Ngày 1 tháng 8
THÁNH AN-PHONG MA-RI-A LI-GÔ-RI
Giám Mục Tiến Sĩ
* Gương Thánh nhân
Thánh An-phong Li-gô-ri sinh năm 1696, tại Ma-ri-men-la, nước Ý.
Lớn lên, thánh nhân theo học môn luật. Nhờ trí thông minh tài giỏi, năm lên 16 tuổi, ngài đã đậu bằng Tiến sĩ luật phần đời cũng như phần đạo, và trở thành luật sư nổi tiếng. Trong suốt 10 năm hành nghề, ngài sống xứng danh là Ki-tô hữu hoàn hảo. Nhưng một hôm vào năm 1783, ngài đã thất bại nặng trong một cuộc biện hộ, khiến cho ngài chán nản bỏ nghề luật sư. Ngài suy nghĩ và cho đây là dịp Thiên Chúa kêu gọi ngài. Khi đó ngài thốt lên:
- Hỡi thế gian, ta đã biết rõ ngươi rồi. Ngươi là phù vân giả tạo. Từ đây ngươi không còn gặp được ta nữa.
Từ đó, thánh nhân từ bỏ thế gian, dâng mình cho Chúa, theo học thần học Kinh Thánh và tập rèn đức hạnh. Ba năm sau, ngài thụ phong Linh mục. Ngài sốt sắng lo cho phần rỗi linh hồn mọi người, đặc biệt ngài chuyên cần rao giảng Lời Chúa cho dân chúng ở miền quê, nhất là những người thuộc tầng lớp thấp hèn. Và ngài thường giảng về lòng yêu mến Chúa Ki-tô. Ngài nói: “Tất cả sự thánh thiện và trọn lành trong lòng nằm nơi việc yêu mến Đức Giêsu-Kitô, Chúa chúng ta, là sự thiện tuyệt đối, và là Đấng Cứu chuộc chúng ta. Vì chính lòng yêu mến sẽ tập trung và bảo toàn được mọi nhân đức làm cho con người nên trọn lành”.
“Thiên Chúa lại chẳng đáng chúng ta đem hết lòng yêu mến sao? Từ đời đời Người đã yêu ta. Người như nói với ta rằng: “Hỡi con, con nên biết: chính Ta đã yêu con trước, ngay trước khi con chào đời, và ngay cả trước khi có vũ trụ, Ta đã yêu con. Ta yêu con ngay tự khi Ta hiện hữu”.
“Thiên Chúa biết rằng ân huệ dễ làm con người xiêu lòng, nên Người muốn dùng các ân ban của Người để buộc con người mến Người. “Con người dễ bị bắt bằng thứ lưới nào thì Ta muốn bắt họ bằng thứ lưới đó để họ yêu mến Ta, và đó chính là dây ràng buộc tình yêu”. Mọi ơn Người ban cho ta đều nhằm mục đích đó…
“Nhưng không phải Người chỉ muốn ban cho ta những sự đẹp đẽ đó mà thôi; để kéo lòng ta lại yêu mến Người, Người còn đi đến chỗ ban chính Con của Người cho ta: Chúa Cha vĩnh cửu đã đi đến chỗ ban chính Con Một của Người cho ta. Quả vậy, khi thấy mọi người chúng ta đã chết trong tội lỗi và thiếu hẳn ân sủng của Người thì Người đã làm gì? Đúng như lời thánh Tông đồ nói, Người đã động lòng thương ta quá đỗi, đã sai Con yêu dấu của Người xuống thế đền tội cho ta, và kêu gọi ta trở về sự sống mà tội lỗi đã lấy mất”. 1
Chính trong thời gian nầy, thánh nhân được ơn Chúa soi sáng; ngài quyết định thành lập một tu hội, để có người cộng tác trong việc truyền giáo, đó là Dòng Chúa Cứu Thế do ngài sáng lập tại Sca-la năm 1732.
Nhưng cha ngài cũng như các bạn hữu tìm đủ cách phê bình chống phá, khiến cho hội dòng phải một phen phân rẻ. Riêng thánh nhân vẫn luôn kiên trì chịu đựng và tin tưởng trông cậy Chúa. Không trở ngại nào có thể làm lung lay lòng nhiệt thành của ngài. Nhờ đó, hội dòng dần dần được khôi phục lại và phát triển mạnh mẽ. Năm 1749, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô thứ 14 đã chuẩn nhận hội dòng của Ngài.
Ngoài ra, việc lo cho hội dòng và truyền giáo, thánh nhân còn viết nhiều sách hướng dẫn về tu đức, thần học, luân lý. Trong những năm cuối cùng, ngài phải chịu nhiều đau khổ phần xác lẫn tinh thần. Ngài qua đời ngày 1 tháng 8 năm 1787, được tôn phong Hiển thánh năm 1839 và Tiến sĩ Hội thánh năm 1871.
* Quyết tâm
Sẵn lòng chịu mọi sự gian nan khốn khổ vì Chúa, để hiệp cùng sự thương khó Chúa Giê-su mà cứu rỗi linh hồn mình và mọi người, theo gương thánh An-phong Li-gô-ri.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa không ngừng ban cho Giáo hội những khuôn mẫu luôn luôn mới của đời sống
Kitô hữu.
Xin cho chúng con hằng noi gương thánh Giám mục An-phong mà nhiệt thành cộng tác với Chúa trong công trình cứu độ, để mai sau được Chúa ân thưởng cùng với thánh nhân.
Chúng con cầu xin…
* THÁNH BÊ-NA-ĐÔ VŨ VĂN DUỆ
VÀ ĐA-MINH NGUYỄN VĂN HẠNH
Linh Mục Tử Đạo
* Gương Thánh nhân
Xưa thánh Phao-lô tông đồ đã sẵn sàng chịu đọa đày, tù ngục, đòn vọt, để bù đắp vào các cực hình của Chúa Giê-su trong công trình cứu chuộc. Các thánh tử đạo Việt Nam Bê-na-đô Duệ và Đa-minh Hạnh ngày nay cũng tình nguyện hy sinh chịu khổ thật nhiều, để hợp cùng sự thương khó Chúa cứu rỗi linh hồn mình, và linh hồn anh em đồng bào đồng đạo.
Lúc bị bắt giam trong ngục, vị Linh mục 63 tuổi Bê-na-đô Duệ đã tự nguyện ăn chay nằm đất, chịu giột mưa ướt lạnh cũng như cha Đa-minh Hạnh sau khi bị đánh 30 roi còn nói:
- Làm quan lớn mà bất công, bắt một bên mông chịu cả 30 roi, còn mông bên kia chẳng có roi nào hết…
Ý cha còn muốn chịu đánh đòn thêm nữa, để hãm mình lập công, như Chúa Giê-su bảo: Khi người ta vả má bên nầy, hãy đưa má bên kia nữa. Và như thánh Lô-ren-sô khi bị nướng trên giường sắt, đã nói với lý hình: Bên nầy chín rồi, trở qua bên kia đi…
Bê-na-đô Vũ Văn Duệ sinh năm 1755 tại Quần Anh hạ, tỉnh Nam Định. Cậu đã được Chúa gọi dâng mình cho Chúa ngay từ nhỏ, và lo học hành tu luyện làm Linh mục, vì tình hình bắt đạo khó khăn làm gián đoạn việc tu học.
Sau khi chịu chức Linh mục, cha Bê-na-đô đã đem hết khả năng phục vụ Hội thánh và các linh hồn. Trong suốt 37 năm liền, cha tận tụy hy sinh lo cho con chiên bổn đạo và rao truyền đạo Chúa cho lương dân. Kết quả thật khả quan: nhiều người ngoại giáo nhận lãnh đức tin, các tín hữu sống đạo thờ Chúa ngày càng sốt sắng. Kết quả đó là do lời giảng dạy, nhất là nhờ cha tự nguyện hy sinh hãm mình, sống khắc khổ hằng ngày, như thánh nữ Tê-rê-sa Giê-su Hài Đồng nhờ hãm mình chịu khó mà đem nhiều người trở về với Chúa không thua gì thánh Phan-xi-cô Xa-vi-e.
Lúc cha 77 tuổi, Đức Cha thấy cha già yếu bệnh hoạn thì cho hưu trí tại xứ Trung Lễ. Dù vậy, hằng ngày cha vẫn dâng sự đau yếu và lời cầu nguyện cho công cuộc mở mang Nước Chúa. Đặc biệt cha ước muốn chịu chết đổ máu ra để chịu khổ chịu cực vì Chúa hơn nữa. Nhất là từ ngày 28 tháng 05 năm 1838, khi nghe tin Đức Cha Y bị bắt, cha nôn nóng muốn được tử đạo với vị Giám mục của mình. Lúc đó cha đã 83 tuổi, vừa mù vừa điếc, vậy mà cứ kêu lớn tiếng, tự xưng mình là Linh mục, cố ý cho quân lính đến bắt. Giáo hữu ngăn cản mãi không được, buộc lòng đem cha đến ở trong trại cùi ngoài đồng vắng, là nơi quân lính ít lui tới. Nhưng chẳng may ngày 04 tháng 07 năm 1838 đang lúc cha lớn tiếng xưng hô mình là Linh mục, một toán lính đi ngang qua đó. Họ nghe tiếng cha nói liền ghé vào bắt cha, giải về tỉnh Nam Định.
Quan tổng trấn thấy cha già yếu bệnh tật, không đánh đập tra tấn, nhưng bảo bước qua thập giá rồi cho về. Điều đó chắc chắn cha không bao giờ làm, vì cha đã muốn chịu khổ chịu chết vì Chúa. Thế nên quan bắt cha mang gông, giam vào ngục. Ở đây, cha gặp Linh mục Đa-minh Hạnh cũng bị giam chung. Hằng ngày cha tự nguyện hãm mình, ăn chay, nằm đất, chịu giột mưa lạnh lẽo để lập công nghiệp.
Sau một thời gian, quan thấy không lung lay nổi lòng tin sắt đá của cha nên làm án gởi về kinh. Và ngày 01 tháng 08, cha được điệu ra pháp trường Bảy Mẫu, chịu chém chết vì Chúa…
Đa-minh Nguyễn Văn Hạnh sinh năm 1772 tại làng Năng A, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình Công giáo đạo đức. Nhờ đó, ngay từ nhỏ cậu đã ước muốn đi tu làm Linh mục rao giảng đạo Chúa, nên cha mẹ trình lên Đức Cha Y, và được ngài nhận giao cho cha Liên hướng dẫn huấn luyện. Sau khi học xong thần học, thầy Hạnh được lãnh chức Linh mục và đi giúp các họ đạo.
Lúc đó, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ bắt đạo gắt gao. Cha phải ẩn lánh rày đây mai đó, âm thầm lén lút làm việc tông đồ. Nhiều khi phải trốn chui trốn nhủi nhịn đói chịu khát mấy ngày liền, nhưng cha không ngã lòng nản chí, vẫn nhiệt thành tận tụy chăm sóc đoàn chiên, thăm viếng người bệnh tật, nâng đỡ khuyến khích kẻ yếu đuối nhát đảm. Nơi nào giáo dân cần lãnh nhận Bí tích hoặc an ủi khích lệ, cha đều hy sinh len lỏi đến đó, bất chấp nguy hiểm khổ cực.
Năm 1838, cha đang giúp giáo dân ở Quần Anh Hạ, thì quan quân kéo đến truy lùng bắt bớ dữ dội. Thấy tình thế nguy kịch, cha định lánh sang làng Trung Thành ẩn náu, đồng thời chăm sóc số tín hữu ở đó. Có hai người ở Quần Anh tình nguyện đưa cha đến nơi trú ẩn an toàn. Cha tin lời đi theo họ, không ngờ họ lại là những tên Giu-đa phản bội. Vì tham tiền, họ đã nộp cha cho quan để lãnh thưởng. Đúng là thời nào nơi nào cũng có kẻ tham lam, phản bạn, hại thầy…
Ngày 07 tháng 07, cha bị giải về Nam Định, giam chung với cha Bê-na-đô Vũ Văn Duệ, một Linh mục đã 83 tuổi vừa bị bắt trước mấy ngày. Trong thời gian giam giữ ở đây, nhiều lần cha bị tra tấn hành hạ, buộc đạp lên Thánh giá; nhưng cha luôn cương quyết từ khước nên bị đánh đập dữ dội. Có lần quan đưa ra một ảnh Đức Mẹ, yêu cầu cha đạp lên thay vì Thập giá, cha liền cầm lấy ảnh Mẹ hôn kính. Quan nổi giận cho đánh cha 100 roi. Lần khác, sau khi bị đánh 30 roi, cha trách quan không công bằng, không đánh thêm cho đủ hai bên mông. Ý muốn nói lên lòng còn mong ước được chịu nhiều hình khổ hơn nữa, để thông phần sự thương khó Chúa Giê-su, cứu rỗi linh hồn mọi người.
Thấy không cách nào làm cho cha bỏ đạo, quan kết án trảm quyết gởi về kinh, và vua Minh Mạng đã châu phê. Ngày 01 tháng 08 năm 1838, vị anh hùng đức tin Đa-minh Hạnh đã chịu chém chết vì Chúa với cha già Bê-na-đô Duệ, tại pháp trường Bảy Mẫu.
Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã tôn Chân Phước cho hai cha ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 đã suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.
* Quyết tâm
Noi gương các thánh Bê-na-đô Duệ và Đa-minh Hạnh Linh mục tử đạo, hằng ngày chịu khó hy sinh hãm mình, và tình nguyện chịu thật nhiều gian lao đau khổ, để thông phần việc cứu rỗi với Chúa Giê-su.
* Lời nguyện
Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.
Ngày 2 tháng 8
THÁNH ÊU-SÊ-BI-Ô VÊ-SEN-LI
Giám Mục
* Gương Thánh nhân
Thánh Êu-sê-bi-ô sinh tại Sác-đai-na, nước Ý, trong một gia đình đạo đức. Cha ngài đã chịu chết vì đạo dưới thời hoàng đế Đi-ô-lê-ti-a-nô bách hại.
Thánh nhân được mẹ chăm sóc luyện tập đức hạnh ngay từ nhỏ. Lớn lên, ngài dâng mình cho Chúa, được nhập hàng giáo sĩ, và đến giúp tại Vê-sen-li. Năm 345, ngài được Đức Giáo Hoàng phong làm Giám mục tiên khởi của giáo phận nầy. Công việc trước tiên ngài thực hiện là đào tạo Linh mục, nhất là những Linh mục thánh thiện, để phụ giúp ngài chăm sóc đoàn chiên.
Công cuộc huấn luyện hàng giáo sĩ đang trên đà phát triển, thì năm 350 bè rối A-ri-ô nổi dậy chống phá Hội thánh. Họ được hoàng đế Công-tăn-tin bảo trợ, nên bành trướng nhanh chóng mạnh mẽ. Nhà vua triệu tập Công đồng Mi-lăn năm 355, bắt ép các Giám mục phải tuân phục quyền ông ta. Ai bất tuân sẽ bị lưu đày.
Thánh nhân cùng với một số Giám mục không chịu vâng phục hoàng đế nên đã bị đày đi Pa-lết-ti-na, rồi sang Cấp-pa-đô-si, mãi đến Ai-cập. Trong thời gian lưu đày, ngài phải chịu nhiều hình khổ, bị giam trong ngục tối, bị đói khát ngược đãi… Nhưng ngài luôn sẵn sàng chịu gian khổ vì Chúa. Và trong lúc chịu hình khổ, ngài vẫn nhớ đến đoàn chiên. Ngài viết thơ cho họ: “Anh em thân mến, tôi vui mầng vì đức tin của anh em, tôi vui mầng vì sự cứu rỗi kèm theo đức tin ấy, tôi vui mầng vì thành quả anh em đã đạt được không phải chỉ nơi anh em, mà còn ở xa nữa. Như người nông dân đem cây tốt ghép vào cho cây có trái nên nó không bị rìu đốn đi hay bị lửa đốt cháy, chúng tôi cũng muốn và ao ước không những đem thân xác mà phục vụ sự nên thánh của anh em mà còn muốn hiến cả linh hồn cho phần rỗi anh em nữa.
“Đàng khác chúng tôi đã viết bức thư nầy khá khó khăn, phải luôn cầu xin Chúa cầm chân bọn lính canh lại, và để Chúa thương cho thầy phó tế có thể mang tin tức về những sự vất vả khổ sở của chúng tôi, hơn là chỉ chuyển đến cho anh em một vài câu chào hỏi thông thường. Thế nên tôi tha thiết xin anh em hằng tỉnh thức gìn giữ đức tin, hãy duy trì sự hoà thuận, hãy chuyên cần cầu nguyện, hãy nhớ đến chúng tôi không ngừng, để Chúa thương giải cứu Hội thánh của Người đang vất vả ở khắp thế gian, và để chúng tôi hiện đang khổ cực có ngày được tự do vui mầng với anh em…
“Vậy trong thư nầy, tôi kêu gọi anh em, mọi chị em, mọi con trai con gái của tôi, mọi phái, mọi tuổi đã nhận lời kính thăm của tôi trong thư nầy thì cũng chuyển lời đến đó tất cả những người ở ngoài Hội thánh có lòng thương yêu chúng ta nữa”. 1
Mãi đến năm 363, sau khi hoàng đế Công-tăn-tin băng hà, thánh nhân mới được trở về giáo phận. Ngài được đón tiếp nồng nhiệt như một vị anh hùng tử đạo. Và ngài tiếp tục hy sinh phục vụ đoàn chiên đến năm 371 thì qua đời.
* Quyết tâm
Noi gương thánh Êu-sê-bi-ô, tôi vâng lời Chúa hơn vâng lời vua quan thế gian, dù có gian khổ chết chóc cũng chẳng sờn chẳng sợ.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, xin cho chúng con hằng noi gương can đảm của thánh Giám mục Êu-sê-bi-ô mà tuyên xưng Đức Ki-tô là Thiên Chúa, để khi giữ đức tin thánh nhân đã rao truyền, chúng con được tham dự vào sự sống của Đức Ki-tô Con Chúa, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Ngày 4 tháng 8
THÁNH GIO-AN MA-RI-A VEN-NÂY
Linh Mục
* Gương Thánh nhân
Một con người học kém, đơn sơ, khiêm tốn đã trở nên thánh đặc biệt, đó chính là thánh Gio-an Ma-ri-a Ven-nây. Ngài sinh tại Đa-đi-di, nước Pháp, năm 1786 trong một gia đình nông dân nghèo khó nhưng rất đạo đức.
Vì nghèo nên lúc nhỏ thánh nhân phải làm việc giúp đỡ cha mẹ, không được học hành như các trẻ khác. Nhưng nhờ cha mẹ tập rèn, ngài trổi vượt hết các trẻ đồng lứa tuổi về đạo hạnh, về lòng tôn sùng Đức Mẹ và thương giúp kẻ nghèo.
Mãi đến năm lên 18 tuổi, thánh nhân mới học đọc học viết. Và vì ngài muốn làm Linh mục, nên được cha Ben-lây là cha sở họ đạo gần bên dạy dỗ. Nhưng phần vì lớn tuổi, phần vì kém trí, ngài học chưa được bao nhiêu, tháng 05 năm 1809, ngài lại đến tuổi phải nhập ngũ tòng quân. Chẳng may ngài ngã bệnh, nên được giải ngũ, trở về tiếp tục học tập trong chủng viện. Và năm 1815, mặc dầu sức học ngài còn rất kém, nhưng vì thấy ngài đạo đức thánh thiện, nên được Đức Giám mục cho chịu chức Linh mục.
Thánh nhân được sai đến làm phó cha Ben-lây 2 năm và sau đó được cử đi làm cha sở họ Ạt-sơ, là một họ nhỏ, nghèo nàn, nguội lạnh, bê bối… Vừa bước chân đến họ mới, cha vào thẳng nhà thờ cầu nguyện, kêu xin Chúa giúp chu toàn bổn phận, cho bổn đạo biết lo thành tâm hối cải, siêng năng sốt sắng thờ phượng Chúa.
Sống giữa đoàn chiên, thánh nhân luôn nêu gương khiêm tốn, hãm mình, cầu nguyện. Mỗi sáng sớm, lúc mọi người còn yên giấc, ngài đã có mặt trong nhà thờ, quỳ trước nhà tạm thầm thì với Chúa Thánh Thể. Ngài ăn uống kham khổ, sống đơn sơ nhiệm nhặt, có ý hãm mình hy sinh dâng lên Chúa, để kêu xin Chúa cho đoàn chiên ngài biết lo cải thiện đời sống.
Và Chúa đã nhậm lời Ngài. Giáo dân lần lần trở lại sốt sắng nhiệt thành; những người trước đây trễ nãi bỏ đạo, nay ăn năn quay về với Chúa. Thánh lễ ngày càng đông người tham dự, toà giải tội lúc nào cũng có kẻ đợi chờ, chẳng những bổn đạo trong họ mà rất nhiều người từ các xứ đạo gần xa tuôn đến. Từ năm 1830 trở đi, mỗi năm có hằng trăm ngàn người đến nhờ ngài hướng dẫn đàng thiêng liêng nhân đức và xưng tội với ngài. Ngài dạy dỗ khuyên bảo họ:
“Các con thân mến, kho tàng của người Kitô hữu không phải ở dưới đất, nhưng ở trên trời; thế nên tâm trí ta phải đi đến chỗ để kho tàng của ta.
“Con người có phận sự cao đẹp là cầu nguyện và yêu mến. Các con mà cầu nguyện và yêu mến thì đó là hạnh phúc con người ở dưới đất nầy!
“Lời nguyện không gì khác hơn là việc kết hợp với Chúa. Khi người ta có tâm hồn trong sạch và kết hợp với Chúa, thì họ cảm thấy ở nơi mình có một thứ hương thơm, một cái gì êm ái làm ngây ngất, một thứ ánh sáng lạ lùng bao bọc. Trong cuộc kết hợp mật thiết nầy, Chúa và linh hồn giống như hai miếng sáp chảy hoà sang nhau, không phân cách được nữa. Việc kết hợp giữa Chúa và tạo vật bé bỏng của Người là một cái gì đẹp đẽ. Đó là một hạnh phúc không thể nào hiểu được”.
Hằng ngày Thánh nhân phải thức dậy từ 1 giờ sáng và ngồi toà giải tội từ 16 đến 18 tiếng đồng hồ mỗi ngày. Ngài chôn mình nơi toà giải tội đến kiệt sức mỏi mòn, và qua đời ngày 4 tháng 8 năm 1859, Đức Thánh Cha Pi-ô thứ 11 đã phong thánh cho ngài và chọn ngài làm bổn mạng các cha sở.
* Quyết tâm
Hằng ngày cầu nguyện kêu xin Chúa ban cho nhiều Linh mục nhân đức thánh thiện, và tận tụy hy sinh cho đoàn chiên, để giúp các linh hồn trở về với Chúa, theo gương thánh Gio-an Ma-ri-a Ven-nay.
* Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng và nhân hậu, Chúa đã làm cho Thánh Linh mục Gio-an Ma-ri-a nên một tấm gương tuyệt vời về lòng tận tụy hy sinh của một người mục tử.
Vì lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, xin cho chúng con hằng noi theo lòng bác ái của người mà cố gắng đem nhiều anh em về với Đức Ki-tô, để muôn đời cùng nhau hưởng nguồn vinh phúc.
Chúng con cầu xin…
Ngày 5 tháng 8
CUNG HIẾN ĐỀN THỜ ĐỨC BÀ MA-RI-A
Theo truyền thuyết, dưới thời Đức Giáo Hoàng Li-bê-ri-ô, ở Rô-ma có một người giàu có tên là Gio-an đã lập gia đình từ lâu mà không có con. Đến tuổi già, hai vợ chồng thấy không con hưởng phần gia tài thì định dâng hiến tất cả cho Đức Mẹ. Và họ cầu nguyện xin Đức Mẹ cho biết nên dùng của đó để làm gì, thì đêm mùng 5 tháng 8, họ mơ thấy Đức Mẹ cho biết ý Người muốn lấy của đó xây cất một đền thờ kính Người trên núi Ết-qui-lin, tại chỗ có đầy tuyết phủ. Chính đêm đó, Đức Thánh Cha cũng mơ thấy như thế, nên khi hai ông bà đến trình bày sự việc, Ngài chấp thuận ngay.
Thế là ngay sáng sớm hôm sau, Đức Thánh Cha triệu tập hàng giáo sĩ tại Rô-ma cùng đi với ngài, và hai vợ chồng ông bà Gio-an lên núi Ết-qui-lin. Khi lên đến ngọn núi, mọi người đều thấy có một vùng phủ đầy tuyết, có thể đủ chỗ xây cất một đền thờ rộng lớn, như lời Đức Mẹ nói.
Và Ngôi Thánh Đường dâng kính Đức Mẹ đã được xây dựng tại đó, do tiền của gia đình ông bà Gio-an dâng hiến. Lúc đầu Thánh đường nầy được gọi là Đền Thờ Đức Bà xuống tuyết để ghi nhớ phép lạ trên; về sau gọi là Đền Thờ Đức Bà Máng Cỏ, vì nơi đây lưu giữ máng cỏ lúc Chúa Giê-su sinh ra ở Bê-lem. Máng cỏ Người được đặt trong một cái hộp, để mỗi khi lễ Sinh nhật đến thì đem ra cho mọi người kính viếng.
Đức Giáo Hoàng Xít-tô thứ 3 đã tái thiết ngôi thánh đường nầy, và năm 435 thì cung hiến kính Đức Bà là Mẹ Thiên Chúa, để ghi nhớ Công đồng chung Ê-phê-sô đã công bố Đức Ma-ri-a là Mẹ Thiên Chúa vào năm 431, như lời thánh Sy-ri-lô Giám mục A-lê-xăn-tri nói:
“Chúng con kính chào Thánh Mẫu Ma-ri-a là kho tàng đáng kính của tất cả hoàn vũ, là ánh sáng không bao giờ tắt, là triều thiên của sự đồng trinh, là vương trượng của giáo lý chân chính, là đền thờ không bao giờ hư nát, là nơi chứa đựng Đấng không đâu chứa nổi, là mẹ mà vẫn đồng trinh, nhờ Ngài mà trong Tin mừng, Đấng đến nhân danh Thiên Chúa được xưng tụng là diễm phúc.
“Chúng con kính chào Mẹ đã mang trong lòng đồng trinh thánh thiện của Mẹ Đấng vô biên, không đâu chứa nổi; nhờ Mẹ mà Ba Ngôi rất thánh được tôn vinh và thờ lạy; nhờ Mẹ mà cả thế giới chúc tụng và thờ lạy cây thánh giá cao quý; nhờ Mẹ mà các tầng trời vui mầng; nhờ Mẹ mà các thiên thần và các tổng lãnh thiên thần hân hoan; nhờ Mẹ mà ma quỷ bỏ trốn; nhờ Mẹ mà tên cám dỗ đã rớt xuống khỏi trời; nhờ Mẹ mà tạo vật sa ngã được đưa lại về trời; nhờ Mẹ mà toàn thể tạo vật nô lệ tà thần đã nhận biết chân lý; nhờ Mẹ mà kẻ tin đã được thánh tẩy; nhờ Mẹ mà có dầu hân hoan, mà các Hội thánh được xây dựng ở khắp mặt địa cầu, mà các dân tộc được đưa về sự ăn năn thống hối. Con còn phải nói gì nữa? Nhờ Mẹ, Con Một Thiên Chúa đã là ánh sáng chiếu soi cho những kẻ ngồi trong tối tăm và trong bóng tối sự chết; nhờ Mẹ, các tông đồ đã rao giảng ơn cứu độ cho muôn dân; nhờ Mẹ, kẻ chết được sống lại; nhờ Mẹ, vua chúa được cai trị nhân danh Ba Ngôi cực thánh”
* Quyết tâm
Hết lòng tin kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, để được Mẹ cầu bàu cùng Chúa cho mọi người được hưởng nhờ ơn cứu rỗi.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, xin thứ tha tội lỗi, và ban ơn cứu độ cho chúng con, không phải bởi chúng con làm gì nên công trạng, nhưng chính là nhờ lời chuyển cầu của Thánh Mẫu Đức Ki-tô, Con Chúa, Chúa Giê-su, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Ngày 6 tháng 8
CHÚA GIÊ-SU HIỂN DUNG
Thấy các môn đệ đã tin nhận Người là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, Chúa Giê-su loan báo cho các ông biết; rồi đây Người sẽ vâng lệnh Chúa Cha, lên Giê-ru-sa-lem để chịu nạn chịu chết chuộc tội loài người, nhưng ngày thứ ba Người sẽ sống lại. Thánh Phê-rô vì nhiệt tình với Thầy, nên ngăn cản Người. Như thế chứng tỏ các ông chưa nhận thức đúng sứ mạng cứu thế của Người; các ông cứ mơ tưởng Người đến giải phóng khỏi nô lệ đế quốc La-mã, giúp họ chiến thắng các dân tộc láng giềng, làm bá chủ thiên hạ; để rồi các ông được vinh thân phì da, ăn trên ngồi trước mọi người. Thế nên sáu ngày sau, Chúa Giê-su đem Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an lên núi Ta-bo, và biến hình sáng láng trước mặt các ông, cho các ông thấy tận mắt vinh quang của Người để củng cố niềm tin cho các ông. Người dạy các ông biết: Người biến hình sáng láng thế nào thì Người cũng sẽ sống lại vinh hiển như thế, sau khi Người chịu nạn chịu chết trên khổ giá. Người phải trải qua cái chết đau khổ, mới được sống lại vinh hiển; Người phải chịu đóng đinh treo trên khổ giá để đem lại ơn cứu rỗi cho nhân loại; và ơn cứu rỗi không phải để giải phóng con người khỏi nô lệ phần xác mà khỏi nô lệ phần hồn, khỏi tội lỗi chết chóc khốn khổ.
Cả ba thánh sử Mát-thêu, Mát-cô và Lu-ca đều thuật lại biến cố biến dạng nầy. Chúng ta hãy nghe thánh Mát-thêu kể lại:
“Đức Giê-su đem các ông Phê-rô, Gia-cô-bê và Gio-an là em ông Gia-cô-bê đi theo mình. Người đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Người biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Người chói lọi như mặt trời, và y phục Người trở nên trắng tinh như ánh sáng. Và kìa các ông thấy ông Mô-sê và ông Ê-li-a hiện ra đàm đạo với Người. Bấy giờ ông Phê-rô thưa với Đức Giê-su rằng:
- Lạy Thầy, chúng con ở đây hay quá! Nếu Ngài muốn, con xin dựng lại đây ba cái lều. Ngài một cái, ông Mô-sê một cái, và ông Ê-li-a một cái.
Ông còn đang nói, thì kìa có đám mây sáng ngời bao phủ các ông, và kìa có tiếng từ đám mây phán rằng:
Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng Lời Người!... (Mt.17, 1-5)
Trong biến cố nầy, có Chúa Ba Ngôi hiện diện: Chúa Cha chứng thực Chúa Giê-su là Con; Chúa Con biến hình sáng láng; Chúa Thánh Thần xuất hiện dưới hình đám mây, tấn phong Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế. Như thế không còn nghi ngờ gì được nữa, mà phải tin thật Chúa Giê-su là Đấng Ki-tô, là Con Thiên Chúa làm người, để chịu chết và sống lại chuộc tội loài người.
Đức Cha A-na-ta-xi-ô, Giám mục Xi-nai đã quảng diễn biến cố biến dạng nầy như sau:
“Chúa Giê-su đã tỏ mầu nhiệm nầy cho các môn đệ trên núi Ta-bo…
Chúng ta hãy chạy đến đó, lòng phấn khởi và hân hoan; hãy vào trong mây như Mô-sê và Ê-li-a, hay như Gia-cô-bê và Gio-an. Như Phê-rô, ta hãy ngây ngất trước cảnh Chúa hiện ra, hãy biến hình nhờ cuộc biến hình tuyệt vời của Chúa, hãy thoát tục và rời bỏ mặt đất nầy; hãy bỏ xác thịt, hãy rời tạo vật và quay về với Tạo Hoá, Đấng mà Phê-rô đã thưa trong lúc ngây ngất: Lạy Thầy, chúng ta ở đây tốt quá!...
Đúng lắm, thưa Thánh Phê-rô, chúng ta ở đây với Chúa Giê-su và ở mãi thì tốt quá. Quả vậy, còn gì hạnh phúc, cao cả và quý giá bằng việc được ở cùng Chúa, được nên giống như Người, được ở trong ánh sáng?
* Quyết tâm
Tin thật Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa làm người, chịu chết chuộc tội tôi và mọi người. Muốn được sống lại với Người, phải chịu khổ nạn và chịu chết như Người.
* Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, khi Con Chúa biểu lộ dung nhan vinh hiển Người, Chúa đã dùng hai chứng nhân Cựu Ước là ông Mô-sê và ông Ê-li-a để củng cố niềm tin của các tông đồ vào mầu nhiệm cứu độ, và báo trước hồng ân lạ lùng của Chúa sẽ ban là nhận chúng con làm nghĩa tử. Xin cho chúng con nghe lời Con Một Chúa để mai sau chung hưởng gia nghiệp với Người. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.
Ngày 7 tháng 8
THÁNH XÍT-TÔ 2 GIÁO HOÀNG
VÀ CÁC BẠN TỬ ĐẠO
* Gương Thánh nhân
Thánh Xít-tô lên ngôi Giáo Hoàng năm 257, giữa lúc Hội thánh đang gặp cơn bắt bớ dữ dằn, thời hoàng đế Va-lê-ri-a-nô, nên đã bị giết chết vì đạo cùng với một số các phó tế của ngài, như lời thánh Cýp-ri-a-nô thuật lại sau đây:
“Sự thật là hoàng đế đã gởi lên Thượng viện một sắc lệnh truyền xử tử tức khắc các Giám mục, Linh mục và phó tế; còn đối với nghị viên, công chức cao cấp và kỵ binh Rô-ma thì phải bốc lột hết chức tước, tịch thu tài sản và nếu mất hết tài sản rồi mà họ vẫn cố chấp giữ đạo thì phải trảm quyết liền; phần các bậc mệnh phụ thì tước đoạt tài sản xong sẽ cho họ đi đày; mọi công chức của triều đình, trước đây xưng mình là tín hữu hay bây giờ vẫn còn xưng như thế, thì cũng phải tịch thu tài sản, rồi lập danh sách và trói lại, điệu đến các nơi hoàng triều cương thổ.
“Hoàng đế Va-lê-ri-a-nô còn cho kèm theo sắc lệnh trên, một phó bản bức thư ông gởi đến cho các quan Tổng đốc về chúng tôi. Ngày nay chúng tôi cũng chờ bức thư đó tới, vì chúng tôi đã nhất định đứng vững trong đức tin, sẵn sàng chịu đau khổ và trông đợi lòng Chúa thương xót ban cho được triều thiên sự sống đời đời; quý huynh cũng nên biết rằng Đức Xít-tô đã bị xử nơi một nghĩa địa ngày 6 tháng 8 cùng với 4 phó tế. Hằng ngày ở Rô-ma, quan vẫn tiến hành các cuộc bách hại như vậy: hễ thấy điệu ai tới là họ xử tử liền, và tịch thu tài sản để cho vào công khố”.
Thánh nhân bị chém đầu cùng với 4 vị phó tế trong số 7 vị phó tế của ngài, đang lúc ngài dâng Thánh lễ trong một hang toại đạo tại nghĩa trang. Hôm đó là ngày 6 tháng 8 năm 258, trong lúc thánh nhân dâng lễ có đông giáo hữu tham dự, cảnh sát Rô-ma đột ngột xông vào. Ngài tự hiến mình cho họ chém đầu, để giáo dân tẩu thoát. Ngài hy sinh chịu chết để cho đoàn chiên khỏi bị bắt bớ giam cầm, do đó mà mọi người đều tôn kính mến yêu ngài hết lòng. Ngài nêu gương can đảm làm chứng cho Chúa, coi cái chết như cỏ rác, trọng phần phúc thiên đàng hơn cả mạng sống và chức tước danh vọng.
* Quyết tâm
Noi gương thánh Giáo Hoàng Xít-tô thứ 2; quý trọng phần phúc thiên đàng hơn tất cả mọi sự ở đời, và sẵn sàng hy sinh chịu khó hết sức để được ơn phước đó.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã ban thánh Xít-tô và các bạn thí mạng sống mình, để trọn niềm trung thành với Lời Chúa và làm chứng cho Đức Giê-su.
Xin dùng quyền năng của Thánh Thần giúp chúng con biết sẵn sàng đón nhận chân lý và can đảm tuyên xưng đức tin.
THÁNH GA-Ê-TA-NÔ
Linh Mục
Hôm nay Hội thánh cũng mầng kính thánh Ga-ê-ta-nô Linh mục.
Thánh nhân sinh tại Vi-sen-sô, năm 1448. Ngay từ nhỏ, ngài đã có lòng thương người nghèo đặc biệt. Mỗi lần cha mẹ cho tiền là ngài đem bố thí cho kẻ ăn xin.
Lớn lên, thánh nhân dâng mình cho Chúa. Và năm 1516, ngài thụ phong Linh mục, Ngài dâng Thánh lễ hằng ngày, đây là việc bất thường đối với thời đó. Nhất là ngài hết lòng tôn sùng Thánh Thể, và cổ động nhiều người siêng năng rước Chúa.
Ngài khuyên con linh hồn của ngài:
“Con hãy biết rằng ở đời nầy chúng ta chỉ là lữ khách trên đường: quê hương của chúng ta ở trên trời kia! Ai tự phụ sẽ trệch đường và đi đến chỗ chết. Khi sống ở đời nầy, ta phải tìm cho được sự sống đời đời; sự sống ấy mình ta thì không đáng, vì tội lỗi đã làm ta mất nó; nhưng Đức Giêsu-Kitô đã khôi phục nó lại cho ta. Thế nên ta hằng phải tạ ơn Người, yêu mến Người, vâng phục Người và hết sức luôn luôn ở với Người.
Chính Người đã ban mình làm lương thực cho ta. Bất hạnh cho ai không biết ơn cao quý đó! Chúng ta được phúc chiếm lấy Đức Ki-tô, Con Đức Trinh nữ Ma-ri-a, thế mà ta lại từ chối; khốn nạn cho ai không quan tâm rước nhận Người. Hỡi con, điều tốt cha ao ước cho cha, thì cha cũng cầu xin cho con, nhưng chẳng có đường lối nào cho phép lạ đạt được ngoài việc năng cầu xin với Đức Trinh nữ Ma-ri-a, để Ngài đến viếng thăm con cùng với Con vinh hiển của Ngài. Hơn nữa, con hãy dám xin Ngài ban Con Ngài cho con, Người thật là lương thực nuôi linh hồn trong bí tích bàn thờ. Chính Ngài sẵn lòng ban Người Con ấy cho con, cũng như Người Con ấy sẵn sàng đến với con, để củng cố con, để con được yên hàn đi qua rừng tối tăm trần gian nầy, nơi đầy những kẻ thù gài bẫy hại ta, nhưng chúng sẽ phải đứng xa khi thấy ta có Đấng trợ giúp như vậy”.
Ngài sống khó nghèo, đơn sơ, khiêm tốn, nên khi thấy Lu-te chỉ trích hàng giáo sĩ về thói tham lam ích kỷ và nạn buôn bán các ân huệ thánh, ngài đứng ra lập một tu hội Linh mục, giúp nhau sống khó nghèo hy sinh theo gương Chúa Ki-tô. Tu hội nầy lấy tên là Thê-a-tin, vì được Đức Giám mục giáo phận Thê-a-tê hướng dẫn về linh đạo.
Thánh nhân qua đời tại Náp-lô ngày 7 tháng 8 năm 1547, và năm 1691 được Đức Giáo Hoàng In-nô-sen-tê tôn phong Hiển thánh.
* Quyết tâm
Noi gương thánh Ga-ê-ta-nô hết lòng tôn kính Chúa Giê-su Thánh Thể, hằng ngày siêng năng rước lễ, thương yêu giúp đỡ mọi người phần hồn phần xác.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã thúc đẩy thánh Ga-ê-ta-nô Linh mục sống theo lý tưởng cộng đoàn các tông đồ.
Vì gương sáng và lời chuyển cầu của thánh nhân, xin cho chúng con biết trọn niềm tin tưởng vào Chúa, và không ngừng tìm kiếm Nước Trời.
Chúng con cầu xin…
Ngày 8 tháng 8
THÁNH ĐA-MINH
Linh Mục
* Gương Thánh nhân
Thánh Đa-minh sinh tại Cát-tin, nước Tây-ban-nha, năm 1170.
Ngay lúc nhỏ, thánh nhân đã mến mộ học hành, cầu nguyện, hãm mình, sống khắc khổ và yêu thương người nghèo. Mỗi ngày đều có giờ nhất định để đọc kinh cầu nguyện, và ngài ăn chay hãm mình luôn. Ngày kia có người đến xin ngài giúp đỡ để chuộc lại đứa em bị bắt, ngài không còn tiền cho người ấy, vì đã bố thí hết, nên nói:
- Tôi không còn tiền, nhưng nầy chị hãy dẫn tôi nộp cho người ta, để chuộc em chị về.
Người nầy không thể chấp nhận đề nghị đó, nhưng lòng hết sức cảm phục sự hy sinh cao độ của Ngài.
Vì muốn dâng mình giúp việc Chúa, nên thánh nhân được gởi đến thụ giáo với một Linh mục ở Gu-mi-en. Năm 14 tuổi, ngài gia nhập đại chủng viện tại Pa-len-ci-a. Sau khi hoàn tất việc học ngài được Đức Cha Đi-gê-ô truyền chức Linh mục. Và vì thấy ngài thông minh nhân đức, nên Đức Giám mục đặt ngài làm Kinh sĩ ở Ốt-ma.
Lúc Đức Cha sang Pháp lo việc mục vụ, thánh nhân được dẫn theo. Trong thời gian ở đây, ngài thấy tận mắt những khó khăn tai hại do bè rối An-bi-ro (Albigeois) gây ra cho Hội thánh. Họ chủ trương tất cả những gì thuộc về vật chất đều xấu xa; muốn hoàn thiện phải tận diệt vật chất, sống hoàn toàn khắc khổ. Ngài quyết định đem hết khả năng chống lại chủ trương sai lạc của họ. Nhưng nhận thấy không thể một mình đương đầu nổi với sức bành trướng của họ ngài kêu gọi nhiều nhà truyền giáo nhiệt thành cộng tác, đó là những người sau nầy trở nên tu sĩ hội dòng ngài sáng lập, gọi là “Dòng Anh Em Thuyết Giáo”.
Một cộng tác viên của Ngài kể lại:
“Đa-minh có một đời sống luân lý, một lòng sốt sắng kính mến Chúa mãnh liệt, đến nỗi hiển nhiên ai cũng thấy ngài là tác phẩm của sự cao trọng và của ơn thánh. Ngài có một tâm hồn bình thản đến nỗi chỉ rộn lên khi phải trắc ẩn và thương xót. Và vì tâm hồn hân hoan thì làm cho bộ mặt rạng rỡ, nên ngài cũng để lộ sự bình thản của tâm hồn ngài ra trên nét mặt hiền từ và vui tươi của ngài.
“Đâu đâu ngài cũng tỏ ra một con người của Tin mừng, cả trong lời nói và hành động…
“Ngài năng dâng lên Chúa lời cầu xin đặc biệt nầy, là cho ngài được lòng bác ái chân thật, có khả năng săn sóc và đem lại phần rỗi cho người ta; ngài nghĩ mình sẽ thật là chi thể của Chúa, nếu tiên vàn mình đem hết sức lực mình ra cứu rỗi các linh hồn, giống như Chúa Giêsu, Đấng Cứu chuộc mọi người, đã tận hiến mình để cứu chuộc chúng ta. Và chính để làm công việc ấy mà theo ý Chúa an bài sâu xa, ngài đã lập ra “Dòng Anh Em Giảng Thuyết”.
Suốt 6 năm trời, thánh nhân dâng lời cầu nguyện, sự hy sinh kèm theo lời rao giảng kêu gọi mọi người trở về với đức tin chân chính, nhưng kết quả không được bao nhiêu. Ngài buồn sầu than thở với Mẹ Ma-ri-a, và được Mẹ dạy bảo hãy rao giảng và cổ động mọi người lần hột chuỗi Môi-khôi, để nhờ đó Mẹ cầu cùng Chúa cho những người lầm lạc trở về với Hội thánh. Vâng lời Đức Mẹ, ngài đem hết khả năng truyền bá chuỗi Môi-khôi, giải thích các mầu nhiệm thánh, kêu gọi mọi người thực hành việc đạo đức nầy. Kết quả thật lạ lùng! Không bao lâu, những người tội lỗi và kẻ lầm lạc ăn năn trở lại với Chúa. Thánh nhân hết sức vui mầng, tạ ơn Chúa và tri ân Đức Mẹ.
Năm 1215, thánh nhân đến Rô-ma, xin Đức Giáo Hoàng chuẩn nhận Hội Dòng Anh Em Thuyết Giáo của ngài, và đã được Đức Hô-nô-ri-út thứ 3 châu phê luật dòng vào ngày 22 tháng 10 năm 1216. Từ đó, dòng phát triển mạnh mẽ và có mặt trên khắp thế giới.
Thánh nhân qua đời tại Bô-li-nha, ngày 6 tháng 8 năm 1221. Năm 1231 Đức Thánh Cha Ghê-gô-ri-ô thứ 9 đã tôn phong ngài lên bậc Hiển thánh.
* Quyết tâm
Noi gương thánh Đa-minh, hằng ngày tôi siêng năng lần hột chuỗi Môi-khôi và cổ động nhiều người tham gia, để cậy nhờ Đức Mẹ cầu cùng Chúa, cho kẻ tội lỗi lầm lạc trở về cùng Chúa.
* Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho xuất hiện trong Hội thánh một tông đồ nhiệt tâm truyền giảng chân lý là thánh Đa-minh.
Xin nhận lời thánh nhân hằng tha thiết chuyển cầu, mà ban cho Hội thánh luôn tiến triển, nhờ công đức và lời giảng dạy của Ngài.
Chúng con cầu xin…
Ngày 10 tháng 8
THÁNH LÔ-REN-SÔ
Phó Tế Tử Đạo
* Gương Thánh nhân
“Hôm nay Hội thánh Rô-ma mời chúng ta mầng ngày thánh Lô-ren-sô vinh thắng, ngày ngài chà đạp thế gian hung tợn, khinh bỉ thế gian nịnh hót, thắng được Xa-tan bách hại trong hai hình thức đó. Như anh em nghe biết, ngài đã thi hành chức vụ phó tế tại Hội thánh Rô-ma. Tại đây ngài đã phục vụ máu Thánh Chúa Ki-tô; tại đây ngài đã đổ máu mình ra vì danh Chúa Ki-tô. Thánh Gio-an tông đồ đã rõ ràng trình bày mầu nhiệm của bàn tiệc của Chúa rằng: Chúa Giê-su đã thí mạng vì ta, thì ta cũng phải thí mạng vì anh em. Thánh Lô-ren-sô đã hiểu điều đó; ngài dùng gì, ngài cũng muốn dọn ra như vậy. Khi sống, ngài đã yêu mến Đức Ki-tô; khi chết, ngài cũng muốn bắt chước Người”.
Đó là lời thánh Au-tinh ca ngợi thánh Lô-ren-sô tử đạo. Ngài là một trong 7 vị phó tế giúp việc Đức Giáo Hoàng Xít-tô thứ 2, và được giao phó trách nhiệm cai quản tài sản Giáo hội. Khi Đức Xít-tô bị chém đầu cùng với 4 vị phó tế trong lúc dâng Thánh lễ vào ngày 7 tháng 8 năm 258, ngài cũng có mặt ở đó, nhưng được tạm hoãn cái chết, để ở lại thu gom tài sản Hội thánh, trong vòng 3 ngày giao nộp cho hoàng đế.
Ngay ngày hôm sau, thánh nhân rảo khắp thành Rô-ma, phân phát hết của cải cho người nghèo, và hẹn họ đúng ngày họp mặt đông đủ trước toà án triều đình.
Đúng ngày hẹn, thánh nhân cùng với đám người nghèo khó kéo đến trước mặt quan tổng trấn. Ngài vừa chỉ đám người nghèo khổ vừa nói:
- Đây là tất cả tài sản của Hội thánh mà tôi đã hứa đem nộp cho quan. Quan hãy nhận lãnh và gìn giữ cẩn thận, vì chúng tôi không còn sống để gìn giữ nữa.
Viên tổng trấn nổi giận, quát to:
- Sao mi dám cả gan nhạo báng ta như thế? Mi xúc phạm đến quyền bính của hoàng đế. Tội mi thật đáng chết.
Thánh nhân đáp lại:
- Sự chết đối với tôi là nguồn hạnh phúc vô tận.
Thế là bao cực hình thống khổ tuôn đổ trên thánh nhân. Và sau cùng người ta bắt trói ngài, quăng lên giường sắt thiêu lửa. Ngài vui lòng chịu lửa thiêu đốt một lúc lâu rồi nói với lý hình:
- Phía nầy đã chín rồi, hãy lật tôi qua phía kia cho chín hết, để hoàng đế có thịt nướng ăn ngon miệng.
Một lúc sau, ngài ngước mắt lên trời cầu nguyện, rồi trút hơi thở cuối cùng. Đó là ngày 10 tháng 9 năm 258.
* Quyết tâm
Hằng ngày tôi sẵn lòng chịu khổ chịu cực vì Chúa và thương yêu giúp đỡ người nghèo khổ, để tỏ lòng mến Chúa yêu người, theo gương thánh Lô-ren-sô.
* Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng, chính vì được tình yêu Chúa nung nấu mà thánh phó tế Lô-ren-sô đã trung thành phục vụ và đạt phúc tử đạo vinh quang.
Xin cho dân Chúa biết thực hành những điều Người dạy, và noi gương Người mà yêu mến Chúa và anh em.
Chúng con cầu xin…
Ngày 11 tháng 8
THÁNH CLA-RA
Trinh Nữ
* Gương Thánh nhân
Thánh nữ Cla-ra sinh tại Át-si, nước Ý, năm 1194, trong một gia đình giàu có.
Ngay từ nhỏ, thánh nữ đã có lòng mộ mến kinh nguyện, khó nghèo, chay tịnh và thương yêu kẻ nghèo.
Năm lên 16 tuổi, dịp cấm phòng mùa chay, thánh nữ nghe thánh Phan-xi-cô giảng về đàng nhân đức trọn lành thì đem lòng mến chuộng. Ngài đến xin gặp thánh nhân để nhờ chỉ bảo hướng dẫn. Theo lời khuyên của thánh Phan-xi-cô, ngài quyết định dâng mình cho Chúa. Ngay hôm sau, ngài trốn khỏi nhà, chạy đến Pọt-ti-un-cu-la, gặp thánh Phan-xi-cô. Nơi đây, ngài xuống tóc, nhận tu phục, rồi được gởi đến nữ tu viện gần đấy. Một thiếu nữ giàu có sang trọng, hằng ngày ăn ngon mặc đẹp, nay từ bỏ tất cả, cả mái tóc xinh xắn của mình, sống khó nghèo, ăn mặc thô sơ hèn mọn, đã làm chấn động cả thành Át-si. Mọi người bàn tán xôn xao: kẻ thì khen ngợi lòng hy sinh quả cảm, người lại khinh chê rằng ngu si dại dột, nhất là cha mẹ thánh nữ không thể nào chấp nhận được. Hai ông bà chạy tới tu viện, hết lời la mắng đến dọa nạt ngăm đe, rồi kéo xển Cla-ra về, nhưng thánh nữ một tay nắm chặt vào bàn, một tay lật khăn trùm đầu ra, cho ông bà thấy đầu mình đã cạo hết tóc, là dấu chỉ thánh nữ đã quyết tâm theo Chúa và đã thuộc trọn về Chúa. Thế là cha mẹ ngài đành phải chịu thua, trước tấm lòng can đảm cương quyết theo Chúa của ngài.
Từ đó, thánh nữ được yên thân lo hãm mình, ăn chay, cầu nguyện. Chẳng bao lâu danh tiếng thánh thiện của ngài lan rộng khắp nơi. Nhiều thiếu nữ đạo đức đến xin làm môn đệ ngài, nhờ ngài hướng dẫn bề tu luyện. Cả A-nê là em của ngài cũng cậy nhờ ngài chỉ bảo cho đàng nhân đức. Và ngài đã viết thư kêu gọi A-nê nhìn ngắm gương khó nghèo, khiêm hạ và bác ái của Đức Ki-tô:
“Hãy nhìn đầu tấm gương ấy, tức là sự nghèo khó của Đấng được đặt trong máng cỏ và quấn trong khăn. Ôi Người khiêm nhượng lạ lùng, nghèo khó kỳ diệu dường bao. Vua các thiên thần. Chúa cả trời đất mà lại nằm trong máng cỏ. Rồi ở giữa tấm gương, ngài hãy nhìn sự khiêm nhường, hay ít ra sự nghèo khó, và lam lũ vô ngần mà Người đã chịu mà cứu chuộc loài người. Còn ở cuối tấm gương, ngài hãy nhìn lòng bác ái khôn tả đã khiến Người muốn chết trên thập giá, và muốn chết cách nhuốc hổ hơn hết. Tấm gương ấy, đặt trên thập giá, kêu gọi mọi người qua lại hãy ngắm nhìn các nhân đức kia rằng: Hỡi những khách qua đường, hãy trông xem, có đớn đau nào như các đớn đau hành hạ thân tôi…”
Về sau khi cha ngài mất, mẹ ngài cũng đến sống trong tu viện với ngài.
Năm 1215, thánh Phan-xi-cô đặt thánh nữ làm tu viện trưởng và soạn cho một bản luật sống khắc khổ nhiệm nhặt. Nhưng thánh nữ còn đi xa hơn nữa, ngoài ra luật sống khắc khổ theo ý thánh Phan-xi-cô, ngài còn đặt cho các nữ tu một lý tưởng khó nghèo và đã xin Đức Giáo Hoàng chuẩn y lý tưởng đó.
Đức Thánh Cha En-nô-cen-tê thứ 3 đã đồng ý ban phép cho giữ đức khó nghèo tuyệt đối như thánh nữ khẩn nguyện. Nhưng về sau Đức Ghê-gô-ri-ô thứ 9 muốn cho nhà dòng nhận một số của cải để đảm bảo cho cuộc sống, thì thánh nữ từ khước và thưa:
-Xin Đức Thánh Cha tha tội cho con, nhưng xin đừng tha cho con sống khó nghèo theo gương Chúa Ki-tô.
Thánh nữ qua đời ngày 11 tháng 8 năm 1253, sau 42 năm sống khó nghèo, khắc khổ nhiệm nhặt vì lòng kính mến Chúa. Và hai năm sau, tức là năm 1255, Đức Giáo Hoàng A-lét-xăn thứ 4 đã phong ngài lên ngôi Hiển thánh.
* Quyết tâm
Noi gương thánh nữ Cla-ra, tôi quyết sống đơn sơ nghèo khó, để được phần thưởng Nước Trời.
* Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, Chúa đã dìu dắt thánh Cla-ra và soi sáng cho thánh nữ biết yêu chuộng đời sống khó nghèo.
Xin nhận lời thánh nữ cầu thay nguyện giúp, mà ban cho chúng con được cùng người sống tinh thần nghèo khó mà theo chân Đức Ki-tô, để được vào quê trời chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa.
Chúng con cầu xin…
Ngày 12 tháng 8
* THÁNH GIA-CÔ-BÊ ĐỖ MAI NĂM
AN-TÔN NGUYỄN ĐÍCH VÀ MI-CA-E LÝ MỸ
Linh Mục và Giáo Dân Tử Đạo
* Gương Thánh nhân
Gương sáng lớn nhất các thánh Gia-cô-bê Năm, An-tôn Đích và Mi-ca-e Mỹ để lại cho mọi người là hết lòng thương yêu giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong những lúc gian lao thử thách.
Dưới thời vua Minh Mạng bắt đạo, sáng ngày 11 tháng 05 năm 1838, quan quân kéo đến bao vây nhà ông trùm Đích ở Vĩnh Trị, bắt cha Năm, ông trùm và con rễ ông là Lý Mỹ dẫn về tỉnh Nam Định. Lúc đó ông trùm đã 70 tuổi, sợ tuổi già sức yếu chịu đòn vọt tra tấn không nổi, nên ông rất nao núng kinh hãi. Cha Năm và anh Lý Mỹ thấy vậy thì tận tình an ủi khích lệ ông, đặc biệt Lý Mỹ là con rễ hứa sẽ chịu hết roi đòn thế cho ông, nên ông mới lấy lại được tinh thần, trở nên vững vàng can đảm, sẵn sàng tin theo Chúa cho đến chết. Sở dĩ khi gặp thử thách bách hại, Chúa cho ông có được người nâng đỡ đùm bọc như thế, là vì lúc bình thường ông đã hết lòng thương yêu giúp đỡ mọi người. Thật đúng như lời Chúa phán:
“Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt. 5,7).
***
Gia-cô-bê Đỗ Mai Năm sinh năm 1781, tại Đông Biên tỉnh Thanh Hóa. Ngay từ nhỏ, cậu đã được Chúa thương gọi dâng mình giúp việc Chúa. Cậu gia nhập chủng viện Vĩnh Trị, và sau nhiều năm tu học, đã được thụ phong Linh mục năm 32 tuổi.
Cha Năm tính tình hiền hoà, vui vẻ, đi đến đâu cũng được giáo dân quý mến kính nể, đặc biệt giới trẻ và thanh thiếu niên rất thích nghe cha dạy dỗ chỉ bảo. Sau một thời gian đi giúp các xứ đạo, cha trở về dạy tại chủng viện Vĩnh Trị.
Vua Minh Mạng lại ra sắc chỉ cấm đạo, bắt giết giáo sĩ giáo dân. Chủng viện đóng cửa, cha phải ẩn trốn rày đây mai đó. Lúc đầu cha đến ẩn trú nhà ông trùm Tôn ở họ Kẻ Nguồi. Sau vì tình thế ở đây khó khăn, cha dời đến trú tại nhà ông trùm Đích ở Vĩnh Trị. Mặc dù ẩn trốn, cha vẫn lén lút ban các Bí tích cho tín hữu, nhất là tìm dịp khích lệ họ kiên vững trong đức Tin.
Nghe tin làng Vĩnh Trị chứa chấp Đạo trưởng, quan tổng đốc thuê hai tên Tỷ và Xuân giả vờ đến xin giúp việc trong nhà ông Lý Mỹ là con rễ của ông trùm, để thăm dò theo dõi. Và theo lời họ báo cáo, sáng ngày 11 tháng 05 năm 1838, quan quân kéo đến vây nhà ông trùm bắt cha Năm, ông trùm và con rễ là Lý Mỹ, dẫn về tống giam vào ngục ở Nam Định.
Sau nhiều lần khuyến dụ tra tấn, cha Năm vẫn cương quyết không chịu quá khóa bỏ đạo, nên ngày 12 tháng 08, cha bị chém đầu để làm chứng cho Chúa tại pháp trường Bảy Mẫu.
***
An-tôn Nguyễn Đích sinh năm 1769, tại Chi Long, tỉnh Nam Định. Lớn lên cậu đến làm ăn ở Vĩnh Trị và lập gia đình tại đây. Vợ chồng sinh 10 người con, mà có được hai người chịu chết vì Chúa, chưa kể ông và người con rể là Lý Mỹ cũng tử đạo hôm nay với ông. Sở dĩ gia đình ông được Chúa thương nhiều như thế là vì con cái ông rất đạo đức, do công lao ông giáo dục đào luyện, nhất là nhờ ông có lòng bác ái nhiệt tình đối với mọi người. Ông tận tâm phục vụ Hội thánh, hết lòng thương yêu giúp đỡ các Linh mục, chủng sinh và người nghèo khó bệnh tật. Lúc các chủng sinh ở Vĩnh Trị bị dịch tả, ông tình nguyện nhận một số về nhà nuôi dưỡng chăm sóc; ông thường xuyên thăm viếng an ủi những người mắc bệnh cùi trong làng. Trong cơn bách hại, ông luôn sẵn sàng che chở giúp đỡ các Linh mục.
Chính do thế giá và nhân đức của ông mà người ta tặng cho ông chức trùm, chứ thực sự ông không có thi hành chức vụ đó. Và cũng chính nhờ lòng bác ái thương người của ông, mà khi bị bắt giam trong ngục, ông sợ hãi nhát đảm thì Chúa cho cha Năm và Lý Mỹ ở bên cạnh nâng đỡ khích lệ ông, giúp ông tin tưởng trông cậy Chúa đến phúc tử đạo.
Ông bị bắt cùng với Cha Năm và Lý Mỹ là con rể ông ngày 11 tháng 05 năm 1838. Lúc đó ông đã 70 tuổi. Ông sợ mình tuổi già sức yếu chịu hình khổ đòn vọt không nổi nên nản lòng thối chí. Nhưng cha Năm an ủi ông:
- Ông hãy tin tưởng trông cậy Chúa, Chúa sẽ ban cho ông đủ sức chịu mọi khổ hình đau đớn.
Còn Lý Mỹ là con rể ông thì hứa sẽ chịu đánh đòn thế cho ông. Nhờ đó, ông vững dạ an lòng, can đảm tuyên xưng đức tin. Bốn lần ông bị buộc bước qua thập giá bỏ đạo, nhưng ông chỉ chịu đánh đòn có một lần, còn ba lần kia thì con rể ông đã chịu đòn thế. Và sau cùng khi thấy ông can đảm nhất quyết tin theo Chúa, vua Minh Mạng đã ra lệnh xử trảm ông ngày 12 tháng 08 năm 1838, cùng với Cha Năm và Lý Mỹ, tại pháp trường Bảy Mẫu tỉnh Nam Định.
***
Mi-ca-e Nguyễn Huy Mỹ sinh năm 1804, tại Đại Đăng tỉnh Ninh Bình. Mồ côi cha mẹ sớm, nhưng nhờ người thân nuôi dưỡng dạy dỗ chu đáo, nên lớn lên cậu thông minh giỏi giắn, thông thạo nghề thuốc, và sống đạo đức sốt sắng, siêng năng lãnh nhận các Bí tích.
Năm 20 tuổi, anh kết bạn với cô Ma-ri-a Mến là con gái ông trùm Đích nên về ở Vĩnh Trị với cha vợ. Vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc, nhiệt thành sống đạo, siêng năng cần mẫn làm ăn lập nghiệp. Dân làng thấy anh tài giỏi đạo đức thì chọn làm chánh tổng, nhưng anh từ chối. Sau vì muốn giúp Hội thánh trong lúc khó khăn bách hại, anh nhận làm Lý trưởng trong làng; vì thế, mọi người quen gọi anh là Lý Mỹ.
Từ ngày nhậm chức Lý trưởng, anh càng sống đạo đức cần mẫn hơn, nhất là đối xử liêm khiết công bằng với mọi người; không nhận hối lộ của ai, cũng chẳng thiên vị người nào, cứ theo lẽ công bình chính trực mà thi hành trách vụ.
Năm 1838, lệnh vua Minh Mạng bắt đạo gắt gao. Chủng viện Vĩnh Trị đóng cửa, chủng sinh giải tán, các cha phải ẩn lánh khắp nơi. Lúc đó cha Gia-cô-bê Năm đang dạy ở chủng viện, phải đến ẩn trú nhà ông trùm Đích là cha vợ của Lý Mỹ. Anh hết sức che chở cha, không ngờ có hai tên Tỷ và Xuân do quan mướn đến dọ thám đã tố cáo cha, nên sáng ngày 11 tháng 05 năm 1838 quan quân đến vây bắt Cha Năm, ông trùm và cả anh nữa, giải về tỉnh Nam Định.
Trong thời gian gần 40 ngày bị giam giữ, anh phải chịu đánh đòn trên 500 roi, đau đớn khổ sở, vì anh cương quyết không chịu chối Chúa bỏ đạo, phần vì anh xin chịu đòn thay cho cha vợ là ông trùm Đích. Quan thấy hình khổ nặng nề như thế mà không lay chuyển được lòng tin kiên vững của vị anh hùng thì kết án trảm quyết đệ lên vua. Và ngày 12 tháng 08, vị chứng nhân Lý Mỹ anh dũng của Chúa đã chịu chém đầu tại pháp trường Bảy Mẫu, cùng với cha Năm và ông trùm Đích.
Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã suy tôn cha Gia-cô-bê Năm, ông trùm Đích, và Mi-ca-e Mỹ lên Chân Phước ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô 2 tôn phong các ngài lên hàng Hiển thánh.
* Quyết tâm
Nhiệt thành sống đạo, siêng năng truyền giáo, nhất là hết lòng thuơng yêu giúp đỡ đồng bào đồng đạo trung thành bền đỗ tin theo Chúa, theo gương các thánh Gia-cô-bê Năm, An-tôn Đích và Mi-ca-e Mỹ tử đạo.
* Lời nguyện
Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.
Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.
Ngày 13 tháng 8
THÁNH PON-XI-A-NÔ VÀ HÍP-PÔ-LI-TÔ
Tử Đạo
* Gương Thánh nhân
Thánh Pon-xi-a-nô làm Giáo Hoàng khoảng năm 230.
Dưới thời hoàng đế Mắc-xi-mi-nô bách hại, thánh nhân bị bắt đày sang Sát-đi-ni và chết vì Chúa ở đây.
Còn Thánh Híp-pô-li-tô là một nhà thần học sống vào thế kỷ thứ ba. Năm 217, khi Đức Can-lít-tô được chọn làm Giáo Hoàng, ngài phản đối và tự xưng mình là Giáo Hoàng, nên trong cuộc bách hại của hoàng đế Mắc-xi-mi-nô, ngài cũng bị bắt đày chết ở Sát-đi-ni với thánh Pon-xi-a-nô. Trước lúc chết, ngài đã hối hận và khuyên bảo những kẻ theo phe ngài hãy thần phục Đức Giáo Hoàng.
Khi Đức Pha-bi-a-nô lên ngôi Giáo Hoàng vào năm 336, ngài đã cho đem thi hài thánh Pon-xi-a-nô và Híp-pô-li-tô về chôn tại Rô-ma.
Thánh Giám mục Síp-ri-a-nô đã ca ngợi đức tin bất khuất của hai vị thánh tử đạo nầy như sau:
Anh em rất dũng cảm, tôi biết lấy lời nào để ca ngợi anh em? Tôi biết dùng lời nào để chúc tụng lòng can trường và đức tin kiên trung của anh em? Anh em phải chịu cực hình dữ tợn nhất cho đến khi kết thúc trong vinh hiển, không phải anh em đã phải chịu thua cực hình, nhưng chính cực hình đã phải thua anh em. Không phải cực hình chấm dứt cái đau khổ, nhưng chính triều thiên đã làm công việc ấy. Sự hung tợn kéo dài của lý hình không phải để quật ngã niềm tin đứng vững, nhưng là để mau mau gởi các người của Chúa về với Chúa.
“Quần chúng hiện diện nhìn thấy mà cảm phục trận chiến thiêng liêng của Thiên Chúa và của Đức Ki-tô. Họ thấy các tôi tớ của Chúa đứng vững, lời nói đầy tự do, tâm hồn không nao núng, dũng cảm một cách thần diệu, không có võ khí nào của đời nầy, nhưng vẫn tin mình được võ trang bằng khí giới của đức tin. Họ bị tra tấn, nhưng vẫn đứng khoẻ mạnh hơn kẻ tra tấn họ; chi thể họ bị đánh, bị xén nhưng lại thắng chính những nanh vuốt đánh xé họ. Cực hình gia tăng mãi mãi cũng chẳng làm gì được đức tin bất khuất, cho dù đã tan nát ruột gan, các tôi tớ còn bị đánh xé đến nỗi không còn đánh xé các chi thể nữa mà là chỉ còn đánh xé các vết thương. Máu chảy ra chan hoà, thứ máu sẽ dập tắt lửa bách hại, thứ máu đổ ra vinh hiển làm dịu lửa hoả ngục. Ôi quang cảnh Chúa bày ra ngoạn mục làm sao, cao cả thế nào, vĩ đại dường bao, đẹp mắt Thiên Chúa vô ngần, nhờ đức tin và lòng sốt sắng nơi các chiến sĩ của Người ! Như trong thánh vịnh Chúa Thánh Thần nói và khuyên bảo ta rằng: Đối với Chúa thật là đắt giá cái chết của những ai trung hiếu với Người. Phải thật quý cái chết mua được bất tử bằng giá máu, và nhận được triều thiên nhờ dũng cảm tuyệt vời”.
* Quyết tâm
Can đảm hy sinh chịu khổ vì Chúa, để làm chứng cho Chúa, và để được lãnh nhận triều thiên vinh hiển muôn đời, theo gương thánh Pon-xi-a-nô và Híp-pô-li-tô tử đạo.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa quý trọng cái chết anh hùng của các thánh tử đạo.
Xin cho gương sáng của thánh Pon-xi-a-nô và Híp-pô-li-tô làm cho chúng con ngày càng thêm yêu mến Chúa, và kiên trì giữ vững đức tin.
Chúng con cầu xin…
Ngày 14 tháng 8
THÁNH MÁC-XI-MI-LI-A-NÔ KÔN
Linh Mục Tử Đạo
* Gương Thánh nhân
Thánh Mác-xi-mi-li-a-nô Kôn sinh tại Đun-ka Quô-la, nước Ba-lan, năm 1894.
Lớn lên, thánh nhân có lòng ước muốn phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn, nên đã xin nhập dòng Phan-xi-cô, Ngài chuyên cần học hỏi thần học, kinh tế và hằng ngày chịu khó tập rèn nhân đức.
Năm 1918, thánh nhân được thụ phong Linh mục. Từ đó ngài hiến mình cho công cuộc truyền giáo, xả thân cứu rỗi các linh hồn. Đặc biệt ngài hết lòng vâng phục kẻ trên và tôn sùng Đức Ma-ri-a Vô Nhiễm, và hằng cậy nhờ Mẹ nâng đỡ phù trì trong mọi công tác tông đồ mục vụ.
Trong một bức thư gởi cho đồng nghiệp, thánh nhân đã kêu gọi phải lấy lòng nhiệt thành lo cho các linh hồn được cứu rỗi và thánh hoá, nhờ đức tuân phục và lòng sùng kính Mẹ Ma-ri-a:
“Đây là đường lối khôn ngoan, là con đường duy nhất mà qua đó chúng ta có thể quy chiếu vinh quang cao cả về cho Thiên Chúa. Nếu có con đường nào khác và thích hợp hơn thì chắc chắn Đức Ki-tô đã bày tỏ cho ta bằng lời nói và gương mẫu của Người. Nhưng Kinh Thánh đã tóm gọn thời gian Người sống ở Na-da-rét bằng những lời nầy: và Người vâng phục các ngài. Kinh Thánh cũng phác hoạ cả quảng đời còn lại gần như bằng dấu chỉ vâng phục, khi cho thấy ở một số đoạn rải rác là Người đã xuống thế gian để làm theo ý Cha. Vì vậy, chúng ta hãy yêu mến và đầy lòng yêu mến Cha trên trời là Đấng rất yêu thương, và chớ gì sự vâng phục của ta làm chứng cho lòng mến hoàn hảo nầy. Khi nào ta hy sinh ý riêng, khi ấy ta tỏ ra vâng phục nhất. Vì chưng, chúng ta không biết một phe cánh cao quý nào khác hơn là chính Đức Giêsu-Kitô chịu đóng đinh, để chúng ta tiến triển trong tình yêu của Thiên Chúa.
Chúng ta sẽ có được mọi điều đó dễ dàng hơn nhờ Đức Trinh nữ Vô Nhiễm, Đấng được Thiên Chúa chí nhân ủy thác việc ban phát lòng thương xót của Người. Thực vậy, điều chắc chắn là ý muốn của Đức Ma-ri-a là chính ý muốn của Thiên Chúa đối với ta. Khi tự hiến mình cho Mẹ, chúng ta trở thành dụng cụ của lòng thương xót Chúa trong tay Mẹ, như chính Mẹ là dụng cụ trong tay Thiên Chúa. Do đó, chúng ta hãy cho Mẹ hướng dẫn, để Mẹ dẫn dắt ta đi, và chúng ta sẽ được yên hàn bình an khi có Mẹ dìu dắt. Vì chưng, Mẹ sẽ xem xét và tiên liệu mọi sự cho ta, sẵn sàng đáp ứng các nhu cầu thể xác linh hồn. Chính Mẹ sẽ tháo gỡ các khó khăn trở ngại”.
Phương pháp làm đặc biệt của thánh nhân là dùng báo chí truyền bá đức tin và củng cố lòng đạo. Ngài đã mời nhiều người cộng tác và xuất bản báo Công giáo ở Ba-lan và Nhật-bản. Năm 1927, ngài sáng lập nhà xuất bản, chuyên in ấn sách báo Công giáo, phổ biến giáo thuyết Chúa Ki-tô, cổ võ lòng tôn sùng Đức Mẹ Vô Nhiễm. Đồng thời ngài cũng thành lập đài phát thanh, tuyên truyền cổ động cho Nước Chúa Trị Đến.
Thấy ngài gây được nhiều ảnh hưởng lớn lao trong quần chúng, năm 1940, phát xít Đức bắt giam ngài tại Ốt-quít; đây là một trại tập trung rất khổ cực, kỷ luật gắt gao. Trong các quy luật đó, có điều khoản qui định: khi một tù nhân trốn trại, thì 10 người khác phải chết thế. Vậy một ngày trong tháng 8 năm 1941, có một tù nhân trốn khỏi trại, và người ta đã chỉ định 10 người chết thế; trong số đó có anh Ga-đô-nít-sét. Anh kêu la than khóc thảm thiết khi bị chỉ định chết thế, vì anh còn mẹ già con thơ, không ai nuôi dưỡng ! Đứng trước thảm cảnh đó, cha Mắc-xi-mi-en Kôn không thể cầm lòng nổi, và vì lòng mến Chúa yêu người, cha đã xin chết thay cho anh…
Thế là 10 người tử tù, trong số đó có cha Mắc-xi-mi-en Kôn, bị đẩy vào phòng hơi ngạt cho đến chết cách đau đớn !...
Thánh nhân đã được Đức Giáo Hoàng Phao-lô 6 nâng lên Chân phước và Đức Gioan-Phaolô 2 tôn phong Hiển thánh.
* Quyết tâm
Noi gương thánh Mắc-xi-mi-en Kôn, hết lòng tôn kính Đức Mẹ, và sẵn sàng thương giúp những người lâm cơn khốn khó hoạn nạn phần hồn phần xác.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, nhờ Chúa ban ân sủng, Thánh Linh mục tử đạo Mắc-xi-mi-li-a-nô Kôn-bê đã hăng say cứu các linh hồn, hết tình yêu mến tha nhân và trọn đời gắn bó với Đức Trinh nữ Vô Nhiễm.
Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, mà giúp chúng con đem hết sức mình phục vụ anh em, để danh Chúa được vinh quang rạng rỡ. Nhờ vậy, chúng con sẽ trở nên đồng hình đồng dạng với Con Một Chúa đến hơi thở cuối cùng.
Chúng con cầu xin…
Ngày 15 tháng 8
ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
Việc tin tưởng Đức Mẹ hồn xác lên trời đã có từ lâu đời trong Hội thánh. Và hằng năm nhiều nơi đã mầng kính lễ nầy với nhiều tên gọi khác nhau, như lễ Đức Mẹ an giấc, Đức Mẹ chuyển biến, Đức Mẹ sinh ra trên trời, Đức Mẹ được nâng lên trời… Đặc biệt sau Công đồng chung Ê-phê-sô (năm 431), lễ Đức Mẹ an giấc được mừng kính khắp nơi trong Giáo hội Đông phương. Còn trong Giáo hội Tây phương thì từ thế kỷ thứ 7 mới bắt đầu mừng lễ nầy:
Từ đó về sau, nhiều thư thỉnh nguyện của các Giám mục, các dòng tu, các nhà thần học gởi đến Đức Giáo Hoàng, xin ngài định tín việc Đức Mẹ lên trời cả hồn và xác. Chính trong Công đồng Va-ti-căn thứ nhất, nhiều nghị phụ cũng yêu cầu Đức Thánh Cha quyết định điều đó. Vì theo ý kiến của tất cả các vị nầy, việc Đức Mẹ hồn xác lên trời có liên hệ mật thiết với cuộc đời đồng trinh và chức vụ làm mẹ của Ngài. Và vì Mẹ đã được cứu chuộc hoàn toàn, nên cũng phải được tôn vinh toàn diện, như lời thánh Phao-lô nói: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được kêu gọi theo ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước thì Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người” (Rm. 8, 28-29).
Dựa theo các thỉnh nguyện đó, năm 1946 Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ 12 đã gởi đến mỗi Giám mục một lá thư, yêu cầu trả lời câu hỏi sau đây của ngài:
“Theo sự khôn ngoan chính chắn của Đức Cha, Đức Cha có ý kiến gì về việc Đức Ma-ri-a hồn xác lên trời? Đức Cha thấy cần được đưa ra và xác quyết như là một tín điều không? Đức Cha với hàng giáo sĩ và giáo dân có muốn điều đó không?
Gần hết các thư trả lời đều đồng ý và thỉnh nguyện. Thế là ngày 1 tháng 11 năm 1950, Đức Thánh Cha Pi-ô thứ 12 đã long trọng tuyên bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời, cho toàn thể Giáo hội tin kính và mầng lễ ngày 15 tháng 8 hằng năm.
Đức Giáo Hoàng xác quyết:
“Các Thánh giáo phụ và các bậc đại tiến sĩ khi giảng và nói với giáo dân trong ngày lễ Thánh Mẫu hồn xác lên trời, vẫn nói về điều đó như là một chân lý đã được giáo dân biết và chấp nhận rồi. Các ngài đã giải thích cho rõ hơn, đào sâu ý nghĩa và tầm quan trọng, và nhất là làm nổi bật lên rằng: Lễ nầy không những kính nhớ việc thân xác Đức Trinh nữ Ma-ri-a, sau khi chết, không chịu hư nát chút nào, mà còn nhắc đến việc ngài toàn thắng sự chết, được vinh hiển trên trời, theo gương Con Một Ngài là Đức Giêsu-Kitô…
Tất cả lập luận và suy niệm trên đây của các giáo phụ đều dựa trên Kinh Thánh như là nền tảng cuối cùng; mà Kinh Thánh lại như đặt trước mặt ta một Đức Mẹ Thiên Chúa kết hợp rất mật thiết với Con mình và luôn luôn chia sẻ tất cả thân phận của Người…
Thế nên Đức Thánh Mẫu cao cả, ngay từ đời đời và do cùng một quyết định tiền định, đã được kết hợp với Đức Giêsu-Kitô một cách huyền nhiệm vô nhiễm khi đầu thai, đồng trinh vẹn sạch khi làm mẹ, cộng tác quãng đại với Đấng Cứu thế, Đấng đã chiến thắng hoàn toàn sự tội và các hiệu quả của nó, thì cuối cùng để kết thúc mọi đặc ân Ngài đã được, Đức Trinh nữ cũng đã được gìn giữ khỏi bị hư nát ở trong mồ để nên giống Con mình. Sau khi chiến thắng sự chết, ngài cũng được đưa lên vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, nơi ngài được sáng láng làm Nữ Vương ngự bên hữu Con mình là Vua bất tử của mọi thời”.
* Quyết tâm
Đức Mẹ đã được Chúa thưởng hồn xác về trời, hằng ngày kêu xin Đức Mẹ phù hộ, cho ngày sau được về trời hưởng phước với Mẹ.
* Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đưa lên trời cả hồn xác Đức Ma-ri-a, là Trinh nữ Vô Nhiễm và là Thánh Mẫu của Con Chúa.
Xin cho chúng con hằng biết hướng về phúc lộc quê trời, để mai sau được cùng Thánh Mẫu chung hưởng vinh quang.
Chúng con cầu xin…
Ngày 16 tháng 8
THÁNH TÊ-PHA-NÔ HUN-GA-RI
* Gương Thánh nhân
Thánh Tê-pha-nô sinh tại Ết-tẹt-gon khoảng năm 972, là con của vua Gey-sa nước Hun-ga-ri. Nhà vua là người ngoại giáo, nhưng khi cưới Sa-rôn-ta là người Công giáo thì nhờ ảnh hưởng của nàng mà trở lại đạo.
Lúc còn nhỏ, thánh nhân đã được mẹ huấn luyện đạo đức kỹ lưỡng. Năm lên 10 tuổi thì vua cha xin thánh A-đan-bê rửa tội cho ngài, đồng thời mời các nhà truyền giáo đến giảng đạo trong nước ông. Từ đó, Tê-pha-nô được các nhà truyền giáo chăm sóc dạy dỗ thêm đàng nhân đức. Và lúc 15 tuổi, ngài phụ giúp vua cha cai trị đất nước, cho đến lúc ông qua đời thì lên ngôi kế vị.
Từ ngày lên ngôi vua, thánh nhân lo ký kết thỏa hiệp với các nước láng giềng, để cho toàn dân được an cư lạc nghiệp, Ngài phóng thích nô lệ, ân xá các tù nhân, mở cơ quan từ thiện, giúp đỡ người nghèo và những kẻ già yếu bệnh tật.
Để có người cộng tác trong việc mở mang kiến thức cho dân chúng, thánh nhân đã mời các tu sĩ đến mở trường dạy học. Ngài còn làm một việc đặc biệt là sai sứ giả đến xin Đức Giáo Hoàng nhận nước Hun-ga-ri là quốc gia Ki-tô-giáo và phong vương cho ngài. Năm 1000, Đức Giáo Hoàng Sin-vét-te thứ 3 đã công nhận và gởi cho ngài mão triều thiên. Để đáp lại lòng ưu ái của Đức Thánh Cha, ngài ra sức Ki-tô hoá vương quốc của ngài. Ngài thiết lập 8 toà Giám mục, nhiều tu viện và xây cất thánh đường khắp nơi trong nước.
Dù bận lo việc nước việc đạo như thế, thánh nhân cũng không bỏ qua việc cầu nguyện hãm mình hằng ngày và dạy dỗ con cái. Các con của ngài đều chết sớm, chỉ còn lại một mình Em-mê-ríc sau nầy kế vị ngài. Ngài ân cần khuyên bảo cậu sống đạo đức thánh thiện: “Con rất yêu quí, tiên vàn cha truyền cho con, khuyên nhủ con, mời gọi con; nếu muốn làm vẻ vang cho vương miện nhà ta, thì con hãy cẩn thận và ân cần gìn giữ đức tin Công giáo và tông truyền, đến nỗi trở thành gương sáng cho mọi người Chúa đặt ở dưới quyền con, và mọi người trong hàng giáo sĩ sẽ phải công nhận con là người tuyên xưng đức tin Ki-tô-giáo thật sự; nếu không thì người ta sẽ chẳng còn gọi con là Ki-tô-hữu hay là con cái của Hội thánh nữa.
Vậy trong đền vua, sau đức tin thì Hội thánh phải chiếm hàng thứ hai. Hội thánh trước hết đã được chính Thủ lãnh là Đức Ki-tô gieo mầm, rồi được các chi thể của Người là các tông đồ và các giáo phụ đem trồng và xây dựng chắc chắn và được lan rộng ra khắp địa cầu. Nên cho dù Hội thánh luôn luôn sinh ra những con cái mới, song ở nhiều nơi, Hội thánh thật đã xa xưa.
Hội thánh ở nước ta còn trẻ trung và mới mẻ, nên cần phải có người bảo đảm và sáng suốt gìn giữ, kẻo ơn lành và lòng nhân từ Chúa đã ban cho chúng ta là những kẻ bất xứng, phải phá sản và mất đi vì con sơ xuất, lười biếng chậm chạp.
Con rất yêu quý, con là sự êm ái của lòng cha, là hy vọng của dòng dõi cha, cha khuyên con, cha truyền cho con, bằng mọi cách và trong mọi việc phải tỏ ra từ tâm…
Sau cùng con hãy can trường, đừng thấy phát đạt mà tự cao, đừng vì trở ngại mà nản chí, phải khiêm nhượng để được Chúa nâng lên ở đời nầy và trong đời sau…”
Thánh nhân qua đời ngày 15 tháng 8 năm 1038, và được tôn phong Hiển thánh năm 1083.
* Quyết tâm
Noi gương thánh Tê-pha-nô, hằng ngày lo chu toàn bổn phận đối với Hội thánh và gia đình, bằng cách chuyên cần dạy dỗ con cái và mở mang Nước Chúa.
* Lời nguyện
Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã ban cho thánh Tê-pha-nô làm vua nơi trần thế để mở mang Giáo hội.
Nay Người được vinh hiển trên thiên đàng, thì xin cho Giáo hội cũng được người bênh vực chở che.
Chúng con cầu xin…
Ngày 19 tháng 8
THÁNH GIO-AN ÊU-ĐÊ
Linh Mục
* Gương Thánh nhân
Thánh Gio-an Êu-đê sinh tại miền Nọt-măn-đi, nước Pháp, năm 1601, trong một gia đình đạo giáo sốt sắng, nên được cha mẹ giáo dục nền đạo đức vững chắc ngay từ nhỏ.
Năm lên 15 tuổi, thánh nhân học với các cha dòng Tên tại Ca-en, và sau đó đi Ba-lê theo đại học. Ước nguyện của Ngài là muốn dâng mình cho Chúa để phục vụ Hội thánh và cứu rỗi các linh hồn, nên đã xin gia nhập Dòng Thuyết giáo và năm 1625 thì được thụ phong Linh mục.
Lúc đó một cơn bệnh dịch tràn lan khắp nơi; dân chúng thấy nhiều người chết thì sợ hãi. Không ai dám đến giúp ai. Thánh nhân hy sinh lăn xả vào cứu giúp họ, chẳng kể gì tánh mạng sức khỏe, ngày đêm tận tụy chăm sóc người bệnh, chôn cất kẻ chết, đến nỗi ngài đã bị lây nhiễm, nhưng Chúa thương gìn giữ ngài, để ngài tiếp tục phục vụ Người trong những việc cần ích khác nữa. Sau khi cơn dịch chấm dứt, thánh nhân lên đường đi truyền giáo. Ngài giảng thuyết khắp vùng Nọt-măn-đi, Brơ-tan, Ba-lê. Tại đây, cha Ô-li-ê mời ngài giảng nhiều lần, mỗi lần kéo dài hai tháng rưỡi. Số người đến nghe giảng ngày càng đông đảo, và nhiều người nhờ lời ngài giảng dạy mà ăn năn trở lại với Chúa; ngài phải ngồi tòa giải tội cho họ suốt ngày. Nhất là lúc đó lạc thuyết Can-vi-nô đang gây khó khăn cho Hội thánh ở Pháp, ngài đem hết khả năng thuyết phục họ, chống lại những sai lạc của họ, giúp họ theo giáo huấn của Chúa Ki-tô.
Giữa lúc đó, thánh nhân nhận thấy hàng giáo sĩ không được đào tạo chu đáo, nên năm 1643, ngài rời khỏi Dòng giảng thuyết, thành lập Tu Hội Chúa Giê-su và Mẹ Ma-ri-a, chuyên lo huấn luyện các Linh mục cho công việc truyền giáo. Ngài cũng thấy có nhiều thiếu nữ lâm cảnh sa đọa, nên năm 1662, ngài lập thêm “Tu Hội Đức Mẹ Bác Ái”, để giúp những thiếu nữ nầy cải hóa.
Thánh nhân có lòng đặc biệt tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su và Trái Tim vẹn sạch Đức Mẹ. Ngài cổ động nhiều người trong việc tôn sùng nầy, và viết nhiều sách phổ biến nguồn ơn cứu độ đó. Ngài nói: “Tôi xin bạn hãy nghĩ kỹ: Đức Giêsu-Kitô Chúa chúng ta thật là đầu của bạn, và bạn là một chi thể của Người. Người đối với bạn thì như đầu đối với chi thể: mọi sự của Người là của bạn, tinh thần, trái tim, thân xác, linh hồn và mọi cơ năng của Người, tất cả đều để cho bạn dùng như là của riêng bạn, để phục vụ, ngợi khen, yêu mến và làm vinh hiển Người”.
“Mà không những Người thuộc về bạn, Người còn muốn ở trong bạn nữa, để sống trong bạn và điều hành ở trong bạn, như đầu sống và điều hành trong chi thể vậy. Người muốn tất cả những gì ở trong Người, được sống và điều khiển ở trong bạn: tinh thần của Người ở trong tinh thần bạn, trái tim của Người ở trong trái tim bạn, mọi khả năng của linh hồn Người ở trong mọi cơ năng của linh hồn bạn, đến nỗi lời sau đây thực hiện ở nơi bạn: Hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi tâm hồn anh em, và để cho sự sống của Đức Ki-tô được hiện tỏ nơi mình anh em”.
“Mà không những bạn thuộc về Con Thiên Chúa, nhưng bạn còn phải ở trong Người nữa, như chi thể ở trong đầu vậy. Tất cả những gì ở trong bạn, phải đem tháp nhập vào trong Người, để sống nhờ Người và để Người điều khiển cho. Bạn sẽ chẳng có sự sống thật nếu không ở trong Người vì duy chỉ có Người là nguồn sự sống thật; ở ngoài Người, chỉ có thể tìm thấy chết chóc và hư vong. Người phải là nguyên lý duy nhất cho mọi cử động, hành động và sinh lực trong đời bạn; bạn phải sống vì Người và cho Người, để bạn thực hiện lời sau đây: Khôngai trong chúng ta được sống cho mình và cũng không ai được chết cho mình. Vì nếu ta sống, chính cho Chúa mà ta sống; và nếu ta chết, thì chính cho Chúa mà ta chết. Vậy dù sống dù chết, ta vẫn thuộc về Chúa. Vì chưng Đức Ki-tô đã chết và đã sống, ấy là để làm Chúa kẻ chết và người sống”.
Thánh nhân qua đời ngày 19 tháng 8 năm 1680, và năm 1925 được Đức Thánh Cha Pi-ô thứ 11 tôn phong Hiển thánh.
* Quyết tâm
Tôi hết lòng tôn kính Thánh Tâm Chúa Giê-su và Trái Tim vẹn sạch Mẹ Ma-ri-a, để nhờ đó siêng năng nhiệt thành phụng sự Chúa và phục vụ anh chị em, theo gương thánh Gio-an Êu-đê.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã chọn Thánh Gio-an Linh mục làm người rao giảng sự phong phú khôn lường của Đức Ki-tô.
Xin cho chúng con cũng biết theo gương sáng của thánh nhân và nghe lời người dạy dỗ, mà ngày càng thêm hiểu biết Chúa và trung kiên sống theo Tin mừng.
Chúng con cầu xin…
Ngày 20 tháng 8
THÁNH BÊ-NA-ĐÔ
Viện Phụ Tiến Sĩ
* Gương Thánh nhân
Thánh Bê-na-đô sinh năm 1274, tại lâu đài Phong-ten, nước Pháp, trong một gia đình nổi tiếng quí tộc và nhân đức, nên lúc nhỏ đã được cha mẹ dạy dỗ kỹ lưỡng về đạo hạnh.
Năm lên 19 tuổi, thánh nhân vâng theo tiếng Chúa gọi, dâng mình vào dòng Xi-tô là dòng tu rất khắc khổ, hằng ngày chăm lo cầu nguyện, lao động và hãm mình ép xác. Lúc đầu gia đình và anh em ngài phản đối, nhưng ngài thuyết phục cách khôn khéo, đến nỗi chẳng những mọi người đều chấp nhận, mà cả sáu anh em ngài và 24 người bạn cũng theo vào dòng với ngài tại Cốt-đo năm 1112. Nhiều bạn trẻ khác thấy gương đó cũng từ từ xin nhập dòng. Thế là nhà dòng đông người quá, bề trên phải nghĩ đến việc lập thêm nhà mới. Và năm 1115, thánh nhân được bề trên đặt làm đầu một nhóm 12 tu sĩ, đến lập tu viện tại Cơ-lơ-vô. Nhờ tài đức và sự thánh thiện của ngài, dòng phát triển rất nhanh. Ngay lúc ngài còn sống, dòng đã tăng thêm cả 160 tu viện khác nữa và ngài được bầu làm đan viện trưởng các tu viện nầy.
Dòng càng phát triển, thánh nhân càng ra sức sống thánh thiện nhân đức. Mỗi ngày ngài tự hỏi:
- Bê-na-đô, ngươi ở đây làm gì?
Mỗi lần hỏi như thế, ngài đặt thêm cho mình những việc lành phải làm, những việc hãm mình phải chấp nhận. Ngài hãm mình nhiệm nhặt đến nỗi ngài ăn như không ăn, uống như chẳng uống; ngài coi thường mọi của ăn hằng ngày. Danh tiếng ngài lan rộng khắp nơi, hương thơm nhân đức ngài tỏa lan cả vùng. Chẳng những ngài nên gương sáng trọn lành cho các tu sĩ trong dòng, mà còn lôi cuốn nhiều người từ xa đến học hỏi sống tốt như ngài. Những ai không đến được thì viết thơ nhờ ngài hướng dẫn, giải quyết các việc khó khăn trong đời sống thiêng liêng cũng như vật chất của họ. Và thánh nhân sẵn sàng trả lời cho hết mọi người. Do đó mà ngày nay thư từ của ngài còn lưu lại rất nhiều.
Thánh nhân chịu cực chịu khó làm các việc đó vì lòng mến Chúa yêu người. Ngài sống vì tình yêu, cho tình yêu, như lời ngài nói: “Tình yêu tự nó đủ cho nó, nó tự hài lòng với nó và nó là mục đích của chính nó. Nó là chính công nghiệp của mình và là chính phần thưởng cho mình. Tình yêu không tìm gặp căn cứ nào ở ngoài mình và cũng không tìm hiệu quả nào ở ngoài mình. Hiệu quả của nó là chính việc yêu mến. Tôi yêu là vì tôi; và tôi yêu là để tôi yêu. Tình yêu là một sự thật cao cả, ít là khi trở về nguyên lý của nó, khi trở lại nguồn gốc của nó, khi lộn về nguồn mạch của nó để có được dòng nước cứ chảy mãi. Trong tất cả các cảm xúc, cảm giác và cảm tình của linh hồn, chỉ có tình yêu cho phép tạo vật được đáp lại. Tạo hóa, không được bằng vai ít ra cũng được tương tự như Người. Bởi vì khi Thiên Chúa yêu, Người chẳng muốn gì khác việc được yêu lại”.
Ngoài ra nhiệt tâm lo cho dòng và hướng dẫn đàng nhân đức cho mọi người, thánh nhân còn tận tình giúp việc chung của Hội thánh. Ngài đứng ra dàn xếp và thu phục các nước trong thời gian Giáo hội ly khai, đồng thời làm tư vấn cho các vị Giáo Hoàng. Trong cuộc thánh chiến chống lại Hồi giáo lần thứ hai, Thánh nhân được Đức Giáo Hoàng Êu-gen thứ 3 giao cho đi vận động các vua chúa tham gia. Nhưng cuộc thánh chiến nầy bị thất bại, vì các tướng lãnh tham lam ích kỷ, tranh chấp quyền lợi với nhau. Đã vậy, họ còn đổ lỗi cho thánh nhân, khiến cho các nhà chức trách đạo đời phê bình chỉ trích, làm cho ngài phải buồn sầu đau khổ. Nhưng ngài không phàn nàn trách móc ai, một cam lòng chấp nhận vì lòng mến Chúa.
Thánh nhân qua đời tại Cô-lê-vô, ngày 20 tháng 8 năm 1153. Năm 1174 ngài được Đức Thánh Cha A-lét-xăn thứ 3 tôn phong Hiển thánh. Và Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ 8 nâng ngài lên Tiến sĩ Hội thánh năm 1830.
* Quyết tâm
Hết lòng lo cho mọi người tấn tới trên đàng nhân đức thánh thiện và tận tâm giúp việc Hội thánh, theo gương thánh Bê-na-đô viện phụ.
* Lời nguyện
Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh viện phụ Bê-na-đô đầy nhiệt tâm lo việc nhà Chúa, để trở nên ngọn đèn cháy sáng trong Giáo hội. Nhờ lời Người nguyện giúp cầu thay, xin cho chúng con cũng được lòng hăng hái như Người, để sống thế nào cho xứng danh là con cái ánh sáng.
Chúng con cầu xin…
Ngày 21 tháng 8
THÁNH PI-Ô
Giáo Hoàng
* Gương Thánh nhân
Thánh Pi-ô thứ 10 sinh ngày 2 tháng 6 năm 1835, tại làng Ri-ê-sô, tên thật của Ngài là Du-sép-pô Sạt-tô.
Lúc nhỏ Du-sép-pô học cấp tiểu học tại trường làng, sau đó phải đi bộ mỗi ngày hàng chục cây số để tiếp tục việc học ở trường cách xa đó vì cha mẹ nhà nghèo. Mẹ cậu thấy con đi chân không nên rán dành dụm sắm cho đôi giày. Nhưng cậu tiết kiệm vừa muốn tập hãm mình, nên mang giày đi khỏi nhà một quảng là cởi ra, đeo lên vai và đi chân không đến trường. Vì cần mẫn học hành, nên Du-sép-pô tiến tới rất nhanh và luôn được thầy bạn khen ngợi.
Thời đó Hội thánh muốn tập cho người tín hữu kính trọng Thánh Thể nên không cho phép trẻ nhỏ rước lễ sớm. Vì thế, mãi đến năm 11 tuổi, Du-sép-pô mới được rước Chúa lần đầu. Và ngay từ đó cậu đã tỏ ý muốn dâng mình cho Chúa. Cha cậu từ chối, vì thấy gia đình nghèo, muốn cho cậu ở nhà giúp đỡ, còn bà mẹ thì khuyến khích tán thành. Nhưng rồi sau đó ông cũng vui lòng vâng theo thánh ý Chúa, cho con mình đi theo tiếng Chúa gọi.
Thế là năm lên 15 tuổi, cậu Du-sép-pô gia nhập chủng viện ở Pa-đua. Hằng ngày cậu chuyên cần học tập và rèn luyện các nhân đức. Nhưng chưa được bao lâu, cha cậu qua đời, để lại người vợ và 7 đứa con nheo nhóc nghèo khổ. Cậu thấy cảnh gia đình khốn khổ quá, nên định xin trở về giúp đỡ. Nhưng mẹ cậu không chấp nhận. Bà khuyến khích con dâng tất cả cho Chúa, lo tiếp tục tu luyện.
Năm 1858, Du-sép-pô được phong chức Linh mục và đi giúp họ đạo Tom-bô-lô. Vì thấy ngài tận tình săn sóc đoàn chiên và nhân đức, nên Đức Giám mục chọn ngài làm giám đốc chủng viện. Năm 1884, Đức Giáo Hoàng Lê-ô thứ 13 đặt ngài lên làm Giám mục giáo phận Măn-tua. Sau ngày thụ phong, ngài về quê thăm mẹ và khoe chiếc nhẫn Giám mục của mình. Mẹ ngài cũng cho ngài xem chiếc nhẫn cưới và nói:
- Nếu không có chiếc nhẫn nầy, thì làm sao con có chiếc nhẫn kia?...
Lúc đó giáo phận Măn-tua đang sa sút về phần đạo đức cũng như luân lý, thánh nhân đi kinh lý khắp nơi, dạy dỗ kêu gọi mọi người ăn năn cải thiện. Và nhờ ơn Chúa, ngài đã đưa cả giáo phận trở lại đạo sốt sắng.
Vì thấy ngài nhân đức và làm việc kết quả như thế, nên năm 1893, Đức Giáo Hoàng phong ngài làm Hồng Y giáo chủ Vê-nê-si. Và sau khi Đức Lê-ô thứ 13 qua đời, ngài lại được bầu làm Giáo Hoàng kế vị, với biệt hiệu Pi-ô thứ 10.
Từ ngày nhậm chức Giáo Hoàng, thánh nhân càng hoạt động nhiệt thành hơn. Ngài “canh tân mọi sự trong Đức Ki-tô”. Đó là khẩu hiệu của ngài: ngài cho phép trẻ nhỏ rước lễ sớm và khuyến khích việc rước Chúa hằng ngày. Về giáo luật, phụng vụ, Kinh Thánh, ngài cho nghiên cứu và canh tân. Khi nói đến các thánh vịnh ngài viết:
“Nhờ Chúa linh ứng, các thánh vịnh đã được soạn ra và được góp lại trong Kinh Thánh. Ngay từ buổi đầu của Hội thánh, thánh vịnh đã giúp nuôi dưỡng lòng đạo đức của tín hữu một cách tuyệt vời, để họ tiến dâng Thiên Chúa lễ tế ngợi khen, tức là hoa quả của những môi miệng tuyên xưng Danh Người. Không những thể theo thói quen nhận được từ lu |