi tay, nên phải buông đứa em ra và chạy vào nhà thờ. Một người thứ ba chạy đến lấy kiếm đâm vào hông ngài. Ven-sết-lao tắt thở sau khi thốt ra:

- “Lạy Chúa, con dâng hồn con trong tay Chúa”

Thế là thánh nhân chết ngày 28 tháng 9 năm 927. Ngài được dân chúng tôn kính như một vị thánh tử đạo.

* Quyết tâm

Càng làm lớn, càng thương người nghèo khổ khốn khó, càng nâng đỡ bênh vực những kẻ cô thế cô thân vì lòng mến Chúa yêu người, theo gương thánh Ven-sết-lao.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã soi sáng cho thánh Ven-sết-lao biết can đảm lựa chọn: thà làm dân Nước Trời hơn làm vua trần thế. Vì lời chuyển cầu của thánh nhân, xin cho chúng con biết từ bỏ chính mình, mà hết lòng gắn bó cùng Chúa. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 29 tháng 9
TỔNG LÃNH THIÊN THẦN
MI-CA-EN, GÁP-RI-EN VÀ RA-PHA-EN

* Gương Thánh nhân

Hôm nay Hội thánh mầng kính ba tổng lãnh thiên thần Mi-ca-en, Gáp-ri-en và Ra-pha-en.

Theo Thánh Kinh, có rất nhiều thiên thần và chia thành nhiều phẩm trật. Các ngài là “những thần khí chuyên lo phục vụ, được sai đi giúp ích những người sẽ thừa hưởng phần rỗi. Các ngài lập thành một thế giới huyền nhiệm ở ngoài lãnh vực tri giác thông thường của chúng ta”.

Theo Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả Giáo Hoàng, “thiên sứ là tên gọi do chức vụ, chứ không do bản tính. Bởi lẽ các vị thần linh thánh thiện ở trên quê trời bao giờ cũng là thần linh, nhưng không phải bao giờ cũng được gọi là thiên sứ; còn vị nào loan báo điều trọng đại thì gọi là Tổng lãnh Thiên sứ. “Chính vì vậy, vị được sai đến cùng Đức Trinh nữ Ma-ri-a không là một thiên sứ nào đó, mà là Tổng lãnh thiên thần Gáp-ri-en: bởi vì việc loan báo một điều trọng đại như thế cần đến một thiên sứ trọng đại xứng đáng”.

“Một số vị lại có tên riêng, lấy theo danh từ chỉ công việc của các ngài… Mi-ca-en có nghĩa là “ai bằng Thiên Chúa?”; “Gáp-ri-en là Sức mạnh của Thiên Chúa”; Ra-pha-en là “Linh dược của Thiên Chúa”.

“Mỗi khi cần biểu dương sức mạnh diệu kỳ, Mi-ca-en liền được phái đến, ngỏ hầu nhờ công việc và tên gọi của ngài, người ta hiểu rằng: không ai có thể làm nổi những công việc mà chỉ có Thiên Chúa mới làm được. Do đó, tên địch thủ xa xưa, kiêu căng đòi đồng hàng với Thiên Chúa, đã nói rằng: Ta sẽ lên trời cao. Ta sẽ nâng bệ ta lên các vì sao, Ta sẽ nên giống Đấng Tối cao, thì vào lúc tận thế, trước khi bị cực hình đời đời, hắn sẽ bị bỏ rơi đơn thương độc mã mà giao chiến với Tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-en, như thánh Gioan đã viết: “Đã xảy ra trận chiến với Tổng lãnh Mi-ca-en”.

“Cũng vậy, Gáp-ri-en được sai đến với Đức Ma-ri-a; ngài được gọi là sức mạnh của Thiên Chúa” : bởi lẽ ngài đến loan báo Đấng thương xót xuất hiện trong thân phận khiêm tốn, để phá tan sức mạnh ma quỷ. Do đó phải nhờ “Sức mạnh của Thiên Chúa” đến loan báo Đấng sẽ đến là Cứu Chúa uy hùng và mạnh mẽ trong chiến trận.

Ra-pha-en, như chúng ta đã nói, được gọi là “Linh dược của Thiên Chúa”. Được gọi như thế, vì ngài đã phá tan bóng tối mù lòa của Tô-bia, khi đụng đến đôi mắt nhỏ để đóng vai một y sĩ, do đó Đấng được phái đến đã chữa lành, thật đáng gọi là “Linh dược của Thiên Chúa” vậy”

* Quyết tâm

Hằng ngày kêu xin các thiên thần, nhất là thiên thần hộ thủ, các tổng lãnh thiên sứ Mi-ca-en, Gáp-ri-en và Ra-pha-en trợ giúp phần hồn phần xác.

* Lời nguyện

Lạy Chúa là Đấng thương xót vô song, Chúa đã muốn cho thiên thần và người thế cộng tác vào chương trình cứu độ. Xin cho các thiên thần đang phục vụ Chúa trên trời cũng luôn luôn phù hộ chúng con ở dưới đất. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 30 tháng 9
THÁNH GHÊ-RÔ-NI-MÔ Linh Mục Tiến Sĩ

* Gương Thánh nhân

Thánh Ghê-rô-ni-mô sinh năm trong một gia đình giàu có ở Tri-đông. Ngài là vị giáo phụ nổi tiếng nhất trong Hội thánh.

Năm lên 15 tuổi, cha mẹ đã gởi Ghê-rô-ni-mô đến Rô-ma học ngôn ngữ và triết học. Cậu chuyên cần học tập; và nhờ trí thông minh, chẳng bao lâu cậu trở nên nhân tài xuất sắc, rạng danh khắp thế giới sau nầy. Nhưng với tuổi thanh xuân bồng bột, cậu không sao tránh khỏi những quyến rũ xa hoa của kinh thành Rô-ma. Như bao nhiêu thanh niên khác, cậu cũng chạy theo những thú vui vật chất mà về sau phải ân hận suốt đời.

Năm 373, Giê-rô-ni-mô sang Đông phương. Nhưng dọc đường bị ngã bệnh, cậu phải nằm bệnh viện ở An-ti-ô-ki-a. Trong thời gian chữa bệnh, cậu được Chúa kêu gọi trở lại với Chúa. Cậu đã mạnh mẽ nghe theo tiếng Chúa gọi, vào sa mạc sống đời khổ hạnh, ăn chay cầu nguyện, ngày ngày hãm mình ép xác đền bù tội lỗi đã phạm. Nhưng ma quỷ vẫn không buông tha ngài; ngày đêm chúng hằng cám dỗ ngài, đến nỗi ngài phải thú nhận: “Những hình ảnh vui chơi trụy lạc luôn ám ảnh tâm trí tôi. Khiến nhiều lần nhiều lúc tôi không thể cầu nguyện với Chúa được.”

Nhưng thánh nhân vẫn cương quyết chống trả các chước cám dỗ. Và để lướt thắng ma quỷ, ngài tăng cường việc hãm mình ép xác, ăn chay đánh tội, đồng thời ngày đêm miệt mài học hỏi Kinh Thánh và dịch sang tiếng La-tinh. Đó là bản dịch Thánh Kinh bằng La ngữ nổi tiếng nhất ngài để lại cho Hội thánh, gọi là bản phổ thông. Ngoài ra, ngài còn viết sách dẫn giải Sách Thánh. Ngài nói: Tôi trả nợ tôi đã mắc, khi vâng lệnh Đức Ki-tô, Đấng đã nói: Hãy nghiên cứu Kinh Thánh; và hãy tìm thì các con sẽ gặp; kẻo tôi bị Chúa trách như đã trách dân Do-thái: Các ngươi lầm lạc, vì không biết đến Kinh Thánh cũng không biết uy lực của Thiên Chúa. Vậy nếu theo thánh Phao-lô. Đức Ki-tô là uy lực và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa, và nếu ai không biết Kinh Thánh là không biết uy lực và sự khôn ngoan của Thiên Chúa, thì không biết Kinh Thánh là không biết Đức Ki-tô…”

“Đừng ai nghĩ rằng tôi có tham vọng tóm tắt toàn bộ của nội dung sách nầy, vì quyển Kinh Thánh ấy bao gồm mọi mầu nhiệm của Chúa. Từ việc Đấng Em-ma-nu-en được trinh nữ sinh ra, đến việc Đấng ấy làm nên nhiều dấu kỳ phép lạ, rồi chịu chết và mai táng, để sau đó phục sinh từ cõi âm ty và trở thành Đấng Cứu chuộ