PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG 02

Tháng 01 I Tháng 02 I Tháng 03
Tháng 04 I Tháng 05 I Tháng 06 I Tháng 07
Tháng 08
I Tháng 09 I Tháng 10 I Tháng 11 I Tháng 12

 

THÁNG HAI

Ngày 2 tháng 2
DÂNG CHÚA GIÊ-SU VÀO ĐỀN THÁNH

Ngày lễ hôm nay có hai ý nghĩa: thanh tẩy Đức Maria và dâng Chúa Giêsu vào đền thánh theo luật Môsê dạy. Theo luật này, người nữ sau khi sinh con thì bị nhơ uế 40 ngày nếu sinh con trai, 80 ngày nếu sinh con gái. Trong thời gian bị ô uế như thế, họ không được phép vào đền thờ, cũng chẳng được chạm đến vật thánh. Sau thời gian đó , họ phải đến đền thờ để được thanh tẩy. Khi đi, họ phải mang theo một con chiên nếu là nhà giàu, còn nhà nghèo thì một cặp chim gáy hay bồ câu non để làm của lễ. Ngoài ra, để ghi nhớ ngày vượt qua khỏi nước Aicập: các con đầu lòng của người Aicập bị giết chết, còn các con của người Do thái được cứu sống, luật này còn dạy các con đầu lòng của loài người cũng như của loài vật phải dâng hiến cho Thiên Chúa: “Hãy dâng cho Ta tất cả các con đầu lòng cả của người cả của vật trong dân Israel. Hết thảy chúng thuộc về Ta”

Ông Môsê bảo dân rằng: “Các ngươi hãy nhớ lấy ngày ra khỏi nước Aicập, được ra khỏi cảnh nô lệ, vì Thiên Chúa đã dùng bàn tay quyền năng mình mà đưa các người ra khỏi đất ấy. Khi nào Thiên Chúa đưa các người vào đất Canaan như Chúa đã thề hứa cùng các người và cùng cha ông chúng ta, và khi Chúa đã ban cho các người đất ấy rồi, các người hãy dâng cho Chúa các con trai đầu lòng của các ngươi cũng như các con đực của gia súc. Chúng sẽ thuộc về Chúa.

Khi con cháu hỏi các người về ý nghĩa của việc này, các người sẽ trả lời rằng: Vì Thiên Chúa đã dùng bàn tay quyền năng mình đã đưa chúng ta ra khỏi nước Aicập, ra khỏi đất nô lệ. Vì vua Pharaô cố tình không cho chúng ta đi, Thiên Chúa đã giết chết các con trai đầu lòng người Aicập, từ con loài người đến con loài vật. Vì thế, nay ta dâng Chúa tất cả các con đực đầu lòng của gia súc, và ta phải chuộc các con trai đầu lòng của con cái ta. Nghi thức ấy phải coi như khắc vào tay các người, vì Chúa đã dùng bàn tay quyền năng mình mà đưa chúng ta ra khỏi nước Ai-cập” (Xh, 13,1-3,11-16)

Khi đã sinh ra Chúa Giêsu đủ 40 ngày, Đức Maria và thánh Giuse đem hài nhi Giêsu lên Giêrusalem tiến dâng cho Thiên Chúa; và dâng một cặp chim gáy để thanh tẩy cho Mẹ Maria. Thánh sử Luca đã thuật lại việc dâng tiến Chúa hài nhi và thanh tẩy Mẹ Maria như sau:

“Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các Ngài, theo luật Môsê, bà Maria và Ông Giuse đem con lên Giêrusalem để tiến dâng cho Thiên Chúa như đã chép trong luật của Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh dành cho Chúa, và cũng để dâng của lễ theo luật Chúa truyền là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non”( Lc.2,22-24)

Thật ra, Mẹ Maria hoàn toàn thanh sạch, và Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa thì không buộc phải giữ luật này. Nhưng vì lòng khiêm tốn và để nêu gương trung thành tuân giữ luật Chúa cho chúng ta, Đức Mẹ và thánh Giuse đã đem Chúa Hài Nhi tiến dâng cho Đền thánh .

Lễ này còn gọi là lễ nến, vì có cuộc rước nến cháy sáng trước thánh lễ, do Đức Giáo Hoàng Sét-gi-ô I thêm vào. Nến ám chỉ Chúa Giêsu là ánh sáng như lời thánh Giám mục Xôphơnôriô đã nói:

“Chúng ta mang nến cháy. Trước hết là để chứng tỏ thiên tính sáng láng của Đấng đang đến. Người làm cho muôn vật rực sáng và dẹp tan mọi tối tăm ác hại. Người làm cho tất cả được chan hoà ánh sáng vĩnh cửu. Và nhất là cũng để chứng tỏ khi đưa đón Chúa Kitô, tâm hồn chúng ta phải sáng lên như thế nào.

Quả vậy, cũng như Thánh Mẫu Thiên Chúa đồng trinh vẹn tuyền đã ẵm ánh sáng thật trong tay, đến cùng những kẻ đang ngồi trong bóng tối thế nào, thì chúng ta cũng vậy, chúng ta phải được Ngài soi sáng cho và phải cầm nến cháy sáng trước mặt mọi người, để đi đón Đấng thật là sự sáng.

Thật vậy, ánh sáng đã đến trong thế gian và đã chiếu soi thế gian đang chìm đắm trong tối tăm. Mặt trời từ nơi cao đã đến viếng thăm chúng ta và chiếu soi cho những kẻ đang ngồi trong tối tăm. Thế nên, mầu nhiệm hôm nay thật là của ta. Nên ta phải cầm nến sáng mà đi đón; ta phải cầm nến sáng mà đi rước để nói rằng sự sáng đã mọc lên cho chúng ta. Đồng thời cũng nói lên sự rực rỡ mà ánh sáng đó đã đem lại cho chúng ta. Thế nên, chúng ta hết thảy hãy cùng đi đón Chúa”.

Hôm nay, Hội Thánh làm phép nến và phân phát cho giáo dân rước kiệu vào thánh đường để tôn kính Chúa Giêsu là ánh sáng muôn dân. Những cây nến đã làm phép này được cất giữ trong mỗi gia đình, để dùng trong những lúc có người trong gia đình lãnh nhận những bí tích sau hết.

* Quyết tâm: Noi gương thánh Giuse và Mẹ Maria, tôi hết lòng tuân giữ luật Chúa, hăng hái đón rước Chúa là Ánh Sáng soi rọi tâm hồn tối tăm của tôi. Và hằng ngày hiến dâng mọi người trong gia đình cho Chúa.

* Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Con Một Chúa đã mang kiếp người phàm, và hôm nay được hiến dâng trong đền thánh. Chúng con khiêm tốn nài xin Chúa cho tâm hồn chúng con cũng nên trong sạch, hầu xứng đáng dâng mình trước tôn nhan.

***

* Thánh Gioan Tê-ô-phan Ven - Linh mục tử đạo.

* Gương Thánh Nhân:
Trong sách “Một tâm hồn”, thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã ca ngợi thánh Tê-ô-phan như sau: “Cha Tê-ô-phan Ven là một Đấng Thánh nhỏ. Cha có cuộc đời giản dị, Cha kính mến Đức Mẹ Đồng Trinh lắm, và tình lưu luyến gia đình của cha không thể tả”

Cha thánh Tê-ô-phan Ven sinh tại Pháp, ngày 21 tháng 11 năm 1829, thân phụ là Gioan Ven và thân mẫu là Maria Ghê-rê.

Nhờ gương sáng của cha mẹ và ảnh hưởng đạo đức của gia đình, ngay từ nhỏ cậu Ven đã có lòng kính mến Chúa và tôn sùng Đức Mẹ cách đặc biệt, nhất là cậu ước muốn dâng mình giúp việc giảng đạo Chúa. Thấy cậu ước muốn điều tốt lành như thế, cha cậu rất vui mừng. Ông gửi cậu học tiếng La tinh với cha xứ, để chuẩn bị vào chủng viện.

Năm lên 14 tuổi, cậu đang tu học thì nghe tin mẹ qua đời, cậu hết sức buồn sầu thương tiếc mẹ, muốn bỏ dở học hành. Nhưng nhờ cha và người chị khuyên bảo khích lệ, cậu vượt qua được cơn thử thách, tiếp tục lo bề tu luyện.

Sau khi học xong môn triết ở Morillon, Thầy Ven được chuyển đến giáo phận Poitiers , để học tiếp môn thần học vào tháng 10 năm 1848. Trong thời gian ở đây, thầy được ơn Chúa soi sáng, muốn đi truyền giáo ở các xứ xa. Thế nên sau khi chịu chức phó tế, thầy đã xin gia nhập Hội Thừa Sai giáo phận. Vào năm 1852, thầy đã được Đức Cha Pi-ô phong chức linh mục. Từ đó, hằng ngày vị tân linh mục này luôn thao thức được đi rao giảng đạo.

Và cha cũng được toại nguyện. Bề trên đã chấp thuận gởi cha đi giảng đạo ở Việt nam. Ngày 23 tháng 9 năm 1852, cha xuống tàu đi đến Hồng Kông, để chờ dịp sang Việt Nam . Trong khi ở đây chờ đợi, cha học thêm tiếng Hán.

Ngày 13 tháng 7 năm 1854, cha Ven đã đến Việt Nam tại cửa Cấm, và được toà giám mục Vĩnh Trị tiếp đón long trọng. Sau một thời gian học tiếng Việt, cha được Đức Giám mục chọn làm giáo sư chủng viện. Lúc đó Đức Cha Liêu đang ở đó; ngài phụ trách giáo phận Tây Đàng ngoài.

Tình hình cấm đạo lắng dịu chưa được bao lâu thì năm 1856, vua Tự Đức ra chỉ thị bắt đạo gắt gao. Chủng viện phải giải tán. Đức cha và các cha phải ẩn trốn nay đây mai đó, để tránh nguy hiểm cho đoàn chiên, nhất là để ban các bí tích, và động viên các giáo hữu tuyên xưng đạo Chúa. Cha Ven chịu khó len lỏi đi đó đây giảng đạo, và giúp đỡ giáo dân đến ngày 30 tháng 11 năm 1860 thì bị bắt, Và ngày 4 tháng 12, người ta nhốt cha vào cái củi hẹp có 8 người khiêng giải về Hà Nội.

Khi quan án hỏi; - Anh đến nước này để làm gì?

Cha thẳng thắn trả lời: - Tôi đến đây để giảng đạo thật là đạo Chúa.
- Ai sai anh đến đây?
- Không phải vua quan nước Pháp đã sai tôi đi, nhưng Bề trên trong đạo đã gởi tôi đến đây để truyền giáo.

Quan án hỏi: - Hãy đạp lên thánh giá, anh sẽ thoát chết.
- Tôi đã suốt đời giảng đạo Thánh giá, sao tôi làm như thế được.

Thế là cha bị kết án trảm quyết. Và ngày 2 tháng 2 năm 1861, cha đã bị chém chết tại pháp trường cầu Giấy (Hà Nội); đầu cha bị bêu lên cây 3 ngày rồi thả trôi sông.

Đức Thánh Cha Pi-ô X tôn cha lên bậc Chân phước ngày 2 tháng năm 1909. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nâng cha lên hàng Hiển thánh.

* Quyết tâm: Noi gương thánh Tê-ô-phan Ven linh mục tử đạo, hằng ngày tôi lo giảng đạo Chúa bằng lời cầu nguyện, việc hãm mình, lời nói, gương lành, và sẵn sàng hy sinh mọi sự vì Chúa và vì phần rỗi các linh hồn.

* Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo Hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Chúa và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 3 tháng 2
THÁNH BLA-SI-Ô . Giám mục tử đạo

* Gương Thánh Nhân: Thánh Bla-si-ô là một trong những vị thánh được dân chúng mến mộ nhất, vì ngài luôn bầu cử cứu giúp những ai kêu cầu ngài. Ngài là một thầy thuốc tài giỏi, nhưng không bao giờ chữa bệnh mà không cầu nguyện với Chúa trước. Ngài thường nói với bệnh nhân: Tôi trị bệnh, nhưng chính Chúa chữa lành. Ngoài ra, ngài còn là một Kitô hữu đạo đức, thánh thiện nên được chọn làm Giám mục Sê-bát-ta, miền At-mê-ni. Trong thời gian làm Giám mục, ngài luôn chuyên cần giảng dạy đoàn chiên, đặc biệt ngài làm gương sáng cho mọi người. Đó là bài giảng hùng hồn nhất của ngài.

Gương sáng nổi bật nhất của thánh nhân là sẵn sàng hy sinh phục vụ mọi người, nhất là những người nghèo khổ, bệnh hoạn, tật nguyền. Ngài thực hiện đúng Lời Chúa Giêsu nói: “Ta đến, không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và nên giá cứu chuộc mọi người”, và Lời: “Ai muốn là người lớn nhất trong các con phải trở nên tôi tớ các con”

Nhưng rồi thánh nhân lại từ chức Giám mục, lên núi tu luyện một mình. Ở đó, ngài ăn chay cầu nguyện và làm bạn với thú rừng. Tương truyền, hằng ngày chúng tụ họp quanh ngài: như để chầu chực ngài, nhất là để ngài chữa cho khỏi bệnh tật.

Năm 315, vua Lu-xi-a-nô bắt đạo dữ dội. Người ta vào rừng tìm những con thú dữ để xé xác những Kitô hữu không chịu chối đạo. Họ gặp cả những bầy sư tử, cọp, hùm, sói đang vây quanh một người. Họ hoảng hồn chạy về báo tin cho triều đình. Thế là nhà vua sai quân lính đến bắt thánh nhân.

Trước mặt vua, Bla-si-ô tự xưng mình là người tin theo Chúa. Và dù bị đánh đập nhừ tử, ngài vẫn vui lòng chịu khổ vì Chúa. Ngài nói với lý hình: - Tôi coi các cực hình này như không, vì nó chỉ hành hạ tôi trong giây lát, còn phần thưởng Chúa ban cho tôi thì đời đời.

Thấy không lay chuyển nổi lòng tin mạnh mẽ của thánh nhân, vua ra lệnh chém đầu để kết thúc đời ngài vào năm 316.

* Quyết tâm: Tôi quyết noi gương thánh Bla-si-ô, sẵn lòng hy sinh phục vụ mọi người, và chịu mọi gian lao khốn khó mau qua ở đời này, để đời sau được thưởng muôn đời.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, nhờ thánh Bla-si-ô tử đạo chuyển cầu, xin nghe tiếng dân Chúa nài van mà ban ơn phù trợ, để chúng con sống bình an trong cuộc đời hiện tại và mai ngày đạt tới phúc trường sinh.

***

Hôm nay, Hội thánh cũng mừng lễ thánh An-ga-ri-ô Giám mục.

Thánh nhân sinh tại Pi-các-đi, năm 801, trong một gia đình viên chức triều đình.

Lớn lên, An-ga-ri-ô được gởi học tại tu viện Cô-bi. Cậu say mê học các môn phần đời đến nổi bỏ bê các môn giáo lý thần học và chểnh mảng cả việc đạo đức. Nhưng một biến cố bất ngờ xảy ra khiến cậu hối tâm suy nghĩ và sửa đổi đời sống; đó là cái chết của vị vua nổi tiếng danh vọng giàu sang nhất lúc đó. Cái chết của nhà vua làm cho cậu thấy rõ mọi vinh hoa phú quý ở đời đều mau qua, chóng mất; và không có gì tồn tại trên thế gian này. Thế là cậu quay lại tìm vinh hiển bền vững nơi Chúa. Cậu chăm lo học biết Chúa và tập rèn nhân đức, và xin gia nhập dòng thánh Be-ne-đi-tô.

Sau khi thụ phong linh mục, thánh nhân vừa làm giáo sư thần học trong dòng vừa giảng đạo cho lương dân. Và khi vua nước Đan Mạch xin người đến rao giảng Tin Mừng cho nước ông, ngài được chọn đi với một tu sĩ của dòng. Hai nhà truyền giáo trẻ tuổi này hoạt động hăng say đắc lực, đem nhiều người trở lại với Chúa. Hằng ngày, ngài đi rảo các làng mạc thôn xóm, rao giảng Chúa cho mọi người và ban các Bí tích cho họ. Ngài chính là vị tông đồ được Chúa chọn và sai đi giảng dạy muôn dân, như lời Công đồng chung Vatican II: “Dù mọi môn đệ Đức Kitô đều có bổn phận góp phần vào công cuộc gieo vãi đức tin, nhưng Chúa Kitô luôn gọi trong số các môn đệ Người những kẻ chính Người muốn, để họ ở với Người và để Người sai đi giảng dạy muôn dân. Vì thế, nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng tuỳ ý ban phát các đặc sủng để mưu lợi ích chung, Đức Kitô linh ứng ơn kêu gọi truyền giáo trong tâm hồn từng cá nhân, đồng thời thúc đẩy trong Hội thánh có những tổ chức đảm nhận nhiệm vụ truyền bá Tin Mừng của toàn thể Hội thánh như một bổn phận của riêng mình”.

Thánh nhân luôn coi việc giảng đạo là bổn phận Chúa phú giao. Ngài đem hết tài đức, sức lực Chúa ban để mở mang đạo Chúa, không kể gì gian nan khổ cực. Chẳng màng chi danh vọng chức tước, ngài chỉ mong sao cho danh Chúa cả sáng, nước Cha trị đến.

Sau khi chu toàn sứ mạng rao giảng đạo Chúa tại Đan Mạch, thánh nhân trở lại Pháp, và được nhà vua chọn làm Tổng Giám mục giáo phận Ham-bua năm 832. Ngài xây cất nhà thờ chánh toà và thành lập tu viện tại đây.

Ngày 3 tháng 2 năm 865, thánh nhân qua đời đang khi còn mong ước làm nhiều việc khác giúp ích cho Hội thánh.

* Quyết tâm: Noi gương thánh An-ga-ri-ô, hằng ngày lo tìm kiếm hạnh phúc vinh hiển bền vững trên trời, bằng cách siêng năng làm tôi Chúa, giúp việc giảng đạo Chúa.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã sai thánh An-ga-ri-ô Giám mục đem ánh sáng tin mừng đến cho các dân tộc Bắc Au. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, mà ban cho chúng con được bước đi luôn mãi trong ánh sáng chân lý của Chúa.

Ngày 5 tháng 2
THÁNH A-GA-TA . Trinh nữ tử đạo.

* Gương thánh nhân: Thánh nữ A-ga-ta sinh tại Xi-ci-li-a, nước Ý, khoảng năm 230, trong một gia đình giàu sang quý phái và đạo đức.

Ngay từ nhỏ, A-ga-ta đã được cha mẹ dạy đạo lý và tập rèn sống đạo. Nhờ đó, thánh nữ sớm được lòng tin mạnh mẽ và tâm hồn hướng về đàng lành. Nhờ ơn Chúa soi sáng, ngài đã khấn giữ mình đồng trinh, dâng trọn tình yêu cho Chúa, quyết chí yêu mến một mình Chúa suốt đời.

Xảy ra lúc đó, Hoàng đế Đê-ci-ô ra sắc chỉ cấm đạo; truyền cho các quan cận thần truy nã lùng bắt những người tin Chúa, thờ Chúa, cúng thần thì bị ngục tù, tra tấn và giết chết.

Ở Xi-ci-li-a có quan Quin-ti-a-nô. Ông ta là một con người ham danh háo sắc. Nghe biết A-ga-ta là một thiếu nữ xinh đẹp, giàu có, ông ta liền cho bắt trinh nữ và giao cho một mụ chứa tàn ác dụ dỗ ngài từ bỏ nếp sống trinh tiết. Nhưng sau nhiều lần quyến rũ, ngăm đe mà không hiệu quả, mụ chủ chứa giao trả ngài lại cho Quin-ti-a-nô.

Quin-ti-a-nô tìm đủ mọi cách rù quến thánh nữ, nhưng cũng vô hiệu. Cuối cùng, ông ta giận dữ, cho tra tấn hành hạ ngài một cách hết sức dã man, và ném vào lò lửa cho chết cháy. Nhưng Chúa đã gìn giữ thánh nữ, nên ông ta truyền nhốt vào ngục thất cho đến chết.

Thánh nữ đã chết rũ tù ngày 5 tháng 2 nắm, để lại gương trinh khiết vẹn toàn cho muôn thế hệ, như lời thánh Giám mục Mê-tô-đi-ô quả quyết:

“Anh em thân mến, như anh em biết, ngày lễ thánh A-ga-ta hôm nay đã họp chúng ta lại đây. Ngài là thánh tử đạo rất xưa, có lẽ ngay từ đầu nữa, nếu xét về cuộc chiến đấu hiển hách của ngài; nhưng ngài lại là thánh tử đạo của thời ta, vì dường như ngài vẫn đang còn chiến thắng, nếu xét về các phép lạ ngài làm hằng ngày vẫn xảy ra để tăng thêm và hoàn tất sự vẻ vang của ngài.

Vậy chính người trinh nữ ấy đã mời anh em đến đây tham dự Tiệc thánh này. Ngài là người đã đính hôn với vị Hôn phu duy nhất là Đức Kitô. Nếu ta muốn dùng lại những từ ngữ của thánh Phaolô và lấy lại kiểu so sánh của ngài với tình yêu phu phụ.

Nhờ việc luôn cầm trí, ngài không ngớt suy niệm và chiêm ngắm sự chết của vị Hôn phu yêu mến của ngài, dường như ngài vừa đổ máu ra vậy. Thế nên cái áo tử đạo mặc cho ngài đã mang vết máu không hề phai của Đức Kitô, mà màu máu đỏ còn thắm sâu vào ngài. Ngoài ra ngài còn muốn thông đạt lại cho hậu thế kho tàng của khoa hùng biện trinh khiết ở nơi mình, với tất cả vẻ duyên dáng tế nhị của nó khi lời ngài tuôn ra vô tận.

Sự tốt lành của thánh A-ga-ta hợp với tên ngài và với chính ngài. Thánh A-ga-ta nổi danh vì các việc hiển hách của mình. Tên ngài cũng nói lên các việc hiển hách ấy. Ngay tên thánh A-ga-ta cũng mời gọi người ta đến với ngài. Ngài còn dùng gương sáng dạy dỗ người ta. Vậy xin mọi người đừng trì hoãn nữa. Hãy cùng với ngài tiến thẳng lên sự thiện tuyệt đối của chính Thiên Chúa”.

* Quyết tâm: Noi gương thánh trinh nữ A-ga-ta, tôi quyết giữ mình thanh sạch, trong trắng hằng ngày, dù có gian nan thử thách cũng một lòng trung kiên bền đỗ, giữ mình sạch tội cho đến chết.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, thánh nữ A-ga-ta đã luôn làm đẹp lòng Chúa, vì vừa sống cuộc đời kiên trinh vừa can trường hy sinh tử đạo. Xin nhận lời thánh nữ chuyển cầu, mà ban cho chúng con được ơn tha thứ.

Ngày 6 tháng 2
THÁNH PHAO-LÔ MI-KI . Và các bạn tử đạo

* Gương thánh nhân: Ngày 15 tháng 8 năm 1549, thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê đem tin Mừng đến cho người Nhật. Và 40 năm sau, đã có trên 200 ngàn người tin theo Chúa. Nhưng ma quỉ không chịu thua. Chúng tìm cách lôi các linh hồn về phía chúng.

Một cuộc bắt đạo dữ dội xảy ra. Đó là năm 1597, vua Tai-cốt-mơ ra lệnh bắt giết hết những ai theo đạo Chúa, vì sợ những người này đồng loã với đế quốc Tây Ban Nha xăm lăng Nhật Bản. Số người bị bắt trước tiên gồm có 26 vị: 6 tu sĩ dòng thánh Phan-xi-cô, 3 tu sĩ dòng Tên và 17 giáo dân. Trong đó có 3 trẻ giúp lễ và Phao-lô Mi-ki, lúc đó 33 tuổi.

Nhà vua ra lệnh cắt tai, cắt mũi các ngài và đem đi đóng đinh vào thập giá tại Na-ga-sa-ki. Nhìn các ngài bị gông cùm, máu chảy dầm dề trên mặt, mọi người đều thương khóc thảm thiết!...

Một người đương thời đã thuật lại cuộc tử đạo của thánh Phao-lo- Mi-ki và các bạn ngài như sau:

“Sau khi chịu đóng đinh vào thập giá, các ngài tỏ ra kiên chí lạ thường. Hai cha Pa-xi-ô và Rô-tô-ri-ghết, mỗi người một bên, khuyến khích các ngài. Cha phụ trách giáo sở thì luôn yên lặng ngước mắt nhìn trời. Thầy Mac-ti-nô thì hát thánh vịnh để tạ ơn Chúa từ nhân, rồi thêm câu: Trong tay ngài, lạy Chúa… Cha Phan-xi-cô Bô-lan-cô cùng to tiếng tạ ơn Thiên Chúa. Còn thầy Cun-xan-cô thì đọc lớn tiếng kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng. Riêng thầy Phao-lô Mi-ki thấy mình ở trên một toà chưa từng có, bắt đầu nói với những người đang chứng kiến quang cảnh này rằng: Thầy là người Nhật, thuộc dòng Chúa Giêsu; thầy bị án tử hình này vì đã rao giảng Tin Mừng. Và thầy cám ơn Thiên Chúa đã ban cho mình ơn trọng như vậy. Rồi thầy nói thêm:

- Tôi đã đi đến hoàn cảnh này thì chắc không ai còn nghi rằng tôi còn dầu diếm sự thật. Vậy tôi xin tuyên bố với mọi người rằng: Không có đường lối cứu độ nào khác ngoài đường lối các Kitô hữu đang theo. Và vì đường lối đó dạy tôi phải tha thứ cho các cừu địch và cho kẻ làm hại mình, nên tôi rộng lòng tha thứ cho hoàng đế và cho mọi người làm tôi phải chết. Tôi xin họ hãy lãnh nhận phép Rửa tội của người kitô hữu.

Rồi quay nhìn các đồng nghiệp, ngài an ủi họ trong cơn chiến đấu cuối cùng này. Hân hoan hiện rõ trên gương mặt mọi người, đặc biệt trên gương mặt Lu-y, khi có người tín hữu nói với anh rằng: anh sắp được lên Thiên đàng; các ngón tay của anh và tất cả thân thể anh như muốn làm một cử động diễn tả một sự vui mừng sâu xa, khiến mọi người đứng xem đều quay mắt nhìn anh.

Anh An-tôn đứng ở cuối hàng, cạnh anh Lu-y. Mắt anh đăm đăm nhìn trời. Sau khi kêu tên Chúa Giêsu và Đức Mẹ, anh cất thánh vịnh: Hỡi trẻ thơ, hãy ca ngợi Chúa, mà anh đã học tại trường giáo lý Na-ga-sa-ki. Ở trường học công giáo đó, người ta vẫn dạy các em học thuộc thánh vịnh để hiểu về giáo lý.

Bấy giờ, bốn người lý hình tuốt lưỡi lê khỏi vỏ. Đó là thứ vũ khí người Nhật quen dùng. Thấy ghê quá, mọi Kitô hữu đều kêu lên “Giêsu, Maria”. Và tiếng khóc than lâm ly tiếp tục bay lên trời…Chỉ trong một thời gian rất ngắn, các lý hình đã làm xong công việc của họ đối với từng vị tử đạo, bằng một hai nhát lưỡi lê.

Thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn tử đạo đã được Đức Giáo Hoàng Pi-ô IX tôn phong hiển thánh năm 1826.

* Quyết tâm: Tôi cầu xin Chúa cho tôi và mọi người trong gia đình kiên trì giữ vững đức tin, can đảm hy sinh chịu khó vì Chúa, và sẵn sàng tha thứ cho kẻ bách hại mình.

Lời nguyện: Lạy Chúa là nguồn sức mạnh của các thánh, Chúa đã gọi thánh Phao-lô Mi-ki và các bạn bước lên thập giá mà vào cõi trường sinh. Xin Chúa thương nhậm lời các ngài cầu thay nguyện giúp, mà cho chúng con hằng can đảm tuyên xưng đức tin và trung thành giữ vững cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngày 8 tháng 2
THÁNH GIÊ-RÔ-NI-MÔ Ê-MI-LI-A-NI

* Gương thánh nhân: Thánh Giê-rô-ni-mô sinh tại Vê-ni-xi-a, nước Ý, trong một gia đình quý tộc đạo giáo.

Lúc đó, quê hương ngài bị giặc ngoại xâm. Ngài phải tòng quân, lên đường cứu nước như bao nhiêu thanh niên khác. Sống trong quân ngũ, ngài bị lây nhiễm thói xấu của đồng đội; sống cuộc đời phóng túng, trụy lạc. Nhưng một hôm ngài bị quân địch bắt, xiềng tay chân trong một trại giam chật hẹp dơ bẩn.

Trong cảnh ngục tù khổ nhục, ngài hồi tâm suy nghĩ và ăn năn sám hối, trở về với Chúa. Ngài cầu xin Đức Mẹ cứu thoát; và Đức Mẹ đã cứu ngài cách lạ lùng.

Được trở về Vê-ni-xi-a, ngài quyết chí theo gương Chúa, sống đời bác ái yêu thương, đặc biệt giúp đỡ các trẻ mồ côi và người nghèo khổ. Để thực hiện ý tưởng cao đẹp đó, ngài xin vào chủng viện học tập và trau giồi đức hạnh. Năm 37 tuổi, ngài được thụ phong linh mục, và hiến thân làm việc bác ái, từ thiện. Ngài quy tụ các trẻ bị bỏ rơi, nuôi dưỡng giáo dục chúng nên con hiếu thảo của Chúa. Đồng thời lo thương giúp những người bệnh tật, nghèo khổ. Ngài bán hết gia tài của cải cha mẹ và thân nhân cho. Nhưng không đủ vào đâu để lo cho họ. Ngài đến gõ cửa các nhà hảo tâm. Những người này thấy ngài hết lòng bác ái hy sinh thì sẵn sàng trợ giúp. Với tiền của người ta giúp đỡ, ngài xây cất nhà mồ côi, trại dưỡng lão và trường học. Thế là ngài có tạm đủ cơ sở vật chất để chăm sóc người nghèo và dạy dỗ trẻ mồ côi, trẻ lang thang bụi đời.

Còn một khó khăn nữa, thánh nhân một mình quán xuyến công việc, không ai cộng tác. Ngài cần người thành tâm thiện chí giúp đỡ trợ lực. Ngài cầu nguyện xin Chúa soi sáng giúp đỡ. Và Chúa đã nhận lời ngài; ngài thành lập Dòng Tôi tớ phục vụ người nghèo. Ngài ra công huấn luyện họ.. Và họ tận tình phụ giúp ngài trong mọi công tác.

Xảy ra nạn bệnh dịch tàn phá xứ sở, ngài hết lòng chăm sóc những người mắc bệnh hiểm nghèo này. Ngài đến tận nhà những người mắc bệnh; săn sóc thuốc men cho họ; chôn cất những người chết, đến nỗi ngài phải lây nhiễm bệnh. Trong lúc bệnh hoạn nguy hiểm, ngài khuyên nhủ các tu sĩ trong dòng tin tưởng Chúa, trung thành theo sứ mạng bác ái tông đồ như ngài đã thực hiện. Ngài nói:

- Anh em rất thân mến trong Chúa Kitô, và các con thân mến trong dòng Tôi tớ phục vụ người nghèo. Cha gởi lời thăm chúng con. Cha khuyên chúng con kiên nhẫn trong tình yêu mến Chúa Kitô và trung thành giữ luật Kitô giáo. Khi ở với chúng con, cha đã dùng lời nói, việc làm tỏ ra như vậy, để cha có thể ca ngợi Chúa trong chúng con.

Cùng đích của ta là Thiên Chúa. Người là nguồn mọi sự lành. Và như ta vẫn đọc trong kinh, ta chỉ được tin tưởng ở Ngài mà thôi, chứ không được tin tưởng vào ai khác. Chúa chúng ta rất tốt lành. Người muốn thêm đức tin cho chúng ta (vì theo tác giả Tin Mừng, nếu người ta không có đức tin, Đức Kitô không thể làm được nhiều phep lạ). Người muốn nhận lời chúng con cầu xin. Thế nên, Người đã quyết định rằng chúng con phải đón tiếp người nghèo khó, người bị áp bức, người bị sầu khổ và kiệt sức, người bị mọi người khinh bỉ và cả những người thiếu sự hiện diện thể xác (chứ không thiếu sự hiện diện tinh thần) của cha là người cha hèn hạ, yêu quý và hiền hoà của các con.

Thánh nhân qua đời ngày 8 tháng 2 năm 1537, thọ 56 tuổi. Và năm 1767. ngài được tôn phong Hiển thánh, và được Đức Giáo Hoàng Pi-ô XI chọn làm thánh bảo trợ các trẻ mồ côi.

* Quyết tâm: Noi gương thánh Giê-rô-ni-mô, tôi quyết tâm ăn năn trở lại mỗi khi lầm lỗi, và suốt đời thương yêu giúp đỡ kẻ mồ côi, người bệnh tật, vì lòng mến Chúa yêu người.

* Lời nguyện: Lạy Chúa là Cha giàu lòng thương xót, Chúa đã ban cho các trẻ mồ côi một người cha và là một người bảo trợ là thánh Giê-rô-ni-mô. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, mà cho chúng con trung thành giữ tinh thần nghĩa tử, nhờ đó, chúng con xứng danh là con cái Chúa.

Ngày 10 tháng 2
THÁNH CÔ-LÁT TI-CA . Trinh nữ

* Gương thánh nhân: Thánh Cô-lát-ti-ca là em ruột của thánh Biển-đức, sinh tại Sa-bi-na, miền Nu-xi-a, năm 480.

Ngay từ lúc nhỏ, thánh nữ đã được cha mẹ chỉ bảo đàng nhân đức. Và lớn lên,được thánh Biển Đức chỉ bảo thêm, nên ngày càng trở nên thánh thiện. Không giống như những thiếu nữ đồng lứa tuổi, ngài khinh thường sắc đẹp, của cải, danh vọng. Ngài đã từ khước lời cầu hôn của nhiều chàng trai sang trọng, giàu có để chỉ sống khắn khít với Chúa, hiến dâng trọn tâm hồn thể xác cho Người. Ngài rất thích nghe người anh thánh thiện dạy bảo đàng trọn lành, nên đã đến lập tu viện ở gần anh ngài, để nhờ anh hướng dẫn cho ngài cũng như các trinh nữ trong dòng. Nhưng thánh Biển Đức phải lo huấn luyện các tu sĩ của mình, nên hai anh em chỉ gặp nhau mỗi năm được có một lần vào đầu mùa chay.

Mỗi lần gặp nhau, hai anh em bàn luận về đời sống nội tâm, về các nhân đức và nhất là về cuộc đời thánh hiến. Và các ngài gặp nhau lần sau hết năm 543. Chúng ta hãy nghe thánh Giê-gô-ri-ô Cả thuật lại cuộc gặp mặt giữa hai anh em thánh thiện này trong lần sau hết này tại Mon-tê Cát-xi-ô.

“Cô-lát-ti-ca là em ruột thánh Biển-đức. Ngài đã tận hiến mình cho Chúa toàn năng từ khi còn thơ ấu. Mỗi năm ngài đến gặp anh một lần. Và người của Thiên Chúa đã gặp em trong địa giới của tu viện, không xa cổng nhà dòng bao nhiêu.

Một hôm, theo thông lệ, người em đến thăm anh. Và người anh đã ra thăm em với các môn đệ. Cả ngày, họ cùng nhau chúc tụng Thiên Chúa và trao đổi với nhau những câu chuyện thánh thiện. Rồi khi đêm đến, họ cùng nhau dùng bữa. Mãi nói những chuyện thánh thiện như vậy, thì đêm đã khuya, người em tha thiết xin rằng: - Xin anh đừng bỏ em đêm nay; hãy nói cho đến sáng về những hoan lạc, về đời sống trên trời.

Nhưng anh đáp: - Sao em lại nói thế? Anh đâu có thể ở mãi ngoài tu viện được.

Thấy anh từ chối, người em liền bỏ tay xuống bàn, chấp lại rồi cuối đầu xuống trên đôi tay; cầu nguyện cùng Chúa toàn năng. Lúc vừa ngẩng đầu lên khỏi bàn, sấm chớp đã ầm ầm vang dội và một cơn mưa như trút đã đổ xuống. Thánh Biển Đức và các tu sĩ đi theo không tài nào nhấc chân được một bước ra khỏi nơi đang hội. Người của Thiên Chúa bấy giờ rầu rĩ phàn nàn rằng; - Xin Thiên Chúa toàn năng tha tội cho em. Em làm gì vậy?

Người đáp; - Em đã xin anh mà anh không chịu nghe, nên em đã xin Chúa và Chúa đã nghe lời em. Thôi, bây giờ nếu anh về tu viện, thì anh cứ để em ở lại một mình và về đi”.

Trước đây, ngài đâu có muốn ở lại. Nhưng bây giờ, bất đắc dĩ phải ở lại. Và thế là suốt đêm họ thức, tha hồ trao đổi và nói với nhau về đời sống thiêng liêng.

Việc ngài chịu thua một người đàn bà cũng chẳng có chi lạ, bởi như lời thánh Gioan viết: Thiên Chúa là Tình yêu, và xét cho đúng, ai yêu nhiều thì mạnh hơn.

Ba ngày sau, người của Thiên Chúa đang ở trong tu viện, ngước mắt lên trời, thì đã thấy linh hồn em mình ra khỏi xác, đi vào đền thánh trên trời, dưới hình một chim bồ câu. Ngài vui mừng vì em đã được vinh quang như vậy. Ngài hát nhiều thánh ca, thánh vịnh mà tạ ơn Thiên Chúa; rồi sai anh em đưa xác em về tu viện, chôn trong ngôi mộ ngài đã dọn sẵn cho mình.

Thế là dù sự chết cũng không ngăn cách được hai thân xác mà linh hồn luôn luôn chỉ là một trong sự kết hợp với Thiên Chúa”.

Đó là ngày thánh trinh nữ Cô-lát-ti-ca qua đời, ngày 10 tháng 2 năm 543.

* Quyết tâm: Noi gương thánh trinh nữ Cô-lát-ti-ca, tôi cầu nguyện với lòng tin, cậy, mến, để được Chúa nhận lời; và suốt đời sống kết hợp mật thiết với Chúa.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, hôm nay chúng con mừng lễ thánh Cô-lát-ti-ca. Xin cho chúng con theo gương người để lại, biết hết lòng mến yêu tôn thờ Chúa, và cảm nghiệm tình thương Chúa ngọt ngào.

Ngày 11 tháng 2
ĐỨC MẸ LỘ ĐỨC

Lộ Đức là một tỉnh nhỏ trong nước Pháp, nằm giữa dãy núi Py-rê nê và suối Ca-vơ. Nơi đây, Đức Mẹ đã hiện ra tất cả 18 lần với một trẻ nữ quê mùa, nghèo khó tên là Bê-na-đết. Mẹ hiện ra lần đầu tiên vào ngày 11 tháng 2 năm 1858.

Hôm đó, Bê-na-đết đi mót củi ở bờ suối Ca-vơ với mấy trẻ bạn. Bỗng cô nghe thấy có tiếng động. Nhìn về phía đó, cô thấy trong hang đá có một bà mặc áo trắng, thắc lưng xanh, mỗi bàn chân có một bông hồng vàng, đeo xâu chuỗi cũng màu vàng.

Bê-na-đét kể lại: “Khi thấy như vậy, tôi vội chùi mắt vì tưởng mình lầm. Rồi thọc tay vào áo, tôi thấy có chuỗi hạt. Tôi muốn giơ tay làm dấu thánh giá, nhưng không đưa nổi tay lên trán. Tay tôi rơi xuống. Còn hình Bà kia thì lại làm dấu thánh giá. Tay tôi run quá. Tôi thử làm dấu lại và làm được. Tôi bắt đầu lần chuỗi; hình kia cũng lần chuỗi của Bà, nhưng không hề máy môi. Tôi lần chuỗi xong thì hình kia cũng biến mất tức thì. Tôi hỏi hai đứa bạn nhỏ không thấy gì sao? Chúng bảo không. Và chúng hỏi tôi thấy gì vậy và buộc tôi phải nói cho chúng nghe. Tôi kể rằng tôi đã nhìn thấy một bà mặc áo trắng. Nhưng tôi không biết đó là cái gì; và không cho chúng được kể lại với ai. Chúng bảo tôi không nên trở lại đó nữa. Tôi bảo không. Đến ngày Chúa nhật, tôi trở lại lần thứ hai vì cảm thấy bị thúc đẩy ở trong lòng.

Đến lần thứ ba, Bà kia mới nói với tôi. Bà hỏi tôi có bằng lòng trở lại đây trong mười lăm ngày liên tiếp không. Tôi bằng lòng. Bà bảo tôi phải về nói với các linh mục xây một nhà thờ tại chỗ này. Rồi Bà bảo tôi phải đi uống nước ở suối. Tôi không thấy có suối nào cả, nên tôi đi uống nước ở sông Ga-vơ. Bà bảo tôi không phải ở đó, và Bà lấy ngón tay chỉ cho tôi chỗ nước suối. Tôi đến, nhưng chỉ thấy một chút nước bẩn. Tôi thò tay xuống nhưng không múc được. Tôi liền cào đất ra và tôi múc được nước. Nhưng tôi lại hắt đi ba lần; đến lần thứ tư, tôi mới dám uống. Thế rồi hình kia biến đi và tôi cũng ra về.

Trong mười lăm ngày liên tiếp, tôi đã trở lại đó. Ngày nào, tôi cũng thấy hình kia hiện ra, trừ một ngày thứ hai và một ngày thứ sáu. Bà nói đi nói lại với tôi rằng tôi phải thưa các linh mục xây cho Bà một đền thờ tại đây; tôi phải đến rửa ở suối nước và tôi phải cầu nguyện cho tội nhân trở lại. Nhiều lần tôi đã hỏi Bà là ai? Nhưng Bà chỉ cười. Rồi Bà bỏ tay xuống. Bà ngước mắt lên trời và bảo tôi: Bà là Đấng đầu thai vô nhiễm.

Trong khoảng thời gian mười lăm ngày đó. Bà nói với tôi ba điều bí mật, nhưng bắt tôi giữ kín, không được nói với ai, và cho đến nay tôi vẫn trung thành giữ như vậy.

Đó là những lần Đức Mẹ hiện ra với Bê-na-đết; bảo cô thưa với các linh mục xây đền thờ tại đó để kính Mẹ và cầu nguyện cho kẻ có tội ăn năn trở lại. Nhiều lần, cô hỏi Đức Mẹ là ai. Nhưng Mẹ không trả lời. Đến lần hiện ra sau cùng, Đức Mẹ mới xưng là Đấng vô nhiễm nguyên tội. Và Mẹ nói cho cô biết ba điều bí mật, nhưng dặn cô giữ kín.

Từ đó, hằng triệu người từ khắp nơi đến hành hương kính viếng Đức Mẹ tại Lộ Đức. Ở đó, có suối nước; nhiều người uống nước đó và cầu nguyện với Đức Mẹ thì được cứu giúp phần hồn phần xác. Đến nay, đã có 58 trường hợp được hội thánh công nhận là phép lạ.

* Quyết tâm: Vâng lời Đức Mẹ, hằng ngày tôi lo ăn năn đền tội và cầu nguyện cho người tội lỗi trở lại với Chúa.

* Lời nguyện: Lạy Chúa từ bi nhân hậu, ngày hôm nay, chúng con kính nhớ Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, là thánh mẫu của Con một Chúa. Xin nhận lời Đức Mẹ chuyển cầu mà ban ơn trợ lực, giúp chúng con là những kẻ yếu hèn được thoát vòng tội lỗi.

Thánh Phao-lô Lê Văn Lộc. Linh Mục tử đạo

* Gương thánh nhân: Phaolô Lê Văn Lộc sinh năm 1830, tại làng An Nhơn tỉnh Gia Định.

Cha mẹ cậu rất đạo đức sốt sắng, đã chuyên cần dạy dỗ đạo hạnh cho cậu ngay từ nhỏ. Nhờ đó, cậu hấp thụ được nền đạo lý sâu xa. Nhưng chẳng may cha mẹ mất sớm, cậu phải mồ côi ngay từ lúc mới lên 10 tuổi.

Cha sở trong họ thấy cậu tuy còn nhỏ mà có lòng đạo, siêng năng kinh lễ, tánh tình hiền hậu khiêm tốn thì nhận về nuôi. Và ít lâu sau, cha xin cho cậu nhập vào chủng viện Cái Nhum, để học tập làm linh mục. Thấy cậu tài năng đức hạnh, có thể sau này giúp ích nhiều cho Giáo Hội, năm 1843 Đức Cha Nghĩa đã gửi cậu sang Pê-năng học thần học.

Sau 9 năm học tập ở Pê-năng, thầy Phaolô Lộc được gọi về tập sự làm mục vụ. Thầy tận tâm giảng dạy giáo lý và huấn luyện chủng sinh là những kẻ tu học để làm linh mục. Ngày 7 thàng 2 năm 1857 thầy được thụ phong linh mục, và được bổ nhiệm làm giám đốc Tiểu chủng viện Thị Nghè ( Sàigòn).

Từ ngày lãnh chức vụ ấy, cha Phaolô Lộc càng nỗ lực hoạt động và cậy trông ơn Chúa giúp. Cha luôn luôn cầu nguyện và ân cần dạy dỗ các chủng sinh về trí dục nhất là đức dục. Cha sống gần gũi thân mật với họ, chăm sóc hướng dẫn họ mọi mặt, đặc biệt về đàng nhân đức trọn lành. Cha còn tập sự họ làm việc tông đồ; chính cha nêu gương cho họ, mỗi ngày dành ra một ít thời giờ đi giảng đạo cho những người ở xung quanh chủng viện. Cha đã đem nhiều người trở lại đạo.

Sau hơn một năm hăng say hoạt động. Cha đã giúp cho chủng viện phát triển, chủng sinh được huấn luyện chu đáo. Cha hy vọng sẽ có thêm số người giúp việc rao giảng đạo Chúa. Bỗng nhiên, tháng 7 năm 1858, mười bốn chuyến thuyền Pháp tiến vào Đà Nẵng, đỗ bộ lên Cửa Hàn, ủng hộ các linh mục thừa sai, kêu gọi người Công giáo hợp tác. Vua Tự Đức nghe biết thế thì tức giận, ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao. Vua truyền truy nã và giết hết người Công giáo, nhất là các Đạo trưởng, vì sợ họ cấu kết với thực dân xâm lược, chống lại tổ quốc, dân tộc.

Trước tình thế bắt đạo dữ dội như thế, Chủng Viện Thị Nghè phải giải tán, các chủng sinh phải di tản, các cha giáo phải ẩn trốn. Thế là cha con bùi ngùi chia tay nhau. Nhưng vì thương các chủng sinh, cha Phaolô không đành lìa xa họ. Cha muốn sống gần gũi họ, nâng đỡ họ, hướng dẫn họ trong lúc khó khăn. Cha nán ở lại Sàigòn, ngày ngày lén lút đến gặp các chủng sinh, huấn luyện họ, khuyến khích họ, chính vì thế mà cha bị bắt.

Một người nữ ngoại đạo biết cha là linh mục, đã tố cáo cha với quan. Quan liền cho quân lính theo dõi và bắt cha ngày 13 tháng 12 năm 1858.

Đầu năm 1859, quân lính Pháp thấy không thể đánh chiếm nổi Đà Nẵng, phần thì nhiều binh sĩ chết vì bệnh dịch tả, nên đã quay lại tấn công Sàigòn. Lúc đó cha Phaolô đang bị giam giữ ở đây. Các quan liền tâu vua cho trãm quyết cha.

Thế là ngày 13 tháng 2 năm 1859, cha Phaolô Lộc bị điệu ra pháp trường trãm quyết. Thi hài cha được giáo hữu đem về mai táng tại họ Chợ Quán. Hiện nay hài cốt thánh nhân được lưu giữ ở Vương Cung thánh Đường Sàigòn.

Ngày 2 tháng 5 năm 1909, Đức Thánh Cha Piô XII đã phong chân phước cho ngài. Và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên Hiển thánh ngày 19 tháng 6 năm 1988.

* Quyêt tâm: Hằng ngày lo giáo dục giới trẻ nên người và nên tông đồ Chúa, đồng thời sẵn sàng hy sinh chịu khó vì Chúa và vì phần rỗi các linh hồn, theo gương thánh Phaolô Lộc linh mục tử đạo.

*Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nậhn lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cúng.

* Thánh Lô-ren-sô Nguyễn Văn Hưởng . Linh mục tử đạo

* Gương thánh nhân:

“Phúc thay ai sầu khổ,
Vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” ( Mt 5,5 )

Đúng như lời Chúa phán, thánh Lô-ren-sô Hưởng đã gian nan khổ cực lúc nhỏ vì mồ côi cha mẹ; nhưng đã được Chúa an ủi, lớn lên được Chúa chọn làm linh mục và lãnh triều thiên tử đạo.

Lô-ren-sô Nguyễn Văn Hưởng sinh năm 1802 tại xứ Kẻ Sải (Hà nội), trong một gia đình nghèo khó. Ngay từ nhỏ cậu đã phải mồ côi cha mẹ, phải đi chăn trâu cho người chú ngoại giáo để sống nhờ cơm áo hằng ngày. Thấy cậu hiền lành siêng năng, người chú cũng thương yêu giúp đỡ, nhưng dù sao cậu cũng thấy buồn tủi vì thiếu vắng tình thương của cha mẹ. Và cậu đã biết chạy đến Chúa, để được hưởng nhờ tình yêu bao la của Người. Thật sự Chúa đã thương cậu, kêu gọi cậu dâng mình giúp việc Chúa. Cậu đến tỏ ý nguyện với cha sở xứ Sơn Miêng, và được cha nhận nuôi cho ăn học. Ba năm sau cha gởi cậu vào chủng viện Vĩnh Trị.

Giữa lúc đó, vua Minh Mạng lại ra sắc chỉ cấm đạo nghiêm nhặt, các linh mục phải ẩn trốn, chủng viện Vĩnh Trị bị giải tán. Cậu Hưởng phải lại trở về tá túc tại nhà người chú ngoại đạo. Ông khuyên cậu ở nhà lập gia đình. Nhưng cậu một mực từ chối, quyết chí theo Chúa trong lý tưởng tu trì, nên người chú tức giận đuổi cậu ra khỏi nhà. Cậu liền trở lại chủng viện ẩn náu và lén lút học hành.

Sau một thời gian học tập, cậu được nhận làm thầy giảng, và được Đức Cha sai đi giúp các họ đạo Kim Sơn, Bạch Bát. Thầy giúp ở các họ đạo này 8 năm. Lúc nào thầy cũng tận tuỵ làm việc bổn phận: giảng dạy giáo lý, chăm sóc các tân tòng, thăm viếng bệnh nhân. Sau đó thầy được Đức Giám mục gọi về học môn thần học và phong làm linh mục.

Sau khi thụ phong linh mục, cha Lô-ren-sô đến giúp các họ đạo Giang Sơn, Lạc Thổ, Bạch Bát. Ở đâu, cha cũng nhiệt thành trong việc mục vụ, chuyên cần giảng dạy giáo lý, siêng năng ngồi toà giải tội. Cha làm việc bất kể ngày đêm, nhiều lúc bỏ ăn bỏ ngủ để lo cho đoàn chiên Chúa.

Năm 1855, đang lúc cha đi kẻ liệt thì bị bắt. Hôm đó cha đi bằng thuyền, định đến giải tội xức dầu cho một tín hữu bệnh nặng, thì quân địch đuổi theo bắt cha, giải về tỉnh Ninh Bình. Được biết cha đi kẻ liệt, quan thắc mắc hỏi cha: - Người ta báo cáo với tôi: Các ông đi móc mắt các người bệnh. Tại sao các ông làm ác thế?

Cha giải thích: - Xin quan đừng nghe theo lời người ta đồn đại sai lạc. Chúng tôi không bao giờ móc mắt ai. Nhưng khi người công giáo bệnh nặng, chúng tôi đến xức dầu thánh trên mắt, mũi, tay chân họ, để xin Chúa tha các tội.

Quan bảo cha đạp lên Thánh giá để được tha chết. Nhưng cha đáp: - Chúng tôi không thể làm việc đó được, vì có bao giờ đứa con lại đạp lên ảnh ông bà cha mẹ mình.

Quan tức giận ra lệnh đánh đòn cha đến ngất xỉu, rồi đệ đơn xin vua kết án trảm quyết.

Nghe tin quan đệ đơn xin án trảm, cha rất vui mừng và tạ ơn Chúa, cha viết thư xin Đức Cha cầu nguyện cho cha được phước đổ máu ra làm chứng cho Chúa, và mãn nguyện. Ngày 27 tháng 4 năm 1856, quân lính điệu cha ra pháp trường để lãnh triều thiên tử đạo.

Đức Thánh Cha Piô X đã phong chân phước cho cha ngày 2 tháng 5 năm 1909. Và ngày 19 tháng 6 năm 1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong cha lên bậc Hiển thánh.

* Quyết tâm: Dù có phải buồn khổ cơ cực bao nhiêu cũng vững lòng trông cậy phó thác vào Chúa, vì tin chắc Chúa sẽ an ủi thưởng công, theo gương thánh Lô-ren-sô Hưởng linh mục tử đạo

* Cầu nguyện: Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại: luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng.

Ngày 14 tháng 2
THÁNH SY-RI-LÔ ĐAN-SĨ - THÁNH MÊ-TÔ-ĐI-Ô GIÁM MỤC

* Gương thánh nhân: Thánh Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô là hai anh em ruột, sinh tại Tê-xa-lô-ni-ca, trong một gia đình quyền quý đạo giáo.

Lớn lên, hai anh em theo học tại Công-tăn-ti-nốp. Và sau khi tốt nghiệp, các ngài đã chiếm địa vị cao trong xã hội. Nhưng các ngài đã từ bỏ hư danh trần thế, dâng mình đi tu làm linh mục, phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn.

Lúc đó, vua nước Mô-ra-vi mến mộ đạo Chúa, tin các vị thừa sai và mời vào nước giảng đạo. Hai anh em Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô biết tiếng Sla-vơ, nên được chọn đến rao giảng Tin Mừng cho nước này, Các ngài sốt sắng nhiệt thành rao giảng đạo Chúa, đem nhiều người trở lại đạo.

Để giúp họ dễ dàng học hỏi giáo lý và tham dự các Bí tích nhất là Thánh lễ, các ngài dịch Kinh Thánh và các bản văn phụng vụ ra tiếng Sla-vơ. Và vì họ chưa có chữ viết nên thánh Sy-ri-lô sáng tạo ra 38 chữ cái cho họ viết.

Nhờ đó, người theo đạo Chúa ngày càng đông, nhất là tham dự Thánh lễ đông hơn các nhà thờ hành lễ bằng tiếng Latin. Các linh mục theo La Ngữ thấy vậy thì tố cáo các ngài lạc đạo, buộc lòng các ngài phải đến Roma biện minh với Đức Giáo Hoàng.

Đức Giáo Hoàng chấp nhận bản dịch của các ngài. Nhưng trong lúc ở đó, thánh Sy-ri-lô lâm bệnh và qua đời, ngày 14 tháng 2 năm 869. Trước khi chết, ngài sốt sắng cầu xin Chúa gìn giữ đoàn chiên ngài đã dày công sáng lập, và cho Hội thánh đồng tâm nhất trí và lan rộng khắp nơi. Ngài cầu nguyện: - Lạy Chúa là Thiên Chúa con, Chúa đã dựng nên các phẩm thiên thần và các đạo binh thần trí vô hình; Chúa đã mở rộng bầu trời và đã đặt đất trên nền tảng vững vàng. Chúa đã kéo mọi vật từ vô hữu sang hiện hữu. Chúa luôn luôn nghe lời những người làm theo ý Chúa. Xin Chúa nhậm lời con nguyện và gìn giữ đoàn chiên trung thành này mà Chúa đã đặt con đây là kẻ bất xứng lên đứng đầu. Xin Chúa cứu họ khỏi lòng độc dữ và ngoại đạo của những kẻ hằng lộng ngôn tới Chúa; Xin Chúa làm cho Hội thánh thêm đông số và đoàn tụ tất cả nên một. Xin Chúa làm cho Hội thánh trở thành dân được chọn, đồng tâm nhất trí trong đức tin chân thật và giáo lý chân chính; xin Chúa đặt lời giáo huấn của Chúa vào lòng họ; vì chính nhờ ơn Chúa, chúng con đã được lãnh nhận sứ vụ rao giảng Tin Mừng của Đức Kitô, nhờ được khuyến khích làm các việc lành và mọi sự đẹp lòng Chúa.. Chúa dùng sức mạnh tay hữu Chúa mà hướng dẫn họ và cho họ nấp bóng Chúa, để mọi người ca ngợi Chúa và chúc tụng thánh danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen.

Đức Giáo Hoàng truyền cho mọi người Hy Lạp có mặt ở Rôma phải họp với dân thành Rôma cầm nến đi đưa đám ngài như có thói quen làm cho chính các vị Giáo Hoàng. Và mọi người đã làm như thế.

Còn lại thánh Mê-tô-đi-ô, ngài được Đức Giáo Hoàng phong chức Giám mục cai quản miền Mô-ra-vi và Pan-nô-ni.

Khi trở lại Mô-ra-vi, thánh nhân đã bị những người dâng lễ theo tiếng Latin bắt giam.. Và ngài đã qua đời tại đây ngày 6 tháng 4 năm 885.

* Quyết tâm: Noi gương thánh Sy-ri-lô và Mê-tô-đi-ô, hằng ngày lo giúp người dốt nát biết chữ, biết Chúa, và cầu nguyện cho Hội thánh là đoàn chiên Chúa ngày càng thêm đông số và hiệp nhất.

* Lời nguyện: Lạy Chúa, Chúa đã dùng hai anh em thánh Sy-ri-lô và thánh Mê-tô-đi-ô để đưa các dân tộc Xi-la-vô-ni-a tới ánh sáng Tin Mừng. Xin mở lòng chúng con đón nhận Lời Chúa dạy, và biến đổi chúng con thành dân riêng của Chúa, luôn đồng tâm nhất trí với nhau để sống đức tin chân thật và thẳng thắn tuyên xưng.

Ngày 17 tháng 2
BẢY THÁNH LẬP DÒNG TÔI TỚ ĐỨC MẸ

* Gương thánh nhân: Ngày 15 tháng 8 năm 1633, lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, ơn trên soi sáng cho bảy thương gia ở Phơ-lô-răng đến nhà thờ dự lễ. Đó là:

- Bon-fi-li Mê-đan-đi,
- Bê-nê-đi-tô An-ten-na,
- Giê-ra-đô Sết-tê-gai,
- Ba-tô-lô-mê-ô A-mi-đê,
- Gioan Ma-nết-ti,
- Ri-cô-vô Líp-pi,
- A-lê-xi-ô Phan-cô-ni.

Dịp lễ này, các ngài đã được Đức Mẹ thúc đẩy sống đời hoàn thiện. Bảy người đã bán hết của cải, bố thí cho người nghèo, rồi đến Môn-tê Sê-na-ri-ô, cùng sống khó nghèo, khắc khổ bằng của ăn xin hằng ngày. Các ngài chọn luật dòng thánh Âu-tinh và thành lập dòng “Tôi tớ Đức Mẹ” . Mục đích của dòng là rao giảng Chúa Giêsu chịu đóng đinh và sự thương khó của Mẹ Maria.

Một người tu dòng này kể lại công cuộc lập dòng như sau: Đó là bảy người rất đáng kính trọng mà Đức Mẹ kết hợp lại thành một nhóm bảy ngôi sao, vì họ hợp nhất nhau cả hồn xác. Ngài đã dùng họ để khởi sự dòng tôi tớ Ngài.

Khi tôi vào dòng, không ai trong số bảy người đó còn sống, trừ một người tên A-lê-xi-ô. Đức Mẹ đã muốn để anh sống đến bây giờ hầu chúng tôi có thể biết về nguồn gốc dòng tu nhờ anh kể lại. Như chính tôi đã kinh nghiệm và thấy tận mắt đời sống của anh A-lê-xi-ô bấy giờ, không những có sức khuyến khích người ta nhờ gương sáng, mà còn làm cho người ta nhận ra được đời sống trọn lành của anh, của các bạn đồng nghiệp với anh và của dòng.

Được Chúa soi sáng và được Đức Mẹ thúc đẩy cách đặc biệt, khi đã quyết định sống thành cộng đồng, các anh bỏ nhà cửa và gia quyến; để lại cho họ những gì là cần thiết, còn bao nhiêu thì phân phát cho kẻ nghèo. Rồi các anh tìm những người có ý kiến hay, có đời sống tốt, có gương sáng đẹp để bày tỏ dự tính mình cho họ.

Thế là anh em trèo lên đỉnh núi Sê-na-ri-ô, dựng một cái nhà nhỏ theo ý mình, rồi đưa nhau lên ở trên đó. Tại đây, anh em mới nhận ra rằng không những mình phải nên thánh mà cũng còn phải chiêu mộ đồng nghiệp để phát triển dòng mới mà Đức Mẹ đã dùng mình để khởi công. Thế nên, sau khi đã quyết định nhận thêm người, anh em đã rước thêm một ít người khác và làm cho dòng to lớn thêm. Tất cả mọi công việc ấy, trước là do Đức Mẹ dựng lên, sau là nhờ tinh thần khiêm nhường của anh em; thành tựu nhờ anh em đồng tâm nhất trí, và bảo tồn được nhờ đức khó nghèo.

Năm 1304, Đức Thánh Cha Biển Đức đã chính thức công nhận dòng của các ngài. Từ đó, nhà dòng đảm nhận công cuộc truyền giáo ở Ấn Độ và lập nhiều chi nhánh ở Anh quốc và Mỹ châu.

Nhà dòng đã chọn bốn đặc điểm sau đây làm quy luật sống:

Đặc điểm thứ nhất là về đời sống Hội Thánh: Cả bảy anh em đều nhất quyết giữ mình độc thân hoặc đời sống khiết tịnh trọn đời, mặc dầu có người chưa lập gia đình, người thì đã thành hôn, người khác lại đã thoát khỏi vướng bận phu thê vì lẽ bạn mình đã chết.

Điểm thứ hai liên hệ đến sự phồn vinh của thị xã: Là vì trong bảy anh em, người làm thương mại, kẻ trao đổi hàng hoá, người lại làm nghề buôn. Nhưng khi đã tìm được ngọc quý tức là dòng tu, thì không những anh em phân phát tất cả tài sản cho kẻ nghèo, mà còn vui vẻ dâng mình phục vụ Thiên Chúa và Đức Mẹ cách trung thành.

Điểm thứ ba là lòng kính mến Đức Mẹ. Ở Phơ-lô-răng, bấy giờ có một hội kính Đức Mẹ, thành lập đã từ xưa. Vì lẽ sự cổ xưa ấy, cũng như vì sự đông đảo và thánh thiện của những người trong hội, hội vượt xa các hội khác và được coi là hội lớn của Đức Mẹ. Bảy anh em trước khi đến sống chung với nhau, đã ở trong hội này, họ tỏ ra yêu mến Đức Mẹ cách đặc biệt.

Điểm thứ tư là về đời sống thiêng liêng. Họ yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự. Họ quy hết mọi việc về Người, theo đúng như thứ tự đòi buộc. Họ tôn vinh Người trong tư tưởng, lời nói và việc làm.

Cả bảy vị thánh lập dòng đã được Đức Giáo Hoàng Lê-ô XIII tôn phong Hiển thánh,dịp lễ mừng 50 năm linh mục của ngài.

* Quyết tâm: Noi gương bảy thánh lập dòng tôi tớ Đức Mẹ, tôi sẵn sàng từ bỏ mọi sự theo Chúa và làm tôi Đức Mẹ; chiêu mộ nhiều người cộng tác để rao truyền sự thương khó của Chúa Giêsu và Mẹ Người.

* Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa từ bi,Chúa đã ban cho bảy vị thánh lập dòng tôi tớ Đức Mẹ lòng yêu mến nồng nàn, khiến các ngài sùng kính Đức Mẹ và nhiệt thành củng cố đức tin vào Chúa. Xin cũng ban cho chúng con một lòng yêu mến nồng nàn như vậy.

Ngày 21 tháng 2
THÁNH PHÊ-RÔ ĐA-MI-A-NÔ. Giám mục tiến sĩ

* Gương thánh nhân: Thánh Phê-rô Đa-mi-a-nô sinh năm 988 tại Ra-ven-na, trong gia đình ngoan đạo, nhưng cũng rất nghèo khổ, lại đông anh em. Khi sinh ra ngài, người mẹ không có sức nuôi nổi, nên không cho bú. Nhưng một bà hàng xóm đã khuyên bảo bà: Con hùm con báo còn không bỏ con chúng. Lẽ nào chúng ta là con người, hơn nữa là người Kitô giáo, chúng ta lại bỏ con chúng ta sao?...Và biết đâu trẻ này ngày sau sẽ đem lại niềm vinh hạnh cho gia đình.

Thế là bà ta đem ngài về nuôi. Thấy vậy, mẹ ngài không đành bỏ con, nhận về nuôi dưỡng chăm sóc và đặt tên là Phê-rô.

Nhưng năm năm sau, ngài phải mồ côi cả cha lẫn mẹ. Ngài phải đến ở với người anh. Người này cũng nghèo, nên bắt ngài đi chăn heo, và cho ngài ăn uống thất thường, bữa đói, bữa no, còn áo quần thì rách rưới, nhưng ngài vẫn vui lòng chấp nhận và hiến dâng mọi khổ nhọc cho Chúa.

Cũng may, lúc đó, anh cả ngài là Đa-mi-a-nô được thụ phong linh mục, nên đem ngài về nuôi và cho ăn học. Nhờ thông minh. Ngài học hành sớm thành tài, trở thành giáo sư dạy tại Ra-ven-na. Để tỏ lòng biết ơn người anh, ngài nhận tên mình là Phê-rô Đa-mi-a-nô.

Nhưng không bao lâu, ngài lại bỏ ghế giáo sư, xin vào dòng Ca-man-đun. Ở đó, ngài sống khổ hạnh, chuyên cần cầu nguyện, khiêm tốn, vâng phục.

Thấy ngài nhân đức thánh thiện, các tu sĩ dòng đã chọn ngài làm tu viện trưởng vào năm 1043. Ngài tận lực lo cho nhà dòng tấn tới trên đàng trọn lành, và thành lập thêm nhiều tu viện để tăng số người làm việc Chúa.

Năm 1057, Đức Giáo Hoàng Stê-pha-nô IX nghe danh tiếng ngài, liền đặt ngài làm Hồng y Giám mục Ốt-ti-a. Ngài khiêm nhượng từ chối, nhưng Đức Giáo Hoàng cầm tay xỏ nhẫn và đeo thánh giá cho ngài.

Trách vụ nặng nề, nhưng thánh nhân đem hết khả năng phục vụ. Một mặt, ngài chỉnh đốn lại những tệ đoan trong nội bộ giáo sĩ và giáo dân; mặt khác, ngài lo chiến đấu chống lại các lạc giáo. Hai việc làm này không phải dễ dàng. Nó đòi hỏi hy sinh, cố gắng, can đảm, nhẫn nhục, nhất là luôn bị phê bình chống đối. Ngài sẵn sàng chấp nhận mọi khó khăn phản kháng vì tin rằng đó là ân huệ Chúa ban cho kẻ Người thương, như lời ngài nói trong thư gởi cho một người lâm cơn khốn khó, cậy nhờ ngài an ủi, nâng đỡ:

“Bạn thân mến, bạn xin tôi gởi cho bạn vài lời an ủi và dùng lời thân tình khuyên bảo để làm dịu bớt nỗi cay đắng trong lòng bạn, đang lúc bạn phải chịu muôn vàn đau đớn. Nhưng nếu trí suy xét khôn ngoan của bạn chưa mê mẫn, thì an ủi hiện đang còn nằm ở tầm tay bạn, vì rõ là sẵn có những lời dạy bạn đạt tới sản nghiệp Nước Trời, như dạy một người con. Quả vậy, còn có lời nào sáng tỏ hơn lời khuyên nhủ này: Hỡi con, nếu con muốn phụng sự Thiên Chúa, thì hãy ăn ở công chính và kính sợ Người, và hãy chuẩn bị tâm hồn để chịu thử thách. Bởi vì ở đâu có sự kính sợ Chúa, ở đó cũng có sự công chính. Và bất cứ thử thách trái ngược nào cũng không phải là một hình phạt nô lệ, nhưng đúng hơn là một cách người cha giáo dục con cái. Chính vì thế, thánh Gióp, sau khi vì đau quá mà thốt lên rằng: “Ước gì Thiên Chúa đoái đánh tôi tán vụn, vung tay Người mà trừ khử tôi đi” đã vội thêm ngay rằng: “Thì ít ra, tôi sẽ được niềm an ủi này và chút niềm vui trong cực hình không thương xót là đã chẳng quên lãng lời của Đấng thánh”.

Quả vậy, đối với những người Thiên Chúa chọn, thật là một an ủi lớn lao khi bị Thiên Chúa đánh phạt. Nhờ việc chịu đựng tai họa chóng qua, họ hy vọng được vững vàng đi về hạnh phúc trên trời. Người thợ đem vàng ra đập dưới búa là để vàng hết bẩn. Và đôi khi họ giũa vàng là để vàng sáng lên nhiều hơn. Như lò thử bình của người thợ gốm, thì khổ đau cũng thử người công chính. Điều đó khiến thánh Gia-cô-bê viết: “Anh em hãy nghĩ mình là thật hạnh phúc khi gặp thử thách trăm chiều”. Thế nên, người ta có lý để vui mừng trước những đau khổ chóng qua phải chịu ở đời này vì tội đã phạm, để sẽ được phần thưởng đời đời ở trên trời vì các việc lành mình đã làm.

Do đó, bạn rất thân mến. khi bạn bị đánh túi bụi, khi bạn bị trời phạt chi chít vết thương để giáo dục bạn, bạn đừng ngã lòng, đừng thốt ra lời nào cay chua, đừng u sầu rũ rượi, đừng mất kiên nhẫn vì thiếu can đảm. Luôn luôn hãy giữ bộ mặt tươi cười, và miệng lưỡi tạ ơn.

Vì tuổi già sức yếu, ngài đã qua đời năm 1072. Và năm 1828 được tôn phong Tiến sĩ Hội thánh.

* Quyết tâm: Dù nghèo hay giàu, tôi cũng sẵn lòng vâng theo thánh ý Chúa, và suốt đời tận tụy hy sinh giúp việc Chúa.

* Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin cho chúng con biết nghe lời giảng dạy và noi gương thánh Giám mục Phê-rô Đa-mi-a-nô mà đặt Chúa Kitô trên hết mọi sự, luôn dấn thân phục vụ Hội thánh, để vui hưởng ánh sáng muôn đời.

Ngày 22 tháng 2
KÍNH TÔNG TOÀ THÁNH PHÊ-RÔ

Hôm nay, kính nhớ ngày Chúa Giêsu đặt thánh Phêrô làm thủ lãnh các tông đồ, thay mặt Chúa chăm sóc cai quản Hội thánh Người sáng lập ở trần gian: “Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nỗi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy”. ( Mt.16, 18-19 ).

Thánh Lê-ô Cả xác quyết: “Trong tất cả thiên hạ, chỉ một mình thánh Phê-rô được chọn để đứng đầu các dân tộc được kêu gọi, để hướng dẫn các tông đồ và giáo phụ. Thế nên, dù trong dân Chúa có nhiều linh mục và mục tử, chính thánh Phê-rô điều hành tất cả. Đang khi Đức Kitô cai trị mọi người với tư cách là thủ lãnh. Chúa đã ban cho ngài danh dự cao cả và kỳ diệu, được dự phần vào quyền năng của Chúa. Và nếu Chúa muốn ban cho các vị thủ lãnh khác ơn gì chung với ngài, thì bao giờ Chúa cũng dùng ngài để ban cho họ tất cả những gì Chúa không từ khước ban cho những người khác”.

Hội Thánh lập lễ này để mừng ngày thánh Phêrô đến Rôma, sau bảy năm ngự toà ở An-ti-ô-ki-a. Theo ý Chúa, vị thủ lãnh các Tông đồ đến lập toà tại Rôma, làm trung tâm điểm của toàn thể Hội Thánh, đồng thời đem Tin Mừng cứu rỗi đến cho thành phố này, vì lúc đó, dân thành còn theo ngoại giáo, thờ lạy bụt thần. Chúng ta hãy nghe chính thánh Phêrô thuật lại việc ngài đem lương dân trở lại đạo Chúa: “ Các tông đồ và anh em ở Giuđê nghe biết những người ngoại bang đã theo đạo Chúa. Khi Phêrô đã trở lên Giêrusalem, thì các tín hữu trong số những kẻ chịu cắt bì tranh luận với người, mà rằng: “Ông đã vào nhà kẻ chưa chịu cắt bì và ăn chung với họ!”. Phê-rô bèn theo thứ tự mà giải bày mọi sự cho họ rằng: “Tôi đương ở thành Giốp-bê cầu nguyện, trong khi ngất trí, tôi thấy điều kỳ lạ, có vật gì giống tấm vải lớn cột bốn chéo, từ trên trời thòng xuống tận tôi. Tôi nhìn chăm chăm, xem kỹ thì thấy trong đó có các loài bốn cẳng dưới đất, thú rừng, loài bò sát và chim trên trời. Tôi cũng nghe tiếng phán cùng tôi rằng: Hỡi Phê-rô, hãy đứng dậy, làm thịt và ăn. Tôi đáp lại: Lạy Chúa, chẳng vậy, vì không hề có vật gì phàm tục hay bất khiết vào miệng tôi bao giờ”. ( Cv. 11, 1- 8 ).

Nhờ ơn Chúa phù trợ, thánh Phêrô, vị Giáo Hoàng đầu tiên của Hội thánh đã biến nơi trung tâm ngoại giáo này thành trung tâm công giáo. Ngai toà của vua chúa ngoại đạo trở thành tông toà của vị thủ lãnh Giáo hội. Chính nơi đây, vị Tông đồ Cả sẽ thi hành chức vụ thánh hoá, giáo huấn và cai quản toàn thể Dân Chúa trên khắp hoàn cầu.

Mừng ngày lễ trọng đại này, chúng ta hết lòng cám ơn Chúa, vì Người đã thiết lập Hội Thánh làm bí tích cứu rỗi chúng ta. Đặc biệt, Người đã cho thánh Phêrô đến Rôma thành lập tông toà, làm trung tâm Giáo hội.

Mặt khác, chúng ta cám ơn Chúa vì Người đã thương cho chúng ta nhận biết Người, gia nhập Hội thánh Người là đạo thật, là đường độc nhất đưa dẫn chúng ta đến hạnh phúc thật, hạnh phúc vĩnh viễn trên trời. Đồng thời chúng ta cầu xin Chúa cho chúng ta luôn trung thành bền đỗ tin theo Người, tuân phục Đức Giáo Hoàng là Đại diện của Người. Chúng ta cũng cầu xin cho các giáo phái đã tách lìa Hội thánh, được hiệp nhất lại trong một ràng chiên và một chủ chăn, theo đúng ý Chúa muốn.

* Quyết tâm: Hằng ngày, tôi cám ơn Chúa đã thương cho tôi gia nhập Hội thánh. Và xin cho mọi dân tộc, mọi nước được kết hợp tronh một ràng chiên, dưới quyền một chủ chăn.

* Lời nguyện: Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã thiết lập Hội thánh trên nền tảng vững bền là lời tuyên xưng của thánh Phêrô. Xin gìn giữ Hội thánh khỏi nao núng giữa cảnh đời thử thách gian nan.

Ngày 23 tháng 2
THÁNH PÔ-LI-CÁP. Giám mục tử đạo

* Gương thánh nhân:Thánh Pô-li-cáp nổi tiếng thánh thiện trọn hảo và thông minh chính trực. Ngài được phước quen biết nhiều môn đệ Chúa, sống gần gũi thân mật và học hỏi với các ngài. Đặc biệt,thánh nhân thân thiết với Tông đồ Gioan, là môn đệ được Chúa Giêsu quý mến hơn hết. Chính Gioan tông đồ đã đặt ngài làm Giám mục Suyệt-na khoảng năm 96.

Ngoài việc chăm lo cho đoàn chiên trong giáo phận, thánh nhân còn có tinh thần chung, luôn nghĩ đến lợi ích của toàn thể Hội thánh. Lúc trên 80 tuổi, ngài còn đến Rôma gặp Đức Giáo Hoàng A-ni-cê-tô, bàn về thời gian mừng lễ Phục Sinh. Đối với miền Tiểu Á, ngài được mọi người kính nể, và đã gây nhiều ảnh hưởng tốt đẹp. Người ngoại giáo thường gọi ngài là “Thầy của người Á châu, là Cha của Kitô hữu, là người phá hủy các thần minh”.

Vì ảnh hưởng của ngài lớn lao như thế, nên khi cuộc bắt đạo xảy ra, ngài đã bị lùng bắt trước hết. Mặc dù ngài đã nhận lời giáo đoàn ẩn mình nơi miền quê để lo cho giáo dân, nhưng quân lính cũng kiếm tìm tới bắt ngài. Khi thấy họ đến, ngài vui vẻ tiếp đón họ, đãi họ ăn uống vì thấy họ cực khổ đói khát tìm kiếm ngài. Và sau khi cầu nguyện ngài nộp mình cho họ dẫn về Rôma.

Viên tổng trấn bảo ngài bỏ đạo, chối Chúa, nhưng ngài thẳng thắn trả lời:
- Đã 86 năm tôi phụng sự Chúa, và Người luôn ban ơn lành cho tôi, làm sao tôi có thể chối bỏ Người? Người là Đấng dựng nên tôi và là Đấng cứu độ tôi.
Viên tổng trấn hăm doạ:
- Tôi có nhiều thú dữ. Tôi sẽ cho chúng xé xác ông.
- Xin quan cho chúng đến xé nát thân xác tôi đi. Tôi sẵn sàng hy sinh mạng sống vì Đấng đã chịu chết cứu chuộc tôi.
- Ông khinh thường thú dữ. Tôi sẽ thiêu sống ông.
Thánh nhân thưa:
- Xin cứ thiêu sống tôi. Tôi chỉ chịu thiêu đốt một lúc để được thưởng đời đời. Tôi chỉ sợ thứ lửa đời đời thiêu đốt những kẻ bất lương.
Giáo đoàn Xơ-miếc-na tường thuật cuộc thiêu sống thánh nhân như sau: Khi lửa đã sẵn, Pô-li-cáp tự mình cởi y phục và dây lưng ra, rồi ngài muốn tự mình cởi giày ra nữa. Trước đây ngài không làm được như vậy là vì giáo dân nào cũng muốn làm người thứ nhất được sờ vào thân thể ngài; ngay cả trước khi tử đạo, ngài đã được người ta tôn kính vì đời sống thánh thiện của ngài. Bây giờ người ta đem đồ nghề tới quanh ngài để sửa soạn phóng hoả. Người ta định đóng đinh ngài, nhưng ngài bảo:
- Thôi cứ để tôi như thế này.. Đấng ban sức cho tôi chịu được lửa, cũng sẽ ban sức cho tôi đứng yên được trên đống củi mà không cần đóng đinh giữ tôi.
Thế nên người ta không đóng đinh ngài, chỉ cột ngài lại thôi.
Bị trói rồi, hai tay ghì về sau lưng, ngài thật như con chiên được chọn trong bầy để hiến tế làm hy lễ đẹp lòng Thiên Chúa. Ngước mắt lên trời, ngài nguyện rằng;
- Lạy Thiên Chúa toàn năng, là Cha của Con diễm phúc Cha hằng yêu quí là Đức Giêsu Kitô. Nhờ Người, chúng con đã nhận biết danh Cha. Lạy Chúa các thiên thần, Chúa của muôn sức mạnh; trước long nhan Cha, con chúc tụng Cha đã thương cho con được phúc nhìn thấy ngày này, để con được nhập hàng ngũ các tử đạo mà uống chén của Đức Kitô, con Cha, hầu hồn xác sẽ được phục sinh sống đời đời vĩnh cửu, hưởng ơn trường sinh bất tử nhờ Chúa Thánh Thần. Xin cho con ngày hôm nay được đến trước nhan Cha cùng với các vị tử đạo, như là hy lễ phong phú đẹp lòng Cha, như Cha đã sữa soạn và báo cho con biết trước. Và giờ đây, Cha đang thực hiện vì Cha là Thiên Chúa thật, bao giờ cũng nói đúng.

Thế nên, con chúc tụng Cha vì mọi sự. Con ca ngợi tôn vinh Cha, nhờ vị Thượng tế đời đời ở trên trời là Đức Giêsu Kitô, Con yêu quí của Cha. Nhờ Người, sáng danh Cha, sáng danh Người và sáng danh Thánh Thần bây giờ và mãi mãi. Amen.

Thế là người ta đốt lửa thiêu sống ngài. Nhưng khi thấy ngài chưa chết, một binh sĩ đã lấy giáo đâm ngài. Và linh hồn ngài như cánh chim câu bay thẳng về trời vào ngày 23 tháng 2 năm 155.

* Quyết tâm: Noi gương thánh Pô-li-cáp, hết lòng lo rao giảng đạo Chúa, mưu tìm ích lợi chung cho Hội thánh, và hy sinh mạng sống vì phần rỗi tôi và mọi người.

* Lời nguyện: Lạy Chúa tể càn khôn, Chúa đã cho thánh Giám mục Pô-li-cáp vào hàng ngũ các anh hùng tử đạo. Xin nhận lời thánh nhân cầu thay nguyện giúp, mà ban cho chúng con cùng người uống chén đắng của Chúa Kitô, để mai ngày được sống lại và hưởng phúc trường sinh.
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster:
tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle

Home Page
Trở về đầu trang


Mừng Thọ 100 tuổi
Đức Cha Antôn
Nguyễn Văn Thiện
Nguyên Giám Mục
Giáo Phận Vĩnh Long

Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:
pettham@gmail.com
Đôi dòng giới thiệu
Tin Giáo Hội toàn cầu và Giáo Phận
Mục vụ
Suy niệm Lời Chúa
Phụng Vụ
Giáo Lý Công Giáo
Truyền Giáo
Thánh Nhạc
Các Trung Tâm Hành Hương
Bác ái - Xã hội
Tài liệu nghiên cứu
Miền Tây Nam Bộ
Nụ cười bằng mười thang thuốc bổ
Liên kết Web

 

Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics