Trong những năm đầu tiên, sau khi Đức Kitô về trời, vấn đề quan trọng được đặt ra cho Giáo hội là: Kitô giáo phải chăng chỉ giới hạn trong dân Israel mà thôi hay còn kêu mời tất cả mọi người thông dự vào? Sách Công Vụ Tông Đồ, do Luca biên soạn, đã thuật lại những cách thế giải quyết mà Giáo hội thuở ban đầu đã làm: Giáo hội phát triển thế nào từ Giêrusalem đến Roma và được Thánh Thần hướng dẫn thế nào để hiểu rõ tính phổ quát của mình.

 

Thánh Gioan đặc biệt nhấn mạnh: Thiên Chúa là tình yêu. Đó là bản tính của Ngài. Đức Kitô, Thiên Chúa mặc lấy xác phàm, cũng chính là tình yêu, và là bằng chứng lòng Thiên Chúa yêu thương thế gian. Vậy với lòng yêu mến, chúng ta được hiệp nhất với Đức Kitô và trong Ngài ta được hợp nhất với Thiên Chúa. Và đây là nhân đức quan trọng nhất.

 

Đức Giêsu sinh bởi một trinh nữ tên là Maria; Cha nuôi của Ngài Giuse. Sau 30 năm sống cuộc đời bình dị, làm con một người thợ mộc, ở Nazareth xứ Galilê, Ngài bắt đầu rao giảng và chữa bệnh trong một thời gian tương đối ngắn, bị quan Rôma lên án tử hình do những đồng hương của Ngài là tư tế, biệt phái xúi giục. Trên đỉnh đồi Calvariô, Ngài bị đóng đinh giữa hai phạm nhân.

 

Niềm hy vọng cứu độ tập trung về Babylon, vì Giêrêmia đã nói rõ rằng số còn sót lại được Thiên Chúa tuyển chọn để kiến tạo lại dân Ngài sẽ là những người bị lưu đày chứ không phải là những người Giuđa được để lại ở Palestine (x.Gr. 24, 4 - 8).

 

Người ta biết rất ít về ngôn sứ Mikha. Quê ông ở Môsêrết, cách Giêrusalem khoảng 20 dặm. Qua ngôn ngữ đơn sơ không chải chuốt cho thấy ông xuất thân từ một địa vị khiêm tốn, giống như Amos và cũng giống Amos, ông quan tâm sâu xa đến vấn đề công bằng xã hội. Những lời sấm của ông đã đem lại sự cải cách ít nhiều ở Giuđa.

 

Vua Salomon đã góp phần vào việc phát triển tôn giáo Môsê, trong đó, ơn cứu độ được tiềm tàng bằng việc xây cất một Đền Thờ cho Chúa, trong 7 năm (960 - 953 tr, CGS, nơi mà chính Đavít cha ông đã mua trước kia, đồng thời ông cũng góp phần bằng những lời khôn ngoan mà ông đã nói và đã viết, được ghi lại qua sách Châm Ngôn và những Thánh Vịnh).

 

Dân Israel tin rằng Thiên Chúa là căn nguyên mọi sự. Bất cứ điều gì xảy đến điều phần nào do bởi Thiên Chúa. Đàng khác, những cuộc tàn sát cũng có hiệu quả tốt: lấy đất chia cho 12 chi tộc, bài trừ tận gốc việc thờ ngẫu tượng mà người Canaan phổ biến cho dân Israel . Bởi thế, tác giả sách Giôsuê ghép hai việc: hiệu quả tốt của các cuộc tàn sát với việc Thiên Chúa là căn nguyên mọi sự, cho nên ông nói rằng Thiên Chúa đã ra lệnh tàn sát.

 

Xuất Hành là quyển sách thứ nhì của Kinh Thánh đã dồn ép lịch sử khoảng 400 năm bằng cách nhảy từ Giuse sang Môisê. Sự suy thoái của dân Israel trùng hợp với việc người Hykos (thuộc dân Sêmít như con cháu Giacóp) bị mất quyền hành cai trị Aicập, bị người Aicập đánh bại (khoảng năm 1570 trước Chúa Giáng Sinh) và dân Israel bị thất sủng. Môisê đã xuất hiện trong hoàn cảnh nầy.

 

Dụ ngôn không phải là lịch sử, nhưng là những câu chuyện đơn sơ nhằm mục đích dạy một sự thật nào đó. Điểm cốt yếu của các dụ ngôn trong Phúc Âm là: Chúa Giêsu dạy nhiều chân lý quan trọng qua những mẫu chuyện đơn giản, lý thú và dễ nhớ. Các tác giả sách Cựu Ước cũng thường làm như vậy.

 

Sống ở trên đời nếu chúng ta tất cả tin rằng sống chết là do bởi quyền năng của Thiên Chúa, thì thật chẳng có điều gì mà Thiên Chúa của chúng ta không làm được.

 

1 2 3 4 >