Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỌC HỎI KINH THÁNH
Bài dạy của Cha Tổng Đại Diện Phaolô Lưu Văn Kiệu

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

Các bài đọc hôm nay trình bày cho chúng ta tình trạng của Giáo hội Chúa từ ngày Chúa lên trời cho đến ngày Chúa trở lại trong vinh quang. Thánh Phêrô và các tông đồ thay mặt Chúa, lấy quyền Chúa trao phó cho mình mà định hướng đi cho Giáo hội. Giải quyết những khó khăn, ra luật lệ mà các tín hữu phải tuân hành (bài đọc I). Chúng ta có thể yên tâm, bình an sống dưới quyền điều khiển của các tông đồ và những Đấng kế vị của các ngài, vì có Chúa Thánh Thần, mà Chúa Giêsu đã hứa ban, ở với Giáo Hội; vì có Lời của Chúa thay thế cho sự hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu (Phúc âm). Nếu chúng ta lấy con mắt đức tin siêu nhiên mà nhìn, chúng ta sẽ thấy hình ảnh Giáo hội đó huy hoàng rực rỡ như hình ảnh thành thánh Giêrusalem mà thánh Gioan thấy trong Khải huyền (bài đọc II). Giáo hội như thế là ngọn đuốc sáng để soi cho muôn dân biết đường lối của Người. Họ vui mừng chúc tụng Chúa khi nhận được ánh sáng đó (đáp ca).

TĐCV 15,1-2, 22-29

Định vị trí, Phaolô và Barnaba trở về Antiokia trình bày những kết quả của chuyến đi thứ nhất của họ. Cả cộng đoàn đang vui mừng vì dân ngoại đua nhau vào Giáo Hội. Có một số người Do thái từ Giuđêa tới bảo là những người ngoại này cũng phải chịu phép cắt bì theo luật Môisen thì mới được rỗi. Điều này gây hoang mang và có tầm mức hệ trọng đặc biệt, nên giáo đoàn Antiokia thấy cần phải nhờ đến các tông đồ giải quyết mới được. Thế là Phaolô và Barnaba được cử lên Giêrusalem trình bày vấn đề. Các Tông đồ ở Giêrusalem họp Công đồng để bàn cải: sau ý kiến của Phêrô và lời trình bày của Phaolô và Barnaba, Giacôbê thay mặt cho Công đồng đưa ra giải pháp quyết định: người ngoại giáo muốn vào Hội thánh, khỏi phải giữ luật Môisen, chỉ phải kiêng cử một vài món để khỏi làm cho người Do thái khó chịu là đủ rồi. Bài của chúng ta nằm ở chỗ Công đồng cử vài người đến thông báo quyết định của mình cho Antiokia.

Vấn đề Công đồng phải giải quyết: Những người Do thái khi trở lại đạo Công giáo, thì nghĩ rằng đạo Công giáo là đạo tiếp nối của đạo Do thái, đạo Công giáo là mức hoàn hảo của đạo Do thái, đạo Công giáo là Israel mới, Israel lý tưởng. Điều này đúng. Nhưng họ không thể nào hình dung được một Isrsel mà không có lề luật của Môisen, không có phép cắt bì là dấu chỉ đặc biệt của con cái Israel . Họ nghĩ rằng Giáo hội Công giáo phải giữ lại tất cả những đặc điểm của đạo Do thái: điều này không còn đúng nữa, vì đạo Công giáo tiếp nối đạo Do thái nhưng đồng thời cũng vượt quá những gì có tính cách tạm thời trong đạo Do thái. Đàng khác, lập trường của họ có thể dựa trên thái độ của Chúa Giêsu: “Con Người không đến để hủy bỏ lề luật”. Chúa Giêsu trung thành tuân giữ lề luật: chuyện gia đình ông Cornêliô vào đạo mà không chịu phép cắt bì, họ có thể coi như là một luật trừ, phải có phép lạ của Chúa để chứng minh.

Lập trường mới xem ra cũng có lý phần nào nhưng hết sức là nguy hiểm.

1. Cho tương lai Giáo hội: vì như vậy đạo Công giáo chỉ là một nhóm, một phái mới của Do thái giáo. Dân ngoại không thể nào gia nhập vì đó là đạo riêng của người Do thái, hơn nữa họ không thể nào gánh nổi những luật buộc của đạo đó.

2. Cho những sự thật nền tảng của đức tin: vẫn coi việc giữ luật Môisen là điều kiện chính yếu để được ơn cứu rỗi (chớ không phải là tin vào Chúa Kitô), có nghĩa là không nhìn nhận tính cách tạm thời của Cựu ước, không nhìn nhận ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu tự nó là đủ, không nhìn nhận giá trị của cái chết của Chúa Giêsu và của công nghiệp của Người. Mà như vậy là lật đổ cả nền tảng đức tin của đạo Công giáo.! Việc buộc chịu phép cắt bì mới xem qua là nhỏ nhưng có tầm mức rất rộng lớn, nên các Tông đồ phải họp Công đồng để giải quyết.

Nội dung của bức thơ của Công đồng.
1. Không nhìn nhận những người Do thái đã đến Antiokia gieo hoang mang rối loạn.
2. Nhìn nhận và tuyên dương Phaolô và Barnaba.
3. Đưa nguyên tắc chung là người ngoại giáo vào đạo không buộc phải giữ lề luật Do thái.
4. Các tông đồ chỉ buộc họ giữ bốn chuyện cụ thể thôi.

Những hạn chế của các Tông đồ:
+ Các Tông đồ buộc các người ngoại mới trở lại giữ bốn điều, đó là tự quyền, tự ý mình, chớ không phải vì đó là những điều thiết yếu của luật Môisen mà các Tông đồ không thể chuẩn được! Trên nguyên tắc, tất cả luật Môisen không còn giá trị nữa.

+ Những điều buộc đây không phải là luật chung mà chỉ là những chỉ thị cụ thể nhằm các tín hữu ở Syria và Cilicia trong những hoàn cảnh cụ thể của họ mà thôi.

+ Lý do để buộc những điều đó: đức bác ái. Vì đó là những điều tối kỵ đối với người Do thái, nên người lương dân trở lại đạo phải thông cảm và tránh làm cho những người Do thái khó chịu.

1. Đồ cúng thần: đồ ăn nhưng nhất là thịt. Thường người ta làm thịt con thú được tế cho thần, lấy một phần thịt để dành cho các thần, một phần để cho người tế dùng, còn một phần đem bán ngoài chợ. Theo người Do thái, mua thịt như thế về ăn thì tương đương như người chối đạo
2. Huyết và thịt thúi chết ngạt: hai điều cấm này ăn thua với nhau: máu tượng trưng cho sự sống, mà chỉ có Thiên Chúa mới có quyền trên sự sống, nên luật người Do thái cấm mình không được dùng máu. Thú chết ngạt có nghĩa là mình không có cắt cổ để lấy máu ra, ăn nó là ăn luôn cả máu, điều luật cấm.(x. Lv17,11;19,26)
3. Gian dâm: nghĩa không được rõ và còn trong vòng tranh luận. Đa số các nhà chú giải hiện nay hiểu đó là những cuộc kết hôn của bà con thân tộc mà luật Môisen cấm (Lv 18,6) nhưng người lương dân trở lại đạo cho là được phép.

Những điều đó các Tông đồ gọi là cần kíp, không có nghĩa tuyệt đối, nhưng có nghĩa là trong hoàn cảnh hiện tại, sống chung giữa người ngoại giáo trở lại và người Do thái, các Tông đồ thấy người ngoại giáo trở lại phải giữ những điều đó để cho mối giao hảo giũa hai bên được tốt đẹp, để khỏi làm cho người Do thái quá khó chịu, để giữ đức ái.

Áp dụng cụ thể:
+ Quyết định của các Tông đồ mới xem qua có vẻ tiêu cực: buộc người lương dân trở lại giữ một ít thói quen của Do thái! Nhưng trong thực tế đã giải phóng họ khỏi tất cả lề luật Do thái (xem những ý kiến được trình bày trong Công đồng Act 15,7-21. Và đã định vị trí của Giáo hội Công giáo tách biệt khỏi Do thái giáo. Để đi đến một kết quả như vậy, Chúa dùng cả những biến cố tốt như gia đình ông Cornêliô trở lại, nhưng cũng dùng cả những biến cố tiêu cực: như người Do thái không nhận ơn cứu rỗi, và ở đây, họ gây xáo trộn cho cộng đoàn Antiokia vì những cái nhìn hẹp hòi của họ. Tất cả mọi sự đều có lợi đối với những kẻ yêu mến Chúa. Chúng ta không có lý do để sợ hoàn cảnh nữa mà mỗi ngày phải thích thú nhìn ngắm bàn tay Chúa hướng dẫn chúng ta, hướng dẫn Giáo hội của Người.

+ Các Tông đồ buộc các tín hữu ở Syria và Cilicia kiêng cử những điều tự nó không xấu, nhưng làm khó chịu anh em: đó là gương đức bác ái thực tế. Việc làm của chúng ta không phải chỉ lấy lương tâm chúng ta làm tiêu chuẩn, mà phải nhìn đến anh em chúng ta: ta có làm gương xấu cho những người ít hiểu biết hơn không? Có làm khó chịu cho những người “chậm tiến” hơn chúng ta không? Các Tông đồ khi quyết định như thế tỏ ra hết sức cân phân và quân bình, đồng thời đặt ích lợi chung của cộng đồng trên quan điểm riêng của cá nhân!

+ “Thánh Thần và chúng tôi xét rằng”. Chúa Giêsu hứa ở lại với các Tông đồ, hứa ban Chúa Thánh Thần. Các Tông đồ đã ý thức điều đó ngay thuở ban đầu. Chúng ta hãy vui mừng, hãnh diện vì mình có thể dựa vào một uy quyền tối cao không thể lầm lẫn và dối gạt chúng ta như thế. Chúng ta không những cúi đầu ngoan ngoãn chấp nhận các quyết định của giáo quyền mà còn phải vui mừng vì đó là chỉ thị của Chúa Thánh Thần. Hãy tập có tinh thần Giáo hội: mau mắn trình sáng kiến của chúng ta để được giáo quyền kiểm soát, chấp nhận, như thế chúng ta làm việc mà chắc chắn, tin tưởng rằng mình làm việc của Chúa và làm với Chúa.

Khải huyền 21,10-14.22-23
+ Bản văn Phụng vụ đã rút ngắn bản văn Kinh thánh, làm chúng ta mất đi hình ảnh vô cùng vĩ đại và quí giá vượt bực của thành Giêrusalem mà tác giả muốn tả. Nhưng bù lại chúng ta có một bản văn mạch lạc và sáng sủa hơn gồm những nét chính sau đây:

1. Giêrusalem mới từ trời xuống .
2. Chói lọi vinh quang Thiên Chúa.
3. Có tường lũy nhưng có 12 cổng.
4. Tường xây trên 12 mống.
5. Thiên Chúa và Con Chiên là Đền thờ của thành.

1. Từ trời xuống. Trước khi diễn tả, tác giả đã nói ngay thành Giêrusalem này từ trời nơi Thiên Chúa mà xuống. Thành thử đây không phải là hình ảnh của một thực tại trần thế mà là của thành thánh trên trời, đời sau. Đây không phải là hình ảnh lý tưởng hoá, hoàn hảo hóa của Giáo hội hiện tại. Mà là thực tại đời sau, ở trên trời của Giáo hội. Tuy rằng Giáo hội hiện tại của chúng ta đóng vai trò chỉ đạo, hướng dẫn chúng ta đi đến thành thánh tương lai trên trời đó.
2. Chói lọi vinh quang Thiên Chúa. Đây là điểm chính yếu của thành thánh. Thiên Chúa ngự trong thành đó, vinh quang của Chúa trở thành ánh sáng cho thành nên không còn ánh sáng mặt trời mặt trăng nữa. Ánh vinh quang đó luôn mở rộng để đón chúng ta vào, khi chúng ta vào cũng sẽ được chiếu sáng bằng ánh vinh quang đó.
3. Có tường lũy cao lớn. Tác giả diễn tả tỉ mỉ bức tường của thành.. Điểm nổi bật nhất của các thành thời xưalà bức tường, dùng để định lằn mức của thành và cũng để bảo vệ thành. Tường ở đây không phải là để bảo vệ vì không còn kẻ thù nữa. Chỉ là để định lằn mức cho biết ai là kẻ ở trong ai là kẻ ở ngoài, nhưng không phải đóng kín lại để chia cách vì thành luôn luôn mở rộng với 12 cổng. Con số 12 là con số trọn hảo, phát xuất từ số 3 (số của Thiên Chúa) nhân cho số 4 (số của vũ trụ). Chúng ta gặp đi gặp lại con số này trong suốt bài diễn tả thành (12 cổng, 12 thiên thần, 12 chi họ, 12 móng, 12 Tông đồ, 12 ngàn dân, 144 thước). Điều đó muốn nói lên rằng tất cả thành thuộc về trật tự của Thiên Chúa và dựng nên nhằm thực hiện ý định của Thiên Chúa cho toàn thể vũ trụ.

Mười hai Thiên thần không phải để giữ cửa mà đúng hơn là để biểu hiện thành này thuộc thế giới Thần linh nơi loài người sẽ được chung sống với các Thiên thần. Trên cổng có khắc tên 12 chi họ Israel : mặc dầu nhiều lần bất trung, họ vẫn được tiền định cho Giêrusalem trên trời. Chúa vẫn trung thành với lời hứa. Mười hai cổng được chia đều bốn hướng, luôn luôn mở rộng ngày đêm (25) để đón muôn dân tấp nập tuôn về trong cuộc hành hương vĩ đại (24 và 26, xem Lc 13, 29)

4. Tường xây trên 12 mống mang tên 12 Tông đồ của Con Chiên. Hiển nhiên, thánh Gioan muốn diễn tả sự kết hiệp giữa Cựu ước và Tân ước. Ngoài ra tác giả còn cho chúng ta thấy tính cách phổ quát, công giáo (12) của thành thánh trên trời. Đồng thời cũng muốn nói: Cũng như những thăng trầm của lịch sử 12 chi họ của Israel không phương hại đến ơn cứu rỗi của Chúa, thì cũng vậy những yếu đuối của 12 tông đồ (Phêrô, Giuda) không làm sụp đổ chương trình cứu độ của Chúa.

5. Thường trong các hình ảnh về thành Giêrusalem, thì Đền thờ là nét nổi bật nhất, trái lại ở đây không có đền thờ. Điều này không phải để khuyến khích chúng ta bỏ đi những nghi thức tế tự bên ngoài hiện nay vì mai sau nó không còn ý nghĩa nữa! Nhưng chỉ muốn nói rằng, trong Giêrusalem mới, không còn cần phải dành chỗ đặc biệt cho Chúa nữa, vì chính “Thiên Chúa chủ tể tất cả mọi sự sẽ là đền thờ của Người, cũng như Con Chiên”. Những thực tại vật chất hiện nay sẽ không phải bị hủy bỏ đi mà trái lại sẽ tìm được sự viên mãn của nó: hiện nay Đền thờ chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, khi đó sự hiện diện đó sẽ được thực hiện tràn đầy đến mức tối đa! Khi đó không phải chỉ thờ Chúa một nơi, một số thời gian nữa, mà khi đó tất cả mọi sự sẽ luôn luôn trở thành phụng thờ Chúa.

Áp dụng cụ thể:
+ Thành Giêrusalem được diễn tả đó là Giáo hội trên trời. Nhưng Giáo hội hiện nay đóng vai hình ảnh phản chiếu sự thật trên trời đó. Bổn phận của chúng ta là làm sao cho hình ảnh đó càng ngày càng sáng tỏ để hướng dẫn muôn dân đến Giêrusalem trên trời. Những dấu chỉ cần phải làm sáng tỏ hơn: Sự hiện diện của Chúa trong Giáo hội, nền tảng vững chắc của Giáo hội, tính cách phổ quát của Giáo hội.

+ Đáng lẽ Giêrusalem mới phải có cái gì khác lạ hoàn toàn với những cái hiện nay vậy mà chúng ta thấy Giêrusalem mới được diễn tả như sự tiếp nối của những thực tại hiện nay: 12 chi họ Isrsel, 12 tông đồ. Chúng ta đừng thất vọng vì những yếu đuối, hư hèn của chúng ta, chính những bất hoàn hảo đó cũng được kêu gọi hiến thánh để tiếp nối trong thực tại muôn đời ( Jo 14,15-21).

+ Đoạn văn của chúng ta nằm trong bài từ giả I của Chúa Giêsu (13,31-14,31). Đề tài chính của bài từ giã này là sự ra đi và sự trở về của Chúa Giêsu. Người ra đi chịu nạn chịu chết. Nhưng ra đi này cũng là trở về với Chúa Cha: Người tôn vinh Chúa Cha và Chúa Con qua cái chết của Người. Nơi Chúa Giêsu, Người trở nên con đường dẫn tới Chúa Cha, Người trở nên Đấng mạc khải Chúa Cha. Sự trở về với Chúa Cha này cũng là sự trở về với các môn đệ không phải chỉ dưới hình thức Chúa Thánh Thần mà Người hứa ban, cũng không phải chỉ khi Người trở lại đem họ về trong vinh quang, mà Người sẽ trở lại với họ liền đây, một ít nữa, họ sẽ thấy Người, Người sẽ tỏ mình ra cho họ, Người và Chúa Cha sẽ đến với họ. Đoạn văn của Chúa ta là phần chót của bài từ giã này

+ Chúng ta có thể chia bài này làm 3 phần, nói về 3 cách tỏ hiện của Thiên Chúa:
1. Chúa Thánh Thần được ban cho chúng ta (15-17).
2. Chúa Giêsu trở lại với các môn đệ (18-20) qua những lần hiện ra.
3. Chúa Giêsu tỏ mình ra và cùng với Chúa Cha đến ở trong chúng ta. (21-24).

+ Những người được Chúa tỏ hiện cho làm môn đệ, những người thương mến và giữ các giới răn Chúa. Họ được đặt đứng đối lập với thế gian, hiểu theo nghĩa những người không chịu đón nhận ơn cứu chuộc của Chúa. Những người này, nếu muốn được Chúa tỏ hiện, phải từ bỏ thế gian. Cắt nghĩa chi tiết:

- Một Đấng phù trợ khác. Paraclitus có nghĩa là trạng sư, giúp đỡ, bênh vực. Chúa Giêsu luôn luôn sống để cầu bầu cho chúng ta bằng những lời than khôn tả (Rm8, 26). Như thế chúng ta có hai Đấng phù trợ.

- Thần chân lý. Chúa Thánh Thần sẽ giúp cho các môn đệ hiểu sự sống của Chúa Giêsu và sứ điệp của Người. Sẽ làm cho họ vững mạnh trước những tấn công của thế gian và hướng dẫn chứng tá của các môn đệ: Người sẽ biện bác sự gian ác của thế gian đã từ chối Chúa Giêsu. Kết luận:  Thời của Giáo hội, nghĩa là thời của chúng ta đang sống. Chúa Giêsu vẫn có mặt với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Sự có mặt này được thực hiện cho bất cứ những ai tự mở lòng với Chúa Ba Ngôi. Sự có mặt này có nghĩa là kết hiệp, thông ban. Sự có mặt này còn hiệu quả hơn sự có mặt của Chúa Giêsu lúc Người còn ở thế gian này, bởi vì Người có mặt với tư cách Chúa Phục sinh. Người ban Thánh Thần cho chúng ta, làm cho chúng ta đến thông chia sự sống với Chúa Cha- một sự có mặt huyền nhiệm đã tiếp nối và thay thế cho sự có mặt lịch sử. Chúng ta không có lý do gì để ân hận vì mình không sống cùng thời với Chúa Giêsu lịch sử.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle