|
|
KỶ NIỆM 150 NĂM HAI THÁNH TỬ ĐẠO HẠNH THÁNH I. GIUSE LỰU - THỜI THƠ ẤU Tại họ Cái Nhum, huyện Chợ Lách, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc tỉnh Bến Tre), có ông Nguyễn Văn Sách đã kết duyên cùng bà Minh, làm nên một gia đình đạo đức, khuya sớm lo thờ phượng Thiên Chúa, tuân giữ điều luật Hội Thánh, chăm lo làm ăn. Năm 1789, Chúa đã cho ông Sách và bà Minh sinh ra một trưởng nam là Giuse Nguyễn Văn Lựu. Bởi đầy lòng đạo đức, hai ông bà luôn mong muốn con mình nên người tử tế, biết thờ phượng Chúa, nên đã nuôi dạy con trẻ thật tận tình sốt sắng. Vì là con đầu lòng nên Giuse Lựu được ông bà yêu thương, cưng chìu. Tiếc thay, người mẹ mang bệnh mà từ trần, Giuse Lựu sớm chịu cảnh mồ côi mẹ. Người cha còn trẻ tuổi, đã tái hôn với một phụ nữ để chung xây tổ ấm và nuôi dạy con thơ. Bà kế mẫu nầy đã tận tình lo lắng việc gia đình, yêu thương Giuse Lựu như con ruột. Hai ông bà sống chung thuận thảo, hàng ngày lo việc làm ăn, cũng chăm lo kinh sách. Ông bà lần lượt sinh thêm bốn người con nữa: một trai là Thúc sau gọi là thầy Viết và ba gái là: Ngủ, Yên, Tỉnh. Khi Giuse Lựu nên mười tuổi, vì công việc làm ăn tại Cái Nhum nghèo khổ, vất vả quá, nên ông Sách đem gia đình ra đi tìm kế sinh nhai. Gia đình ông Sách đến cư ngụ tại họ Bò ót, (xưa thuộc địa phận Nam Vang, nay thuộc tỉnh Cần Thơ, địa phận Long Xuyên). Bởi bản tính làm ăn thật thà, biết phụng thờ Chúa, nên Chúa thưởng cho người chồng gầy được sự nghiệp cơ đồ. Ông Sách cũng lo tạo lập nhà thờ, giúp đỡ bổn đạo, giàu nhân đức, nên dù đến xứ lạ quê người, ông cũng đạt địa vị cao. Ông được đề cử giúp việc làng, lên chức Hương Cả; về việc đạo, ông cũng qua chức Giáp, Biện, Câu cho tới bực Trùm họ. Ngụ ở Bò Ót đó độ 5 năm, vì công việc làm ăn làm không mấy khá giả, nên ông Sách lại đem vợ con ra đi một lần nữa. Gia đình ông Sách đến cư ngụ ở Cần Chông, Mặc Bắc, thuộc làng Long Định, tỉnh Vĩnh Long, (nay là Long Thới, Tiểu Cần, Trà Vinh). Lúc đó Giuse Lựu được 15 tuổi, ngày đêm chăm lo giúp đỡ cha mẹ, khai khẩn đất ruộng hoang, qui dân lập ấp, phát triển xã hội. Về ngụ tại Mặc Bắc, gia đình ông Cả Sách ngày càng thêm khá giả. Ông Sách dùng lời lẽ êm dịu mà khuyên vợ dạy con, gia đình luôn đầm ấm yêu thương, thấm nhuần tinh thần Kitô giáo. II. GIUSE LỰU - MỘT KITÔ HỮU SỐT SẮNG. Giuse Lựu đã đến tuổi trưởng thành, nên người cha định bề gia thất cho con. Giuse Lựu kết hôn với bà Martha Thế là con nhà hiền lương đạo đức, biết thương chồng, chăm sóc cho con cái, việc nội trợ đảm đang. Giuse Lựu ở với bà nầy sanh được bảy người con: con đầu lòng và con út chết khi mới sanh; các người con khác là Gioan B. Tín; Thạch, Maria Ngải, Gioan B. Nhiên (sau làm trùm họ Mặc Bắc), Ysave Thử. Khi lo đôi bạn cho Giuse Lựu xong, ông Cả Sách vì già yếu nên đã nhắm mắt giả từ trần thế. Giuse Lựu vâng lời cha trăng trối mà chăm lo làm ăn và giữ đạo Chúa. Nhà người ở tại xóm Ngọn thuộc họ đạo Mặc Bắc. Người lo lập vườn tạo rẫy, dần xây dựng một sự nghiệp khá lớn. Thời trẻ tuổi, đôi khi ham thích vui chơi như đá gà, đá cá, nhưng khi lớn tuổi, tánh đầm lại, biết kiềm lòng sửa nết. Giuse Lựu tính tình rất điềm đạm, từ tốn, luôn lấy câu “dĩ hoà vi quí” làm phương châm. Đối với kẻ bề trên, người hết lòng mến phục, với người bề dưới người coi như em cháu, thường giúp đỡ khuyên nhủ. Việc gia đình người lo liệu chu toàn. Những lúc rảnh rỗi, người lấy sách giáo lý đọc và giải thích cho vợ con nghe. Vốn thông minh chăm chỉ, nên khi nghe những lời cha thầy giảng dạy, ông ghi khắc vào lòng và dạy lại cho con cháu xóm giềng. Ông nhắc nhở và làm gương cho người nhà lo đọc kinh sáng tối, tuỳ dịp mà đi xưng tội chịu lễ. Lòng mến Chúa yêu người được dạy bảo từ thuở nhỏ, nên ông rất nhẫn nhục chịu đựng. Cha Borelle có thuật rằng: “Lần nọ người bị một đứa bất lương kia mắng nhiếc thậm tệ, mà người cứ lặng thinh; người con thấy vậy nóng lòng muốn ra tay trị nó, nhưng người can mà rằng:”“Thôi con, Chúa Giêsu là Chúa Trời đất, là Đấng vô tội còn cam lòng chịu dân Do thái sỉ nhục, huống chi ta là kẻ tội lỗi, sao chẳng noi gương Chúa mà chịu một hai chút sỉ nhục sao ? “Người con vâng lời cha, nên nguôi giận mà tha cho tên bất lương ấy”. Giuse Lựu thường giúp đỡ kẻ khác, làm ơn không mong đáp đền. Một lần ông có việc đi thăm ruộng về, thấy ruộng người bạn kế cận mới cấy, lúa bị nổi nhiều quá, ông không ngần ngại xăng quần nhảy xuống dậm lúa giùm, lúc đói thì đem cơm ra ăn, rồi tiếp tục dậm lúa tới chiều tối mà vẫn chưa xong, ông mới về bảo chủ ruộng: “Ruộng chú em lúa nổi quá sao không lo đi dậm lại, Tôi đã dậm một ngày nay mà chưa rồi, mai lên coi lại kẻo hư hết”. Những khi Giuse Lựu đi câu cá trở về, dọc đường ai xin thì cho, mà lựa cá lớn cho đi, chỉ giữ lại số cá đủ gia đình ăn thôi. Khi đi đường hễ gặp “bờ bọng” đâu hư bể thì ông lo sửa lo đấp lại bất kỳ của ai. Thật Giuse Lựu là một người bổn đạo hết lòng thờ Chúa, yêu người nên xứng đáng bực cao siêu Chúa thưởng vô cùng. III. GIUSE LỰU - LÀM CHỨC VIỆC HỌ Biết Giuse Lựu là người có đức có tài, nên cha sở chọn ông làm Chức việc tại họ Mặc Bắc. Ông Biện Lựu chu toàn phận sự trong sở Biện một cách rất tốt đẹp. Nghe ai đau liệt hoặc khốn khó thì ông đến viếng thăm, nhắc nhở lo việc thiêng liêng, cùng tương trợ phần xác cho đến khi xong việc mới về nhà. Thời đó Hội Thánh Việt Nam đang bị cấm đạo rất ngặt, nhà thờ bị triệt hạ, bổn đạo phân tán khắp nơi, lén lút Xem lễ, Xưng tội. Ông Biện Lựu có nhà cửa rộng rãi, ngăn nấp, sắm sẵn một bàn thờ, nên các cha thường đến trú ngụ và dâng thánh lễ. Nhà ông Biện Lựu lúc đó trở nên nhà nguyện nhỏ cho bổn đạo tụ tập lo việc thiêng liêng. Ông Biện Lựu thường đưa rước các cha đến làm lễ và ban các Bí tích cho bổn đạo. Mỗi lần có cha tới họ đạo, ông thông báo cho bổn đạo biết và khuyên nhủ mọi người đến tham dự. Khi thi hành phận sự, ông kể mình là một người đàn anh, răn dạy em cháu chứ không ỷ chức quyền to tiếng, nên ai ai cũng đều mến phục ông. Đang thời buổi phải tân toan cực nhọc, ông không một lời than thở, mà lại vui lòng nữa. Ông thật là một ông Chức việc rất cần mẫn chu toàn trách nhiệm, đáng nên gương cho hàng Quới Chức. Cha sở thấy ông Biện Lựu khuya sớm không ngại cực khổ, mà niên tuổi khá cao, có đức có tài, nên đặt ông làm Trùm Nhứt họ Mặc Bắc. Tuy làm đến bậc Trùm họ, bạc cao nhất trong hàng Quới chức, nhưng cách cư xử ông Trùm cũng vẫn là thái độ hiền lành, thật thà. Ông đối xử ôn tồn với người cao tuổi và hiền hậu với người nhỏ tuổi. Những lúc rảnh rỗi, ông Trùm thường đi thăm viếng những nhà đang buồn sầu mà ủi an dạy bảo, đến nhà nghèo túng ông mở tay phân phát mắm, muối, dầu đèn. Ông Trùm thương yêu giúp đỡ mọi người, nhưng nếu ai sai phạm luật thì ông phạt chẳng tha. Ông ra hình phạt những kẻ hay nói tục chửi thề: hễ ông bắt được ai chửi thề thô lỗ thì phạt mấy đồng tiền. Ai ai trong bổn đạo đều mến thương ông, nhưng cũng nể sợ ông lắm: vì ông không thiên vị ai cả. Ông Trùm quảng đại dâng cúng ruộng vườn cho nhà chung Mặc Bắc để hưởng huê lợi cho đến ngày nay. Ông cũng dâng tiền bạc để tái tạo một Nhà phước cho các chị em Dòng Mến thánh giá cư ngụ, gần nền nhà thờ cũ Mặc Bắc, là nơi táng xác ông khi ông chịu chết vì đạo. IV. GIUSE LỰU - BỊ BẮT VÌ ĐẠO. Vào năm 1848, vua Tự Đức ra chiếu chỉ cấm đạo rất ngặt: Hễ bắt được “Tây dương đạo trưởng” (giáo sĩ nước ngoài) thì cột đá vào cổ neo xuống biển cho chết; hể bắt “thầy đạo bổn quốc” (giáo sĩ trong nước) thì tra tấn kìm kẹp; nếu không chịu bỏ đạo, thì khắc hai chữ “tả đạo” vào gò má và bị lưu đày nơi rừng thiêng nước độc, còn bổn đạo thì chỉ xử đánh gậy phạt rồi cho về quê. Đến tháng 3 năm 1851, Vua Tự Đức lại ra một chiếu chỉ mới: Hể gặp Tây dương đạo trưởng đâu thì trảm quyết (chặt đầu) quăng đầu xuống sông xuống biển; gặp Thầy đạo bổn quốc thì phân thây làm đôi, dầu quá khóa (bỏ đạo) hay không cũng vậy; còn nhà nào mà chứa chấp thầy đạo cũng bị phân thây, con cái phải bị lưu đày chung thân. Dù biết trước những nguy cơ sẽ xảy đến, nhưng ông Trùm Giuse Lựu vẫn cứ thi hành phận sự của người đạo đức và chức việc họ. Ông Trùm vẫn tìm cách đưa đón các cha đến giúp giáo dân trong họ. Lúc nầy cha Phêrô Lựu (sau tử vì đạo tại Mỹ Tho) đang làm chánh sở Mặc Bắc. Khổ thay, có vài người bổn đạo xấu nết ham tiền là bếp Nhẩn, lý Vắp, xã Hiệp. Những người nầy thường đi hăm dọa bổn đạo trong họ mà kiếm tiền, năng tới lui với cha Phêrô Lựu mà xin xỏ tiền bạc. Một lần nọ, bếp Nhẩn đến xin Cha Phêrô Lựu 100 quan tiền để lo việc riêng xong mới đi xưng tội mùa Phục Sinh. Lúc đó cha Phêrô đang xây lo cất Nhà phước, nên không có tiền dư mà giúp. Bếp Nhẩn bực tức, muốn đi tố cáo cha cho quan tỉnh, nhưng rồi cha Phêrô được lệnh đổi đi Ba Giồng (nay địa phận Mỹ Tho), cha Philipphê Minh đến Mặc Bắc thay thế mà nó không hay. Có lần bọn nó đòi bổn đạo phải góp cho nó 600 quan tiền, nếu không thì nó đi tố cáo; lần khác đòi 500 quan tiền, nhưng bổn đạo chỉ cho nó có 100, nó chê ít, lại nó còn hờn cha Phêrô Lựu, nên Bếp Nhẩn đã đến quan tỉnh để tố cáo bổn đạo họ Mặc Bắc ẩn chứa cha thầy: -Bẩm quan lớn, có đạo trưởng Lựu đang ở tại xứ Mặc Bắc, tại làng Long Định đang lo lập họ đạo. Quan tỉnh nghe lời lập tức truyền lệnh cho quan lãnh binh Thường đem quân lính đến tận nơi khám xét. Lúc đó cha Philipphê Minh mới đến thế cha Phêrô Lựu được 18 ngày. Quan quân xuống ghe trương bườm thẳng đến đậu tại vàm Cần Chông (Mặc bắc) và cho lính vào thám thính. Xã Hiệp nghe có quan quân đến thì cho vợ đến nhà ông Trùm Lựu, giả xin xưng tội mà dọ thám. Vợ xã Hiệp đến gặp bà Trùm, bà hỏi tới có việc chi thì thưa rằng: - Thưa ba, tôi đi xin cha làm phước cho tôi... Bà Trùm sinh nghi, nên nói cha không có ở nhà, chị ta quay trở ra, nhưng vẫn lén núp trong sân theo dõi và biết có cha. Chiều tối xã Hiệp đến gặp cha Minh và làm bộ thưa rằng: - Con đến mừng cha; Nói chuyện với cha xong, thì xã Hiệp trở về. Ông Trùm biết có điềm chẳng lành xảy tới đêm nay. Thật vậy, xã Hiệp về nhà, lập tức kêu bếp Nhẫn và lý Vắp cùng với quan lãnh và đội lính đến vây nhà ông Trùm. Lúc ấy lối canh hai, cha Philipphê Minh đang nghe học trò đọc sách gẫm thì nghe có tiếng hô to: -“Các vệ”, hãy giữ cho nhặt đừng cho chạy thoát. Tiếng “Dạ” rân vừa dứt, ba tiếng súng nổ phát lên. Danh Nhiên là con ông Trùm vào thưa cha Philipphê Minh: -Thưa cha có người đến bắt cha; quan lãnh binh có ống loa. Cha Philipphê Minh ra trước bàn thờ mà cầu nguyện, còn ông Trùm, bà Trùm và chị em Danh Nhiên soạn đồ lễ đem cất giấu. Danh Nhiên hỏi vói ra ngoài: -Các ông đến có việc chi cho tôi biết ? -Mở cửa có quan đến. Cha Minh liền bảo các người nhà lo trốn, còn chính cha thì ở lại may ra có thể cứu nhà ông Trùm. Quan quân đạp cửa tràn vào nhà, ông Trùm thấy sự tình, can đảm bước ra hỏi: - Các ông đến nhà tôi làm chi nửa đêm nửa hôm làm vậy? Quan nói: - Ta đến bắt đạo trưởng Lựu giải lên tỉnh; thằng Hiệp, Nhẫn, Vắp nói ông chứa đạo trưởng trong nhà, vậy chớ đạo trưởng Lựu ở đâu ? Ông Trùm còn ngần ngại, một tên lính nói: - Lão già không chịu thưa, chém đầu. Ông Trùm đáp: - Không có đạo trưởng Lựu, Lựu chính là tôi! Quân lính tiến đến tra tấn đánh đập ông Trùm và hỏi dồn: Đ ạo trưởng Lựu ở đâu?. Nhưng ông vẫn quyết một lời: Không có đạo trưởng Lựu, Lựu là tôi. Đ òn càng lúc càng thấm, mà lòng khí khái cũng càng giữ chặt hơn. Cha Philipphê Minh lúc đó đang trốn trong một cái rương xe, thấy con cái phải đau khổ, còn mình thoát nạn, cha nóng lòng nói với bà Trùm: - Tôi phải ra, kẻo chúng nó làm khổ ông Trùm. Cha bước ra và nói: -Tôi là đạo trưởng, các ông đừng tìm đâu nữa làm chi, các ông hãy bắt tôi và tha mấy người nầy đi. Nhìn thấy diện mạo hình vóc cha Minh gầy còm ốm yếu, quân lính tưởng là “dân ghiền” nào ở đâu, nhưng bếp Nhẫn lại bước vào và quả quyết: “Ông này là đạo trưởng”. Quan bảo quân lính lấy khăn trói ké hai tay cha thật chặt. Sợ cha làm phù phép mà biến đi mất, nên quân lính rẽ tóc Cha Minh ra và buộc vào cột nhà, cho hai tên lính cầm gươm canh giữ hai bên. Kế đó, quan cho mời Phó tổng Trị, xã Kim, hương Sĩ, lý Oai đến quở trách nặng lời, vì đã để cho ông trùm Lựu chứa đạo trưởng trong nhà. Quan lại hỏi ông Trùm: - Ông lấy phép nào mà đem đạo trưởng vào nhà? - Thầy tôi đến, tôi nuôi, tôi không trình với ai cả. Quan ra lệnh “đóng gông” và “trói ké” hết thảy mọi người trong nhà, đem xuống ghe giải về tỉnh, đó là đêm 26 tháng 2 năm 1853 vào thứ bảy áp Chúa nhật thứ ba Mùa Chay. Tới Vĩnh Long là tối thứ hai, đêm đó phải ngủ dưới ghe, sáng thứ ba quân mới điệu cha Philipphê Minh, ông trùm Lựu và các bạn ra trước công đường. V. GIUSE LỰU - CHẾT RŨ TÙ VÌ ĐẠO Sáng đến, quan Đốc bộ Lý, quan án sát Doãn và quan bố chánh Hoài lập toà án mà xét xử những người theo đạo Gia tô. Cha Philipphê Minh, ông trùm Lựu và các người cùng bị bắt được dẩn đến, đứng ngoài thềm giữa trời nắng mà chịu các quan tra vấn. Chung quanh có hai mươi lính hầu canh gác cẩn mật. Quan hỏi cha Philipphê Minh ai đã đem người về nhà mà ẩn chứa, cha chưa kịp trả lời, ông Trùm lẹ miệng nói: - Chính là tôi chứa ngài đó. Lời nầy đủ cho ông phải chết; các quan bảo ông bỏ đạo, dạp qua anh Chúa, ông không chịu mà nói rằng: - Cha tôi chết, tôi chết với người, chớ phạm ảnh thì tôi không. Các quan tra vấn cha Philipphê Minh đủ mọi lẽ rồi day lại hỏi ông Trùm: - Mọi lời ông thầy khai vậy có phải không? - Bẩm phải. Quan tra khảo từng người bị bắt, biết Danh Nhiên là con ông Trùm Lựu thì truyền thả, vì “bắt cha thì tha con”. Ông Nhiên dù được tha nhưng còn lẩn quẩn theo giúp các đấng bị bắt vì đạo. Lấy lời khai của các tù nhân xong, quan truyền lệnh tống giam Cha Minh và 6 người bị bắt vào trại Vĩnh Tiền gần dinh cho dễ bề tra hỏi. Mỗi người phải mang vào cổ một cái “gông thiết diệp” là thứ gông lớn có kèm lá sắt. Trong trại giam, may có tên lính công giáo dọn một chỗ cao sạch sẽ cho cha Minh, còn mấy ông khác thì ngồi bẹp dưới đất. Cha con hẩm hút chịu muỗi đốt mồng bu. Ông Trùm vì thân già sức yếu lại bị nặng đòn nên coi ông gầy còm xanh xao. Trong một tuần lễ, mỗi ngày quan bắt dẫn từng người ra điều tra, đánh đập, bắt bỏ đạo. Cha Philipphê Minh và các quý chức gắng sức chịu xử, chịu roi đòn đến cùng. Bảy ngày trôi qua, quan thấy lòng kiên cố chí nhẫn nại của các tù nhân vì đạo, nên quan ra lệnh chuyển sang trại Tuyển Phong là trại để giam những người giàu sang bị tội, qua đó thì có Danh Nhiên tới lui thăm viếng giúp đỡ công việc. Các quan bắt ép ông Trùm đạp ảnh Chúa, nhưng ông không chịu, nên bảo lính đánh ông một trăm gậy. Mang thân già còn da bọc xương, mỗi một lằn roi là một vết thương đau thấu ruột gan, vậy mà ông cứ lòng niệm kinh, miệng kêu Chúa. Ngày qua ngày tra tấn, dụ dỗ, doạ nạt, nhưng các đấng vẫn kiên tâm không hề lay chuyển, nên các quan dâng sớ về kinh, xin vua cho án xử trảm quyết cha Philipphê Minh, còn ông trùm Lựu và các chức việc thì luận án “xử trượng” rồi “phát lạc hồi thôn”. Vua không châu phê theo y án Vĩnh Long, nhưng ra chỉ dụ xử tử Cha Minh, còn các người khác phải bị lưu đày chung thân ở xứ Bắc Kỳ. Sáng ngày 3 tháng 7 năm 1853, các quan lính dẫn cha Philipphê Minh đi xử tử tại Đình Khao, cách tỉnh lỵ Vĩnh long 3 cây số. Bản án cho ông Trùm Lựu như sau: ”Tên Nguyễn Văn Lựu và bốn tên kia phải thích tự nó rồi xiềng lại mà đày ra Bắc, tại xứ Tuyên quang, song có đứa nào biết tội mình mà hối cải bỏ đạo, thì quan tỉnh phải xét, nếu có thật lòng vậy thì phóng thích cho nó về an cư lạc nghiệp, mà quan tỉnh phải chạy sớ cho triều đình trước đã. Nếu đứa nào cứng cổ bất tuân thì phải đày nó chung thân, không chỗ nhiêu dung”. Một ít kẻ bị bắt thấy bản án nặng quá, thì nao lòng bỏ đạo để trở về cùng vợ con. Ông Trùm dùng lời lẽ êm dịu cùng chan hòa nước mắt để khuyên lơn, nhưng các người ấy đã quá ngã lòng ... thì ông khuyên dạy về nhà phải lo sám hối ăn năn... Ông trùm Lựu, ông tổng Trị, ông Thủ Quyền thì cứ vâng lời thánh tử đạo trối mà kiên trung cùng Chúa, đành chịu chết vì đạo. Các quan tỉnh xét thấy án đày ông Trùm Lựu chung thân là quá nặng, vì đã ông già yếu, lại con ông có lên đút tiền cho quan, nên không đày ông ra Bắc, chỉ đày lên tỉnh Châu đốc. Quan tỉnh Châu đốc sợ mình phải tội liên can vì cải án vua, nên gởi trả lại cho các quan Vĩnh Long. Ông Trùm còn phải giam lại tại khám đường Vĩnh Long thêm gần một năm nữa. Ông vẫn vững vàng xưng đạo thánh ra luôn. Ông năng chịu các phép Bí tích, nhất là lúc thánh Philipphê Minh còn bị giam trong ngục, sau thì có cha Đoan, cha Phiên và thánh Phêrô Lựu là cha sở cựu của ông. Có lần ông thưa cùng cha Đoan rằng: -Lạy cha, xin cha cầu nguyện cho con, cho con đặng lòng mạnh mẽ vững vàng cho đến cùng. Con gần đi đày, con phú dưng mọi sự trong tay Chúa; con trông cậy lòng nhân từ Chúa mà thôi. Con xin chịu mọi sự theo ý Chúa; vợ con con Chúa sẽ lo; con không còn thương tiếc sự gì nữa. Ông Lê Đạo Quyền là người ở khám với ông Trùm đã làm chứng: “Ngày lễ tro (năm 1854) ông Trùm xưng tội lần sau hết, và làm việc đền tội luôn 15 ngày, mỗi ngày đọc một kinh tám mối phước thật và thêm một kinh Lạy Cha một kinh Kính Mừng. Qua mùng 1 tháng Đức Bà năm đó, ông vì sức yếu hơi cùng, nhuốm bịnh đau trong ngực tức tối hết sức”. Đ ã tới ngày phải ra đi, vì những hình khổ lao tù, những cuộc tra tấn nặng nề, mang gông đeo xiềng, lại thêm bệnh hoạn, đã làm kiệt sức tuổi già của ông Trùm Lựu. Cha Borelle (Hòa) thuật rằng: “Buổi sáng sớm thì ông nói rõ ràng, ai nấy đều lấy làm lạ và đưa cho ông một chén thuốc xin ông uống, thì ông nói rằng:“ Không ích gì nữa và tôi cũng không muốn ăn uống giống gì nữa. ”Đoạn ông nín lặng một giây lâu mà đem lòng trí suy về Chúa như bất tỉnh. Bà Trùm và hai con sợ ông mê, nên kêu hỏi cho ông tỉnh lại thì ông nói: “Xin các người để cho tôi lo việc trong tôi, các người ở yên, tôi tỉnh không mê mẩn gì đâu”. Qua đêm sau, chừng 3 giờ khuya, ông ngồi dậy ba lần, tay ông bám vào bờ tường, cố đứng dậy ngước mắt lên trời, ông xin mọi người chung quanh giúp đọc kinh cầu nguyện cho mình. Đến lần thứ ba ông kêu lên: “Giêsu, Maria, Giuse; lạy Đức Bà là Mẹ con, xin Đức Mẹ cứu giúp con”. Vừa dứt tiếng, ông từ từ ngã xuống nền nhà và trút hơi thở cuối cùng, vào ngày 2 tháng 5 năm 1854, sau ngày thánh Philipphê Minh tử đạo gần một năm. Giây phút êm đềm giữa ngục, linh hồn ông về chầu Chúa trước mặt vợ con cùng những người chịu khốn khó. Đến trưa các quan được tin báo thì đến khám xét coi người đã chết thật chưa. Các quan xem thấy phải bỡ ngỡ, vì khuôn mặt ông vẫn còn vui tươi, miệng như mỉm cười. Có quan nói: “Phải nói là ông ấy ngủ, ông cười”. Ông khác nói: “Thật chúng ta chưa hề thấy xác chết rồi mà con tươi tốt như vậy”. Các quan chưa tin ông chết, nên truyền cho lính đem đuốc đốt hai đầu ngón chân cái ông nám đen, mới xác định ông đã chết thật. Quan cho mở xiềng và giao thi hài cho thân nhân mai táng. Bà Trùm đã lo sẵn cái quan tài thật đẹp, tẩm liệm xác ông Trùm và chở ngay về họ Mặc Bắc. Xác đấng thánh tử đạo đem về Mặc Bắc thì quàn lại ba ngày cho bổn đạo kính viếng. Có 4 linh mục đến cử hành Thánh lể An táng, do cha Đoan chủ sự, có trên 2000 người tham dự. Thi hài được đặt trong quan tài thật đẹp bằng gỗ quí, trang hoàng hoa nến sáng, do 50 người khiêng đi mai táng, vừa long trọng vừa trang nghiêm... Xác đấng thánh tử đạo được chôn táng trong nền nhà thờ củ Mặc Bắc vừa mới bị triệt hạ. VI. GIUSE LỰU - ĐƯỢC TÔN PHONG Đức Giáo Hoàng Lêo XIII đã ban tặng ông Trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu lên bực Đáng kính ngày 13 tháng 2 năm 1879. Đức Giáo hoàng Pio X suy tôn người lên bậc Chân phước vào ngày 2 tháng 5 năm 1909. Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã tôn phong ông Trùm Giuse Nguyễn văn Lựu lên bậc Hiển Thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988. Giáo phận Vĩnh Long đã chọn Thánh Giuse Trùm Lựu làm Bổn mạng cho hàng Quí Chức, và mừng lễ kính hàng năm vào ngày 2 tháng 5. Lạy thánh Giuse Lựu, xin cầu cho chúng tôi. Xin cho hàng Quý chức luôn sống theo gương Ngài mà hăng say cộng tác với các linh mục trong tình thần dấn thân phục vụ, để Họ đạo và Giáo phận chúng con ngày càng phát triển tốt đẹp hơn. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |