Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN
Mc 10, 46 - 52

Anh chị em thân mến.

Có lần tôi nghe bài hát được ca sỹ Nguyễn Hưng diễn tả hết tâm tình, nên tôi rất thích. Bài hát mang tên Đôi mắt, trong đó có những câu;

Mẹ cho em đôi mắt sáng ngời,
Để nhìn đời, và để làm duyên.
Mẹ cho em đôi mắt mầu đen,
Để thương để nhớ, để ghen để hờn.
Đôi mắt em là cửa ngỏ tâm hồn,
Là bài thơ hay nhất,
Là lời ca không dứt,
Là tuyệt tác của thiên nhiên.

Thật thế, đôi mắt là cửa ngỏ tâm hồn, là tuyệt tác của thiên nhiên. Nếu đôi mắt đóng lại, thì mọi hướng đi dường như cũng đóng lại và cuộc đời dường như ở vào một tình thế bất động, ở bên lề của cuộc sống.

Nhìn vào anh mù đang ngồi ở vệ đường. Đôi mắt anh ta không thể mở được, nên anh ta đành ở bên lề cuộc sống, anh ngồi bên lề đường, không thể hòa cùng mọi người để có những bước chân thong dong trên đường. Anh ta còn phải trông chờ vào những của bố thí dư thừa để nuôi sống bản thân. Anh ta cũng trông chờ những tin tức dư thừa để theo dõi tình hình chung quanh một chút ít nào đó, đôi khi còn bị ngăng cản.

Anh cũng muốn hòa với mọi người bước trên đường cuộc sống, nên khi được hỏi, không cần suy nghĩ lâu, anh trả lời ngay: "Lạy Ngài xin cho tôi được sáng mắt". Anh không xin tiền bạc hay của nuôi thân. Anh đã vất tấm áo choàng là món đồ nghề của mình, nhảy chồm lên, vượt khỏi tình trạng bất động, bên lề đường, bên lề cuộc sống. Cú nhảy là bước chân đầu tiên để bước vào con đường của cuộc đời. Mặc dù đôi mắt thể chất chưa được sáng nhưng mắt tâm hồn anh đã mở ra, đã nhìn thấy Đấng mở mắt cho mình. Anh bước theo con đường mà ngài dẫn dắt.

Mỗi người chúng ta có được cái tuyệt tác của thiên nhiên, cửa ngỏ tâm hồn đó là đôi mắt. Nhưng vì chúng ta xử dụng quá nhiều để nó trở nên là cái gì quá bình thường, cho đến đỗi nhiều khi chúng ta không còn biết quí trọng nó nữa, thậm chí nhiều khi chúng ta quên mất đi sự hiện diện của cái tuyệt tác này. Khi nào mà đôi mắt có vấn đề, khi đó chúng ta mới cảm thấy phải chú ý, nhưng có khi lại quá trể để không còn có thể làm gì được nữa.

Cái cửa ngỏ của tâm hồn đó nhiều khi cũng bị chúng ta đóng kín nó lại, không cho nó nhìn thấy những điều cần phải thấy, không cho nó nhìn thấy hướng đi đúng đắn để mà đi. Chúng ta muốn ngồi bên lề cuộc sống để hưởng thụ, bất chấp những tiếng xôn xao của cuộc đời, bất chấp những bước chân của sự thật, bất chấp lời mời gọi đứng lên của Thiên Chúa. Chúng ta cố bám lấy chiếc áo choàng của sự ích kỷ để tìm tư lợi bản thân, áo choàng của sự nóng nải, cố chấp để không thể nghe được tiếng mời gọi thống thiết, áo choàng của sự ghen tương đố kỵ, để không thể bước chân trên con đường yêu thương và chấp nhận người khác ở bên cạnh.

Chúng cũng không thể vượt qua được sự tự ái quá lớn của bản thân, vì chiếc áo choàng đó quá nặng nề làm trì trệ bản thân. Chính vì thế chúng ta không thể nào có được cú nhảy vọt như anh mù trong bài phúc âm mà chúng ta vừa nghe. Nhiều lần Chúa đến bên cạnh, hỏi ý kiến, nhưng chúng ta không dám mở lời xin cho được sáng mắt, vì sợ phải bỏ đi chiếc áo choàng nghề nghiệp của mình. Chúng ta cũng sợ phải bước đi theo Chúa, vì con đường của Ngài là con đường Thập Giá, con đường vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa, là con đường yêu thương.

Chúng ta sợ phải vất đi chiếc áo choàng bản thân mình, nên nhiều lần không nhận ra được Ngài trong đám đông qua lại của cuộc đời. Chúng ta vẫn mở mắt nhìn nhưng không thấy gì, vì chỉ thấy chiếc áo choàng của bản thân và những lợi lộc dư thừa đang chứa trong đó. Nếu như thế thì cửa ngỏ tâm hồn mình đã tự đóng lại, vậy thì cái tuyệt tác của thiên nhiên đã phí đi nơi con người của chúng ta.

Chẵng lẽ con đường mà Chúa Giêsu bước đi cùng với bao nhiêu người đã từng bước theo, không phải là con đường của chúng ta sao? Chẳng lẽ chúng ta chịu ngồi lì bên lề cuộc sống mãi như thế sao? Vậy thì tương lai mai sau, kết thúc cuộc đời chúng ta cũng đành chịu ngồi bên lề cuộc sống, chứ không chịu vào con đường hạnh phúc mà Thiên chúa mời gọi mỗi người cùng chung hưởng hay sao? Như thế thì cuộc sống đời người vô ích quá.

Xin Chúa mở mắt tâm hồn để chúng ta nhìn thấy đường đi của Ngài và can đảm bước theo

CHÍNH LÒNG TIN ĐÃ CỨU CHỮA ANH
Mc 10, 46 - 52

Chúa nói: “ Anh muốn ta làm gì cho anh?” Anh mù đáp : “Lạy Thầy, xin cho tôi được nhìn thấy …” (Mc 10, 51).

Bình thường mà nói: trong Phúc âm, các phép lạ được thực hiện là do quyền phép của Chúa Giêsu. Vậy mà câu chuyện Chúa Giêsu chữa lành cho anh mù Bartimê hôm nay và một vài nơi khác, Chúa Giêsu lại nói: anh về đi, lòng tin của anh đã cứu thoát anh. Tức khắc, bệnh mù của anh được chữa khỏi…. Xem ra việc chữa lành của anh mù không phải là do Chúa Giêsu…

Qua bài Tin Mừng hôm nay, hai gương mặt nổi bật mà ta muốn tìm hiểu, cũng là hai thái độ đáng nêu gương mẫu cho chúng ta: thứ nhất là anh mù Bartimê – hai là Chúa Giêsu.

a/. Anh mù Bartimê: anh này ở tại Giêricô, cách Giêrusalem khoảng 20 km. Anh bị mù bẩm sinh hay do tai nạn? Chúng ta không biết rõ; Tin Mừng không nói về điều này. Thời Chúa Giêsu, người Do thái xem bệnh tật phần xác như là hậu quả của tội lỗi, và vì có tội nên không được Thiên Chúa chúc phúc. Ngược lại, người lành mạnh, đối với người Do thái, đó là dấu chỉ được Thiên Chúa chúc phúc, cũng đồng nghĩa với công chính, thánh thiện….dù thực tế, họ tội lỗi đầy mình. Chính vì thế, người không bệnh tật thường tự coi mình là người được chúc phúc và hay coi khinh kẻ khác, nhất là với người cùi, người mù bẫm sinh… vì vậy, người mù không chỉ đau khổ về tật bệnh của mình, mà còn đau khổ tâm lý vì bị khinh thị, bị coi thường, bị bỏ rơi….

Con người và thái độ của anh mù Bartimê hôm nay làm ta xúc động: dù mù mắt, nhưng anh lại là người sáng suốt, rất can đảm, bất chấp những rào cản, vừa nghe Chúa Giêsu, anh đã vứt bỏ áo choàng, một dụng cụ không thể thiếu của người ăn xin, cũng có nghĩa anh dứt bỏ nghề ăn xin của anh – anh nhảy chồm lên để đến với Chúa Giêsu. Chính câu chuyện của anh mù này hôm nay cho chúng ta bài học thấm thía: mắt anh mù tối, nhưng tâm hồn anh lại sáng suốt. Bao lâu nay, anh đã âm thầm tìm hiểu và lắng nghe về Chúa Giêsu, để chính lòng tin đã soi sáng cho anh và lòng tin đó trở thành sức mạnh giúp anh bất chấp cản ngăn bất công, để anh đến với Chúa Giêsu. Như vậy chính lòng tin đã khiến anh mù Bartimê trở thành người sáng suốt, can đảm và hạnh phúc. Anh được sáng mắt, không phải vì anh có tiền, có quyền mà chính là do lòng tin; lòng tin đã cứu thoát anh…

b/. Chúa Giêsu: Trong đoạn Tin Mừng này, Chúa Giêsu là người trước tiên quan tâm đến anh mù Bartimê; người ta quát nạt anh, nhưng Chúa Giêsu thì không; chính Chúa lên tiếng kêu anh lại và ôn tồn hỏi: anh muốn Ta làm gì cho anh? Cả bốn Phúc âm, không có chổ nào nói Chúa coi thường người nghèo khổ, bệnh tật, nhất là người bị bỏ rơi, khinh thị và trẻ em. Ngược lại, ta gặp rất thường câu này trong Phúc âm: Ta thương xót dân này bị bơ vơ như đàn chiên không người chăn (Mc 6, 34). Dĩ nhiên, chúng ta biết rõ Chúa Giêsu hiểu rõ ruột gan anh mù này muốn gì và ra sao, nhưng Chúa đợi cho anh nói lên, đợi cho anh biểu lộ niềm tin mình ra; và vì thế, khi anh mù tỏ thái độ đức tin, Chúa Giêsu không thể không làm phép lạ cho anh. Chính câu nói của Chúa Giêsu đã xác định điều này: anh về đi, lòng tin của anh đã cứu anh.

c/. Gợi ý suy niệm

* chính ánh sáng nội tâm hay ánh sáng lòng tin mới là yếu tố quyết định để anh mù được sáng mắt. Hơn nữa nhờ việc chữa mắt phần xác, anh mù được nối lại mối tương quan tốt đẹp giữa Chúa và anh ta. Là người Kitô hữu, dĩ nhiên ta luôn muốn được sáng mắt. Ta có ước mong được Chúa Kitô chữa lành không những con mắt thể xác mà cả mắt tâm hồn nữa không?

* Bệnh mù lòa thể xác không là điều đáng sợ và không cần chữa trị bằng bệnh mù lòa tinh thần: đó lòng đam mê nhục dục – đam mê của cải – ghen tương – bè phái – trục lợi …Ta có muốn và cầu xin Chúa Kitô chữa cho ta khỏi tật bệnh tâm hồn không?

THIÊN CHÚA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT
Mc 10, 46 - 52

 “ Anh hãy đi, lòng tin của anh đã cứu chữa anh” (Mc 10, 52)

Trên những nẻo đường rao giảng của chúa Giêsu, Ngài luôn xuất hiện dưới hình ảnh một con người đầy lòng thương xót, thứ tha. Ngài dõi mắt quan tâm đến những người đau khổ, bệnh tật , bị khinh chê…Phụ nữ, trẻ em, người đau yếu, tội lỗi…là những đối tượng của tình yêu Ngài. Phép lạ Chúa Giêsu chữa cho người mù từ thuở nhỏ là một minh chứng cho tình yêu và lòng thương xót của Ngài đối với những phận đời bị xã hội bỏ rơi.

Chúa Giêsu và các môn đệ vào thành Giêricô, một thành nằm trên thung lũng sông Giordan, cách Giêrusalem chừng 37 km. bất cứ ai đi từ bên ngoài vào Israel đều phải qua thành này. Đoàn người đang tiến bước thì có anh mù tên Bartimê kêu lớn tiếng:” Lạy ông Giêsu, con vua Đavit xin thương xót tôi”. Có lẽ mọi người vừa đi vừa châm chú lắng nghe CG giảng dạy nên tiếng kêu của anh là một xúc phạm nhiều người. mọi người bảo anh im đi nhưng không được. anh tiếp tục kêu to. Anh biết rằng đay là cơ hội duy nhất để anh được chữa lành. cuộc sống tôi tâm nhiều năm đã làm cho anh qua khổ. sự cố gắng và lòng tin của anh cuối cùng đã được đáp đền.

Thài độ hiền lành của Chúa Giêsu chắc làm cho nhiều người bỡ ngỡ. trong khi mọi người rầm rộ thẳng tiến trên đường , Chúa Giêsu dừng lại chỉ vì một tiếng kêu to. “Anh muốn tôi làm gì cho anh?” Câu hỏi Chúa Giêsu như một lời cảm thông vì Ngài hiểu rõ những gì anh sắp xin. chỉ ai có tấm lòng nhân ái cao vượt mới nhận ra ước mong của người thấp kém. Chúa không bận tâm đến quãng đường con phải đi xa, không sợ phản ứng của dân chúng khi phải ngưng bài giảng giữa chừng. lời giảng của Ngài luôn đi theo với những việc chữa lành và cứu thoát.

Chúa Giêsu thay đổi đời anh một trăm tám. trước giờ anh sống trong cảnh tối tăm. thế giới riêng anh thật nhỏ hẹp. ngày ngày chỉ biết “xoè tay” bên vệ đường, cầu xin sự bố thí của khách đi qua. Chắc hẳn anh cũng nhiều lần bị từ chối, khinh chê, có khi bị người ta đuổi xua vì sợ làm phiền. giờ đây Chúa Giêsu đến cho anh nhận ra một thế giới bao diệu kỳ, anh được người khác đón nhận, được gia nhập cộng đoàn. “anh vất bỏ áo choàng”, vất bỏ cái rất thân thiết với anh và từ giã quãng đời ăn xin của mình. cuộc đời anh từ nay được Chúa Giêsu biến đổi.

Chúa Giêsu là vị trung gian tuyệt vời của Thiên Chúa. Ngài không đòi hỏi người ta phải hiểu biết cách đầy đủ về Ngài. lời kêu cứu của anh mù còn nhiều thiếu sót nhưng Chúa Giêsu chẳng bận tâm. “Lạy con vua đavít, xin dủ lòng thương tôi”. Danh hiệu con vua Đavít chỉ nói Ngài là Đấng Mêssia của trần thế, để chinh phục thế gian. Anh chưa hiểu hết được sứ mạng Mêssia của Ngài. Chúa Giêsu chẳng đòi hỏi phải hiểu đúng về Ngài. đối với chúng ta cũng thế, Chúa Giêsu yêu chúng ta ngài không đòi hỏi chúng ta phải hội đủ điều kiện hiểu biết về Ngài. Chúng ta nhiều khi chẳng xứng đáng gì nhưng Ngài vẫn yêu thương. Ngài yêu chúng ta bằng một tình yêu vô bờ bến, không điều kiện, chẳng tính toán thiệt hơn.

Chiêm ngắm Chúa Giêsu ta nhận thấy Ngài là con người luôn quan tâm đến người khác. Ngài luôn nhìn thấy, cảm thông và tìm cách cứu chữa những con người bấthạnh. Chúa Giêsu mời gọi những ai theo Ngài cũng biết sống như Ngài vậy. Là Kitô hữu tôi đã sống giống như Chúa Giêsu chưa? Tôi có chủ động đến với những người cần sự giúp đỡ không? Tôi có làm tốt vai trò trung gian để người khác nhận ra Chúa không? Hay tôi là một cản trở như “đám đông” trong Tin Mừng, ngăn cản người khác không cho họ đến với Chúa? Tôi có đủ hiền lành, khiêm nhượng để người khác có thể nhận thấy Chúa nơi tôi không? Hay tôi vẫn đến với người khác bằng những kiêu căng, nóng nảy, “quát nạt”, nhiều toan tính?

Xin Chúa biến đổi con người tôi mỗi ngày. Xin cho tôi biết thương yêu người như Chúa đã thương xót tôi Vậy. amen.

MẪU GƯƠNG CỦA NIỀM TIN
Mc 10, 46 - 52

Người mù được coi là người kém may mắn trong cuộc đời. Đối với họ, thế giới này chỉ toàn là một màu đen. Cuộc đời họ không có chi hy vọng ngoài việc ăn xin và năn nỉ những người qua đường, không có gì bảo đảm cho cuộc đời họ. Người mù trong Tin Mừng hôm nay có một đặc điểm rất khác, đó là đôi mắt đức tin. Nhờ đức tin mà anh có được lòng can đảm và niềm hy vọng đặc biệt. Anh đã lớn tiếng kêu cầu Đức Giêsu và tuyên xưng giữa đám đông Đức Giêsu là Con vua Đavít. Anh đã được toạI nguyện như lòng tin của anh.

Anh mù nhìn thấy điều mà ngườI khác không thấy đó là: Đức Giêsu là Con vua Đavít, là Đấng đầy lòng thương xót và quyền năng. Cho dù đám đông không ủng hộ anh, lại còn ngăn cản, anh vẫn bất chấp mọi trở ngại và đã kêu to hơn với lòng tin mạnh mẽ. Anh quả là một mẫu gương về lòng tin cho tôi. Xét lại bản thân mình, tôi tuy không mù về thể xác nhưng nhiều khi mù mờ trong đôi mắt tâm hồn, nhiều khi tôi ươn lười, hoặc có khi cố chấp không muốn biết điều Chúa dạy trong Thập giới và những lời khuyên Tin Mừng, có khi tôi không thấy những người nghèo xung quanh, không muốn thấy nhu cầu của anh em vì không muốn phục vụ … để khỏi phải gặp phiền toái.

Anh mù là mẫu gương cho tôi về việc đáp lại tiếng Chúa gọi cách mau mắn. Hàng ngày, Thiên Chúa vẫn đang chờ đợi sự đáp trả của tôi. Ngài sẵn sàng ban điều tốt đẹp nhất cho tôi. Ngài luôn hỏI tôi : con muốn Ta làm gì cho con. Chắc chắn Thiên Chúa yêu thương vẫn đang muốn ban rất nhiều ơn phần hồn phần xác cho chúng ta, nhiều hơn cả những điều chúng ta xin. Tuy nhiên có những điều tôi xin mà chưa thấy rõ giá trị của nó. nhiều khi chính tôi cũng chưa gieo những gì tôi xin hoặc gieo mà không cố gắng vun trồng ơn mình xin. Nếu tôi muốn gặt thành công tôi phải gieo kiên nhẫn và cố gắng, nếu tôi muốn gặt tín nhiệm tôi phải gieo chân thành, nếu tôi muốn gặt hoà thuận tôi phải gieo thông cảm… tôi gieo gì sẽ gặt nấy, không thể bắt Chúa làm cho tôi tất cả được. Có khi tôi xin Chúa nhưng tôi chưa đầu tư cho đích nhắm đó ho ặc chưa hết sức cố gắng. Phần Chúa, Ngài đã sẵn sàng cho rồi mà tôi chưa chuẩn bị đón nhận. Thật ra, chúng ta không có quyền bắt thiên Chúa phảI đáp ứng nhu cầu của chúng ta. Thiên Chúa là chủ của chúng ta , nhưng thiên Chúa rất yêu thương chúng ta và sẵn lòng trợ giúp những cố gắng của chúng ta.

Một điều tôi phảI học ở anh mù nữa là : sau khi được chữa khỏI anh đã đi theo Chúa và cao rao sự thật về tình thương và quyền năng Thiên Chúa. Niềm tin và thái độ của anh là mẫu gương cho tôi về lòng biết ơn và bổn phận làm chứng cho Chúa. Tôi đã được biết bao ơn lành từ trước đến nay nhưng tôi thường quên bẳng đi sau khi nhận ơn. Tôi lạI tiếp tục xin những điều khác mà không cần nhớ tôi đã được bao nhiêu ơn lành của Chúa từ trước tới nay. Điều này làm tôi nhớ đến một thí dụ ; một ông thầy giáo đưa tờ giấy trắng có một chấm đen lên và hỏI học sinh : các em có thấy gì không , tất cả trả lời rằng chỉ thấy chấm đen, chỉ có một người bảo là thấy tờ giấy trắng có một chấm đen! Tôi cũng giống như nhiều người khác : chỉ biết xin mà không nhớ ơn, tôi chỉ thấy tôi còn thiếu điều này điều nọ để đòi Chúa phải cho tôi ngay mà không biết cám ơn Chúa về những điều ngài đã ban cho tôi !

Lạy Chúa Giêsu, con cám ơn Chúa về biết bao ơn lành Chúa ban cho chúng con hàng ngày hàng giờ trong cuộc sống. Con xin hứa sẽ luôn biết hướng về Chúa, biết mau mắn nghe tiếng Chúa gọi , biết ơn Chúa về mọi công việc quan phòng Chúa đã thực hiện hàng ngày cho từng người chúng con. Xin Chúa mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con luôn nhận ra chân lý, sự thật mà Chúa muốn dạy cho loài người chúng con.

 

 TIẾNG KÊU TỰ ĐÁY LÒNG
Mc 10, 46 - 52

Một người phụ nữ trung niên đến nhà xứ xin lễ tạ ơn, đã kể lại câu chuyện hai vợ chồng vừa thoát chết trong một chuyến đi buôn bằng đường sông. Cô kể lại trong nước mắt: “Hôm đó trời mưa bão, khoảng 4 giờ chiều mà trời tối như đã 6 giờ vậy.. Hai vợ chồng con chở một ghe đầy dừa, vượt qua sông Tiền để giao hàng như mọi ngày. Nào ngờ, mới tới chưa được nửa sông thì ghe bị chết máy. Sóng sông khá lớn, trời lại tối mà chiếc ghe lại nằm giắt ngang sông. Chúng con thấy cái chết đã cận kề. Lúc đó, con hầu như quên tất cả mà chỉ còn nhớ đến Chúa và kêu cầu Người cứu thoát chúng con mà thôi. Chồng con cũng tuyệt vọng vì máy ghe đã bất trị. Ảnh cũng bắt đầu nghĩ đến con đường chết và bắt đầu cầu nguyện. Con để ý thấy chưa bao giờ anh ấy có thái độ thành khẩn như vậy. Bỗng đâu như một phép lạ. Một chiếc ghe thật lớn, không chở hàng hoá gì hết xuất hiện. Thấy chúng con gặp nạn, họ đã nhiệt tình ra tay cứu giúp, và chúng con đã cập bến an toàn. Quả là một phép lạ. Tạ ơn Chúa vô cùng.

Như vậy đó, trong cơn cùng cực, con người mới nghĩ đến Thiên Chúa nhiều và thật nhiều với lòng thành khẩn chưa từng có trước đó bao giờ. Và Thiên Chúa, như Người Cha vô cùng nhân hậu đã đáp lời họ kêu xin, những tiếng kêu xuất phát từ đáy lòng của con người.

Đọc lại Cựu Ước, ta thấy có rất nhiều những trường hợp như thế. Đó là tiếng kêu tuyệt mạng của Abel, tiếng kêu đầy oan trái của bà Susanna, tiếng kêu trong cơn đau khổ cùng cực của dân Do Thái làm nô lệ trên đất Ai Cập. . . Tất cả những tiếng kêu ấy đã bay thấu đến Thiên Chúa. Người đã đáp lời họ kêu xin và đã giải thoát họ, bởi những tiếng kêu đó xuất phát từ đáy lòng của một kiếp người, những tiếng kêu van thống thiết và thành khẩn vô cùng.

Anh mù trong đoạn Tin Mừng hôm nay cũng thế. Anh ngồi ăn xin bên vệ đường (đồng nghĩa với việc anh bị gạt ra bên ngoài xã hội). Chỉ có chiếc áo choàng cũ rách làm bạn với anh và ôm ấp cuộc đời anh mà thôi. Trong cơn cùng cực của kiếp người đó, anh đã nghe đến Chúa Giêsu, Người có thể cứu chữa đôi mắt mù loà của anh. Và hôm nay, cơ may đã đến. Chúa Giêsu đã đi ngang qua chỗ anh ngồi. Người đang đi ngang qua cuộc đời anh. Và anh đã kêu lên một tiếng kêu xuất phát từ tận đáy lòng anh, tiếng kêu của một con người đang trong cơn khổ đau tuyệt vọng. Đời anh đối với người đời như thế là hết rồi. Họ đã chối bỏ và ngăn cản tiếng kêu cứu của anh. Nhưng Chúa Giêsu đã nghe tiếng anh kêu và Ngài đã đáp lại lời anh “ Anh muốn Tôi làm gì cho anh?” một câu hỏi hứa hẹn một tương lai tươi sáng, câu hỏi của Đấng sẵn sàng đáp ứng điều mong mỏi của một con người đang kêu lên tiếng kêu tự đáy lòng. “ Lạy Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được” và anh đã được toại nguyện, vì “ lòng tin của anh đã cứu chữa anh”.

Tình thương của Thiên Chúa là như thế và mãi mãi là như thế đó. Những ai cậy trông, tin tưởng, phó thác vào Người sẽ không bao giờ bị thất vọng và bị bỏ rơi. Nhưng đáng buồn thay, nhiều người khi gặp chút gian nan hay thử thách đã quay lại trách móc Thiên Chúa và chối bỏ Người. Họ chỉ theo Chúa khi được ban ơn dư thừa để họ sống sung túc và vui vẻ mà thôi. Họ đã quên rằng, sẽ không bao giờ có hạnh phúc thật ở đời này, hay ở nơi con người. Hạnh phúc thật chỉ có ở nơi Thiên Chúa và ở cuộc sống mai sau mà thôi. Cắt đứt hiệp thông với Thiên Chúa là tự mình cắt đứt hạnh phúc thật của chính mình để tìm kiếm hạnh phúc tạm bợ, chóng qua và sẽ chuốc lấy đau khổ mà thôi. “Những khổ đau của chúng ta ở đời này là nhằm tinh luyện đức tin của chúng ta là thứ quý hơn vàng gấp bội” (1Pr1,7). Chính đức tin đã được tinh luyện ấy sẽ cứu chữa chúng ta và làm cho chúng ta được hạnh phúc với Thiên Chúa là nguồn của mọi hạnh phúc. “ Phúc cho những ai biết tìm nương tựa nơi Chúa, họ như cây trồng ven bờ suối, đúng mùa sinh trái đơm hoa.” (TV118)

Ước gì mắt tâm hồn của chúng ta được sáng, để chúng ta biết chọn lựa và cân nhắc những gì là chóng qua, và những gì là vĩnh cửu, để chúng ta gắn bó và tìm kiếm, hầu tìm được nguồn vui và hạnh phúc viên mãn cho mình và cho người khác.

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI
Mc 10, 46 - 52

Thế giới này là lãnh địa của “Ánh Sáng”, vì tự đầu tiên trong công trình tạo dựng Thiên Chúa đã phán “ ‘Hãy có ánh sáng’ và ánh sáng đã có”. Thiên Chúa đã dựng nên ánh sáng còn bóng tối thì không phải, vì là tiêu cực. Bóng tối là tình trạng không có ánh sáng. Bóng tối là tội lỗi đã xâm nhập vào thế gian qua sự sa ngã của tổ tông loài người. Nhưng Thiên Chúa Tình yêu không bỏ rơi con người mà lại hứa ban Đấng Cứu Thế đến chiến thắng tội lỗi và giải cứu con người. Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, là Ánh Sáng đã đến trong thế gian. Chúa Giêsu là hiện thân của lời hứa mà Thiên Chúa đã hứa thủơ xưa.

Trong bài Phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu chữa lành cho người hành khất mù loà tên là Bartimê ở thành Giêricô. Thánh Máccô miêu tả anh mù Bartimê “ngồi ăn xin bên vệ đường”, nghe biết Chúa Giêsu đi ngang qua, anh thống thiết kêu van “Lạy ông Giêsu, Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”. Nhưng đám đông dân chúng lại ngăn cấm, cản trở anh ta đến với Chúa Giêsu, rất can đảm và đầy tin tưởng anh càng kêu to hơn “Lạy Con Vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi”. Sự cố gắng của anh mù không hề uổng phí: Chúa Giêsu đã nghe tiếng anh gọi và Người cho gọi anh đến. Anh rất mực sung sướng, vất áo choàng là vật hộ thân của anh lại, đứng phắt dậy và đến cùng Chúa Giêsu và nói: “Thưa Thầy, xin cho tôi nhìn thấy được”. Tức khắc, “anh nhìn thấy được và đi theo Chúa Giêsu trên con đường Người đi.”

Chúng ta thấy anh mù Bartimê đang sống trong bóng tối, trong tuyêt vọng. Ngày xưa bệnh mù là bệnh vô phương cứu chữa, ngay cả hiện nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại thì bệnh mù cũng vẫn là căn bệnh không mấy hy vọng có thể chữa được. Nếu anh ta bị mù mà được sinh ra trong gia đình khá giả có người chăm sóc thì cũng còn khá; đằng này anh là một kẻ ăn mày thì càng tuyệt vọng hơn nữa. Lại nữa, trong quan niệm Do thái, người bị như thế là người tội lỗi, bị hình phạt của Thiên Chúa, nên trước mặt người đời anh chỉ là con số không. Nhưng trước mặt Chúa Giêsu anh mù Bartimê lại là đối tượng để Ngài tỏ lòng thương mến và cứu chữa cho anh khỏi cảnh tối tăm mù loà, khỏi tình trạng bi đát, khốn khổ.

Bóng tối chỉ ngự trị nơi anh mù Bartimê một thời gian thôi, vì anh biết chạy đến kêu cầu Chúa Giêsu. Chúa Giêsu là Ánh Sáng thật đã đến trong thế gian và Bóng tối là tội lỗi bị đẩy lui. Chúa Giêsu là Đấng thực hiện lời hứa thủơ xưa sau khi con người phạm tội, lời hứa đó được Tiên tri Isaia cụ thể hoá bằng những việc làm “…cho người què đi được, cho kẻ mù được sáng, cho kẻ hà hiếp được tự do…”. Trong Chúa Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu không ngừng trao ban tình yêu của Ngài cho nhân loại chúng ta.

Trong thân phận yếu đuối của mỗi người chúng ta, chúng ta thường chịu áp lực của bóng tối là tội lỗi và sự xấu, cùng những thứ bất công khác nhau. Chúng ta ghét tội lỗi, ghét sự xấu, ghét bất công nhưng những thứ đó cũng có sức hẫp dẫn riêng khiến chúng ta nhiều phen phải giằng co dữ dội trong tâm hồn chúng ta. Nhưng Ánh sáng và Tình yêu của Thiên Chúa mới là nguồn sống thật của chúng ta chứ không phải là bóng tối. Bóng tối là tội lỗi sẽ dẫn đến diệt vong. Vậy trong mọi nơi, mọi lúc, mọi hoàn cảnh chúng ta hãy tin tưởng vào tình yêu của Thiên Chúa: trong an vui thịnh đạt, chúng ta cảm tạ Chúa, trong thất bại khổ đau, chúng ta tin tưởng phó thác vào Chúa, những lúc vấp ngã, sa vào bóng tối tội lỗi vì yếu đuối, chúng ta hãy tin tưởng vào quyền năng tha thứ vô bờ của Chúa. Hãy luôn trau dồi ơn thánh bằng cách siêng năng cầu nguyện, tham dự Thánh lễ, lãnh nhận các Bí tích để “Ánh Sáng” của Chúa luôn tràn ngập tâm hồn chúng ta và như thế Bóng tối, tội lỗi không còn chỗ trong ta nữa.

XIN CHO TÔI ĐƯỢC THẤY
Mc 10, 46 - 52

Tin Mừng hôm nay kể chuyện anh mù Bartimê xin Chúa Giêsu chữa cho mình được sáng mắt. Mọi ngườI chúng ta cũng hãy xin Chúa chữa cho mình khỏi những căn bệnh mù loà trong tâm hồn do chính mình gây nên với một niềm tin tưởng phó thác như anh mù Bartimê.

Trước tiên, chúng ta hãy tìm một vài hình ảnh về sự mù lòa.

Anh mù Bartimê, là người ăn xin bên vệ đường gần thành Giêricô. Trước khi nghe tin Đức Giêsu đi ngang qua, anh hoàn toàn im lặng và thụ động, cuộc sống anh cũng hoàn toàn thụ động, sống nhờ vào sự bố thí của người khác. Ngay cái mù cũng đã cô lập anh với cộng đoàn, không đến được với người khác một phần do chính mặc cảm mù loà gây nên. Mặt khác, anh không được người khác cảm thông, anh hoàn toàn sống đơn độc trong thế giới riêng của mình. Người ta có thể chia sẻ và cảm thông với người đồng cảnh ngộ. Anh cảm thấy cô quạnh dù sống trong một thế giới đông người. Không ai gặp anh, những người sống chung quanh anh, phải chăng họ cũng bị mù?

Khi nghe tin Đức Giêsu đi ngang qua, trong anh đang có cái gì đó thay đổi. Từ sự yên lặng, anh đã kêu lên: “Lạy ông Giêsu, con vua Đavít, xin dủ lòng thương tôi.” , bất chấp sự ngăn cản của ngườI khác. Từ sự thay đổi bên trong đưa đến sự thay đổi bên ngoài. Từ sự thay đổi cá nhân đến sự thay đổi của tập thể. Trước đây, anh hoàn toàn thụ động “ngồ ở vệ đường”, xa cách người khác giờ anh “đứng phắt dậy” và “ đến gần” người khác. Bức tường ngăn cách là sự mù loà trong anh đã sụp đổ. Tập thể dân chúng trước đây vẫn đi ngang anh mù, vẫn bố thí cho anh, nhưng chẳng ai “gặp anh”, chia sẻ và cảm thông với anh. Nhưng giờ đây, bức tường của sự mù loà vì ích kỷ, thiếu cảm thông, thiếu tình yêu thương đối với con người, đối với người tàn tật đã hoàn toàn sụp đổ trong họ. Họ đã thấu hiểu anh, đã gặp anh, đã trao đổi cùng anh: “cứ yên tâm, đứng dậy, Người gọi anh đấy.” Giữa họ đã có sự thấu hiểu và chia sẻ cảm thông rất tình người.

Cái mù của anh Bartimê, của đám đông dân chúng ngày xưa, thiết tưởng cũng là cái mù của mỗi người chúng ta trong cuộc sống hôm nay. Cái mù của mặc cảm tự ti vì mình tàn tật; cái mù của sự ích kỷ, thiếu cảm thông, chia sẻ với người khác, đặc biệt những người kém may mắn; cái mù của sự thiếu tình thương giữa người với người, đặc biệt những người làm khổ mình; cái mù của sự ghen ghét vì thấy người khác hơn mình; cái mù của sự tự tôn - cho mình luôn ở trên người khác. Và cái mù nguy hại nhất của con người trong thời đại chúng ta là không nhận ra Thiên Chúa và không tin vào Ngài. Vậy thái độ cần có của người tin Chúa là gì? Tôi thiết tưởng, ngoài sự thay đổi như đã nói ở trên còn cần biết lắng nghe và từ bỏ.

Anh mù Bartimê đã lắng nghe được lời mời gọi của Chúa Giêsu qua đám đông dân chúng: “gọi anh ta lại đây”. Anh không chỉ nghe bằng giác quan bình thường, mà nghe với tất cả tâm hồn, với tất cả con tim của mình. Từ sự lắng nghe rõ ràng và chính xác, anh quyết định hành động dứt khoát, với thái độ của một người hoàn toàn tin tưởng vào lời mời gọi của Chúa. Anh “liền vứt áo choàng lại” và “đứng phắt dậy” mà “đến gần Đức Giêsu”. Trước đây áo choàng là một cái gì quý giá với anh, hơn nữa nó còn là phương tiện kiếm sống. Bây giờ, đối với anh, chỉ có Chúa là tất cả. Trước đây, anh chỉ “ngồi ở vệ đường” nơi có đông đảo người qua lại nhưng anh luôn cảm thấy giữa anh và mọi người có một vực thẳm ngăn cách nào đó. Giờ đây, khi gặp Chúa Giêsu, anh cảm thấy như tìm lại được ý nghĩa của cuộc đời. Nên anh đã từ bỏ cách dứt khoát, hành động này chứng tỏ niềm tin và sự phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa đã mang lại ánh sáng cho anh. Từ đó, anh đã trở nên người môn đệ của Chúa qua việc bước theo Ngài.

Anh mù giờ đây được sáng mắt, được thấy Chúa không chỉ bằng giác quan nhưng bằng cả niềm tin. Trước kia, anh đã được sáng mắt nhờ lòng tin, giờ đây niềm tin ấy càng được củng cố và đã thôi thúc anh bước theo Chúa, làm môn đệ của Ngài. Anh quả thật là một tấm gương sáng về niềm tin và sự phó thác vào Thiên Chúa. Xin Chúa cũng ban ơn, để mỗi người chúng ta biết lắng nghe Lời Chúa, dám từ bỏ mọi sự để được Chúa chữa những căn bệnh mù loà của tâm hồn để dám dấn bước theo Chúa và làm chứng cho Ngài trong cuộc sống hôm nay.

MÙ THỂ XÁC – MÙ TÂM LINH
Mc 10, 46 - 52

1. Phật kinh kể chuyện xưa bên Ấn-độ có quốc vương kia sai dắt một thớt voi ra, rồi truyền cho một đám người mù đến nhận diện con voi. Người thứ nhất sờ trúng cái chân, liền nói: "Con voi giống như cái cột trụ". Người thứ hai mó phải cái vòi, lập tức đính chính: "Đâu phải, nó giống như cái chùy". Người thứ ba sờ trúng cái bụng, vuốt ve và suy nghĩ một lúc rồi tuyên bố: "Theo tôi, nó giống như cái chum đựng nước". Người thứ tư nắm phải cái tai, lập tức cãi lại: "Các anh nói sai bét. Nó giống như cái nia"! Qua câu chuyện trên, cho chúng ta thấy cái khổ của người mù, vì mù không thể nhìn được toàn diện con voi, nên có nhận định rất khác nhau. Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu chữa cho anh mù Bartimê, Người không những mở cho anh đôi mắt thể xác, nhưng điều quan trọng hơn là Người mở cho anh đôi mắt tâm linh. Chúng ta cũng hay xin Chúa thực hiện điều nầy nơi mọi người chúng ta.

2. Mù loà về thể xác, chắc không ai muốn bởi mù thì thật là khổ ! So với những người sáng mắt, đa phần người mù khó có được nghề nghiệp gì để tự nuôi sống mình. Anh mù Bartimê trong đoạn Tin Mừng nầy phải ăn xin để sống qua ngày ! Anh ngồi “bên vệ đường”, hình ảnh nầy làm nổi bật thân phận bị loại ra rìa xã hội. Như bao sinh vật sống khác, anh muốn vươn lên, muốn tìm kiếm một nguồn sống. Bởi đó nghe tin có Đức Giêsu đi ngang qua anh liền kêu cứu. Chúa đã đoái thương thân phận khổ sở của anh, Người đã chữa cho anh sáng mắt.

3. Hãy cảm tạ Thiên Chúa vì cách chung chúng ta đây đều được sáng mắt, thế nhưng chúng ta cũng đừng quên khiêm tốn học hỏi, vì ai trong chúng ta cũng đang bị mù. Cái mù về tri thức, về sự hiểu biết. Thật vậy, những gì chúng ta biết chỉ là giọt nước so với đại dương. Ai đó có thể rất giỏi một lĩnh vực nào đó, nhưng lại mù tịt về lãnh vực khác! Chỉ có Thiên Chúa là Đấng toàn năng, toàn trí thông ban cho mỗi người phần nào sự hiểu biết của Ngài, vậy chúng ta không những khiêm tốn học hỏi nhau và nhất là chúng ta hãy nhận là mình chẳng là gì so với Thiên Chúa.

4. Mù về đôi mắt thể xác thật là đau khổ, mù về kiến thức phổ thông cũng thật đáng buồn. Thế nhưng có loại mù càng đáng cho chúng ta suy nghĩ và đáng sợ, đó là mù tâm linh ! Anh mù Bartimê nầy tuy mù về đôi mắt thể xác nhưng anh không mù về đôi mắt tâm linh. Anh “thấy” những điều mà những người sáng mắt đương thời của anh như các luật sĩ, biệt phái không “thấy”. Ngay cả các tông đồ của Chúa cũng không “thấy”, khi Chúa báo về cuộc khổ nạn, còn họ thì tranh nhau chỗ nhất nhì, như bài Tin Mừng Chúa nhật vừa qua. Anh Bartimê nầy “thấy” những gì? Và nhờ vào đâu anh “thấy”?

Thưa anh “thấy” Đức Giêsu là “Con vua Đavít”, nghĩa là tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Thiên Sai, là Đấng Cứu Thế. “Con vua Đavít” là tước hiệu bình dân của Đấng Thiên Sai, mà tiên tri Natan từ ngàn xưa đã tiên báo (x. 2 Sm 7,1-17). Anh còn “thấy” được quyền năng và tình thương của Đức Giêsu, có thể cho anh được sáng mắt. Cho nên nghe tin Đức Giêsu đi qua, dù không tự đến được với Chúa, nhưng anh đã kêu gào lớn tiếng để xin lòng thương xót của Chúa, ngược lại, những người sáng mắt thì ngăn cản, quát nạt anh thay gì giúp đỡ anh!

Anh “thấy” Chúa bằng lòng tin, chứ không phải bằng con mắt thể xác của mình. Chính Đức Giêsu nói “lòng tin của anh đã cứu anh”. Như vậy anh mù mà lại sáng, còn nhiều người khác xem ra sáng mắt mà lại bị mù về niềm tin vào Đức Giêsu, mù trong cách đối xử với tha nhân !

5. Có thể chúng ta trách những người luật sĩ, biệt phái nầy, nhưng xem chừng chúng ta cũng đang bị mù không khác gì họ! Thật vậy, không phải là mù loà sao, khi chúng ta :
- Nhìn vào vũ trụ bao la nhưng trật tự lạ lùng nầy mà lại phủ nhận quyền năng tạo dựng và quan phòng của Thiên Chúa!
- Quyết sống theo ý riêng của mình, bất chấp thánh ý Thiên Chúa !
- Đắm chìm trong dục vọng bất chấp lề luật Thiên Chúa.
- Nhắm mắt làm ngơ trước những đau khổ, nghèo đói của tha nhân.
- Trước cái chết của bao người thân, mà vẫn không chịu nhận ra cuộc đời nầy tạm bợ chóng qua !
- Và còn biết bao hình thức mù loà tâm linh khác nữa…

6. Người ta thường nói “con mắt là cửa sổ của tâm hồn”, cho nên nếu không may chúng ta bị bệnh về mắt, chúng ta cố gắng hết sức để chữa trị dù rất tốn kém. Nếu như chúng ta bị chê là mù kiến thức, chúng ta cố gắng học hỏi trau dồi, bởi ít ai chịu mình dốt ! Thế nhưng khi bản thân ta hay người thân bị mù về đời sống tâm linh, nhiều khi chúng ta lại thờ ơ !

Mù con mắt thể xác, hay kém hiểu biết về kiến thức làm giới hạn việc sinh hoạt chúng ta, nhưng nhiều lắm là năm, bảy mươi năm. Còn mù con mắt tâm linh, hậu quả sẽ vô lường. Khi còn sống ở trần thế này, chúng ta không chịu đi theo con đường đầy ánh sáng do Thiên Chúa vạch ra thì làm sao mai sau chúng ta có thể được chiêm ngưỡng ánh vinh quang của Ngài trên thiên quốc !

Vậy nếu có gì bất ổn nơi con mắt tâm linh của của chúng ta hay của người thân, chúng ta phải lo chữa trị càng sớm càng tốt. Việc chữa trị không khó khăn, tốn kém gì. Chỉ cần đón nhận và quyết tâm thực hiện theo sự hướng dẫn của một vị Thầy rất quen thuộc, Thầy Giêsu, mà hôm nay đã chữa con mắt thể xác và làm sáng hơn con mắt tâm linh cho anh mù Bartimê.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle