|
|
HỌC HỎI KINH THÁNH CHÚA NHẬT THÁNH GIA THẤT Giáo hội đặt lễ Thánh gia liền sau lễ giáng sinh một phần là để cho chúng ta thấy Chúa Giêsu xuống thế làm người, đã muốn có một cuộc sống y như tất cả mọi người khác: có quê hương xứ sở, có gia đình, một phần nữa là muốn chúng ta nhìn gương của hai người gần gũi Chúa Giêsu nhầt là Mẹ Maria và Thánh Giuse người đã được phước đón nhận Chúa Giêsu trong đời sống chúng ta. Chúng ta phải đối xử với nhau thế nào cho phải lẽ, cho xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu. Từ tình thương, mối dây liên hệ giữa chúng ta với Chúa Giêsu sẽ đưa đến tình thương, dây liên hệ giữa chúng ta với nhau trong đại gia đình Giáo hội. BÀI ĐỌC I. Sir. 3, 3-7. 14- 17a Đàng khác chúng ta thấy câu chuyện của ông Giacóp và những việc chúc lành chúc dữ của ông, có ảnh hưởng rất nhiều đối với đoạn văn của tác giả: hiếu thảo thì được cha mẹ chúc lành, mà được cha mẹ chúc lành là được Chúa chúc lành. + Câu 3: “Thiên Chúa suy tôn người cha trong con cái, cũng có quyền lợi của bà mẹ trên đàn con”. Chúng ta thấy có thể hiểu tương đương như nói: Thiên Chúa đã sắp đặt để cha mẹ tìm thấy vinh quang của mình nơi con cái, còn mẹ già khi gối mỏi chân chùng thì nhờ vào đàn con, hoặc hưởng phần gia tài tuy theo số con cái đông hay ít như câu chuyện bà Anna mẹ ông Samuel. Nhưng dịch giả đoạn văn này trong Bible Jérusalem chú thích: “Thiên Chúa suy tôn…” bằng cách công bố bổn phận thảo kính cha mẹ. Ex 20, 12; Deut,16; 27, 16 + Câu 7: bản tiếng Hy lạp: Ai vâng lời Chúa thì làm vui lòng mẹ. Bản dịch phụng vụ theo bản Vulgata nên dịch: ai vâng lời cha sẽ làm vui lòng mẹ. + Câu 16: theo bản tiếng Latinh: “ Nam pro peccato matris restituetur tibi bonum”, nhưng trong “Ordo lectiorum” thì bảo rõ phải hiểu câu đó theo bản Hy lạp. Là bản Hy lạp để thế này:15. Một việc bác ái làm với người cha sẽ không bị quên lãng, và sẽ được kể như một việc đền bù tội lỗi cho ngươi. Không biết bản dịch Phụng vụ dịch theo ai mà lại để: của biếu cho mẹ sẽ đền bù tội lỗi. ÁP DỤNG CỤ THỂ. + Chúa dạy chúng ta: trật tự gia đình là trật tự Chúathiết lập. Ai kính sợ Chúa, thì phải tôn kính cha mẹ. Thành thử chúng ta không thể nói: quyền của cha mẹ, sự dạy dỗ của cha mẹ là chuyện lỗi thời, là khuôn khổ của xã hội phong kiến còn sót lại, để mượn chiêu bài giải phóng con cái mà lật đổ nền tảng gia đình do Chúa thiết lập. Đó là chúng ta đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa, Đấng không bao giờ lỗi thời. + Kinh thánh cho thấy việc thảo kính cha mẹ nhiều lúc cũng cực khổ, nặng nề, nhất là khi cha mẹ già yếu không còn làm nổi hoặc không sinh ích lợi cho con cái, hoặc trí khôn mờ kém. Do đó mới gọi việc thảo kính là việc đền bù tội lỗi là việc đáng hưởng. Chớ nếu cha mẹ còn nuôi nấng chúng ta hoặc còn cho tiền cho bạc, chắc gì việc thảo kính là không vụ lợi? Cũng như giá trị đức vâng lời của chúng ta chỉ được tỏ hiện khi bề trên dạy điều không hợp ý với chúng ta; sự kính nể của chúng ta đối với các linh mục hết khả năng hoặc không còn trách nhiệm mục vụ mới là sự kính nể siêu nhiên hoàn toàn. BÀI ĐỌC II. Col 3, 12- 21. + Những nhân đức mà thánh Phaolô đề ra, mới xem qua, chúng ta nghĩ rằng đó là một số nhân đức cần thiết cho liên lạc hằng ngày với nhau mà thánh Phaolô lấy làm ví dụ. Nhưng nhìn kỹ lại, chúng ta thấy đó là những nhân đức, những tâm tình mà Kinh thánh hầu như chỉ dành riêng cho Thiên Chúa: từ bi, nhân hậu, dịu hiền, nhẫn nại. Điều này giúp chúng ta phăng ra giềng mối của lý luận hết sức chặt chẽ của thánh Phaolô. Đức bác ái như bao gồm tất cả các nhân đức khác, hoặc các nhân đức khác là cách thể hiện cụ thể của nhân đức bác ái. Mà đức bác ái của người Kitô hữu đây không phải là một tâm tình nhân loại, cũng không phải là chuyện biết cách ăn ở đời nhân đạo của người phàm, mà đây là một sự trình diễn lại đức bác ái của Thiên Chúa. Đây là một ơn Chúa ban cho chúng ta để chúng ta có thể sống chính đường lối, cách thức của Thiên Chúa. Đức bác ái đây như một hột giống của đời sống Thiên Chúa được gieo vào trong chúng ta, chúng ta làm cho nó lớn lên, nẩy nở trong đời sống chúng ta, để đời sống rập khuôn theo đời sống của Thiên Chúa. Mà đó chính là một áp dụng cụ thể của nguyên tắc đã nêu trên: chịu phép rửa là chết cho con người cũ để mặc lấy con người mới là chính Chúa Kitô. Chúng ta thử lấy một nhân đức cụ thể để làm thí dụ: sự tha thứ. Thiên Chúa đã tha thứ cho anh em, anh em cũng hãy tha thứ như vậy cho nhau: Không phải chỉ có nghĩa là chúng ta đã nhận sự tha thứ, bây giờ hãy cho lại. Mà thánh Phaolô muốn đặt chúng ta “về” nguồn của sự tha thứ của người Kitô hữu: qua cái chết và sự sống lại, Chúa Kitô đã trở thành hiện thân của sự tha thứ của Thiên Chúa đối với chúng ta. Bởi vì Thiên Chúa đã muốn đặt nơi Người tất cả sự sung mãn và nhờ Người giao hòa tất cả mọi vật về với Người, thực hiện giao hòa đó trong máu của thập giá Người (Col 1, 19-20). Qua phép rửa tội, chúng ta được liên kết với sự giao hòa này, liên kết với sự tha thứ của Thiên Chúa. Trở thành một thân thể với Người, chúng ta trở thành những người tiếp nối hành động tha thứ cứu chuộc này. Thành thử nếu như chúng ta có tha thứ, không phải là vì chúng ta theo một lối sống nhứt định nào đó, mà là chúng ta thực hiện lại chính động tác tha thứ nguyên thủy của Thiên Chúa. Thánh Phaolô còn đi hơn điều đã được nói trong Phúc âm: chúng ta phải tha thứ vì đã được tha thứ. Chúng ta được gia nhập vào cộng đoàn của Thiên Chúa thứ tha, thì chúng ta được đặc ân sống theo lề lối của cộng đoàn đó. Thành thử, nói tóm lại, đặc điểm của đời sống luân lý công giáo là làm quen với những cách thức của Chúa, thực hiện lại những cách thức đó, tiếp nối những cách thức đó với anh em chúng ta. ÁP DỤNG CỤ THỂ. + Chúng ta phải tha thứ như Chúa đã tha thứ: không phải chỉ bằng lời nói, chỉ bỏ qua, mà Chúa tìm đến với chúng ta, thương yêu chúng ta hết lòng, ban cho chúng ta tất cả, đến cả con người của chính Chúa, Chúa tha thứ chúng ta đến nỗi, Chúa chẳng những không còn nhớ gì hết về lỗi đã qua, mà còn cho chúng ta dịp tốt để làm lại cuộc đời. PHÚC ÂM. Mt 2, 13-15, 19- 23. + Tư tưởng nổi bật nhất trong đoạn Phúc âm này là Chúa Giêsu đến để thực hiện những gì Thiên Chúa đã báo trước trong Cựu ước về Đấng Cứu thế. Do đó mà trong các câu chuyện tác giả chỉ giữ lại những chi tiết nào thật cần thiết để chứng minh điều đó thôi. + Tư tưởng rõ rệt thứ hai: cho dầu người ta có gian ác, có tìm cách cản trở, chương trình của Chúa định trước vẫn thực hiện trọn vẹn. Mà còn hơn như vậy nữa: Chúa dùng chính sự ngăn trở của loài người để thực hiện chương trình của Chúa: thật là dùng giáo giặc để diệt giặc. Câu chuyện của Hêrôđê tìm giết Chúa, chẳng những không cản trở mà Chúa còn dùng nó để thực hiện điều Kinh thánh báo trước. ÁP DỤNG CỤ THỂ. + Dù bao nhiêu thử thách. Giuse không than vãn và luôn mau mắn thực hiện thánh ý Chúa, được tỏ hiện qua việc Thiên thần mách bảo. Chúa vẫn còn sai Thiên thần mách bảo chúng ta, nhưng Thiên thần mặc áo hoàn cảnh, mặc áo quyền giáo huấn trong Giáo hội, mặc áo anh em chúng ta, nếu chúng ta muốn nghe lời Chúa, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra tiếng Chúa ngay.
+ Tuy xét về địa vị trước mặt Chúa, và trong chương trình cứu chuộc. Giuse là người nhỏ nhất trong nhà, nhưng xét về quyền hành thì Giuse là người chatrong gia đình. Nên tất cả mọi mệnh lệnh là qua Giuse, rồi Giuse quyết định. Tánh mạng của Chúa Giêsu và Mẹ Maria được trao phó cho Giuse! Mẹ Maria và Chúa Giêsu tuân phục người. Nhưng đồng thời Giuse cũng không hành quyền để bắt người khác phục vụ mình, mà trái lại, cực nhọc, lặn lội để phục vụ gia đình, như phục vụ cho “Chúa” của mình. Hình ảnh người cha lý tưởng. |
|
|
|||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tamle |