Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

THIÊN CHÚA NHẤT THỂ
TAM VỊ ĐỆ NHẤT THIÊN

H. Có mấy đàng lên thiên đàng ?
T. Có một đàng rất chính rất thật là đạo thánh Đức Chúa Trời.

H. Đức Chúa Trời là ai ?
T. Là Đấng dựng nên trời đất muôn vật.

H. Đức Chúa Trời lấy gì mà dựng nên trời đất muôn vật ?
T. Lấy phép tắc vô cùng.

H. Lấy phép tắc vô cùng nghĩa là làm sao ?
T. Nghĩa là bởi không mà Người phán một lời, tức thì liền có trời đất muôn vật.

H. Vì ý nào Đức Chúa Trời dựng nên trời đất muôn vật ?
T . Có ý cho sáng danh Người cùng cho ta đặng dùng ?

H. Thuở chưa có trời đất Đức Chúa Trời ở đâu ?
T . Trước sau cũng vậy, vì Người tính thiêng liêng, chẳng lựa có nơi nào ở mới đặng.

H. Ai sinh ta ?
T . Đức Chúa Trời sinh ra ta.

H. Đức Chúa Trời sinh ra ta làm gì ?
T . Đức Chúa Trời sinh ta cho đặng thờ phượng kính mến Người, hầu ngày sau hưởng phước đời đời.

H. Đức Chúa Trời ra làm sao ?
T . Đức Chúa Trời là Đấng trọn tốt trọn lành, thiêng liêng, sáng láng vô cùng .

H. Đức Chúa Trời ở đâu ?
T . Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi.

H. Hỏi Đức Chúa Trời ở khắp mọi nơi làm sao ta xem chẳng thấy ?
T . Vì Người là tính thiêng liêng, cho nên con mắt ta xem chẳng thấy.

H. Ta chẳng thấy có Đức Chúa Trời mà Người có thấy ta chăng ?
T . Người xem thấy tỏ tường dầu những sự kín nhiệm trong lòng ta, thì Người cũng soi thấu nữa.

H. Đức ChúaTrơi mới có thuở nào ?
T . Người là Đấng tự hữu hằng có đời đời.

H. Có mấy Đức Chúa Trời ?
T . Có một Đức Chúa Trời, mà Người có ba ngôi: ngôi thứ nhứt là Cha, ngôi thứ hai là Con, ngôi thứ ba là Thánh Thần.

H. Ngôi thứ nhứt có phải là Chúa chăng ?
T . Phải.

H. Ngôi thứ hai có phải là Chúa chăng ?
T . Phải.

H. Hỏi ngôi thứ ba có phải là Chúa chăng ?
T . Phải.

H. Nếu vậy chẳng phải là ba Đức Chúa Trời sao ?
T . Chẳng phải vì ba ngôi cùng một tính, một phép, cho nên ba ngôi cũng một Chúa mà thôi.

H. Có ngôi nào lớn ngôi nào bé chăng ?
T . Ba ngôi cũng bằng nhau, không lớn mọn trước sau.

H. Đức Chúa Trời đã sinh ra loài nào trọng hơn ?
T . Đức Chúa Trời đã sinh ra hai loài trọng hơn: một là Thiên Thần , hai là loài người ta.

H. Thiên Thần là Đấng nào ?
T . Thiên Thần là đấng thiêng liêng, Đức Chúa Trời dựng nên mà chầu chực Người, và hưởng phước đời đời.

H. Hết thảy các Thiên Thần có đặng hưởng phước đời đời chăng ?
T . Chẳng đặng, vì có phần phạm tội kiêu ngạo, nên Đức Chúa trời phạt nó xuống hỏa ngục, gọi là ma quỷ.

H. Các Thiên Thần giữ nghĩa cùng Chúa bây giờ ở đâu ?
T . các đấng ấy hưởng phước đời đời trên thiên đàng.

H. Các Thiên Thần có giúp người ta chăng ?
T . Mỗi người có một Thiên Thần gìn giữ mình, nên ta phải tin cậy và tôn kính Ngưới lắm.

H. Tổ tông loài người là ai ?
T . Tổ tông loài người là ông Adong và bà Evà.

H. Ông Adong và bà Evà có giữ nghĩa cùng Đức Chúa Trời chăng ?
T . Chẳng giữ, cho nên nếu chẳng có công nghiệp Chúa Cứu Thế, thì cả và loài người ta đã phải khốn nạn đời đời.

GIÁNG SANH CỨU THẾ ĐỆ NHỊ THIÊN

H. Ba ngôi, ngôi nào ra đời ?
T . Ngôi thứ hai ra đời.

H. Ngôi thứ hai ra đời nghĩa là làm sao ?
T . Nghĩa là, Chúa rất sang trọng vô cùng lấy xác lấy linh hồn làm người hèn hạ như ta.

H. Ngôi thứ hai vốn phải là người chăng ?
T . Vốn thật là Chúa, song khi ra đời thì cũng thật là người nữa.

H. Ngôi thứ nhứt, ngôi thứ ba, có ra đời chăng ?
T . chẳng có, có một ngôi thứ hai ra đời mà thôi.

H. Ngôi thứ hai ra đời lấy xác lấy linh hồn ở đâu làm người mà ra đời?
T . Người xuống thai trong lòng rất thánh Đức Bà Maria trọn đời đồn trinh.

H. Đức Bà trọn đời đồng trinh mà chịu thai làm sao đặng ?
T . chẳng phải là sự thường như người thế gian, song thật bởi phép Đức Chúa Thánh Thần: cho nên khi chịu thai cùng sinh đẻ mà hãy còn trọn mình đồng trinh sạch sẽ.

H. Ngôi thứ hai ra đời đặt tên là gì ?
T . Đặt tên là Giêsu nghĩa là Cứu Thế.

H. Chúa Cứu Thế làm những sự gì khi còn ở thế gian ?
T . Người dạy dỗ ta về đàng rỗi linh hồn, và bởi công nghiệp Người, thì ta đặng nên thánh.

H. Hỏi công nghiệp người là đi gì ?
T . Là Người chịu nạn chịu chết trên cây thánh giá vì tội loài người ta.

H. Người chịu chết ngày nào ?
T . Người chịu chết ngày thứ sáu trước lễ Phục Sinh.

H. Đức Chúa Giêsu là Đức Chúa Trời mà chịu chết làm sao đặng ?
T . Đức Chúa Giêsu có hai tính: một là tính Đức Chúa Trời chẳng hay chịu chết, hai là tính người ta, mới hay chịu chết.

H. Xác Đức Chúa Giêsu táng ở đâu ?
T . Táng trong huyệt đá mới.

H. Linh hồn Đức Chúa Giêsu đi đâu ?
T . Linh hồn đức Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông, đem các linh hồn các thánh lên, vì từ kh Adong phạm tội, ví bằng không công nghiệp Chúa Cứu Thế, thì chẳng ai đặng lên trời.

H. Chúa Cứu Thế có sống lại chăng ?
T . Chết chẳng đủ ba ngày, mà Người sống lại.

H. Sống lại đoạn Đức Chúa Giêsu đi đâu ?
T . Sống lại Người ở thế gian bốn mươi ngày, dạy dỗ các thánh tông đồ,hầu mà giảng đạo cho thiên hạ, đoạn thì Người ngự về trời, mà Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống trên các thánh tông đồ.

H. Bây giờ Đức Chúa Giêsu ở đâu ?
T . Luận về tính Đức Chúa Trời thì Người ở khắp mọi nơi: bằng về tính người ta, thì người ở trên trời và ở trong Thánh Thể bí tích.

H. Chúa Cứu Thế có khi nào Người lại xuống thế nữa chăng ?
T . Đến ngày tận thế, Người lại xuống phán xét chung cả và loài người ta.

H. Vậy thì có phán xét riêng nào nữa sao ?
T . Mỗi người, khi linh hồn ra khỏi xác, đều phải chịu phán xét riêng nữa.

H. Đã chịu phán xét riêng, còn phán xét chung làm chi nữa ?
T . Ngõ cho qườn cả Chúa Cứu Thế và những sự vang hiển các kẻ lành, cùng mọi điều sỉ nhục phô loài dữ càng tỏ ra trước mặt thiên hạ.

TỬ KỲ HỮU ĐỊNH ĐỆ TAM THIÊN

H. Có khi nào ta phải chết chăng ?
T . Đến kỳ Chúa định chúng ta đều phải chết.

H. Chết đoạn xác ta ra thế nào ?
T . Xác ta đều phải hư nát.

H. Xác ta có phải hư nát đời đời không ?
T . Chẳng đến ngày tận thế đều sống lại hết.

H. Linh hồn ta có chết chăng ?
T . Linh hồn là tính thiêng liêng chẳng hề chết đặng.

H. Vậy khi xác chết đoạn, linh hồn đi đâu ?
T . Linh hồn phải đến tòa Đức Chúa Giêsu mà chịu phán xét.

H. Đức Chúa Giêsu phán xét về những sự gì ?
T . Người phán xét về những sự lành dữ đã lo, đã nói , đã làm.

H. Phán xét đoạn linh hồn đi đâu ?
T . Hoặc lên thiên đàng, hoặc xuống hỏa ngục, hay vào luyện ngục, mặc việc lành dữ đã làm khi còn sống.

H. Thiên đàng là gì ?
T . Thiên đàng là chốn thiên thần các thánh hưởng phước đời đời, vì đặng xem thấy Đức Chúa Trời luôn.

H. Những ai đặng lên thiên đàng ?
T . Những kẻ chẳng hề phạm tội gì trọng, hay là phạm tội mà đã ăn năn tội nên.

H. Hỏa ngục là chốn nào ?
T . Là nơi hình khổ, Đức Chúa Trời phạt, cầm ma quỷ và kẻ có tội đời đời chẳng cùng.

H. Những ai phải sa hỏa ngục ?
T . Những kẻ chẳng hề nhìn biết Đức Chúa Trời mà thờ phượng bụt thần ma quỷ, cùng quải lạy đơm tế tổ tiên, đến chết chẳng toan trở lại, và mọi người có đạo còn mắc tội trọng mà qua đời.

H. Luyện ngục là chốn nào ?
T . Luyện ngục là nơi hình khổ phạt cầm những kẻ lành khi còn sống mà đền tội mình chưa đủ.

NHƠN SANH TỘI CHƯỞNG ĐỆ TỨ THIÊN

H. Tội là đí gì ?
T . Tội là những sự ngỗ nghịch cùng Đức Chúa Trời.

H. Có mấy giống tội ?
T . Có hai giống: một là tội tổ tông hai là tội mình làm.

H. Tội tổ tông là tội nào ?
T . Tội tổ tông là ông Adong bà Evà chẳng vưng lời Đức Chúa Trời răn, cho nên phạm tội mà truyền lại cho thiên hạ.

H. Tội mình làm là tội nào ?
T . Là lòng lo, miệng nói, mình làm điều gì mất lòng Đức Chúa Trời.

H. Tội mình làm có mấy thể ?
T . Có hai: một là tội trọng, hai là tội nhẹ.

H. Tội trọng là đí gì ?
T . Là tội làm cho ta nghịch cùng Chúa và đáng chịu phạt đời đời.

H. Tội nhẹ là đí gì ?
T . Là tội làm cho ta nguội lạnh yếu đuối, và đáng chịu phạt trong luyện ngục.

H. Có mầy mối tội đầu ?
T . Có bảy: một là kiêu ngạo; hai là hà tiện; ba dâm dục; bốn là ghen ghét; năm là mê ăn uống; sáu là hờn giận; bảy là làm biếng việc lành.

H. Vì sao gọi là tội đầu ?
T . Vì là căn nguyên mọi tội lỗi khác.

H. Tội kiêu ngạo là đí gì ?
T . Là tội hay làm cho người ta yêu chuộng và tặng mình lên qúa, cùng khinh dễ kẻ khác.

H. Tội ấy có phải là tội trọng lắm chăng ?
T . Nó là tội thứ nhứt, và trọng hơn cùng hiểm nghèo hơn các tội khác.

H. Phải làm gì cho khỏi tội ấy ?
T . Phải cầu xin cùng Chúa ban nhơn đức khiêm nhượng; cùng nhớ lại kể kiêu ngạo chẳng đặng lên nước thiên đàng.

H. Tội hà tiện là tội nào ?
T . Là tội hay làm cho người ta mê tham của cải thế gian quá lẽ.

H. Người ta có năng phạm tội ấy chăng ?
T . Dầu kẻ giàu, kẻ khó, cũng năng phạm tội ấy.

H. Phải làm thế nào cho khỏi tội ấy ?
T . Phải lấy lòng rộng rãi, mà bố thí cho vừa sức mình.

H. tội dâm dục là gì ?
T . Người ta mắc tội ấy khi bởi sự tưởng, hay là bởi lời nói, hay là bởi việc làm, ưng vui theo tính hư xác thịt; song giáo hữu phải gớm ghiếc tội ấy đến đỗi chẳng dám nói đến tên nó.

H. Tội ghen ghét là thế nào ?
T . Là tội hay làm cho người ta phân bì, cùng buồn bực, khi kẻ khác đặng thạnh lợi về phần hồn hay là phần xác.

H. Phải làm điều gì cho khỏi tội ấy ?
T . Phải giữ điều răn Chúa dạy; yêu người như mình vậy.

H. Tội mê ăn uống là làm sao ?
T . Là khi người ta ăn uống quá lẽ, nhứt là những kẻ uống rượu say, thì trở nên loài vô tâm vô tri, cùng liều mình phạm nhiều tội khác.

H. Phải dùng cách nào cho khỏi tội ấy ?
T . Phải hãm mình ăn uống cho tiết kiệm thích trung, cùng giữ lời ông thánh Phaolồ dạy rằng: dầu khi ăn, dầu khi uống, dầu khi làm sự gì khác, thì phải có ý làm cho sáng Danh Chúa.

H. Tội hờn giận là làm sao ?
T . Là khi người ta bởi tính nóng nảy trong lòng cùng bề ngoài, nên giận quá lẽ hay là muốn báo oán.

H. Phải làm điều gì cho khỏi tội ấy ?
T . Là trong lời nói, việc làm, chớ khá theo tính nóng nảy, một theo lẽ phải cùng giữ sự nhịn nhục hiền lành.

H. Đấng bề trên quở trách cùng sửa phạt kẻ bề dưới, có tội chăng ?
T . Chẳng có tội, mà lại khi ngươi có lẽ mà sửa phạt đặng, nếu chẳng sửa phạt thì người mắc lỗi.

H. Tội làm biếng là tội nào ?
T . Là tội hay làm cho người ta trễ nải, chẳng muốn chịu khó cho đặng rỗi linh hồn và làm các việc cho xứng bổn phận mình.

H. Có nhiều kẻ phạm tội ấy chăng ?
T . Nhiều người phạm tội ấy, mà có ít kẻ xét mình và lấy sự làm biếng là tội.

H. Có phải sợ tội ấy chăng ?
T . Phải sợ lắm, vì sự ở nhưng là cội rễ mọi sự dữ.

THÁNH BÍ TÍCH
ĐỆ NGŨ THIÊN ƠN CHÚA

H. bởi sức riêng ta có đặng rỗi linh hồn chăng ?
T . Chẳng đặng, có ơn Chúa giúp thì mới đặng.

H. Ơn Chúa Nghĩa là đí gì ?
T . Nghĩa là sức thiêng liêng, Đức Chúa Trời ban, vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, cho ta ta đặng rỗi linh hồn.

H. Ơn nào là ơn cần kíp cho ta đặng rỗi linh hồn ?
T . Là ơn soi trí khôn cho biết sự phải, sự chẳng, cùng giục lòng làm sự lành và lánh sự dữ.

H. Ta có từ chối ơn Chúa đặng chăng.
T . Có nhiều lần ta từ chối ơn Chúa.

H. Đức Chúa Trời có ban ơn cho mọi người bằng nhau chăng ?
T . Đức Chúa Trời rất nhơn từ, công bình vô cùng, chẳng mắc nợ ai, Người muốn ban ơn thể nào, thì nên thể ấy.

H. Ta phải làm đí gì cho đặng ơn Đức Chúa Trời ?
T . Phải chịu lấy các phép bí tích, cùng siêng năng đọc kinh cầu nguyện.

PHÉP BÍ TÍCH.

H. Phép bí tích là đí gì ?
T . Là dấu nhiệm bề ngoài, chỉ và làm ơn thiêng liêng bề trong, Đức Chúa Giêsu đã lập cho ta đặng nên thánh.

H. Có mấy phép bí tích ?
T . Có bảy: thứ nhứt là phép rửa tội; thứ hai là phép thêm sức; thứ ba là phép Mình Thánh Chúa; thứ bốn là phép giải tội; thứ năm là phép xức dầu thánh; thứ sáu là phép truyền chức thánh ; thứ bảy là phép hôn phối.

Phép Rửa Tội

H. Phép rửa tội là đí gì ?
T . Là phép làm cho ta khỏi tội tổ tông, và nên con Đức Chúa Trời cùng con Hội Thánh.

H. Phép rửa tội có tha tội mình làm chăng ?
T . Những tội mình đã làm trước, thì khi chịu phép rửa tội nên, đều đặng khỏi hết.

H. Kẻ chẳng chịu phép rửa tội có đặng rỗi linh hồn chăng ?
T . Chẳng; có một khi muốn chịu mà chẳng đặng, thì phải hết lòng ước ao, cùng yêu mến Chúa, hay là chịu tử vì đạo, thì mới đặng mà chớ.

H. Đặng chịu phép rửa tội mấy lần ?
T . Đặng chịu một lần mà thôi vì phép ấy đã in một dấu ấn thiêng hliêng vào linh hồn, chẳng hay mất đặng.

H. Ai đặng làm phép rửa tội ?
T . Các hàng linh mục đặng làm mà thôi; song khi thế gấp, thì mọi người dầu mà kẻ ngoại làm theo ý Hội Thánh thì cũng đặng.

H. Phải rửa tội làm sao ?
T . Phải lấy nước lã, dội trên đầu kẻ chịu phép rửa tội; cũng một khi ấy đọc lời nầy rằng: “ TAO RỬA MÀY, NHÂN DANH CHA VA CON VA THÁNH THẦN.”

H. Khi giội đầu chẳng đặng, thì phải làm thế nào ?
T . Phải chọn nội mình nơi nào trọng hơn, thì phải dội đó.

Phép Thêm Sức

H. Phép Thêm Sức là đí gì ?
T . Là phép làm cho ta đặng chịu ơn Đức Chúa Thánh Thần, cho đặng lòng vững vàng, mà xưng đạo thánh Chúa ra trước mặt thiên hạ.

H. Kẻ chẳng chịu phép Thêm Sức có đặng rỗi linh hồn chăng ?
T . Đặng; song kẻ khinh hay là làm biếng chẳng muốn chịu, thì phạm tội, lại mất những ơn trọng bởi phép ấy mà ra.

H. Nên chịu phép nầy nhiều lần chăng ?
T . Chẳng nên; phải chịu một lần mà thôi, vì phép ấy đã in một dấu ấn thiêng liêng vào linh hồn chẳng hay hư mất.

H. Ai muốn chịu phép nấy cho nên thì phải làm gì ?
T . Phải làm ba sự nầy: Một là thuộc biết những sự chính phải tin trong đạo. Hai là phải cho sạch mọi tội, ít nữa là sạch các tội trọng. Ba là đọc kinh Tin, Cậy, Kính Mên, và có lòng ước ao cho đặng chịu phép ấy.

H. Ai còn mắc tội trọng mà chịu phép nầy, có phạm tội chăng ?
T . Phạm tội trọng vì là phạm sự thánh.

H. Ai đặng làm phép Thêm Sức ?
T . Các hàng Giám Mục đặng làm mà thôi.

THÁNH THỂ ĐỆ LỤC THIÊN

H. Phép Mình Thánh Chúa nghĩa là đí gì ?
T . Nghĩa là Mình Thánh Máu Thánh, cùng linh hồn Đức Chúa Giêsu và tính Đức Chúa Trời ngự thật trong hình bánh rượu.

H. Bao giờ bánh rượu trở nên Mình Thánh Máu Thánh Đức Chúa Giêsu ?
T . Khi thầy làm lễ Misa, đến nửa mùa mà đọc lời Chúa truyền đoạn, tức thì bánh cùng rượu trở nên Mình thật, Máu thật Đức Chúa Giêsu.

H. Trong hình bánh thì toàn Mình Thánh mà trong hình rượu thì toàn Máu Thánh mà thôi sao ?
T . Chẳng phải: dầu trong hình bánh hình rượu, thì cả và hai đều có trót Mình và Máu Thánh Chúa nữa.

H. Khi phân rẽ hình bánh làm hai, có rẽ phân Mình Thánh Chúa ra chăng ?
T . Chẳng; rẽ phân hình bánh mà thôi, Mình Thánh Chúa chẳng hề phân đặng; dầu trong mọi phần nhỏ mọn cũng có trót Mình cùng Máu Thánh Người.

H. Đức Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể làm chi ?
T . Trước là có ý cho ta đặng nhớ công ơn Người đã chuộc tội chịu chết vì ta, sau là nên lương thực thiêng liêng cho đặng nuôi linh hồn ta nữa.

H. Đức Chúa Giêsu đã lập phép nầy bao giờ ?
T . Đã lập chưng ngày thứ năm, trước khi Người chịu nạn.

H. Kẻ muốn chịu Mình Thánh Chúa cho nên thì phải làm thế nào ?
T . Phải dọn linh hồn và xác.

H. Dọn linh hồn là làm sao ?
T . Phải xét mình, bằng có phạm tội gì, thì phải ăn năn cùng xưng tội ấy, và có lòng tin,cậy, kính mến, khiêm nhường ước ao cùng tạ ơn.

H. Kẻ còn mắc tội trọng mà chịu lễ, có rước thật Mình Thánh Máu Thánh Chúa chăng ?
T . Rước thật; song le những kẻ ấy thật là rước hình phạt cho mình, vì là phạm sự thánh.

H. Phải dọn xác là thể nào ?
T . Phải giữ lòng chay sạch từ nửa đêm cho đến khi chịu lễ, chẳng nên ăn uống vật gì, phải ăn mặc sạch sẽ, nết na tề chỉnh,và lòng tôn kính khiêm nhượng quỳ gối mà rước Mình Thánh Chúa.

H. Ta phải ước ao năng chịu Mình Thánh Chúa chăng ?
T . Ta phải ước ao luôn: càng năng chịu bao nhiêu thì càng đặng ích bấy nhiêu.

H. Đặng những ích nào ?
T . Một là, ta đặng hiệp làm một cùng Chúa: hai là, thêm ơn trọng Chúa trong ta; ba là, bớt những tình tư dục; bốn là, cho ta đặng dấu thật ngày sau sẽ hưởng phứơc đời đời.

H. Lễ Misa là lễ nào ?
T . Là lễ dưng Mình Thánh Máu Thánh Đức Chúa Giêsu trong hình bánh rượu mà tế lễ Đức Chúa Trời, như xưa Chúa đã dưng Mình trên cây Thánh Giá cho Đức Chúa Cha.

H. Ấy vậy thì lễ Misa cũng là một lễ như xưa Chúa đã dưng mình trên cây Thánh Giá sao ?
T . Cũng thật là một lễ, song khác hai sự nầy: vì xưa thì Chúa đã dưng mình Người, mà nay thì bởi tay các hàng linh mục; lại xưa Máu Người đã đổ ra, mà bây giờ chẳng còn đổ ra nữa.

H. Trong Hội Thánh có ý gì mà dưng lễ Misa ?
T . Có bốn ý này: một là nhìn biết Đức Chúa Trời là Chúa cao trọng trên hết mọi sự; hai là cho ta đặng tha hết mọi tội lỗi ta; ba là, xin cho ta đặng mọi sự lành; bốn là tạ ơn Người vì mọi ơn lành đã xuống cho ta xưa nay.

H. Có nên dưng lễ Misa mà tế lễ Đưc Bà cùng các Thánh chăng ?
T . Chẳng nên, vì sự tế lễ là thuộc về một Đức Chúa Trời mà thôi.

H. Những ai đặng hưởng công ơn bởi lễ Misa mà ra ?
T . Kẻ sống và kẻ chết đều đặng hưởng nhờ.

CÁO GIẢI ĐỆ THẤT THIÊN

H. Phép giải tội là đí gì ?
T . Là phép tha tội cho những kẻ đã phạm từ khi rửa tội về sau.

H. Phép giải tội có mấy phần ?
T . Có ba phần: một là, năn năn tội: hai là, xưng tội: ba là, ý muốn đền tội.

H. Ăn năn tội là đí gì ?
T . Là lo buồn đau đớn về mọi tội lỗi đã phạm, và dốc lòng chừa, chẳng hề phạm tội ấy nữa.

H. Ăn năn tội có mấy cách ?
T . Có hai cách: một là ăn năn tội vì Chúa; hai là ăn năn tội vì mình.

H. Ăn năn tội vì Chúa nghĩa là làm sao ?
T . Nghĩa là đau đớn vì mọi tội lỗi đã mất lòng Chúa rất nhơn từ và tốt lành vô cùng.

H. Ai ăn năn tội vì Chúa có đặng ích gì chăng ?
T . Những kẻ ấy dầu chưa đặng xưng tội, miễn là có lòng muốn xưng tội, thì đã khỏi tội mà lại đặng nghĩa cùng Chúa.

H. Ăn năn tội vì mình là làm sao ?
T . Là lo buồn đau đớn xấu hổ vì tội cùng e mất nước thiên đàng hay là sợ hình khổ hỏa ngục vô cùng.

H. Ai ăn năn tội cách này, có đặng nghĩa cùng Chúa chăng ?
T . Chẳng: vì bằng có chịu phép giải tội thì mới đặng.

H. Ăn năn tội nên có mấy ý ?
T . Có bốn ý: một là, cậy sức Chúa giục lòng mà ăn năn tội; hai là đau đớn trong lòng vì đã phạm tội, chẳng phải lo buồn bề ngoài mà thôi; ba là, giận ghét mọi tội mình, chẳng sót tội nào; bốn là đau đớn tội mình hơn lo tiếc mọi sự thế gian.

H. Ăn năn tội cậy sức Chúa là làm sao ?
T . Là khi bởi ơn Đức Chúa Thánh Thần giục lòng mà ta ăn năn tội.

H. Kẻ ăn năn tội bởi mắc phải tai vạ gì như mất của cải hay là liệt lào mà lo buồn đau đớn, cóphải là cậy sức Chúa chăng ?
T . Chẳng phải; vì ăn năn thể ấy là theo tính xác thịt mà thôi.

H. Ăn năn vì mọi tội là gì ?
T . Là đau đớn về mọi tội lỗi; nếu mà có một tội nào mà chẳng lo buồn đến thì chẳng gọi là ăn năn tội nên.

H. Đau đớn tội mình hơn lo tiếc mọi sự nghĩa là làm sao ?
T . Nghĩa là ăn năn đau đớn, vì đã làm mất lòng Chúa, hơn là mắc phải tai nạn, hay là đã mất mọi giống châu báu ta yêu chuộng ở đời này.

H. Hỏi có mấy thể giục lòng ta ăn năn tội ?
T . Có hai: một là xin cùng Chúa cho ta đặng lòng đau đớn thật; hai là phải tìm một hai cách gì cho đặng giục lòng ta.

H. Những cách nào ?
T . Như thể là suy tưởng Chúa rất nhơn từ hằng xuống ơn cho ta không ngằn mà ta lại phụ nghĩa cùng Người dường ấy; hay là tưởng công nghiệp Đức Chúa Giêsu, bởi tội ta, nên Người đã đổ hết Máu Mình ra; cùng là suy gẫm, bởi tội thì đã đáng sa hỏa ngục mà chịu hình khổ đời đời, lại mất sự vui vẻ thiên đàng chẳng cùng.

H. Có dấu nào cho ta đặng biết thật ta đã ăn năn tội nên chăng ?
T . Có hai dấu này: một, là khi thấy ta đã chừa và dốc lòng ghét bỏ tội thật; hai là, xa lánh mọi cách thế quen làm cho ta phạm tội.

H. Phải đọc kinh ăn năn tội thể nào ?
Kinh Ăn Năn Tội
T . Lạy Chúa tôi, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, Chúa đã dựng nên tội và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì tôi, mà tôi đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì tôi lo buồn đau đớn cùng chê ghét mọi tội tôi trên hết mọi sự; tôi dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thi tôi sẽ xa lánh dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen.

CÁO MÌNH BỐ THỤC ĐỆ BÁT THIÊN

Xưng Tội.

H. Xưng tội là làm sao ?
T . Là tỏ cáo mọi tội lỗi ta cùng hàng linh mục.

H. Đương khi xưng tội phải có lò thế nào ?
T . Phải có lòng khiêm nhượng thật thà mà tỏ cáo mọi tội lỗi mình.

H. Khiêm nhựơng là làm sao ?
T . Là khi tỏ tội mình, thì phải có lòng xấu hổ thẹn thuồng, vì đã làm mất lòng Chúa .

H. Lòng thật thà là làm sao ?
T . Là khi xét tội thể nào, thì xưng ngay thể ấy, chẳng nên thêm bớt.

H. Xưng mọi tội nghĩa là gì ?
T . Nghĩa là phải xưng mọi tội ra chẳng dấu tội nào.

H. Kẻ cố ý dấu một tội trọng mà thôi, có phạm tội chăng ?
T . Phạm tội rất trọng, vì là phạm sự thánh. Nên sau khi xưng tội, trước phải xưng tội phạm sự thánh nầy, sau phải xưng lại mọi tội đã xưng phen ấy.

H. Ta xưng trổng mọi tội mà thôi có đủ chăng ?
T . Chẳng đủ; giả như tội ăn trộm, mà xưng trổng rằng: tôi đã ăn trộm, thì chưa đủ; xong phải xưng ăn trộm đã mấy lần, mà vật ấy là bao nhiêu, hay là của thánh; dầu các tội khác thì cũng vậy.

H. Phải làm cách nào cho đặng biết mọi tội lỗi mà xưng ?
T . Phải xét theo đấng bậc mình, hoặc lo, nói, làm điều gì phạm điều răn Chúa cùng Hội Thánh, và bảy mối tội đầu.

H. Ta phải xưng mọi tội nhẹ chăng ?
T . Bằng chẳng xưng thì chẳng phạm tội gì; song mà xưng, cũng có lòng đau đớn, thì rất nên có ích.

Đền tội.

H. Đền tội là làm sao ?
T . Là làm những sự thầy giải tội dạy, cùng những việc theo ý ta mà đền tội, như thể ăn chay cầu nguyện, hay là thí của cho kẻ khó khăn, cùng việc khác như vậy.

H. Chịu những sự tai nạn nhọc nhằn, như cơn buồn rầu, bịnh hoạn, cùng điều khác như vậy, có đặng đền vì tội ta chăng ?
T . Vì bằng có ý chịu vì lòng kính mến Chúa hay là đền tội, thì cũng đặng.

H. Bằng đã làm mất lòng ai, có phải phạt tạ kẻ ấy chăng ?
T . Chẳng những là phải phạt tạ mà thôi, song nhà ấy có chịu thiệt hại điều gì, dầu của, dầu công, cũng phải thường lại nữa.

H. Kẻ đã xưng tội nên, cùng đã chịu phép giải tội, thì đã khỏi tội, mà còn phải đền tội làm chi nữa ?
T . Đã hay rằng: kẻ chịu phép ấy nên, thì đã khỏi tội cùng hình phạt đời đời; song còn hình phạt tạm nữa, nên phải đền mới khỏi. Ví như trong quốc pháp ai đã mắc tội tử luận, dầu triều đình tha giết mặc lòng, xong cũng phải đái tội lập công.

H. Phần phạt tạm phải đền ở đâu ?
T . Phải đền ở đời này, hay là trong luyện ngục.

H. Có cách nào cho khỏi phần phạt tạm ấy chăng ?
T . Có phép Đại xá cùng Ân xá.

H. Đại xá là gì ?
T . Là phép tha hết mọi phần phạt tạm.

H. Ân xá là gì ?
T . Là phép tha một hai phần mà thôi.

H. Ai có quờn ban phép Đại xá cùng Ân xá ?
T . Có một Hội Thánh mà thôi.

H. Ta phải làm thế nào mà chịu ơn ấy cho nên ?
T . Phải thật lòng ăn năn tội, cùng làm mọi việc như thể thức truyền.

CHUNG PHÚ, PHẦN PHẨM, HÔN PHỐI ĐỆ CỬU THIÊN

H. Phép xức dầu thánh là đí gì ?
T . Là phép giúp đỡ kẻ liệt về phần linh hồn, cũng có khi về phần xác nữa.

H. Kẻ chịu phép này đặng những ích gì?
T . Đặng ba điều ích này: một là đặng vững vàng, chẳng sợ chết cùng trước ma quỷ; hai là khỏi mọi tội nhẹ và tội trọng hoặc là đã quên, hay là bởi cơn bịnh mà xưng chẳng đặng; ba là khi có ích phần linh hồn, thì cũng đặng khỏe mạnh phần xác nữa.

H. Có nên chờ khi hấp hối mà chịu phép nầy chăng ?
T . Chẳng nên; song khi thế ngặt, thì phải tính việc ấy.

H. Phép truyền chức thánh là phép nào ?
T . Là phép phong chức cho các hàng linh mục đặng quờn tế lễ Đức Chúa Trời và giúp việc HộiThánh, lại đặng ơn Chúa mà làm những việc ấy cho nên.

H. Phép Hôn Phối là đí gì ?
T . Là phép nhứt phu nhứt phụ phối hiệp cùng nhau, theo ý Chúa định, mà truyền nhơn loài cùng giúp đỡ nhau làm việc lành, mà giữ đạo Đức Chúa Trời, cho đặng nên thánh.

H. Có nên cưới nhiều vợ chăng ?
T . Chẳng nên; vì thuở tạo thiên lập địa Đức Chúa Trời đã sinh một nam một nữ, để phối hiệp cùng nhau, mà sinh loài người ta; ấy là phép nhứt phu nhứt phụ đâu khá tư tình mà cãi ý Chúa định.

H . Như đời ông có vợ mà không sinh con có nên cưới vợ khác cho đặng có con chăng ?
T . Chẳng nên; giả như chồng rằng: không con, mà cưới vợ khác, thì vợ cũng rằng: không con mà lấy chồng khác, thì lẽ ấy làm sao ? Ví bằng vợ chẳng khá hai chồng, thì chồng cũng chẳng nên hai vợ.

H . Còn có lẽ nào nữa chăng ?
T . Còn nhiều lẽ khác; một là trong đạo phu phụ, thì phải giữ gìn ngãi làm đầu, như chẳng toàn nhứt phu nhứt phụ, sao đặng trọn niềm tín nghĩa; hai là phu phụ hòa, thì gia đạo thành, bằng chồng rày vợ nọ mai vợ kia, sao cho đặng một lòng hòa thuận; ba là cưới vợ mà sinh con cái, thật là đồng khí liên chi, bằng cưới nhiều vợ, hoặc là phân dòng nọ dòng kia, sao cho đặng vẹn tình hiếu đễ.

H . Kẻ không con mà cứ nhứt phu nhứt phụ ắt là tiệt tự; chớ câu: BẤT HIẾU HỮU TAM, VÔHẬU VÍ ĐẠI, lẽ ấy làm sao ?
T . Có con cùng không vốn tại ta, một tại ý Chúa phân định mà thôi; vã sự thảo cùng không, cũng chẳng tại có con hay là không con, một tại giữ phụ mẫu đồng tâm đồng đức phụng dưỡng cung kính, vưng kính mạng cha mẹ sở định, ấy là thật hiếu mà chớ, như câu: VÔ HẬU VÍ ĐẠI, là lời Mạnh Tử nói chữa vua Thuấn cho khỏi chữ bất hiếu mà thôi, chẳng nên lấy lời ấy mà nghịch mạng Đức Chúa Trời làm chi.

H . Ai muốn chịu phép hôn phối cho nên phải làm thế nào ?
T . Trước hết phải có lòng thờ phượng Chúa, chẳng phải một tưởng việc phần xác mà thôi, lại phải giữ mình cho thanh sạch, đừng có tội gì trong.

H . Có ý thờ phượng Chúa là làm sao ?
T . Là phải giữ tín ngãi và nhịn nhục nhau mọi khi lầm lỗi, và giúp đỡ nhau cho thượng hòa hạ mục; sau dầu có sinh con cái, thì phải năng dạy dỗ răn khuyên.

H . Phải dạy răn con cái làm sao ?
T . Một là phải tập tành nó mến yêu Chúa hết lòng, cùng chê ghét mọi đàng tội lỗi; hai là phải ra công dạy dỗ cho nó thuộc biết những sự phải tin trong đạo thánh; ba là gìn giữ xem sóc, kẻo nó làm sự gì chẳng nên chăng.

H . Kẻ có vợ chồng cùng kẻ đồng trinh ai hơn ?
T . Kẻ đồng trinh hơn, vì kẻ không lo vợ chồng, một khi tục tinh tu, thì phước đức càng cao càng trọng, lại càng gần Chúa hơn nữa.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle