Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

HỌC HỎI KINH THÁNH
Bài dạy của Cha Tổng Đại Diện Phaolô Lưu Văn Kiệu

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG

Với Chúa nhật thứ ba mùaVọng. Giáo hội muốn nhắc chúng ta lễ Giáng sinh đã gần đến. Mà lễ Giáng sinh là lễ nhắc lại việc Chúa xuống thế gian bắt đầu thực hiện ơn cứu rỗi mà Chúa đã hứa cho nhân loại từ sau khi Adong phạm tội và nhân loại qua bao thế hệ hằng ngong ngóng đợi trông.

Bài đọc I cho thấy Chúa dạy dân Do thái phải chờ đón ơn cứu rỗi của Chúa thế nào, qua kinh nghiệm họ bị lưu đày và chờ đợi ngày giải phóng. Trong bài Phúc âm thánh Gioan và các môn đệ nói lên niềm trông ngóng của mình và được Chúa Giêsu bằng những dấu chỉ hiện thực, cho biết là ơn cứu rỗi đã bắt đầu.Trong bài đọc II, thánh Giacôbê hướng chúng ta đến ngày Chúa đến cuối đời và kêu gọi chúng ta hãy kiên tâm chờ đợi như các tiên tri trong Cựu ước.

BÀI ĐỌC I: Is 35, 1-6a. 10.
+ Lưu ý về Bản dịch trong sách bài đọc. Dịch không đúng hay vì in sai làm không thể hiểu được các câu đầu:
1. “Sa mạc và đất cằn cỗi sẽ được vui mừng
Đất hoang vắng sẽ hân hoan và trổ bông.
2. Như cây huệ nó sẽ trổ bông sum suê
nó sẽ nhảy mừng và cất tiếng (hát vang). Vinh quang của Libăng đã được ban tặng cho nó (Sa mạc hoặc đất Canaan chớ không phải Isaia) Với vẻ huy hoàng của Carmel và của Saron: Chúng sẽ nhìn thấy Vinh quang của Thiên Chúa, và vẻ huy hoàng của Chúa chúng ta.”

+ Trong cảnh lưu đày, Isaia trình bày cho dân Chúa viễn tượng ngày Chúa sẽ dắt dân Chúatrở về đất hứa. Có nhiều đường về nhưng con đường ngắn nhất là đi thẳng qua sa mạc xứ Syrie. Con đường đó người thường không ai dám đi hoặc không ai vượt qua được, nhưng để chứng tỏ quyền năng của mình và lòng ưu ái đặc biệt đối với Israel, Chúa đã ra lệnh bạc đồi lấp hố (40,3) để mở một đại lộ (35,8) băng qua giữa sa mạc. Nhưng đây không phải là một chuyến trở về ê chề mệt mỏi, mà là một cuộc khải hoàn: sau thời gian sửa phạt, Chúa muốn chứng tỏ cho mọi người thấy rằng lòng Chúa vẫn còn yêu thương dân Chúa như trước và có lẽ còn gia tăng. Do đó Chúa biến sa mạc nơi khô cằn hoang vắng khi xưa, thành nơi phì nhiêu sung túc, đường về của Israel đầy hoa thơm, cây trái và nước uống. Người ta sẽ nghe vang trong sa mạc tiếng reo vui hát mừng của dân Chúa.

+ Sa mạc, nơi khô cằn, đất hoang vắng cũng còn có thể hiểu là đất Canaan bị bỏ hoang không người canh tác lúc dân Israel bị bắt đi đày, nay sẽ được Chúa cho sung túc phì nhiêu trở lại để đón dân Chúa trở về. Những hình ảnh để diễn tả sự sung túc phì nhiêu đó: Libăng, danh tiếng với những cây quí dùng trong việc xây cất như cây hương nam (cèdzes); Saron với những cánh đồng màu mỡ; Carmel với thảo mộc sum suê: đối với dân Do thái là những vùng đất tượng trưng cho sự đẹp đẽ và thịnh vượng.

+”Chính chúng sẽ nhìn thấy…”. Chúng đây là những người Do thái được Chúa dắt về hoặc các dân các nước, sẽ thấy vinh quang Chúa ban cho dân Chúa còn hơn vinh quang, huy hoàng thiên nhiên của các miền phì nhiêu sung túc.

+”Hãy làm cho mạnh mẽ”. Đây là những lời hướng về những sứ giả đi báo tin mừng giải thoát cho những kẻ bị lưu đày. Tin mừng đó phải được báo trước hết cho những kẻ mòn mõi rã rời không còn hy vọng nữa (3) Tin mừng này là tin mừng trọn vẹn, không phải chỉ trốn thoát được cảnh lưu đày mà thôi mà Chúa sẽ trừng phạt kẻ thù và cứu dân của Người (vì đây Thiên Chúa các ngươi, đây sự báo thù, đây ngày Chúa phục hận. Chính Người thân chinh đến cứu các ngươi (bản dịch PV hơi yếu!). Những người mù, điếc, què tượng trưng cho những người bất hạnh nhứt trong những kẻ lưu đày (bị đày còn thêm tàn tật), họ là những người đầu tiên được hưởng sự vui mừng giải thoát: thoát khỏi tù ngục vật chất của tàn tật là dấu diễn tả sự giải thoát quan trọng hơn của tinh thần. Trong Phúc âm Matthêu, Chúa Giêsu hướng chúng ta đến đoạn này khi trả lời với các môn đệ của Gioan: “kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ điếc được nghe, người nghèo được rao giảng Tin mừng” (Mt II,5)

ÁP DỤNG CỤ THỂ.
+ Sự giải thoát từ cảnh lưu đày được Isaia diễn tả ở đây dưới hình ảnh của việc Xuất hành của thời Môisen, để rồi tới phiên nó làm hình ảnh báo trước cho việc Chúa Giêsu đến giải thoát cho nhân loại khỏi ách tội lỗi. Ba cuộc giải thoát nối tiếp nhau để dọn đường cho nhau. Qua sự kiện đó, chúng ta nhận thấy: Chúa yêu thương chúng ta bằng tình yêu hết sức sâu xa, nhẫn nại chuẩn bị từ bao thế hệ để khi ơn cứu rỗi đến chúng ta có thể dễ dàng nhận được qua bao hình ảnh báo trước, tế nhị trong việc dùng những hình ảnh trần thế, vừa tầm hiểu biết chúng ta để cho chúng ta có thể hiểu ơn cứu rỗi của Người, để có thể có những tâm tình vui mừng đón nhận xứng hợp.

+ Chúng ta thử hình dung tin mừng giải thoát đến với những người lưu đày sẽ được đón tiếp thế nào. Chúng ta có những hình ảnh về những kẻ bị tù đày trông chờ ngày giải thoát tuy nhỏ bé nhưng gần chúng ta hơn. Vậy mà trước Tin Mừng chúng ta được Chúa giải thoát khỏi ách tù đày đời đời, chúng ta lại tỏ ra lạnh nhạt thờ ơ. Mỗi khi tôi đi xưng tội tôi có tâm tình nào? Khi tôi giơ tay tha tội cho người khác, khi tôi giảng đạo, tôi có tâm tình như người loan báo ngày giải thoát cho những kẻ lưu đày không?

+ Giáo Hội thật là con đường đầy hoa trái xanh tươi dẫn đưa đoàn người từ xứ đày ải của trần thế này về quê thật trên trời. Giáo hội cũng là con đường thẳng nhất, gần nhất mà Chúa ra lệnh mở trên sa mạc hoang vắng của vương quốc tội lỗi. Nhưng nếu chúng ta đọc tiếp câu 8-9 của chương 35 này chúng ta sẽ thấy lời cảnh giác: ”Con đường đó là con đường Thánh, người nhơ bẩn không được đi qua đó, những kẻ dại khờ không được lần mò vào đó, chỉ có những người được cứu chuộc được qua đó mà thôi”. Chúng ta phải sống cách nào để có tư cách đi vào con đường của những người được cứu chuộc?

+ Tin mừng giải thoát thể hiện bằng việc chữa lành các bệnh tật phần xác thường được coi như là bất trị: đui, điếc, què. Ước gì Tin Mừng Chúa đến trong thế gian vào dịp Giáng sinh chữa chúng ta khỏi những bệnh hoạn linh hồn, nhất là những chứng bệnh thâm căn, thói quen xấu khó sửa thường ngày. Việc Giáo hội kêu gọi ăn năn sám hối, chịu các phép Bí tích, làm việc bác ái nhân dịp Giáng sinh là có ý đó.

+ Những người bất hạnh nhất lại được rao báo tin mừng và hưởng ơn giải thoát trước nhất. Chúa Giêsu cũng dành ưu tiên cho người nghèo khó, tội lỗi. Nếu chúng ta biết nhìn nhận mình là những người nghèo khó, tội lỗi, đói khát ơn cứu rỗi, chúng ta mới được hưởng ơn giải thoát. “Ta không đến để kêu gọi người công chính nhưng để kêu gọi người tội lỗi.”

+ Ý chính của tác giả phụng vụ hôm nay là kêu gọi chúng ta từ cuộc sống gian khổ hiện nay hãy ngước nhìn về ngày Chúa trở lại giải thoát chúng ta như dân Do thái giữa cảnh lưu đày, được Isaia kêu gọi nhìn viễn tượng Chúa đến cứu họ. Niềm hy vọng đó đã làm cho họ kiên tâm chờ đợi, cũng sẽ làm cho chúng ta mạnh dạn lướt thắng những khó khăn hiện tại, nhất là khi những hồng ân của sự giải thoát đối với chúng ta không phải là chuyện tương lai nữa mà đã bắt đầu được ban bố cho chúng ta rồi.

+ Đối với những kẻ thất vọng trước tội lỗi của mình, cảm thấy mình bất lực, không thể tự mình thoát khỏi áp lực của ma quỉ thế gian, tiên tri Isaia bảo: “Hãy can đảm lên chính Người đến cứu các ngươi”. Khi Người đến, Người sẽ ban sức mạnh cho những gối rã rời, những bàn tay mỏi mệt. Người sẽ cứu chữa các bệnh tật, băng bó mọi vết thương của tội lội và dẫn đến ơn cứu độ.

BÀI ĐỌC II. Jac 5,7-10
+ Lời thánh Giacôbê kêu gọi phải bền chí chịu đựng thử thách có thể chia làm 3 phần:
7-8: Theo gương người làm ruộng nhẫn nại chờ đợi mưa để làm mùa.
9: Viễn ảnh quan tòa phán xét làm chúng ta nhẫn nại chịu đựng lẫn nhau.
10: Noi gương các tiên tri chịu đau khổ vì trung thành với Chúa.

+ Thánh Giacôbê lấy việc Chúa sắp trở lại để làm nền tảng để cho chúng ta kiên tâm chịu đựng; Chúa sẽ thay đổi cục diện, xét xử công minh. Việc xét xử này coi như gần kề. Ba hình ảnh để khuyến giục chúng ta: Người làm ruộng kiên tâm chờ đợi vì biết chắc sau khi gieo thế nào cũng gặt. Nhìn Chúa như vị quan tòa sẽ xét xử công minh làm chúng ta ráng chịu đựng khoan hồng với nhau để được khoan hồng. Một cái nhìn thứ ba nữa để chúng ta kiên tâm chịu đựng; nếu chúng ta sống theo Chúa, thì chắc chắn thế gian bắt bớ chúng ta. Các Tiên tri nói lên đường lối Chúa thì người ta đã bắt bớ các tiên tri (Mt 5,11). Nhưng phần thưởng của chúng ta sẽ bội hậu.

ÁP DỤNG CỤ THỂ:
Mùa vọng là mùa chờ đợi. Từ việc nhắc lại các tiên tri chờ đợi Chúa Cứu thế, đi đến việc chúng ta hiện chờ Chúa trở lại để phán xét ngày sau hết. Sự chờ đợi của Cựu ước dựa trên nền tảng những lời Chúa hứa. Sự chờ đợi của chúng ta dựa trên công cuộc cứu chuộc Chúa đã thực hiện nơi chúng ta như hột giống đã gieo xuống đất. Chúng ta càng có lý do kiên nhẫn chịu đựng hơn Cựu ước vì chúng ta ở phần cuối của mùa, khi hột giống sắp sinh hoa kết quả.

PHÚC ÂM Mt 11,2-11
+ Chú ý:
Bản in trong sách PV thiếu câu 10b: Vì có lời chép về ông rằng: “Này Ta sai sứ giả Ta đi trước ngươi để dọn đường cho ngươi”.
+ Dàn bài của câu chuyện hôm nay rất rõ ràng:
- C.2-3 Thánh Gioan từ trong ngục sai môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu.
- C.4-6 Chúa Giêsu trả lời bằng cách nêu lên những dấu chỉ.
- C.7-11 Chúa Giêsu nói về Gioan. Nhưng có nhiều vấn đề hơi rắc rối: Gioan không biết Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế thật hay vì ý nào mà sai các môn đệ đến hỏi Chúa? Chúa Giêsu có vẻ tránh câu trả lời thẳng nhưng trong thực tế có trả lời cho Gioan không? Trong câu chuyện nói về Gioan, Chúa Giêsu có vẻ đề cao Gioan, nhưng tại sao lại nói: Kẻ nhỏ nhất trong nước Trời lại lớn hơn Gioan?

+ Vua Hêrôđê cả, nhà vua ra lệnh giết các Thánh Anh hài, có nhiều vợ. Vua Hêrôđê bắt Gioan bỏ ngục đây là Hêrôđê Antipas con của vua Hêrôđê cả và là anh em một cha khác mẹ với Philipphê, chồng bà Hêrôđiađê. Philipphê này không phải là Philipphê vua xứ Tracônitiđô (Lc 3,1) mà chỉ là một hoàng tử thường không chức tước đất đai. Hêrôđiađê đàng khác là con của Aristôbule và là cháu nội của vua Hêrôđê cả. Nên kêu Philipphê bằng chú và kêu Hêrôđê Antipas cũng bằng chú, có lẽ bà ta chê chú Philipphê không quyền tước nên bỏ theo vua Hêrôđê Antipas.

Tội nặng nhất của Hêrôđê Antipas không phải là cưới cháu mà là cướp vợ của anh mình khi anh ta còn sống và đồng thời rẫy bỏ vợ trước của mình. Gioan đã thẳng thắn công kích việc đó nên nhà vua bắt nhốt ông ta để bịt miệng. Dầu vậy nhà vua vẫn kính nễ ông và cho môn đệ dễ dàng tới thăm nom. Do đó ông mới nghe biết về Chúa Giêsu và sai các môn đệ đi hỏi.

+ Nhiều người căn cứ trên việc thánh Gioan đã nhận ra Chúa Giêsu khi Người đến chịu phép Rửa và nhất là căn cứ trên Gioan đoạn 1,35-40 bảo rằng câu hỏi đó là câu hỏi của các môn đệ và thánh Gioan muốn họ được chính Chúa Giêsu trả lời, nên mới sai họ đến với Chúa Giêsu, còn chính Gioan thì không thể nghi ngờ chút nào về thân thế Chúa được. Nhưng nhiều người khác nghĩ rằng đó là câu hỏi thật sự của Gioan. Phần thì ở trong tù, chỉ nghe về việc Chúa làm mà không biết phải hiểu thế nào, phần thì, như Phúc Âm Matthêu cho thấy, Gioan vì quan niệm đặc biệt của mình về Đấng Cứu thế có lẽ đang chờ Chúa Giêsu thực hiện những công cuộc khác hơn ví dụ dùng uy quyền mà xét xử, sửa phạt những kẻ nghịch thù. Như người chủ vườn cầm rìu đến cây không sinh trái, người chủ ruộng vê lúa cho sạch và bỏ rơm rác vào lửa… “Người là Đấng sẽ thanh tẩy trong Thánh Thần và lửa”. Đang khi đó thì Chúa Giêsu lại tỏ mình ra là một người hiền lành khiêm nhượng. Đàng khác theo lời các tiên tri báo trước, thì một trong những việc đầu tay của Đấng Cứu thế là giải thoát những kẻ bị giam cầm, nhứt là bị giam cầm vì đức tin. Vậy mà giờ đây chính Gioan vẫn còn đang bị giam cầm trong ngục thất. Vậy ông này là ai, ông có phải là Đấng Cứu thế chưa?

+ Câu trả lời của Chúa Giêsu, chúng ta có thể xét nhiều khía cạnh:

- Gioan đã nghe biết các phép lạ của Chúa Giêsu từ trong ngục, mới sai các môn đệ đi hỏi Chúa. Bây giờ Chúa Giêsu lại biểu các môn đệ về thuật lại cho Gioan những phép lạ đó! Ích lợi gì? Thật ra, theo quan niệm thời đó, người có quyền làm phép lạ chưa hẳn đã là Đấng Cứu thế, do đó mà Gioan khi nghe các phép lạ, chưa dám quyết chắc Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế. Đàng khác trong câu trả lời của Chúa Giêsu, Chúa dùng chính kiểu nói, những từ ngữ mà các tiên tri khi xưa dùng để báo trước về Đấng Cứu thế (xem Is. 26,19;29,18;35,5;61,1) . Như vậy Gioan sẽ nhận thấy ngay rằng Chúa Giêsu là người thực hiện những lời tiên tri về Đấng Cứu thế. Nói tóm: Gioan nghe từng phép lạ lẻ tẻ, không cắt nghĩa được, Chúa Giêsu gom lại thành một khối và chỉ ý nghĩa nó cho Gioan.

- Chúa Giêsu có thể trả lời cách đơn sơ rằng: “Ta là Đấng Cứu thế”. Nhưng Chúa không muốn dùng uy tín mình mà buộc người ta tin theo, trái lại Chúa muốn Gioan suy nghĩ dựa trên những điều mà môn đệ của Người nghe, thấy và rồi tự quyết định. Đó là Chúa muốn Gioan đi đến đức tin thật sự có nền tảng hữu lý: việc làm, lời nói của Chúa làm chứng cho Chúa.

- Nhứt là Chúa Giêsu muốn kêu gọi Gioan thay đổi quan niệm của mình về Đấng Cứu thế: thay vì là một vị thẩm phán chí công, nghiêm khắc, trừng phạt… Chúa Giêsu tỏ ra mình là Đấng Cứu thế khiêm tốn, phục vụ người khác, mang các ơn lành của Chúa cho nhân loại. Chúa Giêsu biết đường lối của Chúa quá khác với điều Gioan nghĩ, chắc là Gioan khó chấp nhận lắm, nên Chúa Giêsu nhắn một câu cuối cùng với Gioan: “Phước cho kẻ không vấp ngã vì Ta”. Phước cho kẻ có thể hiểu, có thể nhận ra đường lối của Ta và không lấy làm khó chịu vì Ta.

+ Câu chuyện của Chúa Giêsu nói về Gioan gồm 3 câu hỏi; hai câu hỏi đầu là những câu hỏi thuộc loại để người ta trả lời: ”không”; câu hỏi thứ ba thuộc loại để người ta trả lời:”đúng vậy và còn hơn thế nữa”. Cả 3 câu nhằm diễn tả 3 khía cạnh của con người Gioan.

- “Các ngươi đi vào sa mạc để xem gì?” Tại sao vào sa mạc? Vì Gioan đã tự định nghĩa mình là “Tiếng kêu trong sa mạc” nên muốn gặp Gioan phải vào sa mạc.

- “Xem cây sậy nghiêng ngã trước gió chăng?” Không, cây sậy nghiêng ngã có gì đáng xem. Nhưng cây sậy yếu ớt là hình ảnh đối ngược làm nổi bật sự cứng rắn, bất khuất của Gioan, một con người ý thức về sú mạng thần thiêng của mình và được ơn Chúa Thánh Thần hỗ trợ, không cúi mình khuất phục trước bất cứ quyền thế nào, trước bất cứ ai, đó là đặc điểm thứ nhứt của Gioan.

-“Xem người ta ăn mặc sang trọng chăng?”.Đây là điểm đối ngược thứ hai làm nổi bật tính chất khắc khổ của Gioan, mặc áo da lạc đà, ăn châu chấu, uống mật ong rừng.

- “Xem một tiên tri chăng?”. “Đúng là một tiên tri và còn hơn là một vị tiên tri nữa”. Đây là vị tiên tri cuối cùng nói theo truyền thống các tiên tri qua các thời đại nói về Đấng Cứu thế. Nhưng Gioan là người gần Chúa Giêsu hơn hết, là sứ giả dọn đường, là Đấng tiền hô, trên phương diện đó thì ông cao cả hơn các tiên tri là những kẻ đứng xa mà nhìn về Chúa. Gioan là người đứng gần Chúa nhứt, nên từ trước tới giờ, trong con cái loài người không ai bằng ông ta. Nhưng dù sao Gioan cũng là người thuộc “thế hệ trông chờ Đấng Cứu thế”, nên dầu ông ta lớn nhứt trong thế hệ đó, ông ta cũng không bằng kẻ thấp nhứt trong thế hệ mới là “thế hệ của Đấng Cứu thế”. Đây không phải là so sánh giữa sự thánh thiện cá nhân của Gioan và của kẻ bé nhỏ trong nước Trời, mà là so sánh hai thế hệ, hai trật tự, trật tự mới trỗi vượt hơn trật tự cũ, trật tự của Gioan là trật tự lời hứa trông chờ, trật tự của Chúa Giêsu là trật tự thực hiện, trật tự quyết định.

ÁP DỤNG CỤ THỂ.
- Lễ Giáng sinh nhắc cho chúng ta là Chúa Cứu thế đã đến trong thế gian và chỉ có mình Người là Đấng mang lại sự sống cho thế gian, chúng ta không phải chờ một ai khác nữa. Mỗi khi chúng tin vào quyền lực trần thế để thay đổi bộ mặt thế gian đó là gián tiếp chúng ta tin rằng còn phải chờ Đấng Cứu thế khác. Mỗi khi chúng ta tin vào quyền lực của ma quỉ, ví dụ: trong việc cầu cơ, bói toán, đó là chúng ta tin rằng ma quỉ là Đấng Cứu thế của chúng ta.

- Chúa kêu gọi chúng ta cũng như đã kêu gọi Gioan, phải thay đổi quan niệm của chúng ta về Chúa. Chúng ta thích hình dung Chúa như vị thẩm phán công bình, sát phạt người gian ác, báo oán trả thù những bất công. Nhưng Chúa Giêsu đến như một người tôi tớ khiêm nhượng phục vụ cho hết mọi người, mang các hồng ân Chúa cho mọi người. Điều khó nhất đối với chúng ta không phải là tin, chấp nhận Chúa Giêsu như vậy mà là phải bắt chước, theo gương Chúa Giêsu sống như vậy với mọi người. Lễ Giáng sinh nhắc chúng ta phải trải bầu không khí hòa bình quanh chúng ta

- Chúa đã cho người mù được thấy, xin cho chúng con nhận được ánh sáng của Chúa, không còn quờ quạng trong tối tăm, cho chúng con thấy đường lối Chúa cách rõ ràng. Chúa đã cho kẻ què được đi ngay thẳng, xin cho chúng con đừng vấp ngã vì tội lỗi, đừng bước quanh co mà cứ thẳng lối trong con đường các giới răn Chúa.

Chúa đã cho kẻ phong cùi được lành mạnh, xin tẩy xóa các ung nhọt làm hôi thúi tâm hồn con nhất là các tội nghịch đức trong sạch. Chúa đã cho kẻ điếc được nghe, xin cho con nghe tiếng Chúa dạy bảo chúng con qua Giáo hội, qua các biến cố hằng ngày. Xin cho con đừng giả điếc làm ngơ trước đau khổ nghèo đói của anh em. Chúa đã cho người chết sống lại, xin cho chúng con biết nhờ phép giải tội sống lại với ơn nghĩa thánh Chúa. Chúa rao giảng Tin mừng cho người nghèo, xin cho chúng con có tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn mở rộng cửa lòng đón nhận ơn Chúa.

Chúa chúc phúc cho ai không vấp ngã vì Chúa, xin cho con lấy làm hãnh diện về đường lối yêu thương bác ái, phục vụ Chúa và đừng yếu lòng chạy theo những thắng lợi nhất thời của đường lối nghịch lại Chúa.

- Sứ mạng của người Kitô hữu giống như vị tiền hô: dọn lòng người ta để họ đón nhận Chúa. Và đồng thời người Kitô cũng được kêu gọi chịu đau khổ vì Đức tin như vị Tiền hô.

- Giáo hội tiếp tục công cuộc của Chúa Kitô: rao giảng Tin mừng cho chúng ta, những kẻ nghèo khó của Chúa Yahvê, băng bó chữa lành các vết thương tâm hồn và đồng thời cũng không quên qua việc bác ái, chăm sóc đến những khốn khổ vật chất của loài người.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle