Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỌC HỎI KINH THÁNH
Bài dạy của Cha Tổng Đại Diện Phaolô Lưu Văn Kiệu

Ý NGHĨA CÁC CHÚA NHẬT MÙA CHAY

HAI Ý NGHĨA

1. Ý nghĩa tiêu cực là từ bỏ tội lỗi, vượt lên trên những yếu đuối của con người, cố gắng thanh luyện, thanh tẩy mình.

2. Tin vào tình thương, hồng ân của Chúa, mời gọi Chúa đến ở trong mình. Đây là dịp nhắc nhở người tín hữu bước vào mùa chay: đâu là những thái độ và tâm tình cần nuôi dưỡng thật sự, những tâm tình ăn năn thống hối, cố gắng tìm cách từ bỏ tội lỗi trở về sống kết hiệp gần gũi, yêu mến Chúa hơn, tin vào Chúa hơn mới là những tâm tình giúp chúng ta bước vào mùa chay này. Không phải việc ăn chay cho có hình thức bên ngoài, nhất là ăn chay chỉ có một ngày, không ăn thua gì hết. Hay một vài việc làm nào cho có hình thức, ... thì không được mà nhấn mạnh đến những tâm tình bên trong như lời Chúa kêu gọi ở đầu câu chuyện rao giảng của Chúa.

CÁC CHÚA NHẬT MÙA CHAY

Mùa Chay có 40 ngày. Con số 40 xuất hiện nhiều lần trong thánh kinh, gợi lên một khoảng thời gian lâu dài. Bốn mươi năm dân Do thái ở trên sa mạc: Chúa tách họ ra khỏi cuộc sống bình thường, chỉ còn dân với Chúa, để họ đối diện với Chúa, phó thác và tin cậy vào Chúa, để họ bỏ bớt ham mê trần thế, để cầu nguyện, để sống với Chúa, lắng nghe và nhận ra tiếng của Chúa, đi theo Chúa với ý chí kiên quyết sống trọn vẹn (có người ví von đó là tuần trăng mật giữa Thiên Chúa và dân Người). Chúa Giêsu chịu cám dỗ theo mong muốn của Chúa Cha, chiến thắng cám dỗ.

Ngày nay, chúng ta chỉ ăn chay một ngày trong mùa Chay (mức tối thiểu), cốt để phát triển các hình thức chay tịnh khác, đặc biệt về mặt thiêng liêng: dọn tâm hồn để Chúa hiện diện “thoải mái” hơn trong tâm hồn chúng ta. Và chúng ta cũng không quên mời Chúa ngự vào trong tâm hồn chúng ta. (Với tấm lòng như viên bách quan).

Mùa Chay kéo dài năm tuần lễ nhưng chưa đủ cho nên phải kéo dài thêm từ thứ tư lễ tro cho đủ 40 ngày. Mùa Chay khởi đầu bằng thứ tư lễ tro.

Thứ tư Lễ Tro

Tro có nghĩa là gì?
Tro là vật không có giá trị, và chỉ là đất: con người phát xuất từ đất và trở về bụi đất, tro nhấn mạnh sự hư không, chả có giá trị gì của con người trước mặt Chúa. Tro chỉ cần một cơn gió nhẹ là tiêu tan: diễn tả thân phận mỏng dòn thấp hèn của con người trước mặt Chúa, cái duy nhất mà chúng ta làm được là “tội”. Món độc địa, có hại.

Tâm tình của Thứ Tư Lễ Tro là khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi của mình, sự hư vô của mình, hoàn toàn trông chờ nơi Chúa, tuyên xưng hồng ân của Chúa ban.
Hỡi con người hãy nhớ mình là bụi tro. Chúng ta từ bụi tro mà đến rồi trở về đất bụi. Mời gọi trở về làm hòa với Thiên Chúa, sửa đổi đời sống của mình. 

Tiên tri Yoel kêu gọi ăn năn sám hối.
Thư Côrintô kêu gọi trở về làm hòa với Thiên Chúa
Tin Mừng Thánh Matthêô: Bài giảng trên núi, kêu gọi ăn chay kín đáo. 


CÁC BÀI ĐỌC CỦA 05
CHÚA NHẬT MÙA CHAY
Các bài đọc thứ nhất được chọn theo một lịch trình riêng: những giai đoạn của lịch sử cứu độ, những cột mốc quan trọng của chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Khía cạnh của MC: ôn lại giáo lý (qua những bài đọc thứ nhất), ôn lại những giai đoạn của LSCĐ. Phải cho giáo dân thấy ý nghĩa của từng giai đoạn này.

Khởi đầu của nhân loại (nhập đề)- mang tính chất biểu tượng: 11 chương đầu của Sách Thế (năm A: sự sa ngã của con người, và Thiên Chúa hứa ban Đấng cứu chuộc. Năm B: câu chuyện Noe, tội lỗi lan tràn, và Chúa tìm cách cứu nhân loại. Năm C [lấy từ Đnl] - khởi đầu của dân Chúa, khởi nghiệp như thế nào: một đám dân Aram. ).

Năm B: Chuyện Noe: yếu tố cho thấy cần phải có ơn Cứu độ. Chúa dựng nên loài người tốt đẹp, chưa cần ơn Cứu độ. Nhưng loài người tự ý mình nghe lời ma quỉ, chống lại Thiên Chúa, đáng lẽ phải chết, nhưng Chúa thương loài người, không muốn con người phải chết, Chúa hứa ban Đấng cứu độ liền lúc đó, Chúa bắt đầu thực hiện chương trình để cứu chuộc chúng ta. " Phải có truyện Ađam và Eva, chúng ta mới hiểu được các câu chuyện về sau (đó là lí do tại sao gọi là nhập đề: những câu chuyện phải có). Tội lỗi đã vào thế gian, qua Ađam và Eva, từ họ, lan truyền qua con cháu của họ, rồi qua tất cả loài người. Chúa thử dùng một cách khá mạnh mẽ phá tận căn nguyên tội. (ví dụ: trị ghẻ cho thỏ). Chỉ có mình ông Noe là người công chính, Chúa quyết định giữ lại ông và gia đình. " lụt hồng thủy" nhưng từ đám người này, tội lỗi vẫn lan truyền, (còn đưa đến truyện tháp Babel)". Chúa chọn cách khác lâu dài hơn để có thể trừ khử được tội lỗi (không phải giết ai mà vẫn chứng tỏ được tình thương của Chúa).

Chọn Abraham (có tính chất kháng tội): chuẩn bị cho công cuộc cứu chuộc, đưa cái mầm kháng tội vào mỗi con người, đó là sự vâng phục, mầm đức tin để chống lại sự thiếu đức tin nơi Ađam và Eva. Từ Abraham, phát triển và dạy dỗ niềm tin đó cho tới đỉnh cao là Chúa Giêsu.

Ngược hẳn với Noe, có vẻ to lớn, giết chết nhiều người, nhưng kết quả lại ít. Chúa chọn Abraham,( không có gì ầm ỹ, âm thầm, không ai hay biết, bên trong tâm tình của một con người) một người quê thành Ur , sống ở Haram, đã 75 tuổi. Lúc đầu, có lẽ họ có tham vọng đi từ Ur đến Canaan , bằng con đường gọi là “cánh cung phì nhiêu”), Chúa kêu gọi ông bỏ xứ sở mình, đến đất hứa. Và ông đã đi từ Bắc xuống Nam .

Chúa chọn một ông già tuyệt tự để làm thành một dân tộc. Nhưng Chúa chỉ nói một lần là tin theo, làm theo. Chúa chọn một đường hướng bên trong con người, từ niềm tin đó, để gây dựng những con người mang mầm mống tin tưởng đón nhận ơn Cứu độ, là những người được Chúa Giêsu biến đổi, thông ban niềm tin, sự vâng phục tối đa để có thể diệt trừ được sự không tin tưởng, thiếu vâng phục nơi Ađam và Eva.

Chúa hứa ban cho Abraham một dân tộc đông đúc. Dù ông vẫn không có con, nhưng ông vẫn tin, nên ông được kể là người công chính (St chương 14, một chương quan trọng). Thánh Phaolô sau này lấy lại điều này, để phân biệt với sự công chính của người biệt phái: dựa trên niềm tin hơn là việc làm.

Giao ước có hình thức (xẻ những con vật làm đôi, và hai người thề ước đi qua giữa những con vật đó), để nâng đỡ niềm tin cho Abraham. Chúa đòi hỏi người ta tin vào lời Chúa. Cây sồi Mămbrê, ba người khách tiên báo Abraham có con nối dõi. Chúa đến với ông như một người bạn.

Chúa thử Abraham bằng cách bảo ông giết đứa con một của mình là Isaac. Niềm tin của Abraham được thử thách tột cùng. Qua sự vâng phục, ta thấy niềm tin của ông. Điều đó nhắc nhở chúng ta nhìn lại niềm tin của mình, có dám vâng phục Chúa như vậy không? khắc phục con người của mình, nghe lời Chúa.

Chọn Môisen (Dẫn dắt dân Chúa vượt biển Đỏ về đất hứa):
Vào đất hứa (nhưng dân lại quên Chúa): định cư trong đất hứa, nhưng họ quên Chúa, không thờ phượng Chúa, chạy theo các thần ngoại với các thói tục xấu xa. Chúa sai các tiên tri dạy bảo, nhưng họ không nghe... " không cho họ ở đất hứa" lưu đày.

Lưu đày trở về: Dân bị đày đi xa, sống chung với dân ngoại, nhưng Chúa không bỏ rơi dân, Chúa vẫn thương và hứa đem họ trở về dẫn vào TƯ Chúa Giêsu, vị cứu tinh, người giải thoát chúng ta khỏi chốn lưu đày trở về quê thật.

Ông Apraham là một ông già có một đứa con duy nhất vậy mà dám vì Thiên Chúa là Đấng ban đưa con đó cho mình, dám giết đứa con đó tế lễ. Nhưng Chúa không đành để ông ta tế lễ. Nhưng câu chuyện đó nhắc ta tới một ông già khác, ông già này ổng có một đứa con duy nhất mà ông già đó thương đứa con còn hơn Apraham thương con của mình nữa. Ông già đó dám giết con, giết thực sự chứ không phải là dám giết thôi, giết đứa con đó bằng một cái chết khổ nhục vô cùng, hỏi ông già đó ổng giết đứa con cho ai, bắt nó đền tội thế không phải cho ân nhân của mình đâu mà cho những tôi tớ phản loạn của mình, cho nên cái tình yêu của ông Apraham đối với Thiên Chúa đó gần như là một hình ảnh đối chọi cho thấy một tình yêu khác còn lớn lao hơn nhiều của Thiên Chúa Cha trên trời bắt con mình, hiến con mình đền tội cho chúng ta cho nên đó cũng là một cái chủ đề lớn.

Thời kỳ thứ hai mà Giáo hội muốn nhắc nhở cho chúng ta đó là thời kỳ của ông Môisen cho nên trước tiên ta coi thời kỳ này là thời kỳ nào, đó là thời kỳ dân Do Thái đang làm nô lệ cho người Ai Cập và giờ đây Chúa đến giải phóng họ khỏi ách nô lệ của người Ai Cập cái giải phóng đó nó có hai chiều, chiều ban đầu đó là chiều vượt qua nghĩa là Chúa giết những con trai đầu lòng của người Ai Cập còn những cửa nhà nào có máu của con chiên bôi lên trước cửa thì thiên thần “vượt qua” luôn, đây là câu chuyện trong phần đầu lịch sử dân do thái, rồi chuyện thứ hai là Môisen dắt dân Do Thái qua biển đỏ, dân Do Thái qua biển đỏ không phải ướt chân và người Do Thái tự do không còn ở dưới ách nô lệ của người Ai Cập nữa. Trong khi đó, kẻ thù của họ là người Ai Cập phải chết xác trôi lềnh bềnh trên biển. Hai câu chuyện cứu chuộc đây làm nền tảng cho câu chuyện cứu chuộc sau này mà chính Chúa sẽ thực hiện đối với toàn thể nhân loại, chúng ta bị dưới ách nộ lệ của tội lỗi và Chúa Giêsu đến để tiêu diệt tội lỗi, để cứu chúng ta và làm cho chúng ta trở thành những người tự do. Nhân vật Chúa dùng cho dân Do Thái đó chính là Môisen, nhân vật Chúa dùng để cứu chuộc chúng ta chính là Chúa Giêsu. Cho nên Chúa Giêsu là người đóng vai trò của Môisen trong việc cứu dân Israel mới là chúng ta ngày hôm nay. Câu chuyện thời Môisen không phải ngừng ở đó, điểm quan trọng nhất thời ông Môisen đó là trên núi Sinai chứ không phải lúc dẫn con cháu ông Apraham và con cháu ông Giacop ra khỏi Aicập.

Tại sao chúng ta chỉ được gọi là  con cháu ông Apraham và con cháu ông Giacop mà không gọi là dân Israel bởi vì từ đó cho đến giờ chưa bao giờ họ là một dân tộc cả. Chỉ khi Môisen dắt họ tới núi Sinai, tập hợp họ dưới chân núi, Chúa hiện ra ban lề luật, họ chấp nhận lề luật của Chúa và khi ký kết giao ước với Chúa đó thì cái đám con cháu ông Apraham và con cháu ông Giacop đó mới thành một dân tộc. Cho nên dân Do Thái này được khai sinh ở tại núi Sinai và người cha của dân tộc Do Thái về phía nhân loại đó là ông Môisen.

Cho nên cái điểm đó là đỉnh cao của thời kỳ này khi mà đám người đó tự nguyện nhận lề luật Chúa và ý thức Chúa là Cha của mình và mình là con cái Chúa, chúng ta thấy đây là cái điểm quan trọng trong đời sống người Kitô hữu mình phải nhìn nhận Chúa, mình phải tự nguyện chấp nhận lề luật Chúa khong coi đó như là một cái gánh nặng đè trên vai của mình. Tới điểm thứ ba của thời kì này là con đường từ núi Sinai về đất hứa đầy gian nan thử thách, dĩ nhiên Chúa luôn luôn có mặt ở với họ, Chúa chăm sóc lo lắng trong từng miếng ăn thức uống cho họ, chính Chúa ở đó dùng Môi sen dạy dỗ tập luyện họ và biến họ từ một đám người ô hợp thành một dân tộc có hàng ngũ và có sức để mà tiến đánh vùng đất Canaan đương có nhiều dân tộc ở đó vậy mà bây giờ họ có khả năng tiến đánh tất cả các dân tộc để mà giành đất cho mình.

Một trong những vấn đề trên hết mà Giáo Hội muốn nhắc chúng ta đó là việc dân Do Thái trở thành dân riêng của Chúa, chấp nhận lề luật Chúa như lề luật sống của mình, cho nên Chúa nhật năm B, Chúa nhật thứ III mùa chay này đọc lại bản văn ghi lề luật Chúa ban cho dân Do Thái.

Chúa nhật thứ IV mùa chay nhắc tới thời kì dân Do Thái đã vào đất Canaan và sinh sống ở đó, đó là vùng đất hứa mà khi xưa Chúa đã hứa cho ông Apraham và con cháu ông sinh sống, đây là vùng đất dọc theo sông Giođan. Sau thời ông Môisen thì họ xin cho có nhà vua, nhà vua đầu tiên là Saolê sau khi Saolê thất sủng rồi thì Đavit lên ngôi. Đavit là người mở rộng bờ cõi của họ nhiều hơn, củng cố địa thế và làm cho dân giàu nước mạnh. Sau Đavit rồi tới Salomon, Salomon giàu có hư thân nên cuối cùng khi Salomon chết rồi vương quốc bị chia đôi tạo thành hai dân tộc và hai dân tộc chống đối với nhau và cuối cùng thi với nhau làm một chuyện đó là bỏ Chúa chạy theo các dân ngoại. Chúa sai các tiên tri nhiều nhất là trong thời đó cho miền Nam và cá thể cho miền Bắc nhưng không ai nghe đến nỗi cuối cùng Chúa hăm là nếu không nghe Chúa sẽ trừng phạt họ, không cho họ ở trên cái vùng đất mà chính Chúa đã ban cho họ nữa và cuối cùng Chúa cũng đuổi họ ra khỏi, để cho vương quốc Atsari đến cướp miền Bắc trước, sau đó Babylon chiếm vương quốc miền Nam và dân chúng bi lưu đày.

Khi hoàng đế Ba tư lên ngôi thì những người lưu đày mới được trở về và xây cất lại đền thờ Thiên Chúa. Ta thấy đây là một thời kì rất là dài nên nôi trong Chúa nhật thứ IV này muốn nhắc chúng ta hết các thời kì đó, hướng chúng ta phải lựa coi năm nay mình nhắc nhở cho giáo dân, mình dạy họ cái gì? Năm tới tuỳ hoàn cảnh thuận lợi thì khác chứ không thể suốt mấy năm được. Giáo Hội cũng vậy cho nên mỗi năm chọn mỗi bản văn khác nhau, như Chúa nhật thứ IV năm A này Giáo Hội chọn sách Samuel 16 Chúa kêu gọi tiên tri Samuel đến tại Bêlem sức dầu tấn phong cho Đavid làm vua. Rồi năm B, ta lại thấy chọn bản văn khác, dùng sách Kí sự 26,14-16 tường thuật việc Chúa dùng các tiên tri đến nhắc nhở dân của Chúa khi họ bỏ Chúa chạy theo các thần dân ngoại.  

Vấn đề thứ 5 (CN cuối cùng): Hướng tới việc từ chốn lưu đài, Chúa đưa dân Do Thái trở về và mượn hình ảnh đó như là hình ảnh rõ ràng nhất của công cuộc cứu chuộc. Xét về lịch sử: Dân Do Thái, từ lưu đài, năm Hoàng Đế Sirô ký sắc lệnh cho về đó là năm 537 TCN, như vậy từ đây tới Chúa Giêsu còn hơn 500 năm nữa và lịch sử dân Do Thái còn khá dài và khá phức tạp. Dĩ nhiên, cũng giống như những thời kỳ trước, Giáo Hội không chỉ nhắc đến một hai chuyện mà muốn nhắc tới dòng lịch sử từ đó cho tới năm Chúa Cứu Thế ra đời.

Vậy, trong lịch sử thời đó có cái gì? Dân Do Thái trở về, cái trước mắt là họ thành lập cái mà sau này gọi là Do Thái Giáo? Tại sao bây giờ gọi là Do Thái Giáo? Từ thời Môisen không có đạo Do Thái sao? Cũng có lề luật, thờ phượng Chúa? Tại sao nói Do Thái Giáo bây giờ? Bởi vì đúng lúc Do Thái trở về mới hình thành một tôn giáo mới (không phải thờ một Thiên Chúa mới, một dân tộc mới) mới ở đây là hình thức thờ phượng Chúa mới mẻ hơn thay vì ngày xưa tế lễ ở đền thờ, cũng giữ lề luật Chúa nhưng ít ai biết vì sách lề luật để trong đền thờ chỉ có các thầy tư tế biết, một vài người biết, dân chúng không có người biết.

Chính trong lúc lưu đày ở Babilon lại khởi sự một chuyện hết sức quan trọng: khi dân Do Thái mất hết, không có đền thờ, không có tế lễ, các thầy tư tế đem đờn, đem kèn trống, mang sách vỡ theo nhưng không tế lễ được vì chỉ tế lễ ở đền thờ Giêrusam lem mà thôi. Rồi thì trong lúc rãnh rỗi, họ giở hành lý ra và lấy sách lề luật ra đọc và họ cảm thấy hay và cảm động bởi vì Chúa nói hết tất cả mọi chuyện trong đó. Sau đó, họ giải thích cho những người khác và rủ rê nhau học, in ấn và phân phát. Vì không có đền thờ nên thời gian rãnh rỗi họ dùng để học và từ đó dân chúng bắt đầu biết Kinh Thánh là gì, mới phát triển một chuyện: thờ phượng Chúa không chỉ là tế lễ mà còn là nghe lời Chúa dạy, Chúa bảo gì làm nấy, thờ phượng Chúa là sống yêu thương, bác ái công bình, sống tử tế với mọi người. Cái đó còn đẹp lòng Chúa hơn dâng của lễ.

Nhờ mấy mươi năm như thế, nên khi trở về, đền thờ chưa có, họ tập hợp dân chúng lại dạy cho dân chúng, bắt đầu có những nơi để họ tập đó là hội đường. Đền thờ chỉ có ở Giêrusalem thôi mà mấy chục năm sau mới xây dựng xong, mới tế lễ được, còn việc này thì ở đâu cũng được. Còn việc học lời Chúa, giảng dạy lời Chúa là có liền khi họ trở về.

Giờ đây, Đạo Do Thái có hai trục chính: Thứ nhất là học hỏi Lời Chúa ở hội đường vào mỗi ngày Sabat ở bất cứ nơi nào có người Do Thái. Nó quan trọng hơn việc tế lễ cho Chúa chỉ ở Giêrusalem (việc thứ hai). Đạo Do Thái xây dựng hai trục song song với nhau và chuyện học và nghe Lời Chúa còn quan trọng hơn. Chuyện ở đền thờ dần dần cũng phục hồi hàng tư tế, cũng tế lễ mà không quan trọng bằng.

Hai hạng người xuất hiện để lo chuyện học lời Chúa

1. Các kinh sư, các ký luật, rành rẽ chữ nghĩa để giảng dạy cho dân chúng và có mặt ở khắp nơi.

2. Các Thầy Cả để tế lễ: Giờ đây không có nhà vua, không có các tiên tri thì hai hạng người này điều khiển, hướng dẫn dân Do Thái cho đến thời Chúa Giêsu ra đời. Đó là một vài nét của Đạo Do Thái của thời kỳ cuối cùng này. Bây giờ, Giáo Hội buộc lòng chọn một ít bản văn nói về thời kỳ đó.

Năm B, Bài trích sách tiên tri Giêrêmia ”Chúa phán, ...”. Chúng ta thấy, đây là bản văn của tiên tri Giêrêmia (sống trong thời lưu đày). Những lời của tiên tri Giêrêmia nói đến là thời sau lưu đày. Giao ước mới ta sắp ký với dân ta không giống như giao ước ghi bên ngoài, khắc trên đá, nhưng sẽ được khắc ghi trong lòng mỗi người. Mỗi người tự biết để giữ lề luật của Chúa không cần ai dạy ai. Rõ ràng, Giêrêmia vượt thời gian để nói về ngày Chúa ban lề luật chúa vào tâm hồn chúng ta: Năm mươi ngày sau khi Chúa sống lại. Khi Chúa ban Chúa Thánh Thần cho chúng ta, là lề luật được ghi trong tâm hồn giúp ta giữ lề luật của Chúa. Chúa Nhật thứ 5, nói về thời sau lưu đày, khi Chúa ký kết giao ước là lề luật ghi trong tâm hồn mỗi người.

Năm A, năm B cũng tương tự như vậy có điều các bản văn có hơi khác mà thôi.

Các Bài Phúc Âm

Chúa Nhật 1 MC năm B: Chúa Giêsu vào trong hoang địa chịu cám dỗ
Chúa Nhật 2 MC năm B: Chúa Giêsu biến hình trên núi
Chúa Nhật 3 MC năm B: Chúa Giêsu xua đuổi những người mua bán khỏi đền thờ
Chúa Nhật 4 MC năm B: Chúa nói chuyện với Nicôđêmô và chuyện con rắn trong hoang địa.
Chúa Nhật 5 MC năm B: câu chuyện những người Hy Lạp nhờ Anrê và Philipphê đến để giới thiệu với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu nhân dịp đó nói đến cuộc thương khó của mình.

Nhìn lại 5 Chúa Nhật, có 2 Chúa Nhật lấy từ Marcô (cố định 3 năm A, B, C): Chúa Giêsu chay tịnh (Chúa Nhật 1), Chúa Giêsu biến hình (Chúa Nhật 2); 3 Chúa Nhật sau: ba bài cắt nghĩa của Thánh Gioan về cái chết của Chúa Giêsu Kitô để cứu chuộc chúng ta, bằng cách này cách khác. Chúa đến đây để tha thứ cho nhân loại, để ai nhìn lên Chúa và tin vào Chúa sẽ được cứu rỗi. Chúa đến để cứu người ta chứ không phải để giết, để kết án người ta. Các bài phúc âm không đi theo các bài đọc thứ nhất và có một cái sườn cố định cho mỗi năm.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle