PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG 07

Tháng 01 I Tháng 02 I Tháng 03
Tháng 04 I Tháng 05 I Tháng 06 I Tháng 07
Tháng 08
I Tháng 09 I Tháng 10 I Tháng 11 I Tháng 12

 

 

Ngày 03 tháng 07
THÁNH TÔ-MA TÔNG ĐỒ

Gương Thánh nhân

Thánh Tô-ma là người Do-thái ở Ga-li-lê. Mặc dầu ít học, nhưng ngài có óc tìm tòi, một ý chí kiên vững, một tinh thần tận tụy hy sinh. Khi được Chúa gọi, ngài đã sẵn sàng bỏ mọi sự đi theo Chúa, và được chọn vào số các tông đồ.

Tinh thần hy sinh tận tụy của thánh nhân biểu lộ rõ khi Chúa Giê-su quyết định đến Giu-đê-a để cứu sống La-da-rô. Các tông đồ ngăn cản:

- “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm cách ném đá Thầy, mà Thầy lại còn đến đó sao?” ( Ga. 11,8)

Nhưng thánh nhân cương quyết sống chết trung thành với Chúa, Ngài nói với các tông đồ:

- “Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng đi để cùng chết với Thầy” (Ga. 11, 16)

Lúc Chúa Giê-su từ giả các tông đồ đi chịu chết, Người thấy các ông buồn sầu thì an ủi:

- “Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy… Thầy đi dọn chỗ cho anh em… Và Thầy đi đâu thì anh em đã biết đường rồi”.

Ông Tô-ma nói với Đức Giê-su:

- Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? ( Ga. 14. 1-5)

Câu nói trên tỏ rõ Thánh nhân nhiệt tình với Chúa, muốn theo Chúa, phụng sự Chúa đến cùng.

Lòng nhiệt thành đối với Chúa Giê-su còn biểu hiện rõ khi các tông đồ thuật lại Chúa đã sống lại và đã hiện ra với các ông, lúc thánh nhân vắng mặt.

Nhưng Ngài đòi cho được thấy tận mắt, sờ tận tay mới tin. Tám ngày sau, Chúa lại hiện ra, có mặt Thánh nhân với các tông đồ. Và Chúa bảo Ngài:

- “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra và đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.

Ông Tô-ma thưa Người:

- “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con” (Ga. 20, 27-28).

Thánh nhân đã công khai tuyên xưng Chúa là Thiên Chúa, với một niềm tin vững vàng mạnh mẽ, giúp cho mọi người tin thật Chúa Giê-su đã sống lại, như lời Thánh Ghê-gô-ri-ô Cả nói:

Tô-ma nghĩa là “sinh đôi”, là một trong nhóm Mười Hai, không ở với họ khi Đức Giê-su đến. Chỉ có người môn đệ ấy vắng mặt. Khi về, ông nghe kể lại sự việc đã xảy ra, nhưng từ chối những điều đã nghe. Rồi Chúa lại đến và giơ cạnh sườn cho người môn đệ không tin ấy sờ. Người chìa cả tay ra và khi chỉ cho ông thấy các vết thương Người, Người đã chữa lành sự cứng lòng của ông. Anh em thân mến, anh em thấy những việc đó thế nào?

Không phải tình cờ, nhưng Chúa đã an bài xảy ra như vậy. Lòng từ bi cao cả của Người đã hành động một cách tuyệt vời, để nhờ người môn đệ hoài nghi ấy sờ vào các thương tích nơi thân thể Thầy mình, mà vết thương cứng lòng tin ở nơi ta được chữa khỏi. Sự cứng lòng tin của Tô-ma còn giúp ích cho lòng tin của ta hơn là đức tin của các tông đồ khác.

“Bởi vì ông đã sờ vào Chúa rồi mới tin, nên tâm trí ta cũng đủ bỏ được mọi nghi nan và trở nên vững vàng trong đức tin. Quả vậy, người môn đệ ấy khi nghi nan mà sờ mó thì đã trở thành nhân chứng của sự kiện phục sinh.

Anh em nghĩ toàn là chuyện tình cờ sao? Tình cờ người môn đệ yêu dấu ấy vắng mặt hôm đó rồi về đã nghe, nghe mà hoài nghi, hoài nghi nên đã sờ và đã tin sao?” 1

Lòng tin mạnh mẽ đã giúp thánh nhân nhiệt thành rao giảng đạo Chúa ở Ấn-độ, và chịu chết đổ máu ra làm chứng cho Chúa trên nước này.

Quyết tâm

Noi gương Thánh Tô-ma tông đồ, tôi luôn cố gắng tìm tòi học biết niềm tin vào Chúa Ki-tô, để giúp những người cứng lòng được tin thật Người là Thiên Chúa, là Đấng Cứu độ trần gian.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng, hôm nay chúng con hoan hỷ mầng lễ Thánh Tô-ma tông đồ. Xin nhận lời Thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà củng cố lòng tin của chúng con, để chúng con được sống muôn đời khi cùng với Thánh nhân tuyên xưng Đức Giêsu-Kitô là Chúa, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.

 

THÁNH PHI-LÍP-PHÊ PHAN VĂN MINH
Linh mục tử đạo

Gương Thánh nhân

Để cứu rỗi loài người, Chúa Giê-su đã nộp mình chịu chết, chết đau khổ trên Thánh giá!... Noi gương Chúa, Cha Phi-líp-phê Minh cũng nộp mình chịu bắt bớ, tù ngục, giết chết, vì muốn cứu gia đình ông trùm Lựu khỏi tai họa khổ sở.

Dưới thời vua Tự Đức cấm đạo, cha Minh đang ẩn náu trong nhà ông trùm Lựu ở họ Mặc Bắc, quan quân đến bao vây lục soát, vì có người tố cáo ông chứa chấp Đạo trưởng (Linh mục). Thấy họ tra khảo ông trùm dữ dội, và hăm dọa tịch thu tài sản, bắt bớ giết hại người trong nhà, cha ra trình diện, nhận mình là Linh mục để cứu gia đình ông thoát nạn. Thật đúng là “mục tử nhân lành hiến mạng sống vì đoàn chiên…”

Phi-líp-phê Phan Văn Minh sinh năm 1615, tại họ đạo Cái Mơn, thuộc tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). Cậu là con thứ 12 trong số 14 người con trong gia đình. Anh em đông, Chúa lại cho cha mẹ mất sớm, cậu phải nhờ người chị đùm bọc, nuôi dưỡng, dạy dỗ. Dù vậy, cậu cũng được học hỏi giáo lý đầy đủ, để rước lễ lần đầu và lãnh Bí tích Thêm sức năm 13 tuổi. Chính Đức Cha Từ (Taberd) đã ban phép Thêm sức cho cậu. Dịp nầy, cậu xin Đức Cha cho cậu theo ngài và ngỏ ý muốn dâng mình cho Chúa. Thấy cậu thông minh hiền hậu, Đức Cha thương, đem về dạy dỗ huấn luyện, rồi cho tu học tại chủng viện Lái Thiêu.

Được vào chủng viện, cậu Minh hết sức vui mầng tạ ơn Chúa. Và để tỏ lòng biết ơn, cậu cố gắng học hành luyện tập nhân đức. Nhưng chẳng được bao lâu, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cấm đạo, chủng viện phải đóng cửa, các cha và chủng sinh phải tìm nơi ẩn náu. Dịp may lúc đó Đức Cha gởi được thầy Minh đến chủng viện Pê-năng (Mã-lai), tiếp tục học hành tu luyện. Và sau khi học xong thần học, thầy trở về nước, được Đức Cha Thể phong chức Linh mục năm 1846, và sai đi giúp các họ đạo từ Nam Vang cho đến Mặc Bắc.

Lúc đó, vua Minh Mạng băng hà, vua Thiệu Trị vừa lên ngôi thay thế, việc bắt đạo có phần bớt gắt gao. Nhờ đó cha Minh đi được nhiều nơi thăm viếng, ủy lạo, dạy đạo và ban các Bí tích cho giáo dân. Cánh đồng truyền giáo của cha thật rộng rãi mênh mông. Cha phải di chuyển luôn mới có thể đáp ứng nhu cầu mục vụ cho các họ đạo, nhiều ngày cha phải lặn lội dầm mưa dải nắng rất cực khổ. Hơn sáu năm trời, từ năm 1846 đến năm 1852, cha đã đi khắp các họ đạo Đầu Nước (Cù lao giêng), Xoài Mút, Chợ Bưng, Ba Giồng, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi Xan, Giồng Rùm (Phước Hảo), Thôn Rôn (Cầu Ngang), Rạch Rập, Chà Và (Vĩnh Kim), Cái Đôi, Mặc Bắc… Đến đâu cha cũng lo ngồi toà giải tội, dạy giáo lý, dâng Thánh lễ cho giáo hữu tham dự, rồi tiếp tục đi đến nơi khác.

Năm 1853, việc bắt đạo trở lại gắt gao. Vua Tự Đức ra lệnh chém đầu thả trôi sông các Linh mục ngoại quốc, và xử tử các giáo sĩ bản quốc. Dù vậy, Cha Minh vẫn can đảm hy sinh đi lại lo cho giáo dân.

Lúc đó, cha Phê-rô Lựu đang làm chánh sở họ Mặc Bắc, thì có lệnh Bề trên thuyên chuyển đi nơi khác; Cha Minh đến thay thế và cư ngụ tại nhà ông Trùm Lựu. Khi ấy có một người tên là Bếp Nhẫn, say mê cờ bạc rượu chè. Anh ta không biết cha Lựu đã đổi đi, nên tố cáo quan đến bắt cha tại nhà ông trùm để nhận lãnh tiền thưởng mà ăn chơi. Quan liền sai quân lính đến bao vây lục soát nhà ông trùm. Thấy ông bị tra khảo hăm dọa dữ dội, cha Minh sợ vì mình mà gia đình ông phải khổ, nên ra trình diện và nhận là Linh mục. Thế là cha bị bắt dẫn về giam tại tỉnh Vĩnh Long, ngày 26 tháng 02 năm 1853.

Trong thời gian hơn 04 tháng giam giữ ở đây, nhiều lần cha bị tra tấn đòn vọt, buộc bước qua thánh giá chối Chúa. Nhưng Cha luôn cương quyết trung thành với Chúa, nên quan bị kết án tử hình. Và ngày 03 tháng 07 cha đã chịu chém đầu, chịu chết vì Chúa tại pháp trường Đình Khao, gần Vĩnh Long.

Ngày 27 tháng 05 năm 1900, Đức Thánh Cha Lê-ô 13 phong Chân phước cho cha và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 đã suy tôn ngài lên Hiển thánh.

Quyết tâm

Noi gương thánh Phi-líp-phê Minh Linh mục tử đạo, hằng ngày nhiệt thành rao giảng đạo Chúa, và sẵn sàng hy sinh chính mạng sống mình để cứu mọi người phần hồn phần xác.

Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 04 tháng 07
THÁNH NỮ Ê-LI-SA-BẾT BỒ-ĐÀO-NHA

Gương Thánh nhân

Thánh nữ Ê-li-sa-bết sinh năm 1271, con của vua Pi-ê-trô thứ 3 ở A-ra-gon.

Lớn lên, Thánh nữ được ông bà nội dạy dỗ hướng dẫn đàng nhân đức, nên năm 8 tuổi, Ngài đã biết chuyên cần cầu nguyện và sống hy sinh khắc khổ. Mọi người trong triều đình coi Ngài như một thiên thần.

Mới 12 tuổi, Thánh nhân đã được nhiều hoàng tử đến xin cưới. Ngài từ chối lời cầu hôn của hoàng tử nước Anh và nước Ý, nhưng sau cùng đã nhận lời thành hôn với hoàng tử Đơ-ni nước Bồ-đào-nha.

Từ ngày lên làm hoàng hậu, Ngài luôn chu toàn bổn phận làm vợ, nhưng lúc nào cũng hướng lòng trí về Chúa, phụ giúp xây dựng trang hoàng các Thánh đường, và làm phúc bố thí cho người nghèo khổ, bệnh tật, nhất là các trẻ mồ côi. Ngoài việc bác ái từ thiện, Thánh nữ còn làm trung gian hoà giải giữa các gia đình bất hoà bất thuận và các dân tộc chia rẽ hiềm khích nhau. Chính Ngài đã đứng ra giải hoà giữa vua xứ A-ra-gon với vua xứ Cát-tin, và vua xứ Cát-tin với vua nước Bồ-đào-nha.

Ngài được mọi người tặng cho danh hiệu là “Sứ giả Hoà Bình”. Ngài đúng thật là con Thiên Chúa, như Thánh Giám mục Phê-rô Kim ngôn tuyên bố:

“Tin mừng nói: Phúc cho những kẻ tác tạo hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Thật là hợp lý khi các nhân đức Ki-tô giáo phát triển nơi người có được sự hoà bình an ủi Ki-tô giáo đối với mọi người, và chẳng ai đáng được gọi là con Thiên Chúa nếu không đáng mang tên là kẻ tác tạo hoà bình”.

“Vậy anh em thân mến, chúng ta phải tuân giữ các giới răn vì chúng ta là sự sống; ta hãy giữ tình huynh đệ chặt chẽ bằng những mối dây bình an sâu xa, và hãy siết chặt thêm bằng liên hệ cứu độ của lòng yêu mến nhau trong tình bác ái, vì bác ái sẽ phủ lấp được nhiều tội. Thế nên phải lấy hết lòng ao ước mà ôm ấp lòng yêu mến vì nó có thể đem lại mọi sự lành cũng như mọi phần thưởng. Phải gìn giữ sự bình an hơn hết mọi nhân đức, bởi vì Thiên Chúa luôn luôn ở trong sự bình an”. 1
Nhưng trong khi lo đem lại bình an hạnh phúc đến cho người khác, chính Thánh nữ phải chịu nhiều gian khổ thử thách. Vua Đô-ni chồng Ngài đối xử với Ngài rất tệ bạc, ông ta còn thất tín với Ngài, nhưng Ngài vẫn âm thầm chấp nhận và cầu xin Chúa thương giúp. Và Chúa đã nhận lời Ngài. Một hôm Ngài bị tố cáo thông đồng với người giúp việc. Nhà vua ghen tức ra lệnh cho một chủ lò vôi:

- Nếu có ai hỏi: Lệnh vua đã thi hành chưa? thì hãy bắt nó bỏ vào lò vôi cho chết.

Và ông ta sai A-lon-sô là kẻ bị tố cáo thông đồng với Thánh nữ đi hỏi như thế; nhưng dọc đường anh ta ghé vào nhà thờ dự Thánh lễ. Nhà vua nóng lòng muốn biết coi anh ta đã chết chưa, nên lại sai tên vu cáo đến hỏi chủ lò vôi. Thế là y bị tống vào lò. Lúc lễ xong, A-lon-sô đến hỏi chủ lò vôi và về trình lại cho nhà vua. Ông ta ngạc nhiên thấy A-lon-sô còn sống thì hiểu là anh ta vô tội. Từ đó nhà vua hối hận, đối xử thân tình với Thánh nữ và ăn năn trở lại với Chúa.

Thánh nữ qua đời ngày 4 tháng 7 năm 1336, và được Đức Giáo Hoàng Ur-ba-nô thứ 8 tôn phong Hiển thánh.

Quyết tâm

Hằng ngày tôi sống hy sinh bác ái, sẵn sàng thương yêu giúp đỡ mọi người, giải hoà cho những kẻ bất hoà bất thuận, và chấp nhận khốn khó vì Chúa, theo gương Thánh nữ Ê-li-sa-bết.

Lời nguyện

Lạy Chúa là Đấng tác tạo hoà bình và yêu chuộng bác ái, Chúa đã ban cho Thánh Ê-li-sa-bết đặc ân hoà giải những kẻ bất hoà.

Xin nhận lời nguyện cầu của Thánh nữ mà cho chúng con biết nổ lực xây dựng hoà bình, để đáng được gọi là con cái Chúa. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH GIU-SE NGUYỄN ĐÌNH UYỂN
Thầy Giảng Tử Đạo

Gương Thánh nhân

Lúc thấy cái chết đang gần kề, thánh Phao-lô đã viết thư khuyên nhủ ông Ti-mô-tê là người môn đệ thân thiết của ngài:

“Trước mặt Thiên Chúa và Đức Ki-tô Giê-su Đấng sẽ phán xét kẻ sống và kẻ chết, Đấng sẽ xuất hiện và nắm vương quyền, tôi tha thiết khuyên anh: hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện…” (2 Tm. 4, 1-2).

Thánh Giu-se Uyển tử đạo hôm nay tuy không phải là môn đệ trực tiếp của thánh Phao-lô, ngài cũng vâng nghe và làm theo lời thánh tông đồ khuyên nhủ. Suốt đời ngài tận tâm lo rao giảng Lời Chúa, lúc chưa bị bắt cũng như khi bị giam cầm tù ngục. Ngài là thầy giảng. Ngài đã thi hành sứ vụ đó cho đến chết, khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện.

Giu-se Nguyễn Đình Uyển sinh năm 1775, tại Ninh Cường, tỉnh Nam Định. Ngay từ nhỏ, cậu đã được Chúa gọi giúp việc. Cậu sẵn sàng nghe theo tiếng Chúa gọi, dâng mình vào nhà Chúa học tập tu luyện. Sau một thời gian tu học, Bề trên thấy cậu có lòng đạo đức và hăng say hoạt động tông đồ, nên cho được làm thầy giảng và sai đi giúp việc Đức Cha Minh, thuộc giáo phận Đông Đàng Ngoài. Từ đó, thầy tận tâm chu toàn bổn phận, trở nên trợ tá đắc lực của Đức Cha. Mỗi lần đi kinh lý trong giáo phận, Đức Cha đều đưa thầy theo phụ giúp mọi việc, từ việc vật chất đến việc dạy giáo lý kinh bổn. Việc nào thầy cũng làm tươm tất chu đáo. Điều làm cho Đức Cha vui lòng nhất là đi tới đâu, thầy cũng nêu gương vâng lời, khiêm tốn, thánh thiện cho mọi người.

Nhưng việc bắt đạo lắng dịu chưa được bao lâu, thì năm 1838 lại bùng nổ dữ dội, nhất là ở giáo phận Đông Đàng Ngoài, nơi Đức Cha Minh đảm trách. Đức Cha và các cha phải ẩn tránh, giao cho thầy Uyển điều hành công cuộc mục vụ giáo xứ Tiên Chu. Mặc dù tình trạng rất khó khăn nguy hiểm, thầy vẫn tận tâm hoàn thành trách vụ: điều khiển mọi sinh hoạt trong giáo xứ, củng cố đức tin cho các tín hữu, hướng dẫn thanh thiếu niên sống đạo.

Thầy đang hoạt động tông đồ hăng say như thế thì ngày 29 tháng 05 năm 1838, quan quân kéo đến bao vây giáo xứ Tiên Chu, tìm bắt Đức Cha Minh. Vì không tìm được Đức Cha, quan ra lệnh bắt thầy, dẫn về Hưng Yên. Tới nơi, quan điều tra lý lịch thầy, buộc khai nơi Đức Cha và các Linh mục ẩn lánh. Nhưng thầy cương quyết không khai báo điều gì, nên bị đóng gông, tống giam vào ngục.

Sáng hôm sau, quan truyền điệu thầy ra pháp đình, buộc bước qua thập giá bỏ đạo. Thầy cứ từ chối mãi, khiến quan nổi giận, cho đánh đòn dữ dội tra hỏi về đạo. Nhân dịp nầy, thầy giảng đạo cho họ, mặc dầu biết chắc mình sẽ bị hành hạ khổ sở hơn, vì cần phải “rao giảng Lời Chúa khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”. Và đúng như thầy biết trước, thầy phải chịu một trận đòn tàn bạo hơn, bị xiềng xích và tống giam vào ngục.

Sau một thời gian, quan lại cho điệu thầy ra tra tấn, đánh đập, và bảo quá khoá bỏ đạo. Nhưng vị anh hùng đức tin vẫn cương quyết, không bước qua Thánh giá. Quan liền cho lính lôi thầy qua, thầy ngồi bệt xuống đất nên chúng không lôi qua được. Nổi giận, quan truyền quân lính khiêng thầy qua, nhưng thầy co hai chân lại, không dám chạm đến Thánh giá Chúa.

Thấy không lay chuyển nổi đức tin sắt đá của vị anh hùng, quan đệ đơn xin vua kết án trảm quyết. Song trước khi nhận được bản án, thầy đã chết rũ tù ngày 04 tháng 07 năm 1838, vì tuổi già sức yếu, nhất là vì những hình khổ nặng nề!...

Ngày 21 tháng 05 năm 1900, Đức Thánh Cha Lê-ô thứ 13 tôn phong Chân Phước cho thầy. Và Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh, ngày 19 tháng 06 năm 1988.

Quyết tâm

Nhiệt thành rao giảng Đạo Chúa, “ khi thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện”, khi dễ dãi cũng như lúc khó khăn nguy hiểm, và sẵn sàng hy sinh chịu khổ chịu chết vì Chúa, theo gương thánh Giu-se Uyển, thầy giảng tử đạo.

Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 05 tháng 07
THÁNH AN-TÔN MA-RI-A GIA-CA-RI-A,
Linh mục

Gương Thánh nhân

Thánh An-tôn Ma-ri-a Gia-ca-ri-a sinh tại Giê-mô-na năm 1502. Mồ côi cha từ nhỏ, ngài được người mẹ dạy dỗ tập luyện sống hãm mình bác ái hằng ngày.

Lúc đó quê hương Thánh nhân vừa trải qua một cuộc chiến tranh khốc liệt, mọi người đều sẵn sàng chia sẻ cơm áo với đồng bào. Một hôm trên đường đi học về, Ngài gặp một người nghèo trần trụi, Ngài đã cởi chiếc áo đang mặc cho người đó. Và Ngài thường nhịn bớt phần ăn chia sớt cho những bạn đói khổ.

Sau khi học xong triết và y học, Thánh nhân đã dâng mình cho Chúa, theo học các môn Thánh Kinh, thần học, tu đức. Và năm 1528, Ngài được thụ phong Linh mục. Từ đây Ngài thực hành việc bác ái tông đồ nhiệt thành hơn. Ngài thăm viếng các bệnh viện, nhà tù và các xóm lao động nghèo khổ, nâng đỡ những kẻ bất hạnh, khuyên bảo những người lầm lạc trở về với Chúa. Nhất là lúc đó bè rối Lu-te đang lan tràn, Thánh nhân đi khắp nơi rao giảng kêu gọi họ trở lại với đức tin chân chính.

Và để thêm người cộng tác trong công cuộc tông đồ và bác ái, Thánh nhân đã thành lập một hội dòng tại Thánh đường Bác-na-bê, vì thế người ta gọi các tu sĩ dòng của Ngài là Bác-na-bích. Dòng nầy sống theo tinh thần Thánh Phao-lô, rao giảng Chúa Giê-su chịu đóng đinh để kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. Ngài luôn khuyên bảo các môn sinh can đảm rao truyền tình thương của Chúa, theo gương Thánh Phao-lô, Ngài nói:

“Chúng tôi là đồ điên dại vì Đức Ki-tô, Thánh Phao-lô, vị Thánh lãnh đạo và là chính bổn mạng của chúng ta đã nói như thế về chính Ngài, về các tông đồ khác, và hết thảy mọi người tuyên giữ luật sống Ki-tô-giáo và tông đồ. Nhưng Anh em thân mến, chúng ta đừng bỡ ngỡ và sợ hãi về điều đó, bởi vì môn đồ không thể hơn Thầy và tôi tớ không hơn chủ. Những kẻ chống lại ta thì tự mình làm hại mình. Nhưng lại khiến ta được lập công; họ thêm vinh quang cho triều thiên đời đời của ta, và kéo thịnh nộ của Thiên Chúa xuống trên chính họ; ta phải thương và yêu họ hơn là ghét và oán họ. Ta còn phải cầu nguyện cho họ…”

Qua lời nói trên, Thánh nhân tỏ ra rất mực yêu thương những người lầm lạc và sẵn sàng giúp đỡ cầu nguyện cho họ. Ví thế, năm 1530, Thánh nhân hợp tác với bà Tô-ren-li lập thêm hội dòng nữ, để tiếp tục phụng sự Chúa với Ngài.

Năm 1539, vì nhiệt thành phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn, Thánh nhân đã kiệt sức, nên trở về sống với mẹ Ngài. Và ngày 5 tháng 7, Ngài qua đời tại nơi Ngài sinh trưởng.

Quyết tâm:

Noi gương Thánh An-tôn Ma-ri-a Gia-ca-ri-a, tôi hết lòng thương giúp người nghèo khổ bệnh tật, nhất là những người lầm lạc tội lỗi, và mời gọi nhiều người cộng tác, giúp họ ăn năn trở về với Chúa.

Lời nguyện :

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Thánh Phao-lô tông đồ ơn hiểu tuyệt vời về Đức Giê-su Ki-tô, và cũng là ơn đã thúc đẩy Thánh An-tôn Ma-ri-a không ngừng rao giảng Tin mừng Cứu độ trong Hội Thánh.

Nay xin Chúa cũng nhận lời Thánh nhân chuyển cầu, mà ban cho chúng con sống theo ơn hiểu biết ấy.

Chúng con cầu xin…

 

Ngày 06 tháng 07
THÁNH MA-RI-A GÔ-RẾT-TI
Trinh Nữ Tử Đạo

Gương Thánh nhân

Thánh nữ Ma-ri-a Gô-rết-ti sinh tại Cô-ri-na-đô nước Ý, ngày 16 tháng 10 năm 1890, trong một gia đình nghèo khó lại đông con. Ngài là con thứ ba trong số 7 anh chị em. Cha mẹ Ngài phải làm lụng vất vả hằng ngày để nuôi con, dù vậy ông bà cũng hết sức lo dạy dỗ con cái về bề đạo hạnh.

Thánh nữ mới lên 10 tuổi thì người cha qua đời, để lại 8 mẹ con đói khát nghèo khổ. Ngài phải lo việc nội trợ và chăm sóc các em, để cho mẹ đi làm nuôi sống gia đình. Ngài siêng năng, cần mẫn, tươm tất mọi bổn phận trong ngoài theo ý mẹ. Đau ốm mệt nhọc Ngài không dám nghỉ vì lòng thương em mến mẹ, và dẫu vất vả bận rộn bao nhiêu, Thánh nhân cũng dùng thời giờ đọc kinh cầu nguyện hằng ngày.

Mới lên 12 tuổi, Thánh nữ đã duyên dáng xinh đẹp, khiến cho cậu trai A-lét-xăn-trô ở gần bên để ý thèm thuồng. Thường ngày cậu ve vản bên Ma-ri-a, và khi thấy Ngài làm việc gì nặng nề thì phụ giúp. Ngài thật thà nghĩ rằng cậu có lòng tốt với mình, nên rất biết ơn và quý mến. Nhưng ngày 5 tháng 7 năm 1902, lợi dụng lúc mọi người đi vắng, A-lét-xăn-trô bắt ép Thánh nữ phạm tội, Ngài mạnh mẽ chống đối cự tuyệt; A-lét-xăn-trô nài ép mãi không được thì tức giận lấy dao đâm Ngài bị thương nặng, đến nỗi hôm sau Thánh nữ đã chết tại bệnh viện. Nhưng trước khi tắt thở, Ngài đã trối tha thứ cho A-lét-xăn-trô, và muốn cho anh cũng được lên thiên đàng với Ngài.

Năm 1950, Đức Giáo Hoàng Pi-ô 12 đã tôn phong Thánh nữ lên bậc hiển Thánh, trước sự hiện diện của bà mẹ 87 tuổi và cả A-lét-xăn-trô là kẻ đã giết Ngài. Nhưng giờ nầy ông ta không còn hung hăng độc ác nữa, mà đã trở nên người đạo đức thánh thiện.

Trong bài giảng lễ phong thánh cho Thánh nữ, Đức Giáo Hoàng đã khen ngợi Thánh nữ và kêu gọi mọi người noi gương sáng lạn của Ngài: “Như mọi người biết thiếu nữ ấy không có khí giới nào mà phải đương đầu với một cuộc tấn công rất dữ tợn. Một sức mạnh hung tợn và mù quáng thình lình xông tới, định làm nhơ nhớp sự trinh trong như thiên thần của cô… Thế là được ơn trên trời giúp đỡ và đem ý chí quãng đại can trường đáp trả, cô đã hy sinh mạng sống, và không mất vinh dự đồng trinh để giữ mình luôn trong sạch đẹp lòng Chúa”.

“Trong cuộc đời của người thiếu nữ khiêm cung ấy, mà ta vừa lược lại những nét chính, ta có thể thấy một vẻ gì không những xứng đáng với thiên quốc mà còn đáng cho thời đại ta ca ngợi và kính yêu. Ước gì bậc cha mẹ trong các gia đình thấy rõ bổn phận của mình phải giáo dục những đứa con mà Chúa đã ban cho mình sống trong sự ngay chính, thánh thiện, can trường và phù hợp với các giới răn của đạo Công giáo, được như vậy thì khi nhân đức củacon cái gặp gian nan, chúng sẽ có thể nhờ ơn Chúa giúp mà lướt thắng được một cách an toàn, trong trắng và bất khuất.

Ước gì tuổi trẻ vui tươi và tuổi thanh niên hăng hái cũng hãy học biết, đừng khốn nạn sống buông theo những thú vui nhục dục mau qua và giả dối, hoặc theo các hấp dẫn quyến rũ của các nết xấu; nhưng ngược lại hãy hăng say cố gắng vươn tới sự trọn lành trong đời sống luân lý Ki-tô giáo, cho dù có phải trải qua những khó khăn vất vả. Với ý chí cương quyết, được ơn trên phù hộ, có ngày mọi người chúng ta sẽ có thể đạt tới sự trọn lành ấy nhờ sự cố gắng, làm việc và cầu nguyện”. 1

Quyết tâm

Tôi cương quyết chống trả các chước cám dỗ của ma quỷ, xác thịt, thế gian, để giữ mình luôn trong sạch đẹp lòng Chúa, dù có gian khổ chết chóc cũng cam lòng, theo gương Thánh trinh nữ Ma-ri-a Gô-rết-ti.

Lời nguyện

Lạy Chúa là nguồn mạch sự trong trắng và là Đấng yêu mến đức khiết tịnh, Chúa dủ ban cho Thánh nữ Ma-ri-a Gô-rết-ti ngay giữa tuổi hoa niên, ơn chiến đấu, can trường để lãnh vòng hoa chiến thắng và phúc tử đạo. Vì lời Thánh nữ chuyển cầu, xin cho chúng con được bền tâm tuân theo các điều răn của Chúa.

Chúng con cầu xin…

 

Ngày 10 tháng 07
THÁNH PHÊ-RÔ NGUYỄN KHẮC TỰ
VÀ AN-TÔN NGUYỄN HỮU HUỲNH
Thầy Giảng và Trùm Họ tử đạo

Gương Thánh nhân

Theo Chúa là “bỏ mình vác thập giá mình hằng ngày”. Chúa Giê-su đã tuyên bố rõ ràng như thế. Người nói trước cho các môn đệ:

“Hãy coi chừng người đời: Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho các dân ngoại được biết… Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” (Mt. 10, 17-29).

Bị thử thách bách hại là số phận của người môn đệ Chúa, vì nhờ đó họ có dịp làm chứng cho Chúa, và cũng nhờ đó mà Nước Trời mới đến được trần gian. Điều quan trọng là phải kiên trì bền đỗ đến cùng, vì chỉ khi kẻ bền chí đến cùng mới được cứu thoát, như trường hợp của hai thánh Phê-rô Tự và An-tôn Quỳnh tử đạo hôm nay. Các ngài đã bị bắt vì Chúa, bị gông cùm, tù ngục, khổ hình ròng rã hai năm trời, để được lãnh triều thiên tử đạo vinh hiển muôn đời…

Phê-rô Nguyễn Khắc Tự sinh năm 1808, tại Ninh Bình. Cậu dâng mình cho Chúa ngay từ lúc nhỏ, và sau thời gian tu học, đã được Bề Trên cho làm thầy giảng, sai đi giảng đạo với cha già Quế. Sau khi cha già qua đời, thầy được cử đến giúp cha Cao là Linh mục thừa sai người Pháp.

Trong thời gian giúp cha Cao, thầy được cha và giáo dân quý mến, vì thầy nhiệt thành chăm lo việc Chúa, và sẵn sàng thương yêu giúp đỡ mọi người. Nhưng thầy chỉ giúp được bốn năm thì cha Cao bị bắt. Vì có người chỉ điểm, ngày 31 tháng 07 năm 1938, quân lính đến bắt cha Cao. Trong lúc họ dẫn cha đi, thầy chạy theo xưng mình là thầy giảng, là đệ tử của Cha, và xin được cùng sống chết với cha. Thật là một cử chỉ anh hùng, một lòng trung thành rất đáng khâm phục. Lúc Chúa Giê-su bị bắt, các tông đồ môn đệ khiếp sợ chạy trốn; còn thầy thì khi cha mình bị bắt, đã can đảm quyết chí theo ngài, để cùng chịu gian khổ chịu chết với ngài.

Thế là quân lính bắt thầy cùng với cha Cao, giải về Đồng Hới, giam chung với cha Khoa, cha Điểm và Năm Quỳnh là ông trùm họ đạo Mỹ Lương.

An-tôn Nguyễn Hữu Quỳnh (quen gọi là Năm Quỳnh) sinh năm 1768, tại Mỹ Lương, tỉnh Quảng Bình. Năm 32 tuổi, cậu gia nhập đội quân của Nguyễn Ánh, chống lại Tây Sơn, được thăng chức Vệ Uý. Nhưng vì thấy cuộc sống trong quân ngũ cả trở việc thờ Chúa, nên cậu xin giải ngũ, về học nghề thuốc và trở nên lương y nổi tiếng. Nhờ đó, cậu được khá giả.

Càng làm ăn khá giả, ông Quỳnh càng thương giúp người nghèo, vì ông nghĩ của cải Chúa ban là để phục vụ mọi người, để làm sáng Danh Chúa, chớ không phải chỉ để lo cho bản thân, cho gia đình. Vợ con thấy ông giúp đỡ người nghèo rộng rãi thì than phiền trách móc. Nhưng ông bảo họ: Chúa dạy phải thương giúp mọi người nhất là những người nghèo khó. Thương giúp người nghèo khó là thương giúp Chúa, và Chúa sẽ thưởng, vì Chúa đã nói rõ: “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy…” (Mt. 25,40).

Ngoài đức ái sâu xa, ông Năm Quỳnh còn nhiệt thành giúp việc tông đồ. Ông phụ với Đức Cha Bình dạy giáo lý trong hạt và làm trùm trưởng họ đạo Mỹ Lương. Trong thời vua Minh Mạng bắt đạo, truy nả các Linh mục thừa sai, ông rời bỏ gia đình vợ con, đến Kim Sen đào một hầm trú ẩn trong đất của ông để che giấu các nhà truyền giáo. Thấy ông vắng mặt lâu ngày, các quan bắt các gia nhân của ông điều tra. Và vì bị đòn đau đớn quá chịu không nổi, họ đã khai chỗ ông ở. Thế là năm 1838, quân lính đã đến bắt ông, giải về Đồng Hới.

Ở trại giam Đồng Hới, ông vui mầng gặp được cha Cao, cha Điểm, cha Khoa và thầy Tự. Nhiều lần các ngài bị đánh đập tra tấn dã man, nhưng tất cả đều can đảm trung thành với Chúa, nhất định không quá khoá, không đạp lên Thánh giá. Các quan thấy cực hình không lay chuyển nổi các vị anh hùng đức tin thì xoay qua dỗ dành, khuyên nhủ, song cũng vô hiệu. Đối với các ngài, Chúa là trên hết; các ngài sẵn sàng hy sinh tất cả vì Chúa, kể cả mạng sống. Thật vậy, các quan kết án trảm quyết (chặt đầu) cha Cao, xử giảo (siết cổ chết) cha Điểm, cha Khoa, thầy Tự và ông trùm Quỳnh; nhưng vua đình lại việc thi hành án cho thầy Tự và ông trùm Quỳnh. Vì ông trùm là người nhân đức, được nhiều người kính nể, vua hy vọng kéo dài thời gian có thể ông nản lòng bỏ đạo thì có lợi hơn. Song thời gian ròng rã hai năm trời tù ngục khổ sở mà mà ông vẫn trung thành giữ vững đức tin, nên ngày 10 tháng 07 năm 1810, nhà vua ra lệnh xử giảo ông và thầy Tự tại Đồng Hới.

Đức Thánh Cha Pi-ô 13 phong Chân Phước cho ông và thầy Tự ngày 07 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô 2 đã suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh.

Quyết tâm

Noi gương thánh Phê-rô Tự và An-tôn Quỳnh tử đạo, nhiệt thành làm tôi Chúa giúp việc Chúa, hết lòng thương yêu giúp đỡ mọi người phần hồn phần xác, và trung thành bền đỗ theo Chúa đến cùng.

Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 11 tháng 07

THÁNH BIỂN-ĐỨC VIỆN PHỤ

Gương Thánh nhân

Thánh Biển-đức sinh tại Nô-si-a, năm 480, trong một gia đình giàu sang quý tộc.

Lúc nhỏ, cha mẹ cho Ngài ăn học ở địa phương, để gần gũi gia đình, dễ bề đào tạo tánh tình đức hạnh.

Năm 14 tuổi, Thánh nhân được gởi đến học ở Rô-ma, giữa lúc dân thành này suy đồi trụy lạc, nên không bao lâu Ngài trốn khỏi kinh thành, tìm nơi thanh vắng, sống đời ẩn tu tịch mạc. Ngài đến Su-bi-a-cô, gặp được vị ẩn sĩ tên là Rô-ma-nô. Ngài thọ giáo vị ẩn sĩ này, ngày ngày chuyên cần cầu nguyện, ăn chay hãm mình, tập rèn nhân đức.

Ma quỷ thấy nhân đức của Ngài thì tìm đủ cách cám dỗ Ngài bỏ đời sống ẩn tịch mà về thế gian, nhưng Ngài luôn làm dấu Thánh giá xua đuổi chúng. Còn những người muốn sống đời nhân đức trọn lành thì tìm đến, nhờ Ngài hướng dẫn dạy bảo. Danh thơm thánh thiện của Ngài lan rộng khắp nơi, cả những người quý phái ở Rô-ma cũng đến xin làm môn đệ Ngài. Ngài phải thành lập 12 tu viện nhỏ, để tiếp nhận họ và giúp họ tập rèn đức hạnh.

Số người muốn tu luyện theo đường lối Thánh nhân mỗi ngày một đông, nên năm 520, Ngài phải dời về Mon-tô Cát-si-nô, thành lập tu viện. Đây là tu viện đầu tiên của Thánh Biển-đức, mà ngày nay có mặt gần hết các nuớc trên thế giới. Ngài lập ra luật dòng cho mọi người tuân giữ. Ba đặc điểm của luật dòng Ngài là cầu nguyện, học hành và lao động. Người tu sĩ hằng ngày chuyên cần cầu nguyện, siêng năng học hỏi Lời Chúa và làm việc chân tay để tự nuôi sống.

Thánh nhân bảo các tu sĩ:

“Tiên vàn bạn hãy khẩn khoản nài xin Thiên Chúa hoàn thành mọi việc lành mà bạn đã khởi sự, để Đấng đã thương kể chúng ta vào số con của Người, sẽ chẳng bao giờ phải buồn phiền, vì cách ăn ở xấu nết của ta. Quả thật, bất cứ khi nào, ta cũng phải dùng các ơn Người ban cho để phụng sự Người, ngỏ hầu không những Người sẽ không như một người cha nổi giận truất quyền thừa tự của người con, mà cũng không như những chủ dữ tợn bực tức thấy công việc xấu của ta mà trao cho ta hình phạt đời đời, như những tên đầy tớ khốn nạn đã không muốn theo Người để được vào vinh quang muôn đời.

Thế nên chúng ta hãy chổi dậy, như lời Kinh Thánh đã khuyên nhủ: “Đã đến giờ chúng ta phải tỉnh ngủ đây!” Hãy mở mắt nhìn ánh sáng đến thần hoá chúng ta, hãy mở tai lắng nghe Lời Chúa nhắn nhủ chúng ta hằng ngày: Hôm nay ước gì anh em nghe tiếng Chúa; Người phán: các ngươi chớ cứng lòng. Và như chỗ khác Người nói: Ai có tai thì hãy nghe Thần Khí phán dạy gì cho các Hội thánh”. 1

Tương truyền Thánh nhân làm rất nhiều phép lạ, lúc còn sống cũng như sau khi qua đời; chẳng hạn Ngài chữa lành các bệnh tật, khử trừ ma quỷ, làm cho kẻ chết sống lại.

Thánh nhân qua đời tại Mon-tê Cát-si-nô, ngày 21 tháng 3 năm 547, và được Đức Giáo Hoàng Phao-lô chọn làm Thánh Quan Thầy của Âu-châu.

Quyết tâm

Noi gương Thánh Biển-đức, hằng ngày siêng năng cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa, làm việc nuôi sống, và chăm lo hướng dẫn mọi người thân yêu sống đạo đức thánh thiện.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã đặt Thánh viện phụ Biển-đức làm tôn sư lỗi lạc dạy những ai muốn hiến thân phục vụ Chúa.

Xin cho chúng con hằng yêu mến Chúa trên hết mọi sự, để tâm hồn được thảnh thơi mà rảo

bước trên con đường theo Chúa.

Chúng con cầu xin…

 

 

Ngày 12 tháng 07

THÁNH I-NHA-XI-Ô Y,

A-NÊ THÀNH (THÁNH ĐÊ)

VÀ PHÊ-RÔ KHANH

Giám mục, linh mục, và Giáo dân tử đạo

Gương Thánh nhân

Đức tin là sức mạnh vạn năng, giúp con người lướt thắng mọi gian nan thử thách và cả sự chết, như Lời Chúa Giê-su nói với các môn đệ:

“Thầy bảo thật anh em: nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải thôi, thì dầu anh em có bảo núi nầy: “rời khỏi đây, qua bên kia !” nó cũng sẽ qua, và sẽ chẳng có gì mà anh em không làm được” (Mt. 17, 20).

Một lòng tin trọn vẹn sắt đá, hoàn toàn tín nhiệm vào Chúa, sẽ giúp con người làm được tất cả mọi sự, như trường hợp của ba vị anh hùng tử đạo I-nha-xi-ô Y, A-nê Thành và Phê-rô Khanh hôm nay. Với lòng tin mạnh mẽ, các ngài đã sẵn sàng hy sinh tất cả, can đảm chịu tù ngục, sỉ nhục, đau khổ và chết để làm chứng cho Chúa.

 

THÁNH I-NHA-XI-Ô Y

I-nha-xi-ô Y sinh năm 1762, nước Tây-ban-nha.

Ngay từ nhỏ, cậu đã có ý muốn dâng mình phục vụ Chúa. Nhưng đến năm 18 tuổi, cậu mới xin gia nhập dòng Thánh Đa-minh, theo lời khuyên nhủ của một bạn thân. Trong thời gian tu luyện ở nhà dòng, thầy được biết các Linh mục đang truyền giáo tại Việt Nam rất cần thêm người cộng sự. Thấy lòng mình mến mộ việc giảng đạo ở phương xa, nên năm 1785, thầy xin gia nhập tỉnh dòng Nữ Vương Rất Thánh Môi-khôi, và được gửi sang Phi-luật-tân học tập, chuẩn bị công cuộc truyền giáo.

Năm 1787, thầy I-nha-xi-ô được thụ phong Linh mục. Nhưng mãi đến năm 1780, ngài mới sang được Việt Nam , đến giảng đạo tại giáo phận Đông Đàng Ngoài, lấy tên Việt là Y, dưới quyền Đức Cha A-lơn-sô Phê. Đức Cha thấy ngài tài năng nhân đức, nên chọn làm cha chính địa phận, kiêm giám đốc chủng viện. Chỉ trong vòng bốn năm, cha I-nha-xi-ô đã làm cho giáo phận phát triển mạnh mẽ, chủng viện tăng nhiều chủng sinh, nhờ tài cao đức độ và lòng nhiệt thành phục vụ của cha. Vì thế, năm 1794, Đức Cha đã đệ trình Tòa Thánh, xin đặt cha làm Giám mục phó của ngài.

Vị Tân Giám mục lúc đó mới 33 tuổi, nhưng hoạt động rất đắc lực. Ngài cùng với Đức Cha chánh thăm viếng hết các xứ đạo trong giáo phận, nâng đỡ các Linh mục, thiết lập nhiều tu viện, dạy dỗ, khuyến khích tín hữu. Chẳng may khi đến Lai Ôn, Đức Cha Phê bị sốt rét qua đời, ngày 02 tháng 02 năm 1799. Từ đó, một mình ngài đảm đang mọi việc, đến năm 1803 thì chọn thêm Đức Cha Minh phụ giúp.

Công cuộc điều hành và truyền giáo trong giáo phận phát triển tốt đẹp, thì năm 1838 vua Minh Mạng ra chiếu chỉ bắt đạo gắt gao, ngài cùng Đức Cha phụ tá phải đến ẩn trốn ở xứ Kiên Lao. Song vì có người tố cáo, ngày 27 tháng 05 năm 1838, quan quân kéo đến bao vây Kiên Lao. Đức Cha phụ tá trốn thoát, còn Đức Cha Y đã 76 tuổi già yếu, phải nhờ giáo hữu khiêng trên võng đi trốn, nên bị quân lính chận bắt, giải về phủ Xuân Trường, nhốt trong cái cũi gỗ ở ngoài trời, ngày đêm chịu nắng mưa rất khổ sở. Nhiều lần bị tra tấn đánh đập, ngài vẫn cương quyết giữ vững niềm tin nơi Chúa, nên quan đệ đơn xin vua xử tử. Nhưng bản án chưa về tới, ngài đã kiệt sức chết rũ tù ngày 12 tháng 07 năm 1838. Dù vậy, người ta vẫn thi hành bản án. Họ đem thi thể ngài ra pháp trường Bảy Mẫu, chặt đầu ném xuống sông. Hơn ba tháng sau mới vớt được, đem về chôn chung với thi hài của Ngài.

 

THÁNH A-NÊ THÀNH (THÁNH ĐÊ)

A-nê Lê Thị Thành sinh khoảng năm 1781 tại Bái Điền, tỉnh Nam Định, trong một gia đình đạo đức cần mẫn. Năm 17 tuổi, cô lập gia đình với anh Nguyễn Văn Nhất ở giáo xứ Phúc Nhạc, tỉnh Ninh Bình. Vợ chồng sống hoà thuận hạnh phúc, sinh được hai trai là Đê và Trân với bốn người con gái. Theo tục lệ địa phương, người ta gọi cha mẹ bằng tên của con đầu lòng. Vì thế họ gọi ông bà là ông Đê bà Đê. Hai ông bà hiền lương đạo đức, tận tâm dạy dỗ con cái theo lề luật Chúa, đặc biệt dùng gương sáng đời sống làm phương thế giáo dục trên hết. Nhờ đó, các con của ông bà đều nên người hoàn hảo, sống xứng đáng người Công giáo.

Ngoài ra bổn phận gia đình, ông bà Đê rất nhiệt tâm đối với Chúa, nhất là kính trọng và sẵn sàng giúp đỡ các Linh mục trong lúc khó khăn bắt bớ, chính vì thế mà bà Đê bị bắt và chết vì đạo.

Dưới thời vua Thiệu Trị bắt đạo, có lắm Linh mục ẩn trốn tại giáo xứ Phúc Nhạc. Trong số đó có cha Thành ngụ tại nhà ông bà Đê, cha Lý ở nhà ông trùm Cơ. Cha Thành có người giúp việc tham tiền ham chức, đã đến tố cáo với quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Quan liền kéo quân đến bao vây. Cha Thành may mắn trốn thoát, cha Lý chạy sang vườn bà Đê, nhờ bà chỉ chỗ ẩn nấp, chẳng may quân lính trông thấy, đến bắt cha và bà Đê, áp giải về Nam Định.

Sáu ngày sau, quân lính điệu bà ra công đường, đánh đập tra tấn, buộc khai các Linh mục ẩn trốn và bỏ đạo. Bà nhất quyết không khai báo cũng chẳng bước qua Thánh giá, nên bị đóng gông tống ngục. Từ đó liên tiếp nhiều lần, bà bị tra khảo cực hình; có lần bị quân lính vừa đánh vừa lôi qua Thập giá, bà co hai chân lên, than khóc lớn tiếng:

- Lạy Chúa, con không bao giờ dám đạp lên Thánh giá Chúa. Con bị họ lôi kéo, xin Chúa thương xót con…

Lần khác, quan cho thả rắn độc vào trong áo của bà, bà vẫn bình tĩnh kêu xin Chúa, đứng yên không nhúc nhích nên rắn không cắn. Nhưng vì bị đánh đập tra tấn nhiều lần, bà kiệt sức và chết ngày 12 tháng 07 năm 1841, sau ba tháng chịu cực hình vì Chúa…

 

THÁNH PHÊ-RÔ KHANH

Phê-rô Khanh sinh khoảng năm 1780 tại làng Nguyên Kiệt, tỉnh Nghệ An, thuộc giáo phận Tây Đàng Ngoài.

Cậu dâng mình giúp việc Chúa ngay từ nhỏ. Lúc đầu được bề trên cho làm thầy giảng, sau đó thầy xin học thêm để làm Linh mục, vì thấy đoàn chiên Chúa còn thiếu nhiều chủ chăn. Và sau 14 năm tận tụy kiên trì học tập, năm 1812 thầy được thụ phong Linh mục khi đã 39 tuổi. Vị tân Linh mục nhìn nhận đây là một hồng ân cao cả Chúa ban. Và để đáp lại tình thương bao la của Chúa, ngài lăng xả vào cánh đồng truyền giáo, đem hết khả năng phục vụ các linh hồn, rao giảng đạo Chúa.

Càng hoạt động tông đồ, càng hăng say truyền giảng Tin mừng, ngài càng thấy rõ cảnh “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”, đúng như Lời Chúa Giê-su phán. Nhất là trong thời buổi khó khăn bách hại nầy, bao nhiêu Linh mục bị tàn sát, công cuộc giảng đạo còn cần những kẻ kế thừa. Thế nên ngoài ra việc mục vụ hằng ngày, cha chiêu mộ số thanh thiếu niên đạo đức, hướng dẫn dạy dỗ, đào luyện Linh mục. Tổng số có 40 người trẻ tình nguyện. Và sau thời gian đào tạo huấn luyện, còn được 8 người làm Linh mục, nhờ đó mà giáo phận có thêm những thợ gặt năng nổ nhiệt thành mở mang Nước Chúa, do công lao hy sinh đóng góp của cha.

Nào ngờ mới đào tạo được số người cộng tác làm tông đồ như thế, thì cuối tháng giêng năm 1842, cha bị bắt trong chuyến đi công tác ở Hà Tỉnh. Quân lính dẫn cha về giam trong ngục. Suốt 6 tháng bị giam, mặc dầu phải chịu nhiều hình khổ, tra tấn, đòn vọt, cha vẫn giữ vững đức tin và tỏ ra hiền hoà thân thiện với mọi người. Đặc biệt nhờ biết xem mạch hốt thuốc, cha đã chữa nhiều người khỏi bệnh, khiến mọi người kể cả lính canh đều quý mến.

Sau nhiều lần khuyến dụ cũng như tra tấn không kết quả, quan đệ án xin vua trảm quyết. Ngày 12 tháng 07 năm 1842, án được thi hành. Sau hồi chiêng báo hiệu, đầu cha lìa khỏi cổ, linh hồn cha về hưởng phước Nước Trời.

Ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 đã tôn phong Đức Cha I-nha-xi-ô Y, cha Phê-rô Khanh và bà A-nê Đê lên bậc Hiển Thánh.

Quyết tâm

Hết lòng lo chu toàn bổn phận đối với gia đình, nhất là đối với Chúa; sẵn sàng hy sinh tất cả vì Chúa vì các linh hồn, đồng thời mời gọi nhiều người cộng tác giảng rao đạo Chúa, theo gương các thánh I-nha-xi-ô Y, Phê-rô Khanh và A-nê Đê tử đạo.

Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

 

Ngày 13 tháng 07

THÁNH HEN-RI

Gương Thánh nhân

Thánh Hen-ri sinh năm 973, nước Đức, thuộc gia đình vương giả quý tộc. Lớn lên, Ngài được Đức Giám mục giáo phận Ra-tít-bon giáo dục đạo đức, và đã khấn giữ mình đồng trinh cho đến chết.

Nhưng cha mất sớm, Thánh nhân phải thay cha làm vua miền Ba-vi-ê. Ngài phải vâng lời mẹ lập gia đình. Nhưng Chúa quan phòng hướng dẫn Ngài cưới cô Cu-nê-gon-đa, một thiếu nữ xinh đẹp cả thể xác lẫn tâm hồn, chính cô cũng đã hứa với Chúa sống đời độc thân. Thế là cả hai sống với nhau như bạn thân cho đến chết.

Thánh nhân làm vua, cai trị nước Đức cả nước Ý, và được Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô thứ 8 tấn phong hoàng đế vào năm 1014. Ngài là một vị hoàng đế thông minh nhân đức, tính tình hiền hậu nhân ái, được toàn dân quý mến kính chuộng. Công việc trước tiên Ngài thực hiện là tái lập trật tự an ninh, công bằng xã hội, cho người dân được an cư lạc nghiệp. Ngài đi khắp nước dẹp loạn, chống áp bức bất công; đến đâu Ngài cũng tìm gặp những người nghèo khổ, kẻ thất nghiệp, giải quyết công ăn việc làm cho họ.

Và mặc dầu việc nước đa đoan. Thánh nhân cũng hết lòng lo giúp việc đạo. Ngài chọn những người tài đức lên làm Giám mục cai quản các giáo phận trong khắp cả nước Ý và nước Đức, đồng thời thành lập thêm nhiều giáo phận mới, mở mang Giáo hội, canh tân các dòng tu, xây dựng Thánh đường, như lời một tác giả đã viết về Ngài:

“Khi người tôi tớ thánh thiện của Thiên Chúa được xức dầu làm vua, Ngài không lấy việc lo cho phần đời làm đủ, nhưng để được triều thiên bất tử, Ngài còn lo chiến đấu cho Vua Cả trời đất, vì phục vụ Người là cai trị vậy. Thế nên Ngài ân cần mở mang đạo thánh làm cho các nhà thờ có tư hữu và trang hoàng lộng lẫy các nhà thờ đó. Ngài lấy chính đất của mình mà lập toà Giám mục Bam-béc, chọn hai Thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô với Thánh Gio-gi-ô tử đạo làm bổn mạng cho toà Giám mục ấy, lập hợp đồng đặc biệt giữa toà Giám mục và Toà Thánh Rô-ma, để quy về cho ngôi toà độc nhất cái vinh dự như ý Chúa muốn, và để làm cho toà Giám mục mới nhờ sự bảo trợ ấy mà được vững chắc hơn”.

“Để cho mọi người thấy rõ người tôi tớ thánh thiện của Chúa đã lo lắng đến mức nào cho giáo phận mới nầy được bình an và êm thắm, ngay cả trong tương lai nữa, thì chúng tôi xin trích dẫn mẫu thư dưới đây để làm bằng chứng:

“Hen-ri nhờ lòng từ ái quan phòng của Chúa mà được làm vua, xin gởi lời thăm tất cả con cái trong Hội thánh, bây giờ và sau nầy. Chúng ta được Kinh Thánh dạy dỗ và nhắc nhở bằng những giáo huấn hết sức tốt lành, là phải từ bỏ của cải phù vân và đưa các lợi ích trần gian nầy xuống hàng thứ yếu, để lo cho được nơi cư ngụ vĩnh viễn ở trên trời…”

“Thế nên trẩm không hề quên ơn thương xót đó, cũng hằng ý thức rằng: nhờ lương hải hà nhưng không của Chúa mà được vinh dự hoàng đế nầy. Và vì vậy, trẩm nghĩ các việc sau đây thật là hợp lý: Không những trẩm phải trang hoàng thêm cho các đền thờ mà các bậc tiên vương đã xây dựng, mà để sáng danh Chúa hơn, trẩm còn phải xây dựng thật nhiều đền thờ khác và công đức nhiều vào đó để bày tỏ lòng đạo đức và biết ơn”. 1

Thánh nhân qua đời ngày 13 tháng 7 năm 1024, sau khi đã tận lực phục vụ Thiên Chúa và đồng loại.

Quyết tâm

Noi gương Thánh Hen-ri, hằng ngày lo làm tròn bổn phận đối với gia đình, và quê hương xứ sở, đồng thời cũng hết lòng giúp việc Chúa và phục vụ Hội thánh Người.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Cha đã ban cho Thánh Hen-ri được đầy tràn ân sủng và đưa Thánh nhân từ ngai báu trần gian lên hưởng vinh quang thiên quốc.

Vì lời Thánh nhân chuyển cầu, xin ban cho chúng con giữa cuộc sống hay thay đổi nầy, biết giữ lòng trong sạch ngay thẳng, mà mau bước tiến về cùng Chúa.

Chúng con cầu xin…

 

Ngày 14 tháng 07

THÁNH CA-MI-LÔ LEN-LI, LINH MỤC

Gương Thánh nhân

Thánh Ca-mi-lô sinh tại Bát-si-a-ni-cô, năm 1550

Năm lên 17 tuổi, Thánh nhân theo cha gia nhập đoàn quân viễn chinh, chống lại quân đội Hồi giáo. Trong khi chiến đấu, Ngài bị thương, phải trở về quê nhà điều trị. Sau khi bình phục, Ngài bắt chước bạn xấu ăn chơi trụy lạc đến hết tiền hết của, phải đi làm thuê làm mướn kiếm sống hằng ngày. Những lúc thất nghiệp, Ngài phải đi ăn xin. Và sau cùng đã được và giúp việc cho một nhà dòng.

Nhờ lời các cha dòng khuyên bảo, Ngài ăn năn hối lỗi và than thở với Chúa:

- Lạy Chúa: thật khốn thân con. Con biết Chúa quá muộn. Con đã bao lần giả điếc làm ngơ trước lời kêu gọi của Chúa. Xin Chúa thương tha cho con. Xin Chúa thương tha cho kẻ tội lỗi khốn nạn nầy!...

Và ngay hôm đó, Ngài đã xin gia nhập vào dòng, lúc đó Ngài đã 25 tuổi. Ngài lo đọc kinh cầu nguyện, ăn chay hãm mình hằng ngày, để đền bù bao tội lỗi đã phạm. Nhưng không được bao lâu, vết thương ở chân Ngài lại tái phát. Ngài phải rời nhà dòng, đi điều trị tại bệnh viện ở Rô-ma.

Trong thời gian nằm ở bệnh viện, Thánh nhân đã nhận ra ơn gọi đặc biệt Chúa ban cho Ngài. Ngài thấy các nhân viên bệnh viện rất vô tâm, nhiều khi đối xử tàn nhẫn với người bệnh. Từ đó, Ngài hiến thân phục vụ bệnh viện. Ngày đêm Ngài tận tụy hy sinh giúp đỡ họ, và mời gọi thêm bạn hữu cộng tác. Nhiều khi công việc nặng nề vất vả, các bạn than van chán nản, Ngài khuyên lơn an ủi:

- Chúng ta chớ nản lòng. Chúng ta giúp đỡ các bệnh nhân là giúp đỡ chính Chúa. Người sẽ thuởng chúng ta.

Một bạn đồng nghiệp với Thánh nhân nói về Ngài:

“Tôi phải bắt đầu bằng nhân đức bác ái vì là căn nguyên và là đặc sủng quen thuộc hơn hết của Ca-mi-lô. Tôi phải nói rằng Ngài cháy lửa nhân đức nầy không những đối với Thiên Chúa mà còn đối với tha nhân và nhất là đối với bệnh nhân, đến nỗi chỉ cần nhìn thấy họ là lòng Ngài đã mềm và chảy ra, khiến Ngài quên hết mọi lạc thú, vui thoả và dính bén ở đời nầy; khi săn sóc một bệnh nhân nào, Ngài tỏ ra hoàn toàn bị thu hút và thiêu hủy. Trong sự yêu thương phục vụ người ấy hết mình, Ngài muốn mang vào mình mọi đau đớn và khổ sở của họ, để làm nhẹ bớt đau thương hay chữa khỏi tật nguyền cho họ.

“Ngài như nhìn thấy con người Đức Ki-tô nơi họ một cách mãnh liệt, đến nỗi nhiều khi lúc cho họ ăn, Ngài tưởng họ là chính Đức Ki-tô, nên nài xin họ, ban ơn và tha thứ tội lỗi cho mình. Ngài đứng trước mặt họ một cách cung kính như thật sự ở trước mặt Chúa. Trong lúc trò chuyện, không có gì được Ngài năng pha vào và sốt sắng thêm vào bằng những câu về đức ái, mà Ngài muốn gieo vào lòng hết thảy mọi người”. 1

Để phục vụ các bệnh nhân đắc lực hơn, Thánh nhân đã xin theo học và tập mình làm Linh mục. Năm 1584, Ngài được thụ phong và dâng Thánh lễ đầu tiên tại nhà thờ Thánh Gia-cô-bê, và lãnh nhiệm vụ cai quản Thánh đường Đức Bà hay làm phép lạ. Chính nơi đây, Ngài đã thành lập tu hội “Anh Em Giúp Đỡ Bệnh Nhân”. Năm 1591, Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô thứ 15 đã nâng tu hội của Ngài thành Dòng tu. Ngoài ba lời khấn khó nghèo, khiết tịnh và tuân phục, các tu sĩ thuộc dòng Ngài còn khấn hiến thân phục vụ những người đau khổ bệnh tật.

Thánh nhân qua đời ngày 14 tháng 7 năm 1614 tại Rô-ma. Và năm 1746, Ngài được Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô tôn phong hiển Thánh.

Quyết tâm

Noi gươngThánh Ca-mi-lô, hết lòng ăn năn hối lỗi mỗi khi lầm lỗi sa ngã, và suốt đời thương yêu giúp đỡ những người đau khổ, nhất là những kẻ bệnh hoạn tật nguyền.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Thánh Linh mục Ca-mi-lô lòng bác ái phi thường đối với người ốm đau bệnh tật.

Vì công đức của Thánh nhân, xin tuôn đổ vào lòng chúng con tinh thần bác ái của Chúa, để chúng con biết phụng sự Chúa nơi anh em, và trong giờ lâm tử, chúng con được đến cùng Chúa thật vững dạ an lòng.

Chúng con cầu xin…

 

 

Ngày 15 tháng 07

THÁNH BÔ-NA-VEN-TU-RA
Giám Mục Tiến Sĩ

Gương Thánh nhân

Thánh Bô-na-ven-tu-ra sinh tại Tốt-can, nước Ý, năm 1221.

Lúc lên 4 tuổi, Thánh nhân lâm bệnh nặng, không phương cứu chữa, Mẹ Ngài đem đến nhờ Thánh Phan-xi-cô cầu nguyện. Và Chúa đã nhậm lời cho Ngài lành mạnh. Ngài luôn nhớ ơn đó, nên sau nầy Ngài đã vào tu dòng của Thánh Phan-xi-cô.

Năm 15 tuổi, Thánh nhân được cha mẹ gởi đến học ở Ba-lê là trung tâm văn hoá thời đó, Ngài theo học triết lý và thần học với giáo sư nổi tiếng A-lệ-sơn.

Chính trong thời gian học ở đây, Ngài đã gặp Tô-ma A-qui-nô là một sinh viên tài ba lỗi lạc. Hai người kết bạn thân với nhau, và thường lui tới học hỏi nhau về các môn học phần đời cũng như về đàng nhân đức trọn lành. Thấy bạn thông minh tài đức, Tô-ma A-qui-nô hỏi:

- Bạn học sách nào?

Ngài chỉ cây Thánh giá và nói:

- Tôi học với Chúa Giê-su chịu đóng đinh, chính trong các vết thương đẫm máu của Người, tôi múc lấy mọi sự thông biết cho tôi.

Khoảng năm 1243, Thánh nhân gia nhập dòng Thánh Phan-xi-cô. Nhà Dòng thấy Ngài nhơn đức lại khôn ngoan thông giỏi, nên năm 1257 đã bầu Ngài làm Bề trên Cả của dòng. Lúc đó trong dòng đang gặp cơn xung khắc giữa những người nhiệt tâm muốn tuân giữ luật dòng nhiệm nhặt với những người muốn giảm bớt. Ngài đã giải quyết ổn thoả các cuộc tranh chấp, và đã ban hành hiến pháp chung cho dòng. Ngài cũng viết nhiều sách để huấn luyện các tu sĩ về đàng nhân đức thánh thiện.

Trong tác phẩm bàn về con đường hướng tâm hồn lên Chúa, Thánh nhân viết:

“Chúa Ki-tô là đường đi và là cửa vào. Chúa Ki-tô là thang và là xe. Người như bàn xá tội đặt trên hòm bia Thiên Chúa và là mầu nhiệm giấu kín từ khởi nguyên.

Ai nhất định quay mặt hẳn về bàn xá tội ấy là nhìn Chúa chịu treo trên thập giá với lòng tin, cậy, mến và lòng sốt sắng, ngưỡng mộ, hân hoan, cảm mến, ca tụng và vui mừng, người ấy sẽ nhờ cây thập giá mà làm cuộc Vượt qua Biển Đỏ…

Trong cuộc vượt qua nầy, nếu muốn nên hoàn hảo, thì phải bỏ mọi sinh hoạt của trí năng, phải biến đổi và chuyển hướng trọng tâm của mọi khát vọng vào Thiên Chúa. Đó là mầu nhiệm vô cùng sâu kín, chẳng ai biết được nếu không nhận được, và chẳng nhận được nếu không ao ước, và chẳng ao ước nếu không được Thánh Thần mà Chúa Ki-tô sai xuống trần gian, đốt lửa lên ở trong lòng. Thế nên Thánh tông đồ bảo đây là sự khôn ngoan mầu nhiệm do Chúa Thánh Thần mạc khải”. 1

Ngoài ra việc bổn phận trong dòng, Thánh nhân còn đi giảng thuyết nhiều nơi, kêu gọi mọi người sống đời trọn lành. Chính Ngài là người đầu tiên khởi xướng ba giai đoạn trong khoa tu đức là thanh đạo, minh đạo và hiệp đạo. Đó là ba thời kỳ cần phải tập luyện để tiến tới sự trọn lành.

Năm 1265, Đức Giáo Hoàng Clê-mên-tê thứ tư chọn Ngài làm Tổng Giám mục, vì lòng khiêm tốn Ngài đã từ chối.

Nhưng khi Đức Thánh Cha Ghê-gô-ri-ô thứ 10 quyết định đặt Ngài làm Hồng Y, Ngài phải vâng lời và đi dự Công đồng chung Ly-on.

Sau khi dự Công đồng, Thánh nhân đã qua đời ngày 15 tháng 7 năm 1274, được Đức Giáo Hoàng Six-tê thứ tư tôn phong hiển Thánh, và Đức Six-tê thứ năm đặt làm tiến sĩ Hội thánh.

Quyết tâm

Hằng ngày tôi nhìn lên Thánh giá Chúa mà tập sống khiêm nhượng, bác ái như Thánh Bô-na-ven-tu-ra, vì đó là đường trọn lành dẫn đưa vào Nước Trời.

Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, chúng con đang hiệp nhau mừng ngày Thánh Giám

mục Bô-na-ven-tu-ra về trời.

Xin cho chúng con vừa được đức khôn ngoan phi thường của Thánh nhân soi sáng, vừa được đức bác ái của người khích lệ.

Chúng con cầu xin…

 

 

THÁNH PHÊ-RÔ NGUYỄN BÁ TUẦN
VÀ AN-RÊ NGUYỄN KIM THÔNG
Linh Mục và Trùm Họ Tử Đạo

Gương Thánh nhân

Thói tham lam ích kỷ làm cho con người ta bất nhân độc ác, không còn kể gì đến luân thường đạo nghĩa. Chính vì tham tiền, Giu-đa đã bán Chúa, mặc dầu Chúa nhiều lần cảnh cáo, khuyên nhủ, tỏ tình thương cứu vớt ông.

Thánh Phê-rô Tuần và An-rê Thông đây cũng đồng số phận như Chúa. Các ngài đã bị những người thân tín tham lam tiền của danh vọng tố cáo với vua quan. Nhưng nhờ đó các ngài được làm chứng cho Chúa và lãnh nhận triều thiên tử đạo, như Chúa Giê-su nhờ Giu-đa bán, đã chịu tử hình khổ giá, chu toàn sứ mạng cứu rỗi loài người.

Phê-rô Nguyễn Bá Tuần sinh năm 1766, tại Ngọc Đồng, tỉnh Hưng Yên. Ngay từ nhỏ, cậu đã ước muốn dâng mình cho Chúa, nên nhờ một cha thừa sai dòng Đa-minh dạy dỗ huấn luyện. Ít lâu sau, cậu được giới thiệu vào chủng viện, tiếp tục học hành tu luyện. Nhưng chưa được bao lâu, vua Cảnh Thịnh ra chiếu chỉ cấm đạo, chủng viện bị đóng cửa, thầy Phê-rô phải ẩn trốn nay đây mai đó, đợi chờ cơn bắt đạo lắng dịu. Đúng như lòng thầy nguyện ước, thời gian sau chủng viện được mở cửa lại, thầy trở về học tập tiếp thêm. Và năm 1807, thầy được Đức Cha Y phong chức Linh mục.

Từ ngày được làm Linh mục, cha Phê-rô hết sức nhiệt thành hoạt động tông đồ, mở mang Nước Chúa. Cha công tác mục vụ nhiều nơi, giúp giáo đoàn sốt sắng sống đạo, đem nhiều người lương trở lại.

Sau 20 năm hoạt động truyền giáo đó đây, cha được Bề trên gọi về họ đạo Lái Môn, tỉnh Nam Định. Năm 1838, giữa lúc vua Minh Mạng cấm đạo gắt gao, cha nghe tin cha Chính Phét-năn-đê Hiền bệnh nặng tại Quần Liêu, không ai giúp đỡ vì sợ liên lụy, cha liền đến đó, tìm cách đem cha đi chữa bệnh tại họ đạo Kim Sơn. Nhưng ở đây, quan quân cũng đang tầm nã bắt đạo dữ dội, nên cha sở Kim Sơn gởi gấm các ngài cho Bát Biên là một người ngoại đạo rất có thiện cảm với cha. Không ngờ Bát Biên tham tiền, đem nộp cha và cha Tuần cho quan tổng đốc Trịnh Quang Khanh, để được lãnh thưởng.

Lúc đó cha Tuần đã 72 tuổi, dù tuổi già sức yếu, ngài vẫn can đảm gánh chịu đòn vọt, tra tấn, tù ngục để giữ vững đức tin. Quan tổng đốc thấy cha già yếu thì khuyên:

- Bước qua Thập giá đi, tôi sẽ thả ông về. Ông già quá rồi, chịu cực hình không nổi nữa đâu .

Cha tin tưởng trả lời:

- Chúa ban cho tôi đủ sức chịu khổ hình chịu chết vì Ngài .

Ít ngày sau, vì phải chịu nhiều hình khổ nặng nề, và do tuổi cao sức yếu, cha đã chết rũ tù ngày 15 tháng 07 năm 1838. Và ngày 27 tháng 05 năm 1900 Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã phong Chân Phước cha ngài. Và Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.

An-rê Nguyễn Kim Thông (quen gọi là Năm Thuông), sinh năm 1790, tại giáo xứ Gò Thị, giáo phận Quy Nhơn.

Lớn lên, An-rê lập gia đình. Vợ chồng sống thuận hoà hạnh phúc, nhờ siêng năng sốt sắng thờ phượng Chúa. Đặc biệt ông rất chú trọng việc dạy dỗ con cái về đàng nhân đức, nhờ đó hai người con của ông đã được Chúa gọi làm Linh mục và tu sĩ.

Dân làng thấy ông hiền lương đạo đức, nên bầu lên làm xã trưởng, còn giáo hữu trong xứ thì cử ông làm trùm họ. Ông luôn luôn chu toàn bổn phận cách hết sức nhiệt thành chu đáo, sẵn sàng hy sinh giúp đỡ mọi người, không phân biệt lương giáo. Ông là người cộng tác đắc lực với các Linh mục trong việc tông đồ mở mang Nước Chúa. Và trong thời bách hại, nhà ông là nơi trú ẩn an toàn cho các vị Truyền giáo.

Ngoài ra tinh thần bác ái tông đồ, ông còn có lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt. Hằng ngày ông sốt sắng lần chuỗi Môi Khôi, suy gẫm các mầu nhiệm trong đời sống của Chúa và Đức Mẹ, noi theo gương lành các ngài.

Ông có đứa cháu tên là Út, tánh tình ngang bướng, ăn chơi, trụy lạc. Ông thương nó, muốn giúp nó cải thiện đời sống, bỏ thói phóng đảng chơi bời; ông đã nhiều lần khuyên bảo mà nó không chịu nghe, nên ông tức giận quở mắng nó. Nhưng thay vì sửa mình, nó trở lại thù ghét ông, tố cáo ông chứa chấp giáo sĩ. Quan liền cho lính đến bắt ông, dẫn về giam tại tỉnh Bình Định.

Nhờ lúc làm xã trưởng, ông thường tiếp xúc và quen biết với quan, nên dù bị tù ngục, ông không phải chịu đánh đòn tra tấn, mà thỉnh thoảng còn được về thăm gia đình. Dùng dịp nầy, ông lui tới với vợ con, khuyên bảo khuyến khích mọi người trung thành bền đỗ tin theo Chúa. Thấy vợ con thương khóc muốn chuộc ông về sum họp gia đình, ông nói:

- Tôi đã già rồi, không còn ham sống mà làm gì nữa. Tôi sẵn sàng chịu chết vì Chúa. Xin đừng ai vận động xin thả tôi .

Rồi ông tình nguyện trở vào ngục. Trong thời gian ba tháng ở đây, nhiều lần quan dụ dỗ ông bỏ đạo, bước qua Thập giá, để được trở về với gia đình. Nhưng ông luôn luôn từ chối, nhất quyết trung thành theo Chúa đến cùng. Thế nên quan kết án đày ông vào Mỹ Tho, một tỉnh miền Nam . Vì đường xa xôi, phần bị gông cùm xiềng xích nặng nề và tuổi già sức yếu, ông phải đi hết sức mệt nhọc khổ sở, nên khi vừa tới Mỹ Tho, ông té ngã xuống đất, trút hơi thở cuối cùng, ngày 15 tháng 7 năm 1855.

Đức Thánh Cha Pi-ô 10 đã phong Chân Phước cho ông ngày 02 tháng 05 năm 1909. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988 Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 đã suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.

Quyết tâm

Noi gương thánh Phê-rô Tuần, và An-rê Thông tử đạo, nhiệt thành rao giảng đạo Chúa, sẵn lòng hy sinh giúp đỡ mọi người, siêng năng lần chuỗi Môi Khôi, và can đảm làm chứng cho Chúa đến cùng.

Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. A-men.

 

 

Ngày 16 tháng 07

ĐỨC MẸ NÚI CA-MÊ-LÔ

Núi Ca-mê-lô là nơi ngôn sứ Ê-li-a ẩn trú trong cơn bách hại, để bảo vệ niềm tin cho mình và cho những người muốn trung thành với Chúa.

Dần dần những người muốn dâng mình cho Chúa tụ họp về đây, tập sống đời nhiệm nhặt, ăn chay hãm mình, cầu nguyện. Năm 38, họ xây cất một nhà nguyện dâng kính Đức Mẹ Ma-ri-a và chọn Đức Mẹ làm Đấng Bảo trợ cho cả cộng đoàn. Thế là Dòng Đức Mẹ Núi Ca-mê-lô xuất hiện từ đó, và được Đức Giáo Hoàng Hô-nô-ri-út thứ 3 chuẩn nhận năm 1226.

Trong thời gian người Hồi giáo tấn công Thánh địa, tàn sát người Công giáo, các đan sĩ dòng phải rời bỏ núi Ca-mê-lô, chạy về nước Pháp, thành lập nhà dòng ở đây và cũng đến lập dòng tại nước Anh. Chính nơi đây, nhà dòng được tiếp nhận Thánh Si-mon Stóc-kô vào dòng. Và năm 1245, Thánh nhân nhận làm bề trên dòng. Ngài chỉnh đốn lại nếp sống các đan sĩ, đặc biệt củng cố lại lòng sùng kính Đức Mẹ.

Thánh nhân tha thiết kêu xin Đức Mẹ ban cho nhà dòng một ân huệ. Tương truyền ngày 16 tháng 07 năm 1251, Đức Mẹ đã hiện ra với Ngài. Đức Mẹ mặc áo Dòng Ca-mê-lô, xung quanh có thiên thần hầu cận, nét mặt tươi cười tay cầm chiếc “áo Đức Bà Ca-mê-lô” trao cho Ngài và bảo:

- Đây là ân huệ Mẹ ban cho các đan sĩ dòng Ca-mê-lô. Ai mang áo nầy thì khi chết sẽ thoát khỏi lửa đời đời.

Ngày lễ kính Đức Mẹ Ca-mê-lô hôm nay nhắc lại việc Đức Mẹ ban ân huệ đó. Và gốc tích Áo Đức Bà Ca-mê-lô phát xuất từ đây.

Ngoài ra, Đức Mẹ cũng cho Đức Giáo Hoàng Gioan 22 biết: những ai sống theo tinh thần Dòng Ca-mê-lô thì sẽ được Đức Mẹ cứu ra khỏi luyện ngục, ngày thứ bảy sau khi chết.

Từ đó, những ai không có điều kiện gia nhập Dòng mà tin tưởng lời hứa của Đức Mẹ, đều xin nhận áo Đức Bà Ca-mê-lô và mang trong mình hằng ngày cho đến chết. Việc sùng kính Đức Bà Ca-mê-lô ngày càng lan rộng khắp nơi trong Hội thánh. Có thể nói tất cả những ai có lòng mộ mến Đức Mẹ và mong được ơn chết lành đều mang áo nầy!

Năm 1726, Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô thứ 13 ban hành sắc lệnh mầng lễ Đức Mẹ Núi Ca-mê-lô trong toàn thể Giáo hội, để kính nhớ ngày Đức Mẹ hiện ra ban cho áo đặc biệt nầy.

Quyết tâm

Hằng ngày chạy đến kêu xin Đức Mẹ cầu cùng Chúa ban cho mọi ơn lành phần hồn phần xác, nhất là ơn được chết lành, bằng cách siêng năng sốt sắng lần chuỗi Môi khôi.

Lời nguyện

Lạy Chúa, vì lời Đức Trinh Nữ Maria cầu thay nguyện giúp, xin Chúa luôn bảo vệ và hướng dẫn con trên đường đời, để chúng con thẳng tiến về Núi Thánh, là Đức Giê-su Ki-tô, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. A-men.

 

 

Ngày 20 tháng 07
THÁNH GIU-SE AN, Giám Mục Tử Đạo

Gương Thánh nhân

Sáng ngày 20 tháng 07 năm 1857, quân lính điệu Đức Cha Giu-se ra pháp trường tỉnh Nam Định. Ngài vừa đi vừa thầm thỉ cám ơn Chúa, vì Chúa đã thương cho ngài được đổ máu ra hiệp cùng Máu Thánh Chúa Giê-su cứu chuộc nhân loại. Đến nơi, ngài trao cho viên chỉ huy 30 quan tiền và nói:

- Xin ông nhận số tiền nầy, và ra lệnh cho lý hình chém tôi 3 nhát, chứ đừng chém một nhát: nhát thứ nhất để tôi tạ ơn Chúa, nhát thứ hai để tôi đền ơn cha mẹ, nhát thứ ba để nêu gương cho bổn đạo tôi trung thành sống chết theo Chúa .

Thật là một cử chỉ anh hùng Đức Cha Giu-se An đã để lại cho hậu thế. Ngài sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Chúa, ngài còn muốn nêu gương cho các tín hữu can đảm tuyên xưng đức tin, để được hưởng triều thiên tử đạo với ngài. Lúc sống, ngài đã nhiệt thành đem ơn cứu rỗi đến cho họ; khi chết, ngài cũng muốn họ thông phần hạnh phúc muôn đời.

Giu-se An sinh năm 1818, tại Lu-gô, nước Tây-ban-nha. Lớn lên, cậu được Chúa gọi dâng mình cho Chúa, gia nhập chủng viện ở Lu-gô và sau vào đại học. Trong thời gian nầy, thầy được biết các Linh mục dòng Đa-minh giảng đạo tại Viễn Đông. Ơn Chúa soi sáng thầy mến mộ công cuộc truyền giáo ở miền xa, nên đã xin vào Dòng Thuyết giáo và được gởi học tại Ca-đê.

Ngày 23 tháng 03 năm 1844, thầy thụ phong Linh mục, và sau đó được lên đường đi giảng đạo. Vị tân Linh mục đến địa phận Đông Đàng Ngoài ngày 12 tháng 09 năm 1845. Sau thời gian học tiếng Việt, cha lấy tên là An và được đặt cử làm Giám đốc Chủng viện Lục Thủy. Nhưng năm 1848, vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao, chủng viện phải đóng cửa, cha và một số chủng sinh đến ẩn náu ở miền Cao Xá, lén lút học hành tu luyện.

Trong khi đó, Đức Giáo Hoàng Pi-ô 9 thiết lập địa phận Trung, tách khỏi địa phận Đông Đàng Ngoài, và đặt cha Mát-ti Gia làm Giám mục địa phận mới. Trong sắc lệnh bổ nhiệm, Toà Thánh cho vị Tân Giám mục quyền chọn Giám mục phó. Vì thế Đức Cha Gia chọn cha Giu-se An làm Giám mục phó của ngài. Từ đó, hai vị Tân Giám mục hăng say cộng tác điều khiển giáo phận, mở mang Nước Chúa.

Nhưng chưa được bao lâu, Đức Cha Gia lâm bệnh nặng qua đời ngày 26 tháng 04 năm 1850, Đức Cha An phải một mình gánh lấy trách nhiệm điều hành giáo phận và công cuộc truyền giáo. Nhờ tài đức của ngài, việc giảng đạo ngày càng kết quả. Số người theo đạo ngày càng đông, chỉ trong năm 1852, số rửa tội đã lên đến hơn 28 ngàn người.

Năm 1854, nhiều nhóm dân nổi dậy chống lại triều đình, Đức Cha cấm giáo dân tham gia. Nhờ đó, các quan giảm bớt việc bắt bớ người Công giáo. Tổng đốc Nguyễn Đình Tân biết rõ nơi Đức Cha ở, nhưng không cho quân lính đến bắt, và còn hứa nếu khi nào phải bắt Đức Cha thì sẽ báo trước. Nhưng tháng 05 năm 1857, đang lúc quan thượng thư có mặt ở Nam Định, tên chánh Mẹo đến tố cáo có Tây Dương Đạo trưởng tên An ở Bùi Chu. Quan tổng đốc buộc lòng phải sai quân đi bắt Đức Cha. Quan cũng cho báo trước, song tin chưa kịp đến thì Đức Cha đã bị bắt.

Quân lính giải nộp Đức Cha về Nam Định, tổng đốc Nguyễn Đình Tân sợ quan Thượng thư biết mình che chở Đức Cha, nên ra lệnh tra tấn và tống ngục. Nhiều lần vị anh hùng đức tin bị bắt ép bước qua Thánh giá, nhưng ngài luôn can đảm chống đối, nên bị kết án tử hình. Ngày 20 tháng 07 năm 1857, quân lính điệu ngài ra pháp trường. Và theo lời ngài yêu cầu, tên lý hình đã chém ngài 3 nhát, đưa linh hồn vị chứng nhân anh dũng của Chúa vào Thiên Quốc.

Ngày 29 tháng 04 năm 1951, Đức Thánh Cha Pi-ô 12 đã phong Chân Phước cho ngài, và Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô 2 suy tôn ngài lên Hiển Thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.

Quyết tâm

Nhiệt thành rao giảng đạo Chúa bằng lời cầu nguyện, việc hy sinh hằng ngày, nhất là luôn luôn nêu gương can đảm chịu khổ chịu cực vì Chúa, như thánh Giám mục Giu-se An tử đạo.

Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 21 tháng 07

THÁNH LÔ-REN-SÔ BRIN-ĐI-SI,
Linh Mục Tiến Sĩ

Gương Thánh nhân

Thánh Lô-ren-sô sinh tại Brin-đi-si, miền nam nước Ý, năm 1559, trong một gia đình đạo đức sốt sắng, nhờ đó Thánh nhân sớm tiến tới trên đàng nhân đức.

Lớn lên, Thánh nhân dâng mình cho Chúa. Ngài vào dòng Thánh Phan-xi-cô ở Vê-rô-na ngày 18 tháng 02 năm 1575. Được bề trên gởi học ở Pa-đua, với trí thông minh và chuyên cần, Ngài học biết nhiều thứ tiếng và thông suốt nhiều khoa học Thánh. Chính nhờ tài học cao hiểu rộng đó mà sau nầy Ngài giúp ích rất nhiều cho Hội thánh, nhất là đương đầu với lạc giáo thệ phản.

Năm 1582, Thánh nhân được thụ phong Linh mục. Từ đó Ngài đi rao giảng Chúa trong cả nước Ý và nhiều nước khác ở Âu Châu.

Ngài nói: “Việc rao giảng Lời Chúa thì cần cho đời sống thần thiêng, như việc gieo giống thì cần cho đời sống thân xác vậy…

“Thế nên rao giảng là một nhiệm vụ tông đồ, nhiệm vụ thiên thần, nhiệm vụ Ki-tô hữu, nhiệm vụ thần thánh. Lời Chúa đầy mọi sự tốt lành vì giống như một thứ kho tàng đầy mọi thứ của cải. Bởi vì từ Lời Chúa mà có đức tin, đức cậy, đức mến, mọi nhân đức khác, mọi ơn Thánh Thần, mọi mối phúc Tin mừng, mọi việc lành, mọi công nghiệp ở đời nầy, mọi vinh quang thiên đường: Anh em hãy nhận lấy Lời đã gieo trong lòng, Lời có sức cứu được linh hồn anh em.

“Quả thật, Lời Chúa là ánh sáng soi cho trí tuệ, là lửa cho ý chí để loài người có thể nhận biết và yêu mến Chúa. Và đối với con người nội tâm sống bằng Thần Khí Chúa nhờ ân sủng, thì đó là bánh và nước: bánh ngọt hơn mật và bọng ong, nước tốt hơn sữa và rượu; còn đối với linh hồn thiêng liêng thì đó là kho tàng các công nghiệp, nên gọi là vàng và đá vô cùng quý giá; đối với tâm hồn cố chấp trong thói hư, thì đó là cái búa; và đối với xác thịt thế gian và ma quỷ thì Lời Chúa là gươm tiêu diệt mọi tội lỗi” 1

Năm 1598, Thánh nhân được phái sang nước Đức thành lập nhiều tu viện. Trong thời gian quân Thổ-nhỉ-kỳ tấn công các nước Công giáo vùng nầy, Ngài cùng với đạo binh thánh giá chống lại họ và đã chiến thắng vào năm 1610. Đặc biệt ngài rao giảng kêu gọi nhiều người theo bè rối Lu-te quay về với chân lý.

Vì nhiệt thành bênh vực đạo Chúa và tài trí thông minh sáng suốt, Thánh nhân được bầu làm Bề Trên tổng quyền nhà dòng năm 1602. Ngài luôn nêu gương sống khắc khổ, cầu nguyện, hy sinh cho các tu sĩ, đồng thời chăm lo hướng dẫn họ đàng trọn lành. Ngài còn dành thời giờ viết nhiều sách tu đức, biện giáo, chú giải Thánh Kinh.

Thánh nhân qua đời ngày 27 tháng 07 năm 1619 tại Lít-bon. Năm 1881, Đức Giáo Hoàng Lê-ô 13 tuyên phong Ngài lên bậc Hiển Thánh và năm 1959, Đức Thánh Cha Gioan 23 đặt Ngài làm Tiến sĩ Hội thánh.

Quyết tâm

Noi gương Thánh Lô-ren-sô Brin-đi-si, tôi đem hết tài năng sức lực rao giảng Lời Chúa bằng lời nói việc làm, để bênh đỡ Hội thánh, và thuyết phục những người lầm lạc quay về với Chúa.

Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Thánh Linh mục Lô-ren-sô thần trí khôn ngoan và dũng lực, để làm vinh danh Chúa và cứu các linh hồn.

Xin nhận lời Thánh nhân cầu thay nguyện giúp mà ban thần trí đó cho chúng con, để chúng con biết việc phải làm, và làm điều đã biết.

Chúng con cầu xin…

 

Ngày 22 tháng 07

THÁNH NỮ MA-RI-A MA-ĐA-LÊ-NA

Gương Thánh nhân

Thánh Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, là con một gia đình phú quý sang trọng. Sau khi cha mẹ mãn phần, Ngài được hưởng một lâu đài kếch sù ở Mát-đa-la, miền Ga-li-lê, do đó người ta gọi Ngài là Ma-ri-a Ma-đa-lê-na.

Với cái gia tài to tác nầy, Ma-ri-a sống xa hoa, đài các, sa đọa, trụy lạc đến nỗi trở nên nô lệ ma quỷ, bị ma quỷ ám hại!...

Nhưng Chúa Giê-su thương Ma-ri-a, khiến cho nàng ước muốn gặp Người. Và đây cơ hội thuận tiện đã đến. Nàng nghe tin Chúa dự tiệc tại nhà ông Si-mon biệt phái, nàng chạy đến để gặp Người:

Và kìa một phụ nữ vốn là người tội lỗi trong thành, biết được Người đang dùng bữa tại nhà ông Pha-ri-sêu, liền đem theo một bình bạch ngọc đựng dầu thơm. Chị đứng đằng sau, sát chân Người mà khóc, lấy nước mắt mà tưới ướt chân Người. Chị lấy tóc mình mà lau, rồi hôn chân Người và lấy dầu thơm mà đổ lên.

Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu đã mời Người liền nghĩ bụng rằng: “Nếu quả thật ông nầy là ngôn sứ, thì hẳn phải biết người đàn bà đang đụng vào mình là ai, là thứ người nào: một người tội lỗi !” Đức Giê-su lên tiếng bảo ông: “Này ông Si-mon, tôi có điều muốn nói với ông !” Ông ấy thưa: “Dạ, xin Thầy cứ nói”. Đức Giê-su nói: “Một chủ nợ kia có hai con nợ: một người nợ năm trăm quan tiền, một người nợ năm chục. Vì họ không có gì để trả, nên chủ nợ đã thưong tình tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, ai mến chủ nợ hơn?” Ông Si-mon đáp: “Tôi thiết tưởng là người đã được tha nhiều hơn”. Đức Giê-su bảo: “Ông xét đúng lắm”.

Rồi quay lại phía người phụ nữ, Người nói với ông Si-mon: “Ông thấy người phụ nữ này chứ? Tôi vào nhà ông: nước lã, ông cũng không đổ lên chân tôi, còn chị ấy đã lấy nước mắt tưới ướt chân tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã chẳng hôn tôi một cái, còn chị ấy từ lúc vào đây, đã không ngừng hôn chân tôi. Dầu ô-liu ông cũng không đổ lên đầu tôi, còn chị ấy thì lấy dầu thơm mà đổ lên chân tôi. Vì thế, tôi nói cho ông hay: tội của chị rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít.” Rồi Đức Giê-su nói với người phụ nữ: “Tội của chị đã được tha rồi”. (Lc. 7, 37-48)

Từ đó, Ma-ri-a Ma-đa-lê-na nhiệt thành đi theo giúp việc Chúa, sống đời đạo đức thánh thiện. Khi Chúa chết, Ngài đứng dưới chân thập giá. Trong lúc mai táng Chúa, Thánh nữ cũng có mặt với các môn đệ, chính Ngài đã chứng kiến ngôi mộ trống và là người đầu tiên nhận ra Chúa phục sinh và loan báo Tin mừng phục sinh cho các môn đệ.

Thánh Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô Cả đã khen ngợi lòng yêu mến thiết tha của thánh nữ:

“Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, sau khi ra mồ không thấy xác Thầy mình ở đây nữa, liền tưởng người ta đã mang Thầy mình đi rồi và chạy đi đưa tin cho các môn đệ. Các môn đệ tới, thấy như vậy và tin lời người phụ nữ đã nói. Sách Thánh đã viết về họ rằng: Vậy các môn đệ trở về nhà. Nhưng tiếp theo: Còn Ma-ri-a thì đứng lại ở cửa mồ mà khóc lóc.

“Trong câu chuyện nầy, ta phải xem tình yêu đã cháy lòng người phụ nữ kia đến thế nào, bởi vì dù các môn đệ đã ra về, chị vẫn không rời bỏ mồ Chúa. Chị còn muốn tìm Đấng mà người ta không thấy, chị khóc lóc mà tìm và cháy lửa yêu mến, chị càng nồng nàn ao ước Đấng mà chị tưởng là người ta đã mang đi: chính vì vậy mà chỉ một mình chị đã thấy Người, vì chị đã ở lại mà tìm, vì giá trị của việc lành nằm ở chỗ kiên trung, như Đấng là chân lý đã phán: Ai kiên trung đến cùng sẽ được cứu rỗi”. 1

Quyết tâm

Xin Chúa cho kính mến Chúa nhiều, để được Chúa tha tội nhiều như Thánh nữ Ma-ri-a Ma-đa-lê-na, và noi gương Ngài mà nhiệt thành loan báo Tin mừng phục sinh cho mọi người.

Lời nguyện

Lạy Chúa Cha hằng hữu, Thánh nữ Ma-ri-a Ma-đa-lê-na là người thứ nhất được Con Một Chúa giao cho sứ mạng loan Tin mừng Phục sinh.

Nhờ lời Thánh nữ chuyển cầu, xin cho chúng con cũng biết noi gương Người, mà rao giảng mầu nhiệm Chúa Ki-tô Phục sinh, để mai sau được vào Nước Trời chiêm ngưỡng Chúa Ki-tô là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

 

Ngày 23 tháng 7

THÁNH BI-GÍT-TA, Nữ Tu

Thánh Bi-gít-ta sinh tại Phin-tác, nước Thụy điển, ngày 14 tháng 06 năm 1303, trong gia đình vương giả.

Năm lên 10 tuổi, trong một buổi dự Thánh lễ, Thánh nhân nghe giảng về sự thương khó Chúa Giê-su thì hết sức cảm động. Và từ đó Ngài đem lòng mộ mến Chúa chịu chết cách đặc biệt, đến nỗi nhiều đêm nằm ngủ, Ngài mơ thấy Chúa Giê-su mình đầy thương tích, bê bết máu me, và Ngài khóc sướt mướt vì thương mến Người!...

Mới 11 tuổi, Thánh nhân đã phải mồ côi mẹ, Ngài sống với người dì cho đến năm 13 tuổi. Ngài mong ước sống độc thân, giữ mình khiết tịnh, hiến trọn tình yêu cho Chúa. Nhưng vì vâng lời dì, Ngài phải kết hôn với Gút-mác-son là con một gia đình quyền quý nhất trong vùng. Ngài có 8 người con, trong số đó có người con trai thứ tư là tu sĩ dòng Xi-tô, và người con gái đạo đức thánh thiện đã được phong Thánh năm 1476 là Thánh nữ Ca-ta-ri-na.

Thánh nhân luôn sống xứng đáng là người vợ hiền đối với chồng, và người mẹ gương mẫu đối với con cái. Ngài luôn giữ gìn gia đình sống trong thuận hoà yêu thương, siêng năng sốt sắng thờ phượng Chúa, tránh khỏi mọi lỗi lầm thói xấu. Hằng ngày Thánh nhân thường khuyên bảo các con:

- Không có gì cần thiết và quý giá cho bằng học hỏi thực hành Lời Chúa, và noi gương các Thánh.

Sau khi chồng chết, thánh nhân làm việc bác ái từ thiện. Ngài cùng các con chăm sóc những kẻ bịnh hoạn tật nguyền, giúp đỡ những người nghèo khổ, đặc biệt ngài sống khổ hạnh, ăn chay cầu nguyện liên lỉ, thường xuyên suy ngắm mầu nhiệm khổ nạn của Chúa. Trong một lần suy tưởng sự thương khó Chúa, Thánh nữ tha thiết nguyện cầu:

“Lạy Đức Giê-su Ki-tô Chúa của con, ngợi khen Chúa đến muôn đời, vì vào giờ ấy ở trên thập giá Chúa đã chịu những sự chua xót, khắc khoải ghê gớm vì chúng con là kẻ tội lỗi. Những sự đau đớn rùng rợn từ các thương tích bấy giờ đã thấu suốt tâm hồn toàn phúc của Chúa và dữ dằn thấu qua trái tim rất thánh của Chúa, cho tới khi trái tim Chúa vỡ ra và Chúa thở hơi cuối cùng, rồi gục đầu xuống, Chúa khiêm nhường phó mình trong tay Thiên Chúa Cha, và nằm chết như vậy với thân thể giá lạnh.

“Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, Chúa của con, chúc tụng Chúa vì Chúa đã cứu chuộc các linh hồn nhờ máu châu báu và sự chết rất thánh của Chúa, và Chúa