Vị khách thứ :
 

Website Traffic Statistics

Lời Chủ Chăn | Lược Sử | Họ Đạo | Dòng Tu | Linh Mục | Giám Mục
GIẢNG TĨNH TÂM LINH MỤC 2006

CHÚA GIÊSU, SỨ GIẢ TIN MỪNG


Web GiaophanVinhLong
 


Mọi thư từ, bài vở, tin tức,
xin gởi về địa chỉ:
pettham@gmail.com

"Hãy làm sống lại ơn Chúa mà bạn đã lãnh nhận qua việc đặt tay”
(2 Tim 1,6)

Bài1. CUỘC GẶP GỠ ĐỔI ĐỜI
Gioan 1,35-51

1. “Các bạn tìm kiếm gì?”

Các chứng từ: Phúc Âm thứ tư trình bày cho chúng ta trước tiên chứng từ của Gioan Tẩy giả: Gioan công khai xác nhận mình không phải là Đấng Kitô, nhưng một cách khiêm tốn nhìn nhận mình chỉ là tiếng kêu trong sa mạc bảo phải dọn đường cho Chúa. Rồi khi thấy Chúa Giêsu đến với mình, thì không ngần ngại giới thiệu (cho đám dân chúng đến để nghe Gioan và xin nhận phép rửa thống hối): “ Đây là chiên Thiên Chúa, đây Đấng gánh tội trần gian …” (1,29). Gioan còn làm chứng: “ Tôi đã trông thấy Thánh Thần như chim câu từ trời xuống và đậu lại trên Người” Đấng sai tôi đến làm phép rửa trong nước đã nói với tôi: Ngươi thấy Thánh Thần đáp xuống và đậu lại trên ai, thì chính là Đấng thanh tẩy trong Thánh Thần. Và tôi đã xem thấy, và đoan chứng: Chính Ngài là Con Thiên Chúa ” (1,32-34). Hôm sau nữa Chúa Giêsu quay trở lại nơi Gioan đã làm phép rửa cho Người. Để làm gì ? PÂ kể lại: Gioan đang đứng đó với hai môn đệ của ông. Ông nhìn về phía Chúa Giêsu đang đi ngang qua mà nói: “ Đây là Chiên Thiên Chúa ” .

Hai môn đệ đã nghe lời Gioan nói và đi theo Chúa Giêsu. Quay lại và thấy họ đi theo mình, Chúa Giêsu nói với họ: “ Các bạn tìm kiếm gì? Đây là lời đầu tiên của Chúa Giêsu trong PÂ thứ tư, lời mang nhiều ý nghĩa. Hai môn đệ của Gioan bất ngờ nghe giới thiệu ông Giêsu Nazareth như Đấng Messia, có thể vì tò mò, quyết định đi theo xa xa, e dè lúng túng, cho tời khi Người quay lại hỏi họ “ Các bạn tìm kiếm gì? ” Những lời nầy làm cho họ hết do dự, nhưng thêm bạo dạn, mở đầu cho cuộc đối thoại dẫn tới cuộc mạo hiểm của các môn đồ đầu tiên. Thay vì trả lời, họ thưa lại: “ Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Chúa Giêsu đáp lại bằng một lời mời gọi: “ Hãy đến mà xem ” .

Cuộc gặp gỡ, tuy chỉ được mô tả cách vắn gọn, nhưng gây ngạc nhiên, phát họa bước đầu của mọi hành trình đức tin. Chính Chúa Giêsu có sáng kiến quay trở lại nơi Gioan làm phép rửa, để được giới thiệu và để gặp gỡ hai người môn đệ nầy. Người biết rõ mỗi người chúng ta và yêu thương chúng ta trước (x. 1 Gioan 4,10). Không phải chúng ta đi tìm Người, nhưng chính Người tìm đến chúng ta. Người tạo cơ hội cho ta được gặp gỡ và nâng đỡ ý chí của chúng ta. Điều căn bản của cuộc gặp gỡ Chúa Giêsu là gì ? không phải là nhắm tới một lợi lộc nào đó , nhưng tiếp xúc với Đấng Hằng Sống, là Đấng có những dự định, những đề nghị cho mỗi người trong kế hoạch của Người. Người Kitô hữu không phải là những môn sinh của một hệ thống triết học, nhưng họ là những con người, nhờ đức tin, sống kinh nghiệm gặp gỡ Chúa Kitô (x.1 Gioan 1,14).

2. “ Họ đã đến và xem nơi Người ở, và ở lại bên Người ”

PÂ thứ tư không ghi lại chi tiết nào khác, không cho biết họ đã nghe Chúa nói gì và cũng không cho biết họ đã thưa với Người những điều gì, không bảo cho biết họ có xin được làm môn đệ của Người hay đã được Người mời gọi làm môn đệ của Người. Điều quan trọng là họ đã theo lời giới thiệu của Gioan, và đáp lại lời mời gọi của Người: Họ đã đến xem và ở lại bên Người. Chính họ đã gặp gỡ Người. Và cuộc gặp gỡ nầy đã đặt họ trong một tương quan mới với Chúa Giêsu. Các ông đã nhờ Gioan giới thiệu, mà đi gặp Người, thì cuộc gặp gỡ cũng làm cho các ông trở thành người giới thiệu Chúa cho người khác. Anrê, em của Simon Phêrô, là một trong hai người đã nghe lời Gioan mà đi theo Người, ông gặp anh mình trước hết, thì nói: “ Chúng tôi đã gặp Đức Messia ” rồi đưa Simon đến với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã nhận Simon làm môn đồ của mình khi Người nhìn ông mà nói “ Ngươi là Simon, con của Gioan, ngươi sẽ được gọi là Kêpha, nghĩa là Đá ” .

Hôm sau Chúa Giêsu đi Galilêa và gặp Philipphê, Người nói với ông: “ Hãy theo Ta! ” Philipphê đi gặp Nathanael và bảo: “ Đấng mà Môisen và các Tiên tri đã nói đến, chúng tôi đã gặp rồi: đó là Đức Giêsu, con của Giuse, người Nazareth ” .

Nathanael đáp lại: “Tự Nazareth, thì có thể xảy ra gì tốt được ” . Philipphê bảo: “ Hãy đến mà xem! ” Cuộc gặp gở của Nathanael dài dòng hơn. Chúa Giêsu thấy Nathanael đến với mình, thì nói về ông: “ Nầy đây đích thật một người Israel , trong mình không có gian dối. Nathanael thưa: “ Bởi đâu Ngài biết tôi?” Đức Giêsu trả lời: “ Trước khi Philipphê gọi ngươi, lúc ngươi ở dưới cây vả, Ta đã thấy ngươi”. Sự kiên nhẫn của Chúa Giêsu đã đưa Nathanael đến thái độ khác : “ Rabbi (Thưa Thầy), Ngài là Con Thiên Chúa, Ngài là Vua Israel ” . Như thế, Nathanael đã tin điều Philipphê nói với ông trước đó. Tin vì đã gặp gỡ và nhờ được giới thiệu.

3. Đây là Chiên Thiên Chúa. Điều gì thật quan trọng trong cuộc gặp gỡ của Chúa Giêsu với các môn đồ đầu tiên nầy ?

Đi từ chứng từ của Gioan Tẩy giả đến chứng từ của các môn đệ, ta nhận thấy lập đi lập lại “ Nầy là Chiên Thiên Chúa ” (1,29.36), “ Chính Ngài là Con Thiên Chúa ” (1,34), “Chúng tôi đã gặp Đấng Messia ” (1,41), “ Ngài là Con Thiên Chúa, là Vua Israel ” (1,49). Đó là những tước hiệu của Đức Messia. Và mặc dầu đức tin vào Chúa Giêsu Kitô của các ông nói được là còn non yếu, nhưng nó chính là động lực nối kết các ông với Chúa Giêsu. Nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa Cha, sự kiên nhẫn cảm hóa và chinh phục của Chúa Giêsu, các ông sẽ dần dần thắt chặt mối tương quan với Người.

Chúng ta cũng được mời gọi xem xét những cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa Giêsu trong các giờ Kinh nguyện, giờ suy gẫm hàng ngày, cử hành Thánh Lễ, Viếng Chúa, Ban các Bí Tích, Lần Chuỗi, Lắng nghe giáo huấn của Hội Thánh . Rồi sau đó chúng ta nói với người khác về Chúa như thế nào .

Đức Hồng Y Bernadin Gantin, được tấn phong Hồng Y một trật với Đức Bênêđitô XVI, ngày 27.6.1977, làm Tổng Trưởng Thánh Bộ Giám Mục cho đến 1998, làm niên trưởng Hồng Y Đoàn đến 2002, về hưu tại Bénin, khi được hỏi Ngài có dịp nào nói chuyện với Đức Bênêđitô XVI về Châu Phi không? Ngài đáp: Nếu Chúa muốn và nếu sức khoẻ của tôi cho phép, tôi sẽ sang Roma, như tôi mong ước, để gặp Đức Giáo Hoàng. Mà không phải để nói nhưng để lắng nghe: Chính Ngài là người thay mặt Chúa Kitô, Đấng có những lời ban sự sống đời đời. Chính Ngài là Hiền Phụ và là vị Mục Tử của Hội Thánh Công Giáo hoàn vũ.Từ xứ Bénin xa xôi nầy, chúng tôi luôn luôn cố gắng đọc những bài giảng và các Diễn từ của Ngài: Đó là những vì sao chiếu sáng trong đêm đen, thế giới của chúng ta hôm nay như bị nhận chìm trong đó. (Tập San 30 Jours, số 6/7-2006, trang 18).

 

Bài 2. TUYỂN CHỌN VÀ
THÀNH LẬP NHÓM MƯỜI HAI

Và Người lên núi và kêu đến những kẻ Người muốn. Và họ đến với Người. Người đã đặt một Nhóm Mười Hai, để họ ở với Người và để Người sai đi rao giảng, Và Người ban cho họ quyền chữa lành các bệnh tật, xua trừ ma quỉ. Và Người đặt cho Simon tên gọi Phêrô,và Giacôbê con ông Giêbêđê, và Gioan em của Giacôbê, Người đặt cho các ông tên Boanergès, nghĩa là con của sấm sét, Anrê và Philipphê, Bartôlômêô và Matthêu, Tôma và Tađêô, Simon nhiệt thành và Giuđa Iscariot, kẻ nộp Người ” (Marcô 3,13-19).

1. Tuyển chọn các Tông đồ.

”Rồi Người lên núi ” . Chúa Giêsu rời khỏi đám đông, đi lên núi. Cũng như Môisen để dân chúng ở lại dưới chân núi, một mình lên với Chúa trên đỉnh núi để lãnh mệnh lệnh của Thiên Chúa, là chuẩn bị con cái Israel đón nhận Giao Ước của Thiên Chúa ( Xuất Hành 19,3-6.12), Chúa Giêsu lên núi để thực hiện một việc quan trọng.

”Người kêu đến với Người những kẻ mà Người muốn ” , Người vốn biết rõ bản thân họ, như việc Chúa đặt tên Kêpha cho Simon, con của sấm sét cho hai anh em Giacôbê và Gioan. Và bằng tình yêu thương nhưng không, Người gọi tên từng người, biểu hiện một tương quan riêng biệt với người được gọi “ Ta biết Ta đã chọn ai ” (Gioan 13,18), Người tuyển chọn và tách họ ra khỏi đám đông, cất nhắc họ lên để họ nên bạn hữu của Người, rồi có thể làm sứ giả, làm người cộng tác vào công trình của Người .

”Và họ đến với Người ” . Những người được gọi tên có tự do để đáp trả, ưng nhận và đến với Người. Biết chắc rằng bản thân mình được Chúa trực tiếp kêu mời, được ưu ái như thế nên cứ tin tưởng bước tới, không do dự vì nghĩ đến những khuyết điểm của mình. Giuđa cũng được yêu thương, được gọi đích danh như mười một người kia. Nhưng anh đã không cảm nhận tình yêu của Chúa, anh bị lòng tham muốn tiền của chi phối quá mạnh, rồi liều lĩnh nộp Thầy để được tiền. Anh đã lạm dụng tình yêu của Người, lạm dụng tự do.

2. Người đã đặt một Nhóm Mười Hai .

Nhóm Mười Hai nhắc ta nhớ đến mười hai người con của Giacob, sau cuộc giải phóng khỏi đất Ai cập trở thành mười hai chi tộc, nhờ Giao Ước Sinai trở thành đoàn dân được tuyển chọn của Thiên Chúa.

Cho dầu việc rao giảng của Chúa Giêsu luôn luôn là một lời mời gọi hoán cải bản thân của mỗi người (Marcô 1,15), Người không ngừng nhắm tới việc thành lập Đoàn Dân của Thiên Chúa, mà Người đến để qui tụ và cứu chuộc. Việc thiết lập Nhóm Mười Hai là dấu chỉ hiển nhiên nhất ý định của Chúa Giêsu là qui tụ cộng đoàn giao ước: Mười Hai Tông Đồ sẽ cùng với Người làm chứng nhân và người loan báo Nước Thiên Chúa. “ Người đã đặt một Nhóm Mười Hai, để họ ở với Người và để Người sai đi rao giảng ” (3,14). Người đã đến chính là để hợp nhất nhân loại đã bị phân tán, để qui tụ, để kết hợp dân Thiên Chúa. . . Hệ thống mười hai chi tộc đã biến dạng từ lâu, nhưng Israel vẫn nuôi hy vọng có ngày tái lập hệ thống nầy như dấu chỉ của thời cánh chung (xem Ezéchiel 37,15-19; 39,23-29; 40-48). Khi tuyển chọn 12 Tông đồ, dẫn họ vào sống hiệp thông với Người và cho họ tham dự vào sứ vụ loan báo Nước Thiên Chúa bằng lời giảng và bằng hành động (xem Marcô 6,7-13; Mt 10,5-8; Luca 9,1-6; 6,13), Chúa Giêsu muốn nói lên rằng thời điểm quyết định để tái lập dân Chúa đã đến, và thay cho đoàn dân gồm 12 chi tộc thì nay là một đoàn dân phổ quát, là chính Hội Thánh (xem Bài Giáo Lý của Đức Bênêđitô XVI, trong buổi tiếp kiến chung ngày 15.3.2006, Osserv.Romano 21.3.2006, trang 12).

3. “ Người đặt một Nhóm Mười Hai để họ ở với Người ” .

Nhóm Mười Hai là tên của cộng đoàn tiên khởi được thiết lập để sống thông hiệp với Chúa Giêsu, bắt đầu nhận biết Người qua Lời Người giảng dạy cũng như qua các việc Người làm. Các ông chắc phải hãnh diện được qui tụ chung quanh Chúa Giêsu, được nghe những lời tán tụng của đám đông: “ Mọi sự, Ngài đã làm cách hoàn hảo; Ngài làm cho kẻ điếc được nghe, và những người câm được nói ” (Marcô 7,37); rồi cũng nghe các người Biệt phái và Luật sĩ dò xét, chỉ trích: “ Vì lẽ gì mà môn đồ của Ngài không noi theo tập tục của tiền nhân, không rửa tay trước khi dùng bữa ” (7,1-5).

Chúa Giêsu muốn có Nhóm Mười Hai ở với Người: “ Hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở trong các con. Cũng như nhành nho không thể tự mình sinh hoa hoa trái, nếu không gắn liền với thân nho, các con cũng vậy, nếu không lưu lại trong Thầy ” (Gioan 15,4). Dần dần các ngài cũng thấy cần phải như vậy. Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các ngài lại họp nhau trong Phòng Tiệc Ly, cùng nhau cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, có Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu và các anh em Người - Đó là cộng đoàn bé nhỏ của Hội Thánh ban đầu (Gioan 13,33) - Phêrô thi hành sứ vụ của người lãnh đạo, đứng lên giữa các anh em (các tín hữu) nói về việc phải có người khác đảm nhận chức vụ của Giuđa kẻ phản bội đã chết: “ Vậy trong hàng những người đã cùng đi với chúng tôi, suốt cả thời gian Chúa Giêsu đã ra vào giữa chúng tôi, khởi từ lúc Gioan thanh tẩy, cho đến ngày Chúa Giêsu được cất khỏi chúng tôi, phải chọn thêm một người để cùng với chúng tôi làm chứng cho sự sống lại của Người ” (Tđcv 1,21-22).

Cần phải ở với Chúa Giêsu, ở với nhau, tức là sống thông hiệp với Chúa Giêsu, với nhau. Trở nên bạn hữu của Người: “ Ta không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ mình làm, Ta đã gọi các con là bạn hữu, vì mọi điều Ta đã nghe nơi Cha Ta, Ta đã tỏ cho các con biết ” (Gioan 15,15). Để thông hiệp với Chúa Giêsu, thì phải tin nhận Người là Mục Tử tốt, thí mạng sống mình vì chiên (Gioan 10,11), như lệnh truyền Người đã lãnh nhận nơi Cha (Gioan 10,18), Chúa Giêsu nói: “ Và Ta, khi nào Ta được treo lên khỏi đất, Ta sẽ kéo mọi ngượi đến với Ta ” (Gioan 12,32). Người phải chết thay cho cả dân tộc, và không chỉ thay cho dân tộc mà thôi, nhưng còn để thu họp con cái Thiên Chúa tản mác về lại làm một mối (x.Gioan 11,52). Sống thông hiệp với Chúa Giêsu, thì sẽ yêu mến Người: “ Như Cha yêu mến Ta, Ta cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong lòng yêu mến của Ta. Nếu các con giữ các lệnh truyền của Ta, các con sẽ ở lại trong lòng yêu mến của Ta ”. Đó lại là nguồn thông hiệp với nhau “…. Nầy là lệnh truyền của Ta: các con hãy yêu mến nhau như Ta đã yêu mến các con. Không có tình yêu nào lớn hơn là thí mạng sống mình vì bạn hữu. Các con là bạn hữu của Ta, nếu các con làm điều Ta truyền dạy các con ” (Gioan 15,9-14).

Trong Thư Mục Vụ đầu tiên gởi cho mọi thành phần Tổng Giáo Phận Krakow năm 1979, Đức Hồng Y Franciszek Macharsky đã viết: “ Anh em đừng sợ, chúng ta có nhau! Và nhất là, tôi muốn nói với anh em: can đảm lên, bởi vì chúng ta không đơn độc! Bên cạnh chúng ta có Chúa Cha vĩnh cửu luôn thương mến chúng ta, Đấng cùng với Con của Ngài ban Thánh Thần cho chúng ta, và nhờ Thánh Thần, chúng ta có thể mở lòng chúng ta ra và kêu lên với niềm tin: Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Chúa, nhờ lời cầu bàu của Đức Maria, Mẹ chí thánh của Người ” .

 

Bài 3. HỘI THÁNH CỦA CHÚA KITÔ:
CỘNG ĐOÀN HIỆP THÔNG

“Và Người đã đến loan báo Tin Mừng bình an cho anh em là những kẻ ở xa, và bình an cho những kẻ ở gần. Vì chính nhờ Người mà chúng ta đôi bên, trong một Thánh Thần, được đến cùng Cha. Vậy nên anh em không còn là người xa lạ, là khách kiều cư, mà là những người đồng hương với các thánh, và là người nhà của Thiên Chúa, được xây dựng trên nền móng là các Tông đồ và các Tiên Tri (chứng nhân của Tân Ước), mà Đỉnh góc là chính Đức Kitô Giêsu. Trong Người, tất cả tòa nhà đều ăn khớp với nhau, vươn lên làm thánh điện trong Chúa ” (Ephêsô 2,17-21).

Chúa Giêsu đến trần gian để qui tụ và cứu chuộc nhân loại “ Người chết thay cho cả dân tộc, và không chỉ thay cho dân tộc mà thôi, nhưng còn để thu họp con cái Thiên Chúa về lại làm một ” (x.Gioan 11,51-52), nghĩa là để thực hiện ý định của Thiên Chúa Cha nhằm cứu chuộc muôn dân, gầy dựng dân mới của Thiên Chúa. Trong thần học củaThánh Phaolô, công trình cứu chuộc là công trình xây dựng nhà Thiên Chúa.

1. Hội Thánh là Tòa Nhà hiệp thông .

Từ ngữ “ tòa nhà ” được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: có thể là một nơi, nơi Chúa hiện diện, nơi thờ phượng (Sáng Thế 28,17), đền thờ, nhà của Thiên Chúa (2 Samuel 12,20; 1 Vua 6,1-2); có thể chỉ gia đình (Sáng Thế 7,1:TC phán với Noe: ngươi và cả nhà của ngươi ), miêu duệ, nhà David; dân tộc, nhà Israel (Tv 113b,9 ;113a,1).

Thiên Chúa không chỉ ban cho con người một gia đình tự nhiên và một nơi trú ẩn vật chất, Ngài còn muốn đưa họ vào nhà của Ngài, không chỉ như tôi tớ, nhưng là con cái. Vì thế, sau khi đã cư ngụ giữa Israel - trong Đền Thờ - Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến thiết lập một nơi trú ẩn thiêng liêng xây lên bằng những viên đá sống động (1 Phêrô 2,4-10), và rộng mở đón nhận hết mọi người .

Chúa Giêsu, Thiên Chúa làm người, hiện diện, qui tụ đám dân chúng, giảng dạy và chữa lành các bệnh tật của họ, tuyển chọn và thiết lập Nhóm Mười Hai để ở với Người và để Người sẽ sai đi, chính Người là Đền Thờ, là nhà của Thiên Chúa. Chúa Giêsu lên Jerusalem để dự lễ Vượt Qua của người Do Thái. Thấy cảnh người ta buôn bán bò, chiên và chim câu, cảnh người đổi tiền trong Đền Thờ, ồn ào hỗn độn, Người lấy dây thừng làm roi mà xua đuổi hết thảy ra khỏi Đền Thờ và bảo: “ Hãy cất khỏi đây các vật ấy, đừng biến Nhà Cha Ta thành một cái chợ ” (Gioan 2,16). Người Do Thái lên tiếng nói với Người: “Ông có dấu nào tỏ cho chúng tôi thấy là ông có quyền làm như vậy? ” Chúa Giêsu đáp lại: “ Phá Đền Thờ nầy đi! Và trong ba ngày Ta sẽ dựng lại … Người nói về Đền Thờ thân mình Người ” ( Gioan 2,18.19.21). Thật vậy, Thân xác phục sinh của Chúa Kitô mới làm trọn ý nghĩa Đền Thờ: Thiên Chúa hiện diện (1,14; 7,37-39), trung tâm thờ phượng trong tinh thần và trong chân lý (4,21-23).

2. Hội Thánh cũng được gọi là một tòa nhà được “ xây dựng trên nền tảng các Tông đồ và các Tiên tri, có chính Chúa Giêsu Kitô là viên đá góc ” (Ephêsô 2,20). Cũng một cách tương tự, Sách Khải Huyền diễn tả Hội Thánh, Jerusalem mới, như thành thánh, “ Các tường thành đặt trên mười hai móng, trên các móng là mười hai tên của mười hai Tông đồ của Chiên … Trong thành không có Điện thờ, vì Chúa, Thiên Chúa toàn năng, là Điện thờ của Thành, và Chiên Con ” (Kh 21,14.22).

Các Tông đồ là những người được tuyển chọn để ở với Chúa Giêsu và để Người sai đi rao giảng (từ ngữ Hy lạp “Apostoloi ” có nghĩa là nhừng người được sai đi, ta dịch là Tông đồ). Vì được gọi để làm sứ giả Phúc Am, không đơn giản như đi phổ biến một học thuyết, nhưng phải trở thành chứng nhân của một Con Người, nên trước khi được sai đi rao giảng , các ngài phải “ ở với Chúa Giêsu ” (Mc 3,14), phải thiết lập một liên hệ bản thân với Người. Việc rao giảng Phúc Am là loan báo điều các ngài đã sống và mời gọi vào sống hiệp thông với Chúa Kitô : “ Điều từ thuở ban đầu đã có, điều chúng tôi đã từng nghe, điều chúng tôi đã từng thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, và tay chúng tôi đã chạm đến, về lời sự sống (chỉ về Con Thiên Chúa, Đấng mà các Tông đồ đã được tiếp xúc thân mật ), và sự sống đã tỏ hiện, chúng tôi đã từng thấy và chúng tôi làm chứng cùng loan báo cho anh em sự sống đời đời ( 1 Gioan 1,1-2). Và để nói lên tầm quan trọng của việc làm chứng để thiết lập sự hiệp thông, Thánh Gioan nói tiếp: “Điều chúng tôi đã từng thấy và đã từng nghe, thì chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, ngõ hầu anh em được thông hiệp với chúng tôi! Nhưng sự thông hiệp của ta là thông hiệp với Cha và với Con của Ngài là Đức Giêsu Kitô ” (1 Gioan 1,3).

Sống thông hiệp với Thiên Chúa và thông hiệp với nhau là cứu cánh riêng biệt của việc rao giảng Phúc Am, của việc hoán cải và gia nhập Kitô giáo. Thông hiệp với Thiên Chúa và thông hiệp với nhau là hai điều không thể tách rời nhau.

3. “ Chúa Giêsu Kitô là Viên Đá góc ”

Viên đá góc có tầm quan trọng đặc biệt, được đặt ở góc của tòa nhà để giữ hai bức tường lại với nhau cho khỏi đổ. Viên đá góc chỉ những nhân vật quan trọng. Chúa Giêsu Kitô là “ viên đá bị thợ xây loại bỏ, lại trở thành viên đá góc ” (Mt 21,42). Người là Đấng qui tụ và thiết lập đoàn dân mới sống thông hiệp với Thiên Chúa trong Giao Ước Mới. Nhờ bửu huyết của Chúa Kitô đổ ra trên thập giá, nhờ sự chết của Người mọi ngăn cách bị xóa bỏ, làm cho những kẻ xưa kia ở xa, thì đã nên gần, làm cho mọi thành phần được hòa hợp với nhau: “Người làm cho đôi bên nên một ” (Eph. 2,14) để không còn phân biệt lương dân hay giới cắt bì, nhưng đôi bên đã được tác tạo thành một người mới nơi chính bản thân Người, được giảng hòa với Thiên Chúa , rồi cũng “ nhờ Người mà đôi bên được đến cùng Cha, trong một Thánh Thần” ( Ephêsô 2,18). Chúa Giêsu là viên Đá Góc, vì, theo lời Thánh Tông đồ, trong Người toàn thể tòa nhà ăn khớp với nhau và vươn lên thành ngôi đền thánh. Khi đó các tín hữu không còn phải là người xa lạ hay khách tạm trú, nhưng là người đồng hương với các thánh, là người nhà của Thiên Chúa (x. Eph. 2,19.21-22).

Để được thông hiệp với Cha, thông hiệp với nhau, phải hợp nhất với Chúa Giêsu và nhờ Chúa Giêsu: “ Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta ” (Gioan 14,11), và chính Người là đường dẫn đến Cha: “ Thầy là đường,là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy ” (Gioan 14,6) “ Hãy ở lại trong Thầy và Thầy ở trong các con ” (Gioan 15,4). Phải hợp nhất với Chúa không ngừng ngay cả trong đời sống mục vụ cũng như trong công tác tông đồ, vừa loan báo Đấng mình yêu mến, vừa mời gọi người khác vào sống hiệp thông với Người. Chính Người sai phái các Tông đồ , trước tiên đến với các chiên lạc nhà Israel để loan báo “ Nước Trời đã gần bên ” (Mt 10,5-7); sau cuộc khổ nạn và phục sinh, Người truyền cho các ông “ Hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo ” (Marcô 16,15), “ Nhân danh Thầy phải rao giảng cho mọi dân tộc việc hối cải để được tha tội ” ( Luca 24,47). Và Người còn là Tác nhân chính: “ Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Người là Emmanuel Mt 1,23).

4. Sứ vụ của các Tông đồ cũng là Sứ vụ của Chúa Giêsu

“ Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con ” (Gioan 20,21). Vâng theo mệnh lệnh của Người, họ ra đi “ thâu nạp môn đồ khắp muôn dân ” (Mt 28,19),và làm chứng tá của Người “ Các con sẽ là chứng nhân về các điều ấy ” (Luca 24,48), trong quyền lực của Chúa Thánh Thần (Tđcv 1,8), là ơn đầu tiên của Chúa Phục Sinh (Gioan 20,22).

Trong Tông huấn Kitô hữu giáo dân, ta đọc được giáo huấn rất minh bạch của Hội Thánh: “ Mối dây kết hợp các thành phần trong dân mới với nhau” trước tiên là với Đức Kitô “ không phải là những liên hệ theo xác thịt và máu huyết, nhưng là những liên hệ theo tinh thần, đúng hơn là trong Chúa Thánh Thần, mà mọi người đã được rửa tội đều lãnh nhận ” .

”Từ thuở đời đời, Chúa Thánh Thần là mối dây kết hợp Ba Ngôi Duy Nhất và Bất Khả Phân Ly , và là Đấng khi thời viên mãn đến (Gal4,4), đã kết hợp cách bền vững bản tính nhân loại với Con Thiên Chúa; qua mọi thế hệ Kitô giáo cũng chính Chúa Thánh Thần làm nguồn mạch liên lĩ không bao giờ cạn của sự hiệp thông trong Hội Thánh ” (Christifideles laici, 19).

Đứng trước những chia rẽ và những xung đột đang tha hóa những tương quan nhân bản, sự hiệp thông được nuôi dưỡng bằng Bánh Thánh Thể và được biểu lộ trong những tương quan huynh đệ, kéo chúng ta ra khỏi những cô độc. Đó là ân huệ quí báu làm cho chúng ta cảm thấy mình được đón nhận và được thương mến trong Chúa, giữa đoàn dân hợp nhất được qui tụ nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Sống hiệp thông là ánh sáng làm cho Hội Thánh rạng rỡ giữa các dân tộc (x. Bài Giáo Lý của Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI, trong buổi tiếp kiến chung ngày 29.3.2006)

 

Bài 4. THIẾT LẬP VÀ CỦNG CỐ HỘI THÁNH

Khi tuyển chọn các Tông đồ và thành lập Nhóm Mười Hai để ở với Chúa và để sai họ đi rao giảng, Chúa Giêsu đã bày tỏ ý định thiết lập một đoàn dân mới, một cộng đoàn hiệp thông với Chúa và hiệp thông với nhau. Bằng chính sự hiện hữu của cộng đoàn nầy, cộng đoàn gồm mười hai Tông đồ được gọi từ những thành phần khác nhau, Chúa mời gọi Israel hoán cải để được qui tụ trong Giao Ước Mới, là Giao Ước hoàn thiện Giao Ước cũ một cách sung mãn.

1. Đoàn Dân Mới trong Giao Ước Mới.

Thời gian ba năm đi với Chúa Giêsu là thời gian cần thiết cho Nhóm Mười Hai để tập sống thông hiệp với Chúa, thông hiệp với nhau. Thông hiệp với Chúa bằng niềm tin vào Chúa Giêsu, Đấng mà Chúa Cha sai đến, là Con Thiên Chúa: “ Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống ” (Mt 16,16). Sau khi tuyên xưng niềm tin nầy, Phêrô đón nhận lời hứa quan trọng của Chúa Giêsu: “Con là Đá và trên Đá nầy, Ta sẽ xây Hội Thánh của Ta ” (Mt 16,18).

Tuyên xưng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Kitô quả thật là ơn của Chúa, như chính Chúa Giêsu đã nói với Phêrô: “không phải thịt máu mạc khải cho con, mà là Cha Ta, Đấng ngự trên trời ” (Mt 16,17) hay như Thánh Phaolô: “ không ai có thể nói: Giêsu là Chúa, mà không phải bởi sức Thánh Thần ” (1 Cor 12,3).

Thế nhưng tin và bước theo Chúa Giêsu vác Thánh Giá, bị đóng đinh, chết và sống lại để cứu chuộc phàm nhân tội lỗi, thật là điều khó chấp nhận. Các Tông đồ đã có phản ứng như thế nào mỗi lần nghe Chúa nói “ Con Người phải lên Jerusalem và chịu nhiều đau khổ, bị giết đi và ngày thứ ba sẽ sống lại ” (Mt 16,21; x. 17,23; 20,18-19).

Trước ngày chịu nạn như đã báo trước nhiều lần, Chúa Giêsu ăn lễ Vượt Qua với các môn đồ, và trong Bữa Tiệc Ly nầy, Người đã làm một việc rất quan trọng: “Đang lúc họ ăn, Chúa Giêsu cầm lấy bánh và tạ ơn, bẻ ra, và trao cho họ mà nói: Hãy cầm lấy mà ăn, nầy là Mình Ta phải thí ban vì các con; hãy làm sự nầy mà nhớ đến Ta ” (Lc 22,19). Đoạn Người cầm lấy chén và tạ ơn, trao cho họ mà nói: “ Tất cả các con hãy uống chén nầy, vì là Máu Ta, Máu Giao Ước đổ ra vì nhiều người để nên ơn tha tội ” (Mt 26,26-28).

2. Các bài tường thuật của PÂ Nhất Lãm về Bữa Tiệc Ly nầy cho phép ta nghĩ đến việc lập Phép Thánh Thể làm Nhiệm Tích tưởng niệm Hy Tế của Chúa Giêsu trên thập giá và làm Bí Tích Hiệp Thông của Hội Thánh, khi chính Chúa Giêsu hiện diện theo bản thể để hợp nhất chúng ta với Người và qua đó cũng đồng thời kết hợp chúng ta với nhau.

Đức Gioan Phaolô II cho chúng ta một cái nhìn mới mẻ đặc biệt về Bữa Tiệc Ly nầy: “ Các tác giả sách Tin Mừng xác định rõ răng chính nhóm Mười Hai, là các Tông Đồ, đã tụ họp quanh Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly (x. Mt 26,20; Mc14,16; Luca 22,14).Đây chính là một điểm riêng biệt rất quan trọng, vì các Tông đồ là những “ mầm giống của dân Israel mới và đồng thời là nguồn gốc của phẩm trật thánh - hiérarchie sacrée - Khi ban cho các ngài Mình và Máu Ngươi làm của ăn, Chúa Kitô đã hợp nhất các ngài một cách huyền nhiệm với hy tế của Người sẽ được hoàn tất trên thập giá sau đó không lâu. Đem so sánh với Giao Ước Sinai, được đóng ấn bằng việc rảy máu, những cử chỉ và lời nói của Chúa Giêsu trong Bữa Tiệc Ly đã đặt nền tảng cho cộng đoàn thiên sai mới, dân của Giao Ước Mới ” .

Trong phòng tiệc ly, khi đón nhận lời mời gọi của Chúa Giêsu: “Các con hãy cầm lấy mà ăn … Tất cả các con hãy uống” (Mt 26,26-28), các Tông đồ lần đầu tiên bước vào trong sự hiệp thông bí tích với Người. Từ giây phút đó và cho đến tận thế, Giáo Hội được xây dựng qua sự hiệp thông bí tích với Con Thiên Chúa được hiến tế vì chúng ta: “ Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta … Mỗi khi uống, các con hãy làm mà nhớ đến Ta ” (1 Cor 11,24-25; x.Lc 22,19; Thông Điệp Ecclesia de Eucharistia, 21).

Cùng với việc lập Phép Thánh Thể, Chúa Giêsu truyền cho các Tông đồ phải cử hành để Tưởng Niệm Người. Xưa nay chúng ta vẫn xác tín đó là việc thiết lập chức Tư Tế Thừa Tác (CĐ Trente, FC 777/ DS 1752); chức Linh Mục Thừa Tác được sinh ra, sống còn và hoạt động đem lại hoa trái từ Thánh Thể. Sẽ không có Bí Tích Thánh Thể nếu không có chức Linh Mục, cũng như không có chức Linh Mục mà không có Bí Tích Thánh Thể ( Gioan Phaolô II, Hồng Ân và Mầu Nhiệm, bản tiếng Ý trang 89). Phép Thánh Thể và Chức Linh Mục, cả hai là hồng ân của Chúa Kitô nhằm phục vụ Hội Thánh, Bí Tích Hiệp Thông. Nhờ tham dự Hy Tế Thánh Thể , nhất là nhờ sự tham dự đầy đủ qua việc rước lễ “ communion sacramentelle” mà việc tháp nhập vào Chúa Kitô do Bí Tích Rửa Tội được đổi mới và củng cố vững bền. Mỗi người chúng ta đón nhận Chúa Kitô, nhưng chính Chúa Kitô cũng đón nhận mỗi người chúng ta. Được sống hiệp thông với Chúa Kitô, hiệp thông với nhau, Dân Chúa, Dân của Giao Ước Mới lại trở thành dấu chỉ và dụng cụ của ơn cứu chuộc của Chúa Kitô, thành ánh sáng thế gian (x.Mt 5,13-16).

Đức Bênêđitô XVI đã nhìn thấy trong lệnh truyền phải cử hành Lễ Tưởng Niệm cuộc Khổ Hình và Phục Sinh của Chúa Kitô việc quan trọng là Thiết Lập Hội Thánh: “ Trong Bữa Ăn Tối, trước khi chịu khổ nạn, Chúa Giêsu đã trao cho các Tông đồ bổn phận cử hành Lễ Tưởng Niệm Người, như thế Chúa bày tỏ ý muốn chuyển lại cho cả cộng đoàn, qua bản thân của các thủ lãnh , sứ mệnh trong lịch sử là làm dấu chỉ và dụng cụ của việc qui tụ thời cánh chung đã bắt đầu nơi Người. Vì thế, chúng ta có thể nói rằng chính Bữa Ăn Sau Cùng là Hành Vi thiết lập Hội Thánh, bởi vì Người tự hiến chính mình và như thế tạo nên một cộng đoàn mới, một cộng đoàn hợp nhất trong sự thông hiệp với chính Người ” ( Trong Buổi tiếp kiến chung, ngày 15.3.2006).

3. Trong Thư gởi Giáo Đoàn Ephêsô, chúng ta đã thấy rằng trong Đức Kitô Giêsu, nhờ bửu huyết của Người mà những người xưa kia ở xa (lương dân) được nên gần. Nhờ Thập giá và sự chết, Chúa Kitô đã triệt hạ bức tường ngăn cách, thù hằn, để đem lại bình an và giảng hòa hai dân tộc Do Thái và Hy Lạp (lương dân), và Chúa là sự Bình An của chúng ta, tức là Đầu Mối và Nguồn hiệp thông của chúng ta với Thiên Chúa và hiệp thông với nhau (x. Eph. 2,11-18). Sự hiệp thông nầy rất là thiết yếu, vì nó mô phỏng sự hiệp thông tuyệt hảo của Thiên Chúa Ba Ngôi, và là cứu cánh của đời sống con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, để sống hiệp thông trong tình yêu thương. Con người sống giữa trần gian cần được Lời Chúa soi dẫn và phải luôn luôn hoán cải, để củng cố và tăng cường tình hiệp thông. Vì thế, Chúa Kitô Phục Sinh, trước hết là sai các Tông đồ: “ Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con ” (Gioan 20,21), rồi ban Chúa Thánh Thần cho các ngài cùng với Quyền Tha Tội: “ Các con hãy chịu lấy Thánh Thần. Các con tha tội cho ai, thì tội họ được tha; các con cầm giữ tội ai, thì tội người ấy bị cầm giữ ” (Gioan 20,22-23)

Để kết thúc bài Suy Niệm nầy, chúng ta hết lòng tạ ơn Chúa đã thiết lập Hội Thánh để Chúa luôn hiện diện kết hợp chúng ta với Chúa, và cũng tạ ơn Chúa đã cho chúng ta được tham dự vào sứ vụ của Chúa là làm Thừa Tác Viên xây dựng Hội Thánh thành Cộng Đoàn Hiệp Thông, làm người loan báo Tin Mừng Bình An cho nhân loại hôm nay.

Trong thế giới hôm nay với nhiều thách đố về Tôn Giáo, người ta chuộng đời sống hưởng thụ, tìm kiếm lợi lộc, và, nếu không công khai chối bỏ Thiên Chúa, công khai chống lại Hội Thánh, thì cũng chểnh mảng trong đời sống đạo đức, mất ý thức về công bằng, lôi thôi trong đời sống hôn nhân, xem thường tiếng nói của Hội Thánh, người mục tử sẽ nghĩ thế nào về sứ vụ của mình và sẽ phải làm gì?

Chúa dùng lời giảng của Hội Thánh để thông ban đức tin và dùng Bí Tích Rửa Tội để qui tụ con cái Chúa thành Cộng Đoàn Giao Ước Mới, Chúa lại còn thiết lập Bí Tích Thánh Thể và Bí Tích Giải Tội để nuôi dưỡng, gìn giữ và củng cố sự hiệp thông của Đoàn Dân Mới nầy. Chúng ta có nên xem lại cách chúng ta cử hành các Bí Tích nầy như thế nào? Có giúp chúng ta kết hợp với Chúa hơn, giúp chúng ta xây dựng và củng cố sự hiệp thông trong Cộng Đoàn Dân Chúa?

Bài 5. PHỤC VỤ MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG

Trong cộng đoàn các môn đệ, sự hiệp thông trong tình yêu được thiết lập từ buổi đầu và trong dòng lịch sử, dưới sự hướng dẫn của các vị Mục Tử hợp pháp, Hội Thánh sống giữa trần gian như nhiệm tích hiệp thông, phản ảnh phần nào sự hiệp thông của Ba Ngôi Thiên Chúa. Sự hiệp thông của cộng đoàn tín hữu phát xuất từ Ba Ngôi Thiên Chúa là ơn đặc biệt của Chúa Thánh Thần :

”Sự hợp nhất Chúa Con với Chúa Cha trong mối dây liên kết - Tình Yêu - của Chúa Thánh Thần là kiểu mẫu và nguồn mạch của sự hợp nhất các Kitô hữu với Chúa Giêsu: nhờ được kết hợp với Chúa Con trong dây tình yêu của Chúa Thánh Thần,mà các Kitô hữu được kết hợp với Chúa Cha ” (Tông huấn Kitô hữu giáo dân, 18).

Thánh Phaolô đã nói đến nguồn mạch tối cao là Thiên Chúa Ba Ngôi trong lời cầu chúc các tín hữu, khi kết thúc Thư thứ II gởi cho giáo đoàn Côrintô: “ Nguyện xin ân sủng của Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta , và tình yêu của Chúa Cha, và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng tất cả anh chị em ” (2 Cor. 13,13).

Thật vậy, hiệp thông là ân huệ đặc biệt của Chúa Thánh Thần, là hoa quả của Tình Yêu từ Chúa Cha ban xuống và của Ân Sủng Chúa Giêsu Kitô. “ Người ta có thể quả quyết rằng ÂN SỦNG - TÌNH YÊU - ƠN THÔNG HIỆP theo thứ tự qui về Chúa Kitô, Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, là ba phương diện khác nhau của tác động duy nhất của Thiên Chúa để cứu chuộc chúng ta, là tác động gầy dựng Hội Thánh và làm cho Hội Thánh thành một Đoàn Dân hợp nhất từ sự hợp nhất của Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần (Thánh Cyprianô, De Oratione Dominica, 23:PL 4,536 được trích dẫn trong Lumen Gentium,4;Đức Bênêđitô XVI, trong Buổi Tiếp Kiến chung, ngày 29.3.2006).

1. Từ buổi đầu, Cộng Đoàn các môn đệ vui hưởng niềm hoan lạc của Chúa Thánh Thần ban chân lý và tình yêu, bảo đảm cho sự hiệp thông trong Cộng Đoàn. “ Ở đâu có Hội Thánh, thì ở đó có Chúa Thánh Thần, và ở đâu có Thánh Thần của Thiên Chúa, thì ở đó có Hội Thánh, cũng như có mọi ân sủng; bởi vì Chúa Thánh Thần là Chân Lý (Thánh Irênê, Chống lại các lạc thuyết, III, 24, 1:PG VII, 966). Như thế có một liên hệ sâu xa giữa Chúa Thánh Thần và Hội Thánh. Chúa Thánh Thần xây dựng Hội Thánh và ban chân lý cho Hội Thánh, tuôn đổ tình yêu xuống tâm hồn các tín hữu (Roma 5,5).

Thế nhưng, cũng từ buổi đầu, cộng đoàn các môn đệ cũng gặp nguy cơ chia rẽ về đức tin. “ Như anh em đã nghe nói là Phản-Kitô sẽ đến, thì nay đã có nhiều Phản-Kitô xuất hiện ” (1Gioan 2,18).

Đức Bênêđitô XVI đã nói: “ Mối liên hệ mật thiết nầy với Thánh Thần ban chân lý và tình yêu không xóa bỏ bản tính nhân loại của chúng ta với tất cả sự yếu hèn của nó, cho nên ngay từ buổi đầu cộng đoàn các môn đệ chẳng những vui hưởng niềm hoan lạc của Chúa Thánh Thần, ân ban chân lý và tình yêu, nhưng cũng cảm nếm cái đắng cay của thử thách, nhất là do những chống đối nghịch lại những chân lý đức tin, với những tổn thương gây ra cho sự hiệp thông. Sự hiệp thông trong tình yêu có từ buổi đầu và sẽ còn mãi cho đến cùng” (x. 1 Gioan 1,1-4), thì sự chia rẽ cũng đến từ buổi đầu. Chúng ta đừng lấy làm lạ vì ngày hôm nay nó cũng có mặt: “chúng đã từ nơi ta mà ra, nhưng chúng đã không thuộc về ta. Vì nếu chúng thuộc về ta, chúng đã lưu lại với ta. Và phải thấy rõ điều nầy: không phải hết thảy đều thuộc về chúng ta” (1 Gioan 2,19). Như vậy trong cuộc sống trần thế và cả trong những yếu đuối của Hội Thánh luôn luôn có nguy cơ đánh mất đức tin, và do đó cũng đánh mất tình yêu và tình huynh đệ. Ai tin vào Hội Thánh của tình yêu và muốn sống trong Hội Thánh , thì chắc chắn phải nhận biết nguy cơ nầy và phải chấp nhận rằng hiệp thông với kẻ đã xa lìa đạo lý cứu độ thì không thể được (2 Gioan 9-11; Bênêđitô XVI, Tiếp kiến chung ngày 5.4.2006).

2. Thư thứ nhất của Thánh Gioan cho thấy rõ rằng Hội Thánh sơ khai ý thức về những căng thẳng có thể xảy ra trong kinh nghiệm hiệp thông, nên dùng những lời lẽ cương quyết để nhấn mạnh thực trạng hiệp thông với Thiên Chúa và bổn phận gìn giữ tình bác ái huynh đệ giữa các Kitô hữu, đó là “ Đi trong ánh sáng ” . Và nghiêm khắc vớ kẻ đối nghịch: “ Họ đi trong tối tăm , họ là kẻ nói dối ” .

”Thiên Chúa là sự sáng, tối tăm không có nơi Ngài. Nếu ta nói là ta hiệp thông với Ngài, mà ta lại đi trong tối tăm, thì ta nói dối, và ta không hành động trong sự thật. Nhưng nếu ta đi trong ánh sáng, cũng như chính Ngài ở trong ánh sáng (chính trực và yêu thương), thì ta được thông hiệp với nhau” (1 Gioan 1,5-7).

Dấu nào để biết ta “ đi trong ánh sáng ” ? Đó là giữ các giới răn, nhất là giới răn bác ái: “Nơi điều nầy ta biết được là ta nhận biết Ngài ( đức tin sống, dấu chỉ ta thuộc về Chúa): là nếu ta giữ lịnh truyền của Ngài. Kẻ nói: tôi biết Ngài, mà không giữ lịnh truyền của Ngài, thì nó là đứa nói dối, và trong nó không có sự thật” (1 Gioan 2,3-4).

”Kẻ nói mình ở trong sự sáng mà lại ghét anh em, thì nó vẫn ở trong tối tăm. Kẻ yêu mến anh em mình thì lưu lại trong sự sáng, trong đó không có gì làm vấp ngã. Còn kẻ ghét anh em mình thì ở trong tối tăm, và nó không biết mình đi đâu, vì tối tăm đã làm mắt nó đui mù” (1 Gioan 2,3-4; 9-11).

Chúa Giêsu Kitô là Viên Đá góc của Tòa Nhà Hội Thánh, là đầu mối hiệp thông của Cộng Đoàn ( 1 Phêrô 2,4-5). Như vậy bổn phận quan trọng của Cộng Đoàn sơ khai là phải đề phòng và chống lại nguy cơ Phản- Kitô (1Gioan 2,18 ; 2 Phêrô 2,1-2: Tiên tri giả, tiến sĩ giả): “ Ai là kẻ nói dối, nếu không phải là kẻ chối rằng Giêsu không phải là Đức Kitô. Nó là Phản-Kitô, kẻ chối bỏ Cha và Con. Phàm ai chối Con, thì cũng chẳng có Cha. Ai tin nhận Con, thì cũng có Cha” (1 Gioan 2,22-23).

Trong những thế kỷ đầu có những lạc thuyết: Ảo thân thuyết, Ngộ đạo thuyết của Valentin + 140, Marcion bị vạ tuyệt thông năm 144. Thư của Thánh Phaolô gởi cho Giáo đoàn Colossê, Thư thứ nhất của Thánh Gioan mạnh mẻ chống lại các lạc thuyết , trong đó có ảo thân thuyết và ngộ đạo thuyết, đã xâm nhập vào cộng đoàn.

3. Làm thế nào để bảo vệ sự hiệp thông ? Ta hãy đọc kỹ hai đoạn văn sau đây:

a) “ Hội Thánh của tình yêu cũng là Hội Thánh của chân lý, trước tiên có nghĩa là trung thành với Phúc Am đã được Chúa Giêsu trao phó cho những môn đệ của Người. Tình huynh đệ Kitô giáo phát sinh từ việc đã được lập làm con của cùng một Cha do Thánh Thần chân lý, vì chưng, như lời của Thánh Phaolô, phàm ai được Thánh Thần chân lý dẫn đưa, thì họ là con cái của Thiên Chúa” (roma 8,14) .

b) Để sống trong sự hợp nhất và trong bình an, gia đình con cái của Thiên Chúa cần được gìn giữ trong chân lý và được hướng dẫn với một sự biện phân khôn ngoan co thẩm quyền: đó là công việc mà các Tông đồ được gọi để thi hành ( Đức Benêđitô XVI, Trong buổi tiếp kiến chung, ngày 5.4.2006).

Hội Thánh hiện hữu là do ChúaThánh Thần, Hội Thánh tin vào ơn phù trợ và hướng dẫn của Chúa Thánh Thần:

”Nếu các con yêu mến Ta, các con sẽ giữ các lệnh truyền của Ta, và Ta sẽ xin Cha, và Ngài sẽ ban cho các con một Đấng Bàu Chữa khác, để Ngài ở với các con luôn mãi Ngài là Thần chân lý” (Gioan 14,15-17).

Nhưng Hội Thánh có một cơ cấu, để kế nhiệm các Tông Đồ, với trách nhiệm là bảo đảm cho Hội Thánh ở trong chân lý đã được Chúa Kitô ban cho, với khả năng yêu thương. Các Tông đồ và những người kế vị các ngài là những người canh giữ và những chứng nhân có thẩm quyền của kho tàng chân lý được trao phó cho Hội Thánh và là những thừa tác viên bác ái. Chân lý và tình thương đã hoà quyện với nhau trong đời sống của Hội Thánh sơ khai :

”Họ chuyên cần nghe theo giáo huấn của các Tông đồ, sống hiệp thông huynh đệ, trong việc bẻ bánh và kinh nguyện” (Tđcv 2,42). Sự hiệp thông phát sinh do đức tin nhờ lời giảng của các Tông đồ, được nuôi dưỡng bằng việc Bẻ Bánh và kinh nguyện. Hồng ân hiệp thông được bảo toàn và được tán trợ cách riêng do tác vụ của các Tông đồ. Và thừa tác vụ nầy lại là ân huệ cho cả cộng đoàn, để phục vụ cộng đoàn . Như thế, “ Các Tông đồ và những người kế vị các ngài là những người gìn giữ và là chứng nhân có thẩm quyền của kho tàng chân lý đã được giao phó cho Hội Thánh, cũng vậy các ngài là thừa tác viên của bác ái: hai phương diện đi đôi với nhau, không tách biệt nhau. Việc phục vụ của các ngài trước tiên là một việc phục vụ bác ái.Đức Ai mà các ngài sống và cổ võ không tách biệt với chân lý mà các ngài gìn giữ và thông truyền. Qua việc phục vụ của các Tông đồ và những người kế vị các ngài, tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi đến với chúng ta và thông truyền cho chúng ta chân lý làm cho chúng ta được tự do” (x.Gioan 8,32) - (Đức Bênêđitô XVI, Trong buổi tiếp kiến chung ngày 5.4.2006).

Trong Bữa Ăn sau cùng với các môn đệ, Chúa Giêsu đã xin cho các môn đệ các Tông đồ và những người nhờ lời các Tông đồ sẽ tin vào Người (x. Gioan 17,20):

”Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ chúng trong Danh Cha, là những người mà Cha đã ban cho Con, ngõ hầu chúng nên một như Chúng Ta ”
Con đã ban cho chúng lời của Cha, và thế gian đã ghét chúng, vì chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian.
Con không xin Cha cất chúng khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ chúng khỏi kẻ dữ.
Xin tác thánh chúng trong sự thật. Lời Cha là sự thật.
Như Cha đã sai Con đến trong thế gian, Con cũng sai chúng đến trong thế gian.
Và vì chúng, Con thánh hiến chính mình Con, ngõ hầu chúng được tác thánh cách chân thật.

Con không chỉ cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho những kẻ nhờ lời chúng mà sẽ tin vào Con, để hết thảy chúng nên một cũng như, lạy Cha, Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, ngõ hầu chúng ở trong Chúng Ta, và thế gian tin rằng Cha đã sai Con ” ( Gioan 17,11.14-21). Tóm lại, Hội Thánh Hiệp Thông là thực tại diễn tả nội dung cốt yếu của mầu nhiệm, là kế hoạch củaThiên Chúa để cứu chuộc nhân loại: các Tông đồ và những người kế vị được kêu gọi để phục vụ “ Mầu Nhiệm Hiệp Thông nầy, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúng ta hãy cầu nguyện cho người kế vị Thánh Phêrô và những người kế vị các Tông đồ luôn noi theo giáo huấn của các Tông đồ, để ánh sáng của Chúa Kitô, ánh sáng của chân lý và bác ái, không bao giờ tàn lụi, nhưng luôn chiếu soi trong Hội Thánh và giữa trần gian.

Chúng ta có cảm thấy hạnh phúc được ở trong Hội Thánh, sống hiệp thông với Chúa và hiệp thông với anh chị em kitô hữu? Chúng ta có thể làm gì để củng cố sự hiệp thông nầy? Trong hoạt động mục vu, chúng ta có trung thành theo giáo huấn của Hội Thánh, để đem ánh sáng Chúa Kitô, ánh sáng của chân lý và bác ái, đến cho người khác, cho người đang gặp đêm tối của thử thách dưới nhiều dạng khác nhau?

 

Bài 6. MẦU NHIỆM HIỆP THÔNG
QUA MỌI THỜI ĐẠI

”Thiên Chúa muốn loài người được thánh hóa và cứu chuộc không phải một cách riêng rẽ, không có liên hệ nào với nhau, nhưng ngược lại Chúa qui tụ họ thành một đoàn dân để họ nhận biết Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong sự thánh thiện ” (Vaticanô II, Lumen Gentium, 9; Christifideles Laici,19).

Đó là kế hoạch của Thiên Chúa để cứu chuộc phàm nhân tội lỗi tản mát như chiên không có người chăn. Nhờ Chúa Thánh Thần, Con Chúa Nhập thể kết hợp bền chặt với xác phàm, trở nên mối hiệp thông mới của con người với Thiên Chúa, khi mối hiệp thông nguyên thủy đã bị đánh mất do tội của nguyên tổ chúng ta. Người rao giảng và kêu gọi con cái Israel hoán cải để được qui tụ thành dân mới của Chúa. Người tuyển chọn và thành lập Nhóm Mười Hai để ở với Người và để sai họ đi. Đó là dấu chỉ hiển nhiên Người muốn qui tụ một Đoàn Dân của Giao Ước Mới, thay thế Giao Ước cũ với Israel . Khi sai các Tông đồ đi đến các làng mạc Do Thái, Chúa Giêsu đã cho thấy Thiên Chúa trung thành với lời đã hứa với các Tổ Phụ, với Dân đã được tuyển chọn trong Giao Ước cũ. Và sau khi sống lại, Người thông ban Thánh Thần cho họ, sai họ đi thu nạp môn đồ khắp muôn dân (x. Mt 28,19; Luca 24,49; Tđcv 1,6-8). Hội Thánh là Đoàn Dân Mới, là Tòa Nhà của Thiên Chúa được xây dựng trên nền tảng các Tông đồ, có Chúa Kitô là Viên Đá Góc, trong Người tất cả tòa nhà đều ăn khớp với nhau (Eph.2,21).

1. Đoàn Dân được Chúa Thánh Thần qui tụ và nâng đỡ, được bảo tồn và phát triển nhờ Thừa

tác vụ của các Tông đồ, đó là Cộng Đoàn Hiệp Thông (la grande communion de I’Eglise). Sự Hiệp Thông (Koinonia-communion) nầy, mà chúng ta quen gọi là Hội Thánh, không chỉ nhắm tới tất cả những tín hữu của một thời điểm lịch sử nhất định, nhưng cũng bao gồm mọi thời điểm và mọi thế hệ: một đàng chúng ta hợp nhất với mọi tín hữu sống rải rác trong mọi miền đất trên thế giới; đàng khác các tín hữu của thời quá khứ và các tín hữu trong tương lai sẽ cùng với chúng ta làm thành một cộng đoàn hiệp thông rộng lớn, do Chúa Thánh Thần là Đấng bảo đảm sự hiện diện tích cực của mầu nhiệm hiệp thông trong lịch sử, củng cố sự hiệp thông qua mọi thế kỷ. Ơn Cứu Chuộc cần được rao giảng cho mọi người, thì việc Tưởng Niệm Cuộc Vượt Qua của Chúa cũng phải được cử hành liên tục trong lịch sử cho tới khi Chúa Kitô vinh hiển quang lâm. Chính nhờ tác động của Chúa Thánh Thần mà Chúa Kitô Phục Sinh tiếp tục hiện diện và hành động để phát triển sự hiệp thông huynh đệ.

2. Trong Hiến Chế về Mạc Khải, Công Đồng Vaticanô II đã dạy: “ Do lòng nhân lành và khôn ngoan, Thiên Chúa đã muốn mạc khải chính mình và tỏ cho biết mầu nhiệm của ý muốn Ngài (x.Eph.1,9); nhờ mầu nhiệm đó, loài người có thể đến cùng Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, trong một Thánh Thần, và được thông phần vào bản tính Thiên Chúa ” (x. Eph 2,18; 2 Phêrô 1,4) - Mạc khải, 2). Như thế chúng ta thấy : 1. Mục đích của kế hoạch cứu chuộc là sáng kiến của TC nhằm ban cho con người được thông hiệp với Chúa Cha; 2. nhờ Chúa Kitô, Ngôi Lời nhập thể, là trung gian và mối hiệp thông; 3. do tác động của Chúa Thánh Thần kết hợp loài người qua mọi thời đại thành cộng đoàn hiệp thông.

Chúa Giêsu đã đặt nền móng cho Tòa Nhà hiệp thông nầy, khi thiết lập Nhóm Mười Hai và trao cho họ nhiệm vụ thu nạp môn đồ khắp muôn dân, đồng thời bảo đảm cho họ sự hiện diện và ơn phù trợ của Người cho đến tận thế(x. Mt 28, 19-20). Người là Emmanuel (Mt 1,23).

Ephêsô 2,18, được CĐ Vaticanô trích dẫn, đã nhấn mạnh vai trò của Chúa Thánh Thần trong sự hiệp thông: “ trong một Thánh Thần ” . Sách Tông đồ Công vụ, tiếp nối ý định của Phúc Âm Thánh Luca, chú trọng sự tương ứng giữa Chúa Thánh Thần, các sứ giả của Chúa Kitô và cộng đoàn được qui tụ. Nhờ tác động cúa Đấng Bàu Chữa, các Tông đồ và những người kế vị các ngài có thể thực hiện trong dòng đời sứ mệnh đã lãnh nhận từ Đấng Phục Sinh: “ Các con sẽ là chứng nhân về những điều ấy. Còn Ta, Ta sẽ sai đến trên các con điều Cha Ta đã hứa …” (Luca 24,48-49). “ Nhưngcác con sẽ chịu lấy quyền lực Thánh Thần đến trên các con. Và các con sẽ là chứng tá của Ta ở Jerusalem, trong toàn cõi Giuđê và Samaria, và cho đến mút cùng cõi đất ” (Tđcv 1,8). Và lời hứa nầy, lúc ban đầu khó mà tin được, thế mà đã được thực hiện ngay thời các Tông đồ: “ Còn chúng tôi đây là những chứng nhân về các điều ấy cùng với Thánh Thần Thiên Chúa đã ban cho những ai vâng phục Ngài ” (Tđcv 5,32)

Không những Chúa Thánh Thần làm cho các Tông đồ tin nhận Đức Giêsu Phục Sinh là Chúa và luôn ở với các ngài, huớng dẫn và hỗ trợ các ngài, nhưng còn làm cho những người khác nhờ lời giảng của các ngài mà sống hiệp thông với Chúa Kitô; rồi cũng chính Chúa Thánh Thần, qua việc đặt tay và lời nguyện của các Tông đồ, thánh hiến và sai phái những những sứ giả mới để rao giảng Phúc Âm: “ Sau khi đã ăn chay và cầu nguyện, họ đặt tay và tiển các ông đi (Barnaba và Saulô: cử chỉ đặt tay của cộng đoàn như để phó thác các vị cho ơn Chúa). Vậy các ông được Thánh Thần sai đi thì đã xuống Sêlêukia, rồi từ đó vượt biển qua Cyprô …” (Tđcv 13,3-4). Và trong một bản văn khác, Phaolô khuyên Timôthêô: “ Đừng bỏ lơ ân lộc có nơi con, được ban xuống cho con nhờ lời tiên tri với việc đặt tay của hàng niên trưởng ” (1 Tim 4,14) . Sách Tông đồ Công vụ cho thấy rằng trong mỗi hội thánh Phaolô đặt hàng niên trưởng (x.Tđcv 14,23). Tác động của Chúa Thánh Thần và việc làm của Phaolô rất tương ứng với nhau . Vào lúc phải có những quyết định quan trọng cho đời sống của Hội Thánh, chính Thánh Thần hiện diện để hướng dẫn, như trường hợp Công Đồng Jerusalem, trong bức thư được thảo ra để gởi cho các tín hữu tại Antiochia với đoạn kết như sau: “ Thánh Thần và chúng tôi quyết định không chất thêm gánh nặng nào cho anh em …” (Tđcv 15,28). Và trong đoạn khác, chúng ta cũng thấy sự tiến triển của Hội Thánh trong ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần: “ Hội thánh được bình an trong toàn cõi Giuđê, Galilê và Samaria, gia tăng và đi trong sự kính sợ Chúa và chan chứa niềm an ủi của Chúa Thánh Thần” (Tđcv 9,31).

Như thế Thánh Truyền là chính sự hiện diện thường xuyên của Chúa Cứu Thế, Người đến gặp gỡ, cứu chuộc và thánh hóa chúng ta trong Thánh Thần qua tác vụ của Hội Thánh, để làm vinh danh Chúa Cha. Trải qua bao thế kỷ, Đấng Phục Sinh đang sống và hành động vì chúng ta, trong Hội Thánh và trong thế giới hôm nay. Người ban cho chúng ta chân lý, ban cho chúng ta ánh sáng để chúng ta sống và tìm thấy con đường hướng tới tương lai. Đó là niềm vui lớn lao của chúng ta (x. Đức Bênêđitô XVI, Diễn từ trong buổi tiếp kiến chung ngày 26.4.2006). Hạnh phúc của chúng ta là hồng ân của Chúa Thánh Thần cho chúng ta được thông hiệp trong tình yêu của Người và được tham dự vào sứ mệnh và tác vụ của các Tông đồ (x. Christifideles laici,số 21) .

Bài 7. Chức Linh Mục, Đoàn Sủng Phục Vụ Mầu Nhiệm Hiệp Thông

“Chính Ta đã chọn các con và đã đặt các con ra, để các con đi…”(Gioan 15,16)

1. Chúa Giêsu đã tuyển chọn và thiết lập Nhóm Mười Hai để ở với Người và để được Người sai đi (x. Mc 3,13-19). Trong Bữa An cuối cùng với các môn đệ, Người đã lập Bí Tích Thánh Thể để lưu lại Cuộc Khổ Nạn và Phục Sinh của Người: “ Nầy là Mình Ta phải thí ban vì các con; hãy làm sự nầy mà nhớ đến Ta …” (Luca 22,19). “ Tất cả các con hãy uống chén nầy; vì nầy là Máu Ta, Máu Giao Ước đổ ra cho nhiều người được tha tội ” (Mt 26,27-28). “ Chén nầy là Giao Ước mới trong Máu Ta các con hãy làm sự nầy mỗi khi uống, mà nhớ đến Ta ” . (Thánh Phaolô nói): “ Mỗi lần các con ăn Bánh và uống Chén nầy, các con loan truyền sự chết của Chúa cho tới khi Người lại đến ” 1 Cor 11,25-26). Bằng một hành vi độc nhất, Chúa Giêsu thiết lập Phép Thánh Thể, lập Hội Thánh và chức Linh Mục để duy trì và phát triển sự hiệp thông với Người.

Qua việc đặt tay của Giám mục và lời nguyện, các Linh Mục của Tân Ước cũng được tấn phong để cử hành các Mầu Nhiệm Thánh, để tiếp nối Truyền Thống của các Tông đồ, và được sai đi Phục Vụ Mầu Nhiệm Hiệp Thông (do việc được thánh hiến và do sứ mạng được Hội Thánh trao phó) :

”Chúng ta thấy trong Hội Thánh đứng hàng đầu là các tác vụ do việc tấn phong, tức là các tác vụ do Bí Tích Truyền Chức. Thật vậy, Chúa Giêsu đã tuyển chọn và thiết lập các Tông đồ là mầm mống của Israel mới, đồng thời cũng là nguồn gốc của hàng Giáo Phẩm” (Ad Gentes, 5). Truyền cho các ông làm cho các dân tộc nên môn đệ của Người (x. Mt 28,19) “ để xây dựng và điều khiển Dân Tư Tế. Sứ vụ của các Tông đồmà Chúa Giêsu vẫn tiếp tục trao phó cho các vị Mục Tử của Dân Người, là một việc phục vụ thực sự, đã được Thánh Kinh diễn tả bằng mộ từ ngữ đầy ý nghĩa: diakonia, có nghĩa là phục vụ, tác vụ.Qua Bí Tích Truyền Chức, các thừa tác viên lãnh nhận từ Đức Kitô phục sinh ơn đoàn sủng của Chúa Thánh Thần, để tiếp nối liên tục từ các Tông đồ. Từ nơi Người, họ lãnh nhận quyền bính (autorité) và quyền thánh chức (pouvoirs sacrés, khả năng) mà hành động với tư cách hiện thân của Chúa Kitô là Đầu - in persona Christi Capitis - (x PO, 2; Lumen Gentium, 10), để phục vụ Hội Thánh trong Chúa Thánh Thần ” (Christifideles Laici, 22).

2. Chức Linh Mục được thiết lập để phục vụ Mầu Nhiệm Hiệp Thông (kế hoạch cứu chuộc của Thiên Chúa), thế nên trước tiên Linh Mục phải hiệp thông với Ba Ngôi Thiên Chúa: với Chúa Cha là nguồn tình yêu đã sai Con của Ngài đến trần gian; với Chúa Con, vì được thông phần sứ mạng cứu rỗi và ân sủng của Người; với Chúa Thánh Thần là Đấng ban sức mạnh để sống và thực thi đức ái mục vụ ( Bộ Giáo Sĩ, Chỉ Nam Thừa tác vụ và đời sống Linh Mục, số 20).

Vì nhiệm vụ Linh Mục được liên kết với hàng Giám Mục, nên cũng được tham dự vào quyền bính mà Chúa Kitô đã dùng để kiến tạo, thánh hóa và cai quản Nhiệm Thể của Người. Bí Tích Truyền Chức làm cho các Linh Mục được nên giống Chúa Kitô Linh Mục, đến nỗi có quyền thay mặt Chúa Kitô mà hành động (x. PO , 2; Lumen Gentium, 10). Bởi đó, Linh Mục cần phải hiệp thông với Giám Mục và qua Giám Mục hiệp thông với Hội Thánh: “ Không thể có Thừa tác vụ Linh Mục nếu không có sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng và với Giám Mục đoàn, cách riêng với Giám Mục giáo phận, mà Linh Mục đã hứa kính trọng và vâng phục trong ngày thụ phong ” (Pastores dabo vobis,28).

Với Linh Mục đoàn, Công Đồng Vaticanô II truyền dạy: “ Một tình huynh đệ thắm thiết nối kết tất cả các Linh Mục với nhau vì cùng tham dự một chức thánh và một sứ mệnh chung.Tình huynh đệ nầy phải được biểu hiện một cách tự phát tự nguyện qua sự tương trợ cả tinh thần lẫn vật chất, trong phạm vi mục vụ cũng như trong phạm vi cá nhân, trong các cuộc hội họp cũng như trong sự hiệp thông với nhau qua đời sống, việc làm và tình bác ái ” (Lumen Gentium, 28).

Chỉ Nam Thừa Tác vụ và Đời Sống Linh Mục nhắc lại lời của Công Đồng : “ Sự hiệp thông như đặc điểm của chức Linh Mục, đặt nền tảng trên duy nhất tính của Đức Kitô, là Đầu, là Mục Tử, là Hôn Phu của Hội Thánh. Chính trong khuôn khổ sự hiệp thông nầy mà những mối liên hệ minh bạch khác được hình thành - sự hiệp thông phẩm trật …” (số 22).

Sau cùng với giáo dân, Công Đồng dạy: Như người cha trong Chúa Kitô, Linh Mục phải chăm sóc các tín hữu, mà ngài đã sinh họ cách thiêng liêng nhờ Phép Rửa Tội và giáo huấn (x. 1 Cor 4,15 và 1 Phêrố,23). Để nên gương cho đoàn chiên (1 Phêrô 5,3), Linh Mục phải làm sao hướng dẫn và phục vụcộng đoàn địa phương của mình, để họ xứng đáng mang danh hiệu Đoàn dân duy nhất của Thiên Chúa (x.1 Cor 1,2; @ Cor1,1) (Lumen Gentium, 28).

Huấn Thị của Bộ Giáo Sĩ, công bố ngày 4.8.2002 , nói rõ hơn về vai trò của Linh Mục, người của sự hiệp thông: “ Trong tư cách của người được tham dự vào việc lãnh đạo của Chúa Kitô, Thủ Lãnh và Mục Tử của Nhiệm Thể, Linh Mục, trên bình diện mục vụ, có vai trò trở nên người của sự hiệp thông, hướng dẫn và phục vụ mọi người. Linh mục có trách nhiệm cổ võ và duy trì sự hợp nhất giữa các chi thể với Đầu, và giữa các chi thể với nhau - Linh mục phải hoàn toàn thuộc về Chúa Kitô, phải sống trong Chúa Kitô và với Chúa Kitô, sống những nhân đức được biểu hiện nơi Đức Kitô Mục Tử. Linh Mục phải mong muốn trở nên nguồn mạch của sự hợp nhất và tự hiến trong tình huynh đệ cho mọi người, nhất là cho những người nghèo khổ nhất. Linh Mục nhận biết căn tính linh mục của mình nơi Đấng Chăn Lành. Và còn phải làm thế nào để mọi người có thể nhận thấy hình ảnh nầy ở bất cứ nơi nào . Linh Mục còn làm cho Chúa KitôThủ Lãnh của Hội Thánh hiện diện qua Thừa Tác Vụ rao giảng Lời Chúa, là tham dự nhiệm vụ tiên tri của Người ” (số 9).

 

Bài 8. THÁNH LỄ, DẤU CHỈ
VÀ KHÍ CỤ HIỆP THÔNG

Trong Thông Điệp “ Ecclesia de Eucharistia ” , ban hành ngày Thứ Năm Tuần Thánh 17.4.2003, Đức Gioan Phaolô II đã đề tựa Giáo Hội Sống bằng Thánh Thể và nhắc lại ở số 7 của Thông điệp: “ Tôi không thể để cho Ngày Thứ Năm Tuần Thánh năm 2003 trôi qua mà không dừng lại trước khuôn mặt Thánh Thể của Chúa Kitô, chỉ rõ một cách mạnh mẽ hơn nữa chổ đứng trung tâm của Bí Tích Thánh Thể. Chính Giáo Hội sống nhờ Thánh Thể. Giáo Hội nuôi sống mình bằng Bánh Hằng Sống nầy ”.

1. Cử hành Thánh Lễ là việc chúng ta vẫn làm hằng ngày, nhưng là việc chính của Linh mục để phục vụ Hội Thánh:

Người Công Giáo đi lễ, nhất là Chúa Nhật. Các Họ Nhánh mong được có Thánh Lễ, ít nhất là Chúa Nhật.

Không có cuộc lễ nào mà không có Thánh Lễ

Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gợi nhớ những nơi Ngài đi đến và cử hành Thánh Lễ và kết luận: Thánh Lễ là dấu hiệu cuả Hội Thánh Công Giáo (Phổ quát) (x. TĐ Ecclesia de Eucharistia,8: “ trên bàn thờ thế giới ” ). Biểu lộ sự hiệp thông.

”Là Thừa tác viên của những Việc Thánh , nhất là trong Thánh Lễ, các Linh Mục đặc biệt đóng vai Chúa Kitô, Đấng đã tự hiến mình làm lễ vật thánh hóa nhân loại; Công việc cứu chuộc chúng ta được thực hiện liên tục trong mầu nhiệm Chúa Hiến Tế Thánh Thể, trong đó các Linh Mục chu toàn chức vụ trọng yếu của mình; do đó hết sức khuyến khích việc cử hành Thánh Lễ hằng ngày dù các tín hữu không thể tới dự, vì đó là hành động của Chúa Kitô và của Giáo Hội ” ( P.O. số 13).

2. Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh hiện diện (theo bản thể), kết hợp:

Giáo Hội liên tục sống nhờ hy tế cứu độ, và đạt tới hy tế đó không phải bằng một kỷ niệm đơn thuần đầy niềm tin mà thôi, nhưng còn bằng một tiếp xúc hiện tại, vì hy tế nầy trở nên hiện diện, hiện diện luôn mãi cách bí tích (nhờ các dấu chỉ), trong mọi cộng đoàn dâng lễ, qua tay của Thừa tác viên được thánh hiến. Bằng cách đó, ThánhThể làm lan rộng đến con người hôm nay sự giao hòa do Chúa Kitô thực hiện một lần duy nhất cho nhân loại của mọi thời ( Ecclesia de Eucharistia, 12).

”Thánh Lễ vừa là lễ Tưởng Niệm Hy Tế Thập Giá để lưu truyền muôn đời, vừa là Bàn tiệc thánh để thông hiệp với Mình và Máu Chúa, cả hai gắn liền không thể tách rời nhau ” (id. 12).

3. Qua việc thông hiệp vào Mình và Máu Chúa Kitô, chúng ta cũng d8ược chuyển thông cho Thánh Thần của Người: “Khi chúng con được Mình và Máu Chúa Kitô nuôi dưỡng và được tràn đầy Thánh Thần của Người, xin cho chúng con được trở nên một thân thể và một tinh thần trong Đức Kitô ” (Prex eucharistica III).

4. Làm cho Hội Thánh trở thành Bí Tích Hiệp Thông:

”Nhờ Thông Hiệp vào Mình Thánh Chúa Kitô, Hội Thánh ý thức càng ngày càng sâu hơn căn tính của mình-Hội Thánh ở trong Chúa Kitô thì , một cách nào đó, Hội Thánh là là Bí Tích, nghĩa là dấu chỉ và dụng cụ của sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa và sự hợp nhất toàn thể nhân loại ” (Ecclesia de Eucharistia, 24; Lumen Gentium, 1).

Kết : Vì đã được thánh hiến do Bí Tích Truyền Chức và vì đã lãnh sứ mệnh Phục Vụ, chúng ta hân hoan thi hành lệnh truyền của Chúa Kitô:

“Hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta! (Luca 22,19), Và thi hành với tất cả sự tin tưởng theo lời khuyên nhủ của Mẹ Maria:

“Người bảo gì, hãy làm theo” (Gioan 2,5), Với cung cách của người được Hội Thánh ủy thác:

“Con hãy nhận lễ vật của dân thánh mà dâng lên Thiên Chúa, Hãy ý thức việc con làm, noi theo điều con thực hiện và rập đời sống con theo khuôn mẫu Mầu Nhiệm Thánh Giá Chúa Kitô ” ( Nghi Thức Truyền Chức Linh Mục).

 
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net
Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com

Site designed by tgmvl