Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics
Lời Chủ Chăn | Lược Sử | Họ Đạo | Dòng Tu | Linh Mục | Giám Mục

Web GiaophanVinhLong

NĂM THÁNH 2010 - KỶ NIỆM 50 NĂM
THIẾT LẬP HÀNG GIÁO PHẨM VIỆT NAM

Danh Sách
Các Ðức Hồng Y Tổng Giám Mục và Giám Mục Việt Nam
(Xếp theo thứ tự thời gian được Tấn Phong Giám Mục)

1. (11/06/1933) Ðức giám mục Gioan Baotixia Nguyễn Bá Tòng
2. (29/06/1935) Ðức giám mục Giuse Ða Minh Hồ Ngọc Cẩn
3. (04/05/1938) Ðức Tổng giám mục Phêrô Martinô Ngô Ðình Thục
4. (03/12/1940) Ðức giám mục Gioan Maria Phan Ðình Phùng
5. (29/10/1945) Ðức giám mục Tađêô Lê Hữu Từ
6. (04/08/1950) Ðức giám mục Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi
7. (15/08/1950) Ðức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê
8. (03/09/1950) Ðức giám mục Ða Minh Hoàng Văn Ðoàn
9. (16/09/1951) Ðức giám mục Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức
10. (19/03/1953) Ðức giám mục Giuse Trương Cao Ðại
11. (30/11/1955) Ðức giám mục Simon Hoà Nguyễn Văn Hiền
12. (30/11/1955) Ðức Tổng giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình
13. (07/02/1956) Ðức giám mục Phêrô Khuất Văn Tạo
14. (26/04/1959) Ðức giám mục Phaolô Bùi Chu Tạo
15. (05/03/1960) Ðức giám mục Vinh Sơn Phạm Văn Dụ
16. (25/03/1960) Ðức giám mục Ðaminh Ðinh Ðức Trụ
17. (23/04/1960) Ðức giám mục Phêrô Maria Nguyễn Huy Quang
18 (10/11/1960) Ðức giám mục Giuse Maria Phạm Năng Tĩnh
19. (22/01/1961) Ðức giám mục Antôn Nguyễn Văn Thiện
20. (22/01/1961) Ðức giám mục Micae Nguyễn Khắc Ngữ
21. (22/01/1961) Ðức giám mục Giuse Trần Văn Thiện
22. (22/01/1961) Ðức Tổng giám mục Philipphê Nguyễn Kim Ðiền
23. (15/03/1963) Ðức giám mục Phaolô Trần Ðình Nhiên
24. (02/06/1963) Ðức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn
25. (15/08/1963) Ðức Hồng Y Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng
26. (13/02/1964) Ðức giám mục Giuse Lê Quý Thanh
27. (05/05/1965) Ðức giám mục Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang
28. (06/01/1966) Ðức giám mục Giuse Phạm Văn Thiên
29. (06/01/1966) Ðức giám mục Phanxicô Xaviê Trần Thanh Khâm
30. (09/01/1966) Ðức giám mục Giuse Lê Văn Ấn
31. (24/06/1967) Ðức Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận
32. (15/08/1967) Ðức giám mục Phêrô Nguyễn Huy Mai
33. (12/09/1968) Ðức giám mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu
34. (12/03/1971) Ðức giám mục Phêrô Maria Nguyễn Năng
35. (11/08/1974) Ðức giám mục Ða Minh Nguyễn Văn Lãng
36. (11/08/1974) Ðức giám mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi
37. (11/08/1974) Ðức giám mục Phaolô Huỳnh Ðông Các
38. (17/03/1975) Ðức giám mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm
39. (27/03/1975) Ðức giám mục Alexis Phạm Văn Lộc
40. (05/04/1975) Ðức giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hoà
41. (01/05/1975) Ðức giám mục Gioan Baotixita Bùi Tuần
42. (06/06/1975) Ðức giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Quang Sách
43. (06/06/1975) Ðức giám mục Emmanuel Lê Phong Thuận
44. (10/06/1975) Ðức giám mục Anrê Nguyễn Văn Nam
45 (22/06/1975) Ðức giám mục Phêrô Phạm Tần
46. (29/06/1975) Ðức giám mục ÐaMinh Lê Hữu Cung
47. (16/07/1975) Ðức giám mục Phaolô Maria Nguyễn Minh Nhật
48. (15/08/1975) Ðức giám mục Raphael Nguyễn Văn Diệp
49. (07/09/1975) Ðức Tổng giám mục Stêphanô Nguyễn Như Thể
50. (22/02/1976) Ðức giám mục Giacôbê Huỳnh Văn Của
51. (30/03/1976) Ðức giám mục Giuse Phan Văn Hoa
52. (14/11/1976) Ðức giám mục Giuse Phan Thế Hinh
53. (24/04/1977) Ðức giám mục Giuse Nguyễn Thiện Khuyến
54. (02/02/1978) Ðức giám mục Louis Phạm Văn Nẫm
55. (18/02/1979) Ðức giám mục Giuse Maria Nguyễn Tùng Cương
56. (04/03/1979) Ðức giám mục Phêrô Gioan Trần Xuân Hạp
57. (08/08/1979) Ðức giám mục Giuse Maria Vũ Duy Nhất
58. (08/12/1979) Ðức giám mục Giuse Maria Ðinh Bỉnh
59. (22/04/1981) Ðức giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang
60. (15/08/1981) Ðức giám mục Giuse Trịnh Chính Trực
61. (22/11/1981) Ðức giám mục Phêrô Trần Thành Chung
62. (10/10/1982) Ðức giám mục Louis Hà Kim Danh
63. (16/12/1988) Ðức giám mục Giuse Nguyễn Văn Yến
64. (25/01/1989) Ðức giám mục Giuse Nguyễn Quang Tuyến
65. (11/04/1991) Ðức giám mục Giuse Nguyễn Phụng Hiểu
66. (03/12/1991) Ðức giám mục Phêrô Nguyễn Văn Nhơn
67. (07/05/1992) Ðức giám mục Tôma Nguyễn Văn Trâm
68. (19/11/1992) Ðức giám mục Phaolô Maria Cao Ðình Thuyên
69. (11/08/1993) Ðức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn
70. (15/08/1994) Ðức giám mục Phaolô Lê Ðắc Trọng
71. (17/06/1997) Ðức giám mục Giuse Nguyễn Tích Ðức
72. (18/06/1997) Ðức giám Mục Phêrô Nguyễn Văn Nho
73. (06/01/1999) Ðức giám mục Phêrô Trần Ðình Tứ
74. (20/05/1999) Ðức giám mục Phaolô Bùi Văn Ðọc
75. (29/06/1999) Ðức Tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt
76. (29/06/1999) Ðức giám mục Giuse Trần Xuân Tiếu
77. (12/08/1999) Ðức giám mục Phêrô Nguyễn Soạn
78. (30/06/2000) Ðức giám mục Phaolô Nguyễn Bình Tĩnh
79. (15/08/2000) Ðức giám mục Tôma Nguyễn Văn Tân
80. (08/08/2001) Ðức giám mục Giuse Hoàng Văn Tiệm
81. (11/08/2001) Ðức giám mục Phaolô Nguyễn Thanh Hoan
82. (17/08/2001) Ðức giám mục Giuse Vũ Duy Thống
83. (02/01/2003) Ðức giám mục Giuse Vũ Văn Thiên
84. (06/01/2003) Ðức Tổng giám mục Phêrô Nguyễn Văn Tốt
85. (18/02/2003) Ðức giám mục Stêphanô Tri Bửu Thiên
86. (11/06/2003) Ðức giám mục Ðôminicô Mai Thanh Lương
87. (28/08/2003) Ðức giám mục Micae Hoàng Ðức Oanh
88. (01/10/2003) Ðức giám mục Antôn Vũ Huy Chương
89. (04/08/2004) Ðức giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh
90. (11/11/2004) Ðức giám mục Ðominicô Nguyễn Chu Trinh
91. (07/04/2005) Ðức giám mục Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng
92. (15/12/2005) Ðức giám mục Giuse Võ Ðức Minh
93. (18/01/2006) Ðức giám mục Phêrô Nguyễn Văn Ðệ
94. (04/08/2006) Ðức giám mục Giuse Châu Ngọc Tri
95. (03/12/2007) Ðức giám mục Giuse Ðặng Ðức Ngân
96. (07/10/2008) Ðức giám mục Cosma Hoàng Văn Ðạt
97. (15/11/2008) Ðức giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm
98. (05/12/2008) Ðức giám mục Lorensô Chu Văn Minh
99. (12/05/2009) Ðức giám mục Vinhsơn Nguyễn Văn Bản
100.(08/09/2009)Ðức Giám Mục Giuse Nguyễn Năng
101(10/10/2009) Ðức Giám Mục Tôma Vũ Đình Hiệu

Hàng Giáo Phẩm Việt Nam

I. Ðức Giám Mục tiên khởi người Việt Nam

- Ngày 11/6/1933 Ðức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, nguyên chính xứ Tân Ðịnh (Sàigòn), được Ðức Piô XI tấn phong Giám Mục tiên khởi người Việt Nam tại Ðền Thánh Phêrô tại La-Mã.

II. Thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam

- Năm 1954: với Hiệp Ðịnh Geneve chia đôi nước Việt Nam thành hai miền Nam và Bắc, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới. Miền Bắc dưới chế độ Cộng Sản, miền Nam dưới chế độ Cộng Hòa. Hơn 670,000 giáo dân miền Bắc di cư vào niềm Nam .

- Ngày 24/11/1960: Ngày 24/11/1960, Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đã ra tông hiến Venerabilium Nostrorum thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam với ba Giáo Tỉnh: Hà Nội - Huế - Sàigòn và các lãnh thổ truyền giáo được nâng lên hàng Giáo Phận theo đúng quy luật Giáo Hội hoàn vũ. Tông Hiến này được công bố trong ngày Lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội.

+ Giáo Tỉnh Hà Nội (1679) bao gồm các giáo phận Lạng Sơn (1913), Hải Phòng (1678), Hưng Hóa (1895), Bắc Ninh (1883), Phát Diệm (1901), Bùi Chu (1848), Thái Bình (1936), Thanh Hóa (1932) và Vinh (1846).

+ Giáo Tỉnh Huế (1850) bao gồm các giáo phận Qui Nhơn (1844), Nha Trang (1957), Kontum (1932), Ðà Nẵng (1963), và Ban Mê Thuột (1967).

+ Giáo Tỉnh Sàigòn (1844) bao gồm các giáo phận Vĩnh Long (1938), Cần Thơ (1955) và 3 giáo phận mới là Ðà Lạt (1960), Mỹ Tho (1960), và Long Xuyên (1960). Cùng những giáo khác mới thành được thiết lập sau này: Phú Cường và Xuân Lộc (1966), Phan Thiết (1975).

Ðang lúc đó nhiều cộng đoàn đã được nâng lên hàng tỉnh dòng như dòng Chúa Cứu Thế (1964), Chi dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam (1964), dòng Ða Minh Việt Nam (1967) và dòng Phanxicô Việt Nam (1969), dòng Sư Huynh các trường Công Giáo (1897), dòng các nữ tu thánh Phaolô (1864).

- Năm 1960: Cũng trong Tông Hiến Venerabilium Nostrorum, Tòa Thánh thiết lập thêm 3 địa phận mới:

+ Giáo Phận Ðà Lạt : Gồm các tỉnh Tuyên Ðức, Lâm Ðồng, Quảng Ðức, Phước Long. Tân giáo phận Ðà Lạt trao cho Ðức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền.

+ Giáo Phận Mỹ Tho : Gồm các tỉnh Ðịnh Tường, Kiến Phong. Tân giáo phận Mỹ Tho đặt dưới sự chăm sóc của Ðức Cha Giuse Trần Văn Thiện.

+ Giáo Phận Long Xuyên : Gồm các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Chương Thiện. Tân giáo phận Long Xuyên được quản nhiệm bởi Ðức Cha Michael Nguyễn Khắc Ngữ.

Ðức Tân Giám Mục Nguyễn Khắc Ngữ sinh năm 1909 tại địa phận Lạng Sơn (Bắc Việt). Năm 1929, ngài du học tại Pháp và theo học tại chủng viện Lucon, thụ phong linh mục năm 1934 và làm giáo sư chủng viện Lạng Sơn. Năm 1938, ngài được bổ nhiệm làm thư ký Tòa Khâm Sứ Tòa Thánh tại Huế, giúp việc cho Ðức Khâm Sứ Antonin Drapier. Ngài làm cha chánh xứ họ Lục Bình, Mỹ Sơn và bề trên địa phận Lạng Sơn. Ngày 1/12/1960, Tòa Thánh tấn phong ngài làm Giám Mục chánh tòa, coi sóc tân giáo phận Long Xuyên.

- Năm 1960: Tòa Thánh cũng chọn Ðức Cha Phêrô Khuất Văn Tạo làm tân Giám Mục giáo phận Hải Phòng. Ngài cũng làm giám quản giáo phận Bắc Ninh cho đến năm 1963.

- Năm 1960: Cũng trong năm 1960, Tòa Thánh lại chọn cha Phêrô Nguyễn Huy Quang làm tân Giám Mục giáo phận Hưng Hóa.

- Năm 1960: Giáo Phận Thái Bình đón nhận đức tân Giám Mục Ða Minh Ðinh Ðức Trụ, được Tòa Thánh chọn làm giám mục giáo phận Thái Bình ngày 5/3/1960.

- Năm 1960: Ðức tân Giám Mục Vincente Phạm Anh Dụ cai quản giáo phận Lạng Sơn được phong Giám Mục ngày 5/3/1960 (nhưng cho tới 1992, nhà cầm quyền Hà Nội mới công nhận). Ngài sinh ngày 14/10/1922 tại Phát Diệm.

- Năm 1963: Giáo Phận Ðà Nẵng, gồm hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Tín được thành lập. Tân Giáo Phận được trao cho Ðức Cha Phêrô Phạm Ngọc Chi.

- Năm 1963: Tòa Thánh tấn phong Giám Mục cho Linh Mục Phaolô Trần Ðình Nhiên, và đề cử ngài làm Giám Mục phụ tá địa phận Vinh.

- Năm 1963: Ðức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn được đề cử làm Giám Mục phó giáo phận Hà Nội (2/1963).

- Năm 1963: Ðức Cha Phaolô Phạm Ðình Tụng, tân Giám Mục giáo phận Bắc Ninh. Ngài sinh 1919 tại họ Cầu Mễ, thuộc xứ Quảng Nạp, giáo phận Phát Diệm. Ngài thụ phong linh mục năm 1949, và được tấn phong Giám Mục ngày 15/8/1963.

- Năm 1964: Tòa Thánh chọn cha Giuse Lê Quí Thanh làm Giám Mục phụ tá giáo phận Phát Diệm.

- Năm 1965: Tòa Thánh chọn cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, làm Giám Mục giáo phận Cần Thơ, thay thế Ðức Cha Philiphê Nguyễn Kim Ðiền nhận quyền Tổng Giám Mục Huế.

- Năm 1966: Tòa Thánh cắt các tỉnh Long Khánh, Biên Hòa, Phước Tuy và thị xã Vũng Tàu từ giáo phận Sàigòn, để thành lập Giáo Phận Xuân Lộc, tân giáo phận này được trao cho Ðức Cha Giuse Lê Văn Ấn.

- Năm 1966: Tân Giáo Phận Phú Cường được thành lập, gồm các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Bình Long, Phước Long. Giáo Phận Phú Cường được trao cho Ðức tân Giám Mục Giuse Phạm Văn Thiên.

- Năm 1966: Giáo phận Sàigòn có thêm Ðức Cha Phanxicô Xaviê Trần Thanh Khâm, Giám Mục phụ tá Tổng Giáo phận Sàigòn.

- Năm 1967: Giáo Phận Ban Mê Thuột được thành lập, bao gồm các tỉnh Ðắc Lắc, Quảng Ðức, Phước Long, tân giáo phận được trao cho Ðức Cha Phêrô Nguyễn Huy Mai.

- Năm 1967: Ðức tân Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận đảm nhận giáo phận Nha Trang.

- Năm 1967: Ðức Cha Anselmo tadeo Lê Hữu Từ tạ thế. Ðức cố giám mục sinh ngày 28/10/1897 tại làng Di Loan, Quảng Trị, theo học tiểu chủng viện An Ninh, sau đó đại chủng viện Phú Xuân (Huế). trong thời gian học đại chủng viện, ngài xin gia nhập dòng khổ tu Phước Sơn, và thụ phong linh mục ngày 22/12/1928. Ngày 19/7/1945, Tòa Thánh chọn Ngài làm Giám Mục phụ tá giáo phận Phát Diệm. Năm 1946, Ðức Cha Lê Hữu Từ chính thức nhận quyền Giám Mục giáo phận Phát Diệm. Ngày 24/4/1967, Ngài qua đời tại nhà hưu dưỡng Phát Diệm, Xóm Mới, Gò Vấp, thọ 74 tuổi.

- Năm 1968: Cha Giacobê Nguyễn Văn Mầu được tấn phong Giám Mục. Ngài là giám mục giáo phận Vĩnh Long, thay thế Ðức Cha Nguyễn Văn Thiện.

- Năm 1968: Ðức Cha Phaolô Nguyễn Ðình Nhiên tạ thế, sau 5 năm làm Giám Mục phụ tá giáo phận Vinh.

- Năm 1971: Ðức Cha Gioan Baotixita Trần Hữu Ðức tạ thế. Ngài sinh năm 1892, tại Phước Tân, huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tỉnh. Ngài theo học tại chủng viện Xã Ðoài. Ngày 15/9/1951, được Ðức Cha De Cooman tấn phong Giám Mục. Ngài mất tại Xã Ðoài (Vinh) ngày 5/1/1971, sau 20 năm cai quản giáo phận.

- Năm 1973: Ðức Cha Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền tạ thế. Ðức cố giám mục sinh ngày 23/3/1906 tại làng Nhu Lý, Quảng Trị. Ngài gia nhập chủng viện ngày 8/6/1917. Năm 1932, du học tại trường Truyền Giáo Rome. Ngày 21/12/1935, ngài thụ phong linh mục và tiếp tục học tại Rome. Trở về Việt Nam năm 1940, ngài được Tòa Giám Mục Huế bổ nhiệm làm giáo sư trường Thiên Hữu, sau đó làm giám đốc đại chủng viện Kim Long. Ngày 20/9/1955, ngài được Tòa Thánh chọn làm giám mục giáo phận Sàigòn. Năm 1960, ngài được đề cử làm giám mục tân giáo phận Ðà Lạt. Ngài mất ngày 5/7/1973, sau 13 năm cai quản giáo phận Ðà Lạt.

- Năm 1974: Ðức cha Lê Quí Thanh tạ thế. Ðức cố Giám Mục sinh ngày 19/3/1900 tại An Hòa, Duy Tiên, Hà Nam, là cháu ba đời của nhà bác học Lê Quí Ðôn. Ngài thụ phong linh mục ngày 17/3/1934, giáo sư chủng viện Phúc Nhạc, rồi giám đốc trường thày giảng Phát Diệm, giáo sư chủng viện Thượng Kiệm. Ngày mồng Một Tết Giáp thìn (13/2/1964), ngài thụ phong Giám Mục, sau 10 năm giữ chức giám mục phó cho Ðức Cha Bùi Chu Tạo. Ngài qua đời vào ngày 7/5/1974, thọ 74 tuổi.

- Năm 1974: Ðức Cha Ða Minh Hoàng Văn Ðoàn tạ thế. Ðức cố Giám Mục sinh ngày 15/10/1912 tại Trà Lũ, Phú Nhai, Nam Ðịnh. Năm 1927, ngài được chọn vào chủng viện Ninh Cường; năm 1932 theo học lớp Triết tại Giáo Hoàng Học Viện Nam Ðịnh. Qua 3 năm Triết, ngài xin gia nhập dòng Ða Minh Quần Phương. Sau đó, du học tại Ða Minh Học Viện ở Hồng Kông (1/1936). Năm sau ngài qua Bỉ (1937), và Paris (1938). Học nội trú tại Nhà Dòng Etoiles và theo học ban văn chương tại đại học Sorbonne. Cũng năm ấy ngài thụ phong linh mục. Năm 1944, ngài đậu tiến sĩ Thần Học, và dạy tiếng La Tinh, Hi Lạp, Do Thái tại nhà dòng thánh Maximin và đại học Collegessete. Ngày 12/9/1950, ngài thụ phong Giám Mục cai quản giáo phận Bắc Ninh. Năm 1963, nhận quyền Giám Mục giáo phận Qui Nhơn. Ðức Cha Ðaminh Hoàng Văn Ðoàn mất ngày 20/5/1974 tại Qui Nhơn.

- Năm 1974: Ðức Cha Giuse Lê Văn Ấn tạ thế. Ngài mất ngày 17/6/1974, sau 8 năm cai quản giáo phận Xuân Lộc.

- Ngày 11/8/1974: Tòa Thánh tấn phong Ðức Cha Phaolô Huỳnh Ðông Các Giám Mục Giáo Phận Qui Nhơn.

- Năm 1975: Giáo Phận Phan Thiết được thiết lập và trao cho Ðức Cha Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Ðây là giáo phận thứ 25 được thành lập kể từ khi 2 giáo phận Ðàng Trong và Ðàng Ngoài thành hình.

- Năm 1975: Trước những biến chuyển mau lẹ của chiến tranh tại Việt Nam, trong năm 1975, Tòa đã nhanh chóng thích ứng với những biến chuyển mới của tình hình, đã phong thêm nhiều giám mục khác để cai quản các giáo phận tại Việt Nam trong hoàn cảnh mới:

+ Tòa Thánh tấn phong cha Phanxicô Nguyễn Quang Sách làm giám mục phụ tá giáo phận Ðà Nẵng.

+ Tân Giám Mục Stephanô Nguyễn Như Thể, Tổng Giám Mục phó Tổng Giáo Phận Huế. (Năm 1983, Ngài đã xin về hưu).

+ Tân Giám Mục Bartolomeo Nguyễn Sơn Lâm, giám mục giáo phận Ðà Lạt. Ngài sinh năm 1929 tại Thanh Hóa, thụ phong linh mục năm 1957, sau đó xin gia nhập tu hội Xuân Bích, một Tu Hội chuyên về giảng dạy trong các chủng viện. Ngài qua Pháp năm 1960, và sang Rome theo học tại đại học Thánh của dòng Ða Minh. Năm 1963, ngài đậu cử nhân Thần Học, tiến sĩ Triết học. Trở về nước ngài dạy Triết học và nhập môn Thánh Kinh tại đại chủng viện Xuân Bích Vĩnh Long trong hai năm. Từ 1966 đến 1975, ngài làm giám đốc đại chủng viện Xuân Bích Huế. Năm 1975, Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm Giám Mục giáo phận Ðà Lạt. (Sau này, Ðức Cha Bartolomêô Nguyễn Sơn Lâm được bổ nhiệm làm Giám Mục Giáo Phận Thanh Hóa ở ngoài Bắc).

+ Tân Giám Mục Alexis Phạm Văn Lộc, giám mục giáo phận Kontum.

+ Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, tân Giám Mục giáo phận Nha Trang.

+ Tòa Thánh thuyên chuyển Ðức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận từ giáo phận Nha Trang về Sàigòn. Ngài là Tổng Giám Mục phó với quyền kế vị Tổng Giáo Phận Sàigòn.

+ Ðức Cha Ðaminh Nguyễn Văn Lãng, tân giám mục Giáo Phận Xuân Lộc.

+ Ðức Cha Nguyễn Minh Nhật, tân giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Xuân Lộc.

+ Ðức tân Giám Mục André Nguyễn Văn Nam, giám mục phụ tá giáo phận Mỹ Tho.

+ Ðức Cha Raphael Nguyễn Văn Diệp, tân giám mục phụ tá giáo phận Vĩnh Long.

+ Ðức tân Giám Mục Emmanuel Lê Phong Thuận, giám mục phụ tá giáo phận Cần Thơ.

+ Ðức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần, giám mục phụ tá giáo phận Long Xuyên.

- Năm 1975: Ðức Cha Giuse Phạm Năng Tĩnh, giám mục giáo phận Bùi Chu từ trần. Ðức cố giám mục thụ phong linh mục vào đầu thập niên 1940 sau nhiều năm phục vụ tại nhiều xứ đạo. Năm 1952, ngài được Ðức Cha Phạm Ngọc Chi mời về làm thư ký tòa Giám Mục. Năm 1954, Ngài theo làn sóng người di cư vào Nam, nhưng chạnh nghĩ lại số phận của hơn 10 ngàn tín hữu giáo dân Bùi Chu còn ở lại, ngài xin trở lại miền Bắc. Ngày 10/11/1960, ngài được Tòa Thánh tấn phong Giám Mục Giáo Phận Bùi Chu. Ngài mất ngày 11/2/1975, sau 15 năm coi sóc giáo phận.

- Năm 1976: Tháng 5 năm 1976, Ðức Tổng Giám Mục Giuse Maria Trịnh Như Khuê, giáo phận Hà Nội, được Ðức Thánh Cha Phaolô VI chọn làm Hồng Y. Ngài là Hồng Y tiên khởi của Việt Nam.

- Năm 1976: Ðức Cha Phanxicô Trần Thanh Khâm, Giám Mục phụ tá giáo phận Sàigòn, tạ thế ngày 2/10/1976, sau 10 năm làm phụ tá giám mục Sàigòn.

- Năm 1977: Tòa Thánh đặt linh mục Giuse Nguyễn Thiện Khuyến làm giám mục phụ tá giáo phận Phát Diệm. Lễ tấn phong được cử hành tại nhà thờ Phát Diệm vào ngày 9/3/1977.

- Năm 1978: Nhân dịp tham dự Hội Nghị Giám Mục Thế Giới tại Rome, Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình đã đề nghị và được Tòa Thánh chấp thuận để cha Aloisio Phạm văn Nẫm làm Giám Mục phụ tá giáo phận Sàigòn. Tân giám mục sinh năm 1913, từng là giáo sư, quản lý tiểu chủng viện Thánh Giuse tại Sàigòn. Lễ tấn phong được Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình cử hành tại Sàigòn ngày 2/2/1978.

- Năm 1978: Ðức Cha Phaolô Nguyễn Năng, giám mục giáo phận Vinh, từ trần tại Xã Ðoài, Nghệ An, vào ngày 17/6/1978, hưởng thọ 66 tuổi, sau 28 năm làm linh mục và 10 năm giám mục cai quản giáo phận Vinh.

- Năm 1978: Ðức Hồng Y tiên khởi Giuse Maria Trịnh Như Khuê tạ thế tại Hà Nội. Cố Hồng Y sinh ngày 11/12/1899 tại Tràng Ðức, Hà Nội. Thụ phong linh mục ngày 1/4/1944, tấn phong giám mục ngày 15/8/1960 tại nhà thờ chánh tòa Hà Nội. Ngày 24/11/1960, nhậm chức Tổng Giám Mục, và ngày 14/5/1976 được Ðức Thánh Cha Phaolô VI tấn phong Hồng Y tại Rome. Ngài tạ thế vào sáng thứ Hai, ngày 27/11/1978, hưởng thọ 78 tuổi.

- Năm 1979: Ðức Giám Mục Gioan Baotixita Urrutia (Thi), nguyên giám mục Huế, tạ thế ngày 15/1/1979 tại Montheton, Pháp quốc. Ðức cố giám mục sinh năm 1901, thụ phong linh mục năm 1925, được bổ nhiệm làm việc tại giáo phận Huế. Ngày 17/5/1947, thụ phong giám mục. Năm 1960, Tòa Thánh thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, ngài trao giáo phận Huế cho Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục rồi ra hưu trí tại Lavang. Hè 1972, ngài về Huế lánh nạn và sau đó về Pháp. Ðức Giám Mục Thi coi Việt Nam như quê hương thứ hai của ngài, và ao ước được chôn cất thân xác trên giải đất Việt Nam.

- Năm 1979: Tòa Thánh bổ nhiệm cha Phêrô Trần Xuân Hạp làm giám mục giáo phận Vinh, thay thế Ðức Cha Nguyễn Năng, tạ thế năm 1978. Tân giám mục sinh quán tại làng Nhân Hòa (Nghệ An), nguyên linh mục quản hạt Hướng Dương (Quảng Bình). Lễ tấn phong Ðức Giám Mục Hạp được cử hành tại Hà Nội ngày 19/3/1979.

- Năm 1979: Ngày 18/2/1979, Tòa Thánh cũng chọn cha Giuse Nguyễn Tùng Cương, nguyên quản lý Nhà Chung Hà Nội, làm giám mục phụ trách giáo phận Hải Phòng.

- Năm 1979: Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II trao mũ Hồng Y cho Ðức Tổng Giám Mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn, Tổng Giám Mục giáo phận Hà Nội, vào ngày 16/5/1979. Ngài là vị Hồng Y thứ hai của Giáo Hội Việt Nam.

- Năm 1979: Ngày 8/8/1979, Tòa Thánh cũng chấp nhận lời đề nghị của Ðức Hồng Y Trịnh Văn Căn, chọn cha Giuse Vũ Duy Nhất làm Giám Mục Giáo Phận Bùi Chu. Lễ tấn phong được Ðức Hồng Y Trịnh Văn Căn chủ tọa tại Hà Nội. Tân giám mục sinh năm 1911, thụ phong linh mục năm 1960, và thụ phong giám mục năm 1979.

- Năm 1979: Ngày 8/12/1979, Tòa Thánh chọn cha Phêrô Giuse Ðinh Bỉnh làm Giám Mục phó giáo phận Thái Bình.

- Năm 1981: Tòa Thánh chọn cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang, cha chánh sở nhà thờ Hà Nội làm giám mục phụ tá giáo phận Hà Nội. Tân Giám Mục xuất thân từ đại chủng viện Xuân Bích từ năm 1953, chịu chức linh mục năm 1960. Từng nhiều năm làm thư ký cho Ðức cố Hồng Y Trịnh Như Khuê, và chánh xứ nhà thờ Hà Nội.

- Năm 1981: Cũng trong năm 1981, Tòa Thánh chấp thuận cha Giuse Trịnh Chính Trực, linh mục chánh sở giáo phận Ban Mê Thuột, làm giám mục giáo phận Ban Mê Thuột. Tân giám mục sinh năm 1925 tại Trác Bút, Hà Nam. Thụ phong linh mục năm 1954 tại Hà Nội. Ngài giữ chức chánh sở địa phận ban Mê Thuột từ ngày 8/9/1967 đến ngày thụ phong giám mục.

- Năm 1981: Ðức Cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến, giám mục phụ tá giáo phận Phát Diệm từ trần. Ðức cố Giám Mục Giuse sinh năm 1900, tại xứ Mỹ Ðiện (Thanh Hóa), sau khi hoàn tất bậc tiểu và đại chủng viện. Ngài thụ phong linh mục ngày 5/4/1930, do cố Giám Mục Marcou truyền chức. Ngài lần lượt coi các xứ Khiết Kỷ, Hiếu Thuận, Tôn Ðạo, Văn Hải, Phúc Hải. Khi Ðức Cha Thanh từ trần (1974), Ngài làm cha chính giáo phận. Ngày 24/4/1977, ngài được tấn phong giám mục tại Phát Diệm, do Ðức Cha Căn chủ phong. Sau 4 năm phục vụ Giáo Hội, ngài qua đời đột ngột ngày 15/12/1981 tại Phát Diệm (Bắc Việt), thọ 81 tuổi.

- Năm 1981: Tòa Thánh tấn phong Giám Mục cho linh mục Phêrô Trần Thành Chung, giám mục phụ tá địa phận Kontum. Lễ tấn phong được cử hành tại Kontum ngày 15/8/1981.

- Năm 1982: Ðức Cha Ðaminh Maria Ðinh Ðức Trụ tạ thế. Ðức cố Giám Mục sinh tại Phú Nhai vào ngày 15/1/1908. Thụ phong linh mục 23/5/1938, sau đó được bổ nhiệm làm Giám Ðốc trường Thày Giảng Ðặng Ðức Thuận (Hưng Yên). Ngày 5/3/1960, Tòa Thánh đặt ngài làm Giám Mục hiệu tòa Cataquas, 21 ngày sau ngài được Ðức cố Hồng Y Trinh Như Khuê âm thầm tấn phong giám mục. Ngày 8/11/1960, Ðức Cha Ðinh Ðức Trụ chính thức nhận quyền giám mục địa phận Thái Bình. Ngài tạ thế ngày 7/6/1982.

- Năm 1982: Tòa Thánh chọn cha Louis Hà Kim Danh làm giám mục phụ tá giáo phận Phú Cường. Lễ tấn phong được cử hành vào ngày 10/10/1982.

- Năm 1984: Ðức Cha Paul Seitz (Kim) từ trần. Ðức cố giám mục Seitz sinh tại Le Havre năm 1906. Ngài gia nhập hội Thừa Sai Paris (MEP) và đến Việt Nam năm 1937. Sau đó ngài được bổ nhiệm làm cha sở nhà thờ chánh tòa Hà Nội. Năm 1925, Tòa Thánh bổ nhiệm ngài làm giám mục giáo phận Kontum. Ngày 15/8/1975, ngài bị Cộng Sản trục xuất. Trở về Pháp, Ngài cho xuất bản hai cuốn sách nói về tình trạng người dân miền Nam sống dưới chế độ Cộng Sản: cuốn "Le Temps Des Chiens Muets" (Thời của những con chó câm), và cuốn "Les Hommes Debout" (Những người đứng thẳng). Ngày 24/2/1984, ngài từ trần tại Pháp vì bịnh ung thư phổi, hưởng thọ 78 tuổi.

- Năm 1984: Ðức Tổng Giám Mục Phêrô-Martinô Ngô Ðình Thục từ trần. Ðức cố Tổng Giám Mục sinh tại Phú Cam (Huế) vào ngày 6/10/1897. Ngài theo học tiểu chủng viện Phú Xuân. Năm 1919, Ðức Cha Allys (Lý) gửi ngài du học tại Rome, ngài đậu tiến sĩ về triết học, thần học và giáo luật. Ngài thụ phong linh mục ngày 20/12/1925, sau đó giữ chức giáo sư đại chủng viện Phú Xuân, hiệu trưởng trường Providence (Thiên Hựu), chủ nhiệm tờ Sacerdos Indosineses. Năm 1938, Tòa Thánh đặt ngài làm giám mục tiên khởi giáo phận Vĩnh Long. Ngày 24/11/1960, Ðức Thánh Cha Gioan XXIII thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam, và đặt ngài làm Tổng Giám Mục Huế cho đến năm 1965. Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục mất lúc 11 giờ ngày 13/12/1984 tại bệnh viện St. John ( Joplin, Missouri). Lễ an táng được cử hành lúc 11 giờ ngày 22/12/1984 tại giáo phận Springfield - Cape Giardeau.

- Năm 1985: Ðức Cha Phêrô Maria Nguyễn Huy Quang, giám mục giáo phận Hưng Hóa, từ trần vào ngày 13/11/1985, tại Nhà Chung Sơn Tây, Bắc Việt, hưởng thọ 78 tuổi.

- Năm 1987: Ðức Cha Ðaminh Lê Hữu Cung, Giám Mục giáo phận Bùi Chu, tạ thế ngày 12/3/1987, tại Bùi Chu, Bắc Việt Nam.

- Năm 1987: Ðức Cha Giuse Phan Văn Hoa, giám mục phụ tá giáo phận Qui Nhơn, tạ thế ngày 6/10/1987, sau 12 năm làm giám mục phụ tá giáo phận.

- Năm 1988: Ðức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi qua đời. Ðức Cố giám mục sinh ngày 1909 tại Tôn Ðạo, Kim Sơn, Ninh Bình. Năm 1920, ngài gia nhập nhà tập Ba Làng (Thanh Hóa), tiểu chủng viện Phúc Nhạc. Năm 1927, ngài du học tại trường truyền giáo Rome, thụ phong linh mục ngày 23/12/1933 và tiếp tục học tại đại học Apollinaire. Ngài đậu Tiến Sĩ triết học, cử nhân Thần Học, và cử nhân văn chương, giáo luật. Năm 1936, ngài hồi hương và nhận chức giáo sư đại chủng viện Phát Diệm. Năm 1950, ngài được Tòa thánh bổ nhiệm làm giám mục giáo phận Bùi Chu. Sau hiệp định Geneve (20/7/1954), ngài được ủy thác trông coi hàng giáo sĩ và giáo dân di cư. Ngày 5/7/1957, ngài được đề cử cai quản giáo phận Qui Nhơn. Sau đó, ngày 18/1/1963, Ðức Thánh Cha Gioan XXIII đặt ngài làm Giám Mục tiên khởi giáo phận Ðà Nẵng. Ðức Cha Phêrô Maria Phạm Ngọc Chi mất tại Ðà Nẵng ngày 21/1/1988, sau 25 năm cai quản giáo phận Ðà Nẵng.

- Năm 1988: Ðức Tổng Giám Mục Philiphe Nguyễn Kim Ðiền qua đời. Cố Tổng Giám Muc Philiphe sinh năm 1921 tại Gia Ðịnh. Ngài gia nhập dòng Tiểu Ðệ của cha Charles de Foucauld, sau đó ngài qua Phi Châu. Năm 1957, cha Ðiền trở về Việt Nam và làm cho hãng khuân vác tại bến tầu. Ngày 24/10/1960, Tòa Thánh chọn ngài làm Giám Mục giáo phận Cần Thơ, sau đó nhận chức Tổng Giám Mục Huế (1965). Ngài qua đời ngày 8/6/1988 tại Huế.

- Năm 1988: Ðức Cha Ðaminh Nguyễn Văn Lãng, giám mục giáo phận Xuân Lộc, từ trần ngày 19/12/1988. Trước khi được tấn phong giám mục, ngài đã từng là giám đốc đại chủng viện Thánh Thomas Long Xuyên, và giữ nhiều chức vụ quan trọng tại giáo phận Long Xuyên.

- Năm 1988: Tòa Thánh đã chọn cha Giuse Nguyễn Văn Yến làm giám mục phó giáo phận Phát Diệm. Ðức tân Giám Mục sinh ngày 26/12/1942 tại Vĩnh Trị, Kẻ Vĩnh (Hà Nội). Từ năm 1954 tới 1960, ngài theo học tại tiểu chủng viện Hà Nội. Trong lúc đang theo học, nhà nước ra lệnh đóng cửa chủng viện, thày Yến ra ngoài làm thợ may suốt 13 năm dài. Năm 1973, thày trở lại chủng viện, và thụ phong linh mục năm 1977. Ngày 14/11/1988, cha Yến được Tòa Thánh chính thức bổ nhiệm làm giám mục phụ tá giáo phận Phát Diệm. Lễ tấn phong được cử hành ngày 16/12/1988.

- Năm 1989: Ðức Cha Giuse Phan Thế Hinh, giám mục Hưng Hóa, tạ thế. Ðức cố Giám Mục sinh ngày 27/10/1928, thụ phong linh mục năm 1973. Năm 1976, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm giám mục phó giáo phận Hưng Hóa. Ngày 13/11/1985, khi Ðức Cha Phêrô Nguyễn Huy Quang qua đời, Ðức Cha Phan Thế Hinh lên kế vị trong việc coi sóc giáo phận, ngài qua đời sáng chủ nhật 22/1/1989.

- Năm 1989: Ngày 15/12/1989, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm cha Giuse Nguyễn Quang Tuyến làm Giám Mục phụ tá giáo phận Bắc Ninh. Ngài thụ phong linh mục bí mật vào năm 1975, nhưng mãi đến 1980 mới được nhà nước chấp thuận. Từ 1988, ngài được bổ nhiệm làm cha chánh sở nhà thờ Bắc Ninh, và ngày 15/12/1989 được Tòa Thánh tấn phong giám mục. Lễ tấn phong do Ðức Cha Phạm Ðình Tụng cử hành vào ngày 15/1/1989.

- Năm 1989: Ðức Cha Giuse Trần Văn Thiện, giám mục giáo phận Mỹ Tho, tạ thế ngày 24/2/1989, thọ 81 tuổi. Ðức Cố giám mục sinh tại Long Ðiền (Phước Tuy) ngày 1/10/1908, thụ phong linh mục ngày 21/9/1935, sau một thời gian làm cha phó, cha Thiện du học tại Pháp. Hồi hương năm 1947, ngài được cử làm giám đốc Chủng Viện Thánh Minh. Năm 1958, ngài được cử làm Viện Trưởng Ðại Học Ðà Lạt, và ngày 24/11/1960 ngài được bổ nhiệm làm giám mục tiên khởi giáo phận Mỹ Tho.

- Năm 1989: Ðức Cha Giuse Ðinh Bỉnh, từ trần ngày 14/3/1989 tại Tòa Giám Mục Thái Bình. Ngài nguyên là giám mục phụ tá của cố giám mục Ðinh Ðức Trụ, và được Tòa Thánh chỉ định coi sóc giáo phận Thái Bình sau khi Ðức Cha Trụ qua đời.

- Năm 1990: Ðức Cha Phêrô Phạm Tần, giám mục giáo phận Thanh Hóa, tạ thế lúc 4 giờ sáng ngày 1/2/1990 tại Tòa Giám Mục Thanh Hóa, hưởng thọ 77 tuổi.

- Năm 1990: Ðức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn tạ thế. Ðức cố Hồng Y sinh tại Bút Ðông, Hà Nam, ngày 19/3/1921. Thụ phong linh mục ngày 8/12/1949, và được chọn làm Tổng Giám Mục phó hiệu tòa giáo phận Hà Nội ngày 5/2/1963. Nhận mũ giám mục ngày 2/6/1963 tại nhà thờ chính tòa Hà Nội, và nhận mũ Hồng Y từ Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II ngày 26/5/1979. Ngài là vị Hồng Y thứ hai của Giáo Hội Việt Nam. Ngài tạ thế vào ngày thứ Sáu 18/6/1990 tại Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, thọ 69 tuổi, sau 41 năm linh mục, 27 năm giám mục và 11 năm với chức vụ Hồng Y. Lễ an táng do Ðức Hồng Y Etchegaray cử hành vào lúc 10 giờ sáng thứ Tư ngày 23/6/1990.

- Năm 1990: Ðức Cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, giám mục giáo phận Cần Thơ, tạ thế ngày 20/6/1990 tại Cần Thơ, hưởng thọ 81 tuổi, sau 25 năm cai quản giáo phận. Ðức cố Giám Mục sinh năm 1909 tại Sàigòn, thụ phong linh mục năm 1935 và giám mục năm 1965.

- Năm 1990: Ðức Cha Phêrô Nguyễn Huy Mai tạ thế. Cố giám mục sinh tại  Khuyển Lương, Hà Nội ngày 3/7/1913. Năm 1967, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám muc tiên khởi giáo phận Ban Mê Thuột. Ngài qua đời vào lúc 6 giờ ngày 4/8/1990, thọ 77 tuổi, sau 23 năm cai quản giáo phận Ban Mê Thuột. Lễ an táng được cử hành vào ngày 8/8/1990. Ðức Cha Trịnh Chính Trực làm Giám Mục Giáo Phận Ban Mê Thuột thay thế Ðức Cha Nguyễn Huy Mai.

- Năm 1990: Tòa Thánh chỉ định Ðức Cha Phạm Ðình Tụng, giám mục giáo phận Bắc Ninh, kiêm giám quản tổng giáo phận Hà Nội. Và Ðức Cha Nguyễn Văn Sang nhận chức Giám Mục Giáo Phận Thái Bình.

- Năm 1991: Ðức Cha Nguyễn Phụng Hiểu được cử làm tân giám mục giáo phận Hưng Hóa. Ngày 11/4/1991, các Ðức Giám Mục Việt Nam đã đến nhà thờ chính tòa Hưng Hóa để tham dự lễ truyền chức giám mục cho Ðức Cha Giuse Nguyễn Phụng Hiểu. Ðức Cha Phaolô Phạm Ðình Tụng, Giám Mục Bắc Ninh, kiêm giám quản tổng giáo phận Hà Nội, là vị chủ phong. Ðức Tổng Giám Mục Alberto Tricarico, Sứ Thần Tòa Thánh tại Thái Lan, Lào, Miến Ðiện và Mã Lai cũng đên tham dự, và chuyển lời chào mừng và phép lành của Ðức Thánh Cha tới Ðức tân Giám Mục.

- Năm 1991: Ðức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm ngày 19/10/1991 làm Giám Mục phụ tá Giáo Phận Ðà Lạt với quyền kế vị. Sau thời gian theo học tại tiểu chủng viện Sàigòn (1948-1958), ngài theo học tại Giáo Hoàng Học Viện Piô X Ðà Lạt, đậu cử nhân văn chương Pháp tại Ðại Học Ðà Lạt. Ngài được Ðức cố Giám Mục Simon Hòa Hiền truyền chức linh mục ngày 21/12/1967, được bổ nhiệm làm giáo sư c chủng viện Ðà Lạt (1971-1975). Từ 1975 ngài làm cha chánh sở nhà thờ chính tòa kiêm tổng đại diện giáo phận Ðà Lạt. Thánh lễ truyền chức giám mục do Ðức Cha Nguyễn Sơn Lâm, Giám Mục giáo phận Ðà Lạt, chủ tế với sự hiện diện của Ðức Cha Nicholas Huỳnh Văn Nghi, Giám Mục Phan Thiết, và Ðức Cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, Giám Mục Nha Trang, cùng hơn 15 ngàn tín hữu.

- Năm 1992: Ngày 15/2/1992, Ðức Cha Stephanô Nguyễn Như Thể, Giám Mục hiệu tòa Tipasa di Mauritania, nguyên giám mục phó giáo phận Huế, đã được Ðức Thánh Cha bổ nhiệm làm thành viên Hội Ðồng Ðối Thoại Liên Tôn với nhiệm kỳ là 5 năm. Ðức Cha Thể sinh ngày 1/12/1935 tại Quảng Trị, chịu chức linh mục ngày 6/1/1962. Ngày 7/9/1975, ngài được Ðức cố Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Ðiền tấn phong làm Giám Mục phó giáo phận Huế, chiếu theo đặc quyền của Tòa Thánh ban cho các giám mục Việt Nam lúc bấy giờ. Tuy nhiên ngày 23/11/1983, ngài được Tòa Thánh chấp nhận đơn từ chức. Với việc bổ nhiệm trên đây, Ðức Cha Thể là vị giám mục Việt Nam duy nhất là thành viên của một cơ quan Tòa Thánh, và như vậy sẽ được mời tới Rome tham dự các phiên họp khoáng đại 2 năm một lần của Hội Ðồng nói trên.

- Năm 1992: Lễ truyền chức giám mục cho Ðức Cha Thomas Nguyễn Văn Trâm, tân giám mục phụ tá giáo phận Xuân Lộc, đã được cử hành trọng thể hôm 7/5/1992 tại khuôn viên Tòa Giám Mục Xuân Lộc, do Ðức Cha Nguyễn Minh Nhật chủ phong, trước sự hiện diện của hàng chục ngàn tín hữu. Ðồng tế Thánh Lễ còn có 15 vị giám mục và 530 linh mục khác. Ðức tân Giám Mục sinh ngày 9/1/1942 tại Phước Tuy. Sau khi theo học tiểu chủng viện và đại chủng viện Thánh Giuse, Thày Trâm thụ phong linh mục ngày 29/4/1969 rồi được bổ nhiệm làm cha phó một họ đạo tại Biên Hòa. Một năm sau đó, cha du học tại Rome ở trường Thánh Phêrô 4 năm (1970-1974) và đậu tiến sĩ giáo luật tại Ðại Học Giáo Hoàng Urbaniana của Bộ Truyền Giáo. Trở về Việt Nam, cha Trâm được Ðức Ðức cố Giám Mục Nguyễn Văn Lãng chọn làm bí thư và giám đốc chủng viện Xuân Lộc từ 1975 đến 1979.

- Năm 1992: Ðức Cha Giuse Nguyễn Phụng Hiểu tạ thế, tại Thủ Ðức lúc 2giờ30 chiều ngày 9/5/1992, hưởng thọ 70 tuổi, sau gần 3 tháng làm giám mục giáo phận Hưng Hóa. Với sự ra đi của Ðức Cha Hiểu, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam vào lúc này (khoảng cuối năm 1992) còn 32 vị Giám Mục, và còn 4 giáo phận chưa có giám mục chính tòa coi sóc là Hà Nội, Hưng Hóa, Huế và Thanh Hóa. Ðức cố Giám Mục Hiểu sinh tại Hàm Phu, Ninh Bình, ngày 19/3/1921, thụ phong linh mục năm 1951, đã từng bị giam cầm và bị quản thúc hơn 10 năm trời. Ngài được bổ nhiệm giám mục chính tòa Hưng Hóa ngày 11/3/1990. Ngày 19/9/1991, ngài phải sang Rome chữa bệnh phổi và ngày 7/10/1991 ngài được giải phẫu tại nhà thương Piô XI và được bác sĩ xác nhận là ngài bị ung thư phổi. Hôm 7/5/1992, dù kiệt sức, ngài vẫn cố gắng đi dự lễ tấn phong Giám Mục Thomas Nguyễn Văn Trâm, và hai hôm sau ngài từ trần tại Thủ Ðức.

- Năm 1992: Ngày 24/7/1992, Tòa Thánh đã bổ nhiệm cha Phaolô Maria Cao Ðình Thuyên làm giám mục phó với quyền kế vị giáo phận Vinh. Ðức tân Giám Mục sinh tại Trảng Lưu năm 1926. Sau khi hoàn tất học tiểu và đại chủng viện Vinh, năm 1960 thầy Thuyên thụ phong linh mục, sau đó được chỉ định làm cha sở và năm 1974 giữ chức quản lý giáo phận. Từ 1980, cha Thuyên được Ðức Cha Hạp chỉ định làm tổng đại diện địa phận Vinh. Với việc tấn phong Ðức Cha Cao Ðình Thuyên, Giáo Hội Việt Nam vào lúc này (khoảng cuối năm 1992) có 33 vị giám mục, kể cả Ðức Cha Stephanô Nguyễn Như Thể, nguyên Giám Mục phó giáo phận Huế.

III. Ðức Hồng Y tiên khởi và các Hồng Y người Việt Nam

- Ngày 24/5/1976 Ðức Tổng Giám Mục Hà Nội Giuse Maria Trịnh Như Khuê được Ðức Phaolô VI bổ nhiệm Hồng Y thứ nhất người Việt Nam.

- Ngày 27/11/1978, Ðức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Như Khuê tạ thế. Ðức Gioan Phaolô II, vào ngày 30/6/1979, đã bổ nhiệm Ðức Tổng Giám Mục Giuse Maria Trịnh Văn Căn lên chức vụ Hồng Y thứ hai người Việt Nam.

- Ngày 18/6/1990, Ðức Hồng Y Giuse Maria Trịnh Văn Căn tạ thế. Ðức Gioan Phaolô II, vào ngày 26/11/1994, đã bổ nhiệm Ðức Tổng Giám Mục Phaolô Giuse Phạm Ðình Tụng lên chức vụ Hồng Y thứ ba người Việt Nam.

- Ngày 21/2/2001, Ðức Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm Ðức Tổng Giám Mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, chủ tịch Hội Ðồng Tòa Thánh về Công Lý Và Hòa Bình,  lên chức vụ Hồng Y thứ tư người Việt Nam.

(Các tài liệu được trích dẫn từ:
- tập sách Giáo Hội Việt Nam của  Ðức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ.
- bài Tìm Hiểu Giáo Hội Việt Nam của Nguyễn Vũ Tuấn Linh.
- Lịch Sử Giáo Hội Việt Nam, của Linh Mục Phan Phát Huồn, CssR.)
Prepared for internet by Vietnamese Missionaries in Taiwan

Văn Thư Của Tòa Ân Giải Tối Cao

TÒA ÂN GIẢI TỐI CAO
Văn thư số 882/08/I

KÍNH ĐỆ ĐỨC THÁNH CHA,

Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Giám Mục Giáo Phận Đàlạt và Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nhân danh các Giám Mục tham dự cuộc họp thường niên tại Tòa giám mục Xuân Lộc từ ngày 22 đến ngày 26 tháng 9 năm 2008, hết lòng dâng lên Đức Thánh Cha những tâm tình tôn kính và vâng phục của riêng ngài, của tất cả các Giám Mục, và của phần dân Thiên Chúa được trao phó cho ngài coi sóc ; ngài khiêm nhường trình lên Đức Thánh Cha sự việc là các Kitô hữu Việt Nam đang chuẩn bị để năm tới sẽ kỷ niệm và cử hành cách xứng đáng dịp 50 năm Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII chính thức thiết lập Hàng Giáo Phẩm tại Việt Nam.

Với lòng tin tưởng, nhớ đến những ơn ích thiêng liêng trọng đại mà Năm Thánh 2000 đã đem lại cho các tín hữu Việt Nam, cũng như lợi dụng dịp Kim Khánh này, các Đức Cha quyết định chỉ thị tổ chức các nghi lễ đặc biệt và các buổi cử hành lời Chúa, kể từ ngày 24 tháng 11 năm 2009 đến ngày 02 tháng 01 năm 2011 trong tất cả các nhà thờ và nhà nguyện ở Việt Nam, để có thêm nhiều cơ hội lãnh nhận các bí tích với sự chuẩn bị thích hợp, những việc bác ái huynh đệ siêu nhiên được cổ võ, và nhờ đó, nơi mỗi người tín hữu hoặc nơi những nhóm khác nhau thuộc các cộng đồng giáo phận và giáo xứ, việc canh tân đời sống thiêng liêng trong suốt Đại Năm Thánh, nhờ ơn Chúa, được đặc biệt tăng cường và phát huy.

Ân Xá sẽ trợ giúp nhiều cho mục đích rất được kỳ vọng trên đây; Ân Xá đó, được thỉnh cầu với lòng tin tưởng, là bằng chứng nói lên tấm lòng ưu ái của người cha nơi Đức Thánh Cha, và là động lực giúp thắt chặt mối dây liên hệ phẩm trật và hiếu tử trong cả nước Việt Nam với Đức Thánh Cha và với Đấng Bản Quyền của mình.

Xin Thiên Chúa ban ơn và chúc lành cho Đức Thánh Cha hiển trị trong bình an và thịnh đạt.

Ngày 11 tháng 02 năm 2009
Lễ Đức Mẹ Lộ Đức

TÒA ÂN GIẢI TỐI CAO, thừa lệnh Đức Thánh Cha, ban ơn Toàn Xá, theo các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) được chu toàn đúng phép, cho các Kitô-hữu thực tâm thống hối, trong tất cả và từng nhà thờ và nhà nguyện ở Việt Nam ; họ cũng có thể nhường ân xá cho các linh hồn ở luyện ngục :

a.- Trong các ngày 24 tháng 11 năm 2009 và 02 tháng 01 năm 2011, tức ngày khai mạc và kết thúc trọng thể Năm Thánh mừng Kim Khánh Hàng Giáo Phẩm tại Việt Nam ;

b.- Trong mọi ngày dành cho các mục đích tôn giáo chung cho toàn thế giới hoặc theo thói quen ở Việt Nam, như được xác định trong thư xin * ;

c.- Trong các ngày có cử hành nghi lễ trọng thể do Đức Giám Mục Giáo Phận hoặc Đức Giám Mục khác thay thế ngài chủ sự ;

d.- Mỗi lần, vì lý do đạo đức, họ đi hành hương, từng cá nhân hay theo đoàn thể, đến Nhà thờ Chính tòa hoặc một đền thánh được chỉ định trong Năm Thánh.

Những người cao tuổi, đau yếu và những ai có lý do hợp pháp không ra khỏi nhà được, có thể hưởng ơn Toàn Xá nếu chung lòng hợp ý với những người đang tham dự phụng vụ hoặc hành hương Năm Thánh, sốt sắng đọc kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính và lời khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria trước ảnh tượng của Người, thực lòng ghét bỏ mọi tội lỗi, và khi có thể thì giữ ba điều kiện thông thường.

Các tín hữu Việt Nam ở hải ngoại cũng sẽ được hưởng ơn Toàn Xá trong các ngày và tại các nơi thánh được xác định đúng phép, với sự đồng ý của các Đấng Bản Quyền Giáo Phận.

Văn thư này có giá trị trong suốt Năm Thánh. Bất chấp những gì trái ngược.

Hồng Y Giacôbê Phanxicô Stafford
Chánh Tòa Ân Giải Tối Cao

+ Gioan Phanxicô Girotti, ofm conv.
Giám mục hiệu tòa Meten, Chánh Lục Sự

* Ngày 29-9-2008, Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn gửi thư xin, liệt kê các ngày “quốc tế và truyền thống cầu nguyện”, gồm :

1/ 03/12/2009 : Thánh Phanxicô Xaviê, Bổn mạng các Xứ truyền giáo.
2/ 27/12/2009 : Thánh Gia Thất.
3/ 10/01/2010 : Ngày quốc tế di dân.
4/ 02/02/2010 : Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh, Ngày quốc tế Đời sống thánh hiến.
5/ 11/02/2010 : Đức Mẹ Lộ Đức, Ngày quốc tế Bệnh nhân.
6/ 14–16/02/2010 : Tết Nguyên Đán.
7/ 19/3/2010 : Thánh Giuse, Bổn mạng Hội Thánh và Giáo Hội Việt Nam.
8/ 28/3/2010 : Lễ Lá, Ngày quốc tế Giới trẻ.
9/ 25/4/2010 : Chúa nhật IV Phục Sinh, Ngày quốc tế cầu nguyện cho các Ơn gọi.
10/ 01/5/2010 : Kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (1980).
11/ 16/5/2010 : Lễ Hiện Xuống.
13/ 11/6/2010 : Lễ Thánh Tâm, Ngày thế giới cầu xin ơn Thánh hóa linh mục.
Nhớ ngày tấn phong Giám mục Việt Nam tiên khởi,
Đức cha JB Nguyễn Bá Tòng (1933).

14/ 29/6/2010 : Lễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, Tông Đồ.
15/ 26/7/2010 : Chân phước Anrê Phú Yên, Bổn mạng các Giảng viên giáo lý Việt Nam.
16/ 15/8/2010 : Đức Mẹ lên trời. Thánh Mẫu La Vang.
17/ 09/9/2010 : Kỷ niệm 350 năm thành lập hai Đại diên Tông Tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài.
18/ 14/9/2010 : Suy tôn Thánh Giá. Lễ Tước hiệu các Hội dòng Mến Thánh Giá.
19/ 01/10/2010 : Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Bổn mạng các Xứ truyền giáo.
20/ 11/10/2010 : Chân phước Gioan XXIII,
Vị giáo hoàng đã ký Tông hiến “Venerabilium Nostrorum” thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam.

21/ 24/10/2010 : Ngày Thế giới cầu nguyện cho việc truyền giáo. "
22/ 21–28/11/2010 : Đại hội Dân Chúa tại Việt Nam.
23/ 03/12/2010 : Thánh Phanxicô Xaviê, Bổn mạng các Xứ truyền giáo.
24/ 26/12/2010 : Thánh Gia Thất.

Thư Công Bố Năm Thánh của HĐGM Việt Nam

Thưa Anh Chị Em,

1. Năm 2010 ghi dấu những sự kiện quan trọng trong lịch sử Giáo Hội tại Việt Nam: 350 năm thiết lập hai giáo phận tông toà Đàng Ngoài và Đàng Trong (1659-2009), 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm tại Việt Nam (1960-2010). Đây là thời điểm cho chúng ta nhìn lại quá khứ để tạ ơn Chúa và lắng nghe bài học của lịch sử, nhìn vào hiện tại để nhận diện những thuận lợi và thách đố, nhìn tới tương lai để cùng nhau canh tân đời sống và xây dựng Giáo Hội theo đúng thánh ý Thiên Chúa. Qua văn thư của Toà An Giải Tối Cao, ký ngày 11-2-2009, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã chấp thuận đơn xin của HĐGMVN, cho phép chúng ta mở Năm Thánh đặc biệt từ Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24-11-2009 đến Lễ Hiển Linh 6-1-2011.

2. Năm Thánh 2010 sẽ được khai mạc trọng thể tại Sở Kiện thuộc Tổng giáo phận Hà Nội vào ngày lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24-11-2009. Các Thánh Tử Đạo đã nhiệt tâm làm chứng cho đức tin đến độ dám hi sinh cả mạng sống. Máu các ngài đổ ra đã tưới thắm mảnh đất quê hương, trở nên hạt giống làm nẩy sinh nhiều cộng đoàn tín hữu trên đất nước Việt Nam. Khai mạc Năm Thánh vào ngày lễ Các Thánh Tử Đạo mời gọi chúng ta tạ ơn Chúa về hồng ân đức tin đã lãnh nhận, tri ân các bậc tiền nhân, các ân nhân và chứng nhân đã gieo vãi và vun trồng hạt giống đức tin trên quê hương đất nước này, đồng thời ý thức giá trị cao quý của hồng ân đức tin để sống và làm chứng cho Tin Mừng, tích cực xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô trong môi trường Chúa sai chúng ta đến. Ngoài lễ khai mạc chung, mỗi giáo phận sẽ tổ chức lễ khai mạc trong giáo phận để tất cả anh chị em tín hữu có thể tham dự tích cực hơn.

Trong Năm Thánh, Anh Chị Em được hưởng ơn toàn xá vào những dịp sau đây :

  • Khi tham dự những ngày lễ đã được ấn định (x. phụ lục),
  • Khi tham dự các thánh lễ trọng thể do Đức giám mục chủ sự,
  • Khi đi hành hương tại những địa điểm được Đức giám mục giáo phận chỉ định.

Lễ Bế mạc Năm Thánh sẽ được cử hành tại Linh Địa La Vang, Tổng giáo phận Huế, vào lễ Hiển Linh 6-1-2011. Hiển Linh là mầu nhiệm Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại. Bế mạc Năm Thánh vào ngày lễ Hiển Linh nói lên quyết tâm của Giáo Hội trong việc thi hành sứ mạng truyền giáo, chia sẻ niềm vui đức tin cho anh chị em đồng bào của mình, lấy ánh sáng đức tin soi chiếu các thực tại trần thế, hăng say góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Tin Mừng.

3. Năm Thánh 2010 là cơ hội thuận lợi cho chúng ta học hỏi về Giáo Hội mầu nhiệm, hiệp thông, sứ vụ. Chúng tôi sẽ gửi đến các giáo phận, giáo xứ và cộng đoàn dòng tu tài liệu học hỏi về Năm Thánh, để tất cả chúng ta cùng tích cực tham gia. Việc học hỏi về mầu nhiệm Giáo Hội không chỉ nhằm mục đích cung cấp một số kiến thức lý thuyết, nhưng còn nhằm thúc đẩy sự tham gia của tất cả Dân Chúa vào đời sống Giáo Hội. Vì thế, khi cùng nhau tìm hiểu và suy nghĩ về mầu nhiệm Giáo Hội, xin anh chị em mạnh dạn và chân thành đóng góp ý kiến xây dựng của mình. Những ý kiến đóng góp của anh chị em sẽ là chất liệu cần thiết và phong phú cho Đại hội Dân Chúa, được tổ chức tại Tổng giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 21-11 đến 25-11-2010. Đại hội này quy tụ các đại diện của mọi thành phần Dân Chúa để cùng với hàng giáo phẩm cầu nguyện, suy tư, trao đổi, nhằm xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô trên quê hương Việt Nam, một Giáo Hội hiệp thông và tham gia, một Giáo Hội hiện diện vì loài người, một Giáo Hội ước muốn chu toàn sứ vụ yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trong môi trường mình đang sống.

4. Trong Năm Thánh, chúng ta hãy cùng nhau xây dựng Giáo Hội theo mô hình Hiệp thông và Tham gia. Tự bản chất, Giáo Hội là hiệp thông, bắt nguồn từ chính mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Chúa Ba Ngôi vừa là suối nguồn vừa là mẫu mực và cùng đích của sự hiệp thông trong Giáo Hội. Chính vì thế, Giáo Hội được gọi là Dân Thiên Chúa, Thân Mình Chúa Kitô, Đền Thờ Chúa Thánh Thần. Cũng vì thế, chúng ta được mời gọi xây dựng Giáo Hội không phải bằng những đường lối và tính toán của người đời, nhưng trước hết bằng cách vun trồng sự hiệp thông sâu xa với Chúa trong đời sống ân sủng. Năm Thánh phải là cơ hội thuận lợi cho mỗi chúng ta canh tân đời sống nhờ lắng nghe Lời Chúa, chuyên chăm cầu nguyện và lãnh nhận các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể.

Nhờ hiệp thông với Chúa, chúng ta được hiệp thông với nhau trong tình yêu và chân lý, được bày tỏ trọn vẹn nơi Chúa Kitô. Sự hiệp thông này thúc đẩy mọi thành phần Dân Chúa tham gia tích cực vào đời sống Giáo Hội, bằng cách phát huy những đặc sủng Chúa ban theo ơn gọi và bậc sống của mình. Để phát huy sự hiệp thông trong Giáo Hội, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI kêu gọi chúng ta quan tâm đặc biệt đến một số lãnh vực. Trước hết, phải quan tâm đến việc giáo dục đời sống đức tin và nâng cao trình độ văn hoá của mọi thành phần Dân Chúa. Kế đến, phải thúc đẩy việc thực thi bác ái vốn là nét đặc thù của Giáo Hội Chúa Kitô. Sau nữa, phải chăm sóc đặc biệt cho giới trẻ, nhất là giới trẻ nông thôn đang đổ dồn về các thành phố lớn để học hành và tìm kiếm công ăn việc làm.

5. Cũng trong dòng chảy hiệp thông, chúng ta được mời gọi góp phần xây dựng xã hội trần thế. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI nhắn nhủ chúng ta rằng sứ mạng chính yếu của Giáo Hội là loan báo Tin Mừng Chúa Kitô, và chính khi chu toàn sứ mạng loan báo Tin Mừng là Giáo Hội đóng góp vào việc phát triển con người, không những về mặt nhân bản và thiêng liêng, mà cả về mặt xã hội. Vì thế, khi xây dựng đời sống mình trên nền tảng những giá trị Tin Mừng như bác ái, liêm chính và quý trọng công ích, Anh Chị Em chính là những công dân tốt, tích cực tham gia vào việc xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng. Qua Anh Chị Em, Giáo Hội đóng góp phần mình vào việc phát triển con người và xã hội cách toàn diện, trong tinh thần đối thoại chân thành, hợp tác lành mạnh và tôn trọng lẫn nhau.

Cuối cùng, Năm Thánh 2010 phải là động lực thúc đẩy chúng ta hăng say chia sẻ niềm vui đức tin với tất cả mọi người dân Việt. Để thực hiện được điều này, cần phải khơi dậy hồng ân đức tin đã lãnh nhận nhưng vì hoàn cảnh khách quan hoặc những yếu tố chủ quan, hồng ân ấy có thể đã bị phai mờ, lãng quên hay mai một. Ngoài ra, cần canh tân các phương thức truyền giáo nhằm đáp ứng những biến chuyển nhanh chóng của thời đại; tuy nhiên nên nhớ rằng chứng tá đời sống vẫn luôn là cách thế cụ thể và thuyết phục nhất trong việc làm chứng cho Tin Mừng và giới thiệu Chúa cho người khác. Đồng thời, nhu cầu bao la trong việc truyền giáo đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa các thành phần Dân Chúa, giữa các giáo phận với nhau cũng như giữa các giáo phận và các dòng tu.

Thưa Anh Chị Em,

Chúng ta cử hành Năm Thánh 2010 để tạ ơn, sám hối, canh tân và hoà giải. Chúng tôi tin rằng nếu chúng ta bước vào Năm Thánh với tâm tình và thái độ như thế, Năm Thánh sẽ mang lại nhiều hoa trái tốt lành cho mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đoàn cũng như cho tất cả Giáo Hội Việt Nam.

Ngày chính thức khai mạc Năm Thánh không còn xa, chúng tôi xin Anh Chị Em cầu nguyện đặc biệt cho Giáo Hội Việt Nam. Cách cụ thể, chúng tôi đề nghị tất cả Dân Chúa sẽ cùng làm Tuần Cửu Nhật (từ ngày 15 đến 23-11-2009), cầu nguyện cho mọi sinh hoạt trong Năm Thánh được tiến hành tốt đẹp và mang lại nhiều ích lợi thiêng liêng cho mọi người.

Nhờ lời chuyển cầu của Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Cả Giuse và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin Chúa chúc lành cho Anh Chị Em.

 

Làm tại Xuân Lộc, ngày 9-10-2009

PHỤ LỤC THƯ CÔNG BỐ NĂM THÁNH 2010
Về việc hưởng ơn Toàn xá trong Năm Thánh

1. Trích Văn thư số 882/08/I của Tòa Ân giải Tối cao ngày 11-02-2009:

Tòa Ân giải Tối cao, thừa lệnh Đức Thánh Cha, ban ơn Toàn Xá, theo các điều kiện thông thường (xưng tội, rước lễ và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng) được chu toàn đúng phép, cho các Kitô hữu thực tâm thống hối, trong tất cả và từng nhà thờ và nhà nguyện ở Việt Nam ; họ cũng có thể nhường ân xá cho các linh hồn ở luyện ngục:

a.- Trong các ngày 24 tháng 11 năm 2009 và 02 tháng 01 năm 2011, tức ngày khai mạc và kết thúc trọng thể Năm Thánh mừng Kim Khánh Hàng Giáo Phẩm tại Việt Nam ;

b.- Trong mọi ngày dành cho các mục đích tôn giáo chung cho toàn thế giới hoặc theo thói quen ở Việt Nam, như được xác định trong thư xin (xem số 2 dưới đây);

c.- Trong các ngày có cử hành nghi lễ trọng thể do Đức Giám Mục Giáo Phận hoặc Đức Giám Mục khác thay thế ngài chủ sự ;

d.- Mỗi lần, vì lý do đạo đức, họ đi hành hương, từng cá nhân hay theo đoàn thể, đến Nhà thờ Chính tòa hoặc một Đền thánh được chỉ định trong Năm Thánh.

Những người cao tuổi, đau yếu và những ai có lý do hợp pháp không ra khỏi nhà được, có thể hưởng ơn Toàn Xá nếu chung lòng hợp ý với những người đang tham dự phụng vụ hoặc hành hương Năm Thánh, sốt sắng đọc kinh Lạy Cha, kinh Tin Kính và lời khẩn cầu Đức Trinh Nữ Maria trước ảnh tượng của Người, thực lòng ghét bỏ mọi tội lỗi, và khi có thể thì giữ ba điều kiện thông thường.

Các tín hữu Việt Nam ở hải ngoại cũng sẽ được hưởng ơn Toàn Xá trong các ngày và tại các nơi thánh được xác định đúng phép, với sự đồng ý của các Đấng Bản Quyền Giáo Phận.

2. Các ngày cử hành đặc biệt trong Năm Thánh 2010 do Đức cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Chủ tịch HĐGMVN, liệt kê trong thư  xinmở Năm Thánh:

1

24-11-2009

Khai mạc Năm Thánh tại TGP Hà Nội

2

 

Khai mạc Năm Thánh tại mỗi giáo phận

3

03-12-2009

Lễ Thánh Phanxicô Xaviê, Bổn mạng các Xứ truyền giáo

4

27-12-2009

Lễ Thánh Gia Thất

5

10-01-2010

Ngày quốc tế di dân

6

02-02-2010

Lễ Dâng Chúa Giêsu vào Đền Thánh,
Ngày quốc tế Đời sống thánh hiến

7

11-02-2010

Lễ Đức Mẹ Lộ Đức, Ngày quốc tế Bệnh nhân

8

14 – 16-02-2010

Tết Nguyên Đán

9

19-03-2010

Lễ Thánh Giuse, Bổn mạng Hội Thánh và Giáo Hội Việt Nam

10

28-03-2010

Lễ Lá, Ngày quốc tế Giới trẻ

11

25-04-2010

Chúa nhật IV Phục Sinh,
Ngày quốc tế cầu nguyện cho các Ơn gọi

13

01-05-2010

Kỷ niệm 30 năm thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (1980)

14

16-05-2010

Lễ Chúa Thăng Thiên

15

23-05-2010

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống

16

11-06-2010

Lễ Thánh Tâm, Ngày thế giới cầu xin ơn Thánh hóa linh mục.
Nhớ ngày tấn phong Giám mục Việt Nam tiên khởi,
Đức cha Gioan B. Nguyễn Bá Tòng (1933)

17

29-06-2010

Lễ Thánh Phêrô và Thánh Phaolô, Tông Đồ

18

26-07-2010

Lễ Chân phước Anrê Phú Yên,
Bổn mạng các Giảng viên giáo lý Việt Nam

19

15-08-2010

Lễ Đức Mẹ lên trời, Thánh Mẫu La Vang

20

09-09-2010

Kỷ niệm 350 năm thành lập
hai Đại diện Tông Tòa Đàng Trong và Đàng Ngoài

21

14-09-2010

Lễ Suy tôn Thánh Giá, Lễ Tước hiệu các Hội dòng Mến Thánh Giá

22

01-10-2010

Lễ Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Bổn mạng các Xứ truyền giáo

23

11-10-2010

Kỷ niệm ngày Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII ký Tông hiến “Venerabilium Nostrorum” thiết lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam

24

24-10-2010

Ngày Thế giới cầu nguyện cho việc truyền giáo

25

22 – 25-11-2010

Đại hội Dân Chúa Việt Nam tại TGP TP.HCM

26

03-12-2010

Lễ Thánh Phanxicô Xaviê, Bổn mạng các Xứ truyền giáo

27

26-12-2010

Lễ Thánh Gia Thất

28

 

Bế mạc Năm Thánh tại mỗi giáo phận

29

 

Lễ Hiển Linh, Bế mạc Năm Thánh tại Lavang, TGP Huế

HDGMVN

Bài hát Năm Thánh



Biểu tượng Năm Thánh

Logo Năm Thánh 2010 bao gồm ba vòng tròn ôm gọn hình Chim Bồ Câu và hình Con Thuyền lướt sóng ở những vị trí có thể có thể nối kết lại như một bản đồ Việt Nam và hai hàng chữ vòng quanh muốn diễn tả một niềm vui tròn đầy.

Ba vòng tròn xanh đỏ vàng tiếp giáp nhau, hình dung ba Giáo tỉnh Hà Nội, Huế, Sài Gòn có mặt với nhau từ ngày Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam 50 năm trước. Biểu tượng hòa theo lời kinh Năm Thánh 2010: “Cha đã sai Con Một xuống thế làm người, chia sẻ thân phận yếu hèn của chúng con, xả thân loan báo Tin Mừng Cứu Độ.”

Ba vòng tròn vàng, đỏ, xanh cũng gợi nhớ màu vàng của lòng tin, màu đỏ tình yêu và màu xanh đức hy vọng: “Lạy Cha, xin thắp sáng ngọn lửa tin cậy mến trong lòng chúng con, để chúng con noi gương các vị chứng nhân đức tin, biết củng cố và lưu truyền gia sản đức tin cho các thế hệ tương lai” (Kinh Năm Thánh 2010).

Ba vòng tròn lớn dần lên như những quầng sáng phát ra từ cây thánh giá màu vàng đậm là nguồn sáng, làm sáng ý: “Con Một Chúa xả thân loan báo Tin Mừng Cứu Độ” (Kinh Năm Thánh 2010).

Cánh chim câu trắng từ trời sải cánh, sà xuống con thuyền với đôi cánh buồm no gió đang lướt sóng gợi ý: Chúa Thánh Thần xuống đổ tràn ơn sủng cho Hàng Giáo phẩm Việt Nam đang dìu dắt Dân Chúa đi theo hướng đường của Đức Kitô. Biểu tượng hòa với lời kinh: “Xin Cha dùng ơn Thánh Thần soi sáng dẫn dắt chúng con bước theo Chúa Giêsu loan Tin Mừng Cứu Độ” (Kinh Năm Thánh 2010).

Hai hàng chữ chạy vòng quanh các biểu tượng nhắc nhớ Năm Thánh 2010, kỷ niệm 50 năm thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam là năm hồng ân cho toàn Giáo Hội Việt Nam và cho cả quê hương đất nước này.

Kinh Năm Thánh

Lạy Cha là Chúa cả trời đất, vì lòng từ ái xót thương, Cha đã tạo thành và cứu độ muôn loài.

Cha đã sai Con Một xuống thế làm người, chia sẻ thân phận yếu hèn của chúng con, xả thân loan báo Tin Mừng cứu độ và phục vụ sự sống con người. Người đã chịu khổ hình, chịu chết và sống lại để những ai tin nhận Người, đều được qui tụ trong Nước Cha là Nước sự thật và sự sống, yêu thương và an bình.

Cha đã sai Thánh Thần xuống liên kết các tín hữu thành cộng đồng nhân loại mới nên muối men và ánh sáng giữa lòng thế giới hôm nay.

Chúng con tạ ơn Cha đã thương gởi các nhà truyền giáo đến gieo hạt giống Tin Mừng và chăm sóc cho hạt giống ấy phát triển xanh tươi trên đất nước Việt Nam.

Chúng con tạ ơn Cha đã thương ban cho chúng con nhiều chứng nhân đức tin anh dũng và những bậc tiền nhân luôn hy sinh quảng đại, dày công vun tưới cho hạt giống Tin Mừng sinh hoa kết quả dồi dào trên quê hương chúng con.

Chúng con nài xin Cha tha thứ mọi lỗi lầm thiếu sót đối với Cha và mọi người, trong quá khứ cũng như hiện tại. Xin Cha giúp chúng con biết tránh xa tội lỗi và chung sức xây dựng cuộc sống gia đình, xã hội và đất nước ngày càng tốt đẹp hơn.

Xin Cha dùng ơn Thánh Thần soi sáng dẫn dắt chúng con bước theo Chúa Giêsu, loan báo Tin Mừng cứu độ, tận tình phục vụ sự sống của đồng bào và đồng loại. Xin dạy chúng con biết san sẻ của cải vật chất và tinh thần cho mọi người, nhất là những người nghèo khổ.

Lạy Cha, xin thắp sáng ngọn lửa tin cậy mến trong lòng chúng con, để chúng con noi gương các vị chứng nhân đức tin biết củng cố và lưu truyền gia sản đức tin cho các thế hệ tương lai.

Sau hết, nhờ lời chuyển cầu của Ðức Trinh Nữ Maria, Thánh Cả Giuse và các thánh Tử Ðạo Việt Nam xin Cha ban ơn trợ giúp chúng con biết quyết tâm xây dựng Giáo Hội Việt Nam thành một gia đình: là con một Cha, anh em một nhà cùng nhau tiếp nối sứ vụ của Chúa Kitô là yêu thương đến cùng và khiêm tốn phục vụ để mọi người trên đất nước chúng con, và cả thế giới mau đón nhận Tình Yêu cứu độ của Cha. Amen.

Ý nghĩa và Lịch sử Năm thánh trong Giáo Hội

1. Ý nghĩa
Theo truyền thống Công Giáo bắt nguồn từ thời Cựu Ước, Năm Thánh (Holy Year) là một biến cố hay nói đúng hơn là một thời kỳ hồng ân mà qua đó Thiên Chúa ban ơn đặc biệt hơn khi con người mở lòng để canh tân và thống hối.

Năm thánh, theo nguyên gốc tiếng Latinh “Annum Jubilaei”, bắt nguồn từ tiếng Do thái “Jôbel”, nghĩa là "thổi kèn tù và báo hiệu năm đại xá", được hiểu là Năm Hồng Ân hay Ðại Xá, mà theo Luật Môisen, cứ mỗi năm thứ 7, đất đai phải được nghỉ ngơi và nô lệ được trả tự do, nợ nần được tha, đồng thời dân chúng phải sống trong đoàn kết, yêu thương, hoà giải với anh chị em và kẻ thù (x. Xh 21,2-6; 23,10-11; Lv 25,1-28; Ðnl 15,1-6). Tất cả những việc làm này là nhằm để tôn vinh Thiên Chúa, coi hoạt động thiêng liêng như hoa quả và kết thúc cả năm thứ 7 (x. Đnl 31,10-13). Và cứ sau 49 năm thì toàn dân Do Thái phải mừng năm thứ 50 một cách trọng thể, đó là Năm Toàn Xá, là thời kỳ nghỉ ngơi tuyệt đỉnh. Như thế, truyền thống Năm Hồng Ân này là sự mở rộng luật Sabbát của người Do thái: trong một tuần 7 ngày, sau 6 ngày làm việc phải có 1 ngày nghỉ ngơi để thờ phượng Thiên Chúa.

Mặc dầu đi theo truyền thống của Cựu Ước, Kitô hữu đón mừng Năm Thánh với một chiều kích trọn vẹn hơn bởi vì Thiên Chúa đã thi ân cho nhân loại trong Ðức Giêsu, Ngôi Lời Nhập Thể. Chính việc Ðức Giêsu đến trong thế gian đã thực sự đem lại thời hồng phúc, thời cứu rỗi (x. Lc 4,16-30). Do đó, Năm Thánh là thời gian mà kẻ có tội hối cải được ban ơn tha thứ các hình phạt do tội gây ra, con người phải thống hối và canh tân cũng như hoà giải với Thiên Chúa và anh chị em. Ðể được hưởng những ơn lành Thiên Chúa ban cho trong Năm Thánh, Kitô hữu phải nhận thức trước hết điều này là: Năm Thánh là nhằm thánh hoá cuộc sống, củng cố đức tin, tạo cơ hội thuận tiện để đem lại sự đoàn kết và hiệp thông huynh đệ trong lòng Giáo Hội và thế giới, và cổ võ tín hữu tuyên xưng Ðức Tin một cách chân thành và sống động hơn nơi Ðức Kitô, Ðấng Cứu Ðộ duy nhất của nhân loại.

2. Lịch sử cử hành Năm Thánh trong Giáo Hội
Năm Thánh có 2 loại: thông thường và ngoại thường.

Năm Thánh đầu tiên trong Hội Thánh được Ðức Giáo hoàng Boniface VIII (1294-1303) thiết lập năm 1300. Ðức Boniface VIII quyết định ban hành ơn toàn xá trong Năm Thánh đầu tiên này, và qui định cử hành Năm Thánh cứ mỗi 100 năm một lần.

Đến thời Ðức Urbanô VI (1378-1389), ngài quy định cứ mỗi 33 năm thì cử hành Năm Thánh một lần để đánh dấu thời gian Chúa Giêsu sống trên thế gian.

Theo qui định của Ðức Thánh Cha Phaolô II (1461-1471) trong một Tông sắc ban hành vào năm 1470, từ này về sau, Năm Thánh sẽ được tổ chức cứ mỗi 25 năm, và qui định này vẫn còn duy trì cho đến ngày nay đối với các Năm Thánh thông thường, bắt đầu từ Năm Thánh 1475. Ngoài ra, từ năm này trở đi, từ ngữ Năm Thánh (Holy Year) cũng được chính thức sử dụng cho đến ngày nay; trước đây những năm như thế gọi là Năm Hồng Ân hay Toàn Xá (Jubilee).

Năm Thánh có từ năm 1300 nhưng Lễ nghi Mở Cửa Thánh chỉ có từ năm 1423. Ðức Martino V (1417-1431) là Vị Giáo Hoàng lần đầu tiên đã mở Cửa Thánh Ðền Thờ Thánh Gioan in Laterano (lúc đó là nhà thờ chính tòa của Roma). Vào ngày 24/12/1499, Ðức Alexanđrô VI (1492-1503) đã long trọng khai mạc Năm Thánh bằng nghi thức mở Cửa Thánh ở Ðền thờ Thánh Phêrô bằng cách dùng một chiếc búa đập vào bức tường được xây lên che Cửa Thánh. Ngài cũng muốn mở Cửa Thánh 4 Ðền thờ chính ở Rôma (Thánh Phêrô, Thánh Phaolô, Gioan Latêranô, Ðức Bà Cả). Kể từ lúc đó trở đi, việc đi qua Cửa Thánh các Ðền thờ này trở thành một trong những biến cố quan trọng nhất của Năm Thánh. Việc mở Cửa Thánh nói lên chính Ðức Kitô là Cửa thật và duy nhất qua đó con người mới có sự sống sung mãn.

Năm Thánh 2010 của Giáo hội Việt Nam

1. Ý nghĩa

Năm Thánh 2010 đánh dấu thời điểm kỷ niệm:

a. 350 năm thành lập hai giáo phận Tông Toà Đàng Ngoài và Đàng Trong (xem Sắc Chỉ “Super Cathedram”, 9/9/1659, của Đức Alexandre VII);

b. 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam cùng 3 giáo tỉnh Hà Nôi, Huế, Sài Gòn (xem Tông hiến “Venerabilium Nostrorum”, 24/11/1960).

2. Mục đích

Việc cử hành Năm Thánh 2010 nhằm:

a. Nhìn lại quãng đường lịch sử gần 500 năm truyền giáo qua 3 thời kỳ: 126 năm Bảo Hộ (1533-1659), 300 năm Tông Toà (1659-1960), đặc biệt là 50 năm Chính Toà (1960-2010). Nhìn lại lịch sử nhằm mời gọi cộng đồng Dân Chúa Việt Nam cùng chung lòng tạ ơn Chúa đã thương ban cho Dân Người được hình thành, tồn tại và phát triển qua những thăng trầm của lịch sử, đồng thời bày tỏ lòng biết ơn đối với Toà Thánh và các bậc tiền nhân đã góp phần tích cực vào việc loan Tin Mừng và xây dựng Giáo Hội trên đất nước Việt Nam.

b. Nhìn lại lịch sử cùng với những thẩm định về đời sống Giáo Hội nhằm rút ra những bài học lịch sử cho việc thi hành sứ vụ yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô, trong cộng đồng dân tộc cũng như cộng đồng thế giới hôm nay.

c. Đồng thời cũng nhìn tới tương lai trong bối cảnh văn hoá xã hội đang đổi thay của những thập niên đầu thiên niên kỷ III, nhằm vận động cộng đồng Dân Chúa một lòng quyết tâm đáp trả tình thương của Chúa, và làm mới hình ảnh gia đình Giáo Hội tại Việt Nam.

3. Chủ đề

Chủ đề của Năm Thánh 2010 là:
GIÁO HỘI TẠI VIỆT NAM:

Mầu nhiệm - Hiệp thông - Sứ vụ.

Chủ đề này được triển khai theo 3 điểm lớn sau đây:

a. Giáo Hội hiệp thông: đào sâu mối hiệp thông giữa cộng đoàn tín hữu với Thiên Chúa trong Đức Kitô nhờ Chúa Thánh Thần, củng cố sự hiệp thông giữa các thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân trong mỗi Giáo Hội địa phương, hiệp thông giữa các Giáo Hội địa phương với nhau cũng như với Giáo Hội toàn cầu (mục vụ tổ chức và điều hành giáo phận, giáo xứ, dòng tu, tu hội, các tổ chức mục vụ, các đoàn thể tông đồ giáo dân, tạo tương quan liên đới, đối thoại, hợp tác, đối nội, đối ngoại).

b. Giáo Hội tham gia: mọi thành phần Dân Chúa, giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân, đều có quyền và trách nhiệm tham dự vào mầu nhiệm, hiệp thông và sứ vụ của Giáo Hội, mỗi thành phần theo đặc sủng của mình (mục vụ Thánh Kinh, Lời Chúa, giáo lý đức tin, Phụng tự, lòng đạo đức bình dân, kinh sách).

c. Giáo Hội vì loài người: quyền bính và sứ vụ của Giáo Hội là quyền và trách nhiệm yêu thương và phục vụ cho sự sống của mọi người anh em đồng bào và đồng loại, đặc biệt những người kém may mắn, bị bỏ rơi (mục vụ truyền giáo, văn hóa giáo dục, y tế, bác ái xã hội, phát triển, di dân).

5. Thời gian, địa điểm cử hành

a. Thời gian : Thời gian cử hành Năm Thánh từ 24/11/2009 đến lễ Hiển Linh 06/01/2011, đi từ khởi điểm và chứng nhân đức tin đến toả sáng và chia sẻ niềm tin.

b. Địa điểm : Năm Thánh 2010 sẽ được khai mạc trọng thể tại Sở Kiện thuộc Tổng giáo phận Hà Nội vào ngày lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24/11/2009. Các Thánh Tử Đạo đã nhiệt tâm làm chứng cho đức tin đến độ dám hi sinh cả mạng sống. Máu các ngài đổ ra đã tưới thắm mảnh đất quê hương, trở nên hạt giống làm nẩy sinh nhiều cộng đoàn tín hữu trên đất nước Việt Nam. Khai mạc Năm Thánh vào ngày lễ Các Thánh Tử Đạo mời gọi chúng ta tạ ơn Chúa về hồng ân đức tin đã lãnh nhận, tri ân các bậc tiền nhân, các ân nhân và chứng nhân đã gieo vãi và vun trồng hạt giống đức tin trên quê hương đất nước này, đồng thời ý thức giá trị cao quý của hồng ân đức tin để sống và làm chứng cho Tin Mừng, tích cực xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô trong môi trường Chúa sai chúng ta đến. Ngoài lễ khai mạc chung, mỗi giáo phận sẽ tổ chức lễ khai mạc trong giáo phận để tất cả anh chị em tín hữu có thể tham dự tích cực hơn.

Lễ Bế mạc Năm Thánh sẽ được cử hành tại Linh Địa La Vang, Tổng giáo phận Huế, vào lễ Hiển Linh 6/1/2011. Hiển Linh là mầu nhiệm Thiên Chúa tỏ mình cho dân ngoại. Bế mạc Năm Thánh vào ngày lễ Hiển Linh nói lên quyết tâm của Giáo Hội trong việc thi hành sứ mạng truyền giáo, chia sẻ niềm vui đức tin cho anh chị em đồng bào của mình, lấy ánh sáng đức tin soi chiếu các thực tại trần thế, hăng say góp phần xây dựng xã hội theo tinh thần Tin Mừng.

6. Cử hành

- Cử hành Thánh lễ tạ ơn và xin ơn toàn xá vào dịp một số lễ do HĐGMVN ấn định. Có thể tiếp tục lễ hội, học hỏi, góp ý đề xuất, cầu nguyện, hành hương theo những chủ đề nói trên …

- Tổ chức Đại hội Dân Chúa Việt Nam.

- Năm 2010 hoặc năm 2011, phát hành Kỷ Yếu Đại hội Dân Chúa Việt Nam năm 2010, trình bày những diễn tiến và kết quả của Đại hội, đồng thời đưa ra những định hướng mục vụ cụ thể nhằm xây dựng một Giáo Hội hiệp thông, tham gia, và phục vụ sự sống của mọi người anh em đồng bào và đồng loại.

Sống Tinh Thần Năm Thánh

Để Năm Thánh 2010 thực sự mang lại ích lợi cho Giáo Hội tại Việt Nam nói chung và cho mỗi Kitô hữu nói riêng, mọi thành phần Dân Chúa được kêu mời tích cực tham gia bằng việc đổi mới đời sống bản thân và cộng tác trong những công việc chuẩn bị và tổ chức.

a. Đời sống bản thân

+ Đổi mới đời sống

- Trở về với Thiên Chúa bằng việc hoán cải đời sống nội tâm. Thể hiện qua thái độ từ bỏ dứt khoát với tội lỗi.
- Giao hoà với tha nhân bằng thái độ khiêm nhường, bao dung và tha thứ.
- Cầu nguyện và tham dự Thánh lễ
+ Học hỏi và sống Lời Chúa
+ Hăng hái dấn thân trong sứ vụ Truyền giáo. Giáo hội lớn mạnh được là nhờ truyền giáo.
- Bằng việc dấn thân trong các công việc bác ái phục vụ tha nhân, nhất là phục vụ người nghèo và người bệnh.
- Học hỏi tinh thần truyền giáo của cha ông, của các vị thừa sai, học hỏi gương chứng nhân Tin Mừng của các thánh Tử đạo Việt Nam.
- Khôi phục các giáo điểm cũ, xây dựng những giáo điểm mới.
- Kết nghĩa, đối thoại với các tôn giáo bạn.

b. Cộng tác vào việc tổ chức Năm Thánh

Lễ khai mạc Năm Thánh 2010 sẽ được tổ chức tại giáo xứ Sở Kiện thuộc giáo phận Hà Nội vào ngày 24 tháng 11 năm 2009. Vì thế, mọi Kitô hữu, nhất là các tín hữu thuộc giáo phận nhà, phải tích cực cộng tác vào việc chuẩn bị và tổ chức Thánh lễ bằng việc:

- Cầu nguyện cho công việc tổ chức Năm Thánh.
- Hăng hái thực hiện những công việc được giao.
- Nhiệt tình đón tiếp và giúp đỡ những người: tổ chức, phục vụ và tham dự Năm Thánh.
- Hăng hái tham dự các cử hành một cách trật tự và đạo đức.

Giáo xứ Sở Kiện, nơi diễn ra Lễ Khai Mạc Năm Thánh

Sở Kiện vẫn là một trong các giáo xứ lớn nhất của tổng giáo phận Hà Nội, với khoảng 8000 nhân danh, cư ngụ trong 6 xã thuộc huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

Nằm dọc theo sông Đáy, lại được bao bọc bởi dãy núi đá vôi, Sở Kiện không những được chọn làm nơi an toàn nhất để tránh những cuộc bách hại của quân đội triều đình Việt Nam vào thế kỷ 19, mà về sau còn được chọn làm trung tâm của địa phận Tây Đàng Ngoài trong hơn 60 năm.

Và để củng cố cho sự lựa chọn này, người ta đã cho xây nhiều cơ sở tại đây, như

1. Nhà in Ninh Phú được xây với công nghệ cao của châu Âu để in hàng trăm đầu sách (đời cũng như đạo) phục vụ việc truyền giáo từ năm 1868 đến năm 1929.

2. Năm 1877 Đức cha Puginier đã cho khởi công xây một nhà thờ chính tòa theo kiểu Gô-tíc (dài 67.2m, rộng 31.2m, cao 23.2m). Nhà thờ này được đánh giá là huy hoàng nhất tại Đông Dương lúc ấy, và được tiếp tục là nhà thờ chính tòa cho tới năm 1924, khi tòa giám mục được dời về Hà Nội.

3. Năm 1897, trường lý đoán được sửa chữa và kiến thiết từ một ngôi nhà mái tranh vách đất thành một đại chủng viện bề thế cho toàn giáo phận Tây Đàng Ngoài, thay thế cho chủng viện Vĩnh Trị đã bị phá hủy năm 1858.

Ngoài ra, còn có nhiều điểm đáng lưu ý hơn về Sở Kiện như

1. Năm 1912, Công Đồng Bắc Kỳ lần hai được tổ chức tại Sở Kiện, với sự tham dự của nhiều giám mục và linh mục thừa sai.

2. Sở Kiện cũng được vinh dự làm chiếc nôi nuôi nấng hai thánh từ đạo (linh mục Phê-rô Trương Văn Thi và thầy giảng Phê-rô Trương Văn Đường) và làm nơi cất giữ nhiều di tích thánh. Nhờ sự điều tra và sưu tầm vừa vất vả vừa khôn khéo của Đức cha Gendreau trong vòng 10 năm (1873-1883), người ta đã lập được một hồ sơ có giá trị để 27 vị tử đạo được phong chân phước, trong đó có hai cư dân địa phương đã nhắc tới ở trên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2008, nhà thờ Sở Kiện đã được Đức tổng giám mục Giu-se Ngô Quang Kiệt nâng lên thành đền thờ các thánh tử đạo thuộc tổng giáo phận Hà Nội. Một nhà truyền thống cũng đang được xây dựng để cất giữ và trưng bày các thánh tích của các vị tử đạo. Tất cả cơ sở này, cùng với một nhà tĩnh tâm, sẽ làm thành Trung Tâm Hành Hương Sở Kiện.

Với từng ấy sự kiện, Sở Kiện xứng đáng được chọn làm địa điểm khai mạc Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thành lập hai giáo phận Đàng Ngoài và Đàng Trong và 50 năm thiết lập hàng giáo phẩm Giáo Hội Công Giáo Việt Nam (2010).



Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:
pettham@gmail.com
 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tgmvl