PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG 05

Tháng 01 I Tháng 02 I Tháng 03
Tháng 04 I Tháng 05 I Tháng 06 I Tháng 07
Tháng 08
I Tháng 09 I Tháng 10 I Tháng 11 I Tháng 12

 

THÁNG NĂM

Ngày 1 tháng 5
THÁNH GIUSE THỢ

  • Gương thánh nhân:

Năm 1955, Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã lập lễ thánh Giuse thợ. Mỗi năm kính nhớ vào ngày 1 tháng 5, ngày mà hầu hết các nước trên thế giới chọn làm ngày lễ lao động, tán dương khích lệ công lao con người đã dùng tài năng sức lực của mình để phục vụ đồng loại. Đức Giáo Hoàng đã nói rõ ý nghĩa ngày lễ thánh Giuse thợ như sau:

“Chắc chắn chúng ta phải hân hoan, vì người thợ vô danh ở Na-da-rét chẳng những là hiện thân cho giá trị chân tay trước mặt Chúa và Hội thánh mà còn là vị Giám hộ mẫn tiệp của mọi người và của các gia đình và các bạn lao động.”

Như chúng ta biết, thánh Giuse được Chúa chọn làm cha nuôi Chúa Giêsu, khi Người sinh ra làm người để cứu độ nhân loại. Thánh nhân là người công chính, luôn tuân hành thánh ý Chúa, sẵn sàng vâng nghe và làm theo lời Chúa dạy. Ngài tận tâm bảo vệ Đức Mẹ, nhiệt thành cộng tác với Mẹ nuôi dưỡng, chăm sóc Chúa Giêsu. Để chu toàn sứ mệnh đó. Ngài làm nghề thợ mộc vất vả hằng ngày. Ngài lấy sức lao động của mình bảo đảm cuộc sống hằng ngày của Thánh gia .

Ngài là gương mẫu cho mọi người sống nghề lao động chân tay và cách riêng cho các Kitô hữu: lương thiện, cần mẫn, siêng năng làm việc lo cho gia đình. Chẳng những lo cho gia đình mà còn phát triển xã hội và tôn vinh Chúa, vì theo thánh công đồng Vaticanô II: “Đối với các tín hữu, chỉ có một điều chắc chắn là: hoạt động cá nhân cũng như tập thể của nhân loại, các nỗ lực vĩ đại của con người vất vả qua các thế kỷ là nhằm cải thiện hoàn cảnh sinh sống. Việc này tự nó phù hợp với ý định của Thiên Chúa.

Thật vậy, được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, con người đã nhận mệnh lệnh chinh phục trái đất cùng tất cả những gì chứa đựng trong đó. Họ phải cai quản vũ trụ trong công bình và thánh thiện. Nhận diện Thiên Chúa là Đấng sáng tạo mọi loài, họ phải quy hướng cả bản thân mình cũng như muôn vật về Người: để khi con người chinh phục được tất cả, thì danh Chúa được tôn vinh khắp địa cầu.

Điều đó cũng ứng dụng cho những công việc rất thường nhật. Khi mưu sinh cho mình và cho gia đình, những người đàn ông, đàn bà hoạt động để phục vụ xã hội một cách hữu hiệu, đều có lý để coi lao động của mình tiếp nối công trình của Đấng Tạo hóa, phục vụ đời sống của anh em và đóng góp công lao vào việc hoàn thành chương trình của Thiên Chúa trong lịch sử.” 1

Thánh Giuse là gương mẫu của người lao động. Ngài còn là vị Giám hộ của những người làm việc chân tay. Và Ngài là vị Giám hộ đắc lực nhất, như lời Đức Thánh Cha Pi-ô XII nói: “Không có vị Giám hộ nào có đủ khả năng linh nghiệm truyền thông Phúc Âm cho đời sống thợ thuyền bằng thánh Giuse thợ.”

Quyết tâm: Hằng ngày, tôi siêng năng làm việc, để giúp ích cho gia đình, xã hội, theo gương thánh Giuse, và chuyên cần kêu xin thánh nhân cầu thay nguyện giúp cho những người lao động nghèo khổ, bất hạnh.

Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa tạo thành trời đất, Chúa đã muốn cho con người lao động để tiếp tục công trình của Chúa.Xin nhận lời thánh cả Giuse chuyển cầu, mà cho chúng con biết noi gương người để lại, là chu toàn nhiệm vụ Chúa đã giao phó, hầu được hưởng niềm vui Chúa đã hứa cho tôi tớ trung thành.

Thánh Âutinh Đông và Gioan Lu-y Hươg
Linh mục thừa sai tử đạo.

  • Gương thánh nhân:

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã phán bảo các môn đệ: “Anh em hãy đi khắp bốn phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi thụ tạo…”(Mc 16,15). Thực hành lệnh truyền đó của Chúa, các linh mục Âu tinh Đông và Gioan Lu-y Hương đã rời bỏ nước Pháp và quê hương xứ sở mình, đến loan báo Tin Mừng tại Việt Nam, và chịu chết đổ máu ra, để làm chứng đạo Chúa là đạo thật

Âu tinh Đông sinh năm 1822 tại Lo-ren ( lorraine ), nước Pháp.

Ngay từ nhỏ Âu tinh đã được Chúa ban cho ước muốn giảng đạo Chúa. Cậu đã được Cha xứ xin cho vào chủng viện địa phận Nan-cy, sau một năm học thần học, thầy Âu tinh đã xin phép cha mẹ gia nhập Hội Thừa sai Paris, là một Hội chuyên đào tạo linh mục truyền giáo các nước. Nhưng giữa lúc đó, tin tức về việc giảng đạo ở Đông Nam Á rất bi đát. Có thể nói đi giảng đạo là đi vào chỗ chết, nên song thân thầy ngăn cản, không cho thầy gia nhập Hội Thừa Sai. Dù vậy thầy cũng xin vào Hội, vì nghĩ phải theo thánh ý Chúa hơn vâng lời cha mẹ.

Ngày 29 tháng 5 năm 1847, thầy được thụ phong linh mục và được gởi đi giảng đạo ở Việt Nam .. Lúc đó, Đức Cha Liêu làm Giám mục Tây Đàng Ngoài, ngài vui mừng đón tiếp cha, đặt tên là Cố Đông, cho cha học tiếng Việt, rồi sai đi giúp xứ Đoài.

Còn gì hạnh phúc hơn khi con người được Chúa ban mọi sự như lòng sở nguyện. Cha Đông ước muốn di đến các nơi xa để rao truyền Danh Thánh Chúa, nay cha được đến Việt Nam , được sai đến cánh đồng truyền giáo bao la bát ngát. Cha hết sức vui mừng, hăng say rao truyền đạo Chúa. Và kết quả thật khả quan: số người trở lại đạo ngày càng nhiều, còn giáo dân thì nhờ lời cha dạy bảo mà thêm nhiệt thành phụng sự Chúa.

Giữa lúc cha hăng say hoạt động truyền giáo, thì ngày 1 tháng 3 năm 1851, cha bị quân lính bắt giải lên tỉnh Sơn Tây. Sau nhiều lần bị tra tấn, cha vẫn cương quyết sẵn sàng chịu khổ chịu chết vì Chúa. Thế nên ngày 1 tháng 5, cha bị trảm quyết tại pháp trường Năm Mẫu ở Sơn Tây.

Gioan Lu-y Hương sinh năm 1824, tại Ly-on, nước Pháp. Chúa đã thương chọn cậu giúp việc giảng đạo Chúa, nên năm 12 tuổi cậu đã xin gia nhập chủng viện.

Trong thời gian tu luyện ở chủng viện, cậu được nghe nhiều tin tức, nhất là các gương tử đạo anh dũng của các linh mục thừa sai ở các xứ truyền giáo. Cậu ước muốn đến giảng đạo ở các nơi đó, đồng thời mong được chịu chết để làm chứng cho Chúa. Thế nên năm 1846, cậu đã xin vào Hội Thừa Sai Paris, là Hội các linh mục chuyên lo truyền giáo tại vùng Viễn Đông. Và sau khi hoàn tất chương trình thần học, thầy Gioan Lu-y đã được thụ phong linh mục ngày 24 tháng 12 năm 1848.

Từ ngày đó, vị tân linh mục ngày càng ước mong được đi truyền giáo ở các xứ, nhất là ở Việt Nam . Và ngài đã được mãn nguyện. Đầu năm 1849, cha được bề trên gởi sang Việt Nam . Cha đến Địa Phận Tây Đàng Ngoài, được Đức Cha Liêu đặt tên mới là Hương, và sai đi giúp hai xứ Kẻ Trình và Kẻ Báng.

Từ lâu mong ước, nay được đến nơi truyền giáo, cha Hương hết sức vui mừng tạ ơn Chúa. Hằng ngày cha hăng hái phục vụ đoàn chiên Chúa và nhiệt tâm rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại. Nhờ cha, các tín hữu thêm lòng sốt sắng, người ngoại đạo nhìn biết tin kính Chúa. Mùa chay năm 1852, cha tổ chức cấm phòng cho xứ Kẻ Báng, nhiều giáo hữu ở xung quanh đến tham dự. Mãn tuần tĩnh tâm, giáo dân họ Bối Xuyên mời cha đến giúp họ. Đang khi cha ban bí tích Rửa tội cho một số trẻ em ở đó, thì quân lính đến bao vây. Cha vội vàng cởi áo lễ bỏ chạy, nhưng quân lính đuổi theo bắt được, giải về huyện.

Đức cha Liêu thấy cha nhiệt tình làm tông đồ, muốn cứu cha, để cha tiếp tục lo cho đoàn chiên Chúa. Ngài cho người đem tiền chuộc cha, nhưng quan huyện từ chối, và giải cha về tỉnh Nam Định.

Sau một tháng giam cầm, hành hạ, tra tấn, cha Hương vẫn cương quyết trung thành theo Chúa. Quan tổng đốc thấy không thể lay chuyển nổi lòng trung tín của cha, nên đệ đơn xin vua kết án trảm quyết. Ngày 1 tháng 5 năm 1852, cha bị điệu ra pháp trường Bảy Mẫu. Và sau hồi chiêng báo hiệu, lý hình đã chém đứt đầu cha, rồi đem cả đầu và thân mình cha bỏ trôi sông, nhưng Đức Cha Liêu đã cho người đi vớt đem về chôn ở chủng viện Vĩnh Trị.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo chủ Lê-ô XIII đã tôn cha Gioan Lu-y Hương và Âu-tinh Đông lên Chân phước. Và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II suy tôn các ngài lên bậc Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Quyết tâm: Sẵn sàng nghe theo tiếng Chúa gọi, đi đến những nơi xa xăm nguy hiểm để rao giảng đạo Chúa, bằng lời cầu nguyện, việc khuyên bảo và gương sáng, nhất là bằng sự hy sinh theo gương các thánh Âu-tinh Đông và Gioan Lu-y Hương linh mục tử đạo.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 2 tháng 5
THÁNH A-TA-NA-XI-Ô
Giám mục tử đạo

  • Gương thánh nhân:

Thánh A-ta-na-xi-ô sinh năm 296, tại A-lét-xan-tri, nước Ai-cập. Từ nhỏ, ngài đã được hấp thụ một nền giáo dục tốt đẹp nơi gia đình. Lớn lên, ngài lại được Đức Giám mục giáo phận đem về dạy dỗ. Nhờ đó, thánh nhân thêm thông giỏi và tấn tới trên đường nhân đức, đặc biệt đời sống ngài thấm nhuần Kinh thánh.

Năm 325, Đức Giám mục giáo phận đi dự công đồng Ni-xê, thánh nhân được theo dự. Lúc đó, ngài đã chịu chức phó tế. Năm tháng sau, Đức Giám mục qua đời, ngài được bầu thay thế, mặc dù đã hết sức khiêm tốn từ chối.

Từ đó, thánh nhân phải nhận trách nhiệm nặng nề khó khăn, vì giáo phận A-lét-xan-tri đã đông giáo dân, lại thêm bè rối A-ri-ô đang lan tràn mạnh mẽ. Họ phủ nhận Thiên tính của Chúa Giêsu. Họ chống đối ngài, vì ngài dạy mọi người nhìn nhận Chúa Giêsu là Thiên Chúa thật và là người thật theo đức tin chân chính. Nhiều lần, họ tấn công ngài dữ dội, đến nỗi ngài phải chạy ra khỏi Giáo phận. Có lúc, ngài phải trốn chui, trốn nhũi nơi mồ mã hoặc trong sa mạc. Nhưng họ cũng vẫn bắt ngài và đem đi đày 17 năm trời vất vả khổ cực.

Dầu vậy, thánh nhân cũng không ngã lòng chán nản. Ngài trông cậy Chúa và đem hết khả năng chỉ vạch cho những kẻ lảm khổ ngài nhận biết lỗi lầm của họ. Chẳng những ngài dùng lời nói mà còn viết nhiều sách giải thích và bảo vệ đức tin chân thật về Ngôi Lời Nhập Thể:

“Ngôi Lời Thiên Chúa là Đấng vô thể xác, bất hoại và vô thể chất. Người đã đến trong miền đất chúng ta, mặc dù trước đó, Người chẳng bao giờ ở xa. Quả vậy, chẳng có vùng vũ trụ nào không có Người. Bởi ví hiện hữu làm một với Cha Người, Người ở đầy trong mọi sự và ở mọi nơi.

Nhưng vì lòng nhân từ đối với ta, Người đã đến để tỏ mình ra rõ ràng cho ta thấy. Người đã thương loài người và thân phận yếu đuối của ta. Người động lòng trắc ẩn thấy ta bị hư hại. Người không chịu cho sự chết làm chủ ta mãi; nghĩa là để tạo dựng của Người hư đi, để công trình Cha Người đã làm khi tạo dựng nên con người khỏi ra không, thì Người đã nhận mặc lấy thân xác không khác gì với thân xác của ta; bởi vì Người không phải chỉ muốn có thân xác hay chỉ muốn hiện thân ra mà thôi…

Vậy, sau khi đã nhận mặc một thân xác giống như của ta và lấy từ hân xác của ta; và vì mọi người chúng ta phải chịu luật hư nát của sự chết, nên vì mọi người chúng ta, Người đã phó nộp thân xác của mình để chịu chết, để làm lễ dâng cho Cha Người với tất cả lòng nhân ái, để mọi người chết ở trong Người sẽ được giải thoát khỏi luật hư hoại. Vì chưng, luật ấy đã vung sức phá hoại trong thân xác Người rồi thì không còn quyền làm hại người ta, đồng loại với Người nữa. Như vậy, xưa người ta đã đi vào con đường hư hoại, thì nay Người lại làm cho họ trở thành bất hoại. Người kêu gọi họ bỏ sự chết trở về sự sống nhờ chính thân xác mà Người đã nhận mặc cho mình. Và nhờ ơn của việc phục sinh, Người đã gạt hẳn sự chết ra khỏi người ta…” 1

Nhưng ngài càng chịu khó khai sáng cho họ bao nhiêu thì họ càng thù ghét ngài bấy nhiêu.

Mãi đến năm 378, tức là 5 năm sau khi thánh nhân qua đời, bè rối A-ri-ô mới chấm dứt.

Quyết tâm: Noi gương thánh A-ta-na-xi-ô, tôi sẵn sàng chịu mọi sự khốn khó gian lao, để gìn giữ và bảo vệ đức tin chân thật.

Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho thánh Giám mục A-ta-na-xi-ô được can đảm đứng lên bệnh vực niềm tin của Giáo hội, về Thiên Tính của Đức Kitô, Con Một Chúa.Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, mà ban cho chúng con biết nghe lời ngài giảng dạy, để ngày càng hiểu biết và yêu mến Chúa hơn.

Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu
Trùm họ tử đạo

  • Gương thánh nhân:
“Con xin trao cho Chúa tất cả mọi sự thuộc về con. Con bằng lòng dâng cho Ngài hy sinh lớn lao hơn hết là mạng sống con và gia đình vợ con của con.”

Đó là lời thánh Giuse Lựu khấn nguyện với Chúa, lúc sắp chết rũ tù tại Vĩnh Long. Thánh nhân đã sẵn sàng dâng hiến cho Chúa tất cả gia đình và mạng sống để làm chứng cho Chúa.

Giuse Nguyễn Văn Lựu sinh năm 1789 tại họ đạo Cái Nhum, huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long. Cha là Nguyễn Văn Sách, mẹ là bà Minh. Ông bà rất đạo đức sốt sắng, hết lòng mến Chúa yêu người. Nhờ đó, ngay từ tuổi thơ ấu, Giuse Lựu đã hấp thụ được lòng đạo sâu xa.

Nhưng chẳng bao lâu, bà Minh ngã bệnh mất sớm, cậu Giuse phải mồ côi mẹ. Thấy gia cảnh đơn chiếc khó khăn, cha cậu đã cưới vợ khác. Bà này cũng thương yêu chăm sóc cậu như con ruột, lo cho cậu học hành đạo lý chữ nghĩa đầy đủ. Và bà sinh được bốn người con: một trai là Thức, và ba gái là Ngũ, Yên, Tĩnh.

Vì cuộc sống ở Cái Nhum khó khăn vất vả, năm 1799, cha cậu phải đem gia đình đến sinh sống, làm ăn ở họ Bò Ót, nhưng ở đây làm ăn cũng không khá, cha cậu phải đùm bọc vợ con đến họ đạo Mặc Bắc. Lúc đó cậu đã trưởng thành, nên kết hôn với cô Maria Thể là người ở trong họ đạo.

Sau khi lập gia đình, vợ chồng cậu Giuse lo tận tụy làm ăn sinh sống, để bớt gánh nặng cho cha mẹ. Đặc biệt hai người lo thành tâm sống đạo, siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội, rước lễ vì tin chắc rằng: mọi sự đều cần nhờ ơn Chúa. Đúng như lời Chúa Giêsu phán: “Nếu không có Thầy, chúng con không làm gì được” Chẳng những ông bà hết lòng kính mến Chúa, mà còn thực hành bác ái cách hoàn hảo. Hằng ngày ông khuyên bảo mọi người sống đạo sốt sắng. Thấy ai nghèo khổ, bệnh tật, ông sẵn sàng giúp đỡ hết khả năng. Gặp những người làm việc nặng nề vất vả, ông luôn giúp đỡ. Nhiều lần ông đắp bờ, nhổ mạ, dặm lúa với những người xung quanh.

Lúc đó cha Phêrô Lựu là chánh sở Mặc Bắc. Cha thấy ông đạo đức thí quý mến và chọn làm biện sở. Và vì vua Tự Đức ra sắt chỉ cấm đạo gắt gao, nên cha đến trú ẩn tại nhà ông. Thấy ông tận tình lo giúp bổn đạo cũng như siêng năng lo việc nhà thờ, ít lâu sau cha đặt ông lên làm trùm nhất trong ho.

“Ở Mặc Bắc có người bổn đạo là bếp Nhẫn, tánh tình ngang ngược, lại thêm tật cờ bạc rượu chè. Nó muốn làm tiền cha Lựu để xài phí và trả nợ, nhưng vì cha không có tiền cho nó, nên nó quyết báo thù cha. Nó lên tỉnh Vĩnh Long tố cáo cha, để được thưởng tiền như Giuđa khi xưa bán Chúa.

Thế là ngày 26 tháng 2 năm 1853, quan tổng đốc Vĩnh Long sai một toán quan quân đi ghe xuống Mặc Bắc, bắt cha Phêrô Lựu. Họ đến bao vây nhà ông trùm, bắt trói ông bà đánh đập tra khảo, bảo phải khai nộp cha Phêrô Lựu. Nhưng cha Phêrô chẳng còn ở đó, Đức Cha đã đổi cha đi họ Ba Giồng, có cha Philipphê Minh đến thế. Thấy ông trùm bị đánh đau đớn quá, cha ra tự nhận là đạo trưởng. Quan quân liền bắt trói cha với ông trùm và mấy người bổn đạo giải về tỉnh.

Bị giam cầm hành hạ khổ sở, ông trùm vẫn can đảm giữ vững đức tin. Nhưng vì tuổi già sức yếu, phần vì cực hình xiềng xích nặng nề, ông đã chết rũ tù ngày 2 tháng 5 năm 1854. Trước khi chết ông đã cố gắng nguyện với Chúa: Lạy Chúa, con xin trao cho Chúa tất cả mọi sự thuộc về con. Con bằng lòng hiến dâng lên Chúa hy sinh lớn lao hơn hết là mạng sống con và gia đình vợ con của con.

Đức Thánh Cha Pi-ô X đã phong ông lên bậc Chân phước ngày 2 tháng 5 năm 1909. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong Hiển thánh.

Quyết tâm: Noi gương thánh Giuse Lựu, hằng ngày hết lòng thờ phượng kính mến Chúa, thương yêu giúp đỡ hồn xác mọi người và sẵn sàng hiến dâng mạng sống, mọi sự để làm chứng cho Chúa.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 3 tháng 5
THÁNH PHI-LIP-PHÊ VÀ GIA-CÔ-BÊ
Tông đồ

  • Gương thánh nhân:

Thánh Phi-lip-phê sinh tại Bết-sai-đa, ở Ga-li-lê, đồng hương với thánh Phêrô và thánh An-rê. Ngay trong những ngày đầu đi loan báo Tin Mừng, Chúa Giêsu đã gặp ngài và kêu gọi theo Người.” Đức Giêsu quyết định đi tới miền Ga-li-lê. Người gặp ông Phi-lip-phê và nói:

  • Anh hãy theo tôi.

Ông Phi-lip-phê là người Bết-sa-đa, cùng quê với ông An-rê và ông Phêrô. Ông Phi-lip-phê gặp ông Na-ta-na-en và nói:

  • Đấng mà sách Luật Mô-se và các ngôn sứ nói tới, chúng tôi đã gặp, đó là ông Giêsu, con ông Giuse, người Na-da-rét” ( Ga. 2, 43-45 ).

Thánh nhân chẳng những mau mắn đi theo Chúa, mà còn giới thiệu Người cho Na-ta-na-en. Khi Chúa sắp hóa bánh ra nhiều để nuôi dân chúng, Chúa đã muốn nhờ ngài giúp:

Ngước mắt lên, Đức Giêsu nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-lip-phê:

  • Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?
Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi.

Ông Phi-lip-phê đáp:

- Thưa, có mua đến hai trăm đồng bạc bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút” ( Ga .6, 5-7 ).

Dịp lễ Vượt qua, những người lương dân đã nhờ ngài hướng dẫn cho được gặp Chúa Gêsu: “Trong số những người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Chúa, có mấy ngưới Hy-lạp. Họ đến gặp ông Phi-lip-phê, người Bết-sai-đa, miến Ga-li-lê và xin rằng:

  • Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giêsu.

Ông Phi-lip-phê đi nói với ông An-rê. Ông An-rê cùng với ông Phi-lip-phê đến thưa với Chúa Giêsu.” ( Ga. 12, 20-22 ).

Và chính thánh nhân đã xin Chúa cho thấy Chúa Cha trong cuộc đàm đạo thân mật sau bữa Tiệc ly:

“ Đức Giêsu bảo:

  • Nếu anh em biết Thày, anh em cũng biết Cha Thày. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người.

Ông Phi-lip-phê nói:

  • Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con biết Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện.

Đức Giêsu trả lời:

  • Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-lip-phê, anh chưa biết Thày ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha.” ( Ga. 14, 7-9 ).

Sau ngày lễ Hiện Xuống, thánh nhân đã đi rao giảng ở những vùng rộng lớn miền Tiểu Á. Tương truyền, một hôm, ngài thấy dân chúng tụ họp cúng tế một con rắn to mà họ coi như chúa tể. Ngài tức giận giết con rắn. Dân chúng xúm lại đánh ngài, rồi đem đóng đinh vào thập giá và ném đá ngài chết.

Thánh Gia-cô-bê chúng ta mừng kính hôm nay là Gia-cô-bê hậu, khác với Gia-cô-bê tiền là anh em với thánh Gioan. Ngài sinh tại Ca-na, ở Ga-li-lê, thuộc dòng tộc Giu-đa, và hai em khác là Giuse và Si-môn là môn đệ Chúa.

Sau ngày lễ Hiện xuống, các tông đồ đi khắp nơi giảng đạo. Ngài ở lại Giê-ru-sa-lem để rao giảng kêu gọi người Do thái trở lại với Chúa. Ngài rất có thế giá trong Giáo hội sơ khai. Và trong Công đồng tại Giê-ru-sa-lem, thánh nhân đã lên tiếng phát biểu sau thánh Phê-rô, quyết định cho người ngoại giáo gia nhập đạo Chúa mà không cần phải chịu phép cắt bì theo luật Do-thái:

Ông Gia-cô-bê lên tiếng nói: Thưa anh em, xin nghe đây: ông Simon đã thuật lại cho chúng ta rằng ngay từ đầu, Thiên Chúa đã đoái thương chọn trong các dân ngoại một dân mang danh Người. Những lời các ngôn sứ cũng phù hợp với các điều ấy, như đã chép;

“Sau đó ta sẽ trở lại, và sẽ xây dựng lại lều Đa-vít đã sụp đổ, đống hoang tàn đó, Ta sẽ xây dựng lại, và Ta sẽ dựng lại lều ấy. Như vậy, các người còn lại, và tất cả các dân ngoại được mang danh Ta, sẽ tìm kiếm Chúa. Chúa phán như vậy, Người là Đấng cho biết những điều ấy tự ngàn xưa. Vì vậy, phần tôi, tôi xét là không được gây phiền hà cho những người gốc dân ngoại trở lại với Thiên Chúa. Nhưng chỉ viết thư bảo họ kiêng những thức ăn ô uế, vì đã cúng cho ngẫu tượng: tránh gian dâm, kiêng ăn thịt loài vật không cắt tiết và kiêng ăn tiết. Thật vậy, từ những thế hệ xa xưa, trong mỗi thánh, ông Mô-sê đều có những người rao giảng: họ đọc lời của ông trong các hội đường mỗi ngày Sa-bát.” (Cv. 15,13-21 ).

Thánh nhân đem được nhiều người Do-thái trở lại với Chúa. Vì thế mà các đầu mục của họ thù ghét ngài. Và họ đã âm mưu bắt ngài. Họ đem ngài lên nơi cao Đền thờ và bảo:

- Hãy nói cho chúng tôi biết sự thật về Giêsu.

Ngài nói:

- Tại sao các ông hỏi tôi về Chúa Giêsu? Người đang ngự bên hữu Đức Chúa Cha, và Người sẽ trở lại phán xét các ông.

Họ la lên, rồi áp tới xô ngài xuống vực sâu. Ngài bị thương nặng, nhưng còn rán kêu lên như Chúa Giêsu:

- Lạy Chúa, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm.

Rồi ngài tắt thở…

Quyết tâm: Hằng ngày, tôi chịu khó hy sinh giúp việc giảng đạo Chúa. Đem anh chị em tôi trở về với Chúa như thánh Phi-lip-phê và thánh Gia-cô-bê. Nhất là xin Chúa cho tôi biết tha thứ và cầu nguyện cho kẻ nghịch thù.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Hằng năm Chúa cho chúng con được hân hoan mứng lễ hai thánh tông đồ Phi-lip-phê và Giacôbê.Xin Chúa thương nhận lời các ngài cầu thay nguyện giúp, mà cho chúng con biết thông phần vào cuộc khổ nạn và Phục Sinh của Đức Giêsu, để được chiêm ngưỡng nhan thánh Chúa muôn đời.

 

* Thánh Giuse Hiển
Linh mục tử đạo.

  • Gương thánh nhân:

Thánh Giuse Hiển là linh mục dòng Đa-minh. Thánh nhân muốn gia nhập Hội Dòng chuyên thuyết giáo này, để sống khắng khít với Chúa, và rao giảng Tin Mừng đắc lực hơn. Nhờ lời cha giảng dạy, nhiều người đã tin theo Chúa; cả trong lúc tù ngục, cha cũng rửa tội được nhiều người.

Giuse Hiển sinh năm 1769 tại làng Quần Anh, tỉnh Nam Định, trong một gia đình rất ngoan đạo, sẵn sàng hiến dâng con cái để phụng sự Chúa. Chính vì thế, ngay từ lúc Giuse còn nhỏ, cha mẹ đã gởi gấm cho Đức cha Đen-ga-đô Y, để ngài đào tạo, huấn luyện cậu nên tông đồ của Chúa.

Sau khi học xong thần học, thầy Giuse Hiển đã chịu chức linh mục, và được gởi đi du học ở Ma-ni-la, thủ đô nước Phi-luật-tân. Trong thời gian học ở đây, cha Giuse đã xin gia nhập dòng thánh Đa-minh. Và ngày 13 thàng 10 năm 1813, cha đã khấn Dòng, chính thức trở thành linh mục Dòng Anh Em Thuyết Giáo.

Mãn các khóa học, bề trên gọi cha về Việt Nam , sai đi giúp giáo dân trong các xứ đạo. Chá đảm trách họ đạo Cao Mộc lâu nhất. Ở đâu cha cũng hết lòng phục vụ giáo hữu và rao truyền đạo Chúa cho lương dân. Và để cho lời giảng dạy được kết quả, hằng ngày cha chuyên cần cầu nguyện, hy sinh, hãm mình. Nhờ đó, Chúa ban cho cha đặc ân hoán cải được lòng người. Hễ ai nghe cha khuyên bảo an ủi, thì cũng thay lòng đổi dạ: từ một người không tin trở lại tin Chúa, từ một người nguội lạnh trở nên sốt sắng…

Cha đang hoạt động tông đồ đắc lực thì đầu năm 1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ bắt đạo. Tất cả các cha đều phải ẩn náu rày đây mai đó, âm thầm lén lút giúp đỡ giáo dân, không còn đi lại công khai được nữa. Tuy hoàn cảnh khó khăn, cha Giuse vẫn tìm đủ mọi phương cách tới lui, thăm viếng, ủy lạo và ban các bí tích cho giáo dân. Cha biết làm như thế là rất nguy hiểm cho tính mạng, nhưng cha sẵn sàng hiến dâng mạng sống mình vì Chúa và vì đoàn chiên, đoàn chiên càng bị thử thách, bắt bớ thì càng cần được chủ chăn chăm sóc, bảo vệ. Cha luôn cố gắng thực hành đúng như lời Chúa Giêsu : “Mục tử tốt lành hiến mạng sống vì đoàn chiên”.

Đêm 20 tháng 12 năm 1839, đang lúc cha ở Kiên Trung, có người nhà của ông đội Nhất đến rước cha đến giải tội xức dầu cho ông, vì ông bệnh nặng và đã nhiều năm bỏ mùa Phục Sinh, không có xưng tội rước lễ. Cha đang ngồi tòa giải tội cho ông thì một người ngoại giáo phát giác. Họ đi tố cáo với tổng đốc Trịnh Quang Khanh. Quan liền đem binh lính đến vây bắt cha, dẫn về đình làng tra tấn đánh đập dã man, rồi giải về tỉnh Nam Định.

Dù bị giam cầm khổ sở trong ngục, cha Giuse đã chịu khó khuyên bảo các giáo hữu cùng bị giam với cha, khuyến khích họ can đảm giữ vững đức tin, sẵn sàng chịu cực hình tra tấn để hiệp cùng sự Thương Khó Chúa Giêsu, cứu rỗi các linh hồn. Cha phổ biến việc tôn sùng Thánh Giá Chúa, để tăng thêm nghị lực cho các giáo hữu nhát đảm sợ chết.

Trong thời gian giam cầm, cha bị đưa ra tra tấn nhiều lần hết sức đau đớn, nhưng cha cương quyết bền lòng theo Chúa, nên quan tổng đốc kết án trảm quyết. Và triều đình đã chuẩn phê bản án, nên ngày 8 tháng 5 năm 1840, cha bị trảm quyết tại pháp trường Nam Định, được lãnh nhận triều thiên tử đạo mà cha hằng mong ước. Thi thể cha được chôn ngay tại Pháp trường, và tám tháng sau được cải táng về chủng viện Lục Thủy.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII suy tôn cha lên Chân phước. Và Đức Gioan Phaolô II tôn phong cha lên Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988 cùng với 116 vị Hiển thánh tử đạo Việt Nam.

Quyết tâm: Biết dùng mọi hoàn cảnh thuận lợi cũng như khó khăn để rao giảng đạo Chúa, đặc biệt biết dùng lời cầu nguyện và sự hãm mình hằng ngày để giảng đạo cho đắc lực, và sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Chúa và đồng loại, theo gương thánh Giuse Hiển, linh mục tử đạo.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

* Thánh Mát-thêu Lê Văn Gẩm
Giáo dân tử đạo

  • Gương thánh nhân:

Gia đình thánh Matthêu Gẩm diễm phúc, vì có được ba người chết vì đạo: người con trai thứ ba của thánh nhân ngăn cản không cho người ta đốt nhà thờ nên bị giết, người con trai thứ tư bị bắt vì đạo và bị thiêu sống trong khám đường cùng với nhiều tín hữu khác tại Bà Rịa, ngày 7 tháng giêng năm 1862, và chính thánh nhân đã chịu chết đổ máu ra vì trung thành tin theo Chúa.

Mát-thêu Gẩm sinh năm 1813, tại làng Long Đại tỉnh Biên Hòa, nay thuộc huyện Thủ Đức, cha là Phaolô Lê Văn Lại, mẹ là Maria Nguyễn Thị Nhiệm. Hai ông bà sống rất đạo đức nhiệt thành, có tất cả 6 người con, cậu Matthêu Gẫm là con cả.

Nhờ gương nhân đức và lòng sốt sắng của cha mẹ, cậu Gẫm rất mến mộ dâng mình giúp việc Chúa. Cậu đã trình lên cha mẹ và linh mục chánh sở ước nguyện tốt đẹp đó, và đã được chấp nhận. Năm lên 15 tuổi cậu đã được gia nhập chủng viện Lái thiêu để tu luyện làm linh mục. Từ ngày cậu gia nhập chủng viện, song thân cậu phải làm việc cực khổ quá sức mà không đủ ăn, buộc lòng đến xin rước cậu về phụ giúp, vì cậu là anh cả của một đàn em nhỏ dại. Và cậu đã vui lòng vâng lời cha mẹ, trở về giúp đỡ gia đình, mặc dầu lòng vẫn tha thiết với lý tưởng tông đồ.

Sau một thời gian phụ giúp cha mẹ, cậu thấy gia đình đã khấm khá đủ ăn, nên xin phép kết hôn với một thiếu nữ có đạo ở Long Điền, Bà Rịa. Từ đó hai vợ chồng chung sống hòa thuận, cần cù làm việc, siêng năng sống đạo, và luôn sẵn sàng giúp đỡ các linh mục trong việc truyền giáo. Hai ông bà sinh được 4 người con mà hai người đã được phước chết vì đạo.

Matthêu Gẩm là người buôn bán, ông có thuyền riêng và rất thông thạo sông biển, lại sẵn sàng phụ giúp nhà chung và các linh mục. Vì thế cha Lợi ở Bà Rịa thường nhờ ông đi Hạ Châu (Singapo) và Pê-năng (Mãlai), đưa đón các linh mục thừa sai và các chủng sinh du học. Ông đã đi được mấy chuyến êm xuôi, nhưng các quan quân cũng bắt đầu tình nghi theo dõi.

Năm 1846, cha Lợi lại nhờ ông sang Singapo rước Đức Cha Nghĩa, cha Lộ và ba chủng sinh về Sàigòn. Ông biết đây là chuyến đi rất nguy hiểm, nhưng vì lợi ích cho Hội thánh, ông hy sinh ra đi.

Ngày 6 tháng 6 năm 1846, thuyền ông đã chở Đức Cha và chủng sinh về đến Cần Giờ. Theo dự tính sẽ có ghe ra đón tại đây, nhưng vì bị bão tố, thuyền ông về trễ, nên ghe ra đón đã trở về. Ông đánh lều kéo bườm cho thuyền chạy vào Sàigòn, thì bị thuyền tuần tiểu chặn lại tra xét, và tất cả đều bị bắt.

Nhiều lần ông bị các quan đưa ra tra khảo, và dù bị đánh đòn đau đớn, ông vẫn cương quyết không bước qua Thánh Giá, các quan thấy không thể lay chuyển nổi lòng tin sắt đá của ông, nên đệ đơn về kinh xin kết án xử trảm. Mãi bảy tháng sau, vua Thiệu Trị mới chuẩn phê bản án. Ngày 11 tháng 5 năm 1847, Mátthêu Gẫm được đưa ra pháp trường Da Còm, thuộc xứ Chợ Quán, đầu vị anh hùng tử đạo đã lìa khỏi cổ, màu tuôn đổ làm hạt giống đức tin trổ sinh nhiều tín hữu khác…

Đức Thánh Cha Lêô XIII đã phong ngài lên Chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II đã suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Quyết tâm:Noi gương thánh Matthêu Gẩm tử đạo, hết lòng thương yêu giúp đỡ cha mẹ và sẵn sàng hy sinh tất cả vì lợi ích
Hội Thánh, dù có đau khổ chết chóc cũng vui lòng chấp nhận.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 12 tháng 5
THÁNH NÊ-RÊ-Ô VÀ A-KI-LÊ-Ô
Tử đạo

  • Gương thánh nhân:

Hai thánh Nê-rê-ô và A-ki-lê-ô là binh sĩ phục vụ công chúa Đô-mi-tin-la, cháu hoàng đế Dô-mi-xi-en. Chính thánh Phêrô đã ban Bí tích Rửa tội cho các ngài và gia đình công chúa. Lòng đạo đức và trung thành của các ngài làm cho công chúa quý mến tín cẩn.

Một hôm, đang lúc công chúa Đô-mi-tin-la trau dồi nhan sắc để ra mắt bá tước Au-rê-li-en, người sắp cưới cô, các ngài trách khéo cô:

  • Nhân đức và đạo cô tin theo cho cô xứng đáng với Vua trên hết các vua. Thế mà cô lại nhận một người phàm trần như thế sao? Hãy từ bỏ hạnh phúc ở đời, để được vinh hiển trên trời.

Những lời chân thành đó đã tỉnh thức Đô-mi-tin-la. Cô từ chối cuộc hôn nhân và quyết hiến thân cho Chúa.

Bá tước Au-rê-li-en tức giận. Ông ta bắt giam Nê-rê-ô và A-ki-lê-ô, và hành hạ đánh đập vô củng dã man. Các ngài dâng sự đau khổ cho Chúa, không than van trách móc điều gì để thông phần vào sự thương khó của Đức Kitô trong cuộc cứu độ của Người, như lời thánh tông đồ Phaolô nói: Trong thân xác tôi, tôi bù đắp những gì còn thiếu nơi các nỗi quẫn bách Đức Kitô phải chịu. Và như lời thánh Giám mục Âu-tinh: “Bạn chỉ chịu khổ trong mức độ các nỗi quẫn bách của bạn phải góp phần vào nỗi khổ nạn chung của Đức Kitô mà thôi. Người phải chịu đau khổ cả nơi đầu của ta và cả nơi các chi thể của Người, tức là nơi chúng ta nữa.”

Sau cùng, Au-rê-li-en ra lệnh chém đầu các ngài. Xác các ngài được chôn gần Rô-ma. Và nơi đây được xây dựng thành đường để kính hai thánh nhân. Hiện nay, khách hành hương Rô-ma thường đến kính viếng phần mộ các ngài.

Hôm nay cũng mừng kính thánh Păng-ra-xi-ô tử đạo. Thánh nhân sinh tại Phy-gi-a, trong một gia đình quý tộc. Cha mất sớm, ngài sống với người cậu tên Đơ-ni. Ngài theo cậu đến lập nghiệp ở Rô-ma. Nơi đây, ngài đã theo đạo và được rửa tội lúc 14 tuổi.

Dưới triều hoàng đế Đi-ô-lê-xi-en bắt đạo, thánh nhân bị bắt và bị buộc phải dâng hương tế thần. Nhưng ngài cương quyết từ chối vì trung thành với Chúa, nên bị chém đầu vào năm 304.

Quyết tâm: Noi gương các thánh Nê-rê-ô, A-ki-lê-ô và Păng ra-xi-ô, tôi sẵn sàng chịu mọi sự gian nan khốn khó vì Chúa, để làm chứng cho Chúa và để cứu rỗi linh hồn tôi và mọi người.

Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng, hôm nay chúng con mừng hai thánh Nê-rê-ô và A-ki-lê-ô tử đạo đã anh dũng tuyên xưng đức tin.Xin cho chúng con được các ngài bênh vực, chở che trước tòa Chúa.

Lạy Chúa, xin cho Hội thánh Chúa được vui mừng trong ngày kính nhớ thánh Păng-ra-xi-ô tử đạo.Xin nghe lời chuyển cầu của thánh nhân mà cho Hội thánh được bính an thư thái, để hăng say phục vụ Tin Mừng.

Ngày 14 tháng 5
THÁNH MÁT-THI-A
Tông đồ

  • Gương thánh nhân:

Thánh Mát-thi-a là một trong số các môn đệ của Chúa Giêsu. Sau khi Giu-đa Ít-ca-ri-ốt nộp Chúa và tự tử, 11 thánh tông đồ cùng với các trưởng lão hội họp để chọn người thay thế:

“Trong những ngày ấy, Phê-rô đứng giữa anh em (số người có mặt chừng một trăm hai mươi) mà nói rằng: “Thưa anh em, lời Thánh Kinh mà Thánh Thần nhờ miệng Đa-vít phán trước về Giu-đa, là kẻ dẫn đường cho bọn bắt Chúa Giêsu, cần phải được ứng nghiệm. Vì nó vốn thuộc trong số chúng ta, và đã được phần trong chức vụ này.(Tên đó lấy tiền công bất nghĩa mà mua một đám ruộng rồi nhào xuống, vỡ bụng, ruột đổ ra. Việc ấy, cả dân thành Giê-ru-sa-lem này đều biết, đến nỗi đám ruộng đó theo tiếng địa phương họ gọi là Hác-ên-đa-ma, nghĩa là Ruộng máu). Bởi sách Thánh Thi có chép rằng:

-“ Nguyên nhà cửa nó ra hoang vu, Không còn ai ở đó nữa”.

Lại rằng:

-“ Nguyện kẻ khác lấy chức quản đốc của nó”.

Vậy, trong những người đã từng cùng chúng ta theo Chúa Giêsu, kể từ ngày Gioan làm phép rửa cho đến ngày Ngài được rước lên khỏi chúng ta, cần phải có một người cùng chúng ta làm chứng về sự sống lại của Người”. Các tông đồ liền đưa ra hai người, xin tỏ ra trong hai người này Chúa chọn ai để được dự phần chức vụ và nhiệm vụ sứ đồ mà Giu-đa đã lìa bỏ. “Đọan, họ bắt thăm, trúng nhằm Mát-thi-a; người được liệt vào mười một sứ đồ”. ( TĐCV. 1, 15-26 )

Thánh Gioan kim khẩu giải thích việc tuyển chọn này như sau:

Trong những ngày ấy, Phêrô đứng dậy giữa các môn đệ mà nói”. Bao giờ ngài cũng lên tiếng trước, bởi vì ngài sốt sắng, đã được Đức Kitô ủy thác đoàn chiên, và bởi vì ngài đứng đầu cộng đoàn….Ngài để cho số đông quyết định. Đồng thời, ngài muốn ai được chọn thì được tôn kính và muốn tránh mọi sự ghen tuông (bất bình) có thể xảy ra, bởi vì các công việc lớn thường xảy ra sự dữ như vậy…

Rồi ngài lại nói: “Cho đến ngày lìa bỏ chúng ta và được rước lên trời, phải có một người trở thành chứng nhân cùng với chúng tôi về cuộc Phục sinh của Người…” Ngài không nói làm chứng cho mọi sự khác, mà chỉ nói làm chứng cho sự sống lại mà thôi. Bởi vì người môn đệ sẽ đáng tin hơn, nếu có thể nói: Đấng đã ăn, đã uống, đã chết, chính Người đã phục sinh. Thế nên, người đó không cần làm chứng về lúc trước hay lúc sau, hay về các phép lạ, mà chỉ cần làm chứng về sự sống lại mà thôi.

Rồi tất cả cùng cầu nguyện: “Lạy Chúa, chính Chúa thấu suốt lòng mọi người, xin Chúa chỉ cho thấy Chúa chọn ai trong hai người này…”. Chúa, chứ không phải chúng ta. Và thật là lúc phải cầu khẩn Đấng thấu suốt lòng dạ, bởi vì chính Người phải lựa chọn chứ không phải họ.” 1

Sau khi được chọn làm tông đồ, thánh Mát-thi-a đi giảng Tin Mừng ở Ê-ti-ô-pi. Thánh nhân đã đem nhiều người trở lại và chịu tử đạo tại đó, thời Nê-rông bách hại.

Quyết tâm: Tôi quyết theo Chúa, giúp việc Chúa suốt đời. Và sẵn lòng chịu bách hại vì Chúa, theo gương thánh Mát-thi-a tông đồ.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã chọn thánh Mát-thi-a để bổ sung nhóm 12 tông đồ.Cúi xin Chúa nhận lời người cầu thay nguyện giúp, mà cho chúng con nay được hưởng tình yêu Chúa, thì mai sau cũng được kể vào sổ những người Chúa chọn.

Ngày 18 tháng 5
THÁNH GIOAN THỨ NHẤT
Giáo Hoàng tử đạo

  • Gương thánh nhân:

Thánh Gioan sinh tại Tút-xi. Sách sử không kể lại cho chúng ta điều gì về thời thơ ấu của thánh nhân. Chỉ cho chúng ta biết đời sống ngài từ khi lên ngôi giáo hoàng vào năm 532. Ngài đã chọn khẩu hiệu “Tất cả vì Danh Chúa”. Và suốt cuộc đời, ngài thực hiện đúng theo lý tưởng đó.

Thánh nhân chỉ sống cho Chúa. Làm mọi việc cho Danh Chúa cả sáng. Đặc biệt, ngài có công hoàn thành Thánh nhạc bình ca mà các vị tiền nhiệm đã khởi xướng.

Lúc đó, hoàng đế Tê-ô-đô-ri thống trị nước Ý. Ông ta là người theo bè rối A-ri-ô (không nhận thiên tính của Chúa Giêsu). Nhưng cũng đối xử tốt với người Công giáo. Trong khi đó, vua Gút-ti-nô bên Tiểu Á đàn áp bè rối này dữ dội. Nên Tê-ô-đô-ri muốn cứu giúp họ. Ông ta bắt buộc thánh nhân cầm đầu phái đoàn đến thương thuyết với vụ Gút-ti-nô. Đây là lần đầu tiên một vị Giáo Hoàng rời khỏi nước Ý.

Khi thánh nhân đến, toàn dân và vua Gút-ti-nô hân hoan đón tiếp, và mời cử hành thánh lễ Phục sinh tại thánh đường thánh nữ Sô-phi-a.

Mặc dù thánh nhân phải tuân lệnh hoàng đế Tê-ô-đô-ri đến gặp vua Gút-ti-nô bên Tiểu Á, nhưng ngài không thể thỏa mãn ý muốn của hoàng đế được. Với cương vị một giáo hoàng, phải bảo vệ đức tin chân chính của Hội thánh, làm sao ngài có thể đứng ra ngăn cản vua Gút-ti-nô chống lại lạc giáo A-ri-ô, Những kẻ chối bỏ thiên tính của Đức Kitô; vì thà chịu khổ hình còn hơn phản bội sứ mệnh Chúa phú giao. Ngài quyết noi gương các thánh tông đồ, đặc biệt thánh Phaolô, chấp nhận tù đày, đòn vọt, chết chóc vì Chúa, để làm sáng danh Chúa. “Đó là đường lối mà Đức Kitô cùng các thánh của Người đã đi. Người gọi đó là con đường hẹp. Nhưng lại dẫn thẳng đến sự sống. Và Người đã dạy rằng: nếu muốn đến với Người, ta phải bước theo con đường Người đã đi. Vì không lẽ đang khi Con Thiên Chúa đi con đường nhục nhã thì con cái loài người lại tìm con đường vinh hoa…” 1

Thế nên, khi trở lại Rô-ma, ngài bị nhà vua bắt giam tại Ra-ven-na. Và thánh nhân đã qua đời tại đây ngày 18 thàng 5 năm 326.

Quyết tâm: Tôi vâng lời Chúa và hết lòng làm theo ý Chúa, hơn là vâng lời và làm theo người đời, theo gương thánh giáo hoàng Gioan hôm nay.

Lời nguyện: Lạy Chúa là Đấng thưởng công các tín hữu trung thành, Chúa đã thánh hiến ngày hôm nay bằng cái chết anh dũng của thánh Gioan giáo hoàng tử đạo.Xin nhậm lời chúng con nguyện cầu, mà ban cho chúng con kiên trì giữ vững đức tin, theo gương thánh nhân để lại.

Ngày 20 tháng 5
THÁNH BÊ-NA-ĐI-NÔ SI-Ê-NA
Linh mục

  • Gương thánh nhân:

Thánh Bê-na-đi-nô sinh tại Si-ê-na, ngày 8 tháng 9 năm 1380. Cha mẹ mất sớm, ngài được một người dì nuôi dưỡng dạy dỗ. Thánh nhân sớm tấn tới trên đàng nhân đức. Đặc biệt, ngài rất có lòng mến Chúa thương người. Một hôm, thấy người dì từ chối không bố thí cho người ăn xin, ngài khóc lóc năn nỉ:

  • Vì lòng mến Chúa, xin dì giúp đỡ người này. Nếu dì không thương giúp, cháu sẽ nhịn đói suốt ngày hôm nay.

Thấy cháu có lòng thương người hơn mình như thế, người dì hết sức vui mừng và sẵn sàng làm phúc bố thí.

Hằng ngày, thánh nhân đến bệnh viện, thăm viếng chăm sóc những kẻ bệnh hoạn tàn tật. Ngài tận tình lo cho họ từng miếng ăn, viên thuốc. Lúc đó xảy ra bệnh dịch tả lan tràn. Ngài tận tụy chăm sóc những kẻ mắc bệnh; chôn cất người chết. Cuối cùng, ngài bị lây nhiễm. Nhưng nhờ ơn Chúa thương, ngài đã khỏi bệnh, dù vậy cũng phải gánh chịu hậu quả yếu đau suốt đời.

Năm 1402, sau khi lo chôn cất người dì mãn phần, thánh nhân bán hết gia sản bố thí cho người nghèo rồi vào tu dòng thánh Phan-xi-cô. Năm 1404, vì thấy ngài học biết đầy đủ và đạo đức thánh thiện. Bề trên dòng đã xin phong chức linh mục cho ngài, và sai đi rao giảng lời Chúa.

Thánh nhân rảo khắp nước Ý, rao giảng kêu gọi mọi người ăn năn sám hối, cải thiện đời sống; sống đạo đức, hòa thuận thương yêu nhau. Tài hùng biện của ngài đã lôi cuốn đám đông, đem nhiều người trở lại. Giúp kẻ đạo đức trở nên sốt sắng. Giải hòa các cuộc tranh chấp ngoài đời cũng như trong đạo. Các bài giảng của ngài nhiều khi kéo dài đôi ba tiếng đồng hồ mà người nghe vẫn không chán; càng nghe ngài giảng, dân chúng càng say mê phấn khởi.

Chính ngài khởi xướng việc tôn sùng Thánh Danh Chúa Giêsu. Ngài nói: “Danh Chúa Giêsu là vinh quang của người rao giảng, vì Danh ấy làm cho người rao giảng và lắng nghe lời Chúa trong một vinh quang xán lạn. Làm sao bạn có thể tưởng ánh sáng đức tin vừa lớn lao, vừa sốt sắng và mau lẹ như vậy trong khắp thế gian, mà lại không phải vì người ta đã rao giảng Danh Đức Giêsu? Há chẳng phải nhờ ánh sáng và hương vị của Danh ấy mà Chúa đã gọi chúng ta vào trong ánh sáng huyền diệu của Người sao? Với những ai đã được soi sáng và nhìn thấy ánh sáng trong ánh sáng ấy, thánh Tông đồ có thể nói được rằng: Xưa anh em là tối tăm, nhưng nay anh em là ánh sáng ở trong Chúa; anh em hãy ăn ở như con cái sự sáng.

Thế nên, phải rao giảng Danh ấy, để nó chói lên chứ không được ỉm đi. Nhưng không được rao giảng với tâm hồn dơ bẩn hoặc miệng lưỡi nhơ nhớp. Một phải giữ và rao Danh ấy bằng bình chọn lọc…” 1

Để lời rao giảng gây hiệu lực hơn, thánh nhân cho khắc chữ J.H.S. là chữ tắt chỉ Chúa Giêsulà Đấng Cứu Thế, vào các tranh ảnh cho mọi người ghi nhớ tôn kính.

Khi bề trên tổng quyền nhà dòng chết, thánh nhân được gọi về thay thế từ năm 1438. Trong thời gian này, ngài lo cải tổ nhà dòng và viết nhiều sách tu đức.

Ngày 20 tháng 5 năm 1444, vì tuổi già sức yếu, thánh nhân đã qua đời tại A-qui-la. Sáu năm sau, Đức Giáo Hoàng Ni-cô-la V tôn phong Hiển thánh.

Quyết tâm: Noi gương thánh Bê-na-đi-nô Xi-ê-na, tôi hết lòng thương yêu giúp đỡ người nghèo khổ bệnh tật, và dùng lời nói việc làm hằng ngày mà kêu gọi mọi người siêng năng, sốt sắng thờ phượng Chúa.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Bê-na-đi-ô linh mục lòng nhiệt thành yêu mến Danh Thánh Chúa Giêsu. Vì công nghiệp và lời chuyển cầu của thánh nhân, xin đem lửa tình yêu của Chúa mà đốt cháy tâm hồn chúng con luôn mãi.

* Thánh Mi-ca-e Hồ Đình Hy
Quan Thái Bộc tử đạo

  • Gương thánh nhân:

Tự Đức là một trong ba vì vua đã bắt bớ và giết hại người công giáo nhiều nhất. Nhưng chính trong triều đình vua cũng có những vị quan sốt sắng thờ phượng Chúa, trung thành theo Chúa, sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho đạo Chúa là đạo thật, như thánh Micae Hồ Đình Hy là quan Thái Bộc của vua. Điều đó cho thấy trong hoàn cảnh nào, dù khó khăn nguy hiểm đến đâu, cũng có những người sống chết theo Chúa.

Sinh năm 1808 tại làng Nhu Lâm, tỉnh Thừa Thiên, Micae Hồ Đình Hy là con út trong số 12 anh em, thuộc gia đình quan chức đạo đức sốt sắng. Năm 20 tuổi, cậu Hy đã kết hôn với một thiếu nữ có đạo là cô Lu-xi-a Tân. Hai vợ chồng sống hạnh phúc thuận hòa, sinh được năm người con. Người con trai lớn đã gia nhập chủng viện, được gởi đi du học ở Pê-năng, và được làm linh mục.

Triều vua Tự Đức, Micae Hy được làm quan Thái Bộc, hàm tam phẩm, đặc trách ngành dệt tơ lụa vải vóc trong cả nước. Ông là vị quan rất được vua tín nhiệm và dân chúng mến phục, vì lúc nào ông cũng siêng năng cần mẫn trong việc bổn phận và tận tình thương yêu giúp đỡ đồng bào. Thấy vậy, nhiều quan chức trong triều đâm ra ghen tức, đặt điều tố cáo, đề nghị truất chức ông, song nhà vua bảo: “Ta không thể truất chức ông ta được, vì ông đã chu toàn trách vụ theo đúng lương tâm. Trước đây chưa ai giữ chức vụ đó trong hai năm. Còn ông, đến nay ta chưa có gì phải khiển trách ông ta. Có lẽ ta còn tăng lương cho ông xứng với việc của ông nữa là khác”. Nhưng vì ảnh hưởng xấu của giới quan lại, ông đã sa ngã phạm tội với một thiếu nữ, chung sống với cô có 3 đứa con. Thời gian sau, ông biết nhận lỗi lầm ăn năn hối cãi. Và để chuộc lại tội lỗi, ông rửa tội và nuôi dạy ba đứa con đó tử tế, ông ra sức làm việc thiện nhiều hơn.

Dầu làm quan dưới một triều vua bắt đạo gắt gao, ông cũng không sợ chết, không sợ mất chức, vẫn can đảm thờ Chúa, và nhiệt thành giúp việc giảng đạo. Đức Cha Phan ở giáo phận Đông Đàng Trong thấy ông nhiệt thành với đạo, thì giao cho ông coi sóc tài sản giáo phận và cơ sở truyền giáo. Ông hết sức tận tâm chu toàn trách vụ Đức cha giao phó, ông còn rộng rãi giúp đỡ tiền của cho Giáo Hội.

Đang lúc ông sốt sắng sống đạo và hăng say phục vụ Hội Thánh như thế, thì cuối năm 1856, khi quân đội viễn chinh Pháp vào bắn phà Đà Nẵng, ông bị nhà vua bắt giam tại Huế, vì sợ ông là người Công giáo theo phe ngoại quốc, chống lại triều đình. Vua truyền quân lính đánh đòn ông, bắt buộc ông bườc qua Thánh Giá, cung khai các linh mục cũng như binh sĩ có đạo. Vì bị hình khổ đau đớn quá, ông lỡ khai tên một vài tín hữu, làm cho họ bị bắt, nhưng sau đó ông hết lòng ăn năn hối hận, thành khẩn xin Chúa tha thứ lỗi lầm.

Trước đây, nhà vua rất tín cẩn ông, không bao giờ khiển trách ông, nhưng nay vì ghét đạo, vua trở lại oán hận ông, ra lệnh tra tấn hành hạ ông rất độc ác: “Ta truyền cho năm quan trong triều và 15 binh lính dẫn Hồ Đình Hy đi vòng quanh thành nội ba ngày. Khi đi ngang qua chợ và các nơi công cộng, phải công tố tội nó cho dân biết, và ở mỗi ngã ba đường, phải đánh nó 30 trượng. Sau ba ngày như thế thì chém đầu nó…”

Thi hành lệnh vua, các quan quân bắt trói ông, lôi qua các đường phó, công tố tội ông theo đạo Gia-tô, đánh đòn ông cách thảm thương tủi hổ. Nhưng ông sẵn lòng chịu đau khổ sĩ nhục để đền tội lập công, không mở miệng than trách lời nào, như Chúa Giêsu ngày xưa trên đường khổ nạn.

Và sáng ngày 22 tháng 5 năm 1857, ông đã nhận lãnh triều thiên tử đạo tại pháp trường An Hòa, trước sự bùi ngùi thương tiếc của nhiều người lương cũng như giáo.

Đức Thánh Cha Piô X đã phong Chân phước cho ông ngày 2 tháng 5 năm 1909. Và Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II suy tôn lên Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

Quyết tâm:Hằng ngày lo làm tròn bổn phận đối với gia đình, xã hội cũng như Hội Thánh, và sẵn lòng chịu mọi sự sĩ nhục khốn khó vì Chúa, theo gương thánh Micae Hồ Đình Hy.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

* Thánh Lô-ren-sô Ngôn
Giáo dân tử đạo

  • Gương thánh nhân:

Thánh Lô-ren-sô Ngôn là một trong các thánh tử đạo Việt Nam trẻ tuổi nhất. Mới hai mươi hai tuổi, thánh nhân đã hy sinh vợ trẻ con thơ và mạng sống vì Chúa. Thật là một tấm gương anh dũng, một đức tin mạnh mẽ, bất khuất cho những người trẻ qua mọi thế hệ…

Lô-ren-sô Ngôn sinh năm 1840, trong một gia đình đạo đức ở Lục Thủy, tỉnh Nam Định. Nhờ gương sống đạo sốt sắng của cha mẹ, cậu Ngôn rất mến mộ việc thờ kính Chúa, siêng năng lãnh nhận các bí tích.

Lớn lên anh lập gia đình, trở nên một gia trưởng gương mẫu, hết lòng yêu thương vợ con, luôn luôn chu toàn bổn phận làm chồng, làm cha, đặc biệt anh có lòng nhiệt thành bênh vực đạo Chúa. Một lần vì chống lại kẻ bắt đạo, anh đã bị bắt. Nhưng nhờ cha mẹ hối lộ cho quan, anh được thoát cảnh tù tội.

Năm 1861, vua Tự Đức ra chiếu chỉ bắt đạo gắt gao, các tín hữu nhất là các linh mục, tu sĩ bị lùng bắt khắp nơi. Mọi người đều phải lẫn trốn, nhiều kẻ vào rừng sâu lánh nạn bị bệnh chết, số khác bị bắt chết rũ tù hoặc tử đạo. Tài sản Hội Thánh bị tịch thu, cơ sở tôn giáo bị thiêu hủy, còn ruộng đất của giáo hữu thì bị vua quan lấy phân chia cho lương dân. Thật là một cuộc bách hại kinh khủng!

Trước thãm cảnh đó, anh Ngôn và gia đình thân nhân cũng phải ẩn trốn như mọi người. Nhưng chẳng may anh bị bắt giải về Xuân Trường, tỉnh Nam Định, ngày 8 tháng 9 năm 1861. Ở trong tù anh lo sợ cha mẹ vợ con nhát đảm chối đạo, nên đang đêm anh lẫn trốn về nhà, khuyên bảo mọi người can đảm trung thành giữ vững đức tin, rồi trở lại trại giam thú tội. Các quan thấy vậy thì sợ có ngày anh trốn đi luôn, nên truyền đóng gông và chuyển anh sang nhà giam An Xá, huyện Đông Quan, canh giữ anh nghiêm ngặt, gắt gao hơn.

Từ ngày bị chuyển sang ngục An Xá, anh phải chịu nhiều hình khổ dữ dằn, nhiều lần bị đánh đòn đến ngất xỉu, nhưng anh nhất quyết không chối Chúa, bỏ đạo. Anh còn khuyến khích anh em bạn từ can đảm hy sinh chịu khổ vì Chúa, theo gương Chúa Giêsu đã chịu chết trên Thánh Giá, để cứu rỗi linh hồn mọi người.

Các quan thấy anh còn trẻ, muốn cứu anh sống để về với vợ con. Họ bảo anh:

  • Anh còn trẻ, anh cần sống với vợ con. Sao anh dại dột muốn chết? Hãy bước qua Thập Giá đi, tôi sẽ cho anh về với gia đình.

Anh thưa:

  • Chúa đã dùng Thánh Giá để cứu rỗi tôi, tôi phải tôn kính Thánh Giá, không bao giờ tôi dám xúc phạm. Tôi cám ơn quan đã thương tôi, nhưng tôi không thể bỏ Chúa mà nghe theo lời quan. Tôi sẵn sàng chịu chết vì tin theo Chúa là Chúa tể trời đất muôn vật.

Sau 9 tháng tra tấn rồi dụ dỗ mà thấy anh vẫn một mực giữ vững niềm tin, các quan đệ đơn lên vua kết án tử hình. Và ngày 22 tháng 5 năm 1862, người ta điệu anh ra pháp trường An Triêm (tỉnh Nam Định). Trong số những người đến tiễn biệt anh lần sau hết, có hai người thân yêu nhất là mẹ và vợ anh. Thay vì than khóc trước cảnh chết chóc chia ly, cả ba người âu yếm nhìn nhau trong niềm tin yêu, và hẹn gặp lại nhau trong Nhà Cha trên trời.

Ngày 29 tháng 4 năm 1951, Đức Thánh Cha Piô XII phong Lô-ren-sô Ngôn lên Chân phước. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh.

Quyết tâm: Noi gương thánh Lô-ren-sô Ngôn tử đạo, sẵn sàng hy sinh tình cảm gia đình vì Chúa, và hết lòng lo cho mọi người thương yêu được trung thành bền đỗ, giữ vững đức tin.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam hiều chứng nhân anh dũng, biết hiền dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 25 tháng 5
THÁNH BÊ-ĐA KHẢ KÍNH
Linh mục tiến sĩ

  • Gương thánh nhân:

Thánh Bê-đa sinh tại Ê-cốt, nước Anh, năm 673. Chính thánh nhân kể lại cho chúng ta biết đời sống của ngài qua các tác phẩm ngài để lại.

Năm lên 7 tuổi, ngài mồ côi cha mẹ, và được vị tu viện trưởng dòng Biển-đức tại Quê-ạt-mút chăm sóc giáo dục. Lớn lên ngài sống rất gương mẫu, nên được mọi người gọi là khả kính.

Năm 702, thánh nhân thụ phong linh mục. Từ đó, cuộc sống của ngài là học hỏi Kinh thánh, khoa học, lịch sử và dạy học. Ngài siêng năng học biết và mến mộ Lời Chúa, đến nổi ngài thuộc lòng nhiều câu nhiều đoạn trong Sách thánh. Ngài thường cầu nguyện với Chúa: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã thương ban cho con học biết nhiều môn học phần đời. Nhưng con chỉ mong học biết Chúa hơn, vì Chúa là nguồn mạch mọi sự khôn ngoan; là sự Thật và là sự Sống của đời con.

Thánh nhân là một bậc thầy lỗi lạc. Chẳng những ngài dạy cho môn sinh những gì ngài đã học biết, mà còn truyền dạy những suy nghĩ, những kinh nghiệm và những điều ngài xác tín, theo như trong các tác phẩm ngài viết. Có thể xếp các sách ngài viết thành ba loại: dẫn giải Thánh kinh, tìm hiểu khoa học và khảo cứu lịch sử. Suốt đời thánh nhân hiến thân phụng sự nhà dòng. Không mấy khi ngài rời khỏi tu viện. Ngoài việc dạy học và viết sách, ngài chuyên cần cầu nguyện, học hỏi lời Chúa, tập rèn nhân đức.

Năm 735, tuy thánh nhân chỉ 63 tuổi, nhưng sức khỏe suy giảm nhiều, vì bệnh hoạn dày dò thân xác. Mặc dù sức yếu, ngài vẫn luôn cố gắng làm việc đến giây phút cuối cùng. Ngài đọc cho cậu bé Gy-be viết chương sau hết của quyển sách ngài soạn.

Sau đó, cậu thưa: - Con đã viết xong câu đó.

Ngài đáp:

  • Con nói đúng. Mọi sự đã xong. Vậy hãy nâng đầu thầy dậy, vì thầy muốn ngồi nhìn thẳng vào nhà nguyện Đấng Thánh của thầy, nơi thầy vẫn cầu nguyện; để thầy có thể ngồi mà cầu khẩn Cha thầy.

Và thế là đang khi ngài ngồi trên nền nhà phòng mình và hát câu: Sáng danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Đến chữ Chúa Thánh Thần, ngài thở hơi cuối cùng ra khỏi xác. Và chắc chắn phải tin rằng: khi ở trần gian, ngài đã chịu khó ngợi khen Chúa thì ngài đã được lên hưỡng hạnh phúc trên trời.” 1

Quyết tâm: Ra sức học biết Chúa và tìm hiểu Lời Chúa dạy trong Thánh Kinh, để truyền đạt lại cho gia đình, cho những người xung quanh, theo gương thánh Bê-đa.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã dùng một học giả uyên thâm là thánh Bê-đa linh mục mà làm cho Hội thánh thêm vinh quang rực rỡ.Nhờ sự khôn ngoan và công nghiệp của thánh nhân, xin cho chúng con là tôi tớ Chúa được luôn luôn soi sáng và giúp đỡ.

Thánh Phêrô Đoàn Văn Vân
Thầy giảng tử đạo.

  • Gương thánh nhân:

Ngoài ra lòng can đảm chịu chết vì Chúa, thánh Phêrô Vân còn để lại cho mọi người tấm gương khiêm nhường, bác ái, và sẵn sàng hy sinh vì bổn phận. Vì nhìn nhận thân phận hèn kém, thánh nhân tình nguyện làm thầy giảng không dám lãnh chức linh mục. Và vì nhiệt thành với chức vụ mà ngài đã bị bắt và bị trảm quyết.

Thầy Vân sinh năm 1780, tại xứ Kẻ Sông, huyện Hà Nam , trong một gia đình đạo đức sốt sắng. Ngay lúc còn nhỏ, cha mẹ đã gởi cậu ở với cha Thi, nhờ dạy dỗ, huấn luyện để tập sự đi tu giúp việc Chúa.

Lớn lên, Phêrô Vân đã gia nhập chủng viện, học tập làm linh mục. Nhưng sau một thời gian tu luyện, cầu nguyện, suy nghĩ, ngài nhận thấy chức linh mục quá cao trọng với trách nhiệm nặng nề. Hơn nữa, vì nhận thấ mình kém tài, thiếu đức và hèn mọn trước mặt Chúa, nên không dám tiếp tục học làm linh mục. Năm 25 tuổi, thầy tình nguyện làm kẻ giảng trọn đời.

Thấy thầy đạo đức khiêm tốn, bề trên sai đi giúp xứ Bầu Nọ, tỉnh Sơn Tây. Thầy hết sức chăm lo bổn phận. Hằng ngày lo coi sóc nhà xứ, thương giúp kẻ nghèo, thăm viếng bệnh nhân, chuẩn bị cho những người hấp hối lãnh nhận các bí tích sau hết để chết lành, nâng đỡ, khuyến khích các tín hữu sống đạo sốt sắng nhiệt thành.

Đối với mọi người, thầy luôn đối xử hiền hòa, nhã nhặn, rộng rãi, lúc nào cũng sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu tinh thần cũng như vật chất của họ. Ngược lại, đối với chính mình, thầy sống rất nhiệm nhặt khắc khổ: ăn uống thanh đạm, y phục đơn sơ giản dị. Ai ai cũng công nhận thầy nhân đức thánh thiện, là muối cho đời và là ánh sáng của trần gian.

Trong thời vua Tự Đức cấm đạo, ở Bầu Nọ có hai tên Tương và Huống là hai nhân viên thu thuế cho nhà nước. Chúng mê say cờ bạc rượu chè. Một hôm chúng thua hết tiền dân đóng thuế, không có tiền nộp ngân sách, chúng đến thầy Phêrô xin vay tiền. Vì biết rõ chúng là những tay ăn nhậu bài bạc, nên thầy từ khước không cho chúng vay. Chúng đâm ra thù oán thầy đi tố cáo với quan. Quan liền cho binh lính đến vây bắt, nhưng nhờ biết trước nên thầy trốn đi trú ẩn nơi khác.

Ẩn trốn chưa được bao lâu, thầy đã thấy bồn chồn lo lắng, không yên lòng vì bổn phận. Và vì nhiệt thành với sứ vụ, thầy quyết định trở về nhà xứ. Trên đường về thầy bị hai tên Tương và Huống đón bắt nộp cho quan, và vu cáo là đạo trưởng (linh mục).

Lúc đó thầy Phêrô đã 77 tuổi. Quan thấy thầy già yếu thì động lòng thương, muốn tìm cách tha thầy. Quan hỏi:

  • Ông có phải là đạo trưởng không?

Thầy trả lời:

  • Bẩm quan, tôi chỉ là thầy giảng không phải đạo trưởng.
  • Ông già cả lụm cụm rồi, chịu đòn vọt tù ngục không nổi đâu. Hãy quá khóa rồi ta cho về an phận tuổi già với con cháu.

Thầy đáp:

  • Bẩm quan, tôi đã thờ kính và phục vụ Chúa trên 70 năm rồi, làm sao tôi chối bỏ Chúa tôi được.

Thấy không thể khuyên bảo thầy bỏ đạo, quan ra lệnh giam thầy ở Lâm Thao 4 tháng, rồi chuyển về Sơn Tây, đồng thời xin vua kết án trảm quyết thầy. Khi bản án được vua chuẩn phê, người ta dẫn thầy ra pháp trường. Trên đường đi, họ thấy thầy đã kiệt sức, nên cho hai tên lính đỡ phụ gông cho thầy, nhưng thầy vẫn tỏ ra can đảm, bình thản, vui tươi. Đến nơi, thầy xin lý hình cho vài phút để cầu nguyện. Nguyện xong, thầy dỏng dạc cúi đầu cho lý hình thi hành phận sư. Và sau một nhát gươm, đầu thầy đã lìa khỏi cổ, linh hồn về hưởng phúc cõi trường sinh.

Ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Thánh Cha Piô X đã phong Chân phước cho thầy. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II đã suy tôn ngài là bậc Hiển thánh.

Quyết tâm:Sống khiêm nhượng bác ái, nhiệt thành chu toàn bổn phận và trung thành bền đỗ theo Chúa đến cùng, như thánh Đoàn Văn Vân tử đạo.

Cầu nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã ban cho Hội thánh Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 26 tháng 5
THÁNH PHI-LIP-PHÊ NÊ-RI
Linh mục

  • Gương thánh nhân:

Thánh Phi-lip-phê Nê-ri sinh tại Phô-răng, nước Ý, năm 1515. Mẹ mất sớm, thánh nhân được người dì thương yêu dạy dỗ. Và sau đó, một cha dòng Đa-minh nhận lãnh giáo huấn. Nên ngay từ nhỏ, ngài đã hấp thụ được một đức tin mạnh mẽ và một lòng đạo đức sâu xa. Tính tình ngài rất phóng khoáng, vui tươi; mọi người đều quí mến.

Ngài có người cậu không có con nối dòng, muốn đem ngài về nuôi và cho thừa hưởng gia tài. Nhưng ngài từ chối vì thầy mình không có ơn gọi sống ngoài đời. Ngài muốn hiến dâng đời mình cho Chúa, phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn. Ngài đi Rô-ma và xin vào chủng viện. Hằng ngày lo trau dồi trí tuệ, học môn thần học và tu đức. Sống khó nghèo, chay tịnh và cầu nguyện trong âm thầm cô tịch.

Năm lên 37 tuổi, thánh nhân chịu chức linh mục. Và từ đó, ngài tận tình hiến thân phục vụ các linh hồn. Đặc biệt, ngài lo giáo dục giới trẻ. Với tính vui tươi sẵn có, ngài thu hút được tuổi trẻ. Ngài đi khắp nơi, tụ họp chúng lại, hòa mình vui chơi ca hát với chúng, để rồi hướng dẫn chúng trên đàng đạo đức, luân lý giúp chúng tránh khỏi tình xấu tội lỗi. Ngài thương xuyên bảo:

- Các con cứ ca hát vui chơi thỏa thích. Nhưng đừng bao giờ làm mất lòng Chúa. Luôn luôn sống lành mạnh, thánh thiện.

Ngoài ra, thành nhân còn cò công trong việc thành lập các ban thánh nhạc, gọi là Ô-ra-to-ri-um. Ngài nhờ nhạc sĩ Pa-lết-trin phổ nhạc các thánh thi, thánh vịnh và cho ca hát ngợi khen Chúa. Ngài còn tổ chức Hiệp hội các linh mục triều, cũng gọi là Ô-ra-to-ri-um, để giúp nhau thánh hóa và lo việc mục vụ. Đây là khởi điểm của Hội Dòng Giảng thuyết do ngài sáng lập. Năm 15 75, Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô thứ 13 thấy Hiệp hội của ngài đem lại nhiều lợi ích cho Hội thánh, nên đã cho ngài một ngôi nhà thờ cũ để ngài tái thiết và thành lập Dòng linh mục giảng thuyết. Đây là nhà mẹ của hội dòng ngài sáng lập. Hội dòng không có lời khấn nào đặc biệt, nhưng sống liên kết với nhau trong tình huynh đệ, với mục đích giúp nhau cầu nguyện, giảng dạy và làm các bí tích phục vụ các linh hồn.

Năm 1595, thánh nhân ngã bệnh và qua đời tại Rô-ma, ngày 26 tháng 5.

Quyết tâm: Noi gương thánh Phi-lip-phê Nê-ri, hằng ngày tôi lo tập rèn nhân đức, để giúp mọi người sống kết hợp với nhau trong Chúa, và giáo dục đào tạo con cháu trong gia đình nên người đạo đức thánh thiện.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa nâng lên hàng chư thánh hiển vinh tất cả những ai trung thành phụng sự Chúa.Xin cử Thánh Thần đến đốt lửa yêu mến trogng lòng chúng con, như xưa Người đã hun đúc tâm hồn thánh Phi-lip-phê Nê-ri một cách lạ lùng.

* Thánh Gioan Đoàn Trinh Hoan
Linh mục tử đạo.

  • Gương thánh nhân:
Cha Gioan Đoàn Trinh Hoan bị bắt đêm mùng ba tháng giêng năm 1861, dưới thời vua Tự Đức cấm đạo. Mặc dù bị tù ngục tra tấn khổ sở, cha vẫn nhiệt thành giúp đỡ các tín hữu bị giam cầm, như lúc chưa bị bắt. Thật cảm động trước hình ảnh một vị linh mục già, mình mang xiềng xích gông cùm, cực nhọc lần bước đến với từng người giáo hữu sắp bị giết vì đạo, để an ủi, khích lệ và ban bí tích cho họ. Trong suốt năm thàng bị giam cầm, cha luôn làm như thế, cho đến ngày ra pháp trường lãnh nhận triều thiên tử đạo.

Gioan Đoàn Trinh Hoan sinh năm 1798, tại họ Kim Long, tỉnh Thừa Thiên, trong một gia đình đạo hạnh, cần mẫn siêng năng. Nhờ ảnh hưởng đạo đức của cha mẹ, cậu đã muốn dâng mình cho Chúa ngay từ nhỏ. Được sự giúp đỡ, hường dẫn của người cậu là cha Kiệt, cậu đã gia nhập chủng viện Pê-năng ở Mã Lai, để tu luyện làm linh mục. Học xong thần học, thầy Gioan về nước, và năm 1836 được lãnh nhận chức linh mục.

Từ ngày thụ phong linh mục, cha Gioan hết lòng phụng sự Chúa và nhiệt thành phục vụ Giáo Hội. Cha đem hết tài năng sức lực lo cho các tín hữu và rao giảng Tin Mừng cho lương dân. Thấy cha hăng say hoạt động tông đồ, Đức Cha đã sai cha đi giúp nhiều họ đạo, như Kẻ San, Bảy Trời, Mỹ Hương….Tới đâu, cha cũng phục vụ đắc lực và kết quả khả quan. Đặc biệt cha có tài ăn nói giảng dạy, nên mọi người đều có cảm tình và sẵn sàng nghe theo.

Ngoài việc phục vụ, cha còn tận tâm cổ động ơn thiên triệu, đào tạo thầy giảng, huấn luyện thanh thiếu niên và gởi vào chủng viện học tập làm linh mục, vì cha thấy công việc giảng đạo hết sức khẩn thiết và lớn lao mà không có đủ người đảm nhận. Đúng như lời Chúa Giêsu nói: “Lúa chín đầy đồng, thợ gặt lại ít”. Là linh mục nhiệt tâm với nước Chúa, cha không thể không băn khoăn lo lắng cho có nhiều thợ gặt trong cánh đồng truyền giáo. Đó cũng là nỗi bức xúc của những ai có lòng đạo đức kính mến Chúa.

Để chuẩn bị mừng lễ Hiển Linh, đầu năm 1861, cha đến họ đạo Sao Bùn, ở trọ nhà ông trùm Phượng, để thăm viếng, giải tội và dâng thánh lễ cho giáo dân. Các quan ở đây biết tin cha đến, đang đêm họ cho binh lính đến bao vây nhà ông trùm bắt cha. Cha vội vàng chạy ra sông tìm đường trốn. Không ngờ vừa đến nơi thì thấy đã có một toán quân ở đó. Thế là cha bị bắt giải về Đồng Hới. Lúc đó cha đã 63 tuổi.

Trong thời gian 5 tháng giam cầm ở đây, nhiều lần cha bị đưa ra tra tấn đánh đập rất dã man. Có những lần bị binh lính lấy kềm sắt nung đỏ bắt vào thịt, buộc cha bước qua Thánh Giá và khai tên những người có đạo. Nhưng cha cương quyết giữ vững đức tin và nấht định không khai báo, và dầu bị hình khổ đau đớn khổ nhục, cha cũng rán sức giúp đỡ các tín hữu cùng cảnh tù ngục với cha. Hằng ngày cha dùng nhiều thời giờ để an ủi, khích lệ các tín hữu trung thành bền đỗ theo Chúa, và giải tội cho họ. Mỗi khi nhận được Mình Thánh Chúa do các linh mục ở ngoài gởi vào, cha đều phân chia cho họ. Nhờ đó họ được sức mạnh can đảm hy sinh vì Chúa.

Ngày 25 tháng 5 năm 1861, cha nhận được bản án trảm quyết. Đêm đó cha thức suốt để thăm viếng khích lệ các bạn tù. Và sáng hôm sau cha được dẫn ra pháp trường, chịu chết vì Chúa.

Đức Thánh Cha Piô X phong Chân phước cho cha ngày 2 tháng 5 năm 1909. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II đã suy tôn cha lên Hiển thánh.

Quyết tâm: Noi gương thánh Gioan Đoàn Trinh Hoan tử đạo, hằng ngày hy sinh chịu khó rao giảng đạo Chúa, trong hoàn cảnh thuận tiện cũng như lúc khó khăn, bằng lời cầu nguyện, việc hy sinh và gương sáng đời sống.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

* Thánh Mát-thêu Nguyễn Văn Phượng
Trùm họ tử đạo

  • Gương thánh nhân:
“Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy”(Mt 10,37)

Theo lời Chúa phán trên, thánh Mát-thêu Phượng thật xứng đáng với Chúa, xứng đáng làm môn đệ Chúa, xứng đáng nhận triều thiên tử đạo. Thánh nhân đã sẵn sàng hy sinh vĩnh biệt con cái để chịu chết vì Chúa.

Lúc lý hình sắp chém đầu thánh nhân, hai người con trai và người con gái là chị Thủ đã chạy ra ôm chầm lấy ông, thương khóc thảm thiết. Những người có mặt chứng kiến thảm cảnh đó ai cũng bùi ngùi cảm động, không thể cầm được nước mắt. Thật là một cảnh chia ly vĩnh biệt rất đau đớn…Nhưng ông trùm đã cam đảm giã từ các con, sẵn sàng hy sinh tình phụ tử thân thương vì lòng kính mến Chúa, để tôn vinh Danh Thánh Chúa…

Mátthêu Phượng sinh khoảng năm 1808, tại Kẻ Lái, tỉnh Quãng Bình. Cha mẹ là người đạo đức sốt sắng, nên cậu nhờ ảnh hưởng của gia đình mà có lòng đạo sâu xa. Cậu rất mến mộ học hỏi giáo lý, siêng năng tham dự thánh lễ, xưng tội rước lễ. Nhưng chẳng may khi mới lên 10 tuổi, cậu phải mồ côi cha và hai năm sau phải mồ côi luôn cả mẹ…

Cảnh đứa con mới mười mấy tuổi đã mồ côi cha mẹ thật thảm thương! Nhưng cậu Phượng không ngã lòng. Cậu vẫn tin tưởng Chúa, trông ậy Chúa, biết chắc rằng không bao giờ Chúa bỏ cậu. Chim chóc ngoài trời kia Chúa còn không để chết đói, huống gì cậu là con của Chúa. Cậu quyết tâm lo tự lập sinh sống. Cậu xin học nghề thuốc với một thầy lang tên là Nhu. Ông là người ngoại đạo nhưng rất có lòng nhân hậu. Thấy cậu mồ côi ông thương giúp, dạy dỗ chỉ bảo tận tình.

Sau khi học nghề thuốc, cậu Phượng đến ở giúp việc cha Điểm. Năm cậu 22 tuổi, cha cưới vợ cho cậu ở Sáo Bùn; từ đó cậu về sống theo quê vợ, và chuyển sang nghề buôn bán. Vợ chồng làm ăn ngày một tấn phát sung túc và sinh được tám người con. Mặc dầu bận lo buôn bán, ông vẫn luôn chăm sóc, giáo dục con cái hết sức chu đáo. Đặc biệt ông dạy con bằng gương sáng đời sống hằng ngày. Muốn con cái làm việc gì tốt lành, ông luôn làm trước để chúng noi theo. Nhờ đó, các con đều sống đạo đức lương thiện.

Dưới thời vua Minh Mạng cấm đạo, ông là người hoạt động tông đồ nhiệt thành nhất trong họ đạo Sáo Bùn, nên được giáo dân chọn làm trùm họ. Trong lúc thiếu vắng linh mục, ông dạy đạo và rửa tội cho trẻ em củng như người lớn, ông khích lệ đồng đạo sốt sắng thờ phượng Chúa, ông khuyên bảo người lương gia nhập đạo Chúa. Mỗi khi có linh mục đến, ông tiếp đón về nhà, tận tình phục vụ che chở.

Đầu năm 1861, khi cha Gioan Đoàn Trinh Hoan đến họ Sáo Bùn, giúp giáo dân chuẩn bị mừng lễ Hiển Linh, ông rước cha về, tiếp đãi nồng hậu như các cha khác. Chẳng may đêm đó quân lính đến bao vây nhà ông tìm bắt cha. Cha chạy trốn ra bờ sông nhưng bị bắt. Sau đó họ cũng bắt luôn ông và bảy giáo hữu khác, giải về Đồng Hới.

Ở Đồng Hới, ông bị giam trong ngục, nhiều lần bị đưa ra tra tấn đánh đập, buộc ông chối Chúa bỏ đạo, nhưng ông cương quyết không bỏ Chúa. Trong số các quan án, có viên lục sự trẻ tuổi đem lòng yêu mến con gái ông, hứa cứu sống ông nếu ông chịu gã con cho hắn. Nhưng ông thà chịu chết chứ không bao giờ gã con cho kẻ nghịch đạo.

Thế là ngày 26 tháng 5 năm 1861, ông được đưa ra pháp trường lãnh nhận triều thiên tử đạo, bên cạnh những người con thân yêu. Đức Thánh Cha Piô X phong Chân phước cho ông ngày 2 tháng 5 năm 1909. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô II đã suy tôn ông lên bậc Hiển thánh.

Quyết tâm: Hết lòng chăm lo dạy dỗ giáo dục con cái, và sẵn sàng hy sinh tình cảm gia đình, mạng sống để làm chứng cho Chúa, theo gương thánh Mátthêu Phượng trùm họ tử đạo.

Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 27 tháng 5
THÁNH ÂU-TINH CĂN-TO-BÊ-RI
Giám mục

  • Gương thánh nhân:

Nước Anh đã được đón nhận đức tin từ lâu, nhưng từ khi những người Sắc-song sang xâm chiếm vào thế kỷ 5, lòng đạo của nhiều người ngày càng sa sút. Vì thế, năm 590, Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô Cả tìm người sang củng cố lại niềm tin cho họ. Và ngài đã chọn thánh Âu-tinh với 40 tu sĩ dòng Biển đức. Lúc đó, thánh nhân đang làm bề trên Đan viện thánh An-rê tại Rô-ma.

Các ngài vâng lời lên đường. Nhưng khi nghe những người Sắc-song đang cai trị ở đó rất tàn ác dã man, các ngài sợ hãi trở về.

Được tin tiểu vương miền nam nước Anh là Ết-nê-bê thành hôn với công chúa Bét-tê là người công giáo, Đức Giáo Hoàng liền sai các ngài lên đường một lần nữa. Và đặt Âu-tinh làm trưởng phái đoàn; bắt mọi người trong nhóm phải vâng lời ngài.

Lần này, các ngài đến nơi bình yên. Và nhờ sự trợ giúp của hoàng hậu Bét-tê, thánh nhân và phái đoàn đã hoạt động thành công; đến nỗi Đức Giáo Hoàng đã khen ngợi công lao các ngài:

“Ai có khả năng tả được nỗi hân hoan đã dậy lên trong lòng mọi tín hữu trước sự kiện ấy là: Nhờ ơn Thiên Chúa toàn năng và nhờ công lao của quý huynh, dân Anh đã xua đuổi tối tăm lầm lạc, để được ánh sáng đức tin chiếu soi. Rồi với tâm hồn liêm chính, họ đạp đổ hết các ngẫu tượng mà trước đây họ đã sợ hãi một cách vô lý, sấp mình thờ lạy. Để nay, họ lấy lòng trong sạch sấp mình trước Thiên Chúa toàn năng. Họ được các quy luật của giáo thuyết thánh thiện gìn giữ để lại khỏi rơi vào sự dữ. Họ được các giới răn của Chúa khuất phục tâm hồn và nâng cao tâm trí. Và nay, họ sấp mình sát đất để cầu nguyện, ngõ hầu tâm trí họ khỏi tà tà mặt đất. Công trình đó là của ai, nếu không phải là của Đấng đã phán: “Cha Ta hằng làm việc và Ta cũng vậy.” 1

Đức Giáo Hoàng đã đặt thánh nhân làm Tổng Giám mục Căn-to-bê-ri. Và ngài tiếp tục công trình cứu rỗi cho giáo đoàn này đến năm 604 thì qua đời vào ngày 27 tháng 5.

Quyết tâm:Noi gương thánh Âu-tinh Căn-to-bê-ri, tôi hy sinh chịu khó đem Chúa en961 cho các anh chị em ở những vùng xa xôi hẻo lánh, chưa được Ánh sáng Phúc âm chiếu soi.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời giảng dạy của thánh giám mục Âu-tinh mà đem ánh sáng Tin Mừng đến các dân tộc Anh quốc.Xin cho những kết quả công khó của người làm ra tồn tại mãi trong Hội thánh và sinh hoa trái dồi dào.

* Thánh Phaolô Hạnh
Giáo dân tử đạo

  • Gương thánh nhân:

Con người không ai hoàn toàn tốt, cũng chẳng có ai xấu hết mọi phần. Mỗi người đều có điều hay điểm dở. Có khác chăng, là nơi mỗi người điểm tốt hay điểm xấu nhiều hoặc ít hơn.. Điều cần nhất là phải nhận biết việc tốt mà thi hành, điều xấu mà xa lánh. Chính đó là lý tưởng cao đẹp mọi người cần thể hiện trong đời sống.

Phaolô Hạnh đây cũng là con người, cũng có lỗi lầm khuyết điểm. Vì ham mê của cải, cậu đâm ra xảo trá, lường gạt, cướp bốc, nhưng cũng biết thương giúp người cô thế cô thân. Nhờ đó cậu được phúc tử đạo, trở nên chứng nhân anh dũng của Chúa Kitô.

Cậu Hạnh sinh năm 1827, tại làng Tân Triều, tỉnh Biên Hòa.

Lớn lên, anh muốn tìm kế lập nghiệp, đồng thời để phụ giúp gia đình cha mẹ, nên theo hai anh đến Chợ Quán, Sài Gòn buôn bán. Trong thời gian ở đây, anh quen lớn nhiều người, hùn vốn làm ăn với họ. Trong đó có lắm kẻ không tốt, rù quến anh làm điều xấu, mánh mung, xảo trá, lường gạt, buôn bán gian lận, dần dần đưa đến giựt giọc, cướp bóc, dường như có lúc anh đã cầm đầu một đảng cướp. Người trong vùng dư luận nhiều về anh. Càng ngày họ càng sợ anh, càng xa lánh anh, coi anh là kẻ bất lương kinh tởm !...

Nhưng một dịp may đã làm anh thức tĩnh, đánh động lương tâm anh, khơi dậy trong anh lòng bác ái yêu người Chúa dạy. Một hôm, anh gặp một đám du đãng đang hành hung cướp bóc một thiếu phụ cách rất dã man. Anh xúc động, nhảy bổ vào can thiệp, cứu người thiếu phụ, buộc bọn chúng phải hoàn trả lại tất cả cho nạn nhân. Bị ép buộc và thấy mình yếu thế, bọn du đãng phải làm theo lời anh, nhưng chúng rất căm tức và quyết định trả thù. Chúng biết anh là người công giáo, nên đến tố cáo với quan đồng thời buộc tội anh là Việt gian, thông đồng với quân đội viễn chinh Pháp, chống lại triều đình. Lúc đó ăm 1859, tàu Pháp từ biển tiến vào Cần Giờ, bắn phá thành Gia Định. Vua Tự Đức sợ người công giáo theo phe giặc, nên ra chiếu chỉ bắt đạo gắt gao.

Thế là Phaolô Hạnh bị bắt, giải về Bà Quẹo, tống giam nghiêm ngặt vì thuộc thành phần tội phạm nghiêm trọng. Nhiều lần anh bị đưa ra tra tấn dã man. Người ta căng thân thể anh ra đánh đập, dùng kèm kẹp, lấy thánh sắt nung đỏ dí vào người.

Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster:
tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle

Home Page
Trở về đầu trang


Mừng Thọ 100 tuổi
Đức Cha Antôn
Nguyễn Văn Thiện
Nguyên Giám Mục
Giáo Phận Vĩnh Long

Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:
pettham@gmail.com
Đôi dòng giới thiệu
Tin Giáo Hội toàn cầu và Giáo Phận
Mục vụ
Suy niệm Lời Chúa
Phụng Vụ
Giáo Lý Công Giáo
Truyền Giáo