PHỤNG VỤ CHƯ THÁNH THÁNG 10

Tháng 01 I Tháng 02 I Tháng 03
Tháng 04 I Tháng 05 I Tháng 06 I Tháng 07
Tháng 08
I Tháng 09 I Tháng 10 I Tháng 11 I Tháng 12

 

 

Ngày 1 tháng 10
THÁNH TÊ-RÊ-SA HÀI ĐỒNG GIÊ-SU
Trinh Nữ

* Gương Thánh nhân

“Ôi Giê-su, Tình yêu của con, con đã khám phá ra ơn gọi của con: đó là TÌNH YÊU ! Con đã tìm ra chỗ đứng của con trong Hội thánh. Và chỗ đó, lạy Chúa, chính Chúa đã ban cho con ở trong lòng Hội thánh, Mẹ của con; con sẽ là tình yêu, và như vậy, con sẽ là tất cả…” Đó là con đường nhỏ mà thánh trinh nữ Tê-rê-sa Giê-su Hài đồng đã đi suốt cuộc đời thánh thiện đặc biệt của Ngài.

Thánh nữ sinh tại A-len-con, nước Pháp, ngày 2 tháng 1 năm 1973, trong một gia đình đạo đức với 9 người con, nhưng chỉ con sống 5 người con gái và đều là nữ tu dòng Kín.

Ngài là con út trong nhà, nên được mẹ thương lo lắng dạy bảo nhiều. Nhưng mới lên 4 tuổi, ngài đã mất mẹ; một đau đớn mất mát lớn lao đối với tuổi thơ ấu của Ngài. Ngài dâng cho Chúa tất cả nỗi buồn khổ đó để cầu cho kẻ tội lỗi ăn năn trở lại, vì ngài nhớ lời mẹ nói: Chúa Giê-su chịu chết đau khổ vô cùng vì kẻ có tội, nhưng họ thờ ơ lãnh đạm đối với tình thương của Người, nên cần phải cầu xin cho họ được ơn hối cải.

Năm 9 tuổi, thánh nữ ngã bệnh nặng. Ngài cầu xin Đức Mẹ cứu chữa, và hứa khi mạnh lại sẽ dâng mình cho Chúa theo các chị ngài. Và Đức Mẹ đã nhậm lời, cho ngài khỏe mạnh lại.

Từ đó, thánh nữ luôn ước muốn vào Dòng Kín, nhưng vì tuổi còn nhỏ, nhà dòng không nhận. Mãi đến năm 15 tuổi, ngài cũng chưa được nhận vào dòng, ngài phải đi Rô-ma xin Đức Giáo Hoàng Lê-ô 12 miễn chuẩn mới được vào, và gọi là Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su.

Cuộc sống trong Dòng Kín là cả một thăng tiến đàng thiêng liêng của thánh nữ, bằng những hy sinh khổ nhọc ngài sẵn sàng chấp nhận hằng ngày, vì lòng mến Chúa thương người. Chính do con đường hy sinh nầy mà Thiên Chúa đã tôn vinh Con Một của Người, và cũng nhờ con đường nầy mà Ngài đào tạo thánh nữ thành vị thánh cả.

Như chúng ta đã biết: châm ngôn sống của thánh nữ là TÌNH YÊU, yêu Chúa yêu người, với tất cả tấm lòng khiêm cung nhỏ bé như trẻ thơ tin yêu phó thác vào cha mẹ. Yêu Chúa, ngài hiến toàn thân vì Chúa; thương người, ngài sẵn lòng chịu cực chịu khó phục vụ mọi người. Dù có gian khổ, dù có bị hiểu lầm khinh bỉ, ngài không buồn phiền than trách, một vui lòng đón nhận tất cả cách hân hoan phấn khởi. Sách “MỘT TÂM HỒN” do ngài viết để lại đã nói rõ điều đó, ngài viết: “Đức ái đã cho tôi thấy chìa khóa về ơn gọi của tôi. Tôi hiểu rằng: nếu Hội thánh là một thân thể gồm nhiều chi thể, thì tất phải có bộ phận rường cột và ưu tú hơn cả. Tôi hiểu Hội thánh có một tấm lòng và tấm lòng nầy cháy lửa yêu mến. Tôi hiểu chỉ có lòng mến thúc đẩy mọi phần tử trong Hội thánh hoạt động, và nếu nó tắt đi thì các tông đồ không còn rao giảng Tin mừng, các vị Tử đạo không còn đổ máu nữa. Tôi hiểu lòng mến bao trùm mọi ơn gọi, lòng mến là tất cả, lòng mến bao quát mọi không gian và thời gian, và tắt một lời, lòng mến thì vĩnh cửu”.

Chính lòng mến thiết tha trong khiêm tốn phó thác đã dẫn đưa thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su lên tới tuyệt đỉnh trọn lành, và hoàn tất cuộc đời trong an bình thánh thiện.

Thánh nữ qua đời ngày 30 tháng 9 năm 1897, với tuổi 24; và chỉ 28 năm sau, ngài đã được tôn lên Hiển Thánh, do Đức Giáo Hoàng Pi-ô 11, và được chọn làm thánh Bổn mạng các xứ truyền giáo.

* Quyết tâm

Hằng ngày tập sống mến Chúa yêu người, sẵn sàng hy sinh chịu khó làm mọi việc vì Chúa và vì anh chị em trong khiêm nhu phó thác, theo gương thánh nữ Tê-rê-sa Giê-su Hài Đồng.

* Lời nguyện

Lạy Chúa là Cha nhân lành, Chúa mở cửa Nước Trời cho những người bé mọn. Xin cho chúng con hằng ngày biết theo chân thánh nữ Tê-rê-sa Hài Đồng Giê-su, mà bước đi trên con đường phó thác, để muôn đời được chiêm ngưỡng Thánh nhan. Chúng con cầu xin...

 

Ngày 2 tháng 10
CÁC THIÊN THẦN HỘ THỦ

Mỗi người Chúa dựng nên đều có một thiên thần giữ mình, điều đó Chúa Giê-su đã khẳng định: “Anh em hãy coi chừng, chớ khinh một ai trong những kẻ bé mọn nầy; quả thật, Thầy nói cho anh em biết; các thiên thần của họ không ngừng chiêm ngưỡng nhan Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt. 18, 10).

Và thánh Bê-na-đô minh chứng: “Chúa đã sai các thiên thần đến phục vụ các con, cắt đặt các ngài gìn giữ các con, và cho các ngài làm quản giáo cho các con”. Thánh Giê-gô-ri-ô nói: “Phẩm giá các linh hồn cao quý biết bao, vì mỗi linh hồn đều được Thiên Chúa ban cho một thiên thần chăm sóc”. Và thánh Ghê-rô-ni-mô viết: “Chúa biết ác tâm của ma quỷ, chúng luôn tìm cách ngăn cản không cho ai vào chỗ chúng đã mất trên thiên đàng, nên ban cho mỗi người một thiên thần hộ thủ, để chống trả kẻ thù của phần rỗi chúng ta”.

“Ma quỷ đông đúc và độc dữ như sư tử, ngày đêm rình chực hãm hại con người, thì Chúa cũng ban cho họ vô số thiên thần quyền phép hơn gìn giữ bảo hộ. Ngay lúc mới sinh ra, mỗi người đều có một thiên thần giữ mình. Dù lương hay giáo, dù lành hay dữ, ai ai cũng được Chúa thương cho thiên thần che chở. Chẳng những Chúa cho thiên thần bảo vệ từng người, mà còn cho các ngài gìn giữ các xã hội, các cộng đoàn, các gia đình, mọi nước, mọi thành, mọi nơi chốn có con người trú ngụ. Như lời thánh Tô-ma tiến sĩ nói: “Có thiên thần bảo hộ các quốc gia, dân tộc, thành thị, cộng đoàn cũng như mỗi người”.

“Thiên thần hộ thủ có trách nhiệm che chở chúng ta khỏi mọi sự dữ và gian nan khốn khó, cứu giúp chúng ta khỏi sa ngã phạm tội, giúp chúng ta làm lành lánh dữ, nâng đỡ chúng ta trong lúc yếu đuối, tăng thêm lòng can đảm mạnh mẽ, an ủi chúng ta trong những lúc sầu buồn đau khổ”.

“Các ngài còn giúp sức chúng ta lướt thắng các chước cám dỗ của ma quỷ, xác thịt thế gian. Và nếu chúng ta có lỡ lầm sa ngã, các ngài nâng đỡ chúng ta ăn năn hối cải”.

“Ngoài ra, các thiên thần hộ thủ dâng lên trước tòa Chúa các việc lành phúc đức và lời cầu nguyện hằng ngày của chúng ta, cầu thay nguyện giúp cho chúng ta được ơn lành của Chúa. Các ngài an ủi soi sáng chúng ta trong cơn bệnh hoạn chết chóc, và bênh đỡ chúng ta trong ngày phán xét”.

“Tắt một lời, Chúa cho thiên thần hộ thủ gìn giữ che chở chúng ta trên khắp nẻo đường và suốt đời, như thánh Bê-na-đô nói, và bảo chúng ta hãy cám ơn Chúa, vì Người đã thương chúng ta, đồng thời phải kính sợ, thương mến, tin tưởng thiên thần giữ mình: “Người truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường. Họ hãy cảm tạ Chúa vì tình thương Người, vì những kỳ công Người đã làm cho con cái loài người…”

“Người truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn trên khắp nẻo đường. Lời nầy phải mang lại cho bạn bao niềm kính sợ, tôn kính và tin tưởng: Kính sợ trước sự hiện diện, tôn kính trước lòng nhân hậu, tin tưởng trước sự phù trợ của các ngài”.

Ngoài ra, ba bổn phận kính sợ, tôn kính, tin tưởng như thánh Bê-na-đô vừa kể, mỗi người còn cần phải sẵn sàng tuân theo sự hướng dẫn dìu dắt của thiên thần hộ thủ, để được sống đẹp lòng Chúa và đáng thưởng phước đời đời.

* Quyết tâm

Hằng ngày tôi luôn kính sợ, tôn kính, tin tưởng và làm theo thiên thần hộ thủ dạy bảo chỉ dẫn, để ngày sau được Chúa thưởng.

* Lời nguyện

Lạy Chúa là Đấng an bài mọi sự cách tuyệt vời, Chúa sai các thiên thần đến gìn giữ chúng con. Xin ban cho chúng con đời nầy được các ngài luôn bênh vực che chở, và đời sau được cùng các ngài hưởng phúc vinh quang. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 4 tháng 10
THÁNH PHAN-XI-CÔ ÁT-SI-SI

* Gương Thánh nhân

Thánh Phan-xi-cô sinh năm 1182, tại Át-si-si nước Ý, trong một gia đình giàu có. Cha ngài làm nghề buôn bán thường đi đó đây, nên lúc nhỏ ngài sống với người mẹ hiền lành đạo đức.

Lớn lên, vì cha mẹ giàu có nuông chìu, lại thêm ảnh hưởng xa hoa của xã hội, Phan-xi-cô chạy theo lối sống hào hoa phong nhã, ăn chơi phung phí, ham mê danh vọng giàu sang chức tước. Cậu theo bá tước Gô-thi đi chinh phục các vùng gần Át-si-si, cốt để được vinh thăng hiển hách. Nhưng cậu đã thất trận và bị bắt cầm tù. Những ngày tù ngục khổ cực nhục nhã khiến cậu hồi tâm suy nghĩ. Và cậu đã tìm được lý tưởng cao đẹp.

Sau khi ra khỏi tù, Phan-xi-cô trở về xứ sở, bắt đầu cuộc sống mới. Hằng ngày ngài tận tụy giúp đỡ những người bệnh tật, kẻ nghèo khổ, và siêng năng đến nhà thờ cầu nguyện, dự Thánh lễ. Một hôm đang khi cầu nguyện trong nguyện đường thánh Đa-mi-a-nô, ngài nghe tiếng Chúa Giê-su từ trên Thánh giá phán bảo:

- Phan-xi-cô, con hãy đi sửa lại ngôi đền thờ của Ta đang hư nát !

Ngài không hiểu ý Chúa muốn ngài chỉnh đốn lại Hội thánh đang sa sút, nên lo đi quyên góp tiền của sửa chữa lại các đền thờ ở Át-si-si. Nhưng trong một buổi tham dự Thánh lễ, ngài nghe đọc đoạn Tin mừng: “Anh em hãy đi rao giảng Tin mừng… Hãy rao giảng rằng: “Nước Trời đã đến gần. Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy. Đừng sắm vàng bạc, hay tiền đồng để giắt lưng. Đi đường, đừng mang theo bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi giày hay cầm gậy…” (Mt. 10, 7-10).

Thế là thánh nhân đã hiểu ý Chúa… Ngài phân phát hết của cải cho người nghèo khó, sống đời khổ hạnh, ngày ngày đi rao giảng Nước Chúa, chăm sóc kẻ bệnh tật, sống bằng của ăn xin.

Cha ngài thấy con sống nghèo khó hèn mạt như thế thì tức giận, bắt nhốt ngài, rồi dẫn đến Đức Giám mục từ ngài luôn. Nhưng thánh nhân sẵn lòng chấp nhận hy sinh tất cả vì Chúa, ngài trả lại cho cha cả áo quần đang mặc và nói: “Từ nay tôi mới thật sự giống Chúa Ki-tô.”

Thánh nhân muốn nên giống Chúa Giê-su hoàn toàn trong đời sống khó nghèo, hy sinh, gian khổ. Và ngài muốn phụ giúp Chúa cứu rỗi các linh hồn. Ngài hăng say lên đường rao giảng Lời Chúa khắp nước Ý. Đi tới đâu, ngài gieo rắc tình thương của Chúa đến đó. Ngài đem nhiều người trở lại với Chúa, và quy tụ được nhiều kẻ theo ngài. Ngài huấn luyện họ và thành lập Hội Dòng Anh Em Hèn Mọn, cũng gọi là Dòng Thánh Phan-xi-cô, sống khiêm tốn khó nghèo và chuyên lo giảng đạo cho người nghèo khổ.

Năm 1212, thánh nhân còn giúp thánh nữ Cla-ra thiết lập nhóm chị em sống nghèo khó và cầu nguyện, gọi là nữ tu thánh Cla-ra. Sau những năm tháng tận tụy truyền giáo và đào tạo người nối nghiệp, thánh nhân rút lui vào sống trong núi, ngày ngày chuyên chăm hãm mình cầu nguyện. Chính lúc ở đây, ngài được Chúa in năm dấu Thánh trên chân tay và cạnh sườn ngài. Trong hai năm trời, các vết thương nơi năm dấu Thánh luôn rỉ máu và làm cho ngài đau đớn dữ dội, nhưng thánh nhân luôn sẵn sàng chấp nhận để hiệp cùng sự thương khó Chúa mà cứu rỗi các linh hồn.

Thánh nhân qua đời ngày 3 tháng 10 năm 1226. Và ngày 16 tháng 7 năm 1228, Đức Thánh Cha Ghê-gô-ri-ô thứ 9 đã tấn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Phan-xi-cô Át-si-si, tôi sẵn sàng từ bỏ mọi sự, sống khó nghèo và hy sinh chịu khó hằng ngày, để cứu rỗi linh hồn tôi và anh chị em tôi.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã soi sáng cho thánh Phan-xi-cô chọn cuộc đời hèn mọn khó nghèo, để trở nên hình ảnh sống động của Đức Ki-tô. Xin cho chúng con hằng noi gương thánh nhân để lại, mà thiết tha gắn bó cùng Chúa, và hăm hở bước theo Đức Ki-tô, lòng chan chứa an vui và đầy tràn yêu mến. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 6 tháng 10
THÁNH BRU-NÔ Linh Mục

* Gương Thánh nhân

Thánh Bru-nô là Đấng sáng lập Dòng Sát-trơ, sinh năm 1035, trong một gia đình quý tộc, tại Cô-lon nước Đức.bLúc nhỏ Bru-nô học hành nơi sinh quán. Lớn lên, cậu theo học triết tại Rem và Tua. Cậu học hành giỏi giắn và trở nên học giả thời danh, đến nỗi nhiều người đến xin thụ giáo, trong số đó có một người sau nầy làm Giáo Hoàng, đó là Đức U-ba-nô thứ 2.

Ngoài tài trí thông minh, thánh nhân còn nổi tiếng đức hạnh. Ngài mến mộ thinh lặng cầu nguyện, nên được chọn làm Kinh sĩ đại thánh đường Cu-ni-be ở Cô-lon.

Nhưng Chúa thường thử thách những kẻ Người thương. Năm 1068, sau khi Đức Giám Mục Gê-va-sô qua đời, Ma-nát-sô dùng mưu lược và tiền của mua chuộc, nên được chọn làm Giám mục giáo phận Rô-ma. Ông ta là người khô đạo lại hung ác, nên thánh nhân chống đối. Song ngài bị ông ta trả thù bằng cách tịch thu tài sản và bắt phải rời khỏi thành phố

Thánh nhân đến miền Au-bơ, gia nhập đan viện Mô-lết, sống đời khổ tu và chuyên cần cầu nguyện. Nhưng thời gian sau, ngài thấy cuộc sống đan viện không thích hợp với nguyện ước của ngài, ngài muốn sống cô tịch trầm lặng hơn, kết hợp mật thiết với Chúa hơn. Ngài được vị thánh Giám mục Hu-gô là học trò cũ của ngài chỉ cho một nơi hẻo lánh thanh vắng là vùng Sát-trơ. Thế là năm 1084, ngài cùng sáu người bạn đến đó, làm một nhà nguyện nhỏ và 7 túp lều xung quanh rồi tu luyện tại đó. Hằng ngày, ngoài ra những giờ làm việc để mưu sinh, mỗi người sống âm thầm thinh lặng trước mặt Chúa, kết hợp mật thiết với Chúa. Đây là khởi điểm dòng khổ tu do thánh nhân sáng lập, gọi là Dòng Sát-trơ. Hội dòng nầy ngày càng phát triển và tồn tại cho đến ngày nay.

Danh thơm thánh thiện và gương sáng nhân đức của thánh nhân đã loan truyền đến Toà Thánh. Năm 1090, Đức Giáo Hoàng Ur-ba-nô thứ 2 đã triệu ngài về Rô-ma làm cố vấn.

Mặc dầu ở giáo triều, thánh nhân luôn nhớ đến các tu sĩ của ngài. Ngài cầu nguyện cho họ, và thường xuyên viết thơ khích lệ. Ngài nói: “Anh em rất thân mến, anh em hãy vui mầng vì số phận rất hạnh phúc của anh em, và vì các ơn dồi dào Chúa đã rộng ban cho anh em. Anh em hãy vui mầng vì thoát khỏi bao hiểm nguy đắm chìm của biển động thế gian nầy. Anh em hãy vui mầng vì được ở trong bến an toàn và nơi phẳng lặng của ẩn dật, là nơi nhiều người ao ước đến, nhiều kẻ cố sức đến mà không được. Nhưng lại bị loại ra, vì tất cả đều không được ơn trên ban cho.

“Vì vậy, hỡi anh em, hãy xác tín điều nầy: một khi đã được hưởng một điều thiện hảo đáng ước ao như vậy rồi và lý do nào đó mà bị mất đi, thì chẳng ai mà không buồn tiếc mãi, nếu như họ còn bận tâm lo lắng tới phần rỗi linh hồn mình”.

Nhưng một năm sau, ngài xin Đức Giáo Hoàng cho được trở lại nếp sống ẩn tu. Và ngài đã đến Ca-la-brơ thành lập đan viện thứ hai theo tinh thần Dòng Sát-trơ.

Thánh nhân từ trần ngày 6 tháng 10 năm 1101, tại đan viện mới nầy.

* Quyết tâm

Mỗi ngày dành để thời giờ yên tịnh, để gặp gỡ Chúa, sống thân tình với Chúa, theo gương thánh Bru-nô.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã mời gọi thánh Linh mục Bru-nô phụng sự Chúa trong nơi vắng lặng. Xin nhận lời thánh nhân chuyển cầu, mà ban cho chúng con dù đang sống giữa cảnh đời ồn ào náo động, cũng biết luôn hướng lòng về Chúa. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH PHAN-XI-CÔ TRẦN VĂN TRUNG
Cai Đội Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

“Là công dân Việt Nam , tôi sẵn sàng đi đánh giặc bảo vệ tổ quốc. Nhưng tôi không bao giờ đạp lên Thánh giá bỏ đạo chối Chúa, vì tôi là con dân của Chúa”.

Đó là lời thánh Phan-xi-cô Trung tuyên bố trước mặt các quan, khi bị bắt ép bỏ đạo. Nó nói lên tất cả tấm lòng trung tín keo sơn của vị anh hùng đối với Thiên Chúa và tổ quốc. Đối với quê hương trần thế, ngài sẵn sàng phục vụ để xây dựng bảo tồn; đối với Thiên Chúa là Đấng Tạo dựng và cứu độ ngài, ngài cũng chu toàn bổn phận tôn kính phụng sự. Ngài không thể vì tổ quốc mà bỏ Chúa, cũng chẳng vì Chúa mà chểnh mãng nghĩa vụ công dân. Ngài xứng đáng là tấm gương kính Chúa yêu nước cho mọi Ki-tô hữu.

Phan-xi-cô Trần Văn Trung sinh năm 1825 tại Phan-xá, tỉnh Quảng Trị. Cha là quân nhân dưới thời vua Minh Mạng. Lớn lên, cậu nối nghiệp cha, gia nhập quân đội. Nhờ tài giỏi và nhiệt thành trong phận vụ, cậu được thăng chức cai đội.

Năm lên 24 tuổi, anh kết hôn với một thiếu nữ đồng đạo. Hai vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc, sốt sắng thờ phượng Chúa, sinh được bốn người con. Vì thế, ngoài ra bổn phận trong quân ngũ, anh còn có trách nhiệm giáo dục con cái, thánh hóa gia đình.

Lúc đó, anh cùng 11 bạn đồng nghiệp phải tham dự một cuộc khảo thí theo quy luật quân đội. Theo tình thế lúc bấy giờ, muốn cho việc thi cử được kết quả, cần phải hối lộ với quan trên. Chẳng may sau khi nhận tiền của đút lót, các quan chia chát với nhau không đồng đều; tranh giành cải vả với nhau thấu đến tai vua, nên cả 12 cai đội đều bị tống giam vào ngục.

Năm 1858, quân đội Pháp đánh chiếm Cửa Hàn. Vua Tự Đức cần người chiến đấu chống xâm lăng. Vua truyền cho các tù nhân, ai tình nguyện đánh giặc sẽ được phóng thích. Cai đội Trung và các bạn đồng đội hăng say hưởng ứng. Nhưng vua sợ các binh sĩ Công giáo phản bội, theo Pháp chống lại triều đình, nên buộc đạp lên Thập giá, trước khi xuất quân ra trận. Tất cả đều tuân hành lệnh vua, chỉ trừ cai đội Trung. Các quan thấy vậy hỏi:

- Sao mi không đạp lên Thập giá? Mi có đạo phải không?

Vị chiến sĩ đức tin đáp:

- Phải. Tôi là người Công giáo. Tôi sẵn sàng đi chiến đấu chống ngoại xâm, bảo vệ tổ quốc. Nhưng tôi không bao giờ chối Chúa bỏ đạo, vì tôi cũng có bổn phận thờ kính và làm chứng cho Chúa tôi.

Lời công bố chân thành đó xác định rõ lập trường của người Công giáo chân chính: là công dân, họ sẵn sàng phục vụ và bảo vệ tổ quốc; là môn đệ Chúa, họ nhiệt thành thờ kính và phụng sự Chúa. Lúc bình thường, hai bổn phận đó có thể đi đôi với nhau; nhưng lúc khó khăn bách hại, bổn phận làm chứng cho Chúa phải được đặt lên hàng đầu.

Chính vị anh hùng Phan-xi-cô Trần Văn Trung đã thực hiện đúng như thế. Thế là số phận của ngài đã được định đoạt: ngài phải chịu tù ngục xiềng xích vì đã trung thành với Chúa.

Điều làm cho mọi người cảm phục vị anh hùng tử đạo hơn nữa, là mặc dầu bị tù ngục xiềng xích khổ sở, bị tra tấn hành hạ đau đớn, ngài không nghĩ đến thân phận khốn khổ của mình, mà lo lắng khuyên bảo vợ con vui lòng hy sinh vì Chúa, trung thành bền đỗ tin theo Chúa. Và vì nhớ còn thiếu nợ vài người, ngài xin vợ coi đồ đạc gì trong nhà có thể bán được thì đem bán trả nợ, kẻo chủ nợ bắt con cái ở đợ trừ nợ khổ sở và không được tự do hành đạo. Thật đúng ngài quên mình vì gia đình, vì tổ quốc và Thiên Chúa.

Trong hơn hai tháng tù ngục, nhiều lần ngài bị đánh đòn tra tấn, buộc bước qua Thánh giá bỏ đạo. Nhưng ngài bất chấp mọi khổ hình, sẵn sàng chấp nhận mọi gian lao thử thách, kiên quyết giữ vững đức tin. Thấy không còn hy vọng khuất phục được ngài, các quan đệ án tử hình về Kinh. Vua Tự Đức chấp thuận. Và ngày 06 tháng 10 năm 1859, ngài bị điệu đi xử trảm (chém đầu) tại pháp trường An Hòa (Huế).

Ngày 02 tháng 05 năm 1909, Đức Thánh Cha Pi-ô 10 đã phong Chân Phước cho ngài. Và Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô 2 suy tôn ngài lên Hiển Thánh, ngày 19 tháng 06 năm 1988.

* Quyết tâm

Hy sinh lo cho gia đình được bình an hạnh phúc phần hồn phần xác, sẵn sàng bảo vệ xây dựng tổ quốc giàu mạnh, và trung thành bền đỗ tin thờ Chúa đến cùng, theo gương thánh Phan-xi-cô Trần Văn Trung tử đạo.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 7 tháng 10
ĐỨC MẸ MÔI KHÔI

Để kỷ niệm, nhất là để tạ ơn Chúa và Đức Mẹ về cuộc chiến thắng hạm đội Hồi giáo tại vịnh Lê-păn, tháng 10 năm 1571, Đức Thánh Cha Pi-ô thứ 5 đã lập Lễ Đức Ma-ri-a hiển thắng, và Đức Ghê-gô-ri-ô thứ 12 đổi lại thành Lễ Đức Mẹ Môi Khôi.

Công cuộc chiến thắng đó đã xảy ra hết sức lạ lùng, nhờ hiệu lực của chuỗi Môi Khôi. Số là năm 1571, quân đội Thổ-nhĩ-kỳ theo Hồi giáo, xâm chiếm Âu-châu, giết hại người Công giáo, tàn phá các thánh đường, gây đau thương tang tóc cho Hội thánh. Đứng trước tình thế thảm thương đó, Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ 5 kêu gọi người Công giáo thành lập Đạo Binh Thánh Giá chống trả, đồng thời cổ động mọi người sốt sắng lần chuỗi Môi Khôi, để kêu xin Đức Mẹ cứu giúp…

Một cuộc chiến dữ dội giữa quân Hồi giáo với Đạo Binh Thánh Giá đã diễn ra tại vịnh Lê-păn. Nhưng lực lượng đôi bên quá chênh lệch: quân Hồi giáo rất đông và dùng những vũ khí tối tân, còn Đạo Binh Thánh Giá quân số ít ỏi, vũ khí thô sơ, lại không thạo nghề chinh chiến. Thế mà Đạo Binh Thánh Giá đã chiến thắng vẻ vang. Hôm đó là ngày 7 tháng 10 năm 1571. Vì thế Đức Giáo Hoàng đã chọn ngày nầy để mầng kính Đức Mẹ Môi Khôi, ghi nhớ hiệu lực kỳ diệu của việc lần chuỗi Môi Khôi, và tạ ơn Đức Mẹ đã cứu giúp Hội thánh.

Chuỗi Môi Khôi rất cao quý và hiệu lực vì nội dung phong phú dồi dào, múc lấy từ nguồn Kinh Thánh. Đây là cách lần hột bằng cách đọc 150 kinh Kính Mầng, mỗi 10 kinh thì suy gẫm một mầu nhiệm trong đời sống Chúa Giê-su và Đức Mẹ. Kinh Kính Mầng chính là Kinh Thiên thần Gáp-ri-en đã đọc lên ngày Truyền Tin cho Đức Mẹ, các mầu nhiệm năm sự vui, năm sự thương, năm sự mầng đã được trích từ các sách Tin mừng theo thánh Mat-thêu, Mát-cô, Lu-ca và Gio-an.

Chính Đức Mẹ đã dạy Thánh Đa-minh cách lần chuỗi nầy khắp nơi từ đầu thế kỷ thứ 13. Ngài gọi đó là cách cầu nguyện bình dân theo Phúc âm rất đẹp lòng Đức Mẹ, vì Mẹ mong muốn mọi người lần chuỗi nầy, để Mẹ cầu cùng Chúa ban cho mọi ơn lành phần hồn phần xác.

Tiếp theo Thánh Đa-minh vào thế kỷ 15, Chân Phước A-len Rốt cũng cổ động việc lần chuỗi Môi Khôi, và đầu thế kỷ 18, Chân Phước Lu-y Mông-pho cũng nhiệt thành phổ biến cách lần chuỗi nầy. Ngài con lập Hội Môi Khôi để quy tụ những người thiện chí dùng chuỗi nầy mà cầu nguyện cho kẻ tội lỗi và người ngoại giáo trở lại cùng Chúa. Kết quả thật phi thường: nhờ chuyên cần lần chuỗi Môi Khôi mà Lu-y Mông-pho và hiệp hội của ngài đã đem nhiều người trở về với Chúa.

Mừng lễ Đức Mẹ Môi Khôi, Hội thánh muốn nhắc mọi người nhớ sức mạnh cứu rỗi của chuỗi nầy, mà siêng năng lần chuỗi Môi Khôi, để cứu rỗi linh hồn mình và xây dựng Nước Chúa.

* Quyết tâm

Hằng ngày tôi siêng năng lần chuỗi Môi Khôi, và vào hội chuỗi Môi Khôi sống, để cứu vớt linh hồn tôi và mọi người.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã dùng lời thiên sứ truyền tin mà cho chúng con biết thật Đức Ki-tô, Con Chúa đã xuống thế làm người. Xin đổ ơn thánh đầy lòng chúng con, để nhờ công ơn Con Chúa chịu khổ hình thập giá, và nhờ lời Thánh Mẫu Ma-ri-a chuyển cầu, Chúa cũng cho chúng con được sống lại hiển vinh. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 9 tháng 10
THÁNH ĐI-Ô-NI-XI
và các bạn Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Theo truyền thuyết, thánh Đi-ô-ni-xi Giám mục tiên khởi Pa-ri, nước Pháp, chính là A-tê-ni-en được thánh Phao-lô đem trở lại đạo. Và sau khi trở lại, ngài đã từ bỏ danh vọng, của cải, bạn hữu để đi giảng đạo. Nhờ thánh Phao-lô đào tạo, và với trí thông minh, ngài đã làm rạng rỡ danh Chúa khắp nước nầy.

Dựa theo tường thuật của thánh Ghê-gô-ri-ô thành Tua, năm 200, Đức Giáo Hoàng Pha-bi-a-nô đã sai bảy Giám mục đến truyền giáo tại sứ Gôn. (Tên gọi nước Pháp ngày xưa), trong số đó có thánh Đi-ô-ni-xi. Ngài đến tận kinh đô Pa-ri lúc đó gọi là Lu-téc, và đi khắp nơi giảng đạo Chúa. Đi đến đâu, người ta cũng ùn ùn kéo đến nghe ngài giảng, và rất nhiều người trở lại đạo. Ngài cho cất nhiều nhà thờ để tập họ đọc kinh cầu nguyện, tham dự Thánh lễ và ban các Bí tích cho họ. Với các giáo dân ngày càng đông, thánh nhân thành lập giáo đoàn tại Pa-ri và làm Giám mục tiên khởi giáo phận nầy. Ngài có được hai cộng sự viên là Linh mục Rút-ti-cô và thầy sáu Ê-lên-tê.

Thánh nhân hết sức vui mầng vì thành quả đã đạt được. Và ngài càng nỗ lực truyền giảng đạo Chúa hơn nữa, mong đem hết mọi linh hồn về cho Chúa. Nhưng ma quỷ không bao giờ để cho người của Chúa được thành công dễ dàng. Chúng xúi giục các tư tế dân ngoại tố cáo lên hoàng đế. Ông ta ra lệnh bắt giết người theo đạo Công giáo. Thánh nhân cùng với hai cộng sự viên là Rút-ti-cô và Ê-lên-tê bị bắt tống ngục. Nhưng tù ngục, đòn vọt không lay chuyển nổi lòng tin sắt đá của Ngài, mặc dầu lúc đó ngài đã trên 100 tuổi. Bị lửa thiêu đốt, ngài vẫn ca tụng Chúa; bị treo lên khổ giá, ngài cao rao mầu nhiệm phục sinh của Chúa và ơn cứu chuộc của Người, khiến cho nhiều người càng tin theo Chúa. Thấy không lợi mà còn tạo thêm dịp cho thánh nhân giảng đạo, nhà vua đã ra lệnh chém đầu ngài cùng với các cộng sự viên của ngài.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Đi-ô-ni-xi, tôi can đảm làm chứng cho Chúa, bằng lời nói, việc làm và gương tốt đời sống, nhất là bằng sự hy sinh chịu khó hằng ngày.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã sai thánh Đi-ô-ni-xi và các bạn đi rao giảng Tin mừng cho lương dân, và ban cho các ngài được can đảm chịu cực hình vì Chúa. Xin nhận lời các ngài nguyện giúp cầu thay, mà ban cho chúng con lúc thịnh đạt biết giữ tâm hồn thanh thoát, và khi gặp nghịch cảnh, không nản chí sờn lòng. Chúng con cầu xin …

 

THÁNH GIO-AN LÊ-Ô-NA-ĐI Linh Mục

* Gương Thánh nhân

Thánh Gioan Lê-ô-na-đi sinh năm 1541 tại Tốt-ca, nước Ý, cha mẹ ngài làm nghề thầy thuốc, nên khi lớn lên, ngài cũng nối nghiệp làm nghề nầy cho tới năm 25 tuổi, thì được Chúa gọi dâng mình cho Chúa. Ngài bắt đầu học triết học, thần học và tập rèn nhân đức. Năm 1571, ngài được thụ phong Linh mục.

Từ đó, thánh nhân chuyên lo giảng dạy giáo lý và hướng dẫn giới trẻ. Để có người cộng tác, ngài thiết lập một tu hội giáo dân, quy tụ những tín hữu thiện chí và có khả năng, giúp ngài truyền bá giáo lý tinh tuyền của Hội thánh, vì lúc đó lạc thuyết đang lan tràn, làm cho nhiều người Công giáo phải hoang mang về đức tin. Ngài dựa theo tinh thần canh tân của Công đồng Tri-đen-ti-nô mà hướng dẫn giới trẻ và củng cố niềm tin cho người lớn.

Nhưng vì thấy sự hiểu biết giáo lý của giáo dân rất hạn chế, nên năm 1574, thánh nhân lập thêm Hội Dòng Giáo sĩ Mẹ Thiên Chúa để truyền đạt giáo lý cho mọi người. Đây là những giáo sĩ tình nguyện khảo cứu sâu rộng giáo lý, và dùng lời giảng dạy cũng như sách vở để phổ biến cho giáo dân. Hội dòng đã được Đức Giáo Hoàng Clê-mên-tê thứ 8 phê nhận, và giao cho việc canh tân Hội thánh.

Đây là việc làm rất hữu ích và cần thiết, nhưng cũng rất khó khăn, đòi hỏi nhiều điều kiện, nhất là phải có tâm hồn siêu thoát. Trong bức thư gởi Đức Giáo Hoàng Phao-lô thứ 5, bàn về công cuộc canh tân nầy, thánh nhân đã viết: “Những ai muốn chấn hưng phong phú, cần nhất phải lo tìm vinh danh Chúa trên hết mọi sự. Người là nguồn phát sinh mọi điều thiện hảo, nên họ phải cầu xin và trông đợi Người trợ giúp trong công việc hữu ích nhưng vô cùng khó khăn thể ấy. Sau đó, họ đặt mình trước mặt những người mà họ muốn cải cách như là tấm gương và mọi nhân đức, và như những ngọn đèn đặt trên giá, để bằng đời sống thanh liêm và phong thái rạng ngời, họ chiếu sáng cho mọi người cư ngụ trong nhà Thiên Chúa.”

Hăng say trong việc canh tân, thánh nhân đụng chạm đến nhiều người, nên bị họ chống đối dữ dội, đến nỗi ngài phải chạy về Rô-ma. Tại đây, ngài vẫn tiếp tục công cuộc cải cách và sáng lập trường đào tạo các nhà truyền giáo; đây là khởi điểm Trường Truyền giáo của Hội thánh, vẫn còn tồn tại đến ngày nay.

Thánh nhân qua đời ngày 9 tháng 10 năm 1609 và năm 1933 được tôn phong Hiển thánh.

* Quyết tâm

Nhiệt thành cộng tác với những người thiện chí, sửa đổi những gì chưa tốt chưa đẹp trong gia đình, xã hội cũng như Hội thánh, theo gương thánh Gioan Lê-ô-na-đi.

* Lời nguyện

Lạy Chúa là Đấng ban phát mọi ơn lành, Chúa đã khơi dậy trong lòng thánh Gioan Lê-ô-na-đi niềm khát vọng rao giảng Tin mừng cho muôn dân. Vì lời thánh nhân chuyển cầu, xin cho công cuộc truyền bá đức tin hằng phát triển trên toàn thế giới. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 11 tháng 10
THÁNH PHÊ-RÔ LÊ TÙY
Linh Mục Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Kinh Thánh thuật lại thời vua Ăn-ti-ô-cô cấm đạo, người ta bắt dân Chúa phải ăn thịt luật cấm, ai bất tuân sẽ bị xử tử. Có cụ Ê-lê-a-xa đã 90 tuổi bị bắt ép ăn thịt, nhưng cụ thà chết hơn là lỗi luật Chúa. Các lý hình thấy cụ già cả thì thương, muốn cứu sống cụ nên bảo: “Cụ hãy đem đến đây loại thịt nào được phép ăn, rồi giả bộ ăn trước mặt vua, để vua tha chết cho cụ.” Nhưng cụ đáp: “Các cậu đã thương tôi, song tôi không dám gian dối lường gạt Thiên Chúa”. Cụ đã bị đánh đòn đến chết, vì trung thành tuân giữ luật Chúa. (2 Mcb. 1).

Thánh Phê-rô Lê Tùy cũng như cụ Ê-lê-a-xa vì không khai gian nói dối mà bị tử hình, chịu chết đổ máu ra làm chứng cho Chúa. Lúc bị bắt nộp cho quan huyện Thanh Phương, quan bảo ngài khai là thầy thuốc chớ không phải Linh mục, quan sẽ cứu ngài khỏi chết. Nhưng cha từ chối không chịu khai dối, nên bị tống ngục và sau cùng phải trảm quyết (chém đầu).

Phê-rô Tùy sinh năm 1773, tại làng Bằng Sở, tỉnh Hà Đông, trong một gia đình khá giả đức hạnh.

Ngay từ nhỏ, cậu được Chúa chọn giúp việc Chúa, nên khi lớn lên đã xin gia nhập Chủng viện Kẻ Vĩnh. Trong thời gian tu học ở đây, cậu tỏ ra xuất sắc về trí thông minh và lòng đạo đức, được bề trên cũng như mọi người mến chuộng. Sau khi mãn thần học, Thầy Tùy thụ phong Linh mục, được bổ nhiệm làm phó xứ Đông Thành, rồi Châu Lộc, và sau được cử làm chánh xứ Nam Đường.

Là một Linh mục hiền lành, nhân đức, nhiệt thành trong sứ vụ tông đồ, nên dù ở đâu, với chức vụ nào, cha cũng luôn luôn sốt sắng chu toàn nhiệm vụ. Nhờ cha nhiều người chưa biết Chúa được nhận lãnh đức tin, những tín hữu bê bối trở lại đạo đức…

Giữa lúc cha hoạt động tông đồ đắc lực như thế, ngày 6 tháng giêng năm 1833, vua Minh Mạng ra sắc chỉ cấm đạo gắt gao. Và một tháng sau lại xảy ra cuộc nổi loạn của nhóm Lê Văn Khôi ở miền nam. Vua nghi ngờ người Công giáo theo phe phản loạn, nên ra lệnh bắt bớ giết hại dữ dội. Trước tình thế khó khăn, cha Phê-rô cũng như các Linh mục khác phải ẩn lánh rày đây mai đó, không còn hoạt động tông đồ công khai được. Dù vậy, cha cũng cố gắng lén lút thi hành sứ vụ, tìm cách dâng Thánh lễ và ban các Bí tích cho giáo dân, nhất là khích lệ mọi người can đảm trung thành tin theo Chúa.

Ngày 25 tháng 6 năm 1833, có người đến rước cha đi xức dầu cho một giáo hữu bệnh nặng ở gần những người lương. Trong khi cha xức dầu, một nhóm người ngoại đạo bắt trói cha nộp cho quan huyện Thanh Phương. Giáo hữu nghe tin cha bị bắt rất thương tiếc. Họ không đành để cho một vị cha già hết lòng tận tụy hy sinh cho đoàn chiên phải chịu cực hình khổ sở. Họ hùn tiền đến xin chuộc cha, nhưng sự việc không thành. Thế là cha bị đóng gông giải về tỉnh Nghệ An, tống vào ngục.

Trong thời gian gần bốn tháng bị giam giữ ở đây, nhiều lần quan đòi cha ra công đường tra khảo, bắt ép cha quá khóa (bước qua Thánh giá) chối đạo. Nhưng cha luôn từ chối, thà chịu khổ chịu chết vì Chúa chớ không bao giờ bỏ đạo. Thấy cực hình không khuất phục nổi lòng tin sắt đá của vị anh hùng, quan đổi chiến lược, trở lại dụ dỗ:

- Ai thấy ông bị đòn vọt tra tấn cũng bùi ngùi thương xót. Chính ta đây cũng rất thương ông, muốn cứu sống ông. Ông hãy khai mình là y sĩ chữa bệnh, chớ đừng khai là Linh mục. Ta sẽ thả ông.

Cha khẳng khái nói:

- Thiên Chúa dạy phải tôn trọng sự thật. Tôi là Linh mục, không thể khai gian nói dối. Dù có chết, tôi cũng bằng lòng.

Đứng trước lòng can đảm của bất khuất của người chiến sĩ Chúa Ki-tô, quan không còn cách nào khác hơn là làm án gởi về kinh cho vua định đoạt. Và vua Minh Mạng đã kết án trảm quyết ngài. Sáng ngày 11 tháng 10 năm 1833, ngài chịu chém đầu tại chợ Quân Ban, để làm chứng Chúa là Thiên Chúa thật, luôn dạy sự thật lẽ phải cho con người.

Ngày 27 tháng 05 năm 1900, Đức Thánh Cha Lê-ô 13 tôn phong ngài lên Chân phước. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô 2 suy tôn ngài lên bậc Hiển Thánh.

* Quyết tâm

Noi gương Thánh Phê-rô Lê Tùy Linh mục tử đạo, luôn luôn nói thật, làm theo sự thật, dù có khổ có chết cũng sẵn lòng chấp nhận, để làm chứng Chúa là Thiên Chúa thật.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 14 tháng 10
THÁNH CA-LÍT-TÔ Giáo Hoàng Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Thánh Ca-lít-tô là con một gia đình thuộc giai cấp nghèo khổ ở Rô-ma.

Lúc còn nhỏ, thánh nhân làm nô lệ cho một người Công giáo. Nhưng khi lớn lên, Đức Giáo Hoàng Xê-phi-rin thấy ngài có tinh thần hy sinh phục vụ thì chọn ngài và phong cho chức phó tế, giao cho trách nhiệm coi sóc các hang toại đạo trên đường Vi-a Áp-pi-a. Ngài tận tụy chu toàn bổn phận, và sống đạo đức thánh thiện nên được mọi người quý mến kính chuộng.

Khi Đức Xê-phi-rin băng hà, vào năm 217, thánh nhân được giáo sĩ và giáo dân chọn làm Giáo Hoàng kế vị. Nhưng Linh mục Híp-pô-lít phản đối, cho rằng ngài lạc đạo, vì ngài theo phe những người chấp nhận cho kẻ chối đạo mà biết ăn năn trở lại Hội thánh.

Trong 5 năm trên ngôi Giáo Hoàng, thánh nhân luôn tỏ ra sáng suốt cương nghị. Ngài giải quyết ổn thỏa mọi vấn đề rắc rối khó khăn trong Giáo hội, và kiên quyết bảo vệ đức tin chân chính, mặc dầu thời gian nầy Hội thánh đang lâm nguy; bên ngoài thì vua chúa lăm le bắt bớ, nội bộ lại sa sút chia rẽ.

Chính thánh nhân tổ chức các phẩm chức trong giáo triều, ngài cũng lập luật giữ chay trong toàn thể Hội thánh, kết án lạc thuyết về Chúa Ba Ngôi của Sa-ben-li-ô, và thuyết nhị nguyên về Chúa Giê-su của Híp-pô-li-tô. Ngài cho xây dựng nhiều thánh đường, nhưng hầu hết đều bị phá hủy trong những cơn bách hại. Đặc biệt thánh nhân cổ võ việc giảng đạo cho lương dân, và rất nhiều người đã trở lại tin theo Chúa. Do đó mà vua quan ngoại giáo căm tức oán ghét. Họ ra lệnh bắt giết người Công giáo để trả thù.

Nghe tin đó, đức Giáo Hoàng cùng với 10 Linh mục đến ẩn trốn tại nhà ông Pon-si-en. Được biết thánh nhân trú ẩn tại nhà nầy, vua quan sai quân lính đến bao vây. Trong 4 ngày bị bao vây, ngài luôn ăn chay cầu nguyện, kêu xin Chúa ban ơn giúp sức cho ngài can đảm làm chứng cho Chúa. Sau cùng tất cả đều bị tống ngục.

Trong thời gian tù ngục, mỗi sáng thánh nhân bị điệu ra xét hỏi và đánh đòn nhừ tử, rồi tống vào ngục. Thánh nhân phải chịu cực hình như thế nhiều ngày; mặc dầu đau đớn khổ cực, ngài vẫn kiên trì chịu đựng vì tin chắc Chúa sẽ thưởng công bội hậu, như lời thánh Giám mục Síp-ri-a-nô nói:

“Trước mọi khủng bố của ma quỷ cũng như đe dọa của thế gian, linh hồn vẫn đứng vững vì được củng cố nhờ đức tin kiên vững vào những điều tương lai. Bách hại của thế gian quản thúc ta, nhưng trời sẽ mở ra. Phản Ki-tô đe dọa ta, nhưng Đức Ki-tô bảo vệ ta. Người ta bắt ta phải chết nhưng sự bất tử sẽ theo sau. Thật vinh dự và an toàn biết bao khi lìa khỏi trần gian trong vui mầng, khi ra khỏi những áp bức cùng quẩn trong vinh quang; khi nhắm mắt lại, không còn nhìn nhân loại và trần gian nữa trong chốc lát, để rồi mở ra nhìn thấy Thiên Chúa và Đức Ki-tô ! Thật là hạnh phúc khi được đi qua nhanh dường ấy: trong phút chốc ta rời khỏi thế gian để rồi được an vị nơi thiên quốc”.

Đến ngày 14 tháng 10, người ta bắt ngài đeo một khối đá to, rồi xô xuống giếng.

Thánh nhân chết vì đạo năm 222.

* Quyết tâm

Hằng ngày lo làm tròn bổn phận đối với gia đình, xã hội và Giáo hội, theo gương thánh Ca-lít-tô Giáo Hoàng.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, ngày hôm nay chúng con mầng kính Thánh Ca-lít-tô Giáo Hoàng tử đạo. Vì công đức của người, xin Chúa thương nhận lời chúng con khẩn nguyện, mà che chở gìn giữ chúng con. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 15 tháng 10
THÁNH TÊ-RÊ-SA A-VI-LA
Trinh Nữ Tiến Sĩ

* Gương Thánh nhân

Thánh nữ Tê-rê-sa sinh năm 1515, tại A-vi-la, nước Tây-ban-nha, trong một gia đình quý tộc đạo đức. Lúc nhỏ, thánh nữ rất thích đọc sách tu đức và hạnh thánh tử đạo, thấy các ngài can đảm hy sinh chịu khổ chịu chết vì Chúa, và được nên Thánh Cả trong Hội thánh, ngài bảo em: ‘Chúng ta hãy đến chỗ người ta đang bắt đạo, để chị em mình được chết vì đạo, được Chúa thưởng lên thiên đàng hưởng phước với các thánh.”

Thánh nữ chỉ mong được lên thiên đàng, và rất sợ hình khổ hỏa ngục. Thế là hai chị em kéo nhau đi. Nhưng đi được một quãng thì người cậu bắt gặp dẫn về.

Tê-rê-sa có lòng kính mến Đức Mẹ đặc biệt. Mỗi ngày ngài lần chuỗi Môi Khôi để tỏ lòng tôn kính Mẹ. Và năm lên 12 tuổi, mẹ ngài mất, ngài đến quỳ trước ảnh Đức Mẹ, xin Đức Mẹ nhận ngài làm con, và hứa suốt đời sống xứng đáng làm con Đức Mẹ.

Nhưng khi lớn lên, thánh nữ nhiễm mùi thế tục, vì ảnh hưởng không tốt của sách vở ngài đọc. Ngài bắt đầu trau tria làm tốt, ăn mặc đẹp đẽ, thích được người ta khen ngợi ve vản, ngày ngày mơ mộng vẩn vơ…

Cha ngài thấy vậy thì lo sợ, nên gởi ngài vào học nội trú trường các nữ tu dòng Thánh Au-cơ-tinh. Mặc dầu không muốn, nhưng Tê-rê-sa đã vâng lời vào trường, và ngài đã nhờ nếp sống đạo đức và gương sáng thánh thiện của các nữ tu mà tìm lại được lòng nhiệt thành sốt sắng như trước.

Nhưng chẳng may Tê-rê-sa ngã bệnh nặng, phải trở về nhà chữa trị. Dường như Chúa muốn luyện lọc ngài qua nhiều thử thách để trui rèn tâm hồn ngài: 12 tuổi mất mẹ, 15 tuổi nhiễm mùi thế tục, nay lại phải bệnh hoạn nặng nề !...

Trong thời gian chữa bệnh, thánh nữ nhận ra đời sống con người thật mỏng manh, nay khỏe mạnh mai ốm đau, và sự chết có thể đến dễ dàng bất cứ lúc nào. Và nếu chết mà còn mắc tội trọng, còn xa Chúa thì thật khốn khổ biết bao. Và ngài nghĩ đến hình khổ hỏa ngục rất đáng khiếp sợ… Lúc đó, ngài quyết tâm theo Chúa, mến Chúa, hiến trọn tình yêu cho Chúa, suốt đời chỉ yêu mến một mình Chúa thôi.

Thế là sau khi mạnh lại, thánh nữ đã xin nhập dòng Kín Ca-mê-lô tại A-vi-la, năm ngài 19 tuổi. Lúc đó nhà dòng còn sống thoải mái tự do, chưa nhiệm nhặt như ngày nay. Ngài đã sống trong cảnh như thế trong 15 năm.

Đến năm 1555, thánh nữ cảm thấy một cuộc chuyển biến sâu xa trong tâm hồn, khi ngài suy niệm về sự Thương Khó Chúa Giê-su. Ngài thấy Chúa khổ nhục nặng nề, còn mình sống tự do nhẹ nhàng. Ngài lấy làm sỉ nhục đau đớn và xót thương Chúa vô cùng. Trong thời gian nầy, thánh nữ được hưởng nhiều thị kiến lạ lùng. Những thị kiến của ngài đều được các nhà thần học công nhận là xác thực. Ngài nói: “Mỗi khi suy tưởng đến Đức Ki-tô, chúng ta hãy luôn nhớ đến tình yêu đã giục Người ban cho chúng con biết bao ân huệ. Hãy nhớ Thiên Chúa đã bày tỏ Người yêu thương chúng ta biết bao, khi cho chúng ta bằng chứng cả thể như vậy về tình yêu của Đức Ki-tô đối với chúng ta: và vì tình yêu đòi hỏi tình yêu, nên chúng ta hãy làm thế nào để luôn nhớ điều ấy, hầu nhờ đó mà thúc giục mình yêu mến. Thật vậy, nếu Thiên Chúa chỉ ban ơn nầy cho chúng ta một lần mà thôi, đó là ghi khắc sâu đậm tình yêu vào lòng chúng ta, thì mọi sự sẽ rất dễ dàng, và chỉ trong chốc lát chúng ta sẽ tiến lên rất nhiều và không phải khó nhọc gì”.

Thánh nữ đã yêu mến, đã sống thân mật với Chúa Giê-su như người bạn, nên được Người mạc khải cho biết nhiều điều bí nhiệm, nhất là chỉ bảo ngài chỉnh đốn lại Dòng Kín Ca-mê-lô theo đúng ý Người muốn, với luật dòng nghiêm nhặt hơn, tất cả các nữ tu sống cách biệt với trần thế, tận hiến cuộc đời cho kinh nguyện hầu cứu vớt các linh hồn.

Thánh nữ qua đời ngày 15 tháng 10 năm 1582, được phong thánh năm 1628, và năm 1970 thì được Đức Thánh Cha Phao-lô 6 đặt làm tiến sĩ Hội thánh.

* Quyết tâm

Noi gương thánh nữ Tê-rê-sa, tôi hết lòng yêu mến Chúa, sẵn sàng hy sinh chịu khó hằng ngày, vì Chúa đã thương yêu tôi vô cùng.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã ban ơn Thánh Thần soi sáng Thánh nữ Tê-rê-sa A-vi-la, để người vạch ra cho Hội thánh một con đường dẫn đến đỉnh cao toàn thiện. Xin cho chúng con hấp thụ giáo huấn của Người, và luôn khát khao sống cuộc đời lành thánh. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 16 tháng 10
THÁNH HÉT-VÍCH Nữ Tu

* Gương Thánh nhân

Thánh nữ Hét-vích sinh năm 1174, tại Ba-vi-ê, là con một gia đình quý tộc đạo đức. Năm lên 13 tuổi, thánh nữ đã kết hôn với bá tước Hen-ri miền Si-lê-si, và sinh được 6 người con.

Sau đó hai vợ chồng quyết định hiến thân cho Chúa, sống với nhau như anh em, để vừa lo dạy dỗ giáo dục con cái, vừa lo sống đạo đức khiết tịnh và làm việc bác ái từ thiện.

Từ đó thánh nữ hãm mình ép xác, ăn chay cầu nguyện. “Vì biết rằng những viên đá sống động mà Chúa định dùng để xây Giê-ru-sa-lem thiên quốc, ngay khi còn ở dương thế cần phải gọt dũa cho nhẵn bóng, và chịu nhiều thử thách mới có thể đạt đến vinh quang cao trọng và quê hương vinh hiển, nên nữ tỳ Chúa đã sẵn sàng chịu hết mọi đau khổ, và đã hành hạ thân xác không mảy may tiếc xót bằng những trận đòn phạt xác không ngừng. Quả thật, ngài đã chết dần mòn bởi ăn chay, và kiêng cử hằng ngày, đến nỗi có lắm người thán phục, không hiểu sao một phụ nữ yếu đuối như thế lại có thể chịu đựng được những giày vò thân xác như vậy.

Dù cần mẫn hãm mình ép xác, ngài vẫn hết sức kín đáo; và càng đề cao cảnh giác, thì sức mạnh tinh thần càng cao, ơn Chúa càng đầy, lòng đạo đức và lửa mến Chúa càng nung nấu cao độ trong tâm hồn… Tâm hồn sốt mến làm cho ngài hướng về Thiên Chúa thế nào, thì lòng nhân ái cũng làm cho ngài hướng về tha nhân, qua việc bố thí rộng rãi cho kẻ cùng khốn như vậy…

Và bởi vì nữ tỳ Chúa không bao giờ chểnh mảng làm việc thiện, nên đã được Chúa ban cho ơn nầy là, khi con người thiếu phương tiện và không còn sức riêng để làm việc thì cậy nhờ vào sức mạnh của Thiên Chúa và cuộc khổ nạn Đức Ki-tô, ngài đáp ứng được nhu cầu của những kẻ đến nài xin ngài giúp đỡ. Do đó, đối với những kẻ chạy đến xin giúp đỡ phần hồn phần xác, ngài đều có thể trợ giúp được theo như Chúa muốn”.

Hằng ngày thánh nữ chăm sóc 13 người nghèo khổ, coi những người nầy như 12 thánh tông đồ và Chúa Giê-su. Ngài thương họ, lo lắng cho họ hết sức ân cần chu đáo, như lo cho chính Chúa Giê-su và các tông đồ của Người.

Nhưng Chúa thường thử thách kẻ có lòng kính mến Người. Thánh nữ phải chịu nhiều đau khổ do chồng con gây ra. Mấy đứa con trai luôn tranh chấp quyền lợi với nhau, còn chồng thì lại tranh chấp địa vị với bá tước bên cạnh, hai người chiến đấu với nhau, khiến Hen-ri chồng ngài bị thương nặng và chết năm 1238.

Hết sức đau lòng, nhưng thánh nữ luôn sẵn sàng chấp nhận và vâng theo thánh ý Chúa. Những đau khổ chồng chất đó chẳng những không làm cho ngài nản chí, mà còn giúp ngài tăng thêm lòng đạo đức thánh thiện và dứt bỏ mọi sự thế gian. Thánh nữ đã lập một dòng khổ tu, sống nhiệm nhặt theo luật dòng và qua đời tại đây ngày 15 tháng 10 năm 1243. Năm 1267, ngài được tôn phong Hiển thánh.

* Quyết tâm

Cầu xin cho những người có gia đình biết lo sống đạo đức thánh thiện, và sẵn lòng chịu mọi khổ cực do gia đình gây ra, để làm sáng danh Chúa, theo gương thánh nữ Hét-vích.

* Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng, Chúa đã lấy đời sống lạ lùng của thánh Hét-vích mà nêu gương khiêm nhường cho mọi người. Vì lời chuyển cầu của thánh nữ, xin Chúa thương ban ơn trợ giúp con trên đường về quê trời. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH NỮ
MA-GA-RI-TA MA-RI-A A-LA-CỐC

* Gương thánh nhân

Thánh nữ Ma-ga-ri-ta sinh năm 1647, tại Lô-tơ-cua, nước Pháp. Lúc nhỏ, thánh nữ có lòng tôn kính Đức Mẹ đặc biệt. Ngài siêng lần chuỗi Môi Khôi hằng ngày để tỏ lòng sùng kính Mẹ.

Nhưng mới lên 8 tuổi, thánh nữ đã gặp phải cơn thử thách nặng nề, cha ngài từ trần, để lại người mẹ yếu đuối với 7 người con, mà ngài là con thứ năm. Vì thế mẹ ngài phải điều động gia đình về tá túc quê ngoại. Ở đây mẹ ngài không làm gì ra tiền, mà còn bị bà con lối xóm rút rỉa, làm cho mẹ con ngày càng nghèo túng. Nhưng dù sao mẹ ngài cũng lo cho con cái ăn học; thánh nữ được gởi học ở tu viện thánh Cla-ra, và rước lễ lần đầu tại đây.

Sau ngày rước Chúa lần đầu, thánh nữ cảm thấy muốn dâng mình cho Chúa. Nhưng Chúa còn thử thách ngài: ngài ngã bệnh nặng, phải nằm tịnh dưỡng 4 năm trời. Ngài cầu xin Đức Mẹ và hứa khi được mạnh lại, sẽ vào dòng dâng kính Mẹ. Đức Mẹ đã nhậm lời ngài, cho ngài mạnh lại. Thế là tháng 6 năm 1671, Ma-ga-ri-ta đã gia nhập Dòng Đức Mẹ Thăm Viếng tại Pa-rây-mô-ni-a.

Trong cuộc tĩnh tâm khấn dòng tháng 11 năm 1672, thánh nữ thấy Chúa Giê-su hiện ra, đầu đội mão gai, vai vác thập giá, toàn thân đầy vết tích với trái tim loang máu trên ngực và nỏi:

- Đây là trái tim Cha yêu mến loài người quá bội, nhưng loài người đã vô tình phụ bạc. Con hãy mời gọi mọi người tôn sùng Trái Tim Cha, để đáp lại tình thương của Cha.

Sau đó Chúa Giê-su còn hiện ra nhiều lần với thánh nữ, và giao cho ngài sứ mạng truyền bá việc tôn sùng Trái Tim Người.

Từ đó, thánh nữ nhiệt thành cổ động mọi người tôn sùng Trái Tim Chúa. Ngài nói: “Theo tôi, Chúa Giê-su rất ao ước cho Thánh Tâm Người được tôn sùng một cách đặc biệt, là cốt để cho hiệu quả ơn cứu chuộc được phục hoạt trong tâm hồn chúng ta. Bởi vì, Thánh Tâm Người là nguồn mạch sung mãn chỉ muốn tràn vào tâm hồn những người khiêm tốn, để họ tình nguyện và sẵn lòng hy sinh tất cả đời mình làm đẹp lòng Người”.

“Có ba nguồn suối từ Thánh Tâm Chúa tràn ra liên lỷ: trước tiên là nguồn suối nhân từ đối với tội nhân, để họ được tinh thần ăn năn sám hối. Kế đến là nguồn suối yêu thương chảy ra để cứu giúp những kẻ lao nhọc đang túng thiếu, nhất là những ai đang khao khát nên trọn lành, để họ có sức thắng vượt trở ngại. Sau cùng là nguồn suối tuôn tràn tình yêu và ánh sáng, cho những bạn hữu trọn lành mà muốn liên kết với Người, để thông cho sự khôn ngoan cũng như các huấn giới của Người, hầu mỗi người theo cách thức của mình mà hoàn thành tận hiến mình để làm vinh danh Người”.

“Trái Tim Chúa là vựa mọi ơn lành để người nghèo khó đến dìm mọi nhu cầu của mình xuống, là khu vực vui vẻ để dìm mọi ưu phiền của chúng ta, là vực khiêm tốn để lấp đầy lòng kiêu ngạo của chúng ta, là vực nhân ái cho những ai bất hạnh, và là vực yêu thương để nuốt mọi thống khổ của chúng ta”. Bởi thế, trong mọi việc, các bạn hãy liên kết với Trái Tim Chúa Giêsu- Kitô…”

Thánh nhân qua đời ngày 16 tháng 10 năm 1690, và năm 1920 được phong lên Hiển thánh.

* Quyết tâm

Nghe lời thánh nữ Ma-ga-ri-ta truyền dạy, hằng ngày tôn sùng Thánh Tâm Chúa Giê-su và cổ động cho nhiều người cũng tôn kính, để được hưởng nhờ mọi ân huệ thiêng liêng của Người.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, xin tuôn đổ vào lòng chúng con ơn Thánh Thần như xưa Chúa đã rộng ban cho thánh nữ Ma-ga-ri-ta Ma-ri-a, nhờ đó, chúng con sẽ hiểu biết tình thương của Đức Ki-tô, là tình thương vượt quá sự hiểu biết của loài người, và cho chúng con sẽ được đầy tràn sức sống viên mãn của Chúa. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 17 tháng 10
THÁNH I-NHA-XI-Ô ĂN-TI-Ô-KI-A
Giám Mục Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Theo truyền thuyết, thánh I-nha-xi-ô chính là đứa trẻ mà Chúa Giê-su đặt giữa các môn đệ, để dạy các ông bài học khiêm tốn và tin tưởng phó thác như trẻ thơ, để được vào Nước Trời. Câu chuyện xảy ra như sau:

“Các môn đệ lại gần hỏi Đức Giê-su rằng:

- Thưa Thầy, ai là người lớn nhất trong Nước Trời?

Đức Giê-su liền gọi một em nhỏ đến, đặt vào giữa các ông và bảo:

- Thầy bảo thật anh em: nếu anh em không trở lại mà nên như trẻ em, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời. Vậy ai tự hạ, coi mình như em nhỏ nầy, người ấy sẽ là người lớn nhất Nước Trời. (Mt. 18, 1-4).

Thánh I-nha-xi-ô có biệt hiệu là Tê-ô-pho, là người mang Chúa. Ngài là vị Giám mục thứ ba của giáo đoàn Ăn-ti-ô-ki-a, sau thánh Phê-rô và thánh Ê-vô-đi-ô.

Thánh nhân là một vị Giám mục thánh thiện nổi tiếng, là gương mẫu mọi nhân đức cho các thành phần trong Hội thánh. Trong suốt 40 năm cai quản giáo phận, ngài luôn tỏ ra là Vị mục tử nhân lành và nhiệt tâm lo truyền bá đức tin.

Đời sống thánh thiện và lòng nhiệt thành truyền giáo của thánh nhân đã thấu đến tai hoàng đế Tra-đa-nô. Ông ta là người mê tín, nghĩ rằng muốn làm đẹp lòng các thần minh thì phải tiêu diệt người Công giáo. Vì thế khi nghe nói vị Giám mục thánh thiện nhiệt tâm truyền giáo nầy, ông ta không thể bỏ qua được. Thế là tháng giêng năm 107, ông ta thân hành đến Ăn-ti-ô-ki-a, ra lệnh bắt thánh nhân đến cho ông ta tra xét. Vừa thấy mặt thánh nhân, ông ta lớn tiếng bảo:

- Có phải chính mi là Giám mục I-nha-xi-ô, là tên xúc phạm đến thần minh của ta chăng?

- Chính tôi đây.

Nhà vua hỏi tiếp:
- Người ta bảo rằng mi lấy biệt hiệu là Tê-ô-pho, Tê-ô-pho có nghĩa là gì?

Ngài thưa:
- Có nghĩa là người mang Chúa trong lòng.

Vua bảo:
- Mi tưởng rằng ta không mang thần minh trong lòng ta sao? Mi hãy tế thần minh đi.

Thánh nhân thưa:
- Thần minh của các ông chỉ là ma quỷ bụt thần, không đáng cho chúng tôi tế lễ. Chúa chúng tôi mới đúng thật là Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa mà mọi người đều có bổn phận phải tôn thờ.

Nhà vua nổi nóng lên, quát lớn:
- Tế thần mau, bằng không mi phải chết.

Thánh nhân thưa:
- Tôi không tế thần. Tôi sẵn sàng chết vì Chúa tôi.

Thấy không thể nào lay chuyển lòng tin của thánh nhân, nhà vua truyền lệnh đem ngài về Rô-ma cho thú dữ xé xác.

Thế là hôm sau, người ta điệu thánh nhân đến Rô-ma. Dọc đường, ngài viết thơ xin các giáo đoàn giúp cho ngài sớm được thú dữ nghiền nát, để nên bánh dâng hiến Chúa: “Tôi viết cho mọi Hội thánh và loan báo cho mọi người biết tôi sẵn sàng chết vì Chúa, miễn là anh em đừng ngăn cản tôi. Hãy để tôi nên của ăn cho thú dữ, cho tôi được về cùng Thiên Chúa. Tôi là hạt lúa miến của Thiên Chúa, tôi sẽ bị răng thú dữ nghiền nát, để trở nên bánh tinh tuyền của Đức Ki-tô. Anh em hãy cầu xin Đức Ki-tô cho tôi, để nhờ các khổ hình, tôi trở nên hiến lễ cho Thiên Chúa”.

Tại Rô-ma, thánh nhân đã được Chúa ban như lòng sở nguyện. Người ta đã trói quăng ngài cho thú dữ cắn xé, và ngài đã trở nên hiến lễ cho Thiên Chúa vào năm 107.

* Quyết tâm

Noi gương thánh I-nha-xi-ô, hằng ngày tôi sẵn lòng chịu mọi sự khổ sự cực vì Chúa, làm của lễ dâng tiến Chúa, để nên phương tiện cứu rỗi linh hồn tôi và anh chị em tôi.

* Lời nguyện

Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã cho các anh hùng tử đạo can đảm tuyên xưng đức tin, để làm vẻ vang cho toàn thể Hội thánh. Hôm nay chúng con mầng thánh Giám mục I-nha-xi-ô đã qua đường khổ nạn mà đạt tới vinh quang. Xin cho chúng con cũng được nhờ công đức của Người mà giữ vững một lòng tin bất khuất. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH I-SI-ĐÔ-RÔ KÍNH
Linh Mục Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Chúa Giê-su tuyên bố: “Mạng sống của tôi, không ai lấy đi được, nhưng chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình” (Ga. 10, 18).

Vì thương loài người, Chúa Giê-su đã hy sinh mạng sống, chịu chết treo trên thánh giá, để cứu mọi người khỏi khốn khổ phần hồn phần xác. Noi gương Chúa, thánh I-si-đô-rô Kính, ,Linh mục thừa sai, cũng đã tự nguyện nộp mình chịu chết, với ước nguyện cứu đoàn chiên mình khỏi bị bách hại, dưới thời vua Minh Mạng bắt đạo.

I-sô-đô-rô tên thật là Ga-gơ-lin (Gagelin), sinh năm 1799 tại Pháp. Ngay từ nhỏ, cậu đã ước muốn làm Linh mục, giúp việc giảng đạo. Lớn lên, cậu xin vào chủng viện. Và sau thời gian tu học, thầy gia nhập Hội Thừa Sai Pa-ri là hội chuyên đào tạo Linh mục truyền giáo các nước.

Ngày 28 tháng 11 năm 1820, thầy cùng ba đồng bạn được gởi sang Việt Nam , và năm sau được Đức Cha Bình, Giám mục giáo phận Đàng Trong truyền chức Linh mục, và đặt tên là Kính.

Sau khi lãnh chức Linh mục, cha được Đức Cha bổ nhiệm làm giáo sư chủng viện An Ninh ở Quảng Trị. Với tinh thần tông đồ nhiệt thành, cha tận tụy giáo huấn các chủng sinh, ngoài ra cha còn tìm thời giờ rao giảng đạo Chúa cho người lương và ban Bí tích cho các tín hữu ở vùng phụ cận. Lúc đó Minh Mạng mới lên ngôi kế vị vua cha, việc giảng đạo còn dễ dàng.

Nhưng đầu năm 1827, vua ra lệnh tất cả các giáo sĩ ngoại quốc phải tập trung về Kinh đô, viện cớ cần nhờ các ngài dịch sách và làm thông ngôn cho triều đình; kỳ thực là cố ý ngăn chặn việc giảng đạo, và cô lập các chủ chăn để đàn chiên tan rả. Cha Kính cũng được lệnh triệu tập về triều đình, nhưng cha còn nán ở lại giúp các tín hữu. Đến khi có lệnh gọi lần thứ ba, cha mới lên đường về Kinh đô. Vua đề nghị ban chức tước cho cha, nhưng cha từ chối và nói:

- Tôi từ bỏ quê hương xứ sở đến đây là để giảng đạo cho người Việt Nam nhìn biết tôn thờ Chúa, hầu được cứu rỗi, được hưởng hạnh phúc muôn đời. Tôi không có ý sang đây để lãnh chức tước của triều đình. Nhưng việc nào có thể giúp được nhà vua thì tôi sẵn sàng.

Trong thời gian ở Kinh đô, cha gặp được hai Linh mục thừa sai khác là cha Từ và cha Phương. Các ngài bị giam lỏng trong triều đình, không được tự do làm việc tông đồ. May nhờ có quan Lê Văn Duyệt can thiệp, nhà vua buộc lòng trả tự do cho các ngài.

Cha Kính trở về Đồng Nai, đến nhiều họ đạo ở miền Nam , chăm sóc các giáo hữu. Năm 1829, cha đến chủng viện Lái Thiêu, được Đức Cha Từ chọn làm Bề Trên giáo phận, và phái đi truyền giáo ở miền Trung. Cha đến tỉnh Phú Yên và nhiều tỉnh khác, rao truyềnđạo Chúa cho mọi người. Nhờ cha, nhiều người lương được nhìn biết Chúa, các giáo hữu sốt sắng sống đạo.

Đang lúc cha hoạt động tông đồ đắc lực thì ngày 06 tháng giêng năm 1833, vua Minh Mạng ra chiếu chỉ cấm đạo gắt gao. Các Linh mục phải tìm nơi ẩn trốn, để lén lút ban các Bí tích cho bổn đạo. Cha cũng phải lẩn tránh như các Linh mục khác. Nhưng vì thấy nhiều giáo hữu bị bắt bớ, tù ngục, giết chết thảm thiết, cha không thể cầm lòng được. Cha hết sức đau lòng trước cảnh đàn chiên đau khổ tan tác. Cha viết thơ xin Đức Cha ban phép cha ra nộp mình cho vua quan, hy vọng cứu đàn chiên khỏi phải bắt bớ giết hại. Đức Cha Từ chấp thuận. Thế là tháng 05 năm 1833, cha ra trình diện với quan huyện Bồng Sơn, tỉnh Bình Định, và bị giải về Kinh thành Huế.

Suốt 7 tuần bị giam giữ ở đây, cha không phải thẩm vấn lần nào, vì vua quan biết rõ không thể nào lay chuyển nổi lòng tin sắt đá của cha. Và ngày 17 tháng 10 năm 1833, quân lính điệu cha đi xử giảo tại pháp trường Bãi Dâu. Đến nơi, cha quỳ gối cầu nguyện sốt sắng. Sau hồi chiêng hiệu lệnh, quân lính tròng dây vào cổ cha, kéo hai đầu dây thật mạnh; vị anh hùng chứng nhân của Chúa trút hơi thở cuối cùng, lãnh nhận triều thiên tử đạo vinh hiển…

Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã phong Chân phước cho cha ngày 27 tháng 05 năm 1900, và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Giáo Chủ Gioan-Phaolô 2 suy tôn cha lên Hiển thánh.

* Quyết tâm

Sẵn sàng từ bỏ gia đình xứ sở đi rao giảng đạo Chúa, và hy sinh chịu khổ chịu chết để đàn chiên Chúa được sống được phát triển, theo gương thánh I-si-đô-rô Kính Linh mục tử đạo.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 18 tháng 10
THÁNH LU-CA Thánh Sử

* Gương Thánh nhân

Thánh Lu-ca sinh tại Ăn-ti-ô-ki-a xứ Sy-ri, trong một gia đình đạo Do-thái. Ngài làm nghề thầy thuốc, và trong những lúc rảnh rỗi thì học thêm hội hoạ, nhờ đó mà sau nầy ngài họa ảnh Đức Mẹ.

Đang lúc hành nghề ở Ăn-ti-ô-ki-a thánh nhân nghe nói đến Chúa Giê-su, Người đang giảng đạo và làm nhiều phép lạ tại Giu-đê. Ngài muốn biết Người, thấy Người, và ngài đã tìm đến gặp Chúa. Khi gặp thấy Chúa và nghe Người bảo:

- Ai muốn làm môn đệ Ta, hãy từ bỏ mọi sự mà theo Ta.

Thế là thánh nhân từ bỏ quê hương gia đình đi theo làm môn đệ Chúa. Ngài luôn sống khắng khít với Chúa, nghe lời Chúa dạy, xem các phép lạ Chúa làm, chúng kiến cuộc Tử Nạn, Phục sinh và lên trời của Người. Ngài cũng đã nhận lãnh Thánh Thần trong ngày lễ Ngũ Tuần, và đi rao giảng Tin mừng cho Ăn-ti-ô-ki-a, xứ sở ngài.

Về sau, vì cảm phục tài đức Phao-lô, thánh nhân theo làm đệ tử ông, và phụ giúp ông trong các cuộc hành trình truyền giáo, cùng chia sẻ mọi nỗi nhọc nhằn, đau khổ, bách hại.

Được Chúa Thánh Thần linh ứng, thánh Lu-ca đã viết sách Tin mừng mang tên ngài, “Tin mừng theo thánh Lu-ca” và sách “Tông đồ Công vụ”. Sách Tin mừng tường thuật cuộc đời Chúa Giê-su và công cuộc cứu rỗi của Người, còn sách Tông Đồ Công Vụ kể lại các hoạt động truyền giáo của các Thánh Tông đồ.

“Thánh nhân được tặng cho danh hiệu là văn sĩ ca tụng lòng nhân hậu của Đức Ki-tô. Thánh Lu-ca lấy làm cảm kích về bản tính nhân loại tuyệt vời của một vị Thiên Chúa đã tỏ ra xao xuyến trước tình cảnh một bà mẹ vừa mất đứa con duy nhất; một vị Thiên Chúa làm bạn với đám dân nghèo bị người ta chà đạp”.

“Là thầy thuốc, nên tác giả viết về bệnh tật một cách chính xác, và cũng vì thế biết rung cảm trước những khổ đau nơi thân xác con người. Phải chăng vì vậy, trong tác phẩm của mình, tác giả đã dành cho người nghèo khổ, ốm đau, tội lỗi và phụ nữ một chỗ đặc biệt, với những lời lẽ đầy ngọt ngào an ủi?”

“Tác giả lại còn có tài văn chương, thông thạo văn hóa Hy-lạp. Tác phẩm có nhiều ưu điểm: Lời văn sáng sủa, mạch lạc, nhuần nhuyển một cách linh động theo những đề tài khác nhau, và chứng tỏ một bút pháp thật điêu luyện ở một vài đoạn (1, 1-4. 24, 13-35). Cách trình bày có trật tự và nghệ thuật, phác họa nét độc đáo của cốt chuyện. Ngôn ngữ Lu-ca phong phú nhất trong tất cả các sách Tân ước”.

Sau khi thánh Phao-lô qua đời, thánh sử Lu-ca tiếp tục giảng đạo ở Ý, Pháp, và sau cùng chịu chết đổ máu ra làm chứng cho Chúa.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Lu-ca, tôi nhiệt thành giúp việc giảng đạo Chúa, bằng lời nói việc làm hằng ngày trong đời sống, đặc biệt có lòng thương cảm giúp đỡ người nghèo khổ, thấp hèn, tội lỗi như thánh nhân.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã chọn thánh Lu-ca, sai đi rao giảng và viết sách Tin mừng, để làm cho mọi người nhận biết Chúa đặc biệt yêu thương những kẻ nghèo khó. Xin cho những người mang danh Ki-tô hữu được đồng tâm nhất trí với nhau, hầu muôn dân được thấy ơn cứu độ. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 19 tháng 10
THÁNH GIOAN BƠ-RÊ-BỐP,
I-SA-ÁC GIO-GƠ và các bạn Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Năm 1632, các cha Dòng Tên bên Pháp được giao trách nhiệm truyền giáo cho những bộ lạc người da đỏ ở Bắc Mỹ.

Những người da đỏ lúc đó sống rất tồi tệ trong những làng lụp xụp và thiếu hẳn văn minh, các bộ lạc thường tranh chấp chém giết nhau rất dã man.

Vì thiếu nhân sự, nhất là vì tình trạng khó khăn như thế, nên các tu sĩ tập trung sống với nhau và bắt đầu giảng đạo cho dân chúng bộ lạc Hu-ron. Nhưng bộ lạc nầy luôn bị dân I-rô-cô đánh phá, vì thế họ đổ lỗi cho các nhà truyền giáo đã gây tang thương đau khổ cho họ. Họ thù ghét, giết hại các ngài. Nhiều vị thừa sai đã bị giết trên cánh đồng truyền giáo nầy, trong số đó có 8 vị chúng ta kính nhớ hôm nay là:

* Thánh Gon-Pin bị giết ngày 29 tháng 9 năm 1642, vì đã rửa tội cho một trẻ em.
* Thánh I-sa-ác Gio-gơ tử đạo ngày 18 tháng 10 năm 1644.
* Thánh Gioan La-lăn chịu chết vì đạo ngày 10 tháng 10 năm 1646
* Thánh An-tôn Đa-ni-en tử đạo ngày 7 tháng 4 năm 1648.
* Thánh Gioan Bô-rê-bốp tử đạo ngày 16 tháng 3 năm 1649.
* Thánh Ga-bi-ri-e Lan-lơ-man chết vì đạo ngày 19 tháng 3 năm 1649.
* Thánh Ca-rô-lô Ga-ni-ê tử đạo ngày 7 tháng 12 năm 1649.
* Thánh No-en Ca-ba-nen chịu chết vì Chúa ngày 8 tháng 12 năm 1649.

Các ngài chịu khổ chịu chết vì Chúa, đó là điều các ngài luôn mong ước, như chúng ta thấy thánh Gioan Bơ-rê-bốt đã cầu xin Chúa:

“Lạy Chúa, lạy Chúa Giê-su Đấng Cứu chuộc con, con biết lấy gì đền đáp muôn ân huệ của Chúa đã ban cho con? Con sẽ nhận lấy chén đau khổ mà Chúa đã trao cho con và con sẽ khẩn cầu danh Chúa. Trước mặt Chúa Cha hằng hữu và Chúa Thánh Thần, trước mặt Mẹ chí thánh và thánh Giu-se bạn rất thanh sạch của ngài, trước mặt các thiên thần, các thánh tông đồ, tử đạo và cha thánh I-nha-xi-ô của con, cũng như trước mặt thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, con xin khấn hứa, bao lâu còn sức, con sẽ không bao giờ tránh né ơn tử đạo, nếu có ngày nào đó mà vì lòng thương xót Chúa khấng ban ơn trọng đại đó cho con là tôi tớ hèn mọn của Chúa.

“Bao lâu con còn sống, con cam kết là con sẽ không tự ý tránh những cơ hội chịu chết và đổ máu vì Chúa, trừ phi con thấy phải hành động cách khác mới làm vinh danh Chúa hơn… Hơn nữa, con còn cam kết là khi con chịu tử hình, con sẽ nhận nó từ tay Chúa với cả niềm khao khát và vui mầng; vì thế, lạy Chúa Giê-su rất đáng yêu mến, vì niềm tin to lớn con đang có đây, ngay từ bây giờ, con xin hiến dâng cho Chúa máu thịt con, thân xác con và cả đời sống con. Con chỉ muốn chết vì Chúa, nếu Chúa ban ân huệ đó cho con, vì Chúa đã khấng chịu chết vì con…”

Mặc dầu bị giết chết, máu các ngài đổ ra đã phát sinh nhiều người có đạo trên xứ nầy. Các ngài đã được Đức Thánh Cha Pi-ô thứ 11 tôn phong Hiển thánh năm 1930.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Gioan Bơ-rê-bốp, và các bạn tử đạo với ngài, hằng ngày tôi cầu xin Chúa cho tôi sẵn lòng chịu cực chịu khó vì Chúa, để hiệp cùng sự Thương khó Chúa cứu rỗi linh hồn tôi và mọi người thân yêu của tôi.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã sai hai thánh Gioan và I-sa-ác cùng các bạn đi rao giảng Tin mừng và cuối cùng các ngài đã hy sinh mạng sống, để thánh hóa Giáo hội miền Bắc Mỹ châu ngay từ những bước đầu. Xin nhận lời các ngài cầu thay nguyện giúp, mà cho Giáo hội khắp mọi nơi luôn được mùa trên cánh đồng truyền giáo. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH PHAO-LÔ THÁNH GIÁ Linh Mục

* Gương Thánh nhân

Thánh Phao-lô Thánh giá sinh tại Ô-vi-đa nước Ý, năm 1694, trong một gia đình thương gia giàu có đạo đức.

Ngay từ nhỏ, thánh nhân đã được mẹ dạy dỗ đầy đủ về đạo hạnh, đặc biệt về lòng tôn kính cuộc Thương khó Chúa. Vì thế khi lớn lên, ngài hết lòng kính mến Chúa Giê-su chịu đóng đinh, chịu chết trên khổ giá, hằng ngày thánh nhân thực hành việc hãm mình phạt xác và ăn chay, quỳ gối cầu nguyện lâu giờ trước ảnh chuộc tội.

Năm lên 20 tuổi, thánh nhân gia nhập Đạo Binh Thánh giá, tham gia công cuộc bảo vệ Hội thánh, chống lại đạo quân Hồi giáo đang xâm chiếm Thánh Địa.

Năm 1720, thánh nhân được Chúa soi sáng. Ngài thấy cần lập một hội dòng tôn sùng sự Thương Khó Chúa Giê-su. Ngài thảo bộ luật Dòng và gởi xin Đức Giáo Hoàng Bê-nê-đi-tô thứ 14 phê chuẩn.

Bảy năm sau, thánh nhân chịu chức Linh mục và được phép thâu nhận tập sinh vào dòng. Đó là Dòng Thương Khó, đặc biệt tôn sùng Chúa Giê-su chịu khổ hình chịu chết vì tội loài người. Ngài thường nói với các tập sinh: “Thật là việc tốt lành và thánh thiện khi suy tưởng và suy ngắm các khổ nạn của Chúa, vì nhờ con đường nầy mà người ta đạt tới sự kết hiệp thánh thiện với Thiên Chúa. Chính trong ngôi trường rất thánh nầy, mà người ta học được sự khôn ngoan chân thật, vì chưng, tất cả các thánh đều học khôn ở đó. Khi nào Thập Giá của Đức Giê-su dịu hiền đã đâm rễ trong tâm trí anh em, lúc ấy anh em hãy ca lên: “Chịu khổ chớ không chịu chết”, hay là “hoặc chịu khổ hoặc chịu chết”, hay hơn nữa “chẳng chịu khổ cũng chẳng chịu chết, nhưng chỉ trọn vẹn tuân theo thánh ý Thiên Chúa”.

“Tình yêu là một năng lực hiệp nhất; nó biến những khổ hình của Đấng thiện hảo đáng yêu mến của mình. Ngọn lửa tình yêu lan tới tận tâm can, biến người yêu thành kẻ được yêu thương, và một cách sâu hơn, tình yêu nhập vào trong khổ đau và đau khổ nhập vào tình yêu; cả hai hòa nhập keo sơn đến nỗi không thể phân biệt tình yêu với đau khổ. Bởi vậy tâm hồn yêu mến reo vui trong chính nỗi khổ sầu, và nhảy mừng hoan lạc trong chính tình yêu bi thương của mình”.

“Vậy anh em hãy kiên trì thực hành mọi nhân đức, nhất là hãy noi gương bắt chước đức nhẫn nhục chịu đựng trong Đức Giê-su dịu hiền, vì đó chính là tuyệt đỉnh của tình yêu thuần khiết. Anh em hãy làm sao để mọi người thấy anh em không những mang lấy hình ảnh Đức Ki-tô chịu đóng đinh là gương mẫu cho mọi dịu ngọt và hiền lành tự đáy lòng, mà còn cả ở bên ngoài nữa…”

Ngoài ra việc đào luyện các tu sĩ, thánh nhân còn đi khắp nước Ý, rao giảng kêu gọi mọi người tôn sùng sự Thương Khó Chúa. Đi tới đâu, dân chúng cũng tiếp đón ngài nồng hậu kính cẩn, vì họ nhìn nhận ngài là một Đấng Thánh.

Thánh nhân qua đời ngày 18 tháng 10 năm 1775 và năm 1865 được tôn phong Hiển thánh.

* Quyết tâm

Hết lòng tôn kính Chúa Giê-su chịu khổ hình chịu chết trên Thánh giá, và hằng ngày sẵn lòng vác khổ giá theo Chúa, để được hưởng nhờ ơn cứu rỗi, theo gương thánh Phao-lô Thánh Giá.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã ban cho thánh Phao-lô Linh mục lòng thiết tha yêu mến Thập giá Đức Ki-tô. Xin làm cho chúng con biết noi gương thánh nhân để lại, mà can đảm vác Thập giá của mình. Chúng con cầu xin…

 

Ngày 23 tháng 10
THÁNH GIOAN CA-PÍT-TRA-NÔ Linh Mục

* Gương Thánh nhân

Thánh Gioan sinh năm 1386, tại Ca-pít-tra-nô, nước Ý.

Lớn lên, thánh nhân theo học môn luật, và sau khi tốt nghiệp thì hành nghề thẩm phán. Ngài theo lương tâm nghề nghiệp mà thi hành chức vụ cách khôn ngoan, đồng thời biết thương yêu nâng đỡ kẻ nghèo khó, cô thế cô thân, nên được mọi người quý mến kính trọng. Nhưng năm 1416, trong một cuộc giải hòa, ngài bị tố cáo thiên vị, nên bị bắt giam ở Ri-mi-ni.

Những ngày tù ngục gian khổ làm cho thánh nhân thấy rõ đời toàn là giả trá gian xảo và không có gì tồn tại bền bĩ. Danh vọng chức tước nay còn mai mất, chẳng khác trò hề trên sân khấu. Chỉ có Chúa mới tồn tại, chỉ có Chúa mới là chỗ dựa vững chắc, chỉ có Chúa mới là nguồn hạnh phúc thật cho con người. Và ngài bắt đầu quy hướng cuộc đời về Chúa.

Thế là sau khi được phóng thích, thánh nhân xin gia nhập Dòng Anh Em Hèn Mọn, từ bỏ cuộc đời, hiến trọn đời cho Chúa.

Nhưng theo Lời Chúa nói: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không xứng với Thầy” (Mt. 11, 38). Mới vào dòng, thánh nhân đã phải thử thách nặng nề. Bề trên nghi ngờ thiện chí của ngài, sợ rằng vì chán đời mà ngài đi tu, chớ không có lý tưởng tốt đẹp vì lòng mến Chúa và thương yêu các linh hồn. Nhưng ngài không sờn lòng nản chí, một sẵn sàng chấp nhận mọi cơn gian nan thử thách, và hoàn toàn tuân theo thánh ý Chúa.

Và thời gian trôi qua. Ngày 4 tháng 10 năm 1416, thánh nhân được lãnh tu phục dòng. Đây là ngày hạnh phúc nhất cho ngài, lúc đó ngài đã 32 tuổi.

Từ đó thánh nhân bắt đầu đi rao giảng Lời Chúa, và ngài đã trở thành nhà giảng thuyết đại tài. Ngài rảo khắp nước Ý, giảng dạy trong các thánh đường cũng như nơi công trường. Các bài giảng của ngài thật phi thường, lôi cuốn hằng ngàn hằng vạn người lạc giáo và kẻ tội lỗi trở về với Chúa. Đặc biệt ngài khuyên bảo hàng giáo sĩ sống thánh thiện trọn lành, để xứng đáng làm môn đệ Chúa và giúp ích các linh hồn. Ngài nói với họ: “Ai được mời đến dự bàn tiệc của Chúa, thì phải chiếu tỏa một đời sống gương mẫu, đáng khen và đức hạnh, sạch mọi nhơ bẩn của thói hư tật xấu. Phải sống xứng đáng là muối đất cho chính mình và cho người khác; phải soi sáng sự khôn ngoan cho người khác như là ánh sáng thế gian.

Một hàng giáo sĩ không trong sạch và bần tiện, đầy những thói hư tật xấu và vướng mắc trong vòng tội lỗi sẽ bị người ta dẫm đạp như phân bón, đến nỗi không còn ích gì cho mình và cho người khác nữa, vì như thánh Ghê-gô-ri-ô nói: “Kẻ nào mà đời sống bị người ta khinh chê, thì lời rao giảng của họ cũng bị chê bai”.

Ngoài ra việc giảng thuyết, thánh nhân còn được lệnh Đức Giáo Hoàng cổ động cho Đạo Binh Thánh Giá, kêu gọi nhiều người gia nhập đoàn quân nầy, để chiến đấu với quân đội Hồi giáo đang xâm chiếm Công-tăn-ti-nốp. Ngài đã chiêu mộ được hơn 40.000 người tham gia trận chiến, và đã chiến thắng được quân đội Hồi giáo tại Ben-gát ngày 14 tháng 7 năm 1456.

Thánh nhân qua đời tại I-lóc ngày 23 tháng 10 năm 1456.

* Quyết tâm

Sẵn sàng chấp nhận mọi gian lao thử thách trong cuộc sống, và luôn mạnh mẽ can đảm chống trả mọi mưu mô phá hại đạo Thánh, theo gương thánh Linh mục Gioan Ca-pít-tra-nô.

* Lời nguyện

Lạy Chúa, Chúa đã thương cho thánh Gioan xuất hiện trong Hội thánh, để tinh thần dân Chúa thêm mạnh mẽ ngay trong lúc ngặt nghèo. Xin thương tình ban ơn che chở, để Hội thánh luôn luôn được bình an, và chúng con được sống yên hàn. Chúng con cầu xin…

 

THÁNH PHAO-LÔ TỐNG VIẾT BƯỜNG
Quan Thị Vệ Tử Đạo

* Gương Thánh nhân

Năm 1831, lúc giặc Đá Vách ở Quảng Nam nổi dậy chống triều đình, các quan phải đem quân đi đánh dẹp. Vua Minh Mạng sai quan thị vệ Tống Viết Bường đi giám sát trận địa. Sau khi làm xong phận sự, ông trở về trình vua: quân lính triều đình đã dẹp được giặc. Vua hỏi:

- Khi làm xong công tác, khanh có viếng chùa Non Nước không?

Ông trả lời: - Vì hoàng thượng không truyền lệnh, nên hạ thần không đến viếng.

Vua bảo: - Theo thường lệ, mỗi khi dẹp được giặc, phải vào chùa lễ bái, sao khanh không đi?

Ông mạnh dạn trình vua: - Vì hạ thần là người Công giáo, hạ thần chỉ thờ kính Thiên Chúa mà thôi.

Chính vì lời tuyên xưng đức tin can đảm đó mà ông đã bị mất hết chức tước, và về sau bị bắt tống ngục, bị chém đầu để làm chứng cho Chúa, lãnh nhận triều thiên tử đạo vinh hiển.

Phao-lô Tống Viết Bường sinh khoảng năm 1773, tại Phú Cam (Huế), trong một dòng tộc Công giáo đạo đức, và có nhiều người làm quan dưới thời vua Lê chúa Nguyễn.

Lớn lên, cậu gia nhập quân đội và được chọn làm lính cận vệ nhà vua. Nhờ tài tháo vát và lòng nhiệt thành tận tụy, chẳng bao lâu cậu lính Bường được thăng lên cai đội, và được vua Minh Mạng tín cẩn trọng dụng. Vua thường giao cho ông nhiều công tác đặc biệt trong triều đình.

Vì tín cẩn, nên năm 1831, khi quan quân triều đình đi đánh dẹp giặc Đa Vách ở Quảng Nam , vua đã cử ông đi thanh sát chiến trận. Và sau khi dẹp xong quân địch, ông không vào chùa Non Nước lễ bái mà còn xưng mình là người Công giáo, nên vua nổi cơn thịnh nộ, quát mắng dữ dội, định cho đem đi chém đầu. Nhưng nhờ một số quan chức trong triều đình có cảm tình với ông đứng ra can gián nài nỉ, nhà vua mới bớt cơn giận. Dù vậy, vua cũng truyền đánh ông 80 roi, cất hết chức tước, cho xuống làm lính thường. Thật là một hình phạt nặng nề tủi hổ, nhưng ông vẫn vui lòng chấp nhận vì trung thành với Chúa.

Tưởng mọi việc đã yên xuôi, không ngờ hơn một năm sau, vua cho làm bảng danh sách người có đạo trong hàng ngũ lính thị vệ. Tất cả có 12 người, trong số đó có Phao-lô Tống Viết Bường, khi các quan trình bảng danh sách lên vua, năm người vì sợ chết nên bỏ đạo, còn bảy người bị tống giam vào ngục, cổ mang gông, tay chân bị xiềng xích khổ sở.

Cứ mỗi 10 ngày, ông Bường bị đem ra tra tấn hành hạ, buộc đạp lên Thánh giá bỏ đạo. Thảm cảnh nầy kéo dài mãi suốt mấy tháng trời, nhưng ông vẫn can đảm cương quyết không chối Chúa bỏ đạo. Ông tuyên bố:

- Tôi đã thờ Chúa từ nhỏ, làm sao tôi bỏ Chúa được.

Mỗi lần nói như thế là ông phải lãnh 20 roi rất đau đớn, nhưng ông vẫn vui lòng chịu vì Chúa. Ông còn muốn chịu nhiều hình khổ hơn nữa, để thông phần vào sự thương khó Chúa. Thấy cực hình không lay chuyển nổi lòng tin mạnh mẽ của vị anh hùng của Chúa, các quan xoay qua dụ dỗ nài nỉ. Quan Thượng Thư Võ Xuân Cầu khuyên ông:

- Bây giờ cứ hứa bỏ đạo đi, rồi sau nầy muốn làm gì thì làm.

Nhưng ông trả lời: - Cám ơn quan đã có lòng thương tôi, nhưng tôi phải luôn luôn trung thành với Chúa tôi.

Thế là các quan chịu thua lòng can đảm bền chí của ông, cho quân lính đem giam lại trong ngục, chờ lệnh của vua.

Trong ngục, ông luôn khuyên bảo các bạn bền lòng tin cậy Chúa, nhất là xin Đức Mẹ cho đặng chịu khó vì Chúa đến cùng, bằng cách cùng nhau lần chuỗi Môi Khôi mỗi ngày.

Ngày 23 tháng 10 năm 1833, vua Minh Mạng ra lệnh trảm quyết ông. Quân lính dẫn ông ra pháp trường Thọ Đức. Đến nơi, ông quỳ gối cầu nguyện một lúc, rồi đưa cổ cho lý hình. Sau một nhát gươm, đầu vị anh hùng đức tin đã rơi xuống đất, linh hồn bay thẳng về trời hưởng phước vinh quang…

Ngày 27 tháng 05 năm 1900, Đức Giáo Hoàng Lê-ô 13 đã suy tôn ông lên bậc Chân Phước. Và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 tôn phong ngài lên Hiển Thánh ngày 19 tháng 06 năm 1988.

* Quyết tâm

Noi gương thánh Phaolô Tống Viết Bường, luôn trung thành bền đỗ tin thờ Chúa, và hằng ngày siêng năng lần chuỗi Môi Khôi để nhờ Mẹ giúp chịu khổ vì Chúa đến cùng.

* Lời nguyện

Lạy Cha, Cha đã ban cho Giáo hội Việt Nam nhiều chứng nhân anh dũng, biết hiến dâng mạng sống, để hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước chúng con. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu, cho chúng con biết noi gương các ngài để lại, luôn can đảm làm chứng cho Cha và trung kiên mãi đến cùng. Chúng con cầu xin nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. A-men.

 

Ngày 24 tháng 10
THÁNH AN-TÔN MA-RI-A CLA-RÊ Giám Mục

* Gương Thánh nhân

“Tình yêu mà Đức Ki-tô kích thích, giục giã chúng tôi chạy và bay đi, như được chắp cánh bằng một sự ghen tương thánh thiện. Ai yêu mến Thiên Chúa thật sự thì cũng yêu mến tha nhân; ai ghen sự thật, cũng chính là người yêu mến, nhưng ở mức độ cao hơn, vì theo mức độ của tình yêu, càng yêu mến nồng nàn lại càng ghen cuồng nhiệt. Vì ai không có nhiệt tâm là dấu tình yêu và đức ái đã tắt trong lòng họ. Còn ai có nhiệt tâm thì ước ao làm mọi sự cao cả. Họ nổ lực làm cho người ta nhận biết Thiên Chúa nhiều hơn, yêu mến và phụng sự Người trong cuộc sống nầy, cũng như ở cuộc đời mai sau, vì tình yêu linh thiêng nầy không có cùng tận. Họ cũng làm điều đó cho anh em; mọi khao khát và ước muốn của họ đều nhằm cho mọi người được sung sướng trên mặt đất nầy và hạnh phúc trên quê trời, nhằm cho mọi người được cứu rỗi và không ai phải chết đời đời; cũng như nhằm cho không ai xúc phạm đến Thiên Chúa hay nằm trong tội dù chỉ là một lúc: đó là điều chúng ta vẫn nhận thấy nơi các thánh tông đồ và tất cả những ai có tinh thần tông đồ”.

Đó là châm ngôn và chương trình hoạt động của thánh An-tôn Ma-ri-a Cla-rê. Suốt đời ngài nổ lực kính mến Chúa và yêu thương tha nhân. Và vì tình yêu nồng nhiệt nầy, ngài đã hy sinh chịu khó cho đến chết.

Thánh nhân sinh năm 1807, tại San-len, nước Tây-ban-nha, trong một gia đình đạo đức, làm nghề dệt vải.

Lớn lên, ngài được cha mẹ gởi đi Ba-sê-lon học nghề, thừa dịp nầy ngài học thêm Pháp văn và La văn.

Và từ đó thánh nhân ước muốn dâng mình giúp việc Chúa. Ngài cầu xin Chúa soi sáng cho biết thánh ý Chúa và trình lên cha mẹ ước vọng của mình. Được cha mẹ chấp thuận, năm 1829, ngài vào Chủng viện tại Vích: và sáu năm sau, ngài được thụ phong Linh mục.

Một cuộc sống mới bắt đầu, thánh nhân lao mình vào hoạt động tông đồ, đem tình yêu gieo rắc khắp nơi. Vì lòng kính mến Chúa và yêu thương các linh hồn, ngài chẳng ngại gian lao khổ cực, ngày đêm tận tụy rao giảng đạo Chúa và đem nhiều người trở lại. Ngài còn muốn giúp việc Chúa đắc lực hơn, nên xin gia nhập Dòng Tên, nhưng sức khỏe không cho phép. Ngài cầu nguyện xin Chúa dạy cho biết phải làm gì để làm sáng danh Chúa hơn. Chúa đã nhậm lời ngài, cho ngài thành lập tu hội “Con cái Trái Tim vẹn sạch Đức Mẹ”, chuyên lo việc truyền giáo, cứu vớt các linh hồn.

Nhận thấy lòng nhiệt thành và đời sống đạo đức của thánh nhân, năm 1851 hoàng hậu I-sa-ben nước Tây-ban-nha đề nghị Đức Giáo Hoàng Pi-ô thứ 9 đặt ngài làm Tổng Giám mục giáo phận Săn-si-a-gô.

Từ ngày lên làm Tổng Giám mục, thánh nhân càng hoạt động truyền giáo nhiệt thành hơn. Trong vòng 3 năm, ngài đi kinh lý giáo phận 3 lần, ban phép Thêm sức, giảng dạy trong các họ đạo, củng cố hàng giáo sĩ, cứu trợ kẻ nghèo, giải phóng những người bị bán làm nô lệ. Các chủ buôn bán nô lệ bị mất quyền lợi, nên thù ghét ngài, tố cáo ngài, xúi giục dân nghèo làm loạn. Họ còn tổ ch