|
|
KỶ NIỆM 150 NĂM HAI THÁNH TỬ ĐẠO HẠNH THÁNH I. PHILIPPHÊ MINH - THỜI THƠ ẤU (1815-1846) Thánh Philipphê Phan văn Minh quê ở làng Cái Mơn, thuộc huyện Mỏ Cày, Tỉnh Vĩnh Long, (nay thuộc huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre). Cái Mơn là một Họ đạo có tiếng ở Điạ Phận Đàng Trong: giáo dân đông, sốt sắng, bền lòng giữ vững đức tin trong thời bị bách hại, nhất là có lòng quý mến cha thầy. Khi vua quan tìm bắt các linh mục, người giáo hữu không ngại tốn công tốn của, cũng chẳng ngại chứa chấp các linh mục. Họ sống theo lời Chúa dạy “ Ai đón tiếp các con là đón tiếp Thầy. Và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy ” (Mt 10, 40). Nhờ vậy, Thiên Chúa thưởng ban cho Họ Đạo có nhiều linh mục, trong đó có vị linh mục tử đạo đầu tiên ở địa phận Đàng Trong: thánh Philipphê Phan văn Minh. Thánh Philipphê Phan văn Minh sinh năm 1815 (At Hợi) là con của ông câu Đaminh Phan văn Chức và bà Anna Tiếu. Cả hai là những người đạo đức thánh thiện, Chúa đã thương cho ông bà sinh ra 14 người con, gồm 05 trai, 09 gái mà thánh Philipphê Minh là người con thứ 12: 1. Phan thị Phương (chết năm 20 tuổi) - 2. Anna Phan thị Viên - 3. Anna Phan thị Diệm - 4. Phan thị Lệ (chết lúc nhỏ) -5. Phan thị Hiền (chết lúc nhỏ) 6. Phan văn Lương (chết năm 18 tuổi) - 7. Anna Phan thị Trước - 8. Matta Phan thi Liễu - 9. Phêrô Phan văn Tú - 10. Phan thị Tùng (chết lúc nhỏ) - 11. Phan thị mai (chết lúc nhỏ) - 12. Thánh Philipphê Phan văn Minh. Linh mục tử đạo - 13. Phan văn Nhựt (chết lúc nhỏ) - 14. Anê Phan thị Châu. Cha mẹ Philipphê Minh qua đời khi người còn tuổi nhỏ, nhưng nhờ có người chị là Anna Viên (như người mẹ thứ hai) đã khôn khéo, tận tuỵ lo lắng, cùng với sự giúp đỡ tận tình của bà con, nên Philipphê Minh và anh em được nuôi dưỡng học hành chu đáo. Được chị cho đi theo anh là Phêrô Tú học hành chữ nghĩa và nhờ sáng dạ nên người học được khá nhiều chữ Nho. Năm 13 tuổi, Philipphê Minh được Rước lễ lần đầu. Cũng trong năm ấy, nhân dịp Đức cha Taberd Từ đến ban phép Thêm sức tại Cái mơn, Philipphê Minh xin Đức cha cho được đi theo người. Ít lâu sau, người anh là Phêrô Tú đã đưa Philipphê Minh đến gặp Đức cha tại họ Ba Giồng và được Đức cha đưa về dạy dỗ tại chủng viện Lái Thiêu, cho đến khi chủng viện bị giải tán vì cơn bách hại. Thời ấy, vua Gia Long trước khi băng hà đã trối với Thái tử Minh Mạng không nên bách hại đạo, đặc biệt là ba đạo này : đạo Khổng, đạo Phật và đạo Thiên Chúa, vì sợ rối loạn lòng dân đưa đến mất nước như tình trạng các vua bắt đạo đời trước. Nhưng Minh Mạng ngay từ bé đã có lòng không ưa người Tây, muốn theo gương các hoàng đế Nhật tuyệt diệt đạo Kitô. Trước khi lên ngôi, Minh Mạng đã nói rằng: “ ông rất ghét đạo Giatô, sau này khi lên ngôi sẽ cấm tuyệt đạo ấy; ai muốn giữ thì sang bên Tây mà giư ” . Những năm đầu mới lên ngôi, vì nể các quan, nhất là Tả quân Lê văn Duyệt đang trấn nhậm đất Đồng Nai, người được vua Gia Long đặt làm người đỡ đầu cho Minh Mạng, nên vua chưa dám cấm đạo. Đến khi Lê văn Duyệt chết, không còn ai can gián, Minh Mạng đã hạ chỉ cấm đạo trong cả nước vào ngày 06 .01.1833. Nhiều vị thừa sai đã bị bắt và bị giết chết, còn giáo dân thì lâm cảnh gian nan khốn khó. Chính Đức cha Từ cũng bị bắt tại chủng viện Lái Thiêu. Trong khi bị giam giữ chờ ngày bị giải về kinh đô, Đức cha đã được cứu thoát. Người vượt sang Căm Bốt, sau đó đến Thái Lan lánh nạn, Philipphê Minh và một số chủng sinh khác cùng theo Đức cha. Đức cha Taberd Từ đã gửi Philipphê Minh cùng với các chủng sinh tu học tại chủng viện Pinang , Mã Lai. Thày Philipphê Minh có vinh dự được Đức cha gọi qua Calcutta (An độ) để hợp tác với ngài soạn và in 2 bộ tự điển La-Việt và Việt-La vào năm 1838. Khi Đức cha qua đời (17.07.1840), Philipphê Minh lại trở về Pinang tiếp tục học thần học. Các cha giáo sư và bạn học đều quý mến thầy, một sinh viên xuất sắc, học giỏi và có tinh thần đạo đức. Có ai ngờ trong con người tu đức và khoa học ấy lại tiềm ẩn một hồn thơ. Philipphê Minh làm thơ để cảm thông, chia sẻ và đối thoại với anh em. Bộ sưu tập thơ mang tên Phi-Năng Thi tập của thầy được khởi hứng quanh chủ đề Gia tô Cơ đốc (44 bài) và Vịnh Êvang (50 bài). Sau khi vua Minh Mạng băng hà, Giáo hội được hưởng một thời kỳ bình an dễ chịu hơn. Vua Thiệu Trị lên ngôi, tuy không huỷ bỏ những chiếu chỉ cấm đạo, nhưng không thi hành gắt gao như trước nữa. Trong thời gian này, Đức thánh cha Gregoriô XVI chia địa phận Đàng Trong ra làm hai: phía Đông Đàng Trong thuộc quyền Đức cha Cuénot Thể, còn phía Tây Đàng Trong tức Nam kỳ lục tỉnh và Cam-bốt thì thuộc Đức cha Lefèbre Ngãi coi sóc. Khi đã học xong 4 năm Thần học tại Pinang, thầy Philipphê Minh trở về nước năm 1844, phục vụ trên cánh đồng truyền giáo Việt nam. Thầy được ở cạnh Đức cha Thể để học tập các nghi thức bí tích và sinh hoạt mục vụ. Chính đức cha Thể lần lượt truyền chức cho thầy Minh đến chức Phó tế. Sau đó, đức cha gửi thầy Philipphê Minh về phục vụ địa phận Tây Đàng Trong thuộc Đức cha Ngãi. Nhưng khi ấy Đức cha Ngãi lại vừa bị bắt giam ở kinh đô Huế, cha chính địa phận là cha Mịch (P.Miche) sai Philipphê Minh ra thăm Đức cha Ngãi để người định liệu cho chịu chức linh mục. Vâng lệnh bề trên, Thầy Phó tế đã lặn lội tìm gặp đức cha, lãnh nhận lời dạy dỗ và cầm thư giới thiệu về cho đức cha Thể. Đọc thư Đức cha Ngải xong, Đức cha Cuénot Thể đã quyết định phong chức linh mục cho Philipphê Minh vào cuối năm 1846, tại Gia Hựu, Bình Định. Lúc đó, tân linh mục được 31 tuổi. II. PHILIPPHÊ MINH - VỊ TÔNG ĐỒ HĂNG SAY(1846-1852) Trở về giáo phận Tây Đàng Trong, cha Philipphê Minh được giao coi sóc các họ đạo từ Nam Vang đến Mặc Bắc. Cha Minh đầy lòng tin yêu mến Chúa, muốn làm sáng danh Chúa và ước ao cho mọi người được rỗi linh hồn, nên đã nhiệt thành dấn thân phục vụ. Cha Minh không ngại gian lao, thời buổi khó khăn, phương tiện giới hạn, tuổi đời còn trẻ, luôn hăng hái lên đường thi hành sứ vụ mục tử, trong sự vâng phục, vui tươi, phó thác, sáng kiến và linh hoạt. Trong thời gian 6 năm, từ 1846-1852, cha Philipphê Minh đi thăm viếng, dạy giáo lý, ban bí tích cho các giáo hữu ở vùng Tiền giang, Hậu Giang. Những làng như Đầu Nước (Cùlaogiêng), Xoài Mút, Chợ Bưng, Ba Giồng, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi Xan, Giồng Rùm (Phước hảo), Thâu Râu (Cầu Ngang), Rạch Lọp, Chà Và (Vĩnh Kim), Rạch Ụ, Cái Đôi, Mặc Bắc ... đều còn ghi dấu chân truyền giáo của cha. Đến một họ đạo nào, công việc trước tiên là lo dạy dỗ, dọn mình cho kẻ chịu phép Thêm sức. Cha siêng năng Giải tội, ân cần khuyên dạy kẻ mê muội, an ủi kẻ âu lo, thôi thúc người tội lỗi ăn năn sửa mình. Cha Philipphê Minh dù bận rộn công việc mục vụ, vẫn không quên thăng tiến tu đức bản thân: sốt sắng đọc kinh, nguyện gẫm và có lòng tôn sùng Mẹ Maria cách đặc biệt. Với lối sống gương mẫu, hiền từ, nghiêm túc, khôn khéo, cha Minh được mọi người, kể cả người ngoại đều thương mến, kính trọng. Cha còn quan tâm đến việc đào tạo những tông đồ nối nghiệp. Cha chọn lựa trẻ em có đức hạnh và sáng trí, nuôi làm đệ tử, ân cần dạy bảo và gởi đi Chủng viện. Sau khi vua Thiệu Trị chết (04.11.1847), vua Tự Đức nối ngôi, đã ra những chiếu chỉ bắt đạo gắt gao hơn. Sau chiếu chỉ tháng 8.1848, và nhất là chiếu chỉ tháng 3.1851 truyền: “ Phải chém đầu thả trôi sông Tây dương đạo trưởng, tra tấn và xử tử các giáo sĩ bản quốc cố chấp, phát lưu những người theo đạo Giatô. Ai điềm chỉ hay nộp giáo sĩ Tây dương thì được thưởng 8 lượng bạc và được hưởng nửa phần gia tài của người chứa đạo trưởng, phân nửa còn lại thì nhập vào kho. Còn ai chứa đạo trưởng Tây dương thì bị phân thây bỏ xuống sông; con cái thì bị phát lưu xa xứ ” . Trong tình hình hết sức khó khăn đó, cha Philipphê Minh vần bình tĩnh chu toàn bổn phận của một mục tử : cha vẫn đi lại khuyến khích các tín hữu, mở các lớp giáo lý và trao ban các bí tích. Cuối năm 1852, cha chính Hoà (P.Borelle) được tin có người báo quan bắt nộp cha Philipphê Minh, nên sai cha Minh chuyển đến coi sóc họ Mặc Bắc, thay thế cha Phêrô Lựu đổi đi họ Ba Giồng (thuộc Mỹ tho). Giáo dân Mặc Bắc nghe tin cha Minh đã đến họ Cái Đôi, thì cho ghe đi đón rước người về. Đ ến Mặc Bắc, cha Minh trọ ở nhà ông trùm Giuse Lựu, một gia đình đạo đức có thể tin cậy được. Các cha thường đến trú ngụ và cử hành bí tích ở gia đình này. Lúc còn coi sóc họ Mặc Bắc cha Phêrô Lựu đã lập Nhà phước trên sở đất mà ông trùm Giuse Lựu dâng cúng, nhưng chưa xong, nay cha Minh về tiếp tục làm cho hoàn thành. PHILIPPHÊ MINH - BỊ BẮT VÌ ĐẠO (26. 2.1853) Khi đó ở làng Mặc Bắc, có một người tên Nhẫn, gốc ở họ Cái Nhum, có thời làm bếp cho quan, nên gọi là bếp Nhẫn. Có lần bếp Nhẩn đến xin tiền cha Phêrô Lựu không được, nên để tâm thù oán và đi tố giác cha với quan trên tỉnh, sau khi đã kết bè với xã Hiệp và lý Vắp. Ngày 26.02.1853, quan sai lính đến vây nhà ông trùm Giuse Lựu, đạp cửa vào nhà, mục đích là để bắt cha Lựu. Nhưng cha Lựu đã đi nơi khác, chỉ còn cha Minh và vài chủng sinh đang ở trọ tại đó. Để cứu cha Minh, ông trùm Lựu đứng ra nói: “ Thưa quan không có đạo trưởng Lựu ở đây. Lựu chính là tên tôi ”. Họ thấy dáng dấp cụ chỉ là nông dân lam lũ, nên bắt trói ông trùm Lựu đánh đập và tiếp tục đi lục soát khắp nhà. Cha Philipphê Minh lúc đó đang ẩn trốn trong một cái rương xe, thấy con cái phải đau khổ, còn mình thoát nạn, cha nóng lòng nói với bà Trùm: - Tôi phải ra, kẻo chúng nó làm khổ ông Trùm. Cha bước ra và nói quan quân: -Tôi là đạo trưởng, các ông đừng tìm đâu nữa làm chi, các ông hãy bắt tôi và tha mấy người nầy đi. Nhìn thấy diện mạo hình vóc cha Minh gầy ốm, quân lính tưởng là dân ghiền nào ở đâu, nhưng bếp Nhẫn bước vào và quả quyết: “ Ông này là đạo trưởng ” . Quan bảo quân lính lấy khăn trói ké hai tay cha thật chặt. Sợ cha làm phù phép mà biến đi mất, nên quân lính rẽ tóc Cha Minh ra làm hai và buộc vào cột nhà, cho hai tên lính cầm gươm canh giữ hai bên. Thế là cha Philipphê Minh, ông trùm Giuse Lựu cùng với các vị quới chức trong vùng đều bị bắt trói, đeo gông và bị đẩy xuống thuyền đưa về giam tại Vĩnh Long. IV. PHILIPPHÊ MINH - TẠI KHÁM ĐƯỜNG (Từ 01. 03 - 03. 07.1853) Tại Vĩnh Long, quan tổng đốc hạch hỏi cha về các linh mục khác và về những nơi đã trú ẩn nhưng không khai thác được gì cả. Quan hỏi: “ Thầy tên gì ? ” Cha đáp: “ Tên tôi là Philipphê Minh ” - “ Thầy là người ở đâu? ” - “ Tôi quê ở Cái Mơn ” - “ Cha mẹ thầy bây giờ ở đâu? ” - “ Cha mẹ tôi chết sớm lúc tôi còn nhỏ ” -“ Thầy có đi học bên Tây không? ” -“ Tôi có đi học bảy năm ” -“ Sao thầy đi qua Tây được mà học và làm đạo trưởng ? ” -“ Tôi đi theo ông Phú Hoài Nhơn (tên mà nhà nước An Nam đặt cho Đức cha Từ) để học làm đạo trưởng nhưng ngài đã chết rồi ” . -“ Rồi thầy làm sao mà về đây? ” -“ Học rồi quá giang ghe bầu mà về đã lâu, chừng 11 năm nay”. -“ Ghe bầu đó tên gì? Ở đâu? ” -“ Tôi không biết, đức cha ngoài Huế sai đi; ghe ở Đàng Ngoài, không phải ghe trong này”. -“ Chủ ghe có đạo không? ” -“ Chủ ghe ấy có đạo ” -“ Thầy họ gì? ” -“ Tôi là Phan văn Minh ” . -“ Thầy còn anh chị em gì không? ” -“ Tôi có một chị đã già ” . -“ Bây giờ chị thầy ở đâu? ” -“ Chị tôi quê ở Cái Mơn, nay nghe tin tôi bị bắt, không biết chị còn ở đó hay đi chỗ nào khác ” . -“ Thầy được bao nhiêu tuôi? ” -“ Tôi được 38 tuổi ” . -“ Ai rước thầy đến Mặc Bắc? ” -“ Tôi đi ba thầy trò, không ai rước ” . -“ Thầy từ đâu mà đến đó? ” -“ Tôi đi thăm các họ đạo, chỗ này năm bữa chỗ kia bảy bữa; rồi đi nơi khác ” -“ Nhưng thầy ở chỗ nào trước khi đi Mặc Bắc? ” -“ Tôi thăm họ Cái Đôi, rồi qua Mặc Bắc ” . Ngày khác quan lại hỏi: -“ Ai ban chức cho thầy? ” -“ Đức cha Ngãi truyền phép cho tôi ” -“ Ông ấy bây giờ ở đâu? ” -“ Ngài không có ở đây ” -“ Vậy chứ ở đâu? ” -“ Khi ngài truyền chức cho tôi thì tôi biết chỗ ngài ở, bây giờ thì tôi không biết ngài ở đâu ” . -“ Thầy không phải là đạo trưởng Lựu, vậy ông ấy ở đâu? ” -“ Hễ làm giáo trưởng thì phải đi viếng giáo hữu nơi nầy nơi khác. Khi tôi vừa tới Mặc Bắc thì ngài đi đâu, tôi không biết ” - Thường thì thầy ở nhà ai? -“ Tôi đi hoài khi chỗ này khi chỗ khác, để làm việc bổn phận. Gặp nhà ai tôi ở nhà nấy ” . Quan tổng đốc chỉ đồ lễ và hỏi cha rằng: -“ Còn các đồ này của ai? Có phải là của thầy không? ” -“ Là đồ của tôi ” -“ Đồ này ai ban cho, hay là của thầy sắm? ” -“ Các đồ ấy, đồ ban cũng có, đồ sắm cũng có ” -“ Ai ban cho thầy? ” - Đức cha Đôminicô Ngãi -“ Để làm gì? ” -“ Đó là đồ dùng để tế lễ ” -“ Thầy mặc thử cho ta xem ” -“ Không có lẽ nào mà tôi mặc đồ ấy cho các quan coi”. Nghe nói thế các quan chửi mắng và nhạo báng người. Rồi quan lại hỏi cha: -“ Giáo hữu Giatô ở những nơi nào? ” -“ Tôi đến Mặc Bắc thì biết; còn các nơi khác tôi không biết ” -“ Thầy có biết đạo trưởng An nam, đạo trưởng Tây ở đâu không? ” - “ Có hay không tôi nói sao được. Tôi chỉ biết việc của tôi mà thôi ” - “ Ông Thán bị đày ở Ba Xuyên có phải là đạo trưởng không? ” - “ Phải”. - “ Thầy làm đạo trưởng làm chi? Thầy hãy bỏ đạo đi làm quan”. - “ Tha hay bắt mặc quan; tôi không chịu bỏ đạo ! ” - “ Thầy có thể bước qua thập tự, rồi tôi cho thầy đi làm nghề thầy thuốc kiếm ăn, có được không? ” - “ Tôi không thể nào bỏ đạo được! ” - “ Tại sao không được? ” - “ Tôi không dám làm điều ấy, quan tha hay giết thế nào tôi cũng chịu. Tôi dạy người ta; người ta còn không dám làm, phương chi là tôi ” . Quan lại hỏi ông trùm Lựu: - “ Mọi lời ông thầy khai như vậy có phải không? ” - “ Bẩm phải”. Những ngày kế tiếp, quan dùng mọi cách, khi thì dụ dỗ ,khi thì doạ nạt, khi thì quân lính kéo cha qua thập giá để bắt cha chối đạo, nhưng cha Philipphê Minh vẫn giữ lập trường của mình, trung thành với Đức Kitô và Giáo hội. Thấy cha còn trẻ mới 38 tuổi, lại hiền lành, có học thức, các quan muốn tìm cách cứu cha. Họ không bắt cha bước qua thập giá nữa, cha chỉ cần nói nhỏ là “ đã bỏ đạo ” cũng được tha. Nhưng cha Minh một mực từ chối đề nghị này. Không thể làm gì hơn được, các quan cho lính đưa cha về giam tại Tuyển Phong chờ ngày lãnh án. Có một số người Mặc Bắc theo lên Vĩnh Long để giúp đỡ cha. Trong số đó có xã Phương, bà trùm Lựu và con bà trùm Lựu tên là Đây lo việc cơm nước cho cha. Thời gian ở trong tù cha Minh vẫn chuyên cần việc đọc kinh, lần chuỗi, nguyện ngắm một cách sốt sắng. Cha cũng khuyên nhủ những người cùng bị giam cầm vì đạo thánh Chúa được bền lòng chịu khó vâng phục thánh ý Chúa. Bếp Nhẫn có đến trại giam xin cha tha thứ. Cha đã tha và khuyên các quý chức cùng bị giam trong tù cầu nguyện cho ba người đã tố cáo làm cho cha bị bắt. Về sau bếp Nhẫn về sống tại Cái Nhum và đã được ơn ăn năn trở lại. Mặc dù bị giam tại trại Tuyển Phong, cha vẫn nhắn tin cho giáo hữu các nơi, nhất là giáo dân Mặc Bắc đến lãnh các bí tích với người. Anh chị em ruột của người có vào khám Vĩnh Long thăm người nhiều lần. Cha Phêrô Lựu cũng đã đến thăm người tại Tuyển Phong hai lần, giúp giải tội cho người. Lần cuối cùng là vào khoảng năm ngày trước khi cha Minh chịu tử đạo. Khi cha Minh ở khám đường, các quan còn tìm cách dụ dỗ cha bỏ đạo thêm hai lần nữa; nhưng tất cả đều vô ích. Cha một mực không chối đạo, nên các quan khép án người và các quới chức cùng bị giam với người như sau: “ Phan văn Minh, 38 tuổi là giáo trưởng : vì đã có lòng dám đi học bên Tây, lại cũng vì trước là môn đệ của ông Phú Hoài Từ (Đức cha Taberd), sau lại làm môn đệ của ông Phú Hoài Ngãi (Đức cha Ngãi) ; vả khi ông Phú Hoài Ngãi bị giam cầm trong khám thất, thì cũng đã cả lòng đến viếng thăm, lại chịu ông ấy truyền quyền Giáo trưởng cho mình; lại bởi đã đi trong các miền các xứ mà giảng dụ chúng dân, cho nó mê tùng tả đạo; sau hết lại đến ở trong làng Long Định, xứ Mặc Bắc và lập một cái đạo quán tại trong xứ ấy nữa; ” Nay chúng tôi đã dạy nó phải bỏ các sự dị đoan xấu xa ghê guốc ấy đi, cùng quá khoá thập tự, mà nó chẳng vâng nghe; nên chúng tôi cao rao cùng tỏ ra nó là đứa phạm luật phép nước nhà, cùng là đứa tội nhân rất nặng; nên chúng tôi làm án đoán phạt nó phải lưu đày ra xứ Sơn Tây, y lịnh đức Hoàng đế đã dạy thưở trước. “ Còn sáu thằng đạo, chúng can án cùng nó, thì chúng tôi làm án xử trượng mỗi đứa, rồi sẽ phát lạc hồi thôn theo lệ”. Thực ra đã có chiếu chỉ của vua Tự Đức tra tấn và xử tử các giáo sĩ bản xứ cố chấp; nhưng lệnh này chưa được gửi tới Nam kỳ, nên các quan căn cứ theo chiếu chỉ của vua Minh Mạng, chỉ lên án lưu đày mà thôi. Sau khi thẩm tra ba tháng, các quan đã gởi sớ về kinh cho bộ hình xét và vua phê chuẩn. V. PHILIPPHÊ MINH - CHẾT VÌ ĐẠO(03.07.1853) Tại kinh đô Huế, bộ Hình không đồng ý với án của quan tổng đốc Vĩnh Long về cha Minh. Họ cho rằng đạo trưởng Minh đi học Tây từ bé, đã thâm nhập tư tưởng của người Tây lại làm giáo trưởng, nên phải kể là Tây dương đạo trưởng. Vì vậy đã sửa án, dạy trảm quyết liệng đầu xuống sông. Vua Tự Đức đã châu phê Theo án của bộ Hình. Nghe án xử tử từ kinh đô đã gửi về, cha Minh quỳ gối tạ ơn Chúa, rồi an ủi các anh em bạn tù nên vui lòng tuân theo ý Chúa, hẹn ngày tái ngộ trên nước Trời. Cha nói: “ Xin anh em vững lòng cậy trông vào Chúa, Ngài chẳng từ bỏ ai và Ngài sẽ thưởng công bội hậu cho những ai tận tâm tôn thờ Ngài ” . Cha cũng căn dặn một tín hữu ở ngoài: “ Tiền bạc của cha nếu còn lại, đừng phí tổn ma chay lớn làm chi, cứ đem phân phát hết cho người nghèo ” . Cuối cùng ngày mong đợi của cha đã đến. Quan tổng đốc cho lính dẫn người đến trước mặt và sai đem thẻ mà vua Tự Đức châu phê trảm quyết cho người xem. Cha Philipphê Minh nói với quan: “ Chẳng cần cho tôi xem thẻ ấy làm chi, vì tôi đã sẵn lòng chịu chết cùng mọi sự khốn khó đời này vì Danh Thánh Chúa tôi”. Quan nói: “ Thầy phải chết chém”. Cha đáp: “ Không hề gì, tôi sẵn lòng đã lâu! ”
Sau một hồi chiêng lệnh, quân lính dẫn cha đi chịu tử hình. Người đi giữa lộ, có xã Phương đi theo một bên. Còn lính tráng thì đi hai hàng hai bên, độ chừng năm sáu mươi người. Họ mặc áo đỏ, cầm gươm, giáo và mác. Hai tên lính cầm gươm trần, một đi trước mặt cha, một đi sau lưng cha. Người đi sau cầm mối dây trói cha. Phía sau nữa còn có ba người là : hạp Diêu, hạp Chất và quan lãnh binh Mô. Cả ba đều cỡi ngựa. Dẫn đầu đoàn đi có một tên lính cầm thẻ đề án tử, nhưng không rao lên tiếng nào. Trên đường đi, cha thấy bà câu Hội thì xin một miếng nước. Đó là chén nước cuối cùng người uống, vì từ đó về sau cha chẳng ăn uống vật gì nữa. Cha đi chậm, tay lần chuỗi, thỉnh thoảng ngước mắt lên trời thầm thĩ cầu nguyện. Cha ình tĩnh, vui vẽ, chẩng hề âu lo sợ hãi.Giáo dân và người lương đi theo cha rất đông, họ kinh ngạc nói với nhau: -“Kỳ lạ thật, xưa nay tội nhân nào bị dẫn đi chém đầu đều buồn sầu sợ hãi, còn thầy này vẽ mặt vui tươi nhưng không bị đi chém vậy”. Qua bờ sông Long Hồ đến Cái Sơn bé, Đình Khao, quân lính dọn bữa ăn sau cùng, nhưng cha Minh không thiết gì nữa. Cha chỉ chăm chú cầu nguyện. Những lời sau cùng của cha là: - Lạy Mẹ, xin Mẹ cầu nguyện cho con trong cơn lâm chung nguy hiểm này. . . Lạy Chúa tôi, xin thương đến tôi “Xin Chúa ban cho tôi được mạnh lòng khoẻ sức mà chịu cho sáng Danh Chúa . . . Lạy Chúa tôi, xin tha thứ muôn vàn tội lỗi cho tôi . . . Lạy Mẹ xin giúp sức cho con ...” Lúc ấy, một tên lính kê tấm ván trên vai cha để chặt xiềng, tên khác vấn tóc quanh đầu cha lại, và trói xiết ưỡn ngực ra. Cha quỳ thẳng gối, ngước mắt lên trời, vui nhận cái chết vì Danh Chúa. Một hồi chiêng trống vang lên, thời gian như chùng lại, trang trọng và linh thiêng trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời cha Philipphê Minh. Hồi chiêng vừa dứt tiếng, lưỡi gươm lý hình đã kết liễu cuộc hành trình của người làm chứng cho Đức Kitô, đưa linh hồn vị anh hùng tiến thẳng về thiên quốc. Hôm đó là trưa ngày 03.07.1853, ngày lễ Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Đầu rơi, máu chảy, tên lính chém đầu cha liền nắm tóc đưa cao cho quan xem và nói lớn: “Quan tổng đốc bảo chém đầu đạo trưởng, phải bỏ đầu xuống sông”. Lính xách đầu chạy qua đám cỏ rậm, cỏ cắt nát mặt cha. Xã Phương chạy theo chuộc lại không được, vì không có sẵn tiền. Lúc đó ông Biện Hợp thấy vậy, cởi áo lụa nâu đang mặc để cầm, lính mới trao đầu. Một bổn đạo từ ghe bước lên đem 3 quan tiền chuộc áo lại. Anh chị em bổn đạo vây quanh xác cha, lấy bông thấm máu, người ngoại cũng lại thấm máu cha để hậu thân, vì họ tin là “máu của đạo trưởng tử đạo linh lắm!” nhưng các bổn đạo ra sức ngăn cản. Bà Trùm lựu ra tay giành giựt lại máu thấm, người bị giựt không chịu buông ra, nên nói: mạnh bà, bà lấy, mạnh tôi, tôi lấy, ai được thì giữ, rồi anh vui mừng chạy đi như giành được của quí. Xã Phương ôm đầu cha để chung với xác, lấy chiếu phủ lại, giao cho Bà Trùm giữ và lấy tiền mua quan tài để đặt xác cha vào. Sau đó dùng ghe chèo nhỏ chở thi hài vị tử đạo về họ Cái Nhum. Đến Cái nhum, có các cha Gioan Thiềng, Phaolô Lượng (Lợi) và Lôrensô Lân cùng đông đảo bổn đạo rước xác cha, để tạm tại nhà ông hào Kim. Nhà phước Cái nhum nghe tin xác cha Minh mới chở về, mọi người đều khóc thương và đến nhà hào Kim để kính viếng xác và cầu lễ. Xác cha được may đầu liền với cổ, lau rửa sạch máu, mặc áo lễ, đặt giữa phòng, trang trí hoa đèn rực rỡ chung quanh. Bổn đạo tựu lại dâng thánh lễ và đọc kinh cầu lễ cho “Thầy Philipphê Minh mới chịu tử đạo”. Thấy quan tài xã Phương mua không đẹp, nên các cha và quí chức đã mua quan tài mới bằng vên vên để tẩm liệm. Cha Phaolô Lượng dâng thánh lễ và làm phép xác. Thi thể vị tử đạo được rước về họ Cái Mơn và an táng dưới nền nhà thờ cũ vừa bị đốt phá. Năm 1900, hài cốt Cha Philipphê Minh được đưa về Đại Chủng viện Sàigon, và năm 1960, di cốt cha được đặt trong Vương cung thánh đường Sài Gòn trong dịp lễ cung hiến thánh đường. VI. PHILLIPPHÊ MINH - ĐƯỢC TÔN PHONG
Đức thánh cha Piô IX đã suy tôn cha Philipphê Phan văn Minh lên bậc Đáng kính ngày 27.09.1857. Ngày 19.06.1988 Đức thánh cha Gioan Phaolô II suy tôn ngài lên bậc Hiển thánh. Giáo phận và Chủng viện Vĩnh Long đã nhận thánh Philipphê Minh làm Bổn mạng, và mừng lễ Kính vào ngày 3 tháng 7. Lạy thánh Philipphê Phan văn Minh, xin cầu cho Hội thánh Việt Nam, cách riêng cho Giáo phận Vĩnh Long, ngày càng vững mạnh trong đức tin để Danh Chúa được rạng sáng. AMEN. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |