PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG 04

Tháng 01 I Tháng 02 I Tháng 03
Tháng 04 I Tháng 05 I Tháng 06 I Tháng 07
Tháng 08
I Tháng 09 I Tháng 10 I Tháng 11 I Tháng 12

 

THÁNG TƯ

Ngày 1 tháng 4
THÁNH PHAN-XI-CÔ PAO-LA
Ẩn tu

Gương thánh nhân:

Thánh Phan-xi-cô sinh ngày 27 tháng 5 năm 1416, tại Pao-lô Ca-lập-rơ, trongmột gia đình nghèo khó nhưng rất đạo đức. Cha mẹ ngài đã cưới hỏi nhau từ lâu nhưng không có con, nên nài xin thánh Phan-xi-cô khó khăn cầu bàu. Và Chúa đã nhậm lời. Để tỏ lòng biết ơn, ông bà đã tên con là Phan-xi-cô.

Được mẹ dạy dỗ cẩn thận, ngay từ nhỏ, thánh nhân sống hết sức khiêm tốn, luôn luôn muốn được mọi người gọi là hèn mọn nhỏ bé nhất. Và nhân đức đặc biệt thứ hai của ngài là siêng năng cầu nguyện . Mỗi sáng vừa thức dậy, công việc trước tiên của ngài là chạy đến nhà thờ dự thánh lễ và ở lại lâu giờ cầu nguyện. Ngài thường nói với mẹ: con rất ham cầu nguyện với Chúa.

Năm lên 13 tuổi, ngài vào dòng thánh Phan-xi-cô. Thấy ngài nhân đức và tuân theo luật dòng nhiệm nhặt, các thầy muốn giữ ngài luôn trong dòng. Nhưng 2 năm sau, cha mẹ đã đưa ngài hành hương đến Rô-ma. Được ơn Chúa soi sáng ngài chọn đời khổ tu và lui vào nơi thanh vắng chuyên lo ăn chay cầu nguyện.

Ngài chỉ sống ẩn dật được 4 năm thì nhiều người đã biết nhân đức của ngài. Họ đến xin ngài hướng dẫn đàng trọn lành và tình nguyện ở lại với ngài. Thế là họ cất nhà ở gần hang đá của ngài. Đó là nguồn gốc của Dòng anh em hèn mọn của thánh Phan-xi-cô Pao-la. Năm 1474, quy luật dòng của ngài đã được Hội thánh công nhận. Từ đó, dòng lan rộng khắp nơi. Ngoài ra việc tuân theo 3 lời khuyên Phúc Âm là khó nghèo, thanh tịnh và vâng lời, các tu sĩ dòng còn khấn giữ đức khiêm nhường và bác ái, với mục đích là để đạt được phần rỗi linh hồn, như lời thánh nhân thường nhắn nhủ các tu sĩ: ”Anh em hãy tránh sự dữ, hãy đẩy lui các dịp nguy hiểm. Chúng tôi và toàn thể anh em chúng tôi, mặc dầu bất xứng, vẫn liên lĩ cầu xin Thiên Chúa Cha, Đức Giêsu Kitô, Con Người và Đức Trinh nữ Maria, để các ngài không ngừng phù trợ anh em theo đuổi công việc cứu độ hồn xác anh em. Anh em thân mến, tôi tha thiết khuyên anh em hãy chuyên cần chăm lo việc rỗi linh hồn mình một cách khôn ngoan và nhiệt thành. Chắc chắn ai cũng phải chết, và đời sống thì chóng qua, khác nào mây khói.

Vậy anh em hãy chú tâm vào sự thương khó của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì yêu thương chúng ta, Người đã từ trời xuống thế cứu chuộc chúng ta. Người đã chịu đau đớn trong tâm hồn và thể xác vì chúng ta; và Người đã không hề tránh một cực hình nào. Người làm gương cho ta về đức nhẫn nhục và yêu thương. Vậy trong mọi nghịch cảnh, chúng ta cũng phải nhẫn nhục. Anh em hãy giũ bỏ lòng giận ghét, thù nghịch… Anh em hãy yêu mến sự bính an…”

Sống trong dòng, thánh nhân luôn nêu gương khắc khổ, khiêm nhường, bác ái cho các tu sĩ. Đời sống ngài là một hiến lễ dâng lên Chúa hằng ngày. Vì thề ngài được Chá thương ban cho nhiều ơn lạ. Tương truyền ngài làm được nhiều phép lạ, như chữa lành bệnh, làm cho kẻ chết sống lại….Danh tiếng ngài đồn ra khắp nơi, đến nỗi khi vua Lu-y XI nước Pháp lâm bệnh nặng, ông đã yêu cầu thánh nhân đến cứu chữa.

Thánh nhân đã đến nước Pháp. Nhưng thay vì cứu cho nhà vua sống, ngài đ4 giúp ông được ơn chết lành. Và ngài lưu lại đó 16 tháng: thành lập nhiều đan viện. Và qua đời ngày 2 tháng 4 năm 1507. Ngài được tuyên phong Hiển thánh năm 1519.

Quyết tâm: Tôi quyết sống khắc khổ, khiêm nhường, bác ái và hằng ngày làm nhiều việc lành phước đức để lo cho phần rỗi tôi, theo gương thánh Phan-xi-cô Pao-la.

Lời nguyện: Lạy Chúa là Đấng nâng cao kẻ thấp hèn, Chú đã ban cho vị ẩn tu Phan-xi-cô triều thiên vinh quang của các thánh. Vì công đức và gương sáng của thánh nhân, xin cho chúng con được vui mừng lãnh nhận phần thưởng Chúa đã hứa cho kẻ thấp hèn.

*Thánh Đa Minh Tước
Linh mục tử đạo

Gương thánh nhân:

Cuộc tử nạn của thánh Đa Minh Tước thật là mau chống. Kể từ lúc cha bị bắt đến lúc chịu chết d0ổ máu ra làm chứng cho Chúa chỉ vỏn vẹn trong vòng mấy tiếng đồng hồ.. Nhưng dù mau hay lâu, cha cũng đã can đảm hy sinh vì Chúa, và nêu gương anh dũng cho tất cả mọi người.

Đa Minh Tước sinh năm 1775, tại làng Trung Lao tỉnh Nam Định. Cậu đã được Chúa thương gọi giúp việc Chúa. Ngay từ nhỏ, cậu đã gia nhập chủng viện, học tập đạo đời và rèn luyện nhân đức. Và sau khi học xong thần học, thầy Đa Minh Tước đã được thụ phong linh mục.

Từ ngày được thăng chức linh mục, cha Đa Minh luôn nhiệt tâm làm việc tông đồ, rao giảng đạo Chúa, thánh hóa các linh hồn. Và để ohục vụ Chúa đắc lực hơn, năm 1811, Cha đã xin gia nhập dòng thánh Đa-Minh là hội dòng chuyên giảng thuyết. Đức cha Đen-ga-đô Y đã bổ nhiệm cha coi sóc họ đạo Xương Điền, một họ đạo đông đảo giáo dân thuộc giáo phận Đông Đáng Ngoài.

Đang lúc cha hăng say hoạt động truyền giáo, thì năm 1838, Vua Minh Mạng ra chiếu chỉ bắt đạo gắt gao. Khắp nơi các quan lùng bắt sát hại các linh mục và tín hữu Công giáo. Cha Đa Minh đã phải sống rày đây mai đó, ẩn nấp trong nhà các tín hữu để dâng thánh lễ, ban các bí tích, an ủi khuyên bảo mọi người trung thành bền đổ theo Chúa, sẵn sàng chịu chết vì Chúa.

Lúc cha ẩn trú trong nhà ông Đa minh Đoài, ông hỏi thử cha:

  • Nếu vua quan đến bắt cha, cha tính thế nào?
  • Tôi sẽ chạy trốn, nếu trốn không khỏi, tôi sẵn lòng dâng theo ý Chúa.

Không phải vì sợ chết mà cha trốn tránh các cuộc bắt bớ của vua quan. Cha có ý lẫn trốn để giúp đỡ con chiên trong lúc khốn khó, bách hại, để nâng đỡ khuyến khích họ giữ vững niềm tin. Nhưng lúc nào cha cũng sẵn sàng tuân theo thánh ý Chúa. Nếu Chúa muốn cha sống, cha nguyện hết lòng phục vụ đoàn chiên Chúa. Ví bằng Người muốn cha chết để làm chứng cho Người, cha hết lòng cảm ơn Chúa.

Và thật sự Chúa muốn cha làm chứng cho Người, vì gần nơi cha trú ẩn, có viên quan bát phẩm tên Phan, rất sốt sắng tìm bắt các lin mục giải nộp cho vua, để được khen thưởng. Được tin mật báo cha Đa minh đang ở nhà ông Nhiêu Tình, viên quan này dẫn binh lính đến bao vây, đang lúc cha đang dâng thánh lễ, nghe động tĩnh bên ngoài, cha vội vàng cởi áo lễ chạy trốn. Nhưng binh lính đã chận cha lại, bắt trói giải về Cẩm Hà, huyện Giao thủy, tỉnh Nam Định.

Các tín hữu nghe tin cha bị bắt thì hùn tiền đến chuộc. Nhưng họ không cho, họ muốn nhà vua tưởng thưởng tiền của và chức tước bội hậu hơn. Thế là các tín hữu kêu gọi nhau đuổi theo giải thoát cho cha…

Thấy không thể thoát khỏi tay các tín hữu, viên chỉ huy ra lệnh giết cha, thế là một tên lính đã bổ lên đầu cha một nhát búa, khiến cha ngã gục máu chảy dầm dề…

Trong cơn hấp hối, cha thì thầm cảm tạ Chúa, vì Người đã thương cho cha được phước đổ máu ra vì danh Người. Đoạn cha quay nhìn các tín hữu đang nức nở vây quanh. Cha khuyến khích họ giữ vững đức tin, trung kiên phunïg thờ Chúa, làm chứng cho Chúa, đoạn cha trút hơi thở cuối cùng. Hôm đó là ngày 2 tháng tư năm 1839.

Đức Thánh Cha Lêô XIII đã suy tôn cha lên bậc Chân phước ngày 27 tháng 5 năm 1900. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988. Đức Giáo Chủ Gioan Phaolô Ii đã tôn phong cha lên Hiển thánh.

Quyết tâm: Kiên trì giữ vững đức tin, sẵn sàng hy sinh phụng sự Chúa, phục vụ mọi người, và sống chết vâng theo ý Chúa muốn, như thánh Đa Minh Tước linh mục tử đạo.
Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha, và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 4 tháng 4
THÁNH I-XI-ĐÔ-RO
Giám mục tiến sĩ

Gương thánh nhân:

Thánh I-xi-đô-ro sinh ở Cạt-ta-gê-ri-a trong một gia đình hết sức dặc biệt, vì có đến 4 anh em được tôn phong hiển thánh. Đó là thánh Lê-ăn-đơ, Phun-gen-tô, Phô-ren-ti-na và chính ngài I-xi-đô-ro.

Cha mẹ mất sớm, I-xi-đô-ro được người anh cả nuôi dưỡng dạy dỗ và cho ăn học. Nhưng lúc đó, ngài rất ngán học hành, thích vui chơi với chúng bạn hơn. Người anh rầy quở mãi không được, buộc lòng phải dùng roi vọt để sữa dạy. Ngài sợ đòn nên trốn nhà ra đi.

Nhưng nhờ phước đức cha mẹ để lại, ngài gặp một bà đến giếng gánh nước. Bà ấy hỏi tông tích và biết được ngài chán ngán học hành thì giải thích cho ngài biết: những giọt nước rơi xuống đá lâu ngày, đá cũng phải mòn. Tâm trí con người cũng thế; kiên trì gọt giũa sẽ có ngày thông minh…

Thật là một bài học quý giá cho I-xi-đô-ro. Ngài nghĩ lại, trở về xin lỗi anh, rồi chuyên cần học tập. Và nhờ kiên trì chịu kho, ngài trở thành người thông thái nhất thời đó; đến nỗi mọi người đều phải ca tụng tài trí xuất chúng của ngài.

Nhờ ơn Chúa soi dẫn và gương sáng của các anh chị, ngài muốn cống hiến tài trí của ngài để phục vụ Chúa và Hội thánh. Ngài xin vào dòng; tập rèn nhân đức; trao dồi thêm thầ học và Kinh thánh. Đặc biệt, ngài siêng năng học hỏi Kinh thánh và cầu nguyện. Ngài nói:” Nhờ cầu nguyện, chúng ta được tẩy sạch; nhờ đọc Kinh thánh, chúng ta được dạy dỗ. Nếu làm được cả hai việc thì tốt. Nếu không cn62, thì cầu nguyện tốt hơn là đọc sách.

Ai muốn luôn ở với Thiên Chúa, thì phải năng cầu nguyện và năng đọc Kinh thánh. Vì khi cầu nguyện, thì ta thưa cùng Chúa; còn khi đọc Kinh thánh, thì Thiên Chúa nói với ta. Mọi tiến bộ đều do đọc Kinh thánh và suy niệm. Điều gì ta không biết, nhờ đọc Kinh thánh, ta sẽ biết; còn điều gì ta đã biết, nhờ suy niệm, ta sẽ gìn giữ được. Đọc Kinh thánh mang lại hai ân huệ; một là đào tạo tâm trí, hai là gỡ người ta ra khỏi những sự phù vân ở đời này và đưa họ đến việc yêu mến Thiên Chúa.”

Thánh nhân được thụ phong linh mục và theo giúp anh là Giám mục Lê-ăn –đơ. Lúc đó, bè rối A-ri-ô đang lan tràn. Họ không nhìn nhận thiên tính của Chúa Giêsu. Thánh nhân dùng học thức và sự khôn ngoan của mình mà thuyết phục họ tin thật Đức Giêsu là Thiên Chúa làm người, sinh bởi Đức Trinh nữ Maria do quyền năng Chúa Thánh Thần.

Năm 6000, Đức cha Lê-ăn-đơ từ trần, ngài được bầu lên kế vị anh, cai quản giáo phận Sê-vi-đa. Từ ngày nhậm chức Giám mục, ngài càng thêm trách nhiệm nặng nề: hướng dẫn đoàn chiên Chúa, đào tạo hàng giáo sĩ, kêu gọi người lạc trở về chánh đạo. Ngài còn dành thời giờ viết sách hướng dẫn đàng nhân đức. Nhất là thu tóm tất cả tinh hoa của thời đại để lưu truyền cho hậu thế. Tác phẩm nổi tiếng của ngài là bộ bách khoa Ê-ty-mo-lô-gi, gồm 20 quyển, tóm lược những hiểu biết của loài người.

Trong những tháng cuối đời, ngài lo thực hành đức bác ái nhiều hơn; hằng ngày chăm sóc những người nghèo khổ thiếu thốn.

Ngài qua đời ngày 4 tháng 4 năm 636. Đức Thánh Cha Bê-nê-đi-tô XV đã tôn phong ngài làm Tiến sĩ Hội thánh.

Quyết tâm: Noi gương thánh I-xô-đô-ro, tôi kiên trì bền chí học tập về đạo cũng như phần đời, Để làm sáng danh Chúa và giúp ích cho mọi người.
Lời nguyện: Lạy Chúa, trong ngày kính nhớ thánh Giám mục I-xi-đô-ro, chúng con dâng lên Chúa lời khấn nguyện: Xin cho Hội thánh, đã hấp thụ giáo lý cao siêu của người, thì cũng được người bênh vực che chở trước tòa Chúa.

Ngày 5 tháng 4
THÁNH VINH-SƠN PHÊ-RI-Ô
Linh mục

Gương thánh nhân:

Thánh Vinh-sơn sinh năm 1350, tại Va-len, nước Tây-ban-nha Trong một gia đình giàu có đạo đức. Nhờ bà mẹ hướng dẫn, ngài đã sớm tấn tới trong việc kính mến Chúa chịu nạn chịu chết.

Lúc còn đi học, thánh nhân đã biết nói về Chúa cho các bạn. Và họ rất thích nghe ngài. Ngài thường diễn lại bài giảng ở nhà thờ bằng những cử điệu sống động cho họ xem để kích thích lòng đạo cho họ.

Năm lên 18 tuổi, ngài gia nhập dòng thánh Đa-minh là Dòng Anh Em Thuyết Giáo. Ngài được chọn làm giáo sư triết học và thần học. Nhưng việc làm đặc biệt của ngài là chuyên môn giảng thuyết. Ngài là một nhà giảng thuyết lừng danh. Ngài múc lấy tài hùng biện của mình trong Năm Dấu Thánh Chúa Giêsu. Mỗi lần soạn bài giảng, ngài luôn quỳ trước ảnh Chúa chịu đóng đinh trên khổ giá. Ngài chuyên giảng về lòng thống hối, về sự chết và ngày phán xét. Nhờ lời giảng dạy của ngài, nhiều tội nhân đã ăn năn sám hối, trở về với Chúa.

Từ năm 40 tuổi trở đi, thánh nhân hoàn toàn chuyên lo giảng đạo. Một tay cầm gậy, tay cầm thánh giá.. Ngài đi khắp các thành phố Tây-ban-nha, nước Pháp, nước ý, rao giảng kêu gọi mọi người ăn năn thống hối tội lỗi. Hàng ngàn hàng vạn người đã nghe lời thánh nhân mà hoán cải tâm hồn, hoán cải đời sống…

Đối với những người làm việc tông đồ, thánh nhân thường bảo:

-“ Nếu các bạn muốn có ích cho linh hồn người khác, trước hết bạn hãy chạy đến với Thiên Chúa và đơn sơ xin Người điều này, là thương đổ xuống trong lòng tình bác ái yêu thương, là nồng cốt của hết mọi nhân đức khiến bạn có thể làm được việc như lòng mong ước.”

Với những ai chuyên lo việc giảng dạy, ngài khuyên:

-“ Khi giảng dạy và khuyên bảo, hãy dùng kiểu nói đơn sơ, trò chuyện thân mật để giải thích các việc cụ thể phải làm. Mỗi khi có thể được, phải nhấn mạnh vào gương sáng, để ai có tội nào thì cảm thấy đau như thể bạn chỉ giảng cho một mình y vậy. Nhưng phải nói thế nào để rõ ràng lời bạn không phải do kiêu kỳ hay bực bội, một do lòng thương và tình cha mà ra. Bạn hãy giống như người cha, thấy thương con cái lỗi phạm hay đau nặng hoặc rơi xuống vực sâu thì ra sức kéo chúng lên, cứu chữa và vỗ về chúng như người mẹ, và như người sung sướng thấy chúng tiến bộ và hy vọng chúng được vinh hiển thiên đàng.

Làm như vậy, thường có ích cho người nghe. Bởi vì, nếu chỉ nói chung chung về nhân đức hay về nết xấu thì chẳng đánh động được lòng ai”. Thánh nhân đã thành công trong việc đưa dẫn tội nhân trở về với Chúa, đem lại phần rỗi cho nhiều tâm hồn. Nhưng chính ngài phải gặp nhiều gian khổ thử thách, vì ma quỷ không để yên cho ngài cứu giúp linh hồn những kẻ làm nô lệ chúng. Chúng nhờ tay chân bộ hạ của chúng chống đối thánh nhân; tìm đủ mọi cách cản trở công việc của ngài. Đó là những tên bịp bợm, lợi dụng sự sa đọa của nhiều người để làm gàu, để thỏa mãn thói tham lam ích kỷ của họ.

Vì phải chịu nhiều gian khổ và vì tuổi già sức yếu, thánh nhân đã qua đời vào ngày 5 tháng 4 năm 1419. Và năm 1455, Đức Thánh Cha Ca-lít-tô thứ 3 tôn phong hiển thánh cho ngài.

Quyết tâm: Vâng lời thánh Vinh-sơn dạy bảo, hằng ngày tôi năng nhớ đến sự thương khó Chúa, lo ăn năn thống hối tội lỗi, để được chết lành trong ơn nghĩa Chúa.
Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Vinh-sơn linh mục xuất hiện như sứ giả Tin mừng để nhắc nho83 cho mọi người phải luôn luôn sẵn sáng ra trước tòa Chúa Kitô. Xin cho chúng con biết chuẩn bị chờ đón Chúa Kitô đến xét xử trần gian, để được chiêm ngưỡng thánh nhan Người trên thiên quốc.

* Thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh
Linh mục tử đạo

Gương thánh nhân:

Phao-lô Lê Bảo Tịnh sinh năm 1793 tại xã Trinh Hà, huyện Hoàng Hoa, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình đạo đức.

Ngay từ nhỏ, cậu đã ước nguyện dâng mình cho Chúa, nên năm lên 12 tuổi, cha mẹ đã hửi cậu cho cha Duệ ở xứ Bạch Bác, để nhờ cha hướng dẫn dạy bảo. Đến khi lên 15 tuổi, cậu được cha cho vào chủng viện Vĩnh Trị tỉnh Nam Định.

Trải qua thời gian sống ở chủng viện, thầy Tịnh là một chủng sinh gương mẫu, được các cha giáo khen ngợi, các bạn học kính nể. Nhân đức nổi bậc nhất của thầy là tinh thần hy sinh, hãm mình khắc khổ. Thầy thường ăn chay mỗi ngày thứ sáu, để tưởng nhớ Chúa Giêsu chịu chết đóng đinh trên thập giá. Đặc biệt thầy hết lòng mến mộ thánh giá, sẵn lòng chịu mọi sự gian lao khốn khổ vì Chúa. Cuộc sống khổ hạnh hằng ngày của thầy chứng minh rõ điều đó. Và nó đã dẫn đưa thầy đến quyết định sống đời ẩn tu, để kết hợp mật thiết với Chúa hơn.

Một hôm, thầy Phao-lô Tịnh âm thầm rời bỏ chủng viện, trốn vào ẩn náu trong rừng sâu vắng. Hằng ngày chuyên chăm cầu nguyện, ăn chay, hãm mình, đánh tội, thầy quyết xa lánh thế gian sống đời ẩn tu khắc khổ.

Nhưng Chúa muốn nhờ thầy cộng tác với Chúa rao giảng Tin Mừng cho lương dân, mở mang Nước Chúa. Chính vì thế, Đức Cha ra lệnh cho các cha trong giáo phận, nếu thầy Tịnh có đến xưng tội thì bảo thầy phải đến gặp Đức Cha. Và khi thầy đến, Đức Cha đã buộc thầy trở về chủng viện, học tiếp môn thần học. Sau đó, ngài ban cho thầy các chức nhỏ rồi sai đi truyền giáo tại Lào.

Sau một năm hoạt động, thầy thấy công cuộc giảng đạo phát triển khả quan, nên trở về xin Đức Cha cho thêm người phụ tiếp. Nhưng tình thế lúc đó rất khó khăn, vua quan bắt đạo gắt gao, nhiều linh mục đã bị giết, chủng viện Vĩnh Trị phải đóng cửa…

Vì thiếu linh mục, nên thay vì cho thầy Phao-lô Tịnh đi Lào, tiếp tục công cuộc truyền giáo. Đức Cha đã sai thầy đến giúp xứ Bình Trì, tỉnh Hà Nam . Năm 1841 thầy bị bắt. Giáo hữu nghe tin ấy thì đam tiền đến chuộc, nhưng thầy từ chối vì muốn phúc tử đạo, làm chứng cho Chúa Thế rồi thầy bị quân lính giải về Hà Nội. Sau nhiều lần bị tra tấn, thầy vẫn can đảm giữ vững lòng tin, nên các quan đã đệ án về kinh xin trảm quyết. Nhưng lúc đó vua Thiệu Trị mới lên ngôi nên khoan hồng đổi án trảm quyết thành án lưu đày chung thân.

Năm 1847, vua Thiệu Trị băng hà, Tự Đức lên ngôi kế vị. Vua an xá, tha hết các tù nhân. Thế là thầy Phao-lô Tịnh được trở về địa phận trong niềm hân hoan của mọi người.

Ít lâu sau, thầy được thụ phong linh mục và làm giám mục chủng viện Vĩnh Trị. Vị tân linh mục cao niên này hết sức tận tụy lo huấn luyện chủng sinh, nhất là về đàng nhân đức, thánh thiện. Ngoài ra cha còn tìm thời giờ viết sách. Cha đã soạn sách “ Phúc âm giảng giải, Giáo lý đại cươngv.v…” để làm tài liệu học tập cho các chủng sinh.

Giữa lúc cha hăng say đào tạo các tông đồ tương lai như thế thì đầu năm 1857, cha bị tố giác và bị bắt. Quan yêu cầu cha bước qua thánh giá nhưng cha cương quyết từ chối, và tuyên bố sẵn sàng chịu chết vì Chúa. Và cha đã mãn nguyện. Ngày 06 tháng 04 cha đã được dẫn đến pháp trường Bảy Mẫu ở Nam Định và chịu trảm quyết.

Đức Giáo Chủ Piô X đã tôn cha lên bậc Chân phước ngày 2 tháng 5 năm 1909. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988 Đức Thánh Cha Gioan Phao-lô II đã phong cha lên Hiển thánh.

Quyết tâm: Hằng ngày sống hãm mình, khắc khổ, thông hiệp vào sự thương khó Chúa mà cứu rỗi các linh hồn, và sẵn sàng hy sinh vì Chúa, theo gương thánh Phao-lô Lê Bảo Tịnh, linh mục tử đạo.
Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 7 tháng 4
THÁNH GIOAN LA-SAN
Linh mục

Gương thánh nhân:

Giữa lúc các trường công nước Pháp cấm dạy đạo, Chúa Quan phòng cho xuất hiện vị thánh chuyên lo giáo dục trẻ:Khai mở trường Công giáo, vừa dạy chữ, dạy nghề, vừa huấn luyện đạo lý. Đó là thánh Gioan Bao-ti-xi-ta La-san linh mục, mà chúng ta mừng kính hôm nay.

Thánh nhân sinh năm 1651, tại Rem, nước Pháp, là con trong một gia đình quý tộc. Năm lên 16 tuổi, ngài dâng mình cho Chúa, vào chủng viện Xuân-bích. Và năm 1678, ngài thụ phong linh mục.

Nhờ ơn Chúa sáng soi, ngài thấy được con đường lý tưởng của ngài. Đó là đào tạo giáo vên và mở trường dạy học. Thánh nhân đứng ra khai mở nhiều trường công giáo, dạy văn hóa, huấn luyện nghề nghiệp, nhất là hướng dẫn giáo lý cho học sinh. Ngài ưu tiên lo cho học sinh nghèo, miễn phí cho họ. Chính vì đó mà ngài gặp khó khăn. Các trường khác chống đối ngài vì trường họ mất nhiều học sinh, nhất là học phí. Họ tố cáo ngài; tổ chức cướp phá trường của ngài. Chính quyền ra lệnh cấm ngài dạy miễn phí trong thành phố Pa-ri. Nhưng thánh nhân không ngã lòng. Ngài tiếp tục mở trường dạy miễn phí ở các nơi khác.

Lần lần với kinh nghiệm, ngài thấy rằng muốn cho công cuộc giáo dục được kết quả tốt, chẳng những phải có một đội ngũ giáo viên học thức cao mà cần nhất là đào tạo đức gương mẫu. Ngài cầu nguyện với Chúa và quyết định biến đổi nhóm giáo viên của ngài thành một cộng đoàn tu sĩ chuyên lo việc giáo dục đào tạo. Đó là tu hội các Sư Huynh mà chúng ta thấy hiện có mặt trên khắp các nước. Để giới hạn hội dòng riêng cho công trình giáo dục, ngài định không sư huynh nào được làm linh mục. Vì nếu làm linh mục thì các ngài phải làm việc mục vụ, không d8ủ thời giờ lo cho việc dạy dỗ giới trẻ. Chính ngài chăm lo huấn luyện đạo đức và nghiệp vụ cho các sư huynh. Ngài thường nhắn nhủ:” Anh em hãy suy nghĩ điều Tông đồ Phao-lô đã nói: Thiên Chúa đã đặt trong Hội thánh có các tông đồ, các tiên tri và các tiến sĩ. Bây giờ anh em cũng sẽ thâm tín rằng chính Chúa cũng đã đặt anh em ở chức vụ đang ở. Về điều đó, chính vị thánh ấy đã cho anh em một bằng chứng khi nói: có nhiều tác vụ và nhiều công việc, nhưng chỉ có một Thánh Thần biểu thị trong mỗi ơn như vậy, để lám ích cho toàn thể tức là cho cả Hội thánh.

Do đó, anh em không được nghi nan gì về ơn mà anh em đã được, là giáo dục thiếu niên, rao giảng Tin Mừng cho chúng và huấn luyện chúng trong tinh thần đạo đức. Đó là ơn cao cả Thiên Chúa đã ban cho anh em. Người đã gọi anh em đến chức vụ thánh này. Vậy, trong toàn bộ việc giáo dục của anh em, anh em phải làm cho lớp thiếu niên mà anh em có phận sự coi sóc nhận thấy chính anh em là thừa tác viên của Thiên Chúa, khi anh em chu toàn phận sự với tình thương không giả dối và với sự chuyên cần chân thật. Hơn nữa, anh em còn phải dấn thân vào chức vụ không phải chỉ vì là thừa tác viên của Thiên Chúa, mà còn là thừa tác viên của Đức Kitô và Hội thánh nữa…

Anh em hãy thao thức làm cho thiếu niên đi vào cơ cấu của ngôi đền thờ này là Hội thánh, để một ngày kia chúng xứng đáng đến trước tòa Đức Giêsu Kito đầy vinh quang, không tí tích, không nhăn nheo hay xấu xa, hầu chứng tỏ cho các thế hệ mai sau thấy các sự giàu sang phong phú của ơn thánh mà Thiên Chúa đã ban cho chúng, khi cho chúng trợ giúp về giáo lý, lúc trao chúng cho anh em dạy dỗ và giáo dục, để chúng được phần gia nghiệp Nước của Thiên Chúa và của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.” 1

Thánh nhân qua đời vào ngày thứ sáu Tuần Thánh năm 1719, và được Đức Giáo Hoáng Lê-ô XIII nâng lên Hiển thánh năm 1900.

Quyết tâm: Nêu gương thánh Gioan Lasan, hằng ngày tôi dạy dỗ con cháu trong gia đình nên người và nên con hiếu thảo của Chúa.
Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã chọn thánh La-san để người rèn kuyện đức tin cho giới trẻ. Ngày nay, xin Chúa cũng cho xuất hiện trong Hội thánh những nhà giáo dục tận tâm lo cho giới trẻ nên người và nên con cái Chúa.

 

* Thánh Phêrô Nguyễn Văn Lựu
Linh mục tử đạo

Gương thánh nhân:

Trong thời kỳ bắt đạo, phần nhiều các linh mục bị bắt là do vua quan lục soát tìm kiếm, nhưng cũng có những trường hợp gần như là các ngài tự nộp mình, vì lòng nhiệt thành lo cho giáo hữu, như trường hợp của cha Phê-rô Nguyễn Văn Lựu. Cha bị bắt đang khi lén vào ngục ban các bí tích cho các tín hữu giam giữ vì đức tin.

Phêrô Nguyễn Văn Lựu sinh năm 1812 tại họ Gò Vấp, tỉnh Gia Định ( Sàigòn).

Nhờ hấp thụ nền giáo dục và lòng đạo của gia đình, cậu sớm ước mong dâng mình giúp việc giảng đạo Chúa. Cậu đã trình ý nguyện đó lên cha sở. Cha thấy cậu đạo đức và có trí thông minh, nên đã xin cho vào chủng viện và được gởi đi học ở Pê-năng.

Trong thời gian học tập ở Pê-năng, cậu rất chuyên cần học hành và rèn luyện nhân đức. Chẳng bao lâu, cậu được bề trên cho lãnh nhận các chức nhỏ, và sau khi học xong thần học, thầy Phêrô Lựu đã được thụ phong linh mục.

Vì nhu cầu mục vụ, vừa chịu chức xong, cha Lựu đã được Đức Giám mục bổ nhiệm đến chăm sóc bổn đạo họ Mặc Bắc, rồi đến Sa Đéc, Mỹ Tho. Bất cứ ở đâu cha cũng tận tâm chu toàn nhiệm vụ chủ chăn, giảng dạy giáo lý, làm các bí tích, thăn viếng gia đình, khuyên bảo người nguội lạnh, trể nải, chăm sóc bệnh nhân.

Thấy cha tận tụy hy sinh, giáo dân rất quý mến cha, sẵn sàng vâng nghe lời cha. Nhiều người bỏ đạo lâu năm hoặc rối rắm bê tha đã ăn năn trở về với Chúa Nhờ gương sáng và lời giảng dạy của cha, người tội lỗi biết lo sám hối, kẻ nguội lạnh trở lại sốt sắng. Nam9 1853, cha Lựu đang làm sở họ đạo Mặc Bắc thì có lệnh Đức Cha bổ nhiệm đến nơi khác. Cha vừa rời khỏi Mặc Bắc, thì quan trấn thủ Vĩnh Long đến vây bắt cha. Thế là cha thoát chết một cách hết sức may mắn. Phải chăng đ1 là việc Chúa Quan phòng gìn giữ cha để cha tiếp tục giúp việc Chúa, làm sáng Danh Chúa. Nhưng cha Philipphê Phan Văn Minh và ông trùm Giuse Lựu đã bị bắt thế cha lần đó.

Đến năm 1860, lúc cha Lựu đang phụ trách họ đạo Ba Giồng ( Mỹ Tho) thì có lệnh truy bắt tất cả các tín hữu ở Xoài Mút và Ba Giồng đem về giam ở tỉnh. Vì thương con chiên bổn đạo phải chịu ngục tù khổ sở, và vì sợ họ yếu lòng tin mà bỏ đạo, cha thường cải trang vào tù thăm viếng ủng hộ họ, nhất là khuyên bảo khuyến khích họ can đảm trung thành tin theo Chúa. Và để thêm sức mạnh cho họ, cha lén lút ngồi tòa giải tội và đem Mình Thánh Chúa cho họ. Muốn được dễ dãi ra vào nâng đỡ họ, cha phải dùng tiền mua chuộc các lính canh.

Một hôm, đang lúc cha ban các bí tích cho họ thì bị phát giác. Viên quan cai ngục đã nhận ra cha. Thấy không thể dấu được, cha thú nhận mình là linh mục. Thế là cha bị bắt giam vào tháng 12 ăm 1860. Từ đó cha không cần phải lén lút ra vào thăm viếng các giáo hữu trong tù, mà được phước chung sống với họ, chia sẽ những nỗi kho, đòn vọt, tr tấn với họ. Cha không những động viên tinh thần ho bằng lời nói mà bằng chính gương mẫu đức tin bất khuất của cha. Cực hình, tr tấn không lay chuyển nổi lòng cha. Các quan bắt cha bước qua thập giá, cha cương quyết từ chối nên bị kết án trãm quyết.

Ngày 7 tháng tư năm 1861, cha bị quân lính dẫn ra khỏi thành Mỹ Tho độ một cây số, rồi chém cha bên vệ đường. Nhưng vì tên đao phủ mê tín dị đoan, sợ người chết nhập vào mình, vừa chém cha xong thì bỏ chạy, nên giáo dân được tự do mang xác cha về chôn cất.

Đức Giáo Hoàng Piô X phong Câhn phước cho cha ngày 2 tháng 5 năm 1909. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tấn phong cha lên Hiển thánh.

Quyết tâm: Noi gương thánh Phêrô Lựu, hằng ngày tận tụy hy sinh giúp đỡ mọi người, nhất l2 các anh chị em đang gặp cơn gian nguy khốn khó phần hồn cũng như phần xác. Nếu có phải nhọc nhằn thiệt hại hay chết chóc cũng sẵn sàng chấp nhận.
Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại : luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 11 tháng 4
THÁNH TA-NÍT-LAO
Giám mục tử đạo

Gương thánh nhân:

Thánh Ta-nít-lao sinh năm 1030, nước Ba-lan, lúc cha mẹ đã cao niên. Hai ông bà chung sống từ lâu mà không có con nối dòng, nên hằng ngày cầu khẩn kêu xin Chúa. Và Chúa nhậm lời, cho hai ông bà sinh được đứa con trai, đặt tên là Ta-nít-lao.

Chúa Quan phòng định cho Ta-nít-lao sau này làm chứng cho Chúa, nên đã ban cho thánh nhân nhiều nhân đức đặc biệt nhất là đức bác ái yêu thương và hy sinh hãm mình.

Ngay từ lúc nhỏ, thánh nhân rất thương yêu kẻ nghèo, người khổ và hằng ngày ăn chay hãm mình. Ngài luôn luôn mặc áo nhậm và nằm ngủ dưới đất ngay cả những lúc trời lạnh, có được bao nhiêu tiền, ngài cũng bố thí cho người nghèo.

Sau khi cha mẹ mất, thánh nhân bán hết gia tài phân phát cho người nghèo, xin vào nhà dòng tập rèn nhân đức, sống đời khổ hạnh. Năm 1062, Đức Giám mục Lam-pe đã phong chức linh mục cho ngài và đặt làm kinh sĩ nhà thờ chánh tòa giáo phận Ga-cô-vi.

Từ đó, thành nhân càng ra sức sống đạo đức thánh thiện và thực thi bác ái. Ngài lập danh sách tất cả những người nghèo trong thành và ra lệnh cho các người trong nhà sẵn sàng giúp đỡ họ. Ngoài ra, ngài còn nổi tiếng về tài giảng thuyết. Lời ngài giảng dạy đánh động tận tâm hồn, làm cho mọi người cháy lửa yêu mến Chúa và yêu thương người.

Với tài đức đó, ngài được chọn làm Giám mục cai quản giáo phận Ga-cô-vi.

Lúc đó, vua Bô-lết-lát 2 cai trị Ba-lan. Ông ta rất độc ác dâm dật. Mọi người đều oán trách, nhưng vì sợ nên không ai dám can ngă. Thánh nhân thấy dân chúng than van khổ sở quá thì đến khuyên lơn ông ta. Nhưng thay vì nghe lời ngài, ông ta trở lại thù ghét ngài. Và ngày 11 tháng 4 năm 1079, chính ông ta đã chém đầu ngài trong lúc ngài đang dâng thánh lễ.

Vì bênh vực công bình, vì can đảm chống lại sự dữ sự ác, thánh nhân đã phải chết đau đớn. Muốn noi gương ngài ngăn chặn mọi bất công và sự dữ trong xã hội, chúng ta phải làm theo lời thánh Phaolo:”Ngang lưng phải thắt đai sự thật, mình mặc áo công chính, chân mang giày lòng hăng hái rao giảng Tin Mừng bình an, luôn luôn giương lên khiên mộc đức tin. Nhờ đó, anh em sẽ có thể dập tắt mọi tên lửa của kẻ dữ. Hãy đội lấy mũ chiến cứu rỗi và gươm thần khí, tức là Lời Thiên Chúa.”

Thánh Ta-nít-lao đã mang những võ khí đó, đã mặc áo giáp thiêng liêng bởi trời đó, để có thể chống lại sức tấn công của kẻ độc ác trụy lạc.

Và năm 1253, thánh nhân đã được Đức Giáo Hoàng In-nô-xen-tê thứ 4 tôn phong Hiển thánh.
Quyết tâm:
Tôi quyết sống đời bác ái hy sinh và can đảm chống lại mọi sự dữ, sự ác để làm chứng cho Chúatheo gương thánh Ta-ít-lao.

Lời nguyện: Lạy Chúa, để làm vinh danh Chúa, thánh Giám mục Ta-nít-lao đã ngã gục dưới lưỡi gươm những kẻ giết hại mình. Xin cho chúng con cũng được một niềm tin vững mạnh, giúp chúng con trung thành với Chúa suốt cuộc đời chúng con.

Ngày 13 tháng 4
THÁNH MÁT-TI-NÔ I
Giáo hoàng tử đạo

Gương thánh nhân:

Thánh Mát-ti-nô sinh tại Tốt-ca, nước Ý, rất nổi tiếng về sự không ngoan và thánh thiện.

Sau khi Đức Giáo Hoàng Tê-ô0đô qua đời, thánh nhân được chọn lên ngôi kế vị năm 649. Nghe tin ngài làm Giáo hoàng, toàn thể giáo sĩ, giáo dân đều vui mừng phấn khởi, vì ngài đáp ứng đúng nguyện vọng của họ. Họ mong đợi một vị chủ chăn vừa khôn ngoan sáng suốt vừa đạo đức thánh thiện để cứu vãn Hội thánh đang gặp cơn nguy biến. Người ta nhận thấy nơi ngài có đủ những yếu tố đó. Ngài kính mến Chúa thiết tha và thương yêu người thật lòng. Ngài học cao hiểu rộng và thông minh sáng suốt.

Việc ngài lo lắng hơn hết và trước hết, đó là gìn giữ đức tin chân chính cho toàn thể Giáo hội, vì lúc đó lạc giáo Nhất Ý Thuyết lan tràn khắp nơi trong địa hạt Rô-ma.. Thuyết chủ trương nơi Chúa Giêsu chỉ có một ý chí. Đó là ý chí thiên linh. Họ chối bỏ ý chí nhân loại của Người. Như thế, nhân tính của Thiên Chúa bị tiêu hủy, và cuộc nhập thể của Người kể như là một việc không có thật, hoặc là Ngôi hai Thiên Chúa chỉ mượn thân xác loài người để chịu nạn chịu chết chứ không trở thành người thật.

Để chứng minh điều họ dạy là sai lạc và để giúp họ trở lại với đức tin chân thật, thánh nhân đã triệu tập công đồng chung La-tê-ra-nô. Công đồng đã kết án lạc thuyết của họ. Và đó là cớ làm cho thánh nhân bị bắt bớ bách hại.

Số là hoàng đế Công-tăng-tin thứ 2 lúc đó theo phe lạc giáo; ông ta nghe tin Công đồng kết án thì tức giận, ra lệnh bắt thánh nhân giải về Công-tăng-ti-nốp. Mượn lẽ rằng ngài đồng lõa với nhóm người phản loạn. Ngày 17 tháng 9 năm 653, người ta dẫn ngài về tới Công-tăng-ti-nốp. Nhưng vì bị hành hạ dã man trên đường đi, nên khi đến nơi thì ngài đã kiệt sức; quân lực phải điệu ngài vào tù. Và thánh nhân bị giam khổ nhọc trong tù cho đến ngày 20 tháng 12 mới đem ra xét xử. Trong lúc bị giam cầm khổ sở, ngài luôn nhớ đến giáo sĩ và đoàn chiên. Nhất là vì thấy họ lo buồn thương xót ngài, ngài viết thư an ủi họ:” chúng tôi vẫn ao ước có thể viết thư cho anh em để an ủi lòng tốt của anh em. Và để anh em đỡ lo lắng về chúng tôi vì chắc chúng tôi đã gây nhiều lo lắng cho anh em cũng như cho mọi tín hữu của anh em, những người đã vì Chúa mà lo cho chúng tôi. Vậy, nay tôi viết thư cho anh em để an em biết nỗi lòng thao thcứ của chúng tôi. Nhân danh Đức Kitô, Chúa chúng ta, tôi sẽ nói rõ hết sự thật.

Quả thật, chúng tôi được xa lánh mọi sự huyên náo thế lực và được khỏi mọi tội lỗi. Nhưng này, chúng tôi thiếu điều thiết yếu của cuộc sống. Dẫu ở đây toàn là người ngoại, là những người chúng tôi gặp ở đây hoàn toàn sống theo phong tục dân ngoại.. Họ không có chút xíu lòng bác ái thương yêu nào, trong khi cả người man rợ, bản tính nhân loại cũng còn tỏ ra biết thương xót…

Còn về thân xác hèn hạ của tôi đây thì đã có Chúa săn sóc. Người sẽ sắp đặt theo ý Người, hoặc cứ để cho nó chịu khổ mãi hoặc cho nó được dễ chịu hơn. Chúa đã gần đến, tôi còn lo chi?. Tôi tin tưởng vào lòng thương xót của Người. Tôi tin rằng Người không trì hoãn kết thúc cuộc đời tôi theo ý Người.

Vậy, nhân danh Chúa, anh em hãy chào hỏi mọi người trong anh em và mọi người vì lòng mến Chúa, đã cảm thông với cảnh tù tội của tôi. Xin Thiên Chúa dùng bàn tay quyền năng của Người bảo vệ anh em khỏi mọi cám dỗ và cứu đưa anh em vào trong nước Người.” 1

Đúng thật thánh nhân là một Vị Mục tử nhân lành, luôn tin tưởng phó thác vào Chúa, sẵn sàng chịu gian lao đau khổ vì Chúa và vì đoàn chiên Chúa phú giao.

Trong một phiên tòa giả tạo, ngài đã bị truất ngôi giáo hoàng và bị kết án tử hình. Nhưng hoàng đế Công-tăn-tin đã ra lệnh đổi lại án lưu đày chung thân ở Ky-mê. Và thánh nhân đã qua đời tại đó ngày 13 tháng 4 năm 655.

Quyết tâm: Noi gương thánh Mát-ti-nô, tôi sẵn sàng chịu mọi gian nan khốn khó để gìn giữ và bảo vệ đức tin chân thật của Chúa Kitô.
Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã cho thánh Giáo hoàng Mát-ti-nô tử đạo được can đảm không lùi bước trước lời đe dọa, cũng chẳng nao núng khi chịu cực hình. Xin cho chúng con được kiên cường bất khuất để đương đầu với nghịch cảnh trong cuộc sống trần gian.

Ngày 21 tháng 4
THÁNH AN-XEN-MÔ
Giám mục tiến sĩ

Gương thánh nhân:

Thánh An-xen-mô sinh năm 1034, tại A-ốt, nước Ý. Lúc còn nhỏ đã được bà mẹ đạo đức dạy cho biết kính mến Chúa và tôn sùng Đức Mẹ. Nhưng năm lên 15 tuổi thì mẹ mất, thánh nhân sống với người cha nguội lạnh bê tha, nên bị lây nhiễm theo thói thế gian.

Nhờ ơn Chúa giúp, thánh nhân sớm nhận biết mọi sự ở đời thật chóng qua nên trốn cha sang Pháp; xin vào học tại tu viện Béc ở Nọt-măn-đi. Một hôm, ngài xin gặp thầy dạy là tu viện trưởng Lăn-phăng và hỏi:

  • Thưa thầy, sau nhiều ngày cầu nguyện và suy nghĩ, con thấy có ba đường con phải theo: hoặc là con sẽ làm tu sĩ ở đây, hoặc con sẽ thành ẩn sĩ hay sống giữa thế gian, phân phát cho người nghèo tài sản cha con để lại. Xin thầy dạy cho con biết con nên theo đường nào?... Vị tu viện trưởng trả lời;
  • Con nên làm tu sĩ.

Thế là thánh nhân gia nhập nhà dòng lúc ngài 27 tuổi. Và khi Đức Viện phụ Lăn-phăng được chọn làm Tổng Giám mục Căn-tẹt-bu-ry thì ngài được bầu lên thay thế, vì ngài học cao hiểu rộng và sống thánh thiện đạo đức. Nhân đức và tài trí của ngài phát triển theo các chức vụ ngài lãnh nhận. Nhưng ngài luôn luôn tự xưng mình là bất tài bất xứng. Lúc nào, ngài cũng lo chu toàn trách nhiệm Chúa phú giao. Ngoài ra, ngài còn cầu nguyện, đọc kinh thánh và viết sách dẫn đàng thiêng liêng. Chúng ta đọc một đoạn ngài viết thì sẽ thấy rõ lòng sốt mến của ngài:” hồn tôi hỡi, ngươi đã thấy điều ngươi tìm chưa?. Ngươi tìm Thiên Chúa và ngươi đã thấy Người là hữu thể cao cả, và chẳng có thể nghĩ tưởng gì tốt hơn Người. Người là chính sự sống, sự sáng, sự khôn ngoan, sự tốt lành, là hạnh phúc đời đời, là sự đời đời hạnh phúc; Người ở mọi nơi và hằng hữu…”

Lạy Chúa, con cầu xin Chúa cho con được biết Chúa, được yêu Chúa để con được vui mầng vì Chúa. Và nếu như con không thể đạt được hoàn toàn ở đời này,thì xin cho con mỗi ngày một tiến bộ, để có ngày đạt được hoàn toàn. Ngày nay, xin cho con được biết Chúa thêm để sau này con được biết Chúa hoàn toàn. Ngày nay, xin cho con được thêm lòng mến Chúa để ngày sau con được mến Chúa hoàn toàn; để ngày nay, sự vui mầng của con được lớn trong niềm hy vọng, ngày sau nóđược viên mãn trong hiện thực….Ước gì từ nay, linh hồn con suy niệm, miệng lưỡi con nói lên điều đó! Ước gì lòng con yêu mến; miệng con phát ngôn; linh hồn con đói; xác thịt con khát; và tất cả bản thân con ao ước điều đó cho đến khi con được vào trong sự vui mầng của chủ con là Thiên Chúa Ba Ngôi, độc nhất, đáng chúc tụng đến muôn đời.” 1

Thánh nhân qua đời ngày 21 tháng 4 năm 1109, tại Căn-bẹt-bu-ry, nước Anh.

Quyết tâm: Hằng ngày, tôi lo học biết Chúa nhiều hơn, để tin kính và yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn, theo gương thánh Giám mục An-xen-mô
Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Giám mục An-xen-mô được ơn tìm hiểu và giảng dạy lẽ khôn ngoan siêu việt của Chúa. Xin ban ơn đức tin, để soi sáng trí tuệ chúng con. Nhờ đó, tâm hồn chúng con sẽ say mê những điều Chúa muốn mạc khải.

Ngày 23 tháng 4
THÁNH GIỌT-GI-Ô
Tử đạo

Gương thánh nhân:

Thánh Giọt-gi-ô sinh tại Lít-đa, xứ Pa-lết-tin năm 280. Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã được cha mẹ giáo dục đạo đức và can đảm.

Lớn lên, ngài theo cha vào quân đội. Chẳng bao lâu, nhờ sức khỏe, tài năng và lòng can đảm nhiệt thành, ngài được thăng cấp sĩ quan: chỉ huy đoàn vệ binh hoàng gia.

Lúc hoàng đế Đi-ô-lê-tiêu ra chiếu chỉ cấm đạo, thánh nhân bị bắt cúng với nhiều người khác. Trước mặt hoáng đế, ngài mạnh mẽ tuyên xưng lòng tin Chúa và can đảm chỉ trích nhà vua lầm lạc; thờ lạy bụt thần ma quỷ là những vật không đáng tôn thờ. Nhà vua nổi giận quát mắng ngài, hăm dọa sẽ cách chức và giết ngài nếu ngài không chịu chối Chúa bỏ đạo. Sở dĩ ông ta cón nới tay với ngài, vì ngài là một sĩ quan tài đức gương mẫu trong triều đình.

Lợi dụng thời gian còn được tự do, thánh nhân bán hết gia tài phân phát cho người nghèo, phóng thích nô lệ, chuẩn bị tâm hồn.

Ít lâu sau, nhà vua truyền gọi ngài vào, tìm đủ cách dụ dỗ ngài. Nhưng ngài thẳng thắn trả lời:

  • Tôi là người tin theo Chúa. Tôi không ham thích gì ở đời này. Tôi chỉ mong được phần phúc đời đời.

Thế là thánh nhân bị đem đi hành hình. Người ta cột ngài vào bánh xe, cho ngựa kéo chạy lăn lóc ngoài đường. Da thịt rách nát, máu chảy đầm đìa!....Sau đó, người ta bỏ ngài vào ngục.

Tương truyền, khi ngài bị bỏ vào ngục. Chúa đã chữa ngài lành mạnh và hứa sẽ trợ giúp để ngài chiến thắng ma quỷ.

Sáng hôm sau, nhà vua truyền dẫn ngài ra. Và ông ta hết sức ngạc nhiên khi thấy thân thể ngài lành lặn như trước và chịu đến đền thờ các vị thần. Lòng ông ta tràn ngập vui mừng, hy vọng sẽ cảm hó được ngài. Thế nên, ông ta bảo dân chúng tụ họp đến đền thờ. Và chính ông ta cũng đích thân đén đó.

Thánh nhân đến trước tượng thần A-pô-lô và hỏi:

  • Ngươi có phải là Thiên Chúa để chúng tôi thờ không?

Tương truyền thật lạ lùng, tượng thần lên tiếng:

  • Không, tôi không phải là Thiên Chúa. Chỉ có Đấng ông thờ là Thiên Chúa thật.

Và thánh nhân làm dấu thánh giá, tượng thần liền bể vỡ tan tành…

Dân chúng thấy vậy thì tin theo Chúa; còn vua Đi-ô-lê-tiêu thì xấu hổ tức giận, ra lệnh chém đầu thánh nhân. Đó là ngày 23 tháng 4 năm 303. Thánh Giám mục Phêrô Đa-mi-a-nô đã hết lời ngợi khen lòng nhiệt thành và can đảm của thánh nhân:

“ Rõ ràng là thánh Giọt-gi-ô đã bỏ đạo quân này để đi sang đạo quân kia. Từ chức vụ một sĩ quan trong đạo quân ở dưới đất, ngài đã đổi nghề bước sang đạo quân của Kitô giáo. Rồi như một quân nhân can trường, trước tiên ngài đã phân phát của cải cho dân nghèo. Quẳng gánh nặng vật chất trần ai đi để được tự do và hành trang nhẹ nhàng. Rồi ngài mặc lấy áo giáp đức tin, nhiệt thành đi thẳng vào trận địa, trở thành chiến sĩ của Đức Kitô. Những lời vừa nói rõ rệt dạy chúng ta rằng không thể chiến đấu mạnh mẽ và thích đáng để bảo vệ đức tin, nếu còn sợ trút bỏ của cải thế gian.

Thánh Giọt-gi-ô quả thật đã được lửa Thánh Thần thiêu đốt và đã được cờ thánh giá hộ mạng cho một cách vô địch, đã giao chiến với vị hoàng đế độc ác kia. Can trường đến nổi, khi thấy được tân bộ binh kia là thắng được tướng các con người độc dữ. Và khích động được tinh thần các chiến sĩ của Đức Kitô để chiến đấu mạnh mẽ.

Vị Trọng tài cao cả và vô hình vẫn hiện diện. Theo như ý Người sắp đặt, lúc này Người để cho banø tay lũ sát nhân tung hoành; và cho dù Người có nộp chi thể của vị tử đạo của Người vào tay bọn sát nhân. Người vẫn luôn luôn gìn giữ kỹ lưỡng linh hồn tựa vào thành trì đức tin kiên cố.” 1

Dốc lòng: Tôi can đảm làm chứng cho Chúa, bằng lời nói, việc làm và đời sống đạo đức, yêu thương bác ái hằng ngày theo gương thánh Giọt-gi-ô tử đạo.
Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Giọt-gi-ô tử đạo được kết hợp với Đức Kitô trong mầu nhiệm thương khó. Chúng con ca ngợi quyền năng Chúa, và tha thiết nài xin cho chúng con là những kẻ yếu hèn được trở nên chứng nhân dũng cảm.

Ngày 24 tháng 4
THÁNH PHI-ĐÊ-LÊ SÍT-MA-RIN-GEN
Linh mục tử đạo

Gương thánh nhân:

Thánh Phi-đê-lê sinh năm 1577, tại Sít-ma-rin-gen, nước Đức.

Lớn lên, thánh nhân học hành xuất sắc. Thi đậu tiến sĩ triết học; được mọi người gọi là triết gia Kitô giáo. Ngài được mời dạy cho các ông hoàng là hạng quý phái giàu sang ở Aâu Châu. Lợi dụng thời gian này, ngài chu du khắp nơi. Nhất là đi tham quan các đại thánh đường và bảo tàng viện.

Sau cuộc viễn du, thánh nhân trở lại học luật. Và khi đã đậu bằng tiến sĩ luật, ngài lập văn phòng luật sư ở Côn-ma, nước Pháp.

Nhưng sau nhiều năm lăn lộn giữa đời, thành nhân nhận thấy đời toàn xảo trá điêu ngoa. Ngài chán ngán cuộc đời. Đây là dịp may để ngài dứt khoát theo Chúa. Và sau nhiều ngày cầu nguyện, ngài đã đến gõ cửa Dòng thánh Phan-xi-cô.

Năm 1612, thánh nhân thụ phong linh mục và sống đời bác ái, nhiệt thành bênh vực đức tin. Đức Giáo Hoàng Biển đức XIV đã hết lời ca tụng ngài:

Thánh nhân đã mở rộng lòng bác ái quảng đại bằng việc nâng đỡ và trợ giúp tha nhân về phần xác; ôm ấp những người gặp khốn khó vào lòng như người cha, và nuôi nấng vô số kẻ nghèo bằng của bố thí xin được từ khắp nơi. Ngài săn sóc giúp đỡ cô nhi quả phụ bằng phươngtiện thu góp được của các ông hoàng và các nhà quyền thế. Ngài không ngừng ra sức giúp đỡ tinh thần và thể xác cho những kẻ bị cầm tù. Ngài chăm chỉ thăm viếng bệnh nhân. Làm cho họ vui, và sau khi giao hòa họ về với Chúa, ngài làm cho họ mạnh mẽ để chiến đấu lần cuối cùng.

Nhưng trong loại hành động ấy, không khi nào ngài gặt hái được nhiều công phúc như khi quân đội nước Áo đến trấn đóng ở Gơ-ri-xong, hầu hết bị bệnh dịch, đưa thân ra làm mồi cho thảm thương, cho bệnh tật và tử thần.

Cùng với lòng bác ái ấy, Phi-đê-lê còn là người trung tín. Tên ngài thế nào thì đời sống ngài thế ấy. Ngài xuất sắc trong vấn đề nhiệt thành bênh vực đức tin công giáo; ngài rao giảng đức tin ấy không biết mệt. Và ít ngày trước khi đổ máu làm chứng trong bài giảng cuối cùng, ngài đã dùng những lời lẽ như sau mà để lại như một di chúc: * Ôi đức tin công giáo, ngươi chắc chắn vững vàng àm sao ! Ngươi sâu xa, được xây trên đá vững vàng chắc chắn như thế nào ! Trời đất sẽ qua đi, nhưng ngươi sẽ chẳng bao giờ có thể mất được.Ngay từ đầu, cả thế giới đã chống lại ngươi, nhưng ngươi đã toàn thắng tất cả một cách oanh liệt…

Cài gì đã khiến các thánh tông đồ và tử đạo chịu đựng những chiến đấu cam go và các khổ hình độc ác, nếu không phải là đức tin vào sự sống lại ! Cài gì làm cho các nhà ẩn tu biết khinh chê lạc thú, coi thường danh vọng, chà đạp của cải để sống cuộc đời ẩn dật trong rừng vắng, nếu không phải là đức tin sống động?

Ngày nay, cài gì đã làm cho các kitô hữu chân chính từ bỏ tiện nghi, từ chối những sự dễ dàng, cam chịu vất vả lam lũ ? Chính là đức tin sống động, đức tin hành động nhờ đức ái. Chính nó khiến người ta biết bỏ những của cải đời này để trông đợi được những sự lành đời sau.” 1

Nhưng công trạng lớn nhất của thánh nhân là rao giảng kêu gọi những người theo phái Tin lành Cal-vi-nô trở lại đức tin chân chính.

Lúc ngài đang giúp việc ở Bộ Truyền bá Đức tin, Đức Giáo Hoàng đã sai ngài đến Thụy Sĩ, khuyên bảo những người theo Lạc giáo Cal-vi-nô trở lại với Công giáo. Thánh nhân vâng lời lên đường, nhưng lòng vẫn nghĩ là không có ngày trở về, vì chắc chắn sẽ gặp chống đối thất bại.

Đúng như thánh nhân tiên đoán. Đang lúc ngài giảng dạy ở trong nhà thờ Sê-vít, thì một nhóm người thệ phản quá khích đã xông vào đánh đập và dùng dao găm đâm ngài ngã gục, vào ngày 24 tháng 4 năm 1622.

Quyết tâm: Noi gương thánh Phi-đê-lê, tôi sống bác ái yêu thương, và sẵn sàng hy sinh giúp đỡ những người lầm lạc trở về với Chúa, dù có phải gian lao đau khổ cũng vui lòng chấp nhận.
Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Phi-đê-lê lòng nhiệt thành yêu mến Chúa, và được phúc tử đạo đang khi người truyền bá đức tin.Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin ban cho chúng con một đức ái mãnh liệt, để cùng người, chúng con được nghiệm thấy quyền năng của Đức Kitô phục sinh.

Ngày 25 tháng 4
THÁNH MÁT-CÔ
Thánh sử

Gương thánh nhân:

Thánh Mát-cô có thể thuộc dòng tộc A-rong, sinh tại Ga-li-lê. Là một trong 72 môn đệ của Chúa Giêsu. Nhưng trong công cuộc truyền giáo, ngài là đệ tử trung kiên của thánh Phêrô. Chính nhờ sự giúp đỡ và lời yêu cầu của vị thủ lãnh các tông đồ mà thánh nhân đã viết cuốn Phúc Âm thứ hai, gọi là Phúc Âm theo thánh Mát-cô.

Phúc Âm của ngài ngắn gọn, lời văn không chải chuốt như của Mát-thêu hoặc Lu-ca, nhưng rất chân thành thực tế. Ngài không dấu diếm sự chậm hiểu, kém tin của các tông đồ:” Các ông không hiểu ý nghĩa phép lạ bánh hóa nhiều: lòng trí các ông còn ngu muội” (5, 52 ); ngài cũng chẳng che đậy tham vọng của các ông:” Khi đi đường, các ông đã cải nhau xem ai là người lớn hơn cả” ( 9, 34 )…

Theo nhiều nguồn tài liệu, mẹ ngài là bà Maria, một góa bụa giàu có ở Giê-ru-sa-lem, có nhà rộng rãi, làm nơi hội họp của các tín hữu. Và thánh Phê-rô cũng thường trú ngụ ở nơi này.

Thánh nhân theo người bà con đi Ba-na-bê và tông đồ Phaolô trong cuộc hành trình truyền giáo lần hứ nhất. Nhưng khi đến Pét-gê thì ngài trở về Giê-ru-sa-lem, có lẽ vì lý do sức khỏe. Sau đó, ngài đã tháp tùng theo thánh Phêrô giảng đạo ở Rô-ma. Ngài đã chứng kiến” khoảng ba ngàn người theo đạo” nhờ bài giảng của thánh Phêrô;, ngài thấy tận mắt thánh Phêrô chữa lành” người què từ khi lọt lòng mẹ” tại cửa Đền thờ; ngài cũng bị” các tư tế, viên lãnh binh Đền thờ và các người thuộc nhóm Sa-đốc” bắt giam….

Chính thánh Phêrô đã giao cho ngài sứ mạng phúc âm hóa A-lét-xăn-tri. Ngài đã thành lập giáo đoàn này, và hướng dẫn mọi người sống hoàn thiện đạo đức không kém giáo đoàn Giê-ru-sa-lem. Toàn thể giáo đoàn đều hiệp nhất trong một niềm tin, cậy, mến, chuyên cần phụng sự Chúa và phục vụ nhau.

Chính vì thế mà ma quỷ ganh tỵ. Chúng xúi dục những người ngoại giáo quá khích chống đối bách hại thánh nhân. Họ bắt ngài: cột cổ kéo lôi trên sỏi đá. Làm cho da thịt ngài xé rách nát ra. Máu chảy đầm đìa. Rồi đem bỏ vào ngục. Sáng hôm sau, họ lại dắt ngài ra và hánh hạ y như hôm trước. Đau đớn quá, ngài kiệt sức dần và tắt thở…

Quyết tâm: Noi gương thánh Mát-cô, tôi nhiệt thành cộng tác với những người giúp việc Chúa, mở mang nước Chúa và sẵn sàng chịu mọi gian nan khốn khó để làm chứng cho Chúa.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Mát-cô vinh dự rao giảng và ghi chép Tin Mừng.Xin cho chúng con được hiểu thấu những lời thánh nhân giảng dạy mà trung thành bước theo Chúa Kitô, là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.

 

Ngày 28 tháng
THÁNH PHÊ-RÔ SA-NEN
Linh mục tử đạo

Gương thánh nhân:

Thánh Phê-rô Sa-nen sinh năm 1803 tại Cu-ết. Ngài được một linh mục thương dạy dỗ và cho vào chủng viện. Năm 1827, ngài thụ phong linh mục và đi giúp họ đạo Am-be. Nhưng thánh nhân mong ước đi truyền giáo cho dân ngoại, nhất là những dân tộc thiểu số còn kém văn minh vật chất, nên xin vào dòng Đức Maria là dòng thừa sai giảng đạo.

Và thánh nhân đã được toại nguyện. Năm 1837, ngài được bề trên sai đến đảo Fu-tu-na, mọt đảo nhỏ ít dân, còn sống hoang dã dữ tợn. Lúc đầu, ngài được dân địa phương và chủ đảo tiếp đón nồng hậu. Nhưng dần dần họ lại chống đối ngài. Nhất là khi vua đảo này nghe tin con trai ông ta theo đạo, thì ra lệnh hành hình và đánh đập ngài đến chết, vào ngày 28 tháng 4 năm 1841.

Chúng ta hãy xem gương của ngài: “ Ngay sau khi Phê-rô Sa-nen khấn dòng trong hội Đức Bà Maria, ngài được sai đi giảng đạo ở Úc châu theo như lời ngài đã xin. Ngài đã tới đảo Fu-tu-na trong Thái-bình-dương, nơi dan Đức Kitô chưa hề được rao giảng. Thầy trợ sĩ luôn lôn đi với ngài, thuật lại cuộc đời truyền giáo của ngài như sau: Trong khi đi làm việc, ngài thường bị cháy nắng và thường bị đói. Về đến nhà thì mồ hôi ra như tắm và mệt đừ. Nhưng lúc nào ngài cũng can đảm, sống động và vui vẻ, dường như ở chốn cực lạc về. Và như thế không phải chỉ một lần mà hầu như hằng ngày.

Ngài không bao giờ từ chối gí với dân Fu-tu-na; ngay cả với những kẻ bách hại làm khổ ngài. Bao giờ, ngài cũng bàu chữa cho họ. Và cho dù họ có cứng cỏi cộc cằn, ngài cũng vẫn không xua đuổi họ. Ngài hiền lành vô địch đối với mọi người; và bằng mọi cách, chẳng trừ một ai. Thế nên, chẳng có chi lạ khi người dân ở đó gọi ngài là” con người tốt bụng”. Có lần ngài nói với anh em đồng nghiệp rằng:” Ở nơi truyền giáo khó thì chúng ta phải là thánh nhân !”

Dần dà, ngài đã rao giảng Đúc Kitô và Tin Mừng. Nhưng thu lượm được ít kết quả. Với lòng kiên trì bất khuất, ngài cứ tiếp tục công cuộc truyền giáo, vừa có tính cách nhân đạo, vừa có tính cách đạo đức, tựa vào gương và lời Đức Kitô đã phán: Người gieo thì khác, mà người gặt thì khác. Trong khi đó, ngài vẫn chuyên cần tha thiết nài giúp, nài xin sự trợ giúp của Thánh Mẫu Thiên Chúa mà ngài có lòng sùng kính rất đặc biệt.

Công việc giảng đạo của ngài đã hủy bỏ được công việc thờ cúng các thần mà các tù trưởng ở Fu-tu-na đã cổ võ để giữ dân chúng dưới sự kềm kẹp của họ. Thế nên, họ giết ngài một cách dã man. Hy vọng rằng ngài chết đi thì mầm sống kitô giáo ngài gieo vãi cũng sẽ mai một luôn. Nhưng hôm trước ngày tử đạo, ngài đã nói:

  • Tôi có chết cũng chẳng sao. Kitô giáo đã ăn rễ sâu ở đảo này rồi. Nên tôi có chết, đạo cũng không mất được.

Máu của thánh tử đạo trước hết đã sinh ích cho dân ở Fu-tu-na. Vì chỉ ít năm sau, tất cả đã tn Chúa Kitô hết. Hơn nữa, còn có ích cho các đảo khác ở Úc châu. Nơi mà ngày nay đã mọc lên nhiều hội thánh phồn vinh, mà tất cả đều xưng thánh Phêrô là vị tử đạo tiên khởi của mình.” 1

Quyết tâm: Noi gương thánh Phêrô Sa-nen, hằng ngày tôi lo đem Chúa đến cho mọi người chưa biết Chúa, nhất là cho những người nghèo khó, dốt nát nơi xa xôi hẻo lánh.Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Phê-rô Sa-nen được vinh phúc tử đạo để mở mang nước Chúa.Xin cho chúng con biết tham dự vào mầu nhiệm Đức Kitô chịu chết và sống lại, hầu trở nên nhân chứng của đời sống mới.

 

* Thánh Phaolô Khoan, Phêrô Hiếu
và Gioan Bao-ti-xi-ta Thành
Linh mục và thầy giảng tử đạo

Gương thánh nhân:

Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan linh mục, với hai thánh Phêrô Nguyễn Văn Hiếu và Gioan Bao-ti-xi-ta Đinh Văn Thành đã chịu chết vì đạo Chúa, ngày 28 tháng 4 năm 1840.

Phaolô Khoan sinh năm 1771 tại làng Bồng Hải, tỉnh Ninh Bình, trong một gia đình công giáo đạo đức. Nhờ lời cầu nguyện của cha mẹ. Phaolô Khoan đã được Chúa gọi giúp việc Chúa. Lớn lên, cậu đã xin gia nhập chủng viện. Và sau khi mãn khóa thần học, thầy Phaolô Khoan đã thụ phong linh mục.

Đức Cha sai cha đến giúp họ đạo Kẻ Vĩnh và Phúc Nhạc. Cha hết sức lo chu toàn chức vụ, hằng ngày hoạt động tông đồ, lo dạy dỗ giáo dân, làm các phép bí tích, khuyến khích những người bệnh hoạn hoặc chểnh mảng việc đạo. Ngoài ra cha còn phụ trách hai họ nhỏ là Đông Biên và Tôn Đạo. Mỗi tháng cha đến dâng thánh lễ, giải tội và khích lệ giáo hữu hai họ lẽ đó. Mỗi lần đi như vậy cha thường dẫn theo các thầy giảng, để giúp dạy giáo lý và thăm viếng các gia đình.

Lúc đó, vua Minh Mạng bắt đạo gắt gao. Nhiều giáo hữu bị bắt, các linh mục bị truy nã. Dù vậy, cha Khoan vẫn không sợ. Lòng nhiệt thành vì các linh hồn khiến cha coi thường cực hình chết chóc. Cha vẫn đi lại giúp các họ nhỏ. Ngày 24 tháng 8 năm 1837, theo thường lệ cha đến làm lễ ở họ Đồng Biên. Có hai thầy giảng là Phaolô Nguyễn Văn Hiếu và Gioan Bao-ti-xi-ta Đinh Văn Thành quê ở Luốn Khe cùng đi với cha. Trên đường trở về, cả ba cha con bị bắt giải về Ninh Bình.

Ở Ninh Bình, cha Khoan cùng với hai thầy giảng đều bị tống ngục. Các quan tìm đủ mọi cách khuyến dụ các ngài bỏ đạo.

Hết khuyên lơn nài nỉ đến hăm dọa tra tấn, nhưng các ngài vẫn cương quyết trung thành theo Chúa. Các quan hy vọng với thời gian có thể lay chuyển được lòng tin của các ngài, nên cứ kéo dài việc giam cầm khuyên bảo. Các ngài phải chịu ngục tù như thế gần ba năm trời.

Thỉnh thoảng quan gọi các ngài ra, đề nghị bước qua Thập giá. Một lần khi quan bảo cha Khoan quá khóa, ngài nói:

  • Quan khuyên tôi giẫm lên thập giá là điều không hợp lý chút nào.

Quan liền hỏi:

  • Tại sao không hợp lý ?

Cha giải thích:

  • Nếu nước nhà gặp cơn nguy biến mà quan đào tẩu trốn thoát thì quan thật là người hèn nhát. Tôi cũng vậy. Tôi là chiến sĩ của Vua Cả trên trời. Trong lúc đạo Người bị bắt bớ mà tôi sợ chối bỏ Người thì tôi đâu còn xứng đáng với Người.

Quan lại hỏi:

  • Ai dạy cho ông biết có Vua Cả trên trời ?
  • Không cần ai dạy cũng biết. Chính trời đất muôn vật và trật tự lạ lùng trong vũ trụ đều nói lên cho mọi người biết có một Đấng toàn năng tạo thành. Đấng đó là Đấng Tạo hóa mà chúng tôi gọi là Vua Cả trời đất hay là Đức Chúa Trời, là Đấng loài người phải tôn thờ, kính mến trên hết.

Khi thấy cha Khoan cũng như hai thầy Phêrô Hiếu và Gioan Bao-ti-xi-ta Thành vẫn cương quyết theo Chúa, quan buộc lòng đề án về Kinh để xử trảm. Nghe tin ấy, các ngài rất vui mừng tạ ơn Chúa, vì thấy mình sắp được phước đổ máu ra làm chứng cho Chúa.

Và bản án đã được nhà vua phê chuẩn. Thế là ngày 18 tháng 4 năm 1840, cha Phaolô Khoan với hai thầy Phêrô Hiếu và Gioan Bao-ti-xi-ta Thành đã được dẫn ra pháp trường chịu chết vì Chúa. Lúc đó cha Khoan được 69 tuổi, thầy Hiếu 63 tuổi và thầy Thành 44 tuổi.

Ngày 27 tháng 5 năm 1900, Đức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn phong các ngài lên bậc Chân phước. Và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn lên Hiển thánh, ngày 19 tháng 6 ăm 1988.

Quyết tâm: Bền lòng chịu mọi sự gian nan khốn khó vì Chúa, vì tin chắc rằng sẽ được Chúa thưởng bội hậu, theo gương các thánh Phaolô Khoan, Phêrô Hiếu và Gioan Bao-ti-xi-ta Thành, linh mục và thầy giảng tử đạo.
Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con.Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

 

Ngáy 29 tháng 4
THÁNH CA-TA-RI-NA SI-Ê-NA
Trinh nữ Tiến sĩ

Gương thánh tâm:

Thánh Ca-ta-ri-na sinh năm 1347, tại Si-ê-na, nước Ý, trong một gia đình đông con. Dường như Chúa muốn ngài sinh ra để làm thánh cả.

Mới lên 7 tuổi, Ca-ta-ri-na đã khấn với Đức Maria sẽ giữ mình đồng trinh. Chỉ chọn Chúa Giêsu làm vị Hôn Phu duy nhất của đời mình.

Nhưng khi lớn lên, cha mẹ định gả ngài. Ngài hết sức từ chối và năn nỉ cha mẹ cho ngài được giữ trọn lời khấn hứa. Và sau đó, ngài xin gia nhập dòng thánh Đa-minh, để tránh khỏi cảnh bị ép buộc lấy chồng, nhất là dễ dàng sống kết hợp với Chúa.

Thánh nhân thường hay sống trầm lặng trong phòng riêng: hầu chuyện với Chúa; gặp gỡ Chúa; sống kết hợp với Chúa. Ngài chỉ ra khỏi phòng khi đi lễ, khi làm việc bổn phận và giúp đỡ người bệnh hoạn, kẻ nghèo khổ. Chay tịnh khắc khổ là nếp sống thường nhật của ngài. Ngài luôn nhịn ăn, bớt ngủ để hãm dẹp thân xác.

Tương truyền, thánh nhân đã được in năm dấu thánh Chúa để thông phần cuộc khổ nạn với Chúa. Đặc biệt, ngài được ơn thấu suốt các tâm hồn. Hằng ngày, rất nhiều người đến xin thánh nữ hướng dẫn cho đàng thiêng liêng đạo đức. Thấy vậy, Bề trên dòng giao cho ngài công tác giảng dạy Lời Chúa. Mọi người đều ngạc nhiên khi thấy ngài chỉ là một cô gái bình thường mà diễn đạt những tư tưởng cao siêu như một nhà thần học uyên bác. Ngài còn viết nhiều thơ chỉ dẫn đàng nhân đức cho các vua chúa, giáo sĩ và tu sĩ. Ngoài ra, thánh nhân còn soạn quyển sách rất giá trị về việc Chúa quan phòng. Ngài viết:” Lạy Ba Ngôi vĩnh cửu, Chúa là Đấng tạo thành, còn con là tạo vật của Chúa: nên nhờ Chúa soi sáng, nơi tạo vật mới mà Chúa đã dùng máu của Con Một Chúa để làm ra là con đây. Con nhận thấy Chúa đã mê sắc đẹp của vật Chúa đã làm ra.

Ôi sâu thẳm ! Ôi Ba Ngôi vĩnh cửu ! Ôi thần tính ! Ôi biển sâu! Chúa có thể ban gì cho con hơn chính Chúa ? Chúa là lửa luôn cháy và không hề tắt. Với sức nóng của Chúa, Chúa đốt cháy hết mọi tâm tình ích kỷ. Chúa cũng là lửa làm tiêu tan mọi sự nguội lạnh. Chúa soi sáng các tâm hồn bằng ánh sáng của Chúa: ánh sáng mà Chúa dùng để cho con nhận ra chân lý của Chúa.

Chính trong gương mặt của ánh sáng đó mà con nhận biết Chúa là sự Thiện tuyệt vời, là sự Thiện trên hết mọi sự thiện, là sự Thiện hạnh phúc, vượt qua mọi hiểu biết và cảm nghĩ; là sự Mỹ trên hết mọi sự mỹ miều; là sự Khôn ngoan trên hết mọi sự khôn ngoan, bởi vì sự khôn ngoan chính là Chúa. Và Chúa là lương thực của các thiên thần. Nhưng vì nồng nàn yêu mến, Chúa đã hiến thân cho loài người” 1

Chính ngài đã thỉnh cầu Đức Giáo Hoàng Ghê-gô-ri-ô thứ 9 trở lại Rô-ma, khi bị các thánh phần chống đối phải dời tòa thánh sang cư ngụ ở Pháp. Ngài dàn xếp ổn thỏa cho Đức Giáo Hoàng trở về bình an, và viết thư kêu gọi các vua chúa Âu châu tuân phục Cha chung trong hội thánh.

Tháng giêng năm 1380, thánh nhân ngã bệnh nặng. Và ngày 29 tháng 4, ngài qua đời. Ngài được tôn phong hiển thánh năm 1401. Và năm 1970, Đức Giáo Hoáng Phaolô VI nâng lên hàng Tiến sĩ hội thánh.

Quyết tâm: Hằng ngày, tôi quyết sống hy sinh khổ hạnh, theo gương thánh nữ Ca-ta-ri-na, để hiệp cùng sự thương khó Chúa mà cứu rỗi linh hồn tôi và mọi người.Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã đốt lửa mến yêu nồng nàn trong lòng thánh nữ Ca-ta-ri-na Xi-ê-na, khiến thánh nữ vừa thiết tha chiêm ngưỡng Đức Kitô khổ nạn vừa hăng say phục vụ Hội thánh.Xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu mà cho dân Chúa biết thông phần khổ nạn với Đức Kitô, để được vui mừng chiêm ngưỡng vinh quang Chúa.Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

* Thánh Giuse Tuân
Linh mục tử đạo

Gương thánh nhân:

“ Phúc cho anh em khi vì Con Người mà người ta oán ghét, khai trừ sỉ vả và bị xóa tên như đồ xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhảy múa, vì này đây phần thưởng cho anh em ở trên trời thật lớn lao”( Lc. 6, 22-23 )

Thánh Giuse Tuân đã thấm nhuần lời Chúa phán trên đây và quyết chí thực hiện, nên lớn lên được hân hoan lãnh phần thưởng trên trời.

Giuse Tuân sinh năm 1911, tại họ đạo Trần Xá, tỉnh Hưng Yên ( nay là tỉnh Hải Hưng ). Cha mẹ cậu là những nông dân nghèo khó lam lũ, nhưng sống đạo sốt sắng siêng năng. Sống trong một bầu khí gia đình đạo hạnh như thế, cậu Tuân hấp thụ được một nền đạo đức sâu xa. Ngay từ nhỏ, cậu đã có ý nguyện dâng mình cho Chúa, để giúp việc giảng đạo, đem Chúa đến cho mọi người…

Cậu đã nhiều lần tỏ ý muốn tốt lành đó với cha mẹ, nhưng vì gia đình nghèo, cha mẹ cậu không thể lo cho cậu ăn học nổi. Sau nhờ cha sở thương gởi cậu vào chủng viện học tập làm linh mục. Thế là cậu được mãn nguyện. Và để đáp lại tình thương của Chúa, cậu đem hết toàn lực toàn tâm học tập và tập rèn nhân đức. Sau khi mãn khóa thần học, thầy Giuse Tun6 đã được chịu chức linh mục, trở nên tông đồ nhiệt thành mở mang nước Chúa. Và để làm tông đồ đắc lực hơn, năm 1857, cha đã xin gia nhập Dòng Anh Em thuyết giáo của thánh Đa-Minh; năm sau cha được tuyên khấn dòng và trở nên tu sĩ thánh thiện gương mẫu.

Đang lúc cha hăng say đi đó đây rao giảng Tin Mừng, phục vụ các linh hồn, ban các bí tích cho giáo hữu, thì vào năm 1859, chiến thuyền quân đội Pháp tiến vào Đà Nẵng, bắn phá dữ dội. Vua Tự Đức thấy rõ ý đồ xâm lược của quân đội Pháp, sợ người công giáo trong nước tiếp tay với giặc, chống lại nước nhà, nên ra lệnh truy bắt hết mọi người có đạo, nhất là các linh mục nước ngoài cũng như bản xứ. Vâng lệnh vua, các quan truy lùng khắp nơi, bắt bớ giết chóc dữ dội. Thật là một cuộc bách hại tàn khốc!...

Đứng trước tình thế khó khăn đó, cha Tuân cũng như tất cả các linh mục khác phải lẫn trốn, để âm thầm, lén lút phục vụ giáo dân, khuyến khích nâng đỡ những kẻ bị bắt và ban các bí tích cho họ.

Đầu năm 1861, khi cha đang ẩn náu ở xứ Ngọc Đồng, thì có một bà có đạo bệnh nặng, sai con trai rước cha đến ban các bí tích sau cùng cho bà. Cha vội vàng đến giúp bà. Không ngờ trong lúc cha giải tội cho bà, cậu con trai ham lợi lộc, đã đi tố giác cha với quan huyện, để được lãnh tiền thưởng. Quan liền cho quân lính đến vây bắt cha, giải nộp cho quan tổng trấn tỉnh Hưng Yên.

Ở Hưng Yên cha Tuân bị giam trong ngục cùng với những giáo hữu đã bị bắt. Thế là cha được dịp an ủi, khích lệ họ trung thành, tuân giữ đức tin và can đảm chịu chết vì Chúa. Chính cha nêu gương cho họ. Dù bị cực hình tra tấn khổ sở, cha vẫn can đảm tuyên xưng niềm tin, và luôn luôn tỏ ra vui mừng vì được chịu khổ vì Chúa. Nhờ gương anh hùng bất khuất của cha, những giáo hữu nhẹ dạ đã trở nên can đảm, những kẻ can đảm càng mạnh dạn trung kiên theo Chúa.

Thấy không thể lay chuyển được lòng tin kiên vững của cha, quan tổng trấn xin vua Tự Đức kết án tử hình cha. Vào ngày 29 tháng 4 năm 1861, cha đã bị trảm quyết tại Pháp trường Hưng Yên, kết thúc cuộc đời tận tụy hy sinh vì Chúa.

Đức Giáo Hoàng Piô XII đã phong cha lên bậc Chân phước ngày 29 tháng 4 năm 1951. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, cha đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II suy tôn Hiển thánh.

Quyết tâm: Hằng ngày dùng lời nói việc làm khuyến khích mọi người trung thành theo Chúa, và luôn luôn nêu đức tin kiên vững theo gương thánh Giuse Tuân, linh mục dòng Đa Minh tử đạoCầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương dất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

 

Ngày 30 tháng 4
THÁNH PI-Ô THỨ 5
Giáo hoàng

Gương thánh nhân:

Một hôm có hai thầy dòng Đa-minh đi qua miền Lom-bạt-đi, gặp đứa trẻ chăn chiên tên Mi-ca-e Ghít-lê-ri. Hai thầy thấy đứa trẻ khôi ngô dễ thương, nên xin về nuôi cho ăn học.

Đó là thánh Li-ô Giáo hoàng, lúc nhỏ phải đi chăn chiên, vì con nhà nghèo, không đủ phương tiện học hành. Thánh nhân sinh năm 1507, tại Bốt-xô, nước Ý.

Từ ngày được đem về nhà dòng, thánh nhân lo chăm chỉ học hành, trau dồi đức hạnh. Năm 1528, ngài được thụ phong linh mục và làm giáo sư dạy môn thần học. Vì thấy ngài khôn ngoan, nhân đức, nên Giám mục giáo phận Pa-vi chọn ngài làm ủy viên tòa án tôn giáo. Nhờ đo,ù ngài có dịp liên lạc với Đức hồng y Ca-ráp-pha. Năm 1551, Đức Hồng y đề nghị Đức Giáo Hoàng Giu-li-ô thứ 3 triệu ngài về Rô-ma, làm tổng ủy viên tòa án tôn giáo.

Và khi Đức Hồng y Ca-ráp-pha được bầu làm Giáo hoàng với tước hiệu Pi-ô thứ tư, thánh nhân được dặt làm giám mục giáo phận Xu-tri và Nê-pi. Ngài khiêm tốn từ chối, nhưng không được chấp thuận. Buộc lòng ngài phải lãnh nhận nhiệm vụ cai quản hai giáo phận nói trên. Và chỉ một năm sau, ngài được thăng chức Hồng y.

Điều đó chứng tỏ tài cao đức trọng của ngài. Ngài sống khó nghèo như một tu sĩ. Nhà ngài ở, giống như một tu viện.

Vào ngày 7 tháng giêng năm 1566, ngài lên ngôi Giáo Hoàng; lấy danh hiệu Pi-ô V. Việc trước tiên ngài thực hiện là triệu tập công đồng Tri-đen-ti-nô, để cnh tân Hội thánh và bàn cách đối phó với nhóm người Cải cách, bảo vệ đức tin chân chính.

Ngài có công rất lớnn trong việc canh tân Hội thánh. Chính ngài công bố sách “ Giáo lý mới. Chọn bộ “ Tổng yếu thần học” của thánh Tô-ma A-qui-nô làm sách giáo khoa đào tạo hàng giáo sĩ, và cho xuất bản” Sách lễ Rô-ma” mới. Biến cố đặc biệt xảy ra trong thời làm giáo hoàng của ngài là cuộc chiến thắng người Hồi giáo ở vịnh Lơ-păn vào năm 1571.

Thánh nhân qua đời tại Rô-ma, ngày 1 tháng 5 năm 1572, sau 6 năm làm Giáo Hoàng.

Quyết tâm: Noi gương thánh Pi-ô Giáo Hoàng, hằng ngày tôi lo canh tân và cải thiện đời sống để làm sáng danh Chúa và mở mang Hội thánh.
Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã an bài cho thánh Pi-ô thứ năm làm Giáo Hoàng để bảo vệ đức tin và canh tân phụng vụ.Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho chúng con biết cử hành các mầu nhiệm của Chúa, với đức tin sống động và lòng mến nhiệt thành.Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster:
tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle

Home Page
Trở về đầu trang


Mừng Thọ 100 tuổi
Đức Cha Antôn
Nguyễn Văn Thiện
Nguyên Giám Mục
Giáo Phận Vĩnh Long

Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:
pettham@gmail.com
Đôi dòng giới thiệu
Tin Giáo Hội toàn cầu và Giáo Phận
Mục vụ
Suy niệm Lời Chúa
Phụng Vụ
Giáo Lý Công Giáo
Truyền Giáo
Thánh Nhạc
Các Trung Tâm Hành Hương
Bác ái - Xã hội
Tài liệu nghiên cứu
Miền Tây Nam Bộ
Nụ cười bằng mười thang thuốc bổ
Liên kết Web

 

Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics