Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỌC HỎI KINH THÁNH
Bài dạy của Cha Tổng Đại Diện Phaolô Lưu Văn Kiệu

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

CHỦ ĐỀ: Chúa nhật hôm nay, chúng ta còn ở trong phần đầu cuộc hành trình lên Giêrusalem của Chúa Giêsu trong Phúc âm thánh Luca. Như chúng ta đã thấy hôm Chúa nhật rồi; đây là phần chính yếu của Phúc âm, nơi tác giả qui tụ những giáo huấn của Chúa Giêsu về những đặc ân và những đòi buộc của người môn đệ, những giáo huấn đó chúng ta thấy nằm rải rác ở nhiều nơi trong các Phúc âm khác. Sau lề luật bác ái(người Samaritanô), việc phải nghe lời Chúa (Martha, Maria), đến việc cầu nguyện,

Những điều thánh Luca nói về việc cầu nguyện ở đây, trong Phúc âm thánh Matthêu được trình bày ở hai nơi khác nhau (Mt 6, 9-13 và 7, 7-11): Chúa Giêsu cầu nguyện, các môn đệ xin Chúa Giêsu dạy các môn đệ một lời nguyện và dạy các môn đệ phải kiên nhẫn cầu nguyện, tin chắc rằng khi xin thì sẽ được.

Bài sách Sáng thế thuật lại việc ông Abraham cầu xin Chúa tha phạt thành Sôdôma làm sáng tỏ yếu tố sau cùng này.

BÀI ĐỌC I. Gén 18,20-32.

Câu chuyện hôm nay tiếp nối bài sách thánh đọc tuần trước. Khi ba vị khách từ lều Abraham trở ra, thì hai vị đi trước về phía Sodoma (hai thiên thần: 19,1), còn Chúa Giavê còn ở lại với Abraham, Chúa có vẻ ngần ngại không biết có nên tỏ cho Abraham biết việc mình sắp sát phạt Sôđôma và Gômôra không, nhưng cuối cùng, để chứng tỏ mình coitrọng Abraham (18,17) Chúa đã nói ra ý định của mình. Abraham khi đó đứng ra để cầu bàu cho hai thành kia, xin Chúa đừng hủy diệt, lý do Abraham đưa ra: trong thành có người tội lỗi, nhưng cũng có người công chính, không lẽ Chúa phạt cả người công chính nữa sao? Vấn đề của mọi thời: người công chính chịu đau khổ liên can với người tội lỗi và vì người tội lỗi. Vấn đề liên đới trách nhiệm, hay trách nhiệm tập thể thời xưa quá mạnh nên Abraham không nghĩ đến việc xin tha cho người công chính và phạt kẻ có tội, tội ai làm nấy chịu! Trong thực tế thì Chúa đã cứu gia đình ông Lót, gia đình công chính duy nhất ở Sôđôma, nhưng việc đó coi như trường hợp đặc biệt. Trong các sách sau này (Dt 7, 10; 2,16; Jér 31,29-30;Ez 1,12s và 18) mới trình bày giáo lý về trách nhiệm cá nhân. Nhưng cũng chưa giải quyết được vấn đề, Chúa Giêsu mới mang tới giải đáp thật sự cho chúng ta, tiêu biểu nhất là dụ ngôn lúa và cỏ lùng (Mt 15,2-30).

Trong lời cầu xin của Abraham và trong câu trả lời của Chúa, chúng ta thấy được một vấn đề khác hay đúng hơn mặt khác của vấn đề, sự liên đới trong ơn thánh, hay nói bằng ngôn ngữ quen thuộc: các thánh thông công: nhờ người công chính mà người tội lỗi được tha phạt! Ở đây Abraham đi từ con số 50 người công chính lần xuống 10 mà không dám xuống nữa. Trong Jér 5,1 và Ez 22,30, Chúa chỉ cần có một người công chính để tha phạt cho Giêrusalem mà không có. Nhưng Phụng vụ muốn nhấn mạnh đến việc Abraham sáu lần thay đổi điều kiện, mà Chúa cũng nhân nhượng nhận lời Abraham cho tới khi nào Abraham không dám xin nữa thì thôi. Cựu ước dùng hình ảnh để diễn tả những lý do tại sao ta có thể tin tưởng cầu xin:

1. Chúa nhân từ và rộng rãi vô cùng, ít nữa là rộng rãi hơn chúng ta và hơn chúng ta tưởng. Abraham lúc đầu muốn nói một số người công chính khá khá, tạm có thể phần nào đáng để Chúa tha (hơi có tính cách đổi chác!) nhưng rồi phải bớt lần bớt lần, ông ta rất ngại, nhưng thấy Chúa nhận cách dễ dàng! Tới cuối cùng ông ta chịu thua sự rộng rãi của Chúa chứ Chúa không thua ông ta. (Không biết Chúa sẽ làm thế nào nếu ông ta dám xuống tới số một vài người?)

2. Chúa coi người công chính như bạn của Chúa, nếu chúng ta nhớ lại lời Chúa Giêsu ở Jo 15,15, thì đúng là ở đây Chúa coi Abraham là bạn (Gén 18,17-19): Chúa không dấu gì với Abraham.

3. Chúa muốn chúng ta cầu xin: Chúa không nói thì Abraham đâu có biết mà xin! Đàng khác bản văn cũng diễn tả lời cầu nguyện chúng ta phải thế nào mới được nhận lời:

- Khiêm tốn: tôi chỉ là tro bụi “xin Chúa đừng giận”
- Kiên trì: Abraham xin sáu lần.
- Mạnh dạn chứng tỏ chúng ta tin tưởng .

Áp dụng cụ thể:

- Abraham đã tỏ ra thật xứng với ơn kêu gọi của mình: “nhờ ông mà muôn dân được chúc phúc!” Vừa nghe Chúa cho biết về hình phạt sắp xảy đến cho hai thành Sôđôma và Gômôra, ông lật đật cầu xin tận tình cho họ. Ơn kêu gọi làm Linh mục, tu sĩ của chúng ta không phải là để nhờ chúng ta mà nhiều người khác được chúc phúc sao? Chúng ta có mau mắn, tận tình cầu xin trước những hình phạt đời đời đe dọa anh em chúng ta không? Chúa đặt chúng ta trong những hoàn cảnh như Abraham, qua chức vụ, qua sự tin tưởng của người khác, chúng ta được Chúa cho biết tội lỗi của anh em, của nhân loại để chúng ta cầu xin cho họ. Ước gì lời của chúng ta như lời của Chúa Giêsu, của Abraham, của Môisen xin thathứ chứ không bao giờ xin Chúa phạt người khác.

- Abraham nói chuyện với Chúa dạn dĩ như là quen thân của Chúa. Chúng ta nhớ lại lời nguyện của các thánh, như thánh Têrêsa Giêsu Hài đồng chẳng hạn, cũng một điều tin tưởng, cởi mở như vậy. Chúng ta sợ không dám xin Chúa nhiều, không dám xin cách quả quyết, chứng tỏ chúng ta không tin vào lòng nhân từ của Chúa! Nói cách khác có lẽ đúng hơn: chúng ta quá nhìn vào sự yếu hèn, tội lỗi của mình và đồng thời mặc cho Chúa một lòng dạ hẹp hòi như chúng ta: chúng ta tội lỗi chắc Chúa không nhậm lời đâu! Những lời Chúa dạy chúng ta cầu nguyện trong Phúc âm, có khi nào Chúa căn cứ vào công nghiệp chúng ta không?

- Abraham bạo gan đứng ra xin cho Sôđôma, liều mình bị Chúa quở trách. Chúng ta thấy việc đó đã quí rồi. Nhưng Chúa Giêsu lại lấy cái chết của mình để xin Chúa Cha tha phạt cho nhân loại. Chúa kêu gọi chúng ta, các môn đệ của Chúa Giêsu, không phải chỉ dùng lời nguyện cầu xin cho anh em chúng ta mà phải dùng sự hy sinh cả cuộc đời chúng ta nữa.

- Chúa nhân từ vô cùng sẵn sàng để tha, dầu Abraham có tận tình xin xỏ thành Sôđôma vẫn bị thiêu hủy vì cả thành cố chấp trong tội. Ninivê theo lời tiên tri Giôna mà ăn năn hối cải nên đã được tha! Nếu chúng ta cố tình ở trong tội thì không ai có thể cứu chúng ta nổi.

- Vai trò của những người công chính thật quan trọng. Xã hội loài người hiện nay còn tồn tại không phải nhờ những tài trí phi thường, những chính trị gia lỗi lạc đâu, mà là nhờ những người công chính sống khiêm tốn tối tăm, nhờ vào “dư số” nhỏ bé không ai hay biết, đang dằn cơn thịnh nộ của Chúa lại.

PHÚC ÂM Lc 11, 1-13.  Chúng ta có thể chia bài Phúc âm làm ba phần.


Nhập đề:
thấy Chúa Giêsu cầu nguyện, thấy Gioan dạy các môn đệ ông cầu nguyện, các môn đệ Chúa Giêsu xin Ngài dạy họ cầu nguyện.

Phần thứ nhứt: Kinh Lạy Cha.

Phần thứ hai: dụ ngôn người bạn quấy rầy ban đêm và kết luận của ChúaGiêsu: “Hãy xin thì sẽ được”.

+ Thánh Matthêu đặt kinh Lạy Cha trong bài giảng trên núi. Thánh Luca trình bày hoàn cảnh có lẽ gần thực tế hơn: một môn đệ thấy Gioan Baotixita dạy cho môn đệ ông cầu nguyện mới xin Chúa Giêsu cũng dạy họ. Điều này giúp cho ta hiểu thêm về kinh Lạy Cha. Thật ra thời Chúa Giêsu. Các nhóm tôn giáo đâu có hình thức cầu nguyện riêng: Pharisiêu, Esséniens và ở đây và ở đây môn đệ của Gioan Baotixita, hình thức cầu nguyện riêng biệt đó nói lên sự đặc biệt giữa nhóm đó và Thiên Chúa. Việc các môn đệ xin Chúa Giêsu cách cầu nguyện riêng chứng tỏ họ tự ý thức họ là cộng đoàn cánh chung: lời nguyện Chúa dạy họ sẽ là dấu hiệu đặc biệt của họ và sẽ nói lên điều mà lòng họ tha thiết hơn hết. Trong thực tế, kinh Lạy Cha tuy rất ngắn, là bản tóm lược rõ ràng nhứt và dễ hiểu nhứt sứ điệp của Chúa Giêsu.

+ Kinh Lạy Cha trong Phúc âm Matthêu có 7 lời cầu, trong Luca chỉ có 5: không có “ý Cha được thực hiện” và “cứu chúng tôi cho khỏi sự dữ”. “Cha”. Cựu ước ít gọi Chúa là Cha (chỉ có 14 lần) vì sợ người ta lạm dụng, hạ Chúa xuống ngang hàng loài người. Thời Chúa Giêsu, người ta càng đề cao sự trỗi vượt của Chúa Giêsu, nên không khi nào một cá nhân mà dám gọi Chúa là Cha. Vậy mà trong tất cả lời nguyện của Chúa Giêsu mà Phúc âm ghi giữ lại, Chúa Giêsu đều gọi Chúa là Cha. Mà chữ Cha nơi miệng Chúa Giêsu lại hoàn toàn khác chữ Cha trong Cựu ước. Theo Marco, 14,36 trong vườn Giếtsêmani, Chúa Giêsu gọi Chúa Cha là “Abba” và phần chắc là các lời khác cũng gọi như vậy nữa (xem Rm 6,15; Gal 4,6), mà chữ Abba trong tiếng Aramien là tiếng Cha thân mật của trẻ con gọi Cha nó (papa). Rồi người lớn quen cũng gọi luôn chớ không phải là tiếng cha thông thường. Cũng chính vì nét thân mật này mà không ai dám gọi Chúa là “Abba” hết. Trái lại Chúa Giêsu muốn diễn tả tâm tình mình với Chúa Cha như một đứa con đơn sơ phó thác hoàn toàn vào Cha. Với cách xưng hô Cha Con này, Chúa muốn minh định sứ mạng và sứ điệp của mình: với tư cách là con, Người mạc khải những điều Người hiểu biết trọn vẹn về Chúa Cha cho nhân loại (xem Mt 11,27). Với kinh Lạy Cha, Chúa ban cho các môn đệ quyền gọi Chúa là Abba như chính Người, được tham dự vào địa vị làm con của Người, và có thể nói với Chúa Cha với tất cả niềm tin tưởng của một đức con nhỏ.

- “Nguyện danh Cha cả sáng”. Kinh Thánh biết hai cách làm sáng danh Chúa: tuân theo giới răn Người và nhìn nhận quyền của Người trên chúng ta. (Lév 22,32; Nb27,14;Is 8,15). Các tiên tri phán trước về ơn cứu chuộc loan báo rằng Chúa sẽ làm cả sáng danh Người bằng cách tỏ ra mình là vị thẩm phán chí công và là Đấng Cứu chuộc trước mặt muôn dân. (Is 5,16; Ez 20,41; 28,12- 25 . 36, 23; 38,16-25; 34, 27). Đây là đích điểm chúng ta cầu nguyện trong kinh Lạy Cha: kiểu nói “danh Cha cả sáng” có nghĩa là xin Chúa làm cho danh Chúa cả sáng, xin Chúa ban ơn cứu độ cho nhân loại, (bản Tob dịch: Pais-toi reconnaetre comme Dieu thay bản cũ:Que ton nom soit sanc-tifíe.)

- “Nước Cha trị đến”. Lời xin thứ hai lấy lại cùng một ý tưởng như lời thứ nhứt, có điều đổi cái nhìn: nhìn về nước Chúa: việc nước Chúa trị đến là trung tâm của sứ điệp của Chúa Giêsu (Mt 4,17 và Lc 1,15). Với nước Chúa Giêsu đã đến rồi, nhưng chúng ta cầu xin để nó được tiến đến mức trọn hảo, viên mãn. Thực hiện việc đó là ơn nhưng không của Chúa và chỉ có Chúa mới làm được, bằng cách và vào lúc mà Chúa muốn. Chúng ta chỉ có thể ước ao và chuẩn bị để đón nhận bằng sự hoán cải nội tâm bằng đức tin sống động và cầu nguyện

- “Xin cho chúng tôi hàng ngày dùng đủ”. Thường thì hiểu về lương thực vật chất, nhưng nhiều thánh phụ đã hiểu về của ăn thiêng liêng: bánh Thánh Thể.

- “Xin Cha tha nợ chúng tôi..”. Đây là lời xin duy nhứt trong kinh Lạy Cha được Chúa Giêsu liên kết với thái độ của chúng ta, Chúa đã nói bao nhiêu lần: chúng ta phải sẵn sàng thathứ cho anh em thì Chúa mới tha cho chúng ta. (Lc 11,25; Mt 5,23).

- “Xin chớ để chúng tôi sa chước cám dỗ”. Xin cho chúng ta đừng bị bại trận trước cơn cám dỗ của ma quỉ: đây không phải là những cơn cám dỗ nhỏ nhặt hằng ngày mà là cơn thử thách lớn lao cuối cùng (Mc 15,14), đó là cám dỗ từ chối Chúa.Thánh Matthêu thêm cho rõ nghĩa: nhưng cứu chúng tôi cho khỏi sự dữ, hiện thân của ma quỉ. Như vậy có nghĩa chúng ta xin Chúa cho chúng ta tới giờ chung cuộc đừng chối bỏ Chúa. Tuy nhiên chúng ta đừng quá nhìn vào phút cuối cùng đó mà quên rằng giờ phút đó tùy vào những quyết định hiện tại của chúng ta.

+ Dụ ngôn người bạn quấy rầy ban đêm, mục đích dạy chúng ta phải cầu nguyện cách nào: liên lỉ, không thôi, bền chí thì sẽ được nhận lời. Chúng ta có thể hiểu sự ngần ngại của người chủ nhà hơn khi chúng ta nhìn ngôi nhà của người Do thái thời Chúa Giêsu: một gian duy nhất, ban đêm cài cửa bằng cây đà ngang lớn, trải chiếu dưới đất, cha mẹ con cái ngủ chung với nhau, muốn mở cửa phải đánh thức cả nhà kéo cây đà ngang, mở cửa trở vô.

Lý luận của Chúa Giêsu: người bạn dầu không muốn mà cuối cùng cũng phải mở cửa, huống chi Chúa Cha nhân từ vô cùng .

Kết luận: Chúng ta tin chắc chúng ta sẽ được nhận lời vì Chúa là Cha, Chúa đã ban Thánh Thần trong chúng ta để chúng ta có thể gọi Chúa là “Abba”. Thật ra tất cả những ai nhận được Thánh Thần của Chúa, là con cái của Chúa. Do đó anh em đã không nhận một tinh thần tôi tớ mà phải sống trong sợ hãi; anh em đã nhận tinh thần nghĩa tử, làm cho anh em có thể gọi “Abba” (8,14-15). Chúa Giêsu đã cho chúng ta được phép và dạy chúng ta gọi Chúa là Cha.

Áp dụng cụ thể. 

- Khi chúng ta đọc kinh Lạy Cha cũng như khi chúng ta cầu nguyện, chúng ta có ý thức tâm tình thân mật, tin tưởng phó thác của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha không? Chúa muốn chúng ta cũng có tâm tình như vậy đối với Chúa Cha. Đây là lời nguyện duy nhất Chúa dạy cho nhóm (cộng đồng) môn đệ để làm dấu chỉ đặc biệt cho nhóm. Như vậy chúng ta có thể phân biệt giữa lời nguyện riêng tư, lời nguyện công cộng, chính thức nữa không?

- Thấy Chúa Giêsu thường cầu nguyện và hôm nay thấy Chúa vừa cầu nguyện xong, hơn nữa nhớ lại Gioan Baotixita có dạy các môn đệ cầu nguyện.. người môn đệ của ChúaGiêsu bắt lấy, cũng muốn cầu nguyện nữa! Chúng ta dạy trẻ con, bổn đạo cầu nguyện cách đắc lực nhứt là chúng ta phải làm gương trong việc cầu nguyện.

- Dụ ngôn người bạn quấy rầy cho chúng ta thấy rằng Chúa dầu thương chúng ta, luôn sẵn sàng nhận lời chúng ta, nhưng Người không hứa sẽ nhận lời chúng ta liền tức khắc. Người muốn chúng ta quấy rầy bằng sự nài nỉ của chúng ta. Điều đó có lợi cho chúng ta xét về mặt tâm lý: sẽ làm cho chúng ta ao ước mạnh mẽ hơn, làm cho chúng ta càng cầu nguyện nhiều hơn. Cũng có thể là tại chúng ta xin những điều không có lợi cho phần rỗi chúng ta, nhiều khi còn có hại nữa. Một sự cầu nguyện kéo dài sẽ thanh tẩy, sẽ làm cho điều ao ước của chúng ta nên chính đáng hơn và làm cho chúng ta từ từ uốn mình theo ý muốn của Chúa. Giả sử chúng ta xin đá thay vì xin bánh, chúng ta xin rắn thay vì xin cá. Chúa sẽ làm cho lời cầu nguyện chúng ta lần lần biến đổi và trở thành chính điều mà Chúa muốn ban cho chúng ta nhằm lợi ích cho hạnh phúc đời đời của chúng ta. Trong lời nguyện xin cao trỗi hơn hết mà chúng ta có thể xin Chúa Cha và chúng ta chắc chắn sẽ được nhận lời bởi vì phù hợp ý Chúa và lợi ích cho chúng ta, đó là xin Chúa Thánh Thần, bởi vì chính Chúa Thánh Thần mới có thể biến đổi chúng ta thành những con yêu của Chúa Cha nhân từ.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle