|
|
HỌC HỎI KINH THÁNH LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ Qua các bản văn Phụng vụ hôm nay, Thánh giá Chúa Giêsu được trình bày như phương tiện Chúa dùng để cứu chuộc chúng ta (ca nhập lễ). Thánh giá là sự hạ mình rốt cùng của Thiên Chúa làm người. Nhưng đó cũng là lý do để Chúa Cha tôn vinh Chúa Giêsu trên hết mọi loài mọi vật (Thánh thơ). Chúng ta muốn được cứu chuộc, thì phải tin vào quyền lực cứu chuộc của Thánh giá (Phúc âm). Quyền lực cứu chữa và ban sự sống đó được báo trước trong Cựu ước bằng hình ảnh con rắn đồng của Môisen (Bài đọc I). Thái độ của chúng ta là cầu xin để được hiểu biết mầu nhiệm thánh giá dưới đất này nghĩa là chấp nhận và yêu mến Thánh giá trong đời sống chúng ta để được cứu rỗi (lời nguyện). BÀI ĐỌC I. Num 21,4-9. + Trong câu chuyện ngắn này, chúng ta thấy đầy đủ yếu tố của lịch sử ơn cứu chuộc: Chúa yêu thương lo lắng cho dân Do thái như đã đối xử tử tế với Adong, nhưng dân Do thái không hiểu và phản nghịch lại Chúa như Adong phạm tội; Chúa phạt rắn cắn chết dân Do thái, như Evà vì nghe lời dụ dỗ của rắn mà loài người phải chết; nhưng dân Do thái ăn năn, Chúatha thứ và đề ra cách thức con rắn đồng treo lên để cứu chữa họ, như đã ban Đấng Cứu thế chịu treo trên Thánh giá để cứu chuộc loài người.
+ Tội của dân Do thái là tội lẩm bẩm, phạm thượng đến Chúa và đến người lãnh đạo dân Chúa (Ex 22,27). Theo đáp ca (Tv 77), tác giả Phụng vụ muốn cắt nghĩa bản chất của tội đó là bạc ơn, khi bị thử thách quên những chuyện lớn lao Chúa đã làm cho mình. + Rắn lửa. Có lẽ là thứ rắn độc vết cắn làm đau nhức nóng như lửa. Áp dụng cụ thể. - Việc Chúa cứu dân Do thái ra khỏi Ai cập là một sự giải phóng. Mà sự giải phóng nào cũng đòi phải hy sinh cực khổ. Dân Do thái đã phàn nàn cách vô lý. Chúng ta nhiều khi cũng phàn nàn trên con đường thanh tẩy đưa chúng ta đến sự sống đời đời. Bản tính tự nhiên thích tiện nghi dầu đó là tiện nghi của những người làm nô lệ. - Mỗi lần dân chúng phạm tội, bị Chúa phạt, thì họ cũng chạy đến Môisen, nhờ Môisen làm trung gian xin Chúa tha. Cả những lần họ xúc phạm trực tiếp đến Môisen cũng vậy: thấy họ ăn năn sám hối, Môisen không nỡ chối từ, mau mắn khẩn nài Chúa tha cho họ (Ex 5,22-23; 32,11-14. 30-32; Nb 11,2;14,13-19; 16, 22; 21,7; Dt 9, 25-29). Việc cầu bàu của Môisen là hình ảnh báo trước vai trò trung gian của Chúa Giêsu: chúng ta cầu xin cho những người xúc phạm đến chúng ta, bách hại chúng ta hay chúng ta chúc dữ, nguyền rủa họ? - Để được chữa khỏi nọc rắn, dân Do thái chỉ cần nhìn lên con rắn đồng. Chuyện dễ quá. Chúng ta muốn được tha tội, chỉ cần tin vào Chúa Kitô và Thánh giá Người, chuyện cũng dễ không kém, nhưng nhiều người không chịu làm, nhiều khi vì cho là “quá dễ”; người ta muốn những phương cách cực hơn, tự mình tìm kiếm thuốc chẳng hạn. Nhưng Chúa muốn chúng ta khiêm nhượng hơn, nhìn nhận mình có tội và tự mình bất lực trước tội của mình, mình phải tin cậy phó thác vào ơn cứu chữa của Chúa. BÀI ĐỌC II. Phil 2,6-12. + Theo khung cảnh của bản văn thì tác giả đang khuyên các tín hữu phải có sự hiệp nhất, sự khiêm nhượng, đừng tìm quyền lợi mình mà hãy tìm quyền lợi của người khác, theo gương Chúa Giêsu Kitô (2,1-5). Người là Thiên Chúa mà không cố giữ những vinh dự thuộc về Thiên Chúa, lại lột bỏ tất cả, mặc lấy thân phận tôi đòi, vâng lời cho đến chết. Nhưng vì sự khiêm nhượng của Người, Chúa Cha đã tôn vinh Người trên hết mọi loài mọi vật. + Như vậy bài của chúng ta là một bài ca chúc tụng Chúa Giêsu, gồm 6 câu diễn tả 6 giai đoạn trong mầu nhiệm của Chúa Giêsu: trước khi xuống thế Người đã là Thiên Chúa (6), Người tự hạ mình xuống thế làm người như chúng ta (7), Người còn hạ mình hơn nữa khi vâng lời nhận cái chết khổ nhục nhất. Chết trên Thánh giá (8), do đó Chúa Cha tôn vinh Ngài (9), cả mọi tạo vật thờ lạy Người (10), Người nhận được tước hiệu mới (11). Câu 6 là câu khó nhứt và gây nhiều rắc rối. Những người Tin lành thuộc khuynh hướng tự do và những người duy lý cho rằng: trước khi làm người, Chúa Giêsu chỉ là một nhân vật thiêng liêng và thần thiêng, chứ không phải là Thiên Chúa; Người đã có thể có tham vọng bằng Thiên Chúa như Adong, nhưng Người không muốn, Người không chìu theo các cám dỗ đó như Adong đã chìu theo. Khi đó Người không có được những vinh dự của Thiên Chúa và Người cũng không muốn dành cho bằng được ngang hàng với Thiên Chúa. Chúng ta thấy, như vậy là ngược lại thần học thánh Phaolô. Khi thánh Phaolô nói: “tuy là thân phận Thiên Chúa" nghĩa là quả quyết Chúa Giêsu, trước khi xuống trần, Người là Thiên Chúa thật sự, Nhưng Người không muốn khăng khăng giữ lấy những vinh dự thuộc quyền Người. Trái lại, Người tự lột trần, mặc lấy thân phận tôi đòi giống y như loài người. (Chúng ta thấy điểm này hơi khó và tế nhị, nhưng có những hậu quả quan trọng. Bản dịch Phụng vụ: “… đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa”; bản dịch của Cha Thuấn: “không nghĩ phải dành cho được chức đồng hàng với Thiên Chúa”. Có thể hiểu theo nghĩa Tin lành không? Bản dịch Bible de Jérusalem: Lui, de condition divine, ne retint pas jalousement le rang qui légalait à Dieu). + Việc Chúa tự hạ mình có hai cách: 1. Từ Thiên Chúa thành loài người, thân phận tôi đòi. Tuy Người không bỏ bản tính Thiên Chúa của mình được, nhưng Người đã bỏ tất cả những vinh dự bên ngoài của Thiên Chúa, Người sống y như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi, Người mang bản tính mỏng dòn, chịu đau khổ, đói khát, mệt nhọc và chết như chúng ta. 2. Còn hơn thế nữa, vì vâng lời và vì khiêm nhượng, Người đã hạ mình xuống nhận cái chết hèn hạ nhất, cái chết mà lề luật nguyền rủa (Dt 21,23), mà người ngoài dành cho hạng căn bã xã hội, cướp của, giết người, nô lệ cái chết trên thập giá.
+ Để công nhận sự vâng phục và sự hạ mình của Chúa Giêsu, Chúa Cha đã tôn vinh Người. Chính sự vâng phục và hạ mình đó là nguồn cội của công cuộc cứu chuộc. Sự tôn vinh của Chúa Cha gồm có: - Ban cho Người Tên vượt trên mọi tên. Tên là địa vị, có nghĩa ban cho Người vinh quang trên mọi vinh quang, quyền năng trên mọi quyền năng, làm chúa tể mọi loài. - Mọi loài do đó phải thần phục Người. - Tên đó không phải là Giêsu vì nhiều người Do thái cũng có tên đó, được đặt cho Chúa Giêsu trước khi Người được tôn vinh. Tên đó là Chúa, Kurios, và thánh Phaolô thường áp dụng cho Chúa Giêsu, đang khi “Thiên Chúa”, Theos, áp dụng cho Chúa Cha. Kết luận: Như vậy chúng ta thấy thánh giá là sự hạ mình tột đỉnh của Chúa Giêsu mà cũng là nguồn gốc sự tôn vinh của Chúa Giêsu. Đó cũng là bài học kêu gọi chúng ta phải theo một con đường đó, làm sao chúng ta bước vào vinh quang của Chúa, nếu chúng ta không biết hạ mình khiêm nhượng! PHÚC ÂM Jo 3,13-17. + Chúng ta đang ở trong phần thứ nhì cả câu chuyện của Chúa Giêsu và Nicôđêmô:- Không ai có thể biết và có thể mạc khải thánh ý mầu nhiệm của Chúa Cha ngoài Con Người là Đấng từ trời xuống.- Thánh ý mầu nhiệm của Chúa Cha là: loài người được tái sinh, cứu chuộc qua cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô. Cái chết và sự sống lại của Chúa Kitô ở đây được trình bày qua hình ảnh Con Người được “nâng cao lên”, có nghĩa là Con Người chính khi “bị treo trên thập giá” cũng là khi được “tái lập lại trong vinh quang” của Chúa Cha.- Loài người muốn được cứu chuộc phải tin vào Chúa như dân Do thái muốn khỏi chết thì phải nhìn lên con rắn đồng của Môisen. Tin vào Chúa Kitô trên Thánh giá có nghĩa là nhìn nhận Người là dấu chỉ lòng nhân từ và quyền lực của Thiên Chúa.- Công cuộc cứu chuộc là thể hiện tình yêu của Thiên Chúa đối với thế gian. Kết luận: Mầu nhiệm Thánh giá. Trong cái nhìn của thánh Gioan không còn chia làm hai giai đoạn nữa: hạ mình, tôn vinh. Thánh Gioan chỉ coi đó như hiệu cờ cứu rỗi được đưa lên báo tin cứu độ cho mọi người, như trong sa mạc con rắn đồng được Môisen giơ cao lên cứu sống dân Do thái.(Tông huấn Catechesi Tradendae. Việc dùng trí nhớ số 55) Trong khi, về việc giảng dạy các môn học đời ở một số nước, càng ngày người ta càng ta thán về những hậu quả đáng tiếc của việc khinh thường cái tài năng này của con người là trí nhớ, thì sao ta không tìm cách đề cao lại trí nhớ một cách thông minh và còn độc đáo nữa trong việc dạy giáo lý, nhất là khi sự cử hành hay “kính nhớ” những sự kiện trọng đại của lịch sử cứu độ, đòi hỏi ta phải hiểu biết chúng một cách chính xác? Nhớ những lời nói của Đức Giêsu, những đoạn Kinh Thánh quan trọng, mười giới điều, những văn thức tuyên xưng đức tin, những bản văn Phụng vụ, những kinh nguyện căn bản, những khái niệm then chốt của giáo lý việc nhớ ấy chẳng những không nghịch với phẩm giá của các Kitô hữu trẻ trung hoặc tạo nên một cản trở nào cho việc đối thoại cá nhân với Chúa, nhưng còn là một sự cần thiết thực sự như nghị phụ của Thượng Hội đồng đã nhắc lại một cách quyết liệt. Phải thực tế. Những hoa trái này, nếu nói được như thế, của đức tin và lòng đạo đức, không nảy nở trong những vùng sa mạc của một khoa dạy giáo lý không dùng đến trí nhớ, phải đồng thời nhập tâm và dần dần am hiểu sâu xa, để trở nên nguồn mạch đời sống Kitô giáo cá nhân và cộng đoàn. Việc có nhiều phương thế dạy giáo lý thời nay có thể là dấu hiệu của sinh khí và óc tài tình. Trong mọi trường hợp, điều quan trọng là phương pháp chọn lựa, rốt cuộc, phải qui chiếu một luật căn bản cho tất cả đời sống Giáo hội: luật trung thành với Thiên Chúa và trung thành với con người trong cùng một thái độ yêu thương. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |