Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

 



 

CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN
ĐI BƯỚC TRƯỚC
Mt 9, 36-10,8

Nơi nào có tình yêu, nơi đó phép mầu. Bởi lẽ, khi yêu nhau, chúng ta chỉ mong đem đến cho người mình yêu những điều tốt đẹp nhất, không phải để lấy lòng nhưng vì muốn làm cho người mình yêu được hạnh phúc và được vui. Một trong những dấu hiệu của người đang yêu là nôn nóng, chủ động và muốn đi bước trước trong việc mang lại những điều tốt đẹp nhất và niềm vui cho người mình yêu.

Sợi chỉ đỏ xuyên sốt các bài đọc trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay đều trình bày cho chúng ta thấy rõ tình yêu của Thiên Chúa dành cho Dân của Ngài qua việc Ngài chủ động và đi bước trước để đến với họ. Ngài như người mẹ luôn bận rộn với đứa con nhỏ của mình vậy. Ngài lập Giao ước với họ (bài đọc 1); Ngài lên kế hoạch cứu chuộc họ và tự nguyện chịu chết để cứu chuộc họ (bài đọc 2); Ngài chạnh lòng thương khi thấy họ bơ vơ như đoàn chiên không người chăn nên Ngài sai các tông đồ đến với họ nhằm đáp ứng các nhu cầu cấp thiết cho họ (Bài Tin mừng). Trong mọi sự, Thiên Chúa đều đi bước trước và chủ động thực hiện những điều tốt đẹp cho Dân Ngài. Lý do là chỉ vì Ngài yêu thương con người.

Có rất nhiều người ngoại thắc mắc là tại sao người Công Giáo lại đem con của mình để Rửa tội khi nó chưa biết gì. Tại sao không chờ cho đến khi nó lớn rồi tự nó xin được Rửa tội? Họ cho rằng hành động của những bậc cha mẹ như thế là không tôn trọng tự do của con cái mình. Nhưng đó chỉ là lập luận khiếm diện, một sự kết luận hàm hồ. Bởi lẽ, bổn phận của bậc làm cha mẹ là làm những gì tốt nhất có thể cho những đứa con của mình. Cũng như việc cha mẹ thấy con mình đói khát thì lo cho nó ăn uống, hay thấy đó lạnh thì lo mặc ấm cho nó vậy. Chắc rằng không người mẹ nào chờ đứa con chưa biết gì đòi ăn những món nó muốn thì mới cho ăn đâu! Trong đời sống đức tin cũng vậy. Cha mẹ thương con là làm những gì tốt nhất cho nó khi nó chưa có khả năng phân biệt và chọn lựa.

Logic của tình yêu thì rất khác với những logic thông thường, khác với những lý luận thông thường, đôi khi không thể lý luận bằng lời lẽ tự nhiên được. Vì đó là lời nói của con tim nên chỉ có thể nhận ra được bằng tình yêu mà thôi.

Trong Giao ước ở Núi Sinai, nếu theo lý luận tự nhiên thì chưa thể gọi đó Giao ước được. Bởi lẽ, Giao ước đúng nghĩa thì phải có sự thoả thuận của cả 2 bên. Nhưng trong Giao ước Sinai, chỉ một mình Thiên Chúa đơn phương thực thi những điều khoản trong đó. Làm như thế không phải là Thiên Chúa không tôn trọng tự do của con người nhưng vì Dân Chúa trong thời đó còn quá “non trẻ” chưa hiểu hết những điều tốt đẹp trong Giao ước đó, mà Thiên Chúa trong tư cách là người Cha nhân lành Ngài làm những điều cực kỳ tốt lành đó cho con của Ngài. Hay trong Giao ước mới, tại sao Thiên Chúa đòi Con Một của mình phải đổ máu ra để thực thi Giao ước đó mà Ngài phán một lời để tha thứ lỗi tội cho con người? Đâu là sáng kiến tình yêu của Thiên Chúa? Tất cả những câu hỏi trên đây không thể lý giải bằng những lý lẽ tự nhiên được, nhưng phải được trả lời trong ngôn ngữ của tình yêu.

Tình yêu đúng nghĩa không thể là tình yêu nhìn xuống từ trên cao để ban ơn, nhưng phải là tình yêu cúi mình xuống để nâng người mình yêu lên và làm cho người mình yêu được cùng ở một chỗ cao như mình và nhất là cho họ được tự do hoàn toàn. Những ý nghĩa trọn vẹn cho tình yêu đích thực này đã được thể hiện cách tròn đầy nơi Đức Giêsu Kitô.

Trớ trêu thay, những người lãnh đạo tôn giáo Do thái với những định kiến và những tiêu chuẩn bất công đã từ khước Đức Giêsu và kết án Ngài. Họ coi Đức Giêsu là kẻ phá luật, kẻ gây rối, kẻ phá rào . . . Họ không tiếc lời xét đoán và kết án Đức Giêsu là bạn của quân thu thuế, bạn của người tội lỗi và là người tội lỗi. Họ đang tự phụ và đang đứng ở nơi cao để nhìn xuống và tự cho mình có quyền phán quyết mọi sự. Con tim của họ đã bị điều kiện hoá và trở nên sơ cứng nên không còn có những nhịp đập của tình yêu nữa. Hành động như thế là họ đã tự đào hố chôn mình và làm cho khoảng cách giữa họ và Thiên Chúa trở nên quá xa, xa đến mức không thể nào đến được nữa. Bởi lẽ, con đường đến với Thiên Chúa chính là con đường đến với bản thân và đến với tha nhân.

Hãy tập cho mình có một lòng quảng đại, yêu thương và tha thứ cho người khác. Đừng kết án ai dù cho họ có sai lầm và tội lỗi đi nữa. Những khi anh em mình phạm tội thì hãy coi như họ đang hành động vì không biết và họ là những con người ngây ngô và đáng thương hơn là đáng kết án. Hãy để Chúa có những phán quyết cho họ. Phần chúng ta, hãy tập sống yêu thương và chỉ biết yêu thương vì đó là hành động của những con người khôn ngoan trước mặt Chúa.

THAO THỨC TRUYỀN GIÁO
Mt 9,36-10,8

Một thực trạng ngày nay ở các nước phát triển phương Tây cho thấy ơn gọi dâng mình làm tu sĩ và linh mục đang thiếu trầm trọng, ngày càng có ít người chịu dâng mình trong cách đồng truyền giáo của Chúa. Có phải sự phát triển của xã hội ngày nay làm cho niềm tin con người bị bào mòn? Hay việc dâng mình đi tu là một cái gì đó lạc hậu, lỗi thời, là công việc của những thế kỷ trước nay không còn phù hợp với thời đại nữa?

Chắc chắn những nguyên do trên đều không phải. Con người ta thờ ơ lãnh đạm trong việc truyền giáo là do họ còn thiếu lòng thương cảm như Đức Giêsu hôm nay. “Ngài đã thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng như bầy chiên không người chăn”. Khi đã chạnh lòng thương người nào thì hiểu người đó rất rõ. Ở đây Đức Giêsu đã thương đám đông không có người chăn, lầm than vất vưởng. Tất cả những hành động đó đã “đánh” vào trái tim đầy thao thức của Người. Bởi vậy Đức Giêsu đã gọi mười hai môn đệ lại và ban cho họ toàn quyền “trên các thần ô uế” để các ông trừ chúng và “chữa hết các bệnh hoàn tật nguyền”. Đó là sứ mệnh cơ bản mà Đức Giêsu đã trao cho các môn đệ của Người, cũng là sứ mệnh của mỗi người Kitô hữu chúng ta, đã được lãnh nhận qua Bí Tích Rửa Tội. Do đó, chúng ta phải tiếp tục thi hành sứ mạng mà Chúa Cha đã trao phó là đem Tin Mừng đến cho người khác.

Thiên Chúa luôn muốn sự cộng tác nơi con người để tiếp nối công việc của Ngài trong thế gian. Ngài cũng có thể bất cần sự hợp tác đó, nhưng Ngài muốn cho con người tham dự vào cuộc tạo dựng thứ hai, sự cộng tác đó giống như cánh tay nối dài của Người vậy. Vì thế, để mạnh dạn và nhiệt tình trong cánh đồng truyền giáo đòi hỏi người môn đệ phải biết chạnh lòng thương trước đám đông vì:

1. Thấy họ lầm than vất vưởng mà thông cảm.

Vì miếng cơm manh áo có những người phải đi “tha phương cầu thực”, một xã hội xô bồ dễ đưa họ đến quay cuồng, chạy đi tìm danh-lợi-thú. Từ những cám dỗ đó đưa đến những mê muội rồi sa vào con đường tội lỗi rất gần. Thực ra những con chiên lạc lõng xa nhà rất cần được sự cảm thông. Chỉ cần mỗi người có sự quan tâm, với cái nhìn trìu mến sẽ đưa họ đến nguồn sống đích thực. Thì lúc đó những sự cám dỗ trần tục danh vọng giả tạo, của cải vật chất chóng qua không thể thắng nổi, nếu có sự dẫn dắt của những chủ chăn.

2. Tự do đáp trả ơn gọi.

Khi thấy lúa chín đầy đồng, Đức Giêsu mới nói với các môn đệ “Anh em hãy xin”, chứ Người không dùng từ “anh em phải”. Ngài luôn tôn trọng tự do của người môn đệ. Vì tự do là thiết yếu cho ơn gọi.Trong sự đáp trả tích cực, tự do ấy như một sự trao hiến tình yêu để đáp trả tình yêu. Đức Gioan Phaolô VI đã nói: “Tiếng gọi tương xứng với lời đáp. Chỉ có thể có ơn gọi, nếu đó là ơn gọi tự do, tức là hiến dâng chính mình một cách tự nguyện, ý thức quảng đại và trọn vẹn”. Sự dâng hiến tự do tạo thành hạt nhân thiết thân nhất của lời con người đáp lại tiếng gọi của Thiên Chúa. Sự dâng hiến ấy tìm được mẫu mực tuyệt vời khôn sánh, hay đúng hơn tìm gặp cội rễ sống động trong sự dâng hiến tự do của Đức Giêsu Kitô, Người đầu tiên được gọi. Ngài đã đáp lại lời mời gọi của Chúa Cha, thế thì hôm nay chúng ta cũng hãy đáp trả lại lời mời gọi của Chúa Giêsu. Hơn nữa việc truyền giáo không phải bắt đầu bằng kiến thức triết học sâu xa, hay bằng thần học mông lung cao vời, mà bắt đầu bằng tình yêu và lòng thương cảm.

3. Thấy lúa chín mà thao thức.

Hạt giống Tin Mừng đã được gieo vãi hơn hai ngàn năm nay, nhưng còn rất nhiều người đang lần mò trong bóng tối. Họ vẫn đang tìm kiếm ánh sáng dẫn đường. Tiêu biểu ở Việt Nam còn hơn tám mươi phần trăm chưa biết đến Tin Mừng. Điều đó phải là vấn đề thao thức của tất cả mọi người. Trong thực tế trong cánh đồng truyền giáo còn thiếu thợ gặt, thiếu các linh mục, tu sĩ rất nhiều, đang thiếu những người sẵn sàng hy sinh làm chứng cho đức tin vì Chúa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con biết thao thức trước những nhu cầu của Giáo Hội, để biết mạnh dạn dấn thân trong cánh đồng truyền giáo của Người. Amen

CÁI NHÌN TÌNH THƯƠNG
Mt 9, 36 – 10, 8

Đôi mắt là cửa sổ của tâm hồn. Nhờ đôi mắt mà ta nhìn thấy được vũ trụ vạn vật. Hơn nữa qua đôi mắt ấy, ta cũng có thể nhận ra được tâm trạng của nhau. Hiểu để thông cảm, để quan tâm đến nhau. Từ đó, ta có thể giúp nhau và thông cảm cho nhau. Khi nhìn người khác với cái nhìn tình thương, ta mới có thể nhận ra họ đang cần gì.

Mở đầu đoạn Tin mừng hôm nay ta thấy: “Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9, 36). Chắc chắn không phải chỉ một mình Chúa Giêsu mới nhìn thấy đám đông người này. Tuy nhiên, do cái nhìn đầy tình thương nên Người mới nhận ra được chính họ đang cần những người hướng dẫn, chăm nom.

Tâm trạng chạnh lòng thương của Chúa Giêsu ở đây chính là tâm trạng đứt ruột đứt gan. Chúa Giêsu đã thật sự thương những người đang đi theo mình. Họ đang cần được sự quan tâm, nâng đỡ về mọi mặt. Cho nên, Chúa Giêsu đã nhanh chóng: “gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10, 1)

Chúa Giêsu luôn nhìn mọi người với cái nhìn đầy tình thương vì Người nhìn ta nơi tận sâu thẳm tâm hồn. Chúa Giêsu đã nhìn thấy: Mathêu tại bàn thu thuế và Người đã kêu gọi ông (Mt 9, 9), Dakêu đang trên ngọn cây sung (Lc 19, 1- 10). Nhờ đó hai ông đã được ơn hoán cải. Chúa Giêsu nhìn thấy bà goá bỏ vào hòm tiền hai đồng tiền kẽm ít ỏi (Mc 12, 38 – 44). Và hầu như 12 Tông đồ hôm nay được Chúa Giêsu chọn cũng đều xuất phát từ cái nhìn đầy tình thương ấy.

Chúa Giêsu chính là tình yêu của Thiên Chúa của chúng ta. Chắc chắn Người thấy rõ từng chúng ta. Thấy không phải để theo dõi hay để trừng phạt nhưng để quan tâm chăm sóc. Chúa Giêsu đã nói: “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin” (Mt 6, 7 – 8). Hãy xin Chúa Giêsu cho chúng ta biết tin vào sự quan tâm và chăm sóc của Người cho ta nhiều hơn nữa. Đồng thời, chúng ta cũng hãy học nơi Chúa Giêsu cái nhìn tình thương ấy với nhau. Để rồi dần dần chúng ta loại bỏ đi những cái nhìn châm chọc, ganh tỵ hay xoi mói nhau.

HOÀN CẢNH NGƯỜI TÔNG ĐỒ.
Mt 9, 36 - 10, 8

"Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít" (Mt9,37). Chúa Giêsu động lòng thương khi nhìn đám đông đang bơ vơ mệt mỏi. Người thấu suốt nỗi khốn khổ của nhân lọai nên đã đến giải thoát họ. Nhưng Người không một mình làm trọn công việc cứu độ. Chính vì thế, Người quy tụ mười hai tông đồ và giao cho các ông sứ vụ mang ơn cứu độ đến cho mọi người ở mọi thời mọi nơi. Ngày nay, sứ vụ của các tông đồ được Giáo Hội tiếp nối, đặc biệt nơi các giám mục, linh mục tại các Giáo hội địa phương. Thế nhưng, công việc của các ngài gặp không ít khó khăn đến từ chính đoàn chiên mình được trao phó. Chúng ta hãy thử điểm qua vài khó khăn mà các ngài gặp phải để có cái nhìn quảng đại hơn, nhiệt tình cộng tác hơn trong việc đem ơn cứu độ đến cho mọi người.

1. Các linh mục ít được tôn trọng.

Tin Mừng thánh Matthêô đã liệt kê danh sách 12 tông đồ của Chúa Giêsu. Nhìn vào danh sách nầy, người ta có cảm nhận đây là một tập thể gồm những cá nhân chưa gương mẫu, hay nói cách khác là còn nhiều khuyết điểm. Một tập thể trong đó phần lớn là những người lao động bình thường, ít kiến thức, đức vốn chẳng cao mà tài thì lại kém.

Từ khi Chúa Giêsu chính thức chọn nhóm Mười Hai giữa đám đông, xem ra danh phận các tông đồ được nâng lên. Thật vậy, Chúa Giêsu rất tâm lý khi Người trao danh dự tông đồ cho những người này từ trong đám đông, bởi Người hiểu rõ danh chính thì ngôn mới thuận. Người muốn các tông đồ dùng cái danh là phương tiện để dễ dàng chu toàn nhiệm vụ.

Tương tự như các tông đồ, danh phận các linh mục được Chúa Giêsu trao ban vì sứ vụ và cho sứ vụ. Thế nhưng, xã hội chúng ta đang sống ngày hôm nay, một xã hội chủ trương bình đẳng đến mức cào bằng các tương quan: vợ - chồng, cha - con, thầy - trò, giáo dân - linh mục. Họ cho rằng linh mục cũng có những khuyết điểm thì việc nghĩ xấu, nói xấu, kiện tụng... là lẽ dĩ nhiên, là chuyện bình thường vì mọi người đều có quyền bình đẳng. Các tín hữu suy nghĩ như thế vì họ chưa ý thức rõ lý do chính yếu mà Chúa Giêsu đã trao cho các linh mục: có danh để dễ dàng chu toàn phận sự tông đồ giữa muôn dân. Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Chúa Giêsu luôn muốn nhắc nhở các tín hữu: hãy tôn trọng Linh mục.

2. Các linh mục ít được đón nhận.

Trước khi sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã ban cho các ngài nhiều khả năng. Các ngài nhận lãnh ơn huệ từ nơi Chúa cách nhưng không và đã cho đi nhưng không.

Người linh mục trải qua hành trình đào tạo lâu dài, đắc thủ được nhiều khả năng nhờ ơn Chúa. Các ngài cố gắng chuyên cần tập luyện nhân đức, miệt mài trao dồi kiến thức, kiên trì tích lũy, học hỏi kinh nghiệm mục vụ. Việc cố gắng tích lũy là để hy vọng được cho thật nhiều và cho cách nhưng không. Thế nhưng, thực tế đã làm cho các ngài chùng bước bởi thái độ của các tín hữu. Các tín hữu đang sống trong một xã hội thực dụng nên điều họ mong ước là cái lợi ích trước mắt. Với họ, đời sống vật chất cần thiết hơn đời sống tinh thần. Người linh mục với kiến thức mình đã đắc thủ, với đời sống thiêng liêng mình đã phấn đấu kiện toàn chỉ biết phó thác vào lòng nhân từ Chúa trước hoàn cảnh xã hội đáng buồn: nhiều vị sẵn sàng muốn cho đi những cái tốt mà chẳng được đón nhận, nhiều người đã vô tâm khước từ.

3. Các linh mục ít được cảm thông.

"Nước Trời đã gần đến" là điều mà Chúa Giêsu muốn các tông đồ rao giảng. Cùng với lời rao giảng đó, thái độ kèm theo mà Chúa Giêsu muốn các tông đồ làm là phục vụ tận tình và sống đời giản dị, sống tinh thần nghèo khó của Nước Trời. Nói khác đi, Chúa Giêsu muốn việc làm của các môn đệ chứng minh cho mọi người thấy lời nói mình là chân thật.

Ngày nay, Chúa cũng muốn các linh mục chúng ta như vậy. Đây là một đòi hỏi cực kỳ khó khăn mà các linh mục phải nỗ lực. Sứ vụ đòi hỏi khả năng đáp trả cao của linh mục. Bên cạnh đó, người tín hữu cũng có những yêu cầu cao nơi linh mục. Trong khi linh mục thực sự cũng là những con người bình thường. Ai cũng biết rằng sứ vụ linh mục liên quan đến phần rỗi của các tín hữu. Vì vậy, việc cảm thông cho các ngài không những giúp các ngài chu toàn sứ vụ mà cón góp phần bảo vệ và củng cố sự sống linh hồn chính các tín hữu. Thông cảm cho các vị chủ chăn là thái độ mà Chúa Giêsu muốn có nơi các tín hữu.

Giáo Hội ví như một con thuyền, các linh mục là những người cầm mái chèo. Thái độ thiếu tôn trọng, không đón nhận, thiếu cảm thông của các tín hữu là những trở lực cho các linh mục trên hành trình dẫn đưa con thuyền Giáo Hội về đích. Con thuyền Giáo Hội về đến bến nhanh hay chậm, thất bại hay thành công là tùy thuộc vào mái chèo của các vị linh mục. Do đó, hãy chung tay với các ngài để tất cả chúng ta cùng tiến nhanh về bến bình an!

ĐỂ LÀM THỢ GẶT
Mt 9, 36 - 10, 8

Anh chị em thân mến,
Một gia đình giáo dân nọ có đứa con nhỏ xem ra sáng sủa lanh lợi, học vấn khá. Cha sở bảo: Anh chị có muốn cho con đi chủng viện không, để sau này làm linh mục, phục vụ cho Nước Chúa, cho Hội thánh? Người cha cười cười trả lời: Dạ để con về hỏi lại gia đình đã. Sau đó người cha về kể lại cho cả nhà đều nghe, trong khi chú bé đang đứng ở đó. Nhân tiện, người cha hỏi ngay chú bé: Này con, ý cha sở như vậy. Còn con, con nghĩ thế nào? Có muốn đi tu không? Chú bé cười cười một chút liền nói: Con đi rồi mất nòi mất giống làm sao ba? Ai sẽ nối dòng cho gia đình đây? Cả nhà đều cười, cho là con nói hay. Thực ra cha mẹ cũng không muốn cho con đi tu lắm, nên nghe con nói, là đồng ý ngay….Ngày nay, ở thành phố hoặc ở thị xã, gia đình nào cũng chỉ có một hoặc hai con, làm sao có thể nói chuyện cho con đi tu? Làm sao người ta dám hi sinh để cho con mình theo Chúa? Đây chính là điều mỗi người Kitô hữu cần suy nghĩ. Nếu không có ai hi sinh làm linh mục, làm sao có các bí tích, làm sao Chúa đến với mọi người? Chính vì thế mà Chúa mới nói: Lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt. Kính mời anh chị em cùng suy niệm đề tài này….

a/. Nhu cầu cần có thợ gặt: Chúa than lúa chín đầy đồng mà thợ gặt ít quá: Chúa nói câu này khi Người đang đứng trước đám đông. Chúa chạnh lòng thương họ, vì họ bơ vơ vất vả như chiên không người chăn. Nhìn đám đông như thế, trong khi Chúa mới chọn lựa được có 12 tông đồ và một ít môn đệ; vì thế Chúa mới than: lúa chín đầy mà thợ gặt ít quá. Thời Chúa Giêsu, thợ gặt đã ít, ngày hôm nay thực ra có nhiều hơn không? Sau hai mươi thế kỷ, thợ gặt linh hồn người ta vẫn còn thiếu, và đây là nhu cầu cấp bách của Hội thánh: luôn cần những thợ gặt, nhất là thợ gặt giỏi để làm việc trong cánh đồng mênh mông của Chúa…

Cuối năm 1944, một lễ phong chức đặc biệt đã diễn ra ngay trong trại Dachau, trại tù lừng danh của Đức Quốc xã mà không người Âu châu nào không biết tiếng. Một phó tế người Đức bị lao phổi đang hấp hối. Các linh mục bị giam ở đây, bèn nghĩ đến chuyện phong chức linh mục cho Thầy. Người ta làm mọi cách để che mắt lính canh. Một người chơi vĩ cầm để đánh lạc hướng chú ý của công an. Một vị linh mục người Pháp, trong bộ đồng phục rách rưới của tù nhân, đã phong chức linh mục cho một chủng sinh người Đức. Tân linh mục đã cử hành thánh lễ đầu tiên ít ngày sau đó, và đó cũng là thánh lễ cuối cùng của Ngài. Trong quyển nhật ký của cha mới, người ta đọc thấy hai chữ: TÌNH YÊU , ĐỀN BÙ… Chúng ta thấy: Tình yêu mạnh hơn sự chết. Ngay những nơi hận thù chết chóc càng dâng cao, người ta càng thấy những gương chứng nhân sáng ngời của tình yêu, hi sinh, xả kỷ… Thực ra, thợ gặt không thiếu, chỉ thiếu thợ gặt giỏi mà thôi…

Có người hỏi: tại sao phải phong chức cho Thầy Sáu chỉ sống được mấy ngày, hay tại sao linh mục thì thiếu, mà tại trại Dachau này có trên 3000 linh mục phải chết, có khi còn rất trẻ, tại sao? Thưa vì Chúa muốn như thế, nhất là vì ơn gọi của họ chính là dùng cái chết của mình để làm chứng nhân tình yêu xóa bỏ hận thù, thay cho Đức Kitô…

b/. Các tông đồ được Chúa sai đi, ban cho họ quyền năng: Trước hoàn cảnh lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, Chúa liền sai các ông ra đi, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế; rồi Chúa căn dặn họ: hãy rao giảng rằng: Nước Trời đã gần đến, và hãy chữa lành các bệnh tật. Ta thấy rõ trong mấy lời này, Chúa thực sự muốn sai các môn đệ ra đi truyền giáo: hãy ra đi và rao giảng rằng Nước Thiên Chúa đã đến gần…..

Tháng 6 năm 1989, một số linh mục và giám mục người Ba Lan đã đến cử hành thánh lễ tại trại Dachau, kỷ niệm 50 năm ngày thế chiến thứ hai, nhất là tưởng niệm gương hi sinh của gần 3000 linh mục nhiều quốc tịch, bị giam và chết ở đây. Thánh lễ cử hành trên ngôi mộ lớn của họ, không phải để gợi lại hận thù, nhưng là để mời gọi mọi người chỉ thấy yêu thương và tha thứ giữa hận thù. Thánh lễ cũng muốn nói lên: Chúa Kitô đã sai các tông đồ ra đi giữa muôn sói, các linh mục tại trại Dachau đã lớn tiếng đáp lại lời mời gọi đó, sẵn sàng sống và chết như Đức Kitô, là để cho mọi người thấy tình yêu thương và tha thứ giữa bao hận thù, ganh ghét….

c/. Gợi ý sống và chia sẻ: Hội thánh đang rất cần nhiều thợ gặt, nhất là những thợ gặt giỏi cho cánh đồng truyền giáo, là người Kitô hữu ta có để tâm cầu nguyện xin Chúa ban cho Hội thánh nhiều thợ gặt để phục vụ cho Nước Chúa không? Họ đạo chúng ta chưa có thợ gặt, ta có cầu nguyện cho họ đạo có nhiều thợ gặt như lòng Chúa mong ước không?

LÚA CHÍN ĐẦY ĐỒNG
Mt 9, 36 - 10, 8

Anh chị em thân mến.
Trong những ngày nầy, anh chị đang chuẩn bị để thu hoạch những hạt lúa chín vàng, những hạt lúa là kết quả của công lao cực khổ từ nhiều tháng qua. Nhưng việc thu hoạch những hoa lợi cũng không phải dể dàng gì; kết quả tốt đẹp đang hiện diện trước mắt, niềm vui mừng đang dâng lên sau bao ngày mong đợi, nay đã trở thành hiện thực, nhưng nó vẫn còn ở ngoài đồng, chưa thể mang về được. Anh chị em cũng đang tìm người giúp cho những hạt lúa đó có thể về đến nhà cách an toàn. Chính vì thế mà anh chị em cũng cố gắng tìm những người biết làm công việc cần thiết cho những hạt lúa thì mới yên tâm được. Có phải yên tâm như thế là xong việc? Thưa không, anh chị em mặc dù đã thu hoạch, nhưng vẫn còn hướng đến tương lai, nên từ những kết quả thu được, anh chị em cũng chuẩn bị cho vụ mùa sau, để cũng thu được kết quả tốt như thế hay là tốt hơn thế.

Nhìn vào hiện tại để hướng đến tương lai, nếu hiện tại biết chuẩn bị tốt thì tương lai cũng đạt được kết quả tốt.

Chúa Giêsu nhìn thấy đám đông, Ngài chạnh lòng thương họ, vì họ bơ vơ không ai lo lắng chăm sóc, vì không ai nhìn thấy làm sao có thể lo lắng chăm sóc. Ngài nhìn thấy, Ngài cảm nhận được và Ngài đã hành động. Ngài đi khắp nơi và thực hiện những gì mà nhu cầu người khác cần đến. Như thế Ngài chưa bằng lòng, Ngài còn nhìn thấy tương lai cũng cần phải thực hiện như Ngài đã làm. Ngài chuẩn bị và kêu mời mọi người cộng tác với Ngài, để cùng cảm nhận với những gì Ngài đã cảm nhận và làm những gì Ngài đã làm với con tim yêu thương thổn thức của Ngài. Nhóm 12 Tông Đồ đã nghe lời mời gọi của Ngài, các ông biết đáp lại vì các ông cảm nhận được lời: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít”. Các ông theo Chúa Giêsu, các ông thực sự là những người thợ giỏi, các đã thu hoa lợi về nhà Thiên Chúa thật nhiều.

Lời mời gọi đó vẫn vang lên mãi trong suốt lịch sử của con người hơn 2000 năm qua. Rất nhiều người biết đáp lại vì con tim họ đã thổn thức cùng nhịp với với con tim của Thầy chí thánh. Họ cũng thu được rất nhiều kết quả.

Ngày hôm nay, thế hệ của chúng ta, những người đang sống đang hiện diện nơi đây, lời mời gọi đó cũng vang lên thống thiết nơi từng người. Mỗi người trong chúng ta cũng đã nghe nhiều, nhưng đáp lại được bao nhiêu?

Trong ngày lễ hôm nay, chúng ta mừng lễ cho người khác, cho người ngồi trước chúng ta vì họ biết đáp lại lời Chúa kêu mời, vì họ có được con tim thổn thức, vì họ biết hành động theo ý Chúa để đem về cho Chúa những phần hoa lợi thật xứng đáng. Thật hạnh phúc và rất đáng chúc mừng. Nhưng không phải là chúc mừng cho người khác, mà mừng cho chính chúng ta, niềm vui chung của họ đạo, vì đây là những người con của họ đạo, những bông hoa tốt đẹp của họ đạo toả hương cho đời. Trong niềm vui mừng đó, chúng ta cũng phải lo chuẩn bị cho những ngày mùa trong tương lai, như công việc chúng ta đang làm cho cuộc sống đời thường. Chúng ta lo chuẩn bị những hạt giống đời người, chuẩn bị những bông hoa tốt đẹp từ họ đạo để tiếp tục toả hương cho đời. Có thể chúng ta sẽ nói rằng: đây là việc của ngưòi khác, việc của những người tu hành, còn tôi không có khả năng. Không phải thế, đây là việc của tất cả mọi người. Chúa Giêsu kêu mời tất cả mọi người và mỗi người theo khả năng của mình mà đáp lại lời Chúa. Mỗi người trong chúng ta cũng đáp lại lời Chúa theo cách của mình và cũng phải mang về kết quả cho Chúa theo khả năng của mình. Hôm nay chúng ta vui mừng trong thánh lễ với niềm vui chung của họ đạo, cùng với lời cầu nguyện cho niềm vui hôm nay được kéo dài trong ơn Chúa. Đó là một cách đáp lại lời mời gọi, chúng ta cũng cầu nguyện và đóng góp công sức của mình, của gia đình mình để niềm vui mừng không chỉ có trong ngày hôm nay, mà trong tương lai cũng còn có nhiều niềm vui như thế.

Chúng ta cầu xin cho từng người trong chúng ta có được tâm hồn quảng đại, để biết lo cho Giáo Hội có nhiều ơn gọi. Chúng ta cũng cầu xin cho những người trẻ biết hy sinh và quảng đại đáp lại tiếng Chúa kêu mời.

NHỮNG NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN.
Mt 9, 36 - 10, 8

“Nước Trời cũng giống như chuyện nắm men bà kia lấy vùi vào ba thúng bột, cho đến khi tất cả bột dậy men” (Mt13, 33) là câu nói của Chúa Giêsu khi nói về ơn cứu độ của Thiên Chúa dành cho nhân loại. Qua câu nói này Chúa Giêsu muốn nói lên rằng ơn cứu độ của Chúa sẽ được thực hiện một cách tương tự như thế.

Lịch sử cứu độ đã chứng minh điều đó, ngay sau khi con người phạm tội bất phục tùng Thiên Chúa, muốn lấy ý của mình trở thành ý của Chúa và muốn thoát khỏi sự “ràng buộc” của Thiên Chúa thì con người đã làm nô lệ cho tội lỗi thì lúc ấy Thiên Chúa đã hứa ban Đấng Cứu Độ. Qua dòng lịch sử Thiên Chúa luôn luôn muốn thánh hoá nhân loại nhưng việc Người thực hiện là chọn một dân riêng một dòng dõi và dân Israel đã được chọn như trong bài đọc I mà hôm nay chúng ta được nghe. “Nếu các ngươi thực sư nghe tiếng Ta và giữ giao ước của Ta thì giữa hết mọi dân các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta…”(Xh19,5), Thiên Chúa qua trung gian Môsê đã giao ước với dân Israel một giao ước như không của Thiên Chúa, một giao ước tình yêu. Một giao ước như một quà tặng của Thiên Chúa: nếu người giữ giao ước của Ta thì các người được là dân riêng của Ta… mà dân riêng của Chúa thì quả là một hồng ân. Chúa không thêm gì khi dân không chọn Chúa nhưng vì yêu thương muốn cho dân Israel được sống trong tình thương mà Chúa mời gọi họ tuân giữ Lời Chúa. Trong ý định của Thiên Chúa, dân Israel sẽ là dân ưu tuyển, dân mẫu mực để nói lên tình thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại sa ngã, và từ dân Israel này Chúa sẽ mở rộng tình thương cứu độ của Chúa cho muôn dân tộc. Tuy vậy, nhiều lần dân đã phản bội tình thương của Chúa mà chạy theo các tà thần, từ chối tình thương của Chúa dành cho mình…nhưng Thiên Chúa vẫn một lòng trung tín, vẫn gọi dân quay trở lại trong tình thương của Ngài mặc dù cũng đã nhiều lần “đánh phạt” nhưng Thiên Chúa vẫn mãi yêu thương chọn gọi.

Lòng trung thành của Thiên Chúa được thể hiện tròn đầy nơi Đức Giêsu, nơi Đức Giêsu Thiên Chúa đã tỏ lộ khuôn mặt đầy khả ái của Người. Thiên Chúa muốn cứu độ con người nhưng cần có sự cộng tác của con người, bởi con người có tự do và Thiên Chúa luôn hoàn toàn tôn trọng sự tự do đó. Để làm cho ơn cứu độ được hoàn tất Chúa Giêsu đã chọn gọi một nhóm môn đệ thân tín, để từ đó nhân rộng ơn cứu độ đến cho mọi người. Như thế chúng ta thấy rõ lòng thương yêu của Thiên Chúa muôn đời tồn tại, lòng thương xót ấy trải qua đời nọ tới đời kia và cho chính mỗi người chúng ta. Tuy nhiên, để lòng thương xót của Thiên Chúa được thể hiện đòi hỏi con người chúng ta cũng phải biết cộng tác để làm cho ơn Chúa được thể hiện trong mỗi người, mỗi cộng đoàn…

Chúng ta cảm tạ ơn Chúa vì Chúa đã thương cho chúng ta được làm con cái Chúa, được cộng tác với ơn của Chúa để mỗi ngày chúng ta càng trở nên thánh thiện. Xin Chúa cho chúng con luôn biết quý trọng ơn gọi và làm cho ơn thánh Chúa mỗi ngày thêm rực sáng.


HẠNH PHÚC ĐƯỢC CHÚA CHỌN
Mt 9,36-10,8

Phúc Âm nhiều lần kể lại việc Chúa Giêsu chạnh lòng thương xót dân Người (Matthêô: 5 lần (9,36; 14,14; 15,32; 18,27; 20,32); Mátcô: 4 lần (1,41; 6,34; 8,2; 9,22); Luca: 2 lần (7,13; 10,33). Và Chúa muốn tình thương đó được nhân rộng ra đến hết những ai đang cần đến lòng thương xót của Chúa, qua việc tuyển chọn các tông đồ để nối dài tình thương của Chúa đến với mọi người.

Đành rằng mỗi người có mặt trên đời nầy đều phát xuất từ ơn gọi yêu thương của Thiên Chúa: ơn gọi làm người; rồi đến ơn gọi làm con Chúa, qua Bí tích Rửa tội và tất cả mọi ơn gọi mà Chúa dành cho riêng mỗi người đều nhằm mục đích làm chứng cho tình thương cứu rỗi của Chúa cho nhân loại, theo bậc sống của mỗi người.

Nhưng một cách đặc biệt, Chúa chọn lựa một số người cống hiến trọn vẹn đời mình sống đời tu trì để đem tình thương Chúa đến cho tha nhân một cách tích cực và trọn vẹn hơn. Đó chính là các giáo sĩ và tu sĩ.

Như các Tông đồ được Chúa Giêsu tuyển chọn không vì tài năng, địa vị xã hội, hay do bất cứ đặc quyền, đặc lợi nào, Chúa muốn chọn ai là tuỳ ý Chúa và Chúa thường chọn những người khiêm nhu, nghèo khó, đơn sơ, nhưng chân thành…tất cả là do lòng thương của Chúa.

Ý thức mình được chọn lựa để thể hiện tình thương của Chúa cho nhân loại, đòi hỏi những ai được Chúa Chúa tuyển chọn làm tông đồ nhiệt thành dấn thân trọn vẹn sống cho Chúa và sống cho mọi người.

“Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy” (Mt 10,8). Thật vậy, Chúa chọn chúng ta chỉ vì Chúa yêu thương chúng ta. Vậy thôi! Chúng ta chẳng có gì để đặt điều kiện tiên quyết với Chúa. Có làm được điều gì, thì cũng do ơn Chúa mà thôi. Nếu có chăng sự đóng góp của chúng ta thì đó chỉ là lòng nhiệt thành sống theo ơn gọi của mình. Ý thức mình chỉ là những dụng cụ bất toàn trong bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, chúng ta càng cảm nhận được hạnh phúc vì được Chúa thương cho cộng tác một cách đặc biệt vào chương trình yêu thương cứu rỗi mà chính Con Chúa phải đánh đổi bằng cả mạng sống của mình.

Người ta thường nghĩ phải tìm hạnh phúc cuộc đời bằng những thành đạt nầy hay công trình nọ. Hạnh phúc của người người tông đồ là thi hành trọn vẹn thánh ý Chúa và hạnh phúc ấy được cảm nhận nơi chính tâm hồn của mình: đã cố gắng sống hết lòng cho Chúa và cho mọi người thuộc về mình. Hạnh phúc ấy không bị xáo động vì kết quả công việc mình làm, bởi vì kết quả tùy thuộc nơi Chúa, còn phận vụ của chúng ta là nhiệt thành sống cho Người qua anh em của mình một cách vô vị lợi.

Xin Chúa cho chúng con cảm nhận hạnh phúc lớn lao vì được công tác vào chương trình yêu thương cứu rỗi cúa Chúa. Amen.

 

 


Web GiaophanVinhLong





Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:

pettham@gmail.com

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle