Luoc Su Giao Phan Cac Ho dao Cac Dong Tu Cac Linh Muc Cac Giam Muc
NĂM 2005

 



Giảng Tĩnh Tâm Linh Mục

 


Giảng Khai Mạc

Trong Thư gởi các Tín Hữu Roma, Thánh Phaolô viết “Tôi mong được gặp Anh Em” (Roma 1,11 ). Sự mong đợi của Phaolô phát xuất từ lòng nhiệt thành của Thánh Tông Đồ, sự mong đợi của chúng ta phát xuất từ mối liên hệ với nhau trong chức Linh Mục, trong nhiệm vụ làm mục tử và làm sứ giả Tin Mừng. Mỗi người chúng ta nhận thấy cần gặp nhau , chúng ta chuẩn bị tinh thần để về tham dự cuộc Tĩnh Tâm thường niên.

Chức Linh Mục đã đưa chúng ta vào Cộng Đoàn Linh Mục của Giáo Phận. Do hoàn cảnh và nhu cầu mục vụ mà chúng ta phải sống mỗi người một nơi. Chúng ta có ít dịp gặp nhau, thể hiện tình huynh đệ linh mục đoàn. Cuộc Tĩnh Tâm thường niên là thời đỉểm đặc biệt Chúa Quan Phòng dành cho chúng ta, là cuộc hội ngộ, cuộc trở về, như các Tông Đồ sau chuyến đi rao giảng Nước Thiên Chúa (Luca 9,1-6), họ trở về thuật lại những gì đã làm và Chúa Giêsu đã đưa họ ra riêng trong nơi thanh vắng (Luca 9,10). Chúng ta về với nhau, về bên Chúa để rồi trong bầu khí thanh tịnh cầu nguyện, củng cố tình huynh đệ Linh Mục, củng cố mỗi người chúng ta, để được sống trong ánh sáng của Chúa Thánh Thần, tràn đầy niềm vui (Đức Hồng Y C.M. Martini).

Việc đầu tiên là chúng ta về bên Chúa, nên sự nhận thức Chúa Kitô, Đấng Phục Sinh, hiện diện giữa chúng ta thật là cần thiết, cũng như hai môn đệ đi làng Emmaus được may mắn gặp Chúa Giêsu Phục Sinh đến làm bạn đồng hành, cởi mở trí khôn mê muội, giải thoát tâm hồn nặng trĩu thất vọng ưu sầu, bật sáng nơi lòng họ: “Lòng chúng ta lại đã không cháy bừng bừng, lúc dọc đàng Ngài ngỏ lời với ta, và giải nghĩa Kinh Thánh cho ta đó sao?” (Luca 24,32).

Trong ánh sáng phục sinh, tức là trong niềm tin vào Đức Giêsu Phục Sinh là Chúa, là Đấng Cứu Độ, đang ở với chúng ta: “Nầy Ta sẽ ở với các con mọi ngày cho đến tận thế” ( Matthêu 28,20 )và trao gởi cho chúng ta mệnh lệnh của Người “Các con hãy đi thâu nạp môn đồ khắp muôn dân…” (Matthêu 28,19) chúng ta sẽ để Người đem chúng ta đi theo Người, “Rồi Người đem họ đi theo mình” (Luca 9,10) Đi theo Chúa để xem Chúa Rao Giảng Tin Mừng như thế nào, vì Người là Sứ Giả Tin Mừng Tuyệt Đối, và làm sao để trở thành sứ giả Tin Mừng: “Anh em được thánh hiến thành tư tế thật sự, để rao giảng Phúc Am, chăn dắt dân Thiên Chúa…”(Nghi Thức Phong Chức Linh Mục, Huấn dụ).

Cụ thể, chúng ta được đề nghị thực hành ;

Dựa vào Thánh Luca (PÂ Luca, Tông Đồ Công Vụ) và Thánh Phaolô ( Thư thứ 2 gởi giáo đoàn Côrintô ) để suy nghĩ và cầu nguyện, lắng nghe và thờ phượng,

Nhờ thanh tịnh cầu nguyện, chúng ta có thể thông truyền đức tin cho nhau, cống hiến cho nhau những gì Kinh Thánh và Ơn Chúa soi sáng cho chúng ta, Xin Chúa bật lên nơi chúng con ánh sáng dung nhan Chúa Kitô để chúng con tiến bước.

 

CHÚA GIÊSU, SỨ GIẢ TIN MỪNG

Mở đầu sứ vụ:

Luca 4,16-30 Chúa Giêsu trở về Nazareth . Sứ Giả Tin Mừng bất thành

Bối cảnh: Ngày sabbat, Chúa vào hội đường, nhận Sách Thánh, mở ra gặp đoạn sách Isaia và đọc: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi…” Người gấp sách lại và ngồi xuống. Trong lúc mọi người hướng mắt về Người, chờ đợi, để xem con người mà người ta đã nói biết bao chuyện, sẽ nói gì với họ, sẽ làm gì ngoạn mục cho họ xem.Chúa Giêsu lên tiếng:

”Hôm nay sứ điệp của Kinh Thánh mà Quí Vị vừa nghe, được ứng nghiệm”

Phản ứng của đám thính giả: Luca không ghi lại Chúa Giêsu đã nói thêm những gì, chỉ ghi vắn tắt: “mọi người chứng giám và thán phục các lời về ân sủng phát ra từ miệng Người”. Rồi từ ngạc nhiên sang thắc mắc “nhưng ông ấy là ai, ông ấy không phải là con bác thợ mộc Giuse đó sao?” Xem ra cái thiện cảm đầu tiên đã nhanh chóng tan biến.

Chúa Giêsu nhận thấy ngay bầu khí trở thành thù nghịch, nhưng Ngươi nói tiếp: “Hẵn các ông sấp trưng dẫn cho tôi câu ngạn ngữ nầy: Thầy thuốc ơi, hãy chữa lấy mình! Mọi điều chúng tôi nghe xảy ra ở Capharnaum, ông hãy làm cả nơi quê hương ông đây nữa đi!”

Chúa Giêsu biết rõ những gì dân thành Nazaret chờ đợi nơi Người, nhưng tại sao Chúa không đáp ứng, Người tiếp: “Quả thật, Ta bảo các ngươi: không có tiên tri nào được sủng mộ nơi quê quán mình. Và Ta bảo thật các ngươi: có nhiều bà goá tại Israel vào thời Elia, khi trời bị đóng lại ba năm sáu tháng, và xảy ra nạn đói lớn trong toàn xứ, nhưng Elia không được sai đến với một bà nào trong họ, mà là đến với bà góa tại Sarepta thuộc hạt Sidon . Cũng có nhiều người phung cùi đời tiên tri Elisê, song không người nào trong họ được lành sạch cả, trứ phi Naaman người Syria ”.

Đến đó, cái bất mãn lên cao độ, biểu hiện cụ thể “họ đứng dậy, đuổi Người ra ngoài thành” để giết chết Người.

Còn Chúa Giêsu “đã ngang qua giữa họ mà đi”.

Chúng ta nghĩ: Chúa Giêsu phải thành công tại quê quán của Người, thế nhưng câu chuyện của Chúa Giêsu xem ra đã chấm dứt trong một ngày.

Làm sao có thể như vậy được? Tại sao Luca lại khởi đầu Sách Phúc Âm của ngài như thế? Tại sao Luca bắt đầu trình bày đời sống công khai của Chúa Giêsu như vậy?

Suy Niệm:

Chúa Giêsu đã không thành công, không làm cho người ta hiểu mình, họ không đồng ý với Chúa và Chúa phải vội vã ra đi. Người bắt đầu một cú “choc” một chạm trán Tin Mừng. Tại sao như vậy, tại sao Chúa Giêsu lại dùng cách lạ lùng như thế để tự giới thiệu mình? Chúa Giêsu Sứ Giả Tin Mừng thất bại. Một kiểu rao giảng Tin Mừng không thành công, nhưng được đề ra trong chương trình làm mẫu mực.

Thay vì vội vàng đưa ra một gỉải đáp cho những thắc mắc đó, hãy tìm cách đem vấn đề đó vào trong nội tâm của chúng ta.

Bắt đầu từ câu 30 “Chúa Giêsu đã ngang qua giữa họ mà đi” Chắc chắn Chúa Giêsu phải đau buồn mà ra đi: rõ ràng đây còn là một phuơng diện huyền nhiệm của quyền năng Thiên Chúa. Chúa Giêsu ra khỏi nơi đó, bị xua đuổi, không được lắng nghe, không vừa ý người ta, Người là Sứ Giả Tin Mừng, có lạ không?

Có thể nghĩ đến nỗi cay đắng của Đức Maria, Mẹ của Người, khi nhìn thấy Người Con đã không thành công, nỗi cay đắng của bạn hữu, của những người ngưỡng mộ Chúa, họ không hiểu được điều gì đã xảy ra, lo sợ những hậu quả sắp tới, có thể họ cũng nghĩ rằng bao nhiêu mộng ước của họ đã chấm dứt.

Đây không phải là một biến cố đơn độc, nhưng nó thuộc về một đường hướng nhất định (một hằng số) của Nước Thiên Chúa. Ta có thể trưng dẫn hai bối cảnh tương tự.

Hai cảnh ngộ khác trong Tân Ước có thể giúp ta nhận thấy rõ hơn hoàn cảnh và tâm tình của Chúa Giêsu :

Act 13,45: Sau một vài thành công ở Antiochia, xứ Pisidia, Phaolô và Barnaba trở lại hội đường rao giảng. “Người Do Thái thấy đoàn lũ dân chúng thì đầy lòng ghen tương và buông lời lộng ngôn khích bác càc điều Phaolô giảng. Khi đó các ngài phải ra đi: Bắt buộc chúng tôi phải nói lời Thiên Chúa cho các ngươi trước. Nhưng bởi các ngươikhuớc từ lời ấy, và tự lên án là các ngươi bất xứng với sự sống đời đời, thì nầy chúng tôi quy sang lương dân”

Tác vụ của các ngài không thành công, Lời Chúa không được đón nhận. Nỗi khổ đau của sứ giả Tin Mừng còn được biểu lộ trong những trang khác của Tân Ước: 2 Cor 1,8: “Quả vậy, thưa anh em, Thánh Phaolô viết, chúng tôi không muốn để anh em không hay biết về nỗi gian truân đã xảy đến cho chúng tôi ở Tiểu Á. Thật chúng tôi đã phải khốn khó ê chề đến cực độ, quá sức mình, bí đến đỗi không trông sống nổi”. Thánh Phaolô nói mạnh bạo “quá sức mình”, tức là, việc đã xảy đến, đã làm cho chúng tôi điên đảo, chúng tôi không chịu nổi nữa. “chúng tôi đã đành phận với án tử rồi, để chúng tôi đừng cậy vào mình nhưng là vào Thiên Chúa, là Đấng làm cho kẻ chết sống lại”(2 Cor 1,9).

Và còn nữa, sau khi bị người Do Thái ném đá tại Lystra, Phaolô sang Derbê rao giảng rồi quay trở lại Lystra, Iconiô và Antiokia, khuyên nhủ các môn đồ “chúng ta phải qua nhiều gian khổ mới vào được Nước Thiên Chúa” (Act 14,22).

Như thế Phaolô đã trải qua nhiều buồn khổ từ thành nầy sang thành khác, như Chúa Giêsu đã kinh qua trong buổi đầu tại Nazareth.

Khi đặt bối cảnh nầy ở đầu sứ vụ của Chúa Giêsu, Thánh Luca muốn chúng ta suy nghĩ tường tận “Sứ Giả Tin Mừng là ai”.

Trở lại với Luca 4,16-30, chúng ta nên chú ý một yếu tố nổi bật từ bản văn giữa những lời “mắt mọi người đăm đăm nhìn Người”(4,20 ) và “các ngươi sẽ nói với tôi: thầy thuốc ơi! Hãy chữa lấy mình! (4,23), nhưng không có tiên tri nào được sủng mộ nơi quê quán mình … Elia và Elisêô đã làm nhiều phép lạ ngoài Israel hay cho dân ngoại” (xem 4,25-28)

Chúa Giêsu, Sứ Giả Tin Mừng, được giới thiệu với ta như thế nào: hãy chú ý 2 lúc

Khác nhau: a) cứ toạ chăm chú nhìn vào Người,

b) Người đáp ứng với thái độ thù nghịch của mọi người?

Ta có thể nhận thấy họ chờ đợi nhiều nơi Chúa Giêsu, như cố chiếm giữ Người, họ say mê nghe Chúa nói và tìm cách đưa Người vào trong khuôn khổ quyền lợi riêng tư của họ… “Chiếm giữ” vị ngôn sứ, dùng Người để làm vẻ vang địa phương, để kiếm chút tiền cho người đồng hương nếu Người chịu làm vài phép lạ thì dân chúng sẽ kéo tới chật các hàng quán

Một đàng, Chúa Giêsu bị đe dọa chiếm giữ để phục vụ cho quyền lợi của người Do Thái, theo nhu cầu, theo đòi hỏi của họ. Như thế đó Người sẽ thành công, được ho hoan nghênh, nhưng Người trở thành tù nhân của những quyền lợi nhỏ nhen của dân Nazareth.

Đàng khác, ngược lại, Chúa Giêsu tỏ ra tự do cực độ, không bận tâm đến chuyện thành công, không nghĩ đến chuyện gì có thể xảy ra, Người nói một cách rất tự do. Rồi như khiêu khích các thính giả khi nhắc cho họ rằng Nước Thiên Chúa có những biên cương khác, những chân trời khác, những quyền lợi khác, lương dân cũng đáng được Chúa đoái thương.

Chúa Giêsu xuất hiện làm Sứ Giả có tinh thần tự do tuyệt đối, một tự do sâu xa liên quan đến mầu nhiệm Thiên Chúa và cả nhân loại.

Sự Tự do tuyệt đối làm cho Người có một tầm vóc của một tiên tri vượt xa một nhà giảng thuyết nhỏ ở địa phương, tầm vóc của người tự đảm nhận chính mình (porta se stesso) với tất cả tự do đi khắp thế giới, vì Người có trước mắt những chân trời của Thiên Chúa.

Hợp nhất với Chúa Kitô. Rao giảng PÂ trước hết không phải là làm được một điều gì, đạt được một kết quả nào, đặt một nền móng nào , nhưng là tham dự vào sự tự do của Chúa, vào cái nhìn rộng rãi của Chúa, nghĩa là dự phần vào sự phong phú của tự do khác thường đó.

Bắt chước Chúa để được tuyệt đối không dính bén điều gì. Sứ điệp giải phóng của Chúa Giêsu là chính bản thân Người, Người là hiện thân của sứ điệp: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi,bởi Người đã xức dầu cho tôi, Người đã sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”

Trước khi nghĩ đến những gì phải làm, phải nói, kết quả phải đạt, cần phải ở với Chúa

Tham dự vào sứ vụ của Chúa, vào sự tự do của Chúa, vì là Con TC, làm Một với Chúa Cha. Chúng ta không thể giúp đỡ, giải phóng hoặc trấn an người khác, nếu trước hết chính chúng ta không được tự do, không được trấn an, không được cứu độ.

Người Do Thái đã không nghe Chúa, có lẽ vì họ cảm thấy mất mát lợi lộc nhỏ nhen Ta hãy kiểm điểm xem: có thể có những mơ tưởng lầm lạc, những mối lợi nào cản trở chúng ta chấp nhận Chúa Giêsu làm Đấng giải phóng, cứu độ, Sứ Giả Tin Mừng cho chúng ta? Xin Chúa mở tâm hồn ta để lắng nghe Lời Chúa, đón nhận ơn cứu độ mà Chúa Giêsu hứa ban trước hết cho người rao giảng Tin Mừng.

Bài giảng thứ 2 :

TRỞ NGẠI TRONG VIỆC
HIỂU LỜI RAO GIẢNG

Bản văn ; Luca 24,13-35 Hai môn đệ trên đường Emmaus

Chúa Giêsu, Sứ Giả Tin Mừng thành công

Đoạn PÂ nầy nằm trong đoạn cuối của PÂ Luca, cùng với Luca 4,16-30 mở đầu sứ vu của Chúa Giêsu. Đó là hai điểm then chốt (như 2 trục chính) đóng khung PÂ theo Luca.

Bối cảnh: Trước hết, ta chú ý đến hai môn đệ: họ là ai?

Kế đến, ta nhìn Chúa Giêsu: Người làm gì ?

Thứ ba, ta xem: hai môn đệ phản ứng ra sao?

Sau cùng, Chúa Giêsu đề nghị gì và kết quả ra sao?

I. Khủng hoảng của sứ giả Tin Mừng

1. Hai môn đệ là ai? “Cùng ngày hôm đó,hai người trong nhóm họ (không nói tên) lên đường đi về một làng tên là Emmaus cách Jerusalem 60 dặm”. Đó là hai người trong một nhóm, hai thành viên của nhóm “ưu tuyển”, không phải là bất kỳ hai người nào, nhưng là những người thuộc nhóm chúng ta, đã được chăm sóc, theo dõi, đặt nhiều hy vọng, trong cộng đoàn tiên khởi.

Và họ lên đường, trong lúc khủng hoảng, chán nản, đang bối rối: Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta còn trông mong gì? Điều họ mong ở lời giảng lúc nầy trở thành mơ hồ. “Họ chuyện vãn với nhau về mọi điều mới xảy ra” (24,14). “Họ tranh luận với nhau” (24,15). “Họ dừng lại, bộ mặt ảo não” (24,17).

Tâm trạng buồn thảm, bất an, vì không hiểu , không đón nhận Tin Mừng: rốt cuộc là một kinh nghiệm đắng cay, để lại trong thâm tâm họ một nỗi buồn thảm. Chính vì thế mà họ tranh luận với nhau, họ cần được giải tỏa.

Từ ngữ tranh luận syzetein còn gặp trong Act.15,7.10 (tranh luận dữ dội trong cộng đoàn tiên khởi về việc cắt bì). Dầu họ đồng hành với nhau, thân tình với nhau, nhưng lại bất bình với nhau. Có điều gì xảy ra gây chia rẽ giữa họ?

Sự bất thành của những dự tính, vỡ mộng, làm chúng ta đau , gây ra buồn chán, tranh luận, có thể cáo giác lẫn nhau và đưa tới chia rẽ. Tuy nhiên tất cả những chuyện đó làm nổi bật điều nầy: việc loan báo Tin Mừng, thay vì đem lại bình an nội tâm thì làm cho ta ray rứt, mỏi mệt chán nản. Điều nầy phải làm phát sinh những nghi vấn. Ta không thể vô tư, nếu ta tha thiết với Tin Mừng.

2. Chúa Giêsu làm gì trong lúc nầy

Chúa Giêsu là Tin Mừng, Chúa cũng la Sứ Giả Tin Mừng, và bằng cách nào?

Người dùng nghệ thuật nào? “Chúa Giêsu tiến lại gần bên mà đi với họ”

Đang khi họ chìm đắm trong tình huống bâng khuâng và cay đắng, Chúa Giêsu tiến lại gần, nghĩa là chính Người, với tư cách là Sứ Giả Tin Mừng, khởi xướng việc cứu độ. Một lần nữa chính nơi Chúa Giêsu mà Thiên Chúa nhân hậu đoái đến con người chao đảo, đoái đến sứ giả Tin Mừng gặp bối rối chán nản đang cần được Phúc Âm hóa. Chúa Giêsu tiến lại gần và bắt đầu tiến bước bên họ. Người lặng lẽ bước đi bên họ. Người làm bạn đồng hành với họ, người bạn đồng hành huyền bí, tế nhị, không gây lúng túng, e dè. Họ tiếp tục phát biểu, có lẽ vì thấy Chúa Giêsu tỏ ra có thiện cảm, rồi tự nhiên họ coi Chúa như người trong cuộc.

Đến một lúc, Người lên tiếng: “Các ông vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy? “Người dùng phương pháp gợi chuyện, nêu thắc mắc, để cho các ông nói và từ từ bộc lộ vấn đề. Người giúp họ từ từ bày tỏ nội tâm, nói ra hết những gì họ đang ấm ức bên trong, cho họ nhận thức điều họ đang làm và đang sống, để họ cởi mở những gút mắt bên trong bằng cách diễn tả bên ngoài

Chúa Giêsu đưa ra những câu hỏi thích đáng, khi thì về câu chuyện họ tranh luận “Các ông vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy”, khi thì về tâm trạng của họ “Sao các ông có vẻ buồn sầu vậy?” Câu hỏi đó tức khắc có tác dụng, khiến họ làm bộc lộ tình huống buồn sầu bên trong. Các ông không thể tránh né câu hỏi đơn sơ và nhân ái của Người.

Họ đáp lại thế nào? Phản ứng đầu tiên có vẻ cứng cỏi, khó chịu “Ông là người duy nhất ở Jerusalem không hay biết những chuyện xảy ra trong những ngày nầy”. Chúa Giêsu làm như không để ý tới phản ứng đầu tiên có vẻ khó chịu, vì Người biết phản ứng đầu tiên thường không diễn tả tình huống thật sự đang có, có thể còn e dè chưa muốn cởi mở. Người chấp nhận câu trả lời cứng cỏi đó rồi với sự kiên nhẫn và lòng nhân ái, Người phá tan cái ngại ngùng và tiếp nối cuộc đối thoại. “Chuyện gì vậy?”

II. RAO GIẢNG NỬA CHỪNG (Il kerygma a metà)

Giai đoạn II của cuộc đối thoại với hai môn đệ “nản chí” là một lời đáp trả gây ngạc nhiên “Việc ông GiêsuNazareth, người đã xuất hiện như một vị tiên tri quyền năng trong việc làm và lời nói, trước mặt Thiên Chúa và toàn dân, làm sao các thượng tế và đầu mục của chúng tôi lại nộp Người, cho Người bị án tư hình, và người ta đã đóng đinh Người vào thập giá.”

Nếu chúng ta xem xét kỹ, thì có thể nhận thấy ngay: Phần I của lời đáp trả của hai môn đệ là lời “tuyên xưng đức tin”, đó là lời giảng của Chúa Giêsu tại Nazareth. Ta cũng gặp thấy những lời đó trong bài giảng của Phêrô (Act 2,22-24; 3,13-15;10,37-41), trong bài giảng của Phaolô (Act 13,27-30). Đó chính là những lời giảng được công bố như Sứ Điệp Cứu Độ trong Hội Thánh sơ khai. Là chính Sứ Điệp.

Thế nhưng hai môn đệ công bố Sứ Điệp Cứu Độ mà làm như loan báo một điều bất hạnh, một tin buồn, mặt mũi ủ dột, “ảo nảo”, Họ thốt lên Sứ Điệp mà không hiểu ý nghĩa, Công bố Sứ Điệp như nói về một tai hoạ, một việc không thể cứu vãn nổi: “Phần chúng tôi, chúng tôi đã hy vọng rằng chính Người sẽ là Đấng sẽ giải thoát Israel. Nhưng với ngằn ấy cơ sự, nay đã là ngày thứ ba rồi, kể từ khi các việc ấy diễn ra. Đã hẳn có vài phụ nữ trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi lo sợ. Tảng sáng họ đã đến mồ; và không gặp thấy xác Người, họ về phân phô là họ đã thấy thiên thần hiện ra nói rằng Người đang sống. Có vài người trong chúng tôi đã đi tới mồ và đã thấy y như các phụ nữ đã nói, còn Người thì họ không gặp thấy “Ở đây Sứ Điệp Cứu Độ, dù được trình bày với sự e dè, vẫn bao hàm các yếu tố cần thiết: ba ngày, các phụ nữ đến mồ, các thiên thần hiện ra báo tin Chúa Giêsu đang sống. Hoặc được nói ra như một biến cố không ai hiểu nổi, một sự việc đáng lẽ không thể xảy ra và trở thành một thảm kịch cho tất cả những ai hy vọng nơi Người. Đó là Lời giảng hay sứ điệp chưa trọn, lưng chừng, chi loan báo bằng lời, mà thiếu tâm hồn hoặc với tâm hồn buồn thảm, cam chịu, thất vọng làm cho người rao giảng cảm thấy đắng cay, thì làm sao thuyết phục được người nghe.

Chúa Giêsu đã làm gì trước thực trạng mâu thuẫn như thế?

Thông thường ta phản ứng như thế nào ?

Ta tím cách giải thích sự việc sao cho nhẹ bớt đi, tìm lời an ủi, khuyên bảo “can đảm lên, cầu nguyện đi rồi sẽ vượt qua”.

Không cách nào được coi là dũng cảm như cách hành động của Chúa Giêsu, là giải đáp duy nhất, đúng là loan báo Tin Mừng, là lời cứu độ, là chân lý đến từ Thiên Chúa.

III. LOAN BÁO ĐẦY ĐỦ (kerygma completo)

Làm sao lời của Chúa Giêsu là lời cứu độ, lời thật là mới mẻ, thật bất ngờ, khó tin, rất đơn giản, hoàn toàn thích hợp với tình huống, vì đối mặt với tình huống từ bên trong?

Chúa đi vào vấn đề từng bước một. Bước thứ nhất là tấn công, khiển trách mạnh mẽ: “Ôi, những kẻ khờ khạo! Lòng trí các anh sao chậm chạp không chịu tin vào mọi điều các tiên tri đã nói!” Lời khiển trách có thể gây sửng sốt, nhưng cần phải thức tỉnh họ. Chúa Giêsu muốn làm cho họ hiểu rằng nổi buồn của họ, sự tuyệt vọng của họ, cách nhìn sai lạc của ho cần phải được thay đổi triệt để. Các anh tin rằng mình đã làm môn đệ Chúa Giêsu, và các anh đã không học được gì, tất cả những luyện tập của các anh đã không giúp ích gì cho các anh.

Bước thứ hai, Chúa Giêsu trưng dẫn Kinh Thánh về lịch sử ơn cứu độ:

Nào Đức Kitô lại không phải chịu khổ nạn như thế đã, rồi mới vào vinh quang của Người sao? Đó là chìa khóa mà Chúa Giêsu đặt trên tất cả những biến cố trước đó: cũng những biến cố đó, nhưng cách giải thích của Người có sức đảo ngược ý nghĩa của chúng.

Chung qui, vấn đề của hai môn đệ là gì?

Vấn đề của chúng ta mỗi khi đứng trước một tình huống tương tự?

Chúng ta không nói như thế nầy sao “Thiên Chúa ở đâu rồi? Sao Chúa không tỏ mình ra? Nếu ông ấy là người của Thiên Chúa, sao Ngài không giúp đỡ ? Công lý ở đâu? Quyền phép của Chúa ở đâu”.

Câu trả lời của Chúa Giêsu là cách duy nhất cho kinh nghiệm mà chúng ta đang sống, là chiếc chìa khóa mà chúng ta cần đến: Thiên Chúa nắm giữ trong tay tất cả mọi sự và trong chương trình của Ngài mọi sự xảy ra như vậy, mọi sự xảy ra theo kế hoạch cứu độ mà Chúa Giêsu ân cần giải thích. Kế hoạch đó chúng ta tìm thấy trong Kinh Thánh “khởi sự từ Môisen và hết thảy các Tiên Tri, Ngài dẫn giải cho họ các điều đã viết về Ngài trong toàn bộ Kinh Thánh”. Chúng ta biết Abraham bị thử thách như thế nào khi Chúa truyền cho ông sát tế Isaac, thử thách của con cháu Giacob khi sắp sửa vượt qua Biển Đỏ, họ có thể đã nghĩ rằng mình sẽ bị chìm ngập và chết đuối, những đau khổ mà Môisen và các Tổ Phụ Do Thái đã trải qua trước khi vào được Đất hứa, và qua những giờ phút tâm tối nầy TC đã đào tạo dân của Ngài.

Bước thứ ba, Chúa Giêsu đã đem đến cho hai môn đệ ánh sáng, tháo gỡ những gút măt, làm cho họ lại thân thiện với nhau… trước đó tranh cãi với nhau, còn bây giờ thì lại làm hoà với nhau và cả hai cùng nài ép “người bạn đồng hành” ở lại với họ: “Xin Ngài ở lại với chúng tôi”. Khi đã ngồi vào bàn, Chúa Giêsu tỏ mình ra cho họ : khi vào bàn với họ, Ngài cầm lấy bánh, chúc tụng, đoạn bẻ ra trao cho họ, thì mắt họ mở ra , và họ nhận biết Ngài. Chúa Giêsu tỏ mình ra bằng dấu chỉ quen thuộc với họ, dấu chỉ Bẻ Bánh. Đối với Luca, Bẻ Bánh chắc chắn cũng sẽ là dấu chỉ những lần Chúa Giêsu tỏ mình ra trong Hội Thánh. Chúa Giêsu tỏ mình gần gũi họ, ở với họ, Người hiện diện. Việc tỏ mình ra nầy, sự hiện diện nầy phá tan mọi hoài nghi, soi sáng mọi sự cặn kẽ, tường tận: “Lòng chúng ta lại đã không cháy bừng bừng, lúc dọc đàng Ngài ngỏ lời với chúng ta, và giải nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta đó sao?”.

Chúa Giêsu Sứ Giả Tin Mừng chẳng những loan báo sứ điệp cứu độ (Il Kerygma), công bố kế hoạch cứu độ của TC vừa thực hiện Kế hoạch với chính bản thân của Người, nhưng còn đốt nóng tâm hồn .

Thật ra không thể giải quyết mọi vấn đề, nếu không co sự hiện diện của Chúa Giêsu và của Thánh Thần của Người là Đấng tháo gỡ những gút mắt tâm hồn, gầy dựng lại khả năng đón nhận chương trình thiện hảo của Thiên Chúa trên vũ trụ, để con người có thể dấn thân cho kế hoạch nầy, như Chúa Kitô chịu đóng đinh là Đấng đầu tiên đã chịu đau khổ, đã trải qua những thảm kịch nầy với những đau khổ nầy.

Không phải lý luận chặt chẽ là đủ, mặc dù đôi khi chúng ta có thể làm được, nhưng cần cảm nhận mình được bao bọc bằng tình yêu của Thiên Chúa bảo đảm cho chúng ta rằng Chúa Giêsu - hiện thân của công bằng, chân lý và khôn ngoan “đang sống và hằng thông ban sự sống của Người cho tất cả những ai bị đè bẹp bất công”. Lòng chúng ta lại đã không cháy bừng bừng, lúc dọc đàng Người ngỏ lời với chúng ta, và giải nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta đó sao? Thánh Luca muốn gợi lên cho chúng ta hai điều: - (1) chúng ta không bao giờ được xao lãng việc giúp cho nhười khác hiểu Kinh Thánh, tức là bổn phận công bố, giải nghĩa Kinh Thánh,

- (2) Việc giải nghĩa và công bố Kinh Thánh phải cho thấy chính tâm hồn chúng ta cũng được sinh động do Thánh Thần của Đấng làm cho kẻ chết sống lại và làm cho người nghe chúng ta có niềm hy vọng nầy.

“Tâm tình của chúng ta biểu lộ trong lời giảng, thì dễ cảm hóa hơn là lý luận suôn”

Bởi vậy chúng ta phải nài xin cho được vào trong trái tim Chúa Giêsu, để có thể tiếp nhận điều mà chính Người là Sứ Giả Tin Mừng chân thật có thể thông ban.

 

Bài giảng thứ 3:

VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG

Dựa trên Tông Đồ Công Vụ, chúng ta suy niệm về việc Loan Báo Tin Mừng theo hai điểm sau đây;

Hiệu quả của việc Loan Báo Tin Mừng,

Bản chất của việc Loan Báo Tin Mừng.

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC LOAN BÁO TIN MỪNG

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu với hai môn đệ đi làng Emmaus làm phát sinh những điều làm biến đổi con người từ nội tâm, tạo cho con người đó một chân trới mới, một hứng khởi mới:

- mắt họ mở ra (Luca 24, 31),

- rồi tâm hồn họ nóng bỏng lên (c.32)

- họ vội vã lên đường để loan báo cho những người khác (c.33) sứ điệp mà họ không thể giữ cho riêng mình,

- sau hết, họ gặp thấy anh em đang hội họp và họ đã công bố Tin Mừng cho mọi người (c.35).

Kinh Thánh ghi lại nhiều hiệu quả nhờ việc loan báo Tin Mừng, nhưng chúng ta chỉ nêu lên vài hiệu quả cụ thể để cho thấy sự thay đổi mà việc loan báo Tin Mừng làm phát sinh trong con người: mắt được mở ra, tâm hồn sốt nóng lên, ước muốn thông truyền cho nhừng người khác, ước muốn gia nhập cộng đoàn.

Nơi nào có những biểu hiện nầy, thì thật sự có loan báo Tin Mừng, còn nơi nào không thấy những biểu hiện nầy, mà chỉ có buồn thảm (trường hợp của hai môn đệ đi làng Emmaus), có cảm thức nặng nề, lo sợ cho tương lai, thất vọng, lúc đó có thể nói không có loan báo Tin Mừng hoặc loan báo chưa đúng mức.

Ở đây tình huống riêng biệt của hai môn đệ đi làng Emmaus được nhấn mạnh bởi vì nó tiêu biểu đời sống Kitô hữu; Ngay lúc lên đường họ đã có sứ điệp, với nội dung chính, là Chúa Giêsu đang sống với họ, nhưng mắt họ chưa được mở ra cũng không có tâm hồn sốt nóng, nên họ đang ở trong tình trạng đau khổ, không thấy gì, không nhận thứ được gì, không hiểu được gì, bởi vì loan báo Tin Mừng mở mắt là nhận thức rằng Thiên Chúa tỏ mình ra cho chúng ta, mở ra cho chúng ta những chân trời bất ngờ trong tình huống chúng ta đang sống.

Việc loan báo TM biến đổi nội tâm, làm cho tâm hồn được hoan hỉ. Kết quả của việc loan báo TM chính là niềm hân hoan bừng dậy bên trong, biểu lộ ra bên ngoài

Chính lời của Thiên Chúa, cuộc đời của Chúa Kitô Phục Sinh, một khi đã thấm nhập vào tâm hồn chúng ta, thay đội đời sống chúng ta,cho phép chúng ta nhìn sự vật, những chân trời, những tình huống trong trật tự mới, trật tự vẫn có trước nhưng con người mê muội, như ở trong đêm tối, không làm sao nhìn thấy được.

LOAN BÁO TIN MỪNG LÀ GÌ ?

Kerygma (proclamation du crieur public) là từ ngữ được dùng để chỉ việc các Kitô hữu đầu tiên loan báo cho những người chưa có niềm tin nội dung đức tin của mình gồm có 4 điều chính yếu:

Đức Giêsu đã bị lên án và giết chết

Thiên Chúa đã cho Người sống lại,

Chúng tôi làm chứng về những điều nầy,

Chính nơi Người mà mọi người có thể được ơn cứu độ.

Thánh Luca trình bày sứ điệp TM bằng hình thức tổng hợp (in forme sintetiche) hay có thể gọi đó là những diễn từ truyền giáo (xem bốn Diễ từ của Phêrô: Act. 2,22-38; 3,13-19; 4,10-12; 10,37-43; Diễn từ của Phaolô tại Antiokia xứ Pisidia 13,22-39).

Có thể lấy Diễn từ đầuu tiên của Phêrô (xem Act 2,14-36) làm thí dụ , trang 37-39.

Ta có thể đọc những diễn từ khác và để ý đến cái khung (schema) làm căn bản cho bài giảng. Nhưng ở đây ta thấy rõ bốn yếu tố có ý nghĩa đặc biệt, vì nó vạch ra những điểm thiết thực căn bản cho việc loan báo TM.

HIỆU QUẢ CỦA VIỆC LOAN BÁO TM : Thiên Chúa có liên hệ gì đến tôi

Yếu tố thứ nhất: “Điều mà chính mắt các ngươi đã thấy, đã được Tiên Tri loan báo questo che voi vedete è cio che fu detto dal profeta. Cách nói nầy được lập đi lập lại nhiều lần: “Điều nầy” muốn nói vê( thực tại ta đang sống, điều ta đang kinh nghiệm.

Người rao giảng phải luôn luôn đề cập đến những vấn đề liên quan mật thiết với thính giả. Bài giảng phải khởi sự từ một kinh nghiệm mà con người đang sống và trong tình huống đó có thể cho thấy một biểu hiện quyền năng của Thiên Chúa.

Quyền năng của TC có thể được biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau:

Ơn nói tiếng lạ trong Diễn Từ của Phêrô ngày lễ Ngũ Tuần (Act 2,5-12)

Người què được chữa lành (Act 3,1-10),sứ vụ bất ngờ Chúa quan phòng sai Phêrô đi đến nhà ông Cornêliô (Act 10),

Phaolô được Thánh Thần sai đi rao giảng cho lương dân ở Pisidia (Act

Quyền năng của TC còn được biểu hiện qua lòng tin của người loan báo, sự xác tín của người rao giảng, tình huống của một người nào đó có thể cho phép một giải thích minh chứng ơn cứu độ, tôn vinh TC.

Yếu tố thứ hai: TC hiện diện và hành động. “TC của cha ông chúng ta, TC của Abraham, của Isaac, của Giacob đã tôn vinh Con của Ngài là Đức Giêsu”(Act 3,13).

Tại sao phải nại đến hành động của TC? Có ích gì cho đời sống của người nghe?

TC nắm giữ trong tay mạng sống của bạn, không bỏ rơi bạn, TC quan tâm đến bạn, bạn có một tầm quan trọng trước mặt Ngài. Tóm lại chúng ta phải luôn luôn cố gắng liên hệ TM với tình huống cụ thể.

Yếu tố thứ ba: TC đảo ngược tình thế bên ngoài, những sự việc của con người .

”Các ông đã giết Người, bằng cách dùng tay vô đạo đóng đinh Người vào thập giá, nhưng TC đã cho Người sống lại, đã gỡ Người khỏi các nỗi đau khổ sự chết” (Act 2,23 -24). Đấng bị khai trừ, giờ được tôn vinh. TC lật đổ cái thức ben ngoài của con người

Sự việc xem ra đi theo hướng dẫn tới mất tin tưởng, chủ bại, chán nản, cảm thấy vô ích. TC có thể đảo ngược tình huống của đời sống bạn cũng như đã đảo ngược tình thế, sự xét đoán nhân loại về đời sớng của Chúa Giêsu.

Yếu tố thứ tư: chính Chúa Giêsu đích thân đến gặp gỡ bạn, sưởi ấm tâm hồn bạn bằng cách nói của Nguời, bằng nghệ thuật làm quen, với những cách thức con người có thể ước đoán được, và thay đổi não trạng và đời sống của bạn. Con người có thể cảm nhận sự hiện diện của Chúa Giêsu gần bên mình hay không, đó là điều ta phải thực tập và sống hàng ngày.

Ơn của Chúa Thánh Thần: Sau cùng không thể bỏ qua một điều quan trong: Ơn Chúa Thánh Thần.Trong trường hợp của hai môn đệ đ Emmaus, Chúa Giesu Phục Sinh đến làm người bạn đồng hành và đã mở lòng trí, mở tâm hồn và cuối cùng mắt cho các ông. Trong những trường hợp khác, Chúa Giêsu đến qua một ơn , đó là một sinh lực mới từ bên trong và là ơn của Chúa Thánh Thần.

Vì vậy Việc loan báo TM buổi đầu (Kerygma), khởi đầu từ tình huống hiện tại của con người, đồng thời nói đến tác động quyền phép của TC đảo ngược cảm nghĩ của con người “TC đã cho Người sống lại, đã gỡ Người khỏi các nỗi đau khổ của sự chết”. Cũng vậy Chúa Giêsu có thể đảo lộn đời sống của bạn và đặt để bên trong bạn một sinh khí mới, một khả năng hành động mới, đó là ơn của Chúa Thánh Thần.

Việc loan báo TM luôn kết thúc bằng cách nói đến thực tại là Chúa Thánh Thần biến đổi chúng ta tự bên trong, với nhiều cách khác nhau: “Thánh Thần mà Chúa Cha đã hứa”, hoặc “ơn tha tội”. Như thế có nghĩa là cất đi khỏi cuộc sống của bạn tất cả những gì cản trở bạn, đè bẹp bạn, không để cho bạn biểu lộ sinh lực dễ dàng.

Quyền năng của Chúa Thánh Thần là chính sự sống mới đang biến đổi: kinh nghiệm sống của sứ giả TM, của cộng đoàn Kitô hữu sống động, những nơi mà chúng ta nhận thấy những sự thay đổi của đức tin, của đức ái, của tinh thần không vụ lợi, của sự nhẫn nại, sự quan tâm đến người nghèo khổ hơn, tinh thần trách nhiệm, can đảm không nao núng dầu nguy hiểm đến tính mạng.

Có thể chúng ta đã có những kinh nghiệm: một hành vi bác ái thật sự, tha thứ, vô vị lợi, để mở lối cho một đời sống mới.

Thật khó mà diễn tả hết bằng những từ ngữ, bởi vì LBTM bao gồm tất cả cái phức tạp của cn người được cứu chuộc, của quyền năng TC đến gặp gỡ chúng ta, của Chúa Kitô Phục Sinh, của Chúa Thánh Thần được Người ban cho chúng ta. Chúng ta hãy cố gắng tìm hiểu xem những nét nổ bật nhất của việc LBTM mà chúng ta đã suy nghĩ , nghiền ngẫm được biểu hiện tới mức nào trong đời sống của chúng ta chớ không phải chỉ co trong những lời của chúng ta: chúng ta đã để cho quyền năng của Đấng Phục Sinh, của Thánh Thần Thiên Chúa đảo lộn những tình huống đến mức nào rồi. Chúng ta có phó thác đời mình hoàn toàn cho Thiên Chúa để Ngài can thiệp mà không bỏ rơi chúng ta đơn dộc trong những thử thách hiện tại, trong nhữngkhi phải đảm nhận trọng trách, để Ngài ở với chúng ta, thông ban sức sống và niềm vui ,

Xin Chúa tỏ cho chúng ta biết. Trong lúc chúng ta đọc lại Lời Chúa trong Kinh Thánh và âm thầm thờ lạy Chúa, chúng ta cảm nhận tất cả tình yêu của Chúa dành cho chúng ta,để chúng ta có thể hiểu được và biết cách tường tận việc LBTM, cũng như nó phải được biểu lộ trong đời sống của chúng ta như thế nào.

Bài giảng thứ 4:

CHÚA GIÊSU SỨ GIẢ TIN MỪNG

TRONG CUỘC KHỔ NẠN

Bối cảnh:

Trước tiên ta hãy đọc lại Thư gởi Tín Hữu thành Philipphê 3,7-9

. Cái lợi tuyệt hảo là được biết Đức Kitô,

. Phải sẵn sàng hy sinh hết mọi sự để được Đức Kitô,

. Nhờ lòng tin , ơn Chua ban, chớ không phải tự súc hèn.

Đó là tâm trạng của Phêrô khi Chúa Giêsu nhìn ông. Ong hiểu rõ mình là ai, Chúa Giêsu là ai, và phải cậy vào sức của Chúa chớ không tự mãn tự phụ.

Phil 3,10-11: Để được biết về Người và quyền năng sống lại của Người, cùng được thông phần vào các sự thống khổ của Người: được đồng hình đồng dạng với sự chết của, để làm sao đạt đến ơn phục sinh từ cõi chết.

Lời Nguyện : tạ ơn và cầu xin.

Suy niệm:

Trong cuộc khổ nạn Chúa Giêsu tiếp tục làm sứ giả TM.

Xưa nay, người ta năng suy niệm cuộc tử nạn của Chúa, bằng cách đi đàng Thánh Giá. Người ta có thể suy niệm về những đau khổ của Chúa, có thể nhấn mạnh việc Chúa còn tiếp tục đau khổ vì những bất công đang lan tràn trên thế giới.

Chúng ta chú ý đến khía cạnh Chúa Giêsu là Sứ Giả TM và là Đấng Cứu Độ trong cuộc khổ nạn.

Để chiêm ngắm CG là Sứ Giả TM do TC Cha gởi đến và cũng là Đấng Cứu Độ,hãy đọc Luca chương 22 và 23. Cả bốn PÂ đều tường thuật về cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu, đều có những điểm chung vì cùng theo một truyền thống cổ xưa, ít có những điểm khác biệt nhau> Luca đưa vào một vài điểm bị bỏ ra và nhấn mạnh Chúa Giêsu là Sứ Giả của Chúa Cha, là Thầy và Đấng Cứu Độ.

Chỉ có Luca ghi lại Chúa Giêsu nhìn Phêrô, an ủi những phụ nữ Jerusalem, tha thứ cho những kẻ đóng đinh Chúa, tiếp nhận tên trộm cùng bị đóng đinh với Người và có lòng thống hối. Chúa Giêsu là Sứ Giả TM Tuyệt hảotrong giờ phút bi thảm nhất trong đời của Người. Ta sẽ suy niệm ba sự kiện ;

Chúa Giêsu bị lăng nhục

Chúa Giêsu bị cám dỗ

Chúa Giêsu đón nhận tên trộm có lòng hối cải

I.CHÚA GIÊSU BỊ LĂNG NHỤC

Luca viết: “Những kẻ giam giữ Người nhạo báng Nguời, họ đánh đập Người, và họ che mặt Người lại mà gạn hỏi Người” Nói tiên tri xem: ai đã đánh ngươi? Và họ còn nói lắm điều khác xúc phạm đến Người”.(22,63-64)

Ta có thể nghĩ đến những cuộc bách hại Giáo Hội, những cuộc tra tấn, tù đày.

Trong 1 Pet.2,22-23: “Người đã không phạm tội và nơi miệng Người không hề có gian dối. Bị nguyền rủa, mà không đáp lại, chịu nạn chịu chết, mà không đe loi, nhưng phó thác cho Đấng xét xử công minh” Đây là thái độ nài Isaia đã mô tả trong bài ca Người Tôi Tớ của Giavê (53,7.9): im lặng trướckẻ hành hạ và giết chết Người.

Ai nhục mạ Chúa Giêsu?

Những tên lính và nhừng người đầy tớ, nghĩa là những người đã từng bị nhục mạ, hành hạ Chính họ cũng đã từng bị người trên nhục mạ và xúc phạm, nên họ nghĩ rằng quyền hành thuộc về kẻ mạnh, còn những người thấp kém thì bị khinh dể, bị ngược đãi. Hãy xem họ đối xử thế nào vớ người người yếu kém hơn, cô thế hơn. Họ bộc lộ tình cảnh khốn khổ con người của họ, kẻ nọ chống lại kẻ khác, buông theo xu hướng của họ. Mang tâm trạng của người bị áp bức, bị đánh đập vô cớ, và bây giờ có thể trút xuống trên ai đó yếu thế hơn họ. Đời sống của họ cay đắng, nặng nề, không lối thoát, thiếu niềm vui trong gia dình Nội tâm họ như thế nào, thì bộc lộ như vậy, bộc lộ hết mức không kềm chế, là kết quả của một tình huống thống khổ không chịu nổi trút xuống trên thân thể Chúa Giêsu.

Họ làm sao?

Khiêu khích và tấn công Người trong điểm thâm sâu nhất: Người là Tiên Tri, là Lời của Thiên Chúa “Ai đã đánh ngươi?” Nhục mạ bằng cách thách thức Người, là Đấng thấu suốt tâm can, là Đấng có thể loan báo một lời chân thật.

Họ nghĩ gì ?

Có thể họ tự hỏi: “Sao người nầy không phản ứng ? không tự vệ khi bị tấn công? Hắn không phải là tiên tri như ta tuởng”. Có thể họ thất vọng vì họ chờ đợi một phản ứng dữ dội mà không thấy, và tất cả chuyện nầy làm cho họ điên đảo và bất an.

Còn Chúa Giêsu, Người phản ứng ra sao?

Trong khi Luca cho chúng ta hiểu rằng Chúa Giêsu đáp trả bằng sự thinh lặng, Gioan thì cho thấy Chúa đáp trả lúc thì im lặng lúc thì bằng vài lời minh giải nhân từ “Nếu tôi nói không phải, thì hãy chứng đâu là không phải; mà nếu toi nói phài, sao lại đánh tôi” (Gioan 18,23).

Xem suy nghĩ của C.Martini, trang 96-97 Chúa Giêsu Sứ Giả TM làm gì ? Đi vào trong nội tâm của con người đánh vả Người cốt để làm cho họ suy nghĩ: Sao anh làm chuyện nầy? Sao anh không được an lòng ? sao anh thấy nhục nhã bên trong? Sao anh cảm thấy bị áp bức, hãy cố tìm hiểu thế nào là những mơ ứơc của anh, hãy tự minh giải cho mình Anh muốn gì để xứng đáng là nguời.

Tất cả những điều nầy chúng ta đón nhận như lời của Thiên Chúa dùng để soi sáng cho chúng ta hiểu sự việc quyền năng của TC không chỉ được biểu lộ qua hành động, nhưng còn trong đau khổ, và trong đau khổ với nhục nhã , đơn sơ, nhân ái.

II. CHÚA GIÊSU CHỊU CÁM DỖ

Bối cảnh:

Thánh Luca ghi lại: Dân chúng đứng nhìn, các đầu mục thì nhạo báng mà rằng: “Nó đã cứu kẻ khác, thì nó hãy cứu lấy mình! Nếu nó là Đức Kitô của TC, Đấng đã được chọn!” Cả lính tráng cũng chế diễu Người, xích lại gần, chúng đưa giấm cho Người, mà rằng: “Nếu mầy là Vua dân Do Thái, thì hãy cứu lấy mình!” Phía trên đầu Người có tấm bảng: Tên nầy là Vua dân Do Thái. Một người trong những kẻ gian phi bị treo đó mắng nhiếc Người: “Phải chăng mầy là Kitô ? Hãy cứu lấy mìnhcùng chúng ta với”(Luca 23,35-39)

Suy niệm:

Có thể so sánh cơn cám dỗ trên thánh giá với cơn cám dỗ trong hoang địa. “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho những viên đá nầy trở thành bánh” nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống”(Luca 4,3.9)

Chúa Giêsu được đề nghị dùng quyền năng thiên sai của mình để phục vụ chính mình. Đàng sau cơn cám dỗ nầy, là cả một ý nghĩ, mà Cựu Ước đã xây đắp. Và có thể đó là hình ảnh của TC mà chúng ta có trong trí, một TC quyền Phép, một TC thống trị.

”Xuống khỏi thập giá để cho mọi người sẽ tin”. Nhưng làm sao biểu lộ hình ảnh của một TC ưng nhận chết vì tình yêu nhân loại?

Hình ảnh của một TC quyền phép, một TC của thành công, một TC mà người ta có thể dùng để nuôi dưỡng những tham vọng riêng, sẽ không còn biểu lộ được hình ảnh chưa từng thấy trong lịch sử các tôn giáo và con người không bao giờ có thể tự mình nghĩ tới, đó là hình ảnh của TC PHỤC VỤ, hiến mạng sống cho con người, yêu thương con người cho đến trút bỏ mọi sự vì yêu thương nó và chấp nhận huỷ diệt chính mình ra không. Chúa Giêsu đã đến để phủ nhận ý nghĩ nầy, ý nghĩ về một TC Thống Trị, đòi hỏi, nôn nóng, chỉ muốn tìm kiếm lợi lộc riêng cho mình nơi con người. PÂ mang hình ảnh của một TC của lòng thương xót, tự trút bỏ chính mình vì yêu thương con người.

Xem tiếp Sứ Giả TM trang 99 “chúng ta khó mà hình dung…”

CHÚA GIÊSU SỨ GIẢ TM TRÊN THÁNH GIÁ

Bối cảnh:

Bức tranh sau cùng là cảnh Chúa Giêsu biểu lộ chính mình là Sứ Giả TM đầy đủ ý nghĩa và đạt qủa đầu tiên của đời sống và sự chết loan báo TM của Người.

“Một trong những kẻ gian phi bị treo ở đó mắng nhiếc Người:Phải chăng mầy là Kitô? Hãy cứu lấy mình cùng chúng ta với! Nhưng tên kia lên tiếng mắng bảo nó: Mầy không kính sợ TC sao, ngay lúc mầy cũng mắc cùng một án? Phần ta, thật là phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; nhung ông nầy, ông không hề làm điều gì trái! Và hắn nói: Lạy Đức Giêsu,xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài! Và Người đã nói với hắn: “Quả thật, Ta bảo ngươi: ngay hôm nay, ngươi sẽ ở trên thiên đàng làm một với Ta”(Luca 23,3943).

Suy niệm: Chúng ta hãy dừng lại để suy niệm những lời nầy, những lời mà chỉ có Luca ghi lại, và nói được là một sự phân tích cặn kẽ về điều gì đang thấm nhập dần dần trong con người hối cải (tên trộm sám hối).

Chúng ta nghĩ con người nầy là ai: một tên gian phi, bất lương, là một kẻ đã từng sống bạo lực, luật của kẻ mạnh thế hơn, và đến một lúc nào đó, anh ta đã phải bị luỵ, chịu thua những người khác mạnh hơn. Giờ đây anh ta đang ở trong một tình thế chán nản, cuồng dại, căm phẫn với xã hội: một tình huống chắc chắn hỗn loạn và quẫn bách. Ngược lại, khi ngắm nhìn Chúa Giêsu chịu đau khổ với cung cách khiêm tốn và hiền hậu, anh ta từ từ nhận thấy cách hiển nhiên: có một thế giới mới có những giá trị và những tương quan mới, chớ không phải chỉ có bạo lực, không chỉ có luật của kẻ mạnh hơn. Anh khám ohá một tình nhân ái mà anh chưa bao giờ biết tới, cũng không hề tưởng nghĩ có thể có được và đang sờ sờ ngay bên anh : Anh khám phá một kiểu người mới không mạo hiểm trong những cách hành xử bằng sức mạnh, không dùng quyền lực của mình, thứ quyền lực được người ta cho là có hoặc được gán cho, và đang nhẫn nhục chịu đau khổ .

Quả thật đó là một điều khó tin, chưa từng nghẻ, và làm cho anh ta từ từ hiểu chút ít tình huống của người thành Nazareth nầy đã chấp nhận bị đặt để vào, hàng gian ác: “Phần chúng ta, thật là phải lẽ, ta chuốc lấy đáng tội đã làm; còn ông nầy,ông không hề làm điều gì trái”. Anh đấ bắt đàu thấy rõ những tương quan giữa sự vật, phê phán đúng về những con người, và cái nền tảng của sự luơng thiện, chắc chắn đã có nơi anh ta, từ từ nổi lên và bộc lộ cách tự nhiên; có sự khác biệt giữa chúng ta và anh ấy, chúng ta thì khác, anh ấy tiêu biểu cho một hạng người khác.

Cho tới lúc nầy cái lương thiện của con người trong anh ta chỉ được lộ ra, nhưng đến một lúc, khi nhìn xem cung cách Chúa Giêsu chịu đau khổ và thái độ phó thác trong tay Cha, anh thực hiện một bước quyết liệt đầy tín thác và phát ra thành lời cầu nguyện: “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nuớc của Ngài”.

Chúng ta nên chú ý điều nầy: đây là lần thứ nhất trong PÂ Chúa Giêsu được gọi đích danh và gọi cách thân thiết (các Tông đồ gọi Người là Chúa hay là Thầy). Ở đây,nhờ cùng chịu một cảnh ngộ, cùng chịu đau khổ mà đã nhanh chóng đi đến tình bạn, thứ tình bạn có thể làm cho người ta hiểu nhau đến tận thâm tâm: anh cảm thấy Chúa Giêsu là một người bạn, cảm thấy mình được Người thấu hiểu và muốn ngỏ lời xưng hô trực tiếp hơn: “Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi, khi Ngài đến trong Nước của Ngài”. Bằng cách nầy, Anh diễn tả tình bạn của anh, niềm tin của anh, sự phó thác cho quyền năng của TC đang hoạt động trong Chúa Giêsu: Anh là một người đã hiểu PÂ cách hoàn hảo , đã hiểu rằng quyền năng của TC được biểu lộ nơi Đấng bị đóng đinh đó, cảm thấy một lối sống khác với lối sống của anh trước đây, một lối sống huynh đệ mà chính anh, từ lúc nầy có thể thực hành bằng một lời thân thiện. Nếu có tình bạn, người ta có thể tin tưởng nhau và nếu người bạn nầy có đầy quyền năng, cũng có thể giúp tôi, thì tôi có thể lao mình vào người đó.

Đây là một người đã tái lập tòa bộ nhừng tương giao của đời sống mình trong thời gian ngắn ngủi. Từ một cuộc sống chất chứa ngờ vực, bạo lực, đối xử tàn bạo với nhau, đến một tình trạng trong đó có tình bạn,co sự trung tín, tín nhiệm nhau và trong sáng. Do những sự việc nầy, nếu TC biểu lộ chính minh, thì Ngài không thể làm gì khác hơn là tự biểu lộ trong mô hình mới của tình nhân loại thân thiết, tin tưởng,cao quý trong đau khổ, có khả năng đưa đến những tương giao mới.

Và đây là lời của Chúa Giêsu: “Thật, Ta bảo thật vớ anh, ngay hôm nay anh sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta”

Anh ấy là người thứ nhất được Chúa ban ơn Cứu Độ, người thứ nhất được loan báo Tin Mừng. Được loan báo TM trước khi có sự sống lại, được loan báo TM do vinh quang của Thiên Chúa chiếu tỏa trong cung cách Chúa Giêsu chịu đựng đau khổ và chịu bất công. Đó là những điều mà chúng ta vừa kịp hiểu được, mà chúng ta khó diễn tả bằng lời nói, vì chúng ta hiểu rằng không phải nhờ phân tích nhừng lời nói, mà đúng hơn là chia sẻ, cảm thông những gì Chúa Giêsu sống, chúng ta mới có thể đi sâu vào thực tại của nó
 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster:
tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tamle

Home Page
Trở về đầu trang


Mừng Thọ 100 tuổi
Đức Cha Antôn
Nguyễn Văn Thiện

Nguyên Giám Mục
Giáo Phận Vĩnh Long

Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:
pettham@gmail.com
Doi dong gioi thieu
Tin Giao Hoi toan cau va Giao Phan
Muc Vu
Suy niem Loi Chua
Phung Vu
Giao Ly Cong Giao
Truyen Giao
Thanh Nhac
Cac Trung Tam Hanh Huong
Bac Ai Xa Hoi
Tai Lieu Nghien Cuu
Chuyen mien Tay Nam Bo
Cuoi chut choi !
Lien Ket Web

 

Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics