PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG 03

Tháng 01 I Tháng 02 I Tháng 03
Tháng 04 I Tháng 05 I Tháng 06 I Tháng 07
Tháng 08
I Tháng 09 I Tháng 10 I Tháng 11 I Tháng 12

 

THÁNG BA

Ngày 4 tháng 3
THÁNH CA-XI-MIA

* Gương thánh nhân:
Thánh Ca-xi-mia sinh tại Kra-cô-vi, nước Ba-lan, năm 1458. Cha là vua Ca-xi-mia thứ 4, mẹ là hoàng hậu Ê-li-sa-bết, rất đạo đức.

Thánh nhân sống đời khiết tịnh hoàn hảo. Ngay lúc trẻ tuổi, ngài đã xa lánh những thú vui thế gian. Điều ngài ham thích nhất là được sống lâu giờ trước bàn thờ và bắt mình ép xác, chay tịnh. Nhiều đêm, ngài nằm ngủ dưới đất, hoặc trước cửa nhà thờ. Ngài đặc biệt sùng kính Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Mỗi lần nhìn lên thánh giá là mỗi lần nước mắt ngài chảy ra vì thương mến Chúa. Ngoài ra, thánh nhân cũng hết lòng tôn kính Đức Mẹ. Ngài gọi Đức Maria là “ Mẹ hiền ” của ngài.

Nơi thánh nhân, còn nổi bậc hai nhân đức bác ái và công bằng, như một tác giả đương thời với ngài đã làm chứng:

“ Ca-xi-mia có một lòng bác ái hầu như không thể tin được. Lòng bác ái không giả dối, nhưng chân thật, do Chúa Thánh Thần nhóm lên để ngài yêu mến Thiên Chúa toàn năng. Nó đầy ngập lòng Ca-xi-mia đến nỗi tràn ra ngoài, Nó tràn từ thâm tâm ra đến bên ngoài để yêu thương tha nhân. Đền nỗi, đối với ngài, không có gì vui sướng và hợp với nguyện vọng của ngài hơn, là không những phân phát của cải đi mà còn được hiến thân và cư xử rộng rãi thật sự và hoàn toàn cho những người nghèo của Đức Kitô, cho kẻ lữ hành, cho người đau ốm, cho kẻ tù tội và cho mọi người đau khổ. Ngài ở với quả phụ, mồ côi và những kẻ bị áp bức. Không những như người bảo trợ và quản lý mà còn như cha, như con và anh em của họ. Sẽ phải viết một cuốn sách rất dài nếu muốn thuật lại mọi việc bác ái yêu thương của ngài đối với Thiên Chúa và tha nhân.

Khó có thể nói và nghĩ về mức độ ngài vun trồng đức công bình , quý trọng đức tiết độ, biểu thị đức khôn ngoan, tỏ ra kiên nhẫn và can đảm như thế nào. Đặc biệt, ở tuổi mà người ta tự nhiên có khuyenh hướng dễ dàng muốn lao mình vào tội lỗi.

Hằng ngày, ngài khuyên cha mình lấy đức công bình mà trị quốc và chư hầu. Và khi nào, vì chểnh mảng hay vì ngu xuẩn mà người ta sơ xuất trong việc cai tù, thì ngài không hề bỏ qua cơ hội dùng lời lẽ vừa phải phàn nàn với cha mình. Ngài bênh đỡ các vụ kiện của những người túng thiếu hay khổ sở như mình; và đứng về phía họ, nên được dân tôn là người bênh vực kẻ nghèo khổ. Và mặc dầu là hoàng tử thuộc dòng họ quý phái, ngài chẳng bao giờ khó tính với ai trong cách đối xử và ăn nói, cho dù là đối với người tầm thường và hèn hạ nhất.

Ngài luôn thích ở giữa những người hiền lành và nghèo khó trong lòng, là những kẻ được hứa ban Nước Trời làm của mình, hơn là sống giữa những người sang trọng quyền thế ở đời này. Chẳng bao giờ ngài ham muốn quyền bính, và từ chối khi cha ngài trao cho. Đức Kitô Chúa chúng ta đã gọi của cải là gai nhọn; ngài sợ nó đâm vào tâm hồn ngài và linh hồn sẽ ra ô uế khi đụng vào các việc ở đời”.

Thánh nhân qua đời ngày 4 tháng 3 năm 1484, lúc ngài mới 26 tuổi. Năm 1522, ngài được tôn phong hiển thánh và được chọn làm thánh Bổn mạng nước Ba-lan năm 1602.

* Quyết tâm: Tôi quyết sống thanh sạch, công bình, bác ái; nhất là tận tâm nâng đỡ bênh vực những người cô thế cô thân, bị áp bức khổ sở, theo gương thánh Ca-xi-mia.

* Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã gọi chúng con làm tôi tớ Chúa, để cùng Chúa làm chủ trái đất này. Vì lời thánh Ca-xi-mia nguyện giúp cầu thay, xin cho chúng con biết sống thánh thiện ngay lành mà phụng sự Chúa.


Ngày 7 tháng 3
THÁNH NỮ PÊ-PÊ-TU-A VÀ PHÊ-LI-XI-TA
Tử đạo

* Gương thánh nhân: Dưới thời bắt đạo của Hoàng đế Sép-ti-mô Sê-vê-rô ở Cạt-ta, nhiều người tín hữu đã bị giết chết vì Chúa. Họ phải chịu đủ mọi thứ hình khổ, bị thú dữ cắn xé, bò rừng chém chết, gươm giáo phanh thây xẻo thịt … Nhưng họ vẫn can đảm giữ vững đức tin, sống chết trung thành theo Chúa.

Trong số đó có hai thánh nữ Pê-pê-tu-a và Phê-li-xi-ta. Pê-pê-tu-a là con một gia đình quý tộc. Cha ngài thờ ngẫu tượng. Còn ngài được Chúa thương cho biết Chúa, tin Chúa với Phê-li-xi-ta là một nữ nô lệ đang giúp việc trong nhà ngài. Cả hai còn đang học đạo thì bị phát giác và bị bắt; và đã được lãnh Bí tích Rửa tội trong lúc giam giữ.

Cha ngài vào thăm ngài trong ngục và khuyên bỏ đạo. Nhưng ngài chỉ vào một cái bình và nói:

- Người ta không thể gọi vật này bằng tên nào khác hơn là cái bình. Con cũng vậy, không thể gọi con bằng tên nào khác hơn là Kitô hữu.

Người cha nổi giận lao vào đánh đập ngài tàn nhẫn rồi bỏ ra về.

Trong lúc bị giam trong ngục, các ngài luôn cầu xin Chúa ban ơn giúp sức để chịu nổi mọi cực hình và chịu chết vì Chúa. Ngoài ra, các ngài hằng an ủi nhau, nhắc nhở nhau hy sinh chịu khó và sống vui tươi an bình.

Sau nhiều lần tra tấn cũng như dụ dỗ mà thấy các ngài cứ khăng khăng tin theo Chúa, nên quan án lệnh đem các ngài ra hí trường cho thú dữ dày xéo. “Ngày chiến thắng của các tử đạo đã bừng lên. Từ ngục thất, các ngài tiến ra hí trường, như đi vào thiên đàng. Nét mặt các ngài hân hoan, có run lên thì cũng vì vui chứ không phải sợ.

Pê-pê-tu-a là người đầu tiên đã bị con bò dữ tung lên và ngã ngửa xuống. Nhưng chỗi dậy và thấy Phê-li-xi-ta bị hất nằm trên đất, ngài liền đến giơ tay đỡ bạn dậy. Và cả hai cùng đứng. Dân chúng không còn hung hăng nữa. Các ngài được dẫn qua cổng “ còn sống”. Ở đó, một người tên là Rút-ti-cô đã nhận thấy Pê-pê-tu-a. Anh là một dự tòng và xưa nay vẫn ở giúp ngài. Như tỉnh dậy sau một giấc ngủ (vì ngài đã ngất trí đi như thế) ngài đưa mắt nhìn quanh khiến mọi người ngạc nhiên khi ngài hỏi:

- Bao giờ chúng tôi mới được dẫn tới con bò cái mà người ta thường nói?

Khi được biết rằng việc đó đã xảy ra rồi, ngài vẫn không tin. Mãi cho đến khi nhận ra các dấu vết bị bò húc trên thân xác và trên quần áo của mình. Rồi gọi em là người dự tòng kia tới, ngài khuyên bảo họ như sau:

- Hãy vững vàng trong đức tin… và hết thảy hãy yêu thương nhau. Đừng nao núng vì các khổ nạn của chúng tôi ”

Dân chúng đòi mang các ngài ra giữa hí trường để được mục kích cảnh giết người, khi thấy gươm đâm vào thân thể các ngài. Các ngài liền tự động đứng lên, đi thẳng ra nơi dân chúng muốn. Nhưng trước đó, các ngài đã hôn nhau để kết thúc cuộc tử đạo với nghi lễ trao ban bình yên .

Pê-pê-tu-a thì phải nếm khổ nhiều hơn. Bị đánh vào xương sườn, ngài kêu lên nhưng rồi phải nắm lấy tay tên đao phủ mới tập nghề đang quờ quạng đưa lên chính họng mình. Một người phụ nữ như ngài chắc không thể bị giết cách khác hơn được: chính ngài phải muốn mới được, vì thần ô uế còn phải sợ ngài mà.

Vì các ngài bị bò hất tung mà còn sống, nên lý hình phải dùng gươm giết các ngài. Nhưng tên lý hình sợ hãi run rẩy, nên thánh Pê-pê-tu-a phải giúp hắn đẩy lưỡi giáo vào cổ mình.

Thế là thánh nữ Pê-pê-tu-a và Phê-li-xi-ta đã anh hùng chịu chết vì Chúa vào ngày 7 tháng 3 năm 203.

* Quyết tâm: Hằng ngày, noi gương thánh Pê-pê-tu-a và thánh Phê-li-xi-ta kêu xin Chúa ban ơn giúp sức, chịu khó hy sinh và trung thành bền đỗ vác thánh giá theo Chúa đến cùng.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, nhờ tình yêu nồng nàn của Chúa thúc đẩy, hai thánh nữ Pẹt-pê-tu-a và Phê-li-xi-ta đã coi thường những người bách hại và lướt thắng cả cái chết đớn đau. Cúi xin Chúa nhận lời hai thánh nữ chuyển cầu mà ban cho chúng con ngày càng thiết tha yêu mến Chúa.

 

Ngày 8 tháng 3
THÁNH GIOAN THIÊN CHÚA
Tu sĩ

* Gương thánh nhân: Thánh Gioan Thiên Chúa sinh năm 1459, tại Bồ Đào Nha. Cha mẹ ngài rất nghèo nhưng giàu lòng đạo đức.

Năm lên 8 tuổi, ngài ham vui đi theo một nhà mạo hiểm đến Ma-trít. Nhưng bị lạc, nên ngài phải ở đợ nuôi thân cho đến năm 20 tuổi thì đăng lý vào quân đội. Sống trong quân ngũ, ngài bị lây nhiễm thói hư tật xấu của đồng đội, bê tha trác táng.

Nghe tin mẹ mất vì buồn sầu thương nhớ ngài, ngài hối hận và quyết tâm trở lại với Chúa. Ngày đêm, ngài ân cần cầu nguyện và ăn chay đền tội. Đặc biệt, ngài thương lo giúp đỡ những kẻ nghèo khổ bệnh tật.

Sau khi giải ngũ, ngài lặn lội buôn bán, dành dụm tiền của và nhờ một số nhà hảo tâm ủng hộ, ngài xây một bệnh viện chăm sóc những bệnh nhân nghèo. Số bệnh nhân ngày càng đông, thánh nhân không đủ sức lo, nên ngày ngày phải đi ăn xin để về nuôi dưỡng họ. Một mình không đảm đang hết công việc phục vụ chăm sóc, ngài cần thêm nhiều người phụ giúp. Ngài cầu xin Chúa, và Chúa soi sáng hướng dẫn ngài thành lập Dòng Anh Em Bác Ai, chuyên chăm sóc giúp đỡ người nghèo khổ bệnh hoạn.

Ngài luôn luôn khuyến khích các tu sĩ ân cần phục vụ người nghèo, kẻ khổ, chẳng những phần xác mà cả phần hồn, nhất là hết lòng tin tưởng trông cậy Chúa, vì Người hằng trợ lực cho những kẻ có lòng bác ái thương người. Trong một bức thư, ngài viết: “Nếu ta nhìn vào lòng thương xót của Chúa, thì bao lâu còn khả năng, chẳng bao giờ chúng ta thôi làm việc thiện. Bởi lẽ, khi vì yêu mến Chúa, ta trao lại cho người nghèo những gì mà thiên Chúa đã ban cho ta, thì Chúa hứa sẽ cho ta gấp trăm trong hạnh phúc muôn đời. Ôi số lời diễm phúc! Ôi mối lợi thánh thiện! Ai mà không muốn lấy của cải mình có đem cho Đấng đổi chác tốt lành như vậy, vì Người sẽ săn sóc công việc làm ăn cho ta, và dang tay xin ta cứ trở về với Người, cứ khóc lóc tội lỗi rồi chuyên cần bác ái, đối với mình trước, rồi đến tha nhân. Như nước dập tắt lửa thế nào, bác ái cũng tẩy xóa tội lỗi như vậy. Kẻ nghèo khó kéo đến chốn này không biết bao nhiêu mà kể, khiến chính tôi nhiều khi phải tự hỏi không biết giúp đỡ họ cách nào đây. Nhưng Chúa Giêsu Kitô phòng bị tất cả, và Người nuôi dưỡng mọi người. Nhiều kẻ nghèo tìm về nhà Chúa ở đây, vì Gơ-rơ-na-đa là một thị xã lớn và rất lạnh, đặc biệt trong mùa đông. Hiện nay, có hơn 110 người đang ở trong nhà; ốm có, khoẻ có, tôi tờ có và có cả khách hành hương nữa, Là vì đây là nhà chung, nên tiếp rước mọi hạng và mọi thứ bệnh tật: tàn tật, qué quặt, phong hủi, câm, điên, bất toại, sói đầu, già nua, trẻ nhỏ và nhất là nhiều người hành hương và đi đường. Họ đến đây và được cung cấp củi lửa, nước, muối và nồi để nấu ăn, chẳng phải trả đồng xu nào; nhưng Đức Kitô lo liệu hết.

Chính vì vậy mà lúc này tôi đang mang nợ nhiều và bị tù vì Đức Giêsu Kitô. Vì mắc nợ, tôi không dám ra khỏi nhà; các món nợ chưa trả giữ tôi lại. Nhưng khi tôi nhìn thấy nhiều người nghèo là anh em và là thân nhân của tôi phải khổ sở quá sức mình, chịu bao khốn cực trong tâm hồn và thể xác, mà tôi không giúp đỡ được thì tôi buồn vô hạn. Nhưng tôi tin tưởng vào Đức Kitô, vì Người hiểu lòng tôi, thế nên tôi nói: Bất hạnh thay con người đặt tin tưởng vào người đời, chú không tin tưởng vào Đức Kitô. Bởi vì, người đời thì dù muốn dù không, có lúc bạn phải xa lìa. Còn Đức Kitô, thì luôn luôn trung tín và trường tồn. Người dự liệu tất cả. Tạ ơn Người luôn mãi.

Thánh nhân qua đời ngày 8 tháng 3 năm 1550, và được phong thánh năm 1690.

* Quyết tâm: Noi gương thánh Gioan Thiên Chúa, hết lòng thương giúp đỡ những người nghèo khổ, bệnh tật phần hồn cũng như phần xác, và tin tưởng Chúa hằng phù trợ trong công cuộc bác ái tốt đẹp này.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Gioan đầy tràn tình thương đối với kẻ nghèo hèn và bệnh tật. Xin cho chúng con cũng biết đem lòng bác ái mà phục vụ anh em, hầu đáng hưởng vinh quang Nước Trời với những người được Chúa tuyển chọn.

 

Ngày 9 tháng 3
THÁNH PHAN-XI-CA RÔMA-NA
Nữ tu

* Gương thánh nhân: Thánh Phan-xi-ca Rômana sinh năm 1384 tại Rô-ma, trong một gia đình quí tộc. Ngay từ lúc nhỏ, thánh nhân đã sống thầm lặng và siêng năng cầu nguyện. Năm lên 13 tuổi, ngài muốn dâng mình cho Chúa, nhưng cha mẹ bắt gả cho lãnh chúa tên Lô-ren-sô Pon-xi-a-ni.

Mặc dầu không muốn lấy chồng, thánh nhân cũng vâng lời cha mẹ, lo làm tròn bổn phận người vợ, người mẹ, nêu gương cho mọi người trong gia đình. Nhưng ngài cũng không quên bổn phận đối với Chúa. Hằng ngày, thánh nữ lo dậy sớm đọc kinh cầu nguyện, để sau đó làm công việc nội trợ và lo cho kẻ ăn người ở trong nhà. Lo việc nhà xong, ngài vội vã đến bệnh viện, thăm viếng giúp đỡ bệnh nhân vì ngài rất thương yêu kẻ nghèo khổ bệnh tật. Săn sóc bệnh nhân có thể đưa về nhà, Phan-xi-ca chưa lấy làm đủ, ngài còn tìm kiếm họ trong các lều của họ và nơi các bệnh viện công. Gặp họ, ngài cho họ uống, làm giường và băng bó các vết thương. Các vết thương cáng thối và càng làm lên ruột, ngài lại càng săn sóc mau mắn và ân cần. Ngài cũng thường lui tới khu phố Cam-pô Xan-tơ, mang thức ăn và lương thực mỹ vị phân phát cho những kẻ thiếu thốn. Trở về, ngài mang theo đủ thứ áo quần rách rưới, bẩn thỉu. Giặt giũ, vá mạng lại cẩn thận như để cho chính Chúa dùng vậy .

Phan-xi-ca làm việc giúp đỡ bệnh nhân và các bệnh viện công cộng như thế trong 30 năm trời, là quãng thời gian ngài ở nhà chồng. Ngài năng lui tới hai nhà thương nhà thờ Đức Bà và nhà thờ thánh Xê-xi-li-a ở bên kia sông Ti-be, nhà thương Chúa Thánh Thần ở Xa-xi-a, và nhà thương thứ tư ở Cam-pô Xan-tô. Trong thời nhiều bệnh ôn dịch như vậy, không những khó tìm được y sĩ săn sóc thân thể người ta mà cũng khó kiếm được linh mục đem phương dược cần thiết đến chữa cho các linh hồn. Thánh nữ đi tìm các ngài và đưa các ngài đến gặp các bệnh nhân đã được chuẩn bị sẵn sàng để xưng tội và rước Mình Thánh Chúa .

Chẳng những thánh nhân tự mình hy sinh phục vụ bệnh nhân và người nghèo khổ, mà ngài còn mời gọi nhiều người nữ ở Rô-ma cộng tác. Ngài tụ họp họ vào một nhà những bà cùng lý tưởng bác ái như ngài. Đó là khởi điểm các hội dòng ngài sáng lập; gọi là “ Dòng chị em cư sĩ thánh Biển-đức ” . Ngoài lòng yêu thương kẻ nghèo khổ bệnh tật, thánh nữ còn có đức kiên nhẫn hiền hậu tuyệt vời, như bà Maria An-ghi-la-ri-a minh chứng:

Phan-xi-ca đã chứng tỏ đức kiên nhẫn khi sớm mất những đứa con mà ngài trìu mến. Luôn luôn ngài bình tĩnh vâng theo ý Chúa và tạ ơn Người về mọi sự xảy ra, ngài cũng nhẫn nhục như thế khi chịu đựng miệng lưỡi của những kẻ nói xấu, nói hành và dèm pha cách ăn ở của mình; chẳng hề tỏ dấu khó chịu đới với những kẻ mà ngài biết luôn luôn nghĩ sai về mình và về công việc của mình. Nguoc885 lại, ngài lấy đức để báo ác và luôn luôn cầu nguyện cho những hạng người ấy.

Thánh nhân qua đời ngày 9 thảng năm 1440, hưởng thọ 56 tuổi.

* Quyết tâm: Hằng ngày, cầu xin Chúa cho những người làm vợ, làm mẹ biết lo làm tròn bổn phận, và thương yêu giúp đỡ kẻ nghèo khổ, bệnh tật. Sống kiên nhẫn, hiền hoà với mọi người theo gương thánh nữ Phan-xi-ca Rô-ma-na

* Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã làm cho thánh nữ Phan-xi-ca trở nên một gương sáng đặc biệt về đời sống hôn nhân cũng như đời sống tu trì. Xin cho chúng con bằng lòng phụng sự Chúa, hầu có thể nhận ra và bước theo Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.

* Thánh Đa Minh Cẩm
Linh mục tử đạo

* Gương thánh nhân: Thánh Đa Minh Cẩm sinh tại làng Cẩm Chương, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình sốt sắng đạo đức.

Ngay từ nhỏ, cậu Cẩm đã hấp thụ nền đạo hạnh của gia đình. Cậu lại học hành thông minh xuất sắc, nên được thâu nhận vào chủng viện tu học làm linh mục. Thời gian ở chủng viện, cậu rất chuyên cần học tập và trau giồi nhân đức. Và sau khi mãn khoá học thần học, thầy Đa Minh Cẩm được thụ phong linh mục.

Từ ngày được làm linh mục, cha Đa Minh luôn hăng say hoạt động tông đồ: tận tuỵ chăm sóc giáo dân, nhiệt thành rao giảng Tin Mừng. Đặc biệt cha luôn luôn sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào Bề trên mong muốn. Ở đâu có nhu cầu mục vụ là cha hy sinh tình nguyện, không ngại gian lao khổ cực, chẳng kể nhọc nhằn khó khăn hay nguy hiểm bắt bớ . Tinh thần hy sinh đó của cha được thể hiện rõ khi Toà Thánh phân chia địa phận Đông Đàng ngoài thành hai giáo phận Đông (Hải phòng) và Trung (Bùi Chu). Tuy cha sinh trưởng tai Bắc Ninh, thuộc giáo phận Đông, nhưng bề trên cử cha đến phục vụ ở giáo phận Trung, cha vẫn sẵn sàng hy sinh vâng lời, và chính nhờ hy sinh vâng lời như thế mà cha đã được chịu chết đổ máu ra làm chứng cho Chúa.

Đầu năm 1859, cơn bắt đạo trở nên gắt gao. Vùng cha ở bị các quan kiểm soát, bắt bớ thường xuyên. Cha phải ẩn trốn hết nơi này đến nơi khác. Nhưng nơi nào giáo dân cần lãnh nhận Bí tích, cha vẫn can đảm rời khỏi nơi trú ẩn đến giúp đỡ chăm sóc họ. Một hôm cha đang thi hành mục vụ ở Hà Lang, người ta phát hiện ra cha và tố cáo với quan. Họ tố cáo cha không phải vì ghét cha, nhưng vì lợi lộc vật chất ( lúc đó ai khai báo các linh mục sẽ được vua quan trọng thưởng tiền bạc hoặc chức tước ). Do đó, ngày 21 tháng giêng năm 1859 cha bị bắt giải về tỉnh Hưng Yên.

Ở Hưng Yên, quan tổng đốc ra lệnh nhốt cha trong một cái củi chật hẹp rất khổ sở. Nhiều lần quan cho dẫn cha ra tra tấn, đe doạ rồi khuyến dụ, nhưng lần nào cha cũng một mực khẳng khái xưng mình là linh mục, sẵn sàng chấp nhận mọi cực hình đòn vọt vì Chúa, và cương quyết không bao giờ đạp lên Thánh giá.

Thấy cha bị giam cầm, tra tấn khổ sở, quân lính canh gác xúc động cảm thương. Họ dành cho cha nhiều dễ dãi và cho phép giáo hữu viếng thăm, nuôi dưỡng cha. Nhờ đó cha được tiếp xúc với nhiều người. Nhân cơ hội này cha dạy dỗ khuyên bảo mọi người bền tâm theo Chúa. Cha cũng tha thiết yêu cầu giáo hữu cầu nguyện cho cha đủ sức chịu đựng mọi cực hình và chịu chết vì Chúa. Cha còn biên thơ xin Đức Giám mục giáo phận cầu nguyện nhiều cho cha, đồng thời bày tỏ lòng trung kiên theo Chúa và ước mơ được phước tử đạo. Giám mục giáo phận lúc đó lá Đức Cha Va-len-ti-nô Vinh. Ngài thấy cha cương quyết trung thành theo Chúa thì rất vui mừng. Ngài sai linh mục Hương đến thăm và giải tội cho cha, để nung đúc thêm tinh thần và lòng can đảm.

Sau nhiều lần khuyến khích cũng như hăm doạ tra tấn mà thấy không thể lay chuyển được lòng tin của Cha, quan tổng quản xin vua kết án trảm quyết cha. Và vua đã thuận y án.

Khi được tin bị kết án trảm quyết, cha Đa Minh hết sức vui mừng và tạ ơn Chúa, vì Người đã thương ban cho cha được phước làm chứng cho Người.

Ngày 11 tháng 3 năm 1859, quân lính dẫn cha ra pháp trường. Cha quỳ gối cầu nguyện một lúc rồi ra lệnh cho lý hình thi hành phận sự. Họ chém cha 3 nhát mà đầu vẫn chưa đứt. Họ phải cứa đi cứa lại nhiều lần, đầu cha mới lìa khỏi cổ.

Đức Giáo Hoàng Pi-ô XII đã tôn phong cha lên bậc Chân phước ngày 29 tháng 4 năm 1951. Và ngày 16 tháng 8 năm 1988, ngài đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II suy tôn Hiển thánh.

* Quyết tâm: Noi gương thánh Đa Minh Cẩm, linh mục tử đạo, luôn luôn sống xứng đáng môn đệ Chúa bằng đời sống gương mẫu thánh thiện, nhiệt tâm truyền giáo và sẵn sàng vâng theo ý Chúa và cấp trên.

* Lời nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo Hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 17 tháng 3
THÁNH PA-TRI-XI-Ô
Giám mục

* Gương thánh nhân: Thánh Pa-tri-xi-ô sinh tại nước Anh, năm 373. Cha mẹ ngài rất đạo đức, đã huấn luyện ngài sốt sắng kính mến Chúa. Nhưng năm lên 16 tuổi, ngài bị nhóm hải tặc bắt đem bán làm nô lệ ở Ai-nhĩ-lan. Sáu năm trời làm nô lệ, ngài sống khổ cực thiếu thốn. An không đủ no, mặc rách rưới, suốt tháng này sang tháng khác, đi chăn heo, sống trong cảnh thiếu thốn tình thương gia đình cha mẹ!...Đau khổ nhất đối với thánh nhân là không được lãnh nhận các Bí tích. Không có nhà thờ đọc kinh dự lễ, vì lúc đó, dân Ai-nhĩ-lan còn thờ bục thần ngẫu tượng, chưa được biết Chúa.

Nhưng trong những năm tháng dài khốn khổ đó, thánh nhân luôn hướng về Chúa, cầu khẩn Chúa. Ngài nhớ lại những lời cha mẹ dạy về lòng mến Chúa yêu người lúc còn ở gia đình, nên kêu xin Chúa cho ngài thoát cảnh nô lệ để ngài đem Chúa đến cho dân tộc ngoại giáo này. Hằng ngày, thánh nhân lo học ngôn ngữ phong tục của họ, chuẩn bị cho công cuộc truyền giáo sau này.

Chúa đã nhậm lời ngài, cứu ngài thoát cảnh nô lệ. Ngài luôn cám ơn Chúa vì ơn lành này: “Tôi không ngớt cám tạ ơn Chúa của tôi, vì Người đã gìn giữ tôi trung thành trong ngày tôi chịu thử thách, khiến hôm nay, tôi có thể dâng hiến linh hồn tôi, như bánh thánh sống động là Đức Kitô, Chúa tôi, vì người đã gìn giữ tôi khỏi mọi cảnh ngặt nghèo, khiến tôi phải thưa: Lạy Chúa, con là ai, ơn gọi con là gì mà Chúa đã bao phủ con bằng thần tính cao cả như vậy? Đến nỗi ngày nay, bất cứ ở đâu, con luôn luôn nhảy mừng và ca tụng danh thánh Chúa ở giữa các dân tộc. Không những chỉ khi may mắn mà thôi,, mà cả khi gặp bỉ cực nữa. Dù có thể xảy ra cho tôi thế nào, lành hay dữ, tôi vẫn bình thản chấp nhận hết và luôn luôn tạ ơn Chúa. Chính Người đã cho tôi biết không được thôi tin tưởng vào Người là Đấng sẽ nhận lời tôi”. Thánh nhân đến nước Pháp, xin vào tu viện Mạc-mô chê. Ở đó, ngài sống đời cầu nguyện, hãm mình và chuyên cần học tập. Năm 432, ngài được thụ phong linh mục, rồi Giám mục. Và ngài lên đường trở lại Ai-nhĩ-lan, rao giảng đạo Chúa cho dân tộc ngoại giáo này như lòng ngài ước nguyện.

Mặc dầu gặp nhiều chống đối khó khăn, thánh nhân vẫn kiên trì đem Lời Chúa giảng cho mọi người. Như lời ngài nói: “Và nếu Chúa thấy tôi xứng đáng, tôi sẵn sàng, không ngần ngại và hết sức sẵn lòng bỏ mạng sống mình vì Danh Người. Tôi thật muốn hiến đời tôi ở đó cho đến chết nếu Chúa thương chấp nhận. Là vì tôi mắc nợ với Chúa thật nhiều. Người đã ban cho tôi ơn trọng này là nhờ tôi, nhiều dân tộc đã tái sinh trở về với Chúa, và sau đó đã được hoàn thiện. Người cũng ban cho tôi được truyền chức ở mọi nơi để có hàng giáo sĩ coi sóc dân mới tin đạo; dân mà Chúa đã tuyển chọn từ mút cùng trái đất như Người đã hứa qua miệng các ngôn sứ: Muôn dân sẽ đến với Người từ mút cùng cõi đất”.

Nhờ ơn Chúa giúp, thánh nhân đã đem cả nước Ai-nhĩ - lan về với Kitô giáo. Bí quyết thành công của ngài là cầ nguyện và hãm mình. Ban ngày đi giảng đạo, ban các bí tích giúp đỡ kẻ nghèo. Đêm đến, ngài đến quỳ trước bàn thờ, hướng lòng trí về Chúa. Ngài cầu nguyện gần suốt đêm, chỉ đi ngủ sau khi đã trình lên Chúa hết mọi việc ngài làm trong ngày, thành công cũng như thất bại… Và kêu xin Chúa giúp cho công việc hôm sau. Khi đi ngủ, ngài nằm đất, lấy đá làm gối, lấy áo làm mền để hãm mình ép xác. Ngài cũng dạy những kẻ cộng tác với ngài sống đời cầu nguyện và hãm mình như thế. Đó là khởi điểm đời sống đan sĩ của những nhà dòng ngài sáng lập. Nhờ ngài, mà đạo Chúa và nếp sống đan tu phát triển mạnh mẽ khắp nước Ai-nhĩ-lan.

Ngài qua đời năm 464, và được chọn làm thánh bổn mạng nước Ai-nhĩ-lan.

* Quyết tâm: Hằng ngày, tôi hãm mình, cầu nguyện cho công cuộc truyền gió của Hội thánh, và chính mình cũng nhiệt tâm rao giảng đạo Chúa, theo gương thánh Pa-tri-xi-ô.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã sai thánh Giám mục Pa-tri-xi-ô đến rao giảng Tin Miừng cho dân tộc Ai - len. Vì công nghiệp và lời cầu của thánh nhân, xin cho những ai được mang danh Kitô hữu, biết không ngừng loan báo cho mọi người những kỳ công của Chúa.

 

Ngày 18 tháng 3
THÁNH SY-RI-LÔ thành GIE-RU-SA-LEM
Giám mục Tiến sĩ


* Gương thánh nhân:Thánh Sy-ri-lô sinh tại Giê-ru-sa-lem năm 315, trong một gia đình đạo hạnh sốt sắng.
Lớn lên, ngài dâng mình cho Chúa và vào chủng viện. Ngài mê say học hỏi Kinh Thánh. Lời Chúa đối với ngài như của ăn hằng ngày. Ngày nào, không đọc Lời Chúa, không học hỏi Kinh Thánh, ngài cảm thấy đói khát thiếu thốn. Nhờ Lời Chúa tác động, ngài tấn tới trên đàng nhân đức trọn lành, và vững vàng kiên cố chống lại các lạc giáo, bênh vực chân lý.
Năm 345, ngài được thụ phong linh mục. Và không bao lâu sau thì được thăng chức Giám mục Giê-ru-sa-lem. Bắt đầu từ đó, ngài chuyên chăm lo giảng dạy giáo lý, hướng dẫn người ngoại giáo trở lại với Chúa.. Khắp nơi trong thành Giê-ru-sa-lem, người ta tuôn đến học giáo lý với ngài. Ngài nổi tiếng nhất về khoa giảng dạy các chân lý Kitô giáo. Ngài còn để lại cho Hội thánh 23 bài giáo lý và nhiều bài giảng thời danh. Dưới đây là một đoạn trong bài giáo lý ngài dạy tân tòng, chuẩn bị cho họ lãnh nhận phép rửa: Vậy hỡi con cái sự công chính, hãy nghe lời thánh Gioan khuyên bảo: Hãy dọn đường Chúa cho ngay thẳng. Hãy nhắc các ngại vật đi, để tiến thẳng đến sự sống đời đời. Nhờ đức tin chân thật, hãy sửa soạn các bình của tâm hồn cho sạch, để chịu lấy Chúa Thánh Thần. Hãy bắt đầu giặt áo sám hối bằng ăn năn đi, để khi được gọi vào phòng hôn phu, anh em đã trong sạch rồi.

Đức Hôn phu kêu gọi mọi người chẳng trừ ai, vì ân sủng thật rộng rãi và quãng đại. Tiếng các sứ giả đã tập họp mọi người, nhưng chính Người sẽ phân định ai được vào dự tiệc cưới là hình bóng về phép Rửa.

Chớ gì trong số những người đã ghi tên, không một ai sẽ phải nghe lời sau đây: Hỡi bạn, sao bạn đến đây mà không mặc áo cưới? Ngược lại, ước gì hết thảy anh em sẽ được nghe nói: Hỡi người tôi tớ tốt lành và trung tín, vì con đã trung tín trong việc nhỏ, nên ta đặt con trông coi việc lớn, con hãy vào trong sự vui mừng của chủ con .

Qua các tác phẩm của thánh nhân, chúng ta thấy ngài rất sùng kính thánh giá Chúa Kitô. Ngài thường nói:
- Anh chị em chớ hổ thẹn vì thập giá Chúa Kitô. Hãy in nó trên trán, để ma quỷ thấy ngọn cờ đó của Vua Kitô thì run rẩy chạy trốn. Hãy làm dấu thánh giá khi ăn khi uống, lúc đứng khi ngồi, cũng như khi nằm ngủ, lúc thức dậy hay đi đường. Tắt một lời, anh chị em hãy làm dấu thánh giá trong mọi nơi, mọi lúc.

Công trạng lớn khác của thánh nhân là can đảm chống lại các lạc giáo, đặc biệt đối với bè rối A-ri-ô, là những kẻ chối bỏ thiên tính của Chúa Giêsu. Ngài đã bị nhóm người này truất phế 3 lần và đày đi khỏi Giê-ru-sa-lem. Nhưng nhờ kiên trì bền chí, thánh nhân cũng thắng họ và trở về làm Giám mục như trước.
Năm 381, thánh nhân đi Công-tăn-ti-nô-pô-li tham dự Công đồng chung, và qua đời năm 386.

* Quyết tâm: Năng làm dấu thánh giá để xua trừ ma quỉ, tôn kính chúa Ba Ngôi và tưởng niệm Chúa chịu nạn chịu chết vì thương tôi, theo lời thánh Sy-ri-lô dạy.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã dùng thánh Giám mục Sy-ri-lô để giúp Hội thánh hiểu sâu hơn các mầu nhiệm của ơn cứu độ. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu mà ban cho chúng con ơn hiểu biết Chúa Giêsu Kitô, Con Một Chúa, để được sống và sống dồi dào.

 

Ngày 19 tháng 3
THÁNH GIUSE BẠN ĐỨC TRINH NỮ MARIA

 

Gương thánh nhân: Thánh Giuse thuộc dòng tộc Đa-vít. Mọi người tin rằng thánh nhân được Chúa thánh hóa trước khi sinh ra, vì Người đã chọn thánh nhân làm cha nuôi của Chúa Giêsu. Như lời thánh Ba-na-đi-nô thành Xi-ê-na xác quyết: Đây là định luật tổng quát trong việc thông ban các ơn đặc biệt cho một tạo vật hữu lý: bao giờ ơn Chúa muốn tuyển chọn ai để nhận lãnh một hồng ân đặc biệt hay một chức phận cao sang, thì Chúa ban những ân sãng cần thiết cho nhân vật được tuyển chọn ấy và cho chức vụ ấy, Và ân sũng tô điểm rất đầy đủ cho con người ấy.

Điều đó rất đúng với thánh Giuse, Đấng được coi là cha của Đức Giêsu Kitô và là Bạn trăm năm đích thực của Nữ Vương thế giới, Nữ Chúa của các thiên thần. Từ muôn đời, thánh Giuse được Thiên Chúa Cha chọn làm dưỡng phụ và làm giám hộ trung tín cho các kho tàng chính yếu của Người, Đó là Con Thiên Chúa và Hiền thê của thánh nhân.

Phúc Âm rất ít nói về ngài, chỉ cho biết ngài là “Người công chính ” , là người thánh. Các thánh tiến sĩ đều công nhận ngài là cao trọng hơn hết các thánh. Cũng như Đức Mẹ, ngài đã khấn giữ mình đồng trinh. Và ngài đã sống đồng trinh trọn hảo cho đến chết. Theo thánh Giê-rô-ni-mô, thánh Giuse kết hôn với Đức Maria là để gìn giữ danh gì cho Đức Trinh nữ trước mặt thế gian. Và Chúa muốn giữ kín việc Truyền tin cho Đức Mẹ đối với thánh Giuse cho đến ngày thánh nhân buồn sầu định trốn đi, là để cho chúng ta thấy rõ lòng trinh sạch khiết của các ngài. Nên khi nghe sứ thần bảo:
- Này Giuse, là con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria là vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần . ( Mt.1,20),
Thánh nhân đã sẵn sàng rước Đức Maria về, Và từ đó, ngài càng kính nể, quý mến bạn mình, vì ngài đã biết việc Thiên Chúa thực hiện nơi Maria, và vì bà sẽ sinh Đấng Cứu thế muôn dân mong đợi.
Điều đó chứng tỏ thánh nhân là người công chính, thánh thiện; luôn luôn tuân hành theo ý Chúa, hoàn toàn tin tưởng phó thác nơi Chúa.
Đức tuân phục tín thác của ngài càng sáng tỏ hơn trong những ngày đưa Đức Maria về Bê-lem, theo lệnh kiểm tra dân số của nhà vua.
- Ông Giuse từ thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê, lên thành Bê-lem, miền Giu-đê là thánh vua Đa-vít, vì ông thuộc về gia tộc vua Đa-vít. Ông lên đó khai tên cùng với người đã đính hôn với ông là bà Maria, lúc đó đang có thai (Lc.2,4-5).
Đức tuân phục của thánh nhân còn tỏ rõ trong cuộc bồng bế Chúa Hài Nhi và Mẹ Maria trốn sang Ai-cập, vì bạo vương Hê-rô-đê đang tòm giết Con Trẻ.
- Sứ thần hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng:
Này ông, dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho tới khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy.
Ông liền chỗi dậy, và đang đêm đưa Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Ai-cập. (Mt.2,13-14).
Và đức vâng lời của thánh nhân còn tuyệt hảo hơn nữa khi sứ thần hiện đến bảo đem Con Trẻ và Mẹ Người trở lại Na-da-rét. Thánh nhân cũng sẵn sàng làm theo ý Chúa. Thật đúng thánh Giuse là gương mẫu tuân hành thánh ý.
Ở Na-da-rét, thánh nhân luôn sống ẩn dật, âm thầm lo lắng cho Đức Maria và nuôi chăm sóc Chúa Hài Nhi. Lúc nào ngài cũng tỏ ra là người bạn trung thành của Đức Mẹ, là người cha nuôi ân cần gìn giữ Chúa Giêsu. Phải chăng người muốn nêu gương cho những người làm chồng, làm cha trong gia đình?
Thánh nhân sống bao lâu, chúng ta không được biết. Nhưng theo thánh Phan-xi-cô Sa-lê-si-ô, ngài phải qua đời trước ngày Chúa Giêsu chịu khổ nạn và chịu chết, vì nếu không phải như thế thì Chúa Giêsu đã chẳng trối Đức Mẹ cho thánh Gioan.
Và cũng theo thánh Phan-xi-cô, thánh Giuse phải được về trời hưởng phước với Chúa Giêsu và Đức Mẹ, vì công đức của ngài xứng đáng được ân thưởng như thế.
Chính Đức Giáo Hoáng Piô XI đã chọn thánh Giuse làm Quan Thầy Bàu cử toàn thể Hội thánh. Và hết mọi Kitô hữu đều kêu cầu ngài là đấng phù trợ cho được chết lành.

Quyết tâm: Noi gương thánh Giuse, tôi luôn luôn làm theo ý Chúa muốn, và hằng ngày cầu xin cho những kẻ làm chồng, làm cha biết lo tròn bổn phận như thánh cả.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã giao phó Đức Giêsu cho thánh cả Giuse, và thánh nhân đã trung thành gìn giữ trong giai đoạn đầu của thời kỳ cứu độ. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, mà ban cho Hội thánh biết luôn luôn cộng tác với Chúa Giêsu, để hoàn tất chương trình Người đã khởi đầu.

 

Ngày 23 tháng 3
THÁNH TU-BI-RI-Ô MÔN-RÔ-VÊ-CÔ
Giám mục

 

Gương thánh nhân: Thánh Tu-bi-ri-ô sinh tại Lê-on, nước Tây Ban Nha,năm 1538. Là con của lãnh chúa Môn-rô-vê-cô, thuộc dòng tộc quý phái đạo đức.

Lớn lên, ngài đến học ở Sa-la-man-ca và Cô-im-ra. Ở đâu, ngài cũng chăm chỉ học hành và nêu gương lành gương tốt. Mặc dù còn trẻ tuổi, tuổi thanh xuân thường đua đòi, ngài lại sống khác, làm khác đồng bạn: ngài nhịn ăn để giúp đỡ kẻ nghèo, và luôn hãm mình đền tội thay cho các tội nhân. Ai ai cũng nghĩ rằng sau này ngài sẽ trở thành tông đồ mở mang nước Chúa.

Nhưng lúc đó, vua nước Tây-ban-nha ra lệnh động viên thanh niên đi lính. Ngài phải nhập ngũ tòng chinh vùng Ga-na-đa. Năm 1579, vua Philipphê thứ 2 cho ngài giải ngũ và đặt làm Giám mục giáo phận Li-ma, vì thời đó vua chúa có quyền chọn Giám mục. Ngài hết sức từ chối vì nhận thấy mình chỉ là giáo dân thiếu tài kém đức. Nhưng các lý lẽ gài đưa ra không được nhà vua chấp thuận, nên ngài phải lo chuẩn bị để thụ phong linh ục vào năm 1581.

Đây là thời thực dân, người ta bắt người da đỏ làm nô lệ như súc vật, hoặc có thể giết chết một cách dã man. Thánh Tu-ri-bi-ô đứng ra bênh vực họ, che chở họ, cứu họ khỏi nô lệ phần xác. Nhất là đem đến cho họ hạnh phúc phần hồn là đạo thánh Chúa, là ơn cứu rỗi của Chúa Giêsu. Hằng ngày, thánh nhân phải tranh đấu với chính quyền đô hộ, bênh vực quyền lợi của người dân bản xứ, phục hồi nhân phẩm cho họ. Mở trường dạy chữ và xây cất nhà thờ để nâng cao trình độ văn hóa và phát triển việc thờ kình của họ. Thánh nhân thực hiện đúng nhiệm vụ mục vụ của các Giám mục trong Hội thánh theo đường lối Công đồng va-ti-ca-nô 2: “ Trong khi thi hành nhiệm vụ người cha và chủ chăn, các giám mục hãy sống giữa dân mình như những người phục vụ, như những chủ chăn tốt biết chiên của mình và chiên cũng biết mình, như những người cha đích thực trỗi trang vì có lòng yêu thương, lo lắng cho hết mọi người, và mọi người tỏ lòng tri ân, tuân phục quyền hành Thiên Chúa đã ban cho các ngài”

Những người thực dân luôn chông đối ngài, tìm cách bách hại ngài, nhưng ngài vẫn can đảm kiên trì chu toàn trách nhiệm Thiên Chúa giao phó.

Giáo phận của ngài rất rộng lớn, gồm nhiều thành phố rải rác giữa hai dãy núi An-đơ. Nhưng ngài cũng cố gắng đi khắp địa phận, thăm viếng giảng dạy giáo dân, ban các Bí tích cho họ. Trong nhiệm kỳ giám mục của ngài, ngài đã đi kinh lý toàn thể giáo phận 3 lần. Mỗi lần phải mất 5 đến 7 năm trời.

Chính trong việc đi kinh lý lần sau hết, thánh nhân đã lâm bệnh và qua đời ngày 23 tháng 3 năm 1606.

Quyết tâm: Noi gương thánh Tu-ri-bi-ô, tôi nâng đỡ, bênh vực những người bị áp bức, bóc lột, và đem Chúa đến cho họ bằng lời cầu nguyện và việc hy sinh hãm mình hằng ngày.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Tu-ri-bi-ô giám mục được hăng say hoạt động tông đồ, và nhiệt thành rao giảng chân lý của Chúa, để mở mang nước Chúa. Xin cho dân Chúa ngày càng vững lòng tin, và ngày càng nên thánh.

 

Ngày 25 tháng 3
LỄ TRUYỀN TIN

Việc truyền tin cho Đức trinh nữ Maria và cuộc nhập thể của Chúa Giêsu là một mầu nhiệm duy nhất. Từ hơn 4000 ngàn năm, loài người mong chờ Đấng Cứu Thế. Nay giờ đã đến, Đấng Cứu tinh nhân loại đã đầu thai trong lòng Đức Maria.

Để chuộc tội loài người xúc phạm đến Chúa, phải có công cuộc đền bồi của Chúa Con: Con Thiên Chúa bỏ trời, mặc lấy thân xác con người, trở nên con người để chuộc tội muôn người. Chính sứ thần Ga-bi-ri-e đã được Thiên Chúa sai đến đem tin vui mầng đó cho Đức Mẹ. Biến cố này diễn ra thầm kín giữa sứ thần và Mẹ Maria, đã mang đến cho toàn thể nhân loại một tin vui lớn lao trọng đại, vì từ nay, họ không còn phải sống trong tối tăm tội lỗi nữa. Lời hứa cứu độ đã được thực hiện nơi người Con đến để thi hành thánh ý Thiên Chúa, nơi người Mẹ sẵn sàng cộng tác theo lời sứ thần truyền:
- Sừ thần vào nhà Trinh nữ và nói:
Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sũng, Đức Chúa ở cùng Bà.
Nghe lời đó, Bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói:
Thưa Bà maria, xin đừng sợ, vì Bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây, Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.
Bà Maria thưa với sứ thần:
-Việc ấy sẽ xảy ra thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng.
Sứ thần đáp:
-Thánh thần sẽ ngự xuống trên Bà. Và quyền năng Đấng tối cao sẽ rợp bóng trên Bà. Vì thế, Người Con sinh ra sẽ là Thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa.
Bấy giờ, Maria nói:
-Vâng, tôi đêy là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói . (Lc.1,28-38).

Với hai tiếng “ xin vâng ” của Đức Mẹ, Ngôi Hai đã nhập thể. Thiên Chúa đã làm người để cứu chuộc con người, Thời cứu độ đã đến. Ơn cứu độ được ban phát cho loài người. “ Thấp hèn đã được cao cả lãnh lấy, yếu đuối được sức mạnh đón nhận và tử tất được vĩnh cửu tiếp nhận. Để trả nó cho loài người chúng ta, bản tính bất toại đã liên kết với bản tính khả thụ, khiến ”. Vị Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người, tức con người Giêsu Kitô vừa có thể chết theo bản tính loài người, vừa không thể chết theo bản tính Thiên Chúa, làm cho việc cứu chữa chúng ta hoàn toàn thích hợp.

*Quyết tâm: Noi gương Đức Mẹ, tôi sẵn sàng cộng tác với Chúa trong việc cứu rỗi linh hồn anh chị em đồng bào, đồng loại bằng sự vâng lời, bằng lời cầu nguyện và sự hy sinh hãm mình hằng ngày.

Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã muốn cho Ngôi Lời của Chúa mặc lấy xác phàm trong lòng Đức Trinh nữ Maria để cứu độ loài người. Nay chúng con tuyên xưng Đấng Cứu độ là Thiên Chúa thật và là người thật. Xin cho chúng con cũng được thông phần bản tính Thiên Chúa của Người.
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster:
tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle

Home Page
Trở về đầu trang


Mừng Thọ 100 tuổi
Đức Cha Antôn
Nguyễn Văn Thiện
Nguyên Giám Mục
Giáo Phận Vĩnh Long

Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:
pettham@gmail.com
Đôi dòng giới thiệu
Tin Giáo Hội toàn cầu và Giáo Phận
Mục vụ
Suy niệm Lời Chúa
Phụng Vụ
Giáo Lý Công Giáo
Truyền Giáo
Thánh Nhạc
Các Trung Tâm Hành Hương
Bác ái - Xã hội
Tài liệu nghiên cứu
Miền Tây Nam Bộ
Nụ cười bằng mười thang thuốc bổ
Liên kết Web

 

Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics