Lời Chủ Chăn | Lược Sử | Họ Đạo | Dòng Tu | Linh Mục | Giám Mục LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN VĨNH LONG |
||
Giáo Phận Vĩnh Long gồm 4 tỉnh:
Giáo Phận Vĩnh Long hình thành như thế nào? I. LƯỢC SỬ Ngày 24-11-1960, Giáo Phận Tông Toà Vĩnh Long được nâng lên hàng Giáo Phận Chính Toà, Đức Cha Ngô Đình Thục ra Huế làm Tổng Giám Mục, Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện được chỉ định làm Giám Mục Chính Toà Vĩnh Long. Năm 1961, Đức Cha Thiện lập Trung tâm Truyền giáo tại ngã ba đi Cần Thơ, năm 1964 trở thành Đại Chủng Viện cho 3 Giáo Phận trong vùng và Trung tâm Truyền giáo dời về Cầu Vồng. Sau khi bị bệnh, ngài sang Pháp nghỉ hưu và Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu trở thành Giám Mục Chính Toà Vĩnh Long từ năm 1968. Đức Cha Giacôbê đã tích cực đào tạo hàng giáo sĩ, tu sĩ và hoạt động Công giáo tiến hành của giáo dân. Ngài đã thành lập nhiều giáo xứ mới và số giáo dân trong Giáo Phận tăng cao. Từ 1975, trong hoàn cảnh khó khăn, ngài đã âm thầm nâng đỡ tinh thần của đoàn dân Chúa. V. MỘT SỐ ĐIỂM ĐẶC SẮC Kỷ Niệm Kim Khánh Giáo Phận Vĩnh Long Vĩnh Long, một địa danh có nhiều đặc điểm lịch sử đạo đời, đã được khai sinh nên một giáo phận mới, do sắc lệnh Toà Thánh ban hành ngày mồng tám tháng Giêng năm một ngàn chín trăm ba mươi tám. (8-1-1938). Giáo phận Sài Gòn nói được là quá rộng, phương tiện truyền bá Phúc Âm gặp nhiều trở ngại, lại đến giai đoạn Roma thúc đẩy trao nhiệm vụ thể hiện sứ mạng của Chúa Kytô cho hàng Giáo sỹ địa phương, cho nên Thánh Bộ Phúc Âm Hoá đã tách một phần lãnh địa của Sài Gòn, tạo nên giáo phận Vĩnh Long. Có thể nói là một phần ba của giáo phận Mẹ - Sài Gòn – lúc đó có độ 120000 tín hữu, độ 130 linh mục bản quốc, và trên 30 linh mục thừa sai ngoại quốc. Vĩnh Long lãnh phần của mình cũng được độ 40000 tín hữu, hơn 40 linh mục địa phương và một linh mục Pháp: cha Boismèry – hai tu viện Mến Thánh Giá Cái Mơn và Cái Nhum, được chừng 300 nữ tu, một tu viện Kytô Vua (do cha Boismèry đảm trách) có lối 30 sư huynh. Giáo phận Vĩnh Long gồm 3 tỉnh Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh với một phần nhỏ của tỉnh Cần Thơ (vùng Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ). Ở tỉnh lỵ, ba bệnh viện của ba tỉnh đều có nhiều soeurs Saint Paul de Chartres phục vụ. Những soeur này có hai nhà mồ côi, một ở Vĩnh Long, một ở Trà Vinh. Về sau, giáo phận Vĩnh Long sáp nhập thêm vùng Bình Đại và một phần tỉnh Sa Đéc (Đồng Tháp). Độ 37 họ đạo có linh mục sở tại, lại có rất nhiều họ lẻ, có thể trên 100. Nên lưu ý đến số họ lẻ quá nhiều để nhận thức được công trình các linh mục, tu sĩ hoạt động mạnh trên cánh đồng truyền giáo. Đa số dân chúng sống nghề nông, lệ thuộc vào thời tiết, tin tưởng vào trời, đó là điểm thuận lợi để gây cho họ ý thức về Thiên Chúa. Vị Giám Mục tiên khởi Toà Thánh chọn cho Vĩnh Long là Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục. Dòng dõi quan liêu, cha, anh đều là tổng đốc, gia đình đạo đức, lại là một trong những người đầu tiên được gởi học tại trường truyền giáo Roma. Giàu sang, trí tuệ, nếu không làm lu mờ, ít ra cũng thay thế được những hình ảnh siêu tôn của những Giám Mục thừa sai. Đầu năm 1938 được thụ phong và ngày 4-5-1938 đến nhận địa phận trong một cuộc lễ tưng bừng biểu lộ lòng phấn khởi của đa số linh mục và giáo dân: nói đa số vì có những người dè dặt quan sát. Trước một tình cảnh hoàn toàn mới, Đức Cha Ngô nghĩ ngay đến vấn đề cộng tác viên. Ngài đã kêu gọi những linh mục quê quán Vĩnh Long về phục vụ trong giáo phận nhà, nhưng hình như kết quả không mấy khả quan. Chỉ có cha Lê Quang Triệu, giáo sư chủng viện, một trong nhưng linh mục Sài Gòn có thế giá, sau làm cha chính địa phận. Và một linh mục nữa là cha Nguyễn Văn Hưởng. Cái kiếp trưởng thành lại đã vui duyên cầm sắt rồi thì phải tự lập. Năm đầu tạm ngụ nơi nhà xứ Vĩnh Long. Qua năm 1939 cũng nhờ giáo phận Mẹ ủng hộ một phần nên sắm được Toà Giám Mục hiện vẫn còn sử dụng. Tài chánh eo hẹp, mặc dầu trong giáo phận có nhiều họ đạo lớn kể được là giàu, nhưng giáo phận gần như không có chi cả. Đức Cha Ngô nhờ những năm du học ở giáo đô, ở ngoại quốc, quen biết với nhiều người nên đã kêu gọi hỗ trợ. Dĩ nhiên là hằng năm vẫn được Bộ truyền giáo cấp cho phần tài chánh quan trọng. Những cơ sở cần lưu tâm là nhà thờ chánh toà, nhà thờ họ Vĩnh Long của năm 1938 tuy có kiểu vở, nhưng quá cũ kĩ, chật hẹp phải có một thánh đường thích hợp với địa vị trung tâm của giáo phận, nhà thờ chánh toà của Giám Mục. Đại, tiểu chủng viện cũng phải xây cất thể hiện đặc tính tự lập của giáo phận. Bề đạo đức, dầu chỉ còn một linh mục thừa sai là cha Boismèry ở lại điều khiển dòng Kytô Vua, nhưng tinh thần truyền giáo vẫn còn vững mạnh trong các linh mục bản xứ. Các họ đạo lớn nhỏ đều tiệm tiến, tiếp tục công trình của người trước để lại, cũng có khởi lập một vài nơi, lại còn tìm các mua những sở ruộng để qui tụ giáo hữu và thu hút người lương, nhờ có ruộng làm mà muốn theo đạo. Xem ra đó là một đường lối truyền đạo được chủ tâm nhiều hơn, theo phương ngôn: “Lúa thóc đâu thì bồ câu theo đó”. Ngoài ra những hội đoàn: Nghĩa Binh, Con Đức Mẹ, Hội Phạt tạ, được khuyến khích nâng đỡ, thúc đẩy, lại cũng khởi lập Légio. 1939 Giáo phận Vĩnh Long đang trên đà phát triển mạnh, thì năm 1939, thế chiến thứ hai bùng nổ, tuy ở trời Tây, nhưng ngay ở Việt Nam cũng phải chịu ảnh hưởng. Nguồn viện trợ của Toà Thánh không dồi dào. Đức Cha Ngô tìm liệu những phương pháp để giáo phận được tự túc, ít ra cũng có đủ sống. Ngài cho xây cất những dãy phố ở ngã ba Cần Thơ, nằm dọc theo đại lộ Nguyễn Huệ. Rồi lần lượt mọc lên bệnh viện Thánh Minh trong khu đất tiểu chủng viện, những cơ sở này chưa đủ, nên Ngài đã vận động xin đất ở chợ Đủi (Sài Gòn), kiến thiết và cho mở một bệnh viện Saint Pierre, về sau còn cất thêm Building Everest. Thế chiến vẫn tiếp diễn, vật liệu khan hiếm, dầu vậy ngôi nhà tiểu chủng viện vẫn được xúc tiến. Với những nguyên liệu dã chiến từ vùng bùn lầy đã nhô lên vài dẫy lầu khang trang, nêu cao tâm ý hy sinh đặc biệt. Năm 1944, khai giảng lớp đầu tiên, chủng viện thánh Philipphê Minh (thánh linh mục tử đạo, quê ở Cái Mơn, mẫu gương cho chủng sinh linh mục Vĩnh Long). Ơn thiên triệu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long thường chiếm số khả quan trong chủng viện thánh Giuse Sài Gòn, dĩ nhiên tiểu chủng sinh Vĩnh Long không thể thiếu. Công việc đang tiến thì những biến cố dồn dập làm cho giáo phận ít nhiều điêu đứng. Cũng trong năm 1944, Nhật chiếm đóng Việt Nam. Giám Mục có thời kỳ phải lánh mặt về ẩn trú ở Cái Nhum, tiểu chủng sinh phải giải tán – Năm, bảy linh mục bị bắt vì tội giấu chứa người Pháp. Một vài linh mục bị tra tấn nặng nề, … đánh bằng mã tấu… trấn nước. Chủng viện Sài Gòn, ban đầu di tản về Vĩnh Long, sau đó cũng về trú ở Cái Nhum một thời gian. Giai đoạn này ngắn ngủi, chừng hơn một năm cho nên thiệt hại tương đối ít. 1945 Mùng 5-8-1945, quả bom nguyên tử thứ hai đã tiêu diệt thành phố Nagasaki, Nhật đầu hàng. Cũng là quả bom khai hoả cho cuộc kháng chiến miền Nam. Lòng yêu nước của người miền Nam như ngọn lửa âm ỷ được khơi cho bừng dậy. Cuộc kháng chiến chống Pháp rất hợp lý hợp tình, có nhiều tín hữu tham gia, nhưng giới Công giáo phải nhận chịu nhiều thiệt hại. Cách Mạng hoàn toàn ngờ vực, còn bên quốc gia cố tình lợi dụng. Khu vực Cách Mạng là khu vực giải phóng, còn vùng quốc gia gọi là vùng bị chiếm – xê dịch qua lại gặp nhiều khó khăn, có trạm kiểm soát cả đôi bên, kiểm soát khá chặt chẽ. Vì thế vấn đề mục vụ, nhất là ở những họ lẻ xa vắng, linh mục tới cũng khó mà giáo dân tìm đi kinh lễ nơi khác cũng không dễ dàng, nói được bề giữ đạo bị ngưng trệ. Có điểm tệ hại cả đôi bên đều làm dụng Công giáo. Bên quốc gia lạm dụng người để chống cộng, còn bên Cách Mạng lợi dụng người để len lỏi, để cài cán bộ vào giuồng máy cai trị đối phương - lạm dụng khu vực nhà thờ làm đôn bốt, dĩ nhiên Cách Mạng tìm cách tấn công đốt phá. Lạm dụng cơ sở tôn giáo để ẩn núp, để tấn công đột kích, khiêu khích cho quốc gia ném bom; pháo kích bừa bãi. Thời kì này, độ 60 nhà thờ, nhà nguyện hay nhà dạy đã trở thành bình địa. Có nơi chỉ thấy vài cây cột cố gắng đứng vững để nhìn trời, nơi khác còn lại một mảnh tường, như tấm da của một thân xác đã tàn rữa, vương vấn với hoàn cảnh để nói lên mối tang thương. Với tình trạng như thế, giáo phận khó bề phát triển, dầu vậy Đức Cha Ngô vẫn giữ được con thuyền giáo phận lướt trên sóng gió. Có thể những năm kháng chiến là những năm mà uy tín, ảnh hưởng của Ngài đạt cao điểm hơn cả. 1954 Sau chín năm kháng chiến, ngày 7-5-1954, chiến thắng Điện Biên Phủ mở đầu một trang sử mới: chống Mỹ. Trước đó, Mỹ đã manh nha lá bài Ngô Đình Diệm để loại Pháp và để chiếm Việt Nam, hay ít ra cũng để ngăn chặn làn sóng cộng sản. Hình như Mỹ ngờ vực cộng sản Nga tràn vào Á châu với hoài bão bá chủ hoàn cầu, chống với tánh cách độc tôn của Mỹ bên Âu châu. Vì thế Mỹ ráo riết hoạt động bài cộng. Cộng sản và tư bản choảng nhau, khổ cho Việt Nam phải làm bãi chiến. Cụ Diệm là một người quốc gia liêm chính, lại là Công giáo, Mỹ vững tâm gặp được nhân sự chống cộng. Cụ Diệm là bào đệ của Đức Cha Ngô, có thể nhờ đó lợi dụng khối Công giáo một phần nào. Công giáo tuy thiểu số, nhưng đoàn kết lại thành phần trí thức cũng khá dồi dào. Dưới thời ông Diệm làm tổng thống, Đức Cha Ngô là bào huynh, lại muốn cho giới Công giáo không bị rơi vào tay cộng sản, cho nên đã lao mình vào dòng thác chính trị. Các anh em Ngài đều tham gia cộng tác, dân chúng xầm xì… cho là gia đình trị. Đức Cha Ngô nhiều thế lực, lắm uy quyền làm cho mọi người khiếp đảm, ngay cả những tướng tá, những tỉnh trưởng bề ngoài phải tỏ vẻ tôn phục mà sau lưng chắc không thiếu chi người ác cảm và có thể thù hận nữa. Chín năm ông Diệm cầm quyền, Công giáo có vẻ lên hương, giáo phận Vĩnh Long càng khởi sắc hơn nữa. Phong trào di cư ào ạt, tín hữu ngoài Bắc trốn vào Nam, nói rằng nương bóng cụ Ngô để giữ đạo, Mỹ tung tiền ra viện trợ, bên ngoài làm một việc nhân đạo, bên trong ai biết được có phải là đòn chánh trị hay không? Dầu sao giáo phận Vĩnh Long chỉ đón tiếp năm ba nhóm nhỏ, giáo hữu di cư quen sống trong cộng đoàn lớn, quy tụ trong luỹ tre, bây giờ vào Nam; ngại sống trong tập thể nhỏ, giữa người Nam khác thói, khác tính, phần khác đất đai không được phì nhiêu như sở thích, vì thế đã dời đi nơi khác. Chỉ còn một nhóm bên An Hiệp (Bến Tre) được hơn 1000 tín hữu và Tân Phú (Phú An, Vĩnh Long) độ 10 gia đình. Giáo phận đạo được người ta kính nể, linh mục, tu sĩ lợi dụng xin phép xây cất, và cũng có trường hợp xin phương tiện, vật liệu xây cất nhiều cơ sở. Một hiện tượng ngoại thường nữa, (không nói đến vũng khác), là có nhiều nơi dân chúng ồ ạt xin tòng giáo. Vùng La Mã (Sơn Đốc, Bến Tre), nhiều người theo đạo vì dân chúng đồn có phép lạ, và thật sự cũng có nhiều người được Đức Mẹ ban ơn. Ngoài ra vùng Ba Tri (Bến Tre), vùng Càng Long, An Trường (Trà Vinh) nhiều ngàn người theo đạo. Đa số chắc không phải tìm đạo, mộ đạo, song có thể để được an thân, chánh quyền bớt đàn áp, lúc nhà binh ruồng bố cũng đỡ hơn, có nơi Cách Mạng lại khuyên dân chúng vào đạo để núp bóng và để có môi trường giúp anh em kháng chiến, lại được thế để cài người vào nội bộ của đối phương. Bất ngờ nữa… có người nói (mình như nhà Cách Mạng cao cấp) “muốn làm Cách Mạng nên vào đạo để có được cái can đảm của những nhà tử đạo”. Phong trào tòng giáo như thế không dựa vào nền tảng đạo đức, cho nên bạo phát cũng chóng tàn. Sau cái chết của ông Diệm, không chắc còn lại được 10% giữ đạo. Cách Mạng kháng chiến ngày càng mạnh, chế độ Diệm đưa ra sách lược “khu trù mật”, sách lược “dân vệ”, và sâu xa hơn bao quát hơn, có chủ thuyết “nhân vị” để đào luyện cán bộ. Dĩ nhiên Đức Cha Ngô biểu đồng tình, dành một dãy nhà, cất làm đại chủng viện, cho nhà nước mượn làm trung tâm huấn luyện, Ngài cũng chỉ định một vài linh mục làm ban tuyên huấn. Trong các họ đạo, Ngài thúc đẩy thành lập đoàn dân vệ, có thể xây công sự để gìn giữ họ đạo, giữ gìn làng nước. Đa số dân chúng không thích quân dịch, dễ dàng ghi tên vào dân vệ. Họ sống chết với nhiệm vụ bảo vệ nhà thờ, bảo vệ họ đạo, bảo vệ thân nhân mà cũng tự vệ nữa. Khổ tâm cho các linh mục đảm trách họ đạo nhất là họ đạo hẻo lánh, không chấp nhận được lệnh truyền của Đức Cha Ngô. Còn ở họ lớn cũng có linh mục tìm cách loại cộng sự đồn bót ra khỏi khu vực nhà thờ. Nhưng cũng có khá nhiều linh mục sợ cộng sản, lại phải bênh vực ủng hộ tín hữu dân vệ trong họ đạo, để tích cực tham gia công cuộc phòng thủ. Linh mục tích cực chiến đấu chống cộng, thật ra có vài vị thôi. Độ năm 1956, nhà nước yêu cầu, Dòng Chiên Lành đến Việt Nam, đặt trụ sở đầu tiên ở Vĩnh Long, chuyên lo những cô gái trụy lạc, giúp cho họ “hoàn lương” lại cũng lãnh một số cô nhi. Cơ sở nương dựa nhiều vào chánh phủ, và cũng nhờ Mỹ hỗ trợ. Vì thế vào năm 1974. Toàn bộ đã rút đi nơi khác. Chánh trị, chiến tranh, nói đúng thì không lợi ích gì cho Công giáo. Bề ngoài giả như có vẻ xôm tụ, lễ lạc linh đình, nhà cửa khang trang… nhưng đó không phải là một môi trường thích hợp cho sống đạo. Dựa trên bạo lực, tạo nên quyền hành không thể sống được với tâm trạng nương tựa vào Chúa. Dẫu sao Đức Cha Ngô đã lái con thuyền giáo phận, mặc cho ba đào lay chuyển, nhưng vẫn tiến. 1960 Năm trưởng thành của Hội Thánh ở Việt Nam, Toà Thánh tuyên nhận các Giám Mục Việt Nam là những giáo phẩm chánh thức. Trước đó dầu là Giám Mục, cũng chỉ là Giám Mục Tông Toà, hay đại diện tông toà (Vicaire Apostolique). Diễn tiến này tạo nên một vài xáo động. Các Giám Mục ngoại quốc rút lui nhường chỗ cho giáo sĩ địa phương. Thành lập nhiều giáo phận mới. Tấn phong nhiều tân Giám Mục cho nên có những cuộc thuyên chuyển quan trọng. Đức Cha Ngô được đưa về làm Tổng Giám Mục Huế, quê của Ngài. Về nơi chôn nhau cắt rốn, sống gần với thân nhân, với bằng hữu, nhưng Ngài vẫn giữ lại một tình cảm sâu đậm với Vĩnh Long. Hai mươi hai năm duyên nợ, dẫu xa cách hình ảnh cũng khó phai mờ. Kỷ Niệm Kim Khánh Giáo Phận Vĩnh Long
1938 - 1988
ĐỨC CHA ANTÔN THIỆNCho Vĩnh Long, Toà Thánh đã chọn một nhân vật linh động: Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện, nguyên giáo sư dòng sư huynh Banam. Nguyên cha chính giáo phận Cần Thơ, ngày 3-4-1961 đến chính thức nhận giáo phận. Nhiệt khí tông đồ sẵn có, lại thêm chức vụ Giám Mục nung nấu, cho nên những năm Ngài tại vị phải kể là những năm truyền giáo sôi động. Mặc cho hoàn cảnh éo le, còn chính Ngài lại có mặc cảm mình kế vị một Giám Mục xuất sắc về nhiều phương diện. Dịp này, vùng Bình Đại và vùng Sađéc xáp nhập vào giáo phận Vĩnh Long – thêm gần 10000 giáo hữu và năm linh mục. Riêng Sađéc, có cộng đoàn Dòng Quan Phòng, trên 20 nữ tu, giúp bịnh viện, một viện dưỡng lão, một viện mồ côi. Đức Cha Antôn khá tế nhị nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn, một số anh em linh mục còn bám vào Đức Cha Ngô, nếu không chống đối cũng lạnh lạt. Khi Đức Cha Ngô đi hưu ở ngoại quốc rồi, Ngài vẫn còn phải khổ tâm, ít được những linh mục cộng tác nhiệt thành. Đức Cha Ngô về Huế, nhưng còn lèo lái ít nhiều những công việc ở Vĩnh Long. Theo nguyên tắc: hễ khởi xướng thì phải hoàn thành, ví dụ: chủng viện, nhà thờ chánh toà chẳng hạn… gây cho Đức Cha Antôn nhiều khó khăn trong vấn đề tài chánh, vấn đề kiến thiết. Nhưng không ngăn được bước tiến của vị Giám Mục biểu hiệu “thực hành và chân lý” (Opere et Veritate). Muốn được tự do hơn, Ngài khuyến khích nhiều nhà thờ có đồn bót, cố vận động sao cho dời đi xa, và đừng dính líu nữa. Riêng Ngài khi xê dịch, không chấp nhận cho nhà binh hộ tống. Có lẽ vì thế mà quốc gia phục kích để cảnh cáo. Trên đường Vĩnh Long Trà Vinh, xe Ngài bị bắn để đe doạ, trên xe không ai bị thương nhưng chính Ngài bị va mạnh vào xe cho đến nỗi nền mắt bên trong bị xuất huyết và đông đặc khiến Ngài phải chịu mờ mắt không chữa trị được. Tám năm đảm trách giáo phận, Ngài đã cho xây cất nhà thờ chánh toà với một phần vật liệu Đức Cha Ngô để lại. Năm 1965, đòi lại ngôi nhà gọi là nhà “nhân vị”, Đức Cha Ngô cất để mở chủng viện, nhưng vì chánh quyền ông Diệm muốn mở trung tâm huấn luyện thuyết “nhân vị” nên đã mượn. Ngài cho kiến thiết thêm và mời tu hội Xuân Bích đến khai giảng đại chủng viện. Với tâm hồn tông đồ nhiệt thành, Ngài đã tổ chức hơn 30 khoá huấn luyện quới chức, và các hội đoàn, đào tạo nên những tông đồ giáo dân cho họ đạo, cho xã hội. Năm 1961 và 1962, mỗi tuần đều có mở khoá, đến năm 1963, ban huấn luyện đi mở khoá ngay trong các họ đạo. Lòng yêu mến Đức Mẹ sâu xa nồng nhiệt đã làm nảy sinh trung tâm Fatima, thu hút giáo hữu hành hương để thêm lòng tôn kính Đức Mẹ. Cánh đồng bao la, thợ gặt ít, nên Đức Cha Antôn đã khởi xướng và thành lập trung tâm tu hội truyền giáo. Một cho nam giới và một cho nữ giới. Ngài lại nghĩ rằng, Hội Thánh phải hiện diện khắp nơi, vì thế trong những làng mạc, những nơi chưa được nghe Phúc Âm thì Ngài cho mua những khu đất để có thể định cư – giao cho tu hội nam phụ trách. Trên con đường Vĩnh Long Trà Vinh, có đến bốn, năm cơ sở truyền giáo, Ba Càng cũng có một địa điểm. Nữ tá truyền giáo chuyên đi vãng gia, phục vụ, và thể hiện bác ái trong các gia đình, mong nhờ đó nhen nhúm ngọn lửa Chúa và giãi sáng Phúc Âm cho dân chúng. Hai nhóm truyền giáo này được độ 50 anh chị hiến thân cho Chúa và cho đồng bào. Còn những dòng tu đã có, thay vì hai nhà Mến Thánh Giá, Ngài đã muốn hợp nhất, vì thế Ngài giao cho cha Giacôbê Quyển thành lập một nhà đệ tử chung – dòng Kytô Vua, Ngài còn liệu đưa về ngay tỉnh lỵ để dễ bề phát triển hơn. Năm 1965 một biến cố đặc biệt, giáo phận Vĩnh Long cung cấp cho Hội Thánh một vị tân giám mục Đức Cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, cha sở họ Vĩnh Long và giáo sư chủng viện. Dầu nhà thờ chánh toà chưa hoàn tất nhưng thu xếp để nghi lễ tấn phong được diễn hành ngay trong nhà thờ chánh toà tương lai. Thời kỳ Đức Cha Antôn tại vị, trong giáo phận Vĩnh Long, khu giải phóng và khu bị chiếm không ranh giới rõ rệt, xê dịch gặp nhiều trở ngại hơn trước nữa. Sơ sẩy có thể bị tù, bị giết. Có năm linh mục nạn nhân trong giai đoạn này: hai chết trong tù (Linh và San), một bị ám sát (Lịnh), còn một vì quá tích cực chống cộng, cho nên bị phục kích phải thiệt mạng (Trình), và một bắt đem đi mất tích luôn (Xuân). Nếu không có trở ngại về tình thế, nếu có đủ phương tiện vật chất, chắc chắn công trình của Đức Cha Antôn đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho giáo phận. Mắt càng ngày càng mờ, hai năm sau cùng Đức Cha Antôn đi đó, đi đây để nhờ bác sĩ chuyên khoa chữa trị, bác sĩ địa phương không chữa được mà những chuyên gia ngoại quốc cũng đành thúc thủ. Ngài đã đệ đơn từ chức từ độ năm 1966. Đầu năm 1968, Ngài sang Nhật mong nhờ một bác sĩ dòng tu săn sóc may ra được thuyên giảm, nhưng chính ở Nhật Ngài lại mang thêm bệnh sạn trong túi mật phải giải phẫu. Kế được tin Toà Thánh chấp nhận cho từ chức. Ngài bay về Vĩnh Long dự lễ tri ân do các linh mục trong giáo phận tổ chức ngày 18-9-1968, hai ngày sau về hưu ở nhà dưỡng lão của giáo phận Cần Thơ. Ngài để lại một giáo phận đầy đủ các cơ sở khẩn thiết, lại nói được là trên đà phát triển mạnh, ngày 12-9-1968 Ngài làm phụ phong trong lễ tiến chức của tân Giám Mục Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu. ĐỨC CHA GIACÔBÊ NGUYỄN VĂN MẦU Là một linh mục trong giáo phận Sài Gòn, lúc đó đang làm giám đốc đại chủng viện, được Toà Thánh chỉ định đảm trách giáo phận Vĩnh Long. Một con người trầm tĩnh, lúc trẻ đã ở trong nhiều họ đạo thôn quê hẻo lánh cho nên thích nép mình trong bóng tối hơn, lại không uyên bác lịch thiệp như Đức Cha Ngô, cũng không thích hoạt động như Đức Cha Antôn, vì thế tạo nên một cảnh trạng làm cho số anh em linh mục thích Đức Cha Ngô, hay theo đường lối của Đức Cha Thiện nếu không bất mãn thì cũng lạnh lạt, dùng đức tin để đón nhận thôi. 1968 Đúng là thời điểm không thuận hạp cho lắm! Vì đầu năm Mậu Thân, Cách Mạng tấn công vào các tỉnh lỵ, huyện xã… gây tiếng vang to tát nhưng chưa nắm vững tình thế nên rút lui – tháng năm công hãm một lần nữa rồi cũng về lại chiến khu. Mặt nhân sự giáo sĩ, tu sĩ không bị tiêu hao những về vật chất, nhiều cơ sở giáo phận bị hư hại nặng. Ngày toà Giám Mục cũng bị bom đạn đốt phá. Chính trong lúc hỗn loạn binh biến này, nhiều nhà thờ đã trở thành nơi trú ẩn cho đông người cả lương lẫn giáo, cũng có nhà thờ làm trung tâm phân phối thực phẩm cho dân chúng. Nhờ đó bà con bớt phần ác cảm đối với Công giáo. Thật ra ác cảm chỉ số ít thôi. Những cơ sở bị đốt phá, hư sập, vết đạn còn loang lổ, thì giáo phận tiếp đón vị thừa kế Đức Cha Antôn. Có một điều nghĩ ra mâu thuẫn: 12-9-1968, người ta tiếp đón Đức Cha Mầu một cách quá linh đình. Chính quyền Việt Nam và cả quân đội Mỹ xem ra cố tình làm cho cuộc lễ được trang trọng… để che lấp những thất bại Mậu Thân, để tỏ ra mình nắm vững tình thế, cũng có thể để lấy lại uy tín đối với giáo dân. Mỹ ủng hộ, chính quyền đề cao chỉ gây được những ngượng nghịu và khó xử. Tổ chức cuộc lễ này có gây ác cảm cho Cách Mạng không? Dầu sao cũng không mấy lợi ích cho Công giáo. Trong hoàn cảnh tranh tối tranh sáng, có những vùng gọi là an ninh, nhưng nơi nào cũng được gọi là chiến tuyến. Người có máu mặt ra đường thường là bị theo dõi. Tân Giám Mục chỉ biết quan sát và tìm hiểu. Tuy nhiên, Giám Mục cũng còn có thể đến thăm hầu hết các họ đạo lớn. Ngay những họ đạo trong vùng giải phóng, nếu xin phép Cách Mạng cũng đến thăm và ban phép Thêm Sức được. Vì tình thế, vì thiếu tài chính, nhất là vì thiếu động lực thúc đẩy, cho nên những công trình của Đức Cha Antôn không những bị đình trệ mà tan rã nữa. Khoá học quới chức còn tiếp tục được vài lần rồi chìm luôn. Nhóm nữ truyền giáo năm 1968 cũng đã rã rời, chỉ còn năm sáu chị duy trì được năm bảy năm, sau năm tiếp thu cũng giải tán luôn. Nam truyền giáo, nhờ Cha Raphae Diệp làm giám đốc, nắm vững được một số anh em, nhưng năm tiếp thu các trường sở nhà nước sử dụng, anh em mất môi trường hoạt động, cũng kể là tan rã hoàn toàn. Đại chủng viện Xuân Bích, do những linh mục Pháp của tu hội điều khiển, năm 1969 giao lại cho giáo phẩm địa phương lãnh trách nhiệm. Thiếu giáo sư, vì thế giáo phận phải vất vả về vấn đề này. Ngay trong những năm giao động huynh đệ tương tàn, giáo phận Vĩnh Long cũng có buổi khánh thành trung tâm Phaolô IV do Toà Thánh trợ cấp để đào luyện nghiệp nghệ cho thanh niên nông thôn. Thêm một trung tâm toàn quốc cho Thiếu Nhi Thánh Thể do cha Thảnh tổng tuyên uý xin tài trợ và thực hiện. Dòng Cứu Thế đã yêu cầu và đã mở một đệ tử viện tại Vĩnh Long. Dòng Bác Ái Vinh Sơn cũng đến đang trú tại Vĩnh Long để thi hành công tác vãng gia và mở rộng địa bàn bác ái. Đức Cha Giacôbê cũng cho dời nhà in của giáo phận ở thành phố về Vĩnh Long, mong thiết lập một cơ sở phổ biến tư tưởng, tinh thần Phúc Âm. Các họ đạo cách chung suy trì được lòng đạo đức, nhưng không tạo được những địa điểm mới. 1975 Năm nhiều biến cố, rúng động cả miền Nam và nói được cả thế giới nữa. Cộng Hoà miền Nam sụp đổ, và Mỹ một nước siêu cường đã thua trận. Tuy nhiên, vì nhà nước chưa áp dụng triệt để nghị quyết 297, nên ngày 15-8-1975, đã điều đình với chính quyền và tấn phong Giám Mục phụ tá, Raphae Nguyễn Văn Diệp, tấn phong trong nghi lễ đơn giản và nghèo nàn. Về mặt tôn giáo, nhất là Công giáo, dường như không còn đất sống. Chủ thuyết vô thần tranh đấu lại nằm trong chánh quyền chuyên chế, cho nên không riêng gì Công giáo, mà các tôn giáo đều e ngại. Riêng giáo phận Vĩnh Long vì là lãnh địa của Đức Cha Ngô, phần khác có một số họ đạo có đồn bót người người đều phập phồng chờ đợi. Đầu tiên số anh em linh mục, tham gia ít nhiều trong tổ chức đồn bót được lịnh trình diện học tập, cả những linh mục tuyên uý. Học tập, nhiều năm, có đến mười hai, mười ba năm. Thậm chí có vị bị bắt buộc phải lột áo dòng trước dân chúng trong một cuộc meeting. Cũng có anh chị em bị nghi là gia nhập phong trào chống Cách Mạng, hoặc thật sự có liên lạc, liên hệ (liên lạc trực tiếp chỉ một hai anh em thôi) hoặc vì là linh mục thì phải vào số hệ bị ngờ vực. Giám Mục phụ tá cũng bị giam giữ nhiều tháng. Trên 40 linh mục và 10 chủng sinh phải học tập một phần ba giáo phận! Đấng chủ chăn vì đoàn chiên cũng tan rã. Sau năm 1975, có người nói: Công giáo đã bị tiêu diệt - thấy bóng áo dòng dân chúng bỡ ngỡ : “giờ này mà cũng còn cha cố nữa sao? Nhà nước bắt hết rồi! Tảng đá Phêrô vẫn vững chắc”. Bề vật chất, giáo phận bị thiệt hại khá nặng. Thời ông Diệm truất hữu ruộng đất còn bồi thường. Năm 1975, chính quyền phần phối cho dân chúng, giao cho tập đoàn điều khiển canh tác. Ruộng của nhà chung, ruộng của họ đạo không còn nữa, chỉ còn khu đất nhà thờ, nhà xứ; nơi nào chánh quyền thông cảm thì cho lại một vài công để linh mục tu sĩ có phương tiện sống. Cũng có nơi thêm vài công cho việc chi phí hương đèn. Các cơ sở giáo dục, trường ốc, cơ sở từ thiện, nhà dưỡng lão, cô nhi, nhà nước đảm trách, sử dụng trường sở, còn cô nhi thì giải tán, phân phối cho các gia đình. Trung tâm huấn luyện nghệ thanh lao công – trung tâm Thiếu nhi Thánh Thể, khu hướng nghiệp hoàn lương, học viện Mến Thánh Giá, đệ tử viện Cứu Thế, lần lượt, giáo phận không còn chủ quyền nữa. Mặc dầu đã hiến cho chính quyền địa phương hai dãy phố ở ngã ba Cần Thơ. Tiểu chủng viện cho nhà nước mượn một phần (khu B), còn giữ lại một phần xấu xí, cũ kĩ hơn. Riêng đại chủng viện, vì là của Toà Thánh cho bốn giáo phận nên không tự giải quyết được, ba lần nhà nước cho người đến ngỏ ý mượn, dĩ nhiên ý kiến giới giáo sĩ không chấp thuận. Một hôm có vài tiểu đội đến bao vây một ngày đem máy rà và đào bới tìm võ khí đạn dược chôn dấu, nhưng không tìm được gì. Thời gian đó, bắt và tống giam Đức Cha Raphae, một số linh mục và chủng sinh – sau cùng ngày 7-9-1976 lấy đại chủng viện, đuổi hết mọi người, thêm một vài anh em bị bắt giam giữ nữa, tài sản cũng tịch thu luôn. Người đi ra chỉ được mang đồ riêng của cá nhân, lấy lẽ, vì nơi này đào luyện sĩ quan. Giám Mục chánh cũng bị làm việc vài lần tại chỗ, rồi đòi đến sở công an làm việc trong sáu ngày liên tiếp. Cũng một thời gian đó, cơ sở các nữ tu (soeur Saint Paul de Chartres) ở Vĩnh Long, trường học đã lấy trước, còn nhà mồ côi và nhà ở cũng chiếm luôn, lại giam giữ bà nhất tại sở công an. Cơ sở học viện Mến Thánh Giá cũng bị tiếp thu, cha giám đốc và dì quản lý bị câu lưu. Sau đó có một buổi xử lý tổ chức như một toà án, nêu lý do lấy đại chủng viện và học viện Mến Thánh Giá, phóng thích năm người còn vài linh mục phải đi học tập ba năm, nhưng sáu bảy năm sau mới được trả tự do. Giáo phận sống trong âu lo, kinh sợ: sẽ có bách hại như thời phong kiến chăng, hay như gần đây trong nhiều nơi trên thế giới. Tài chính bị trấn lột, nhân sự bị sát hại và bị khủng bố. Vật chất thiếu, tinh thần dao động - cứ tự nhiên giáo phận có thể điêu tàn. Đời cho là những biến cố đau thương nhưng đạo có thể nghĩ rằng: đó là phương tiện Chúa thanh lọc. Trả bớt những cành không có quả để sinh lực cội cây khương cường hơn. Những người giữ đạo vì thời cuộc, giữ đạo vì lợi lộc, giữ đạo bề ngoài đã ngả theo chiều gió. Số người bỏ đạo khá đông, có nơi trước đã có vài ngàn người tòng giáo, đến lúc này chỉ còn độ năm mười gia đình bền tâm theo c. Trái lại, trong nhiều họ đạo tín hữu tỏ ra nhiệt thành hơn. Không nhiệt thành sao được, vì ươn lười sẽ đi đến đổ vỡ, mất đức tin, nơi có linh mục thường xuyên vì giáo hữu đi lễ, chịu lễ đông hơn. Nơi không có linh mục, giáo hữu cảm thấy thiếu thốn, cho nên tự động tìm cách bổ khuyết: ngày Chúa nhật, đi xin Mình Thánh lén rước về nhà thờ, rồi anh em trong họ đạo hội họp nhau, đọc kinh, suy tôn Lời Chúa, sau Phúc Âm vẫn có lời dẫn giải, nhờ các cha lân cận cho bài chú thích – sau đó chịu lễ. lại bất ngờ là hình như giáo hữu tham dự đông hơn lúc có linh mục sở tại dâng lễ. Nơi không còn nhà thờ, giáo hữu không hiệp nhau kinh sách được, năm tháng dằng dai họ cũng lạnh lạt ít nhiều, nhưng vẫn có người vượt mọi khó khăn đe doạ, thỉnh thoáng lén đi lễ. Rất cảm động! Một xóm đạo may mắn tình cờ có linh mục đến, hoặc thăm thân nhân, hoặc giúp người liệt. Dầu trong hoàn cảnh còn bị chèn ép, nhưng giáo hữu vẫn náo nức, hăm hở chịu phép giải tội, thậm chí có người chạy tuôn ra đồng kêu thân nhân về lãnh bí tích. Lễ trong nhà tín hữu tràn ngập trong ngoài. Thật ấm lòng cho vị chủ chăn, nhiều lần phải trải qua những giây phút lén lút phập phồng. Bù lại những lần dâng lễ cô đơn lạnh lùng. Sau tiếp thu, sinh hoạt tôn giáo bị hạn hẹp khá nhiều. Chỉ được làm nghi lễ phụng vụ trong nhà thờ. Những lễ có hơi long trọng phải xin phép. Theo nguyên tắc, ai ở họ nào thì đi xem lễ nơi đó. Đến nơi lạ không được dự lễ, bắt buộc nhà thờ địa phương phải chối từ. Dạy giáo lý muốn mở lớp phải xin phép. Linh mục không được đến những họ lẻ. Nếu có cuộc Thêm Sức, địa phương phải xin phép và Giám Mục đến cũng phải có phép của tỉnh. Sách đạo, đồ đạo, có chỗ bị chánh quyền tịch thu. Cũng không cho nhập khẩu đồ đạo, sách đạo, báo chí đạo. Các hội đoàn im hơi, lặng tiếng, ngay những ca đoàn cũng gặp rắc rối, khó khăn. Cấm chủng viện, cấm tấn phong linh mục, cấm hội họp. Mặc dầu các linh mục dòng tu còn xin được những buổi tĩnh tâm thường niên. Chúa muốn thử thách và cũng muốn đạo phải vào lại cuộc sống nội tâm hơn là bành trướng hời hợt bên ngoài. Đời sống linh mục không còn làm chủ điền, bận tâm về tài sản của họ đạo. Bớt lối sống trưởng giả, xích lại gần với tín hữu hơn. Tuy nhiên cũng có bộ mặt tiêu cực, có linh mục quá lo cho cuộc sống, lại cũng có vị cảm thấy cần giao thiệp với chính quyền rồi bị lôi cuốn vào những buổi ăn nhậu quá đáng. 1980 Một sáng hé lên trong đêm tối. Nhà nước đã cho phép hội đồng Giám Mục toàn quốc, lại cho các Giám Mục sang Roma viếng mồ thánh Phêrô. Trước đó trong nhiều giáo phận, có tấn phong một số linh mục. Riêng giáo phận Vĩnh Long, linh mục Nguyễn Quới Thọ được tiến chức trong dịp này. Ở thủ đô Roma về, Giám Mục Vĩnh Long còn được đến vùng Bến Tre Thêm Sức. Nhưng cái mộng đạt được đôi chút dễ dãi, đã tan biến như làn khói. Bến Tre cấm mời Giám Mục đến trong tỉnh. Còn Cửu Long (Vĩnh Long và Trà Vinh), họ đạo nào muốn được thêm sức, phải vất vả mới xin được phép tổ chức. Với giấy phép như thế, Giám Mục cũng phải cầu cạnh để chính quyền tỉnh cấp giấy mới đến nơi Thêm Sức được. Dầu vậy cũng có nơi địa phương còn moi ra những khía cạnh sơ hở nhỏ gây khó dễ cho đạo. Trót nhiệm kỳ, Đức Cha Giacôbê có tám linh mục nạn nhân thời cuộc: một mất tích (Cẩm), bốn chết trong tù (Quý, Lợi, Giỏi, Hồng), hai bị tù rồi mất tích luôn không biết chết thế nào (Sáu, Long) còn một bị hại trên đường về Trà Vinh (Nghi). 1988 Từ năm 1988, tình hình xem ra lắng dịu, nhà nước cho linh mục xê dịch dễ dàng hơn, cho đi đến những họ lẻ dâng lễ. Có nơi cho sửa chữa nhà thờ, xây cất nhà thờ mới. Thật ra, chính quyền có lý do ngờ vực Công giáo. Còn tín hữu, trong giai đoạn đầu khó tin được chính sách cộng sản. Lại có nhóm người không nhớ đến nguyên tắc căn bản là: tin vào Chúa. Đi theo nương tựa vào người, để mình được dễ dãi và cũng nói: để giúp ích Hội Thánh. Ngày 19-6-1988, một biến cố lịch sử cho Hội Thánh Việt Nam. Đức Giáo Hoàng đã tuyên phong hiển thánh cho 117 vị thánh Tử đạo tại Việt Nam. Đại đa số là người Việt. Chánh quyền bất mãn cau có, vì cho là đi ngược với quyền địa phương. Nhà nước lên án, Toà Thánh lại đề cao. Phần khác, theo quan niệm của những chánh trị gia cả triết gia, thì vẫn có những vị không xứng đáng, bởi đời sống thiếu gương mẫu và hành động mãi quốc nữa. Phong trào chống đối lan rộng khắp nước, cả nông thôn làng xã cũng có cuộc hội họp phê phán chỉ trích việc phong thánh. Tuy nhiên Vatican khoảng những năm đầu thế kỷ 20 này đã nghiên cứu, cả thế kỷ trước về tính cách 117 vị đã chết vì đạo, chết vì Chúa, nên đã tuyên phong chân phước, và ngày 19-6-1988 tuyên phong hiển thánh. Để không riêng gì Công giáo Việt Nam, mà Công giáo cả hoàn cầu đều tôn kính. Chánh quyền đã không cho Giám Mục hay giáo hữu nào ở Việt Nam đến tham dự buổi lễ lịch sử đó. Nhưng nhờ các Đấng Tử đạo, tâm trạng gay gắt lần lần êm dịu với thời gian – tình hình có phần cởi mở hơn. Cuối năm 1988, buổi tĩnh tâm thường niên các linh mục, được phép dễ dàng, lại cũng xin được buổi lễ kim khánh giáo phận (1938-1988). Và cũng tạ ơn Chúa đã tuyên phong các thánh Tử đạo Việt Nam. Lễ không linh đình long trọng, nhưng mong được là một bình minh sáng đẹp cho giáo phận Vĩnh Long. KẾT Nhìn lại 50 năm qua, thăng trầm như thế nào đi nữa, hiện nay giáo phận Vĩnh Long có hai Giám Mục, 110 linh mục, (có giai đoạn có tới 130 linh mục). Nữ tu trên 400, giáo hữu chắc phải hơn 120000, trên 40 họ đạo có linh mục thường xuyên - họ lẻ vì hoàn cảnh ít hơn trước nhiều. So sánh với giáo phận Sài Gòn thì Vĩnh Long đạt được mức trưởng thành của giáo phận Mẹ. Tự phụ chăng? Ai dám nghĩ như thế? … Nhờ dòng máu Tử đạo, giáo phận Vĩnh Long được diễm phúc có hai hiển thánh: Philipphê Minh, linh mục hình mẫu cho các tu sĩ, và Giuse Lựu gương hạnh cho quới chức và giáo dân tông đồ. Vẫn còn nhiều vị khác chết vì đạo chưa được tuyên phong. Thiên Chúa Quan Phòng không sai lệch. Diễn tiến như thế nào, Chúa cũng đưa đến lợi ích và hạnh phúc cho con cái Chúa. Kỷ niệm 50 năm, chúng ta là thành vien của giáo phận. Biết nhìn, biết thích dụng, biết trông cậy và cùng nhau vững bước tiến lên mãi.
LƯỢC SỬ GIÁO PHẬN VĨNH LONG (BÀI 2) Thời điểm nầy, năm 2009, chúng ta có Giáo phận Vĩnh Long trong danh sách 26 Giáo phận của Giáo Hội Việt Nam. Giáo phận Vĩnh Long chính thức được thành lập ngày 8 tháng 1 năm 1938, nhưng trước đó Giáo phận bắt đầu hình thành vào thế kỷ thứ 17. Trải qua khoảng thời gian khá dài với sự đóng góp rất nhiều công đức của tiền nhân, Giáo phận Vĩnh Long thành hình. I. LƯỢC SỬ.Về phương diện hành chính dân sự, Vĩnh Long ngày nay là một phần của Long Hồ dinh, được hình thành từ năm 1732, bao gồm các tỉnh Bến Tre, Trà Vinh và một phần của Cần Thơ. Năm 1732, Chúa Nguyễn thứ bảy là Ninh Vương Nguyễn Phúc Trú (1696-1738) đã lập ở phía nam dinh Phiên Trấn đơn vị hành chính mới là dinh Long Hồ, châu Định Viễn, tức tỉnh Vĩnh Long ngày nay. Lỵ sở của dinh Long Hồ lúc mới thành lập đóng ở thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, được gọi là đình Cái Bè. Đến năm Đinh Sửu (1757) thì chuyển đến xứ Tầm Bào (thuộc địa phận thôn Long Hồ, nay là thành phố Vĩnh Long). Thành Long Hồ được xây dựng tại xứ Tầm Bào là thủ phủ của một vùng rộng lớn. Nhờ đất đai màu mỡ, giao thông thuận lợi, dân cư đông đúc, việc buôn bán thông thương phát đạt, địa thế trung tâm, dinh Long Hồ trở thành một trung tâm quan trọng thời bấy giờ. Để bảo đảm an ninh quốc gia, Chúa Nguyễn đã thiết lập ở đây nhiều đồn binh như Vũng Liêm, Trà Ôn... Đến giữa thế kỷ 18, dinh Long Hồ là thủ phủ của vùng đất phía nam và là đại bản doanh của quân đội nhà Nguyễn có nhiệm vụ phòng thủ, ổn định và bảo vệ đất nước (Vĩnh Long, Tự Điển Wikipedia). Về phương diện Tôn giáo Công giáo, Giáo phận Vĩnh Long được khai sinh với lý do Giáo Phận Sài Gòn quá rộng nên công việc Rao giảng Tin mừng khá phức tạp. Hơn nữa, Giáo Hội Rôma cũng muốn thúc đẩy việc địa phương hoá hàng Giáo Sĩ và để việc Rao giảng Tin mừng có hiệu quả hơn nên vùng Vĩnh Long được tách khỏi Giáo phận Sài Gòn và được lập thành Giáo phận ngày 8 tháng 1 năm 1938 (có Tông sắc). Giáo phận Vĩnh Long bao gồm các tỉnh một phần của Long Hồ dinh 1732, tức là Tỉnh Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, nhưng thay vào một phần của Cần Thơ bằng một phần của Đồng Tháp ngày nay. Theo dòng giáo sử, vào khoảng thế kỷ XVII, có sự hiện diện của Kitô giáo ở Giáo phận Vĩnh Long và sau đó được phát triển theo thời gian : Nhiều Họ đạo và Nhà thờ được xây dựng, các Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum và Cái Mơn và Dòng Kitô Vua được thành lập, các Nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres và Dòng Xi-Tô Phước Vĩnh cũng đến sinh hoạt trong Giáo phận. Giáo phận Vĩnh Long trải qua các thế kỷ với những sinh hoạt mục vụ luôn nhắm đến việc hướng mọi người nhìn về Đức Kitô, dĩ nhiên cũng có những kết quả tốt đẹp còn tồn tại. Mời anh chị cùng chúng tôi theo dõi sự hình thành của Giáo phận Vĩnh Long. Trước hết, chúng ta lướt qua Giáo phận Vĩnh Long những thế kỷ trước lúc được thành lập và từ lúc khai sinh cho đến 2009 dưới trách nhiệm của nhiều vị Giám mục. Tiếp theo, chúng ta đề cập đến những tổ chức điều hành mọi sinh hoạt trong Giáo phận, ranh giới địa lý với các số liệu thống kê và những nét đặc biệt của Giáo phận trong đó có các Trung tâm Hành Hương và các Hội Dòng. Sau cùng nhìn lại sự phát triển của Giáo phận để đưa ra những nhận xét và định hướng cho tương lai trong bối cảnh một xã hội văn minh hiện đại đang trên đà tiến bộ và tiến bộ không ngừng. A. GIÁO PHẬN VĨNH LONG TRƯỚC KHI ĐƯỢC THÀNH LẬP . Theo bài viết của Linh mục Thừa sai Henri Hay thì Kitô giáo có thể có mặt tại Giáo phận Vĩnh Long vào tiền bán thế kỷ XVII. Lịch sử Họ Đạo Cái Nhum minh chứng điều đó. Thực vậy, vào năm 1614, vì bên Nhật Bản lệnh giết giáo sĩ rất gắt gao, nên có năm Linh mục Dòng Tên, hai Linh mục dòng Đa Minh và nhiều tu sĩ khác nữa được chuyển sang Macao và miền Nam Việt Nam, nhưng không ai nhớ rõ công việc truyền giáo như thế nào, nên không thể xác định rõ ràng vào thời điểm nào. Nên phải đợi đến sau thời kỳ bắt đạo khủng khiếp từ 1661 đến năm 1665 thì mới khẳng định được rằng : Họ Đạo Cái Nhum chính là Trung tâm truyền bá phúc âm ở miền Nam (Đàng Trong) ; và việc truyền bá phúc âm ở đây do các Linh mục dòng Phanxicô thuộc Manila đảm trách. Lúc đó Họ Đạo nầy thuộc Địa Phận Đàng Trong. Năm 1699, đời Chúa Nguyễn Minh Vương, Triều đại Nhà Lê, Đức cha F. Perez viết thư xin các cha dòng Phanxicô ở Manila đến giúp, công việc truyền giáo phát triển mạnh, nhất là khi Đức Khâm sai Tòa Thánh phân chia lại các vùng truyền giáo. Từ khi dòng Phanxicô chịu trách nhiệm vùng Sàigòn Hạ và các tỉnh miền Tây, công việc truyền giáo tại đây rất khả quan, đặc biệt cha F. José García coi sóc vùng Chợ Quán năm 1723. Cha José García trong khi coi sóc vùng Chợ Quán (1723), ngài đã đến tận Cái Hô, Cái Nhum, Cái Mơn (Hai Họ đạo Cái Nhum và Cái Mơn thuộc Giáo phận Vĩnh Long), bởi vì ngài nghe biết ở những nơi đó có một số người Công giáo di trú tìm đất đai sinh sống. Tiếp sau Cha Garcia là Cha Emmanuel De Valdehermoso đang truyền đạo ở vùng sông Cửu Long giữa những năm 1742 đến 1747. Có thể Cha đã lần lượt ở tại Cái Nhum, Cái Mơn, Thủ Ngữ. Ngày 2/7/1740, Đức cha Elzéar-François des Achards de la Baume, Khâm sai Tòa Thánh ra quyết định phân chia cho các cha dòng Phanxicô phục vụ từ Thủ Đức tới Hà Tiên với số giáo dân là 5.500. Năm 1749, cha Francisco Hermosa ở Thủ Ngữ. Cha François Hermosa ở thường trực tại Cái Nhum những tháng cuối năm 1749 cho đến tháng 6/1750, đúng vào thời kỳ bách hại Kitô hữu bùng lên, và Cha Hermosa bị câu lưu tại đây rồi được đưa về Sài Gòn, sau cùng Cha bị trục xuất. Ngày 12/7/1768, Thánh bộ Truyền giáo phân khu vực Cahon (Thủ Ngữ), Nan-khu, Tleng cho các thừa sai thuộc Thánh Bộ và Hội Thừa sai Paris coi sóc. Trong thế kỷ XVIII, Giáo phận Vĩnh Long có khoảng năm Họ đạo, nhưng số giáo dân không đáng kể : Cái Nhum, Cái Mơn, Cái Bông, Bãi Xan, Mặc Bắc. Đa số giáo dân trốn chạy ảnh hưởng cấm đạo ở miền Trung Việt Nam và đi tìm đất canh tác để sống. Vào thế kỷ XIX, Kitô giáo phát triển khá mạnh trong Giáo phận Vĩnh Long với những kết quả như việc thành lập các Hội Dòng, trong đó có Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum, Cái Mơn, Hội Dòng Kitô Vua và các Họ Đạo. Sau cái chết của Đức Cha Bá Đa Lộc, Đức Cha Jean Labartette Gioang làm Đại diện Tông toà ở Đàng Trong (Cochinchine) ngày 9 tháng 10 năm 1799, ngài muốn hoàn thiện việc giáo dục tu sĩ cho những Kitô hữu, và đặc biệt ngài tỏ ra rất hăng hái trong việc tăng triển con số những nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá nên ngày 16 tháng 6 năm 1 800 ngài lập Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum. Bốn mươi bốn năm sau, vì nhu cầu rao giảng Tin mừng và vì nhu cầu nhân sự có thể đi vào những vùng mà Linh mục không thể đến được vì lý do khác nhau, nên mới lập thêm một Hội Dòng Mến Thánh Giá nữa ở cách Cái Nhum sáu cây số do Đức Cha Dominique Lefèbvre Ngãi. Cha Dominique vào Việt Nam khoảng 1835 và bắt đầu coi sóc Tiểu Chủng Viện ở Tây Đàng Trong, ngài cư trú thường xuyên ở Cái Nhum và Cái Mơn, tỉnh Vĩnh Long, được Toà thánh chỉ định làm Đại diện Tông toà Tây Đàng Trong ngày 26 tháng 2 năm 1841 và được thụ phong Giám mục ngày 1 tháng 8 năm đó. Năm 1844 ngài thành lập Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn. Cả hai Hội Dòng sống tinh thần hiến chương, đường hướng linh đạo của Dòng Mến Thánh Giá mà Đức Giám Mục Phêrô Maria Lambert de la Motte là vị sáng lập đã đề ra (1670). Trong thời gian nầy có khoảng trên 20 Họ đạo được thành lập. Các Cha dòng Phanxicô cùng với nam nữ tu sĩ và giáo dân đã phát triển thêm nhiều Họ đạo và giáo điểm cho đến năm 1813 và hầu hết các Cha trở về Manila. Từ năm 1822, Vĩnh Long còn một số Cha dòng Phanxicô ngành Capuxinô, đa số là người Ý, các thừa sai của Thánh Bộ hoạt động từ thời Đức Cha Bá Đa Lộc như Cha Francisco Disan Michele ở Cái Nhum. Tháng 6/1821, Cha Odorico Giomei di Collodi Phương cập bến cửa Hàn, Cha xuống vùng Chợ Quán học tiếng và phong tục với Cha Giuseppe Maria, sau ít tháng, Cha được cử đến miền Lục Tỉnh có trụ sở chính ở Cái Mơn, đến năm 1834, Cha lãnh triều thiên tử đạo. Cái Nhum là trung tâm truyền giáo của các Cha dòng Phanxicô trên một thế kỷ, Cha Phương là vị cuối cùng của dòng phục vụ tại đây. Năm 1850, Cái Nhum, Cái Mơn, Bãi Xan trở thành Họ đạo lớn, có Linh mục phục vụ. Chính thời kỳ bách hại này, Giáo phận và các Họ đạo vẫn phát triển mạnh. Các linh mục, nam nữ tu sĩ thường xuyên đến phục vụ tại các họ đạo và gia đình. Khoảng thời gian của thập niên 70-80 của thế kỷ XIX, Hội Dòng Thầy giảng Kitô Vua được thành lập do hai Cha thừa sai Gernot Quý và Ritter Giáo. Trong thời các vua nhà Nguyễn cấm đạo (1833-1862), và nhóm sĩ phu tàn sát Công giáo của phong trào Văn Thân ở Nghệ An (1867-1874). Tháng giêng năm Giáp Tuất (1874), là năm Tự Đức thứ 27 có phong trào Văn Thân với bài hịch gọi là “Bình Tây sát tả” nổi lên đốt phát những làng có đạo Công giáo. Dầu vậy, các thừa sai, Linh mục, tu sĩ và giáo dân đã dùng mạng sống để minh chứng Tin Mừng Đức Kitô trước nhà cầm quyền, trong số này nổi bật là Cha Thánh Philiphê Phan Văn Minh và Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu (trùm họ) mà chúng ta sẽ đọc lịch sử ngắn gọn của các ngài ở phần sau. B. GIÁO PHẬN VĨNH LONG TỪ KHI ĐƯỢC THÀNH LẬP ĐẾN 2009Vượt qua thời kỳ bắt bớ cấm cách, vào thế Kỷ XX Kitô giáo phát triển rất mạnh và nhanh trong Giáo Phận Vĩnh Long với các Giám Mục và công trình của các ngài. Xin xem Sắc Dụ thiết lập địa phận Vĩnh Long ngày 08/01/1938 ở phần các Sắc chỉ thuộc Giáo phận Vĩnh Long. Sắc Dụ nầy công bố chính thức Giáo phận Vĩnh Long được thành lập. Ngày 08/01/1938 , Tòa Thánh ban sắc chỉ tách các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và phần đất nằm ở tả ngạn sông Hậu, tức một phần của tỉnh Đồng Tháp sau này để lập thành giáo phận Vĩnh Long, và cử cha Phêrô Ngô Đình Thục (Huế) làm Giám mục Hiệu Toà Sæsina. Tân Giáo phận từ nay tách rời từ Giáo phận Sài Gòn và được trao cho Giám mục Phêrô Martinô Ngô Đình Thục. Khi thành lập, Giáo phận gồm 47 linh mục Việt, 3 thừa sai, 24 chủng sinh, 61 tiểu chủng sinh, 45.318 giáo hữu và 1.780 tân tòng. Giáo phận chia làm 7 hạt, 35 Họ chánh, 106 Họ nhánh. Đức Giám Mục Phêrô Martinô Ngô Đình Thục (23/6/1938-24/11/1960)Ngày 08/01/1938, Toà Thánh Vatican thành lập Giáo phận Vĩnh Long và giao cho Giám mục Phêrô Martinô Ngô Đình Thục. Ngài là vị Giám mục người Việt Nam thứ ba, sau Giám mục Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng (được tấn phong ngày 11 tháng 6 năm 1933 tại Rôma) và Giám mục Đa Minh Hồ Ngọc Cẩn (được tấn phong 1935 tại Huế). Ngày 23/06/1938 Đức Cha Phêrô chính thức nhận Giáo phận với khẩu hiệu Miles Christi (Chiến sĩ Chúa Kitô). Ngài là vị Giám mục tiên khởi của tân giáo phận Vĩnh Long. Từ 23/06/1938 đến 24/11/1960 suốt nhiệm kỳ 23 năm, Đức Cha Phêrô có những hoạt động điển hình để xây dựng giáo phận Vĩnh Long. Hoạt động Tôn giáo Giáo phận Vĩnh Long mới thành lập nên chưa có Toà Giám mục. Đức Cha Phêrô tạm tá túc ở nhà Cha sở Vĩnh Long. Tháng 10 năm 1938, Cha Jean Nguyễn Văn Huởn về coi họ đạo Vĩnh Long và mua lại nhà của ông Nguyễn Thành Điểm làm Toà Giám mục ở gần Cầu Lộ cho Đức Cha Phêrô. Đức Cha Phêrô lập Tiểu Chủng Viện Á Thánh Minh Vĩnh Long năm 1944. Ngày 15/08/1944 , Tiểu Chủng Viện khai giảng khoá đầu tiên gồm 3 lớp và có 75 chủng sinh. Cho đến giờ phút nầy, số Linh mục tăng từ 47 (1938) đến 80 vị (1944). Đức Cha Phêrô chú ý đến việc nâng cao trình độ tri thức của hàng giáo sĩ Vĩnh Long nên ngài có gởi một số Linh mục đi ngoại quốc du học. Năm 1957 ngài cho xây cơ sở II Tiểu Chủng Viện, cơ sơ nầy cũng là Trung tâm Truyền giáo và về sau trở thành Đại Chủng Viện Vĩnh Long. Vào thời của Đức Cha Phêrô, Hội Dòng Thầy giảng Cái Nhum được sửa đổi và mang tên mới : Dòng Sư Huynh Kitô Vua, Thầy Bề trên được Toà Thánh cho phép chịu chức Linh mục. Lúc đó Hội Dòng nầy có 38 sư huynh và 100 đệ tử. Ngài cải tiến Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn và Cái Nhum. Các nữ tu được gửi đi học ở các trường Trung học và Đại học. Ngài đã tổ chức khoá huấn luyện thanh niên, hoạt động Công giáo Tiến hành…Ngài cũng đã đi thăm viếng và ban phép Thêm Sức cho nhiều Họ đạo trong Giáo phận. Hoạt động Văn hoá và Xã hội. Xây dựng 6 trường Trung học tư thục, thâu nhận học sinh Công giáo và không Công giáo. Xây cất dưỡng đường Á Thánh Minh ở Vĩnh Long và dưỡng đường thánh Phêrô ở Sài Gòn. Xây nhà Xã hội tại thị xã Vĩnh Long làm nhà đọc sách, diễn thuyết, sinh hoạt. 23 năm làm Giám mục Giáo phận Vĩnh Long, Đức Cha Phêrô đã để lại dấu ấn tốt đẹp mà nhiều người ngày hôm nay còn nhắc đến ngài. Người kế nhiệm Đức Cha Phêrô coi sóc Giáo phận là Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện. Đức Giám Mục Antôn Nguyễn Văn Thiện (24/11/1960-18/9/1968)Ngày 24 tháng 11 năm 1960 , với Sắc chỉ Venerabilium Nostrorum của Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII về việc thiết lập phẩm trật Giáo Hội tại Việt Nam, Giáo phận Tông tòa Vĩnh Long được nâng lên hàng Giáo phận Chính tòa, Đức cha Ngô Đình Thục ra Huế làm Tổng giám mục, Đức cha Antôn Nguyễn Văn Thiện được chỉ định làm Giám mục Chính tòa Vĩnh Long với Khẩu Hiệu Opere et Veritate (Thực Hành và Chân Lý). Đức Cha Antôn Thiện là Giám mục thứ 19 trong các vị Giám mục Việt Nam, chịu chức cùng ngày 22/01/1961 với các Đức Cha sau đây : - Micae Nguyễn Khắc Ngữ (1909-2009) - Giuse Trần Văn Thiện (1908-1989), - Philipphê Nguyễn Kim Điền (1921-1988). Bốn vị nói trên đã chịu chức trong một hoàn cảnh khá đặc biệt, khi Giáo Hội Việt Nam bước vào một giai đoạn lịch sử quan trọng. Đó là việc Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thiết lập hàng Giáo phẩm tại Việt Nam. Hoạt động Tông đồ Tám năm đảm trách Giáo Phận, Đức Cha Antôn có những hoạt động đáng ghi nhớ. Ngài nhận thấy cánh đồng bao la, thợ gặt ít, nên ngài đã khởi xướng và thành lập trung tâm Tu Hội Truyền Giáo : một cho Nam Giới (giao cho Cha Raphae Nguyễn Văn Diệp), một cho Nữ Giới (Cha Phaolô Ngợi đảm trách). Năm 1961, Đức Cha lập Trung tâm Truyền giáo tại Ngã Ba Cần Thơ (cơ sở II Tiểu Chủng Viện) để huấn luyện những người có năng lực đi giúp việc truyền giáo : dạy giáo lý, đi thăm viếng… Với tâm hồn tông đồ nhiệt thành, Đức Cha Antôn đã tổ chức tại Trung Tâm truyền giáo hơn 30 khóa huấn luyện Quới Chức, và các Hội Đoàn, đào tạo nên những tông đồ giáo dân cho Họ Đạo và cho xã hội. Năm 1961 và 1962 mỗi tuần đều có mở khóa, đến 1963 ban huấn luyện đi mở khóa ngay trong các Họ Đạo. Năm 1964 Trung tâm nầy được sửa chữa để làm Đại Chủng Viện cho 3 giáo phận trong vùng (Cần Thơ, Vĩnh Long và Mỹ Tho) và Trung tâm Truyền giáo được di dời về Cầu Vồng (nhà thờ Phường 3). Cũng năm 1964 Đại Chủng Viện Xuân Bích Vĩnh Long khai giảng khoá đầu tiên dưới sự hướng dẫn và đào tạo của các Linh mục Tu Hội Xuân Bích. Từ cuối năm 1964 Đức Cha Antôn đã cho xây cất Nhà Thờ Chánh Tòa với một phần vật liệu Đức Cha Ngô để lại, ở Ngã Ba Cần Thơ, theo mô hình của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ phỏng theo mẫu con tàu to lớn của ông Noe trong sách Cựu ước. Năm 1965, do lòng yêu mến Đức Mẹ sâu xa nồng nhiệt, Đức Cha Antôn cho thành lập trung tâm hành hương Fatima, thu hút giáo hữu gần xa hành hương để thêm lòng yêu mến và tôn kính Đức Mẹ. Ngài có ý định hợp nhất Hội Dòng Mến Thánh Giá thành một thay vì hai Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum và Cái Mơn, nên Ngài cho xây dựng một nhà đệ tử chung. Nhưng mãi cho đến năm 1970 nhà nầy mới thành hình và được giao cho Cha Giacôbê Trần Văn Quyển phụ trách. Ngài cũng liệu đưa Dòng kitô Vua về ngay tỉnh lỵ để phát triển dễ dàng hơn. Năm 1965, Đức Cha Antôn quyết định sử dụng nhà thờ Chính toà mới, tuy chưa hoàn thành, tổ chức lễ tấn phong Giám mục cho Đức Cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang, Giám mục Cần Thơ. Nếu không có trở ngại vì tình thế, nếu có đủ phương tiện vật chất, chắc chắn công trình của Đức Cha Antôn đem lại nhiều kết quả tốt đẹp cho Giáo Phận. Mắt càng ngày càng mờ, hai năm sau cùng Đức Cha Antôn đi đó, đi đây để nhờ bác sĩ chuyên khoa chữa trị, bác sĩ địa phương không chữa được mà những chuyên gia Ngoại Quốc cũng đành thúc thủ. Ngài đã đệ đơn từ chức khoảng 1966. Đầu 1968 Đức Cha Antôn sang Nhật mong nhờ một bác sĩ Dòng Tu săn sóc may ra được thuyên giảm. Nhưng chính ở Nhật ngài mang thêm bệnh sạn trong túi mật phải giải phẫu. Ở đó ngài được tin Tòa Thánh chấp nhận cho từ chức. Ngài bay về Vĩnh Long để tham dự những lễ quan trọng sẽ xảy ra. Ngày 12/09/1968, Ngài làm phụ phong trong lễ tiến chức Tân Giám Mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu tại Vương Cung Thánh Đường Sàigòn. Ngài dự lễ tri ân do các Linh Mục trong Giáo Phận Vĩnh Long tổ chức ngày 18/09/1968, và hai ngày sau đó, ngài về hưu ở nhà hưu dưỡng Giáo Phận Cần Thơ. Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện để lại Giáo Phận đầy đủ các cơ sở cần thiết, ngài để lại cho giáo dân Giáo phận Vĩnh Long một Giáo phận trên đà phát triển. Ngài để lại nhiều kỷ niệm tinh thần và vật chất cho thế hệ đã qua và để lại âm hưởng đức tin cho thế hệ sắp đến. Để nhớ đến vị cựu chủ chăn của Giáo phận, năm 2006, tại Vĩnh Long, Giáo phận đã tổ chức lễ Tạ ơn Sinh nhật thứ 100 của ngài và luôn luôn cầu nguyện cho ngài. Sau khi Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện từ giả Vĩnh Long về nhà hưu dưỡng Cần thơ rồi sang Pháp nghỉ hưu, Đức cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu trở thành Giám mục Chính tòa Vĩnh Long. Đức Giám Mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu ( 19/9/1968-03/07/2001 )Ngày 19 tháng 09 năm 1968, Đức Giám Mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu nhận Giáo Phận Vĩnh Long. Nguyên Giám Mục Giáo phận Vĩnh Long với Khẩu Hiệu Amor et Labor (yêu thương và lao khổ), Giám mục Giacôbê là vị Giám mục thứ ba của Giáo Phận Vĩnh Long. Lúc này Giáo Phận Vĩnh Long có khoảng 50.0000 giáo dân. Hoạt Động Tông đồ Đức Cha Giacôbê nhận Giáo phận Vĩnh Long vào thời điểm bị ảnh hưởng của biến cố Tết Mậu Thân, cho nên có nhiều cơ sở vật chất của Giáo phận hư hại nặng do bom đạn : Tiểu Chủng Viện, Toà Giám mục, Nhà thờ Chính toà…. Trong khoảng thời gian từ năm 1968 đến 1975, cho dù sống trong cảnh chiến tranh, nhưng Đức Cha vẫn có thể đi đến hầu hết các Họ Đạo trong Giáo phận. Cho đến năm 1975 những công việc của ngài thực hiện được: Năm 1969 Tu hội Xuân Bích giao Đại Chủng Viện Xuân Bích lại cho Giáo phẩm địa phương lãnh trách nhiệm. Thiếu Giáo Sư, vì thế Giáo phận phải vất vả về vấn đề này, phải mời các Cha giáo từ các Giáo phận bạn. Khánh thành Trung tâm Phaolô VI, do Tòa Thánh trợ cấp để đào luyện nghề nghiệp cho thanh niên nông thôn. Thêm một trung tâm toàn quốc cho thiếu nhi Thánh Thể, do Cha Phaolô Nguyễn Văn Thãnh tổng tuyên úy xin tài trợ và thực hiện. Cho phép mở một đệ tử viện Dòng Cứu Thế tại Vĩnh Long. Dòng Bác Ái Vinh Sơn cũng đến trú tại Vĩnh Long để thi hành công tác vãng gia và mở rộng địa bàn bác ái. Ngài cũng cho dời nhà in của Giáo Phận ở SàiGòn về Vĩnh Long mong thiết lập một cơ sở phổ biến tư tưởng và tinh thần Phúc Âm. Các Họ Đạo cách chung duy trì được lòng đạo đức, nhưng không tạo được những giáo điểm mới. Năm 1975 ngày 30 tháng 4 thống nhất đất nước. Kể từ ngày đó đến năm 2001, dưới sự lãnh đạo của thể chế chính trị mới, Giáo phận Vĩnh Long cũng có những biến chuyển thăng trầm. Rất nhiều cơ sở vật chất bị nhà nước hiện hành trưng thu hoặc trưng dụng, một số Linh mục và tu sĩ phải học tập cải tạo vì trước đó đã có tham gia ít nhiều với chính quyền VNCH. Sinh hoạt tôn giáo thường xuyên của các Họ Đạo, của các Hội Dòng hơi khó khăn. Dù vậy, niềm tin Kitô giáo của các tín hữu nói chung không những không bị lung lay, mà còn phát triển. Đặc biệt là sự hiện diện của mấy anh em Dòng Xi-Tô Phước Vĩnh. Ngày 15 tháng 8 năm 1975 , Đức Cha Giacôbê tấn phong Giám mục phó Raphae Nguyễn Văn Diệp để cộng tác với ngài điều hành giáo phận trong hoàn cảnh sống mới. Trong thời gian nầy, Đức Cha Giacôbê có thể đi đến các Họ đạo để ban Bí tích Thêm Sức (với giấy phép) và năm 1980 phong chức được một Linh mục. Từ năm 1988 trở về sau hằng năm Giáo phận Vĩnh Long được phép phong chức Linh mục và gởi các chủng sinh sang Đại Chủng viện Cần Thơ vừa được nhà nước Việt Nam cho phép mở cửa. Thập niên 1990-2000, sức sống các Hội Dòng dần dần hồi sinh. Dưới nhiều hình thức khác nhau, ơn gọi nam nữ tu sĩ có chiều hướng gia tăng. Các sinh hoạt Tôn giáo được coi như là dễ dàng hơn, việc xây dựng các nhà thờ bắt đầu chớm nở, mặc dù có những trở ngại. Trong hoàn cảnh khó khăn của những năm sau 1975, Đức cha Giacôbê đã âm thầm nâng đỡ tinh thần của đoàn dân Chúa. Ngài đã tích cực đào tạo hàng giáo sĩ, tu sĩ và hoạt động Công giáo tiến hành của giáo dân. Ngài đã thành lập nhiều giáo xứ mới và số giáo dân trong giáo phận tăng cao. Từ khi nhậm chức đến ngày về hưu, Đức Cha Giacôbê đã vượt qua những khó khăn do chiến tranh, do tài chính, nhờ ơn Chúa giúp ngài đã lèo lái rất tốt con thuyền Giáo phận Vĩnh Long trên đà phát triển. Ngày 03 tháng 07 năm 2001, Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu được toà Thánh chấp thuận cho nghỉ hưu vào tuổi 87, sau 33 năm làm Giám Mục Giáo Phận Vĩnh Long. Ngài trao Giáo Phận lại cho người kế vị là Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Tân. Nhắc lại ngày 15 tháng 8 năm 1975, Đức Cha Giacôbê tấn phong Giám mục cho Cha Raphae Nguyễn Văn Diệp. Đức Giám Mục Raphae Nguyễn Văn Diệp (15/8/1975-10/5/2000).Ngày 15 tháng 08 năm 1975 , Đức Giám Mục Raphae Nguyễn Văn Diệp được tấn phong Giám mục phó Giáo Phận Vĩnh Long với quyền kế vị Đức Giám mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu tại nhà thờ Chính Toà Vĩnh Long do chính Đức Giám mục Giacôbê chủ phong. Nguyên Giám Mục Phó Giáo Phận Vĩnh Long, Giám Mục Hiệu Toà Tubusuptu với Khẩu Hiệu Vigilate et Orate ( Hãy Tỉnh Thức và Cầu Nguyện). Sau 25 năm phục vụ Giáo phận Vĩnh Long trong cương vị Giám mục phó, ngày 10 tháng 05 năm 2000 Toà Thánh đã chấp nhận đơn xin nghỉ hưu của ngài với tuổi 75. Hoạt động tông đồ. Sau khi thụ phong Linh mục, ngài tích cực trong việc mục vụ giáo xứ : Quản xứ Cái Đôi và Bến Giá 1955. Phó và chánh xứ họ Bãi Xan 1956 đến 1960. Giám đốc Trung tâm Truyền giáo Giáo phận Vĩnh Long 1960 đến 1964. Chánh xứ họ đạo Cầu Vồng 1964 đến 1975. Giám mục Phó Giáo phận Vĩnh Long từ 15 tháng 08 năm 1975 đến 10 tháng 05 năm 2000. Trong cương vị Giám mục Phó ngài vẫn tiếp tục việc mục vụ họ đạo tại Cầu Vồng đến năm 2000. Ngài nghỉ hưu tại dòng Đồng Công Thủ Đức và đ ã được Chúa gọi về lúc 21 giờ 30 ngày thứ năm 20/12/2007 tại bệnh viện Nguyễn Tri Phương Thành Phố Hồ Chí Minh. Ngày 24 tháng 12 năm 2007, thánh lễ An Táng của ngài được tổ chức tại nhà thờ Chính Toà Vĩnh Long và phần mộ của ngài nằm trong khu vực nhà thờ Chính Toà nầy. Hãy tỉnh thức và cầu nguyện. Đức Cha Raphae luôn luôn tỉnh thức theo tinh thần phúc âm Chúa Kitô. Ngài tỉnh thức để đáp lại tiếng Chúa mời gọi ngài thực hiện những gì có lợi ích cho phần rỗi linh hồn của đàn chiên mà ngài cùng với Giám mục Chính toà chăn dắt. Tỉnh thức để cầu nguyện, cầu nguyện cùng Chúa và với Chúa. 25 năm âm thầm cầu nguyện, 25 năm tìm hiểu thánh ý Chúa để thực hiện, 25 năm phục vụ cho đàn chiên Giáo phận Vĩnh Long, lo cho đàn chiên được những gì cần thiết cho đời sống, 25 năm kề vai sát cánh với Đức Cha Giacôbê để chia sẻ tình yêu và những lao nhọc với vị Giám Mục Chánh Toà. Lời cầu nguyện không bao giờ thiếu nơi vị Mục Từ nhân lành. Ngài cầu nguyện không chỉ bằng lời mà bằng cả con người, cả cuộc sống của mình. Ngài cầu nguyện để nhận ra những gì cần thiết cho đàn chiên và sẵn sàng thực hiện tất cả những gì đem lại lợi ích cho đàn chiên mà Thiên Chúa trao phó cho Ngài. Những việc làm hết sức âm thầm, nhưng mang hiệu quả không âm thầm : lời cầu nguyện âm thầm với Chúa đã đem lại sức sống cho đàn chiên suốt 25 năm qua. 25 năm qua như một chặng đường dài, một chặng đường mà không phải lúc nào cũng được trải đầy hoa, nhưng dù vậy, cũng có những bông hoa được nở rộ lên trên từng bước chân Ngài đi qua. Đức Cha Raphae Nguyễn Văn Diệp được chính thức nghỉ hưu ngày 10 tháng 05 năm 2000, cùng ngày nầy, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Cha Tôma Nguyễn Văn Tân làm Giám mục Phó Giáo phận Vĩnh Long. Đức Giám Mục Tôma Nguyễn Văn Tân (03/7/2001-)Ngày 3/7/2001 , Tòa Thánh chấp thuận cho Đức cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu nghỉ hưu và trao quyền coi sóc giáo phận cho Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân với Khẩu Hiệu Ambulate In Dilectione (Hành Trình Trong Đức Ái). Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm làm Giám Mục Phó Giáo Phận Vĩnh Long ngày 10/05/2000. Lễ tấn phong Giám Mục ngày 15/08/2000, do Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu chủ phong và hai Đức Cha Raphae Nguyễn Văn Diệp và Phêrô Nguyễn Soạn phụ phong. Giám mục phó Giáo phận Vĩnh Long đến ngày 03/07/2001 làm Giám mục Chánh Toà Giáo phận Vĩnh Long. Hoạt động tông đồ Giáo sư Tiểu Chủng Viện Vĩnh Long từ năm 1970 đến 1971. Đi du học từ 1971-1974. Trở về Việt Nam Ngài là giáo sư Ðại Chủng viện Vĩnh Long từ tháng 03 năm 1974. Phụ trách nhà thờ Chủng Viện từ năm 1980 đến năm 2000. Giáo sư ngoại trú môn Thần Học Luân Lý của Ðại Chủng viện Thánh Quí, Cái Răng, Cần Thơ từ cuối năm 1988 đến năm 2000. Đồng thời từ năm 1992 đến năm 2000 Ngài đảm nhận trách nhiệm các lớp Tiền Ðại Chủng Viện của giáo phận Vĩnh Long. Công việc đã và đang làm của ngài. - Phát triển đức tin. Ngài bổ nhiệm các Linh mục đúng chỗ và đúng việc và ngài thúc đẩy làm việc các ban trực thuộc Uỷ ban Giám mục Hội đồng Giám Mục Việt Nam : Giáo lý, Phụng vụ, Giới trẻ, Thiếu nhi…..để củng cố và làm phát triển đức tin các thành phần Dân Chúa trong giáo phận. Ngài rất chú ý đến tình trạng đức tin của giáo dân khi họ đối diện với nếp sống mới của xã hội hôm nay trong đó có vấn đề di dân, nghèo khó, thất nghiệp, trẻ em bỏ học. Hằng năm tổ chức những ngày đại hội giới trẻ, thiếu nhi, gia đình…, đặc biệt tổ chức các khoá giáo lý nâng cao cho các anh chị em giáo dân để các anh chị em nầy về truyền đạt lại cho các người khác không có điều kiện theo học, hay để dạy giáo lý các cấp khác nhau. - Phát triển và xây dựng mới các ngôi Thánh đường cũ kỷ. Tính đến hôm nay 2009, hầu hết các Nhà thờ Công giáo trong Giáo phận Vĩnh Long đã được xây dựng mới hay được sửa chữa đàng hoàng xứng đáng nơi thờ phượng Thiên Chúa. Ngài đã cho sửa chữa Toà Giám Mục, Tiểu Chủng Viện khang trang đẹp mắt. - Phát triển Ơn gọi Nam và Nữ. Ngài rất quan tâm đến việc phát triển ơn gọi bằng cách nhắc nhở các Cha sở các Họ đạo thuộc Giáo phận Vĩnh Long chú ý đến ơn gọi tu sĩ nam cũng như nữ, bằng cách giúp đỡ các chủng sinh, các hội dòng nam nữ có mặt tại Giáo phận Vĩnh Long vật chất lẫn tinh thần. Ngài cộng tác rất nhiều trong công việc đào tạo Linh mục tu sĩ để phục vụ cộng đoàn Dân Chúa trong Giáo phận, cho tổ chức các khoá huấn luyện và bồi dưỡng thường xuyên cho các nữ tu hai Hội Dòng Mến Thánh Giá và các anh em Linh mục. Ngoài ra ngài cũng không quên các Cha dưỡng lão, ngài luôn quan tâm đến vấn đề nầy vì hiện nay chưa có chỗ ở đầy đủ và thích hợp cho các Cha dưỡng lão. Để khích lệ an ủi những gia đình tu sĩ có cha mẹ qua đời, chính ngài đến dâng thánh lễ An táng, dĩ nhiên ngài chủ sự lễ An táng cho các Linh mục trong Giáo phận qua đời. - Phát triển xã hội. Ngài làm việc với các Cha và các Dì trong ban Bác ái xã hội và đã đưa chương trình hành động để giúp đỡ người nghèo, cộng tác cải thiện đời sống vật chất bằng việc khuyến khích xây dựng và sử dụng nước tinh khiết, cho vay vốn làm ăn để kiếm sống…vv…. Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Tân mang đến cho Giáo Phận Vĩnh Long sức sống mới đang dần được hình thành cách vững vàng hơn. II. TỔ CHỨC ĐIỀU HÀNH GIÁO PHẬN Giáo phận Vĩnh Long thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long được thành lập từ năm 1938 dưới sự trách nhiệm của các vị Giám Mục và được tổ chức như sau. Giám mục Tôma Nguyễn Văn Tân. 1. Ban Tư vấn - Lm. Phaolô Lưu Văn Kiệu 2. Văn phòng TGM - Lm. F.X. Nguyễn Văn Việt 3. Tư pháp và Toà án Hôn phối - Lm. Micae Nguyễn Hồng Sung 4. Đặc trách Mục vụ - Ban Linh mục, Chủng sinh: Lm. Phêrô Dương Văn Thạnh II. ĐỊA LÝ VÀ DÂN SỐ1. Ranh giới Giáo phận Vĩnh Long nằm trong địa bàn các tỉnh : Bến Tre, Trà Vinh, Vĩnh Long, và một phần tỉnh Đồng Tháp (Sa Đéc). Giáo phận Vĩnh Long nằm hai phía tả hữu sông Cổ Chiên, phía Đông Bắc giáp Giáo phận Mỹ Tho, phía Tây Bắc giáp Giáo phận Long Xuyên, phía Nam giáp Giáo phận Cần Thơ và phía Đông giáp Biển Đông. Diện tích 6.771,79 Km2. Toàn Giáo phận nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, cho nên có nhiều sông ngòi chằng chịt. Người dân sống trong Giáo phận đa số là người Kinh, một thiểu số người Khơ Me (Trà Vinh, Vĩnh Long), ngoài ra còn có một số Hoa kiều tập trung nơi các phố chợ. 2. Địa chỉ Toà Giám mục. 103 đường 3 tháng. P. 1. Thành phố Vĩnh Long III. CÁC SỐ LIỆU THỐNG KÊBến Tre: diện tích: 2.315 km2, dân số: 1.369.358 người; Trà Vinh: diện tích: 2.225,6 km2, dân số : 1.015.800 người ; Vĩnh Long: diện tích: 1.475 km2, dân số: 1.029.710 người ; Sa Đéc: diện tích: 756 km2, dân số: 591.327 người (Các con số nầy thu thập từ Internet tháng 6 năm 2009 với nhiều nguồn khác nhau, nên không chính xác lắm!). Tổng diện tích: 6.771, 79 km2. IV. MỘT SỐ ĐIỂM ĐẶC SẮC1. Tôn giáo- Nhà thờ Chính toà ngày hôm nay 2009. Địa chỉ : 141 Lê Thái Tổ, P. 2, Thành phố Vĩnh Long. Đt : 070 3824186. Xây dựng hoàn thành vào năm 1967, Nhà thờ Chính toà được trùng tu vào dịp kỷ niệm 60 năm thành lập giáo phận (1999). Lịch sử Nhà thờ Chính toà liên quan đến Họ đạo Vĩnh Long với những nét lớn như sau. Lính của quân đội Pháp và người theo đạo Công giáo có mặt tại Vĩnh Long năm 1862, năm đó chưa có Nhà thờ và cũng chưa có Họ đạo. Cha Cordier từ Nam Vang coi sóc, kế đến là Cha Guillon. Năm 1866 Cha Gernot đảm trách Vĩnh Long. Năm 1867, Cha Bernard chính thức là Cha sở xứ Vĩnh Long. Việc đầu tiên là Cha cất một Nhà thờ cột cây lợp lá, gần vị trí Nhà thờ cũ ở cập bờ sông Cổ Chiên. Năm 1868 Cha Le Mec được gửi từ Sài Gòn xuống nhậm sở Vĩnh Long. Trong 10 năm Cha đã đặt nề nếp hẳn hoi cho họ đạo. Năm 1869 Cha cũng cho mở một nhà thương giao cho các Bà Dòng thánh Phaolô. Cha nhường Nhà thờ cũ cho các Bà và cất một Nhà thờ mới cột cây nhưng lợp ngói. Từ năm 1877 đến 1886 có các Cha phụ trách Họ đạo Vĩnh Long : Cha Faron, Cha Lizé và cha Hamon. Cha Hamon là người đưa giáo dân từ Bình Định đến tá túc tại Vĩnh Long. Trong 2 năm cư ngụ tại Vĩnh Long, Cha Hamon giúp Cha Lizé thật đắc lực. Khi Cha Lizé lâm bệnh và chết tại HongKong 1887, Cha Hamon còn ở lại coi họ đạo Vĩnh Long ít lâu rồi đưa giáo dân trở về Bình Định. Cha Lalement về thay thế coi sóc họ đạo Vĩnh Long từ 1887–1908. Địa sở Vĩnh Long rộng lớn nên hằng năm có các thầy Đại chủng viện đến giúp. Tổng cộng số giáo dân chừng 2500. Mỗi năm Cha sở phải đi kinh lý các họ để sắp xếp công việc. Mặc dầu đa đoan công vịêc và không có tiền, Cha vẫn cất được nhà Cha sở và Cha cũng lo cất Nhà thờ. Nhà thờ khởi công năm 1889 và hoàn tất năm 1894 với số tiền là 12000 đồng. Nhà thờ được xây theo kiểu Roman dài 38m, ngang 19m, cao 16,7m có 2 tháp chuông (Nhà thờ Chính toà cũ). Vào thời đó là cả một công trình. Cha Lalement làm việc tông đồ 33 năm, Cha đã hy sinh cho Vĩnh Long 20 năm. Cha Arkerman chính thức nhậm sở 1908 và ở đến năm 1915. Sau Cha, đến Cha Bellemin coi Vĩnh Long từ 1915–1938. Giáo phận Vĩnh Long được thành lập năm 1938. Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục về Vĩnh Long không có chỗ ở nên tạm thời tá túc tại nhà xứ Vĩnh Long và kiêm chánh sở Vĩnh Long. Thời gian từ 1938 đến 1948 kể như thời gian chuyển tiếp vì không có Cha nào thực sự là cha sở. Tháng 8/1948 Cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang đang làm Giám đốc Tiểu Chủng viện được bổ nhiệm làm Chánh sở Chính tòa. Năm 1965 Cha được Tòa thánh bổ nhiệm làm Giám mục Cần Thơ. Năm 1960 Đức cha Ngô về Huế. Tòa thánh bổ nhiệm Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện về Vĩnh Long. Từ 1964 đã khởi công xây cất Nhà thờ Chính tòa mới tại Ngã Ba Cần Thơ dưới trào quản lý của cha Raphae Minh. Nhà thờ Chính toà trước nằm trên bờ sông Cổ Chiên (như đã nói ở phía trên). Năm 1964, phát hiện bờ sông sạt lở, có dòng nước ngầm từ ngoài xoáy vào lòng đất dưới khu vực Nhà thờ nên Đức Cha Antôn ra lệnh di dời về khu vực hiện nay. Từ cuối năm 1964 Nhà thờ Chính tòa được xây dựng với một phần vật liệu Đức Cha Ngô để lại, ở Ngã Ba Cần Thơ, theo mô hình của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ phỏng theo mẫu con tàu to lớn của ông Noe. Năm 1964 khởi công nhưng mãi đến năm 1967 mới hoàn thành. Nhà thờ được trùng tu nhiều lần, lần nặng nhất là sau biến cố Tết Mậu Thân 1968. Và mới đây, nhân dịp kỷ niệm 60 năm thành lập Giáo phận (1938-1998), Nhà thờ Chính toà được trùng tu, công trình nầy kéo dài một năm đến giữa năm 1999 mới xong. Giáo phận Vĩnh Long có Nhà thờ Chính toà cao lớn rộng rãi, có tầng hầm, hình con tàu. Nhà thờ có kích thước : 75m chiều dài trong lòng Nhà thờ, nếu cộng với tiền đường Nhà thờ sẽ có chiều dài 100m, 26m chiều rộng, chỗ rộng nhất là 36m và 27m chiều cao (dự trù xây một tháp chuông 45m cao hơn Nhà thờ, nhưng chưa thực hiện). Nhà thờ nầy chọn Bà Thánh Anna Thân Mẫu Đức Bà Maria làm bổn mạng cho mình. Thánh Anna thân mẫu Đức Mẹ, một biểu tượng đầy ý nghĩa giáo dục, bởi vì nó ám chỉ việc Thánh Anna là người đã sinh ra Mẹ Maria và đã hướng dẫn, dạy dỗ Mẹ Maria nên người công chính và nhờ đó được chọn làm Mẹ Chúa Cứu thế, làm Mẹ Hội Thánh. Về điểm nầy, chúng ta mượn lại lời của Thánh Đamascênô để ca tụng hai vị Thánh tổ : “Lạy thánh Gioakim và Anna, đôi bạn hạnh phúc, tất cả mọi tạo vật đều mang ơn các ngài, vì nhờ các ngài mà tạo vật đã dâng lên cho Đấng Hoá Công một lễ vật cao trọng, đó chính là Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa”. Cho nên, dưới mái Nhà thờ Chính toà thánh hiệu Anna, chúng ta được hướng dẫn sống cuộc sống của người công chính trước mặt Chúa, dĩ nhiên, trước hết nhờ ơn Chúa và sống Lời Chúa, nhưng qua Thánh Anna để chúng ta có được Chúa Giêsu và phúc âm của Người. Trước tiền đường, phần giữa sân, ngay cuối con đường dẫn vào Nhà thờ, Cha sở Chính toà cho dựng tượng Chúa Giêsu là Vua cao hơn 4m, oai nghiêm đứng sừng sững giữa trời như là Vua vũ trụ, dang tay đón nhận mọi thành phần dân Chúa và tất cả mọi người bằng tất cả con tim của mình. Bước lên 20 nấc thang chúng ta sẽ đến tiền đường Nhà thờ, một khoảng sân rộng có thể dùng làm lễ đài…. Kế đến là mặt tiền Nhà thờ xem như đầu con tàu cao vời vợi : 27m cao, 30m rộng, hình ngủ giác, nó là điểm dựa cho một cây Thánh Giá bằng xi măng to lớn : 17m chiều cao và 6m chiều ngang, thu hút mọi người nhìn lên và nhận ra dấu chỉ để phân biệt con tàu. Con tàu nầy không phải là một con tàu như bao nhiêu con tàu khác, nhưng là con tàu Kitô giáo, ai ở trong tàu thì sẽ được cứu thoát. Các tín hữu Giáo phận Vĩnh Long vào trong con tàu đó để tuyên xưng niềm tin và thờ phượng Thiên Chúa không biết bao nhiêu lần trong đời với niềm ước mong duy nhất là được phần rỗi linh hồn. Lòng con tàu đủ chỗ cho khoảng từ 2000 đến 3000 giáo dân đến tham dự các nghi thức phụng vụ (tuỳ theo sự sắp xếp). Một cung thánh rộng rãi có thể chứa khoảng 120-150 Linh mục đồng tế. Khu vực Bàn thờ chánh và phía sau Bàn thờ được xem như phòng điều khiển con tàu có những trang trí phụng vụ trình bày “Mầu nhiệm Cứu chuộc”. Nghệ nhân cho dựng một cây Thánh giá gỗ cao mang thân thể Chúa Giêsu bằng thạch cao phía sau Bàn thờ và sau cây Thánh giá đó là một màn phông rộng có màu thay đổi theo mùa phụng vụ, đường viền trên, cao khỏi cây Thánh giá, đường viền dưới rủ xuống tận chân nền Nhà thờ. Cây Thánh giá nầy và ở vị trí nầy gợi lên những ý nghĩa phụng vụ chủ yếu thuộc Bí Tích Thánh Thể (BTTT) : Chúa Giêsu trở thành hy lễ dâng lên Chúa Cha một lần cho tất cả. Và mỗi khi cử hành BTTT, Linh mục và mọi người tham dự kết hợp lễ hy sinh của mình với hy lễ của Chúa Giêsu dâng lên Thiên Chúa Cha để chúc tụng tạ ơn Ngài. Cây Thánh giá nầy cũng làm cho người tín hữu nhớ đến lời nói đầy hứa hẹn của Chúa Giêsu : “Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi” (Jn 12, 32) “Như ông Môisen đã giương cao con rắn trong sa mạc, Con Người cũng sẽ phải được giương cao, để ai tin vào Người thì được sống muôn đời” (Jn 3, 14-15). Màn phông phía sau có màu thay đổi theo mùa phụng vụ kia làm cho người tín hữu liên tưởng đến tình trạng tấm màn trong Đền Thờ lúc Chúa Giêsu chết, ở đây, màn phông này rủ xuống cũng biểu lộ những ý nghĩa tương tự. Tiếp đến, cũng phía sau Bàn thờ, vật đập vào mắt chúng ta là một tấm màn vải trắng rộng lớn trải dài từ phía cánh phải đến phía cánh trái khu vực Bàn thờ và mỗi bên màn được nối vào sáu trụ lớn màu đỏ. Thấp hơn màn phông sau Thánh giá, tấm màn nầy có đường viền trên được móc vào những trụ đứng bằng gỗ, còn đường viền dưới được thả lỏng xuống đất. Màn vải trắng đó tượng trưng cho chiếc lưới đánh cá và sáu trụ đứng màu đỏ ở hai bên chính là mười hai Thánh Tông đồ của Chúa kéo lưới đánh bắt cá “người”. Cạnh mỗi sáu trụ lớn màu đỏ kia, nghệ nhân dựng lên bảy trụ. Nếu đứng phần dưới giáo dân nhìn lên, chúng ta sẽ thấy bảy trụ phía trái và bảy trụ phía phải. Bảy trụ phía trái, với phù điêu, tượng trưng cho bảy Ơn Chúa Thánh Thần. Phần dưới của bảy trụ nầy còn có một giá lớn đỡ quyển Kinh Thánh. Hai vật thể nầy muốn nhắn nhủ các tín hữu hãy tâm niệm : Đời sống tinh thần của người tín hữu được nuôi dưỡng bằng Ơn Chúa và Lời Chúa. Cạnh đó còn thấy có một ngai toà mà mỗi khi có nghi lễ quan trọng vị Giám mục Chính toà sẽ ngồi trên đó. Bảy trụ phía phải, với phù điêu, tượng trưng cho bảy Bí Tích. Phần dưới của bảy trụ nầy còn thấy một Nhà Tạm sơn son thiếp vàng xứng đáng nơi Chúa ngự, và trên Nhà Tạm một thang đi lên có 9 nấc. Qua các hình ảnh của phía phải nầy, nghệ nhân muốn cho chúng ta thấy một ý nghĩa phụng vụ quan trọng nữa : Đời sống tinh thần của người tín hữu được nuôi dưỡng bằng các Bí Tích và Mình Máu Thánh Chúa Kitô. Không phải vô ý mà nghệ nhân bày thêm chín nấc thang phía trên nhà tạm. Chín nấc thang kia là con đường dẫn về núi Thiên Chúa (núi Horeb) mà tiên tri Elia phải đi qua, muốn đến đó tiên Êlia được thiên thần Chúa đánh thức hai lần để ăn bánh và uống nước cho có sức (1V. 19, 1-8), điều đó muốn nói gì nếu không phải là muốn về nhà Chúa thì của ăn thiêng liêng là điều cần thiết hay sao ? Nếu có tầm nhìn xa hơn, chúng ta có thể nhận ra nơi hai lần bảy thành mười bốn nầy một điều gì đó liên quan đến luân lý Kitô giáo : Thương người có mười bốn mối : thương xác bảy mối và thương linh hồn bảy mối. Vào trong thân tàu để được cứu thoát là chân lý. Cứu thoát bằng việc đọc kinh cầu nguyện, cứu thoát bằng việc tham dự bàn tiệc Lời Chúa và bàn tiệc Thánh thể để từ đó có sức chịu đựng những cơn phong ba bảo tố của cuộc đời, cứu thoát bằng việc thực hành phúc âm Chúa : Thương người có mười bốn mối. Kể từ năm 1975 đến nay, tại Nhà thờ Chính toà đã tổ chức rất nhiều lễ hội cho giáo dân toàn thể Giáo phận. Với khoảng không gian trong lòng Nhà thờ rộng rãi như thế, mọi nghi lễ Tôn giáo đều diễn ra trong bầu không khí trang nghiêm thánh thiện không sợ phải trời mưa hay nắng, rộng và hẹp. - Toà Giám mục Vĩnh LongToạ lạc 103 đường 3 tháng 2. P.1. Thành phố Vĩnh Long, Toà Giám mục được Cha Jean Nguyễn Văn Huởn về coi họ đạo Vĩnh Long mua lại nhà của ông Nguyễn Thành Điểm làm Toà Giám mục ở gần Cầu Lộ cho Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục tháng 10 năm 1938 với giá là 30.000 VNĐ. Cho tới nay 2009, sau 71 năm, ngôi nhà nầy đã được tu sửa nhiều lần, nhất là sau biến cố Tết Mậu Thân năm 1968. Năm 2007, Toà Giám mục được khởi công trùng tu lại toàn bộ, phục hồi toà nhà theo kiến trúc cũ trước đây. Phía trước Toà Giám mục Vĩnh Long, đường 3 tháng 2, là con đường chính của thành phố dẫn đến Trung tâm thương mại Vĩnh Long. Hai bên Toà Giám mục là hai con đường mang tên Võ Thị Sáu và Trần Văn Ơn. Phía sau Toà Giám mục giáp với các hộ dân cư. Toà Giám mục gồm ba cụm nhà. Cụm trung tâm là Toà Giám mục và các văn phòng làm việc của các ban mục vụ. Toà Giám mục, ngôi nhà một tầng lầu, có tầng trệt được chia ra thành phòng khách, phòng hội, và một thư viện nho nhỏ ; tầng một có nhiều phòng trong đó có một nhà nguyện, phòng giữ hồ sơ các loại của Giáo phận, phòng của Đức Giám mục và những phòng nghỉ khác. Cụm thứ hai phía sau Toà nhà chính là các nhà dành riêng cho các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày : nhà bếp, nhà để xe, nhà dành cho khách vãng lai. Cụm thứ ba trong khuông viên là những phòng dành cho các Linh mục cư ngụ tại đó : Cha Thư ký, Cha Quản lý và các Cha khác. Toà Giám mục Vĩnh Long được sửa chữa trong những thập niên đã qua vừa giữ lại được những nét cổ kính của một ngôi nhà cổ, nhưng cũng không che giấu được những nét xây dựng của kỷ nguyên hiện đại. Bên trong Toà nhà, ngoài những trang trí nội thất cổ xưa ẩn hiện vẻ yên tĩnh trầm lắng được đặt trong phòng khách và nhà hội, hầu hết các văn phòng làm việc đều được trang thiết bị những phương tiện làm việc thích nghi với thế kỷ khoa học kỹ thuật. Tân cổ giao duyên sẽ là nguồn cảm hứng để Đức Giám mục, ban Tư vấn, các ban mục vụ làm việc có kết quả nhiều hơn. Hy vọng trong sự hoà điệu nhịp nhàng giữa Giám mục, thư ký, quản lý, ban Tư vấn và các ban khác trong Toà Giám mục, Giáo phận Vĩnh Long sẽ phát triển không ngừng. Toà Giám mục Vĩnh Long cũng là nơi để các Giám mục tại vị tiếp các vị quan khách đến thăm viếng Giáo phận Vĩnh Long, tiếp các cấp Chính quyền Trung ương và Địa phương, tiếp các Linh mục, Tu sĩ trong và ngoài Giáo phận khi có nhu cầu. Toà Giám mục Vĩnh Long mặc dù không rộng lớn, nhưng tầm ảnh hưởng của nó rất mạnh đối với trong và ngoài Giáo phận vì là nơi cư ngụ của các Giám mục, là nơi để các ngài làm việc điều khiển con thuyền Giáo phận và cũng là nơi mà các ban mục vụ Giáo phận họp hội trao đổi phương hướng mục vụ phục vụ hữu hiệu cho Giáo phận. Địa chỉ : 60/4 đường Mậu Thân, P. 3, Thành phố Vĩnh Long. Đt : 0703823823. Đức Giám mục Antôn Nguyễn Văn Thiện thành lập trung tâm nầy năm 1961, giao cho Linh mục Raphae Nguyễn Văn Diệp làm giám đốc, đặc trách về truyền giáo và đào tạo, huấn luyện quí chức trong Giáo phận. Đến 15/8/1975, Toà Thánh đề cử Cha Raphae làm Giám mục Phó Giáo phận Vĩnh Long, nhưng ngài vẫn còn chịu trách nhiệm trung tâm nầy cho đến khi đi nghỉ hưu. Những năm qua, với sự cộng tác của các tu sĩ Salésiens Don Bosco, Đức cha rất chú tâm lo việc tái truyền giáo mới, giáo dục giới trẻ bằng phương pháp giáo dục dự phòng và dạy nghề miễn phí. Sau khi Đức Cha Raphae đi nghỉ hưu, trung tâm nầy được giao cho các Linh mục khác trong giáo phận và từ đó cũng chuyển mục đích cụm từ “Trung tâm truyền giáo”. Trung tâm có diện tích 5438 m2. Vừa bước vào khuông viên chúng ta thấy ngôi Nhà thờ danh hiệu Đức Mẹ Sầu Bi khang trang và một tháp chuông cao trên 20m. Đức Mẹ Sầu bi vì ngày xưa Đức Mẹ có bảy sự buồn, nhưng ngày hôm nay Đức Mẹ sẽ vui khi thấy khoảng 300-500 giáo dân trong Nhà thờ của Mẹ chiều dài 26m, chiều rộng 16m và chiều cao 9m tham dự những lễ nghi thờ phượng Thiên Chúa và kính mến Mẹ. Nối tiếp phòng thánh, có những phòng thoáng rộng dùng làm nhà ở cho Cha phụ trách tại vị kể từ năm 2007. Trong Nhà thờ của Mẹ, ngày trong tuần và ngày Chúa nhật đều có thánh lễ cho giáo dân tham dự. Trong năm có những lớp Giáo lý dành cho mọi người muốn đến học. Trong Trung tâm, 15m phía trái, ngang Nhà thờ là một dãy nhà một tầng lầu dài 45m. Dãy nhà nầy có một, hai phòng ở tầng trệt dùng làm phòng ở và làm việc cho các Cha phụ trách (trước năm 2007). Tầng trệt và tầng lầu còn được chia thành nhiều phòng dành cho những khoá huấn luyện quí chức và các anh em truyền giáo, trong đó có phòng ăn, phòng ngủ và các phòng sinh hoạt. Ngày nay những phòng đó dùng làm lưu xá sinh viên cho các em nam sinh viên của các Họ đạo trong Giáo phận đến trọ để đi học ở những trường Cao Đẳng và Đại học tại Vĩnh Long. Đi lần về phía sau, nhất là phía sau Nhà thờ, chúng ta sẽ gặp một sân bóng đá nho nhỏ để cho các anh em sinh viên ở trọ và các anh em thanh niên trong phường đến tập dượt và thi tài cao thấp. Thỉnh thoảng cũng có tổ chức những giải thưởng hạng tầm thường cho các đội bóng vô danh trong phường xóm. Trung tâm truyền giáo không còn hoạt động trong lãnh vực truyền giáo kiểu ngày xưa nữa, nghĩa là không còn tổ chức những khoá huấn luyện cho các cán bộ truyền giáo để họ đi vào những giáo điểm dạy giáo lý, nhưng ngày hôm nay truyền giáo bằng cách khác: mở cửa đón chào mọi người đến Nhà thờ cầu nguyện cho Nước Chúa trị đến. - Trung tâm hành hương FatimaGiáo phận Vĩnh Long hiện có tất cả ba Trung tâm hành hương : Trung tâm hành hương Fatima Vĩnh Long, Trung tâm hành hương Đình Khao kính nhớ Thánh Tử đạo Philipphê Phan Văn Minh và Trung tâm hành hương La Mã Bến Tre kính nhớ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Trên những trang giấy nầy, chúng tôi hân hạnh giới thiệu cùng quí độc giả đôi nét về Trung tâm hành hương Fatima Vĩnh Long. I. Cơ sở vật chất Trung Tâm hành hương Fatima Vĩnh Long toạ lạc tại xã Tân Ngãi, Thành Phố Vĩnh Long. ĐT : 070.3816332 ( Fatima). Xây dựng Trung tâm nầy là sáng kiến của Đức Cha Antôn Nguyễn Văn Thiện. Ngài cho khởi công ngày 17/02/1965 và ngày 13/05/1965 khánh thành Tượng đài và Trung tâm. Ngài muốn cho Giáo phận có nơi để giáo dân xa gần hành hương kính viếng nhớ ngày kỷ niệm Đức Mẹ hiện ra tại Fatima (Bồ Đào Nha) năm 1917, có nơi huấn luyện các hội đoàn và có nơi cho các họ đạo luân phiên đi hành hương. Hằng năm trung tâm nầy tổ chức hai ngày hành hương cấp Giáo phận 12-13/5 và 12-13/10 để khách hành hương cầu nguyện và học hỏi về Đức Mẹ. (N.B. 1/ Cha Stêphanô Bùi Văn Hồng quản lý Giáo phận xây dựng Nhà thờ trước, sau đó mới xây Lễ đài và Tượng đài ; 2/ Linh mục đoàn Giáo phận Vĩnh Long đóng góp để chuộc Tượng Đức Mẹ). II. Ngoại cảnh và ý nghĩa Trung Tâm hành hương Fatima có diện tích khoảng 11.500m2. Mặt trước 79m chạy dọc theo Quốc lộ 1, mặt sau 56m chạy dọc theo sông Cái Côn. Chiều dài từ lộ đến sông 158m. Khu vực đất nầy là do ông Tôma Nguyễn Thới Tứ dâng tặng cho Giáo phận Vĩnh Long, trong khu đất có cơ sở của Dòng Kitô Vua Vĩnh Long. Ông dâng tặng gần hai mẫu đất. Sau năm 1975, Nhà nước Vĩnh Long trưng dụng phần đất của Dòng Kitô Vua và một phần đất của Trung tâm, diện tích bị trưng dụng khoảng 9000m2. Hiện tại, mộ ông Tôma Nguyễn Thới Tứ còn nằm phía sau lưng Tượng đài Đức Mẹ và một nền mộ còn trống dành cho vợ ông. Nhưng không may, bà bị mất tích sau năm 1975. Vị trí địa lý như thế thật thích hợp cho mọi người đến với Mẹ Maria về đường bộ lẫn đường sông. Với đường sông, giáo dân Giáo phận Vĩnh Long đến từ những họ đạo xa xôi 7-8 giờ đồng hồ trên những chiếc tàu chở khách. Họ trôi nổi trên dòng sông Cửu Long và theo sông Cái Côn chạy đến phía sau Trung tâm. Với đường bộ, Quốc lộ 1 rộng rãi đủ chỗ cho xe khách hành hương các loại ghé xuống Trung tâm. Vào Trung tâm hành hương Fatima, nhìn từ phía Quốc lộ, một phần nhỏ phía trái là nhà ở của Dòng Kitô Vua, còn phía phải, cạnh ranh giới cơ sở nhà nước, là ngôi Nhà thờ dài (bao gồm nhà Cha xứ) 50m và rộng 25m có chỗ cho 400 giáo dân tham dự nghi thức phụng vụ, ngày trong tuần và ngày Chúa nhật đều có thánh lễ. Trong những ngày hành hương 12-13/5 và 12-13/10, Nhà thờ nầy là nơi tập trung các toà giải tội cho giáo dân xa gần muốn giao hoà cùng Thiên Chúa và cũng là nơi để chầu Mình Thánh Chúa. Ra khỏi khu vực Nhà thờ, cũng phía Quốc lộ nhìn vào, chúng ta sẽ theo hai con đường đá lát dẫn đến Lễ đài : Một cạnh Nhà thờ dẫn đến phía phải Lễ đài và một ngay giữa sân dẫn đến ngay Lễ đài. Bước lên 7 nấc thang của Lễ đài, trên Lễ đài, có một bàn thờ Dâng lễ ; phía sau bàn thờ là tượng đài Đức Mẹ Fatima. Tượng đài Đức Mẹ cao 8m được xây dựng kiên cố, riêng tượng Đức Mẹ Fatima cao 5m trắng toát chấp đôi tay đỡ lấy tràng chuỗi 50 bằng đá. Mẹ dịu hiền đứng trên một chân đế cao hơn 2m, chấp tay nhìn đoàn con đến với Mẹ và tràng chuỗi trên tay Mẹ nhắc đoàn con của Mẹ phải năng lần hạt Môi khôi để thánh hoá bản thân. Không hẹn mà gặp, không mời mà đến, thật là ngẫu nhiên, tại sao phía sau lưng Tượng đài lại có một cây me trên trăm tuổi có đường chu vi khoảng 6-7m ? Như thế, nhìn toàn cảnh Lễ đài, Tượng đài, và cây me trăm tuổi nầy thì chúng ta có thể tưởng tượng nó giông giống cảnh Đức Mẹ hiện ra trên cây Sồi làng Fatima năm xưa (13/05/1917) với ba em bé. Nếu chúng ta nhìn hai bên, song song với Lễ đài và cách Lễ đài khoảng 10 m, chúng ta sẽ thấy những nhà tiền chế lợp tôle to rộng. Những nhà nầy dùng cho khách hành hương đứng ngồi nghỉ chân đôi chút khi cảm thấy mệt. Phía sau Lễ đài và sau cây me trăm tuổi, là những dãy nhà dành cho những sinh hoạt của trung tâm được các Linh mục phụ trách quan tâm xây dựng : những phòng nghỉ ngơi dành cho khách hành hương, phòng trưng bày những ảnh tượng và sách vở thiêng liêng mà khách hành hương có thể chuộc đem về nhà để tôn kính hoặc thực hành các việc đạo đức khác, phòng dành cho việc ẩm thực trong những ngày lễ hội hành hương và những khu vực dành cho việc vệ sinh. Ngoài khu vực nhà ở Dòng Kitô Vua, khu vực Nhà Thờ, khu vực Lễ đài, phía trước Lễ đài là một sân bãi thoáng rộng (kể cả hai con đường) được che phủ bởi những cây cổ thụ, cho bóng mát đáng kể. Sân bãi nầy là nơi để giáo dân đứng viếng Đức Mẹ và tham dự Thánh Lễ đồng tế được tổ chức trong những ngày lễ hội hành hương. Sức chứa của sân bãi nầy khoảng 4000 người, nhưng có những ngày hành hương giáo dân kẻ ra về người mới đến khoảng 20000 người (trong một ngày). Nếu có dịp nào đó trong những ngày lễ hội hành hương, thì mời độc giả “hãy đến mà xem” một cảnh tượng nói lên lòng sùng kính Đức Mẹ hết sức mình của những khách hành hương. Cũng trong sân bãi nầy, họ trải những tấm vải nylon, đặt đồ đạt cá nhân, tụ họp theo nhóm, theo họ đạo, ngồi ở đấy, đứng ở đấy, ngủ ở đấy, đọc kinh cầu nguyện suốt đêm khi có thể được, vừa đọc kinh hoặc hát cộng đồng, vừa cầu nguyện cá nhân với những tâm sự riêng với Mẹ, nhờ Mẹ chuyển cầu những ước mong, chuyển cầu những ơn xin, cho cá nhân, cho gia đình, cho Giáo hội và cho xã hội. Trung tâm hành hương Fatima cũng là một họ đạo. Số giáo dân hiện có khoảng 700. Thời gian đầu, các Cha Dòng Chúa Cứu Thế phụ trách nơi đây : Cha Tuyên (từ ngày thành lập đến 1968) ; Cha Yến (1968-1975) ; Cha Đức (1975-1980) dòng Phanxicô ; Hai Cha Giáo phận Vĩnh Long tiếp tục : Cha Joachim Hồng Minh Nghiệm (1980-1989) ; Cha Phaolô Lưu Văn Kiệu (1989-). Các việc mục vụ cũng giống như những họ đạo bình thường : ngày Chúa nhật và ngày trong tuần đều có thánh lễ cho giáo dân tham dự, có những lớp giáo lý cho trẻ em và người lớn, Cha phụ trách còn đi công tác mục vụ gia đình, thăm viếng, đưa Mình Chúa, xức dầu bệnh nhân…. III. Chương trình hành hương được tổ chức như sau : Từ ngày thành lập Trung tâm cho đến năm 1975, vào các ngày 13 của các tháng Năm, Sáu, Bảy, Tám, Chín và Mười hằng năm và ngay cả vào các ngày lễ Đức Mẹ và ngày Chúa Nhật đều có đông đảo giáo dân đến tham dự Hành Hương, học hỏi và cầu nguyện, qua việc tham dự Thánh Lễ, Chầu Thánh Thể, Rước Kiệu, Lần Chuỗi, Suy Niệm theo sự hướng dẫn của Linh mục phụ trách. Sau năm 1975, vì hoàn cảnh không thuận lợi, giáo dân các nơi xa rất ít hành hương, chỉ có các giáo dân ở gần, vùng Vĩnh Long vẫn giữ thói quen đạo đức này. Từ năm 1989, Cha Phaolô Lưu Văn Kiệu đặc trách Trung Tâm Hành Hương Fatima Vĩnh Long. Việc hành hương Đức Mẹ, dưới sự đôn đốc, hướng dẫn của Cha, ngày càng khởi sắc. Người tín hữu khắp nơi, nhất là trong Giáo phận, đến tề tựu quanh Mẹ ngày càng đông đảo, đặc biệt trong hai dịp Hành Hương chính thức của Giáo phận Kính Đức Mẹ vào ngày 12-13/05 và 12-13/10 hằng năm. Ngoài ra, vẫn có luôn luôn nhiều đoàn hành hương đến cầu nguyện, tĩnh tâm vào các ngày khác trong năm. Số lượng người tham dự : 12-13/05 hằng năm là khoảng 12.000 người, 12-13/10 là khoảng 18.000 người. Việc tổ chức Hành Hương 12-13/05 và 12-13/10 hằng năm, ngoài việc Đức Giám Mục Giáo Phận hướng dẫn chủ đề học hỏi cầu nguyện và chủ sự Thánh Lễ đồng tế, còn có sự tham dự của các Linh mục trong Giáo phận. Nội dung Hành Hương là học hỏi theo chủ đề về Mẹ Maria. Các việc đạo đức trong ngày hành hương gồm có : cầu nguyện, sám hối, lần chuỗi, kiệu tôn vinh Đức Mẹ, các giờ suy niệm có minh hoạ của các Hội Dòng. Chương Trình hành hương bắt đầu từ 12 giờ trưa ngày 12, các Linh mục hướng dẫn suy niệm, giải tội, cầu nguyện, lần chuỗi. 5 giờ chiều ngày 12, Đức Giám mục Giáo phận chủ lễ khai mạc hành hương. Tối đến, các Dòng Tu trình diễn trên Lễ đài những bài diễn nguyện diễn tả những mầu nhiệm về Chúa và Mẹ Maria, nhắn nhủ khách hành hương, nhớ đến con người thấp hèn, qua lời cầu bàu của Mẹ, được nhiều ơn Chúa, phải biết dâng lên Chúa và Mẹ lời cảm tạ tri ơn và những bài ca chúc tụng. Các hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn, Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum, Dòng Thánh Phaolô Mỹ Tho, Dòng Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn, Dòng Chúa Chiên Lành, Dòng Chúa Quan Phòng phụ trách mục diễn nguyện nầy. Riêng Dòng Kitô Vua và nhiều cộng tác viên chuyên môn đãm nhận nhiều lãnh vực khác để ngày hành hương tiến hành tốt đẹp. Sau những màn diễn nguyện, đến phần lần chuỗi, kiệu Đức Mẹ, có suy gẫm những sự Vui, Thương, Mừng, Sáng. Nghỉ ngơi đôi chút, khách hành hương được mời đến dự buổi chầu Mình Thánh Chúa đặt tại Lễ đài. Sau đó, một thánh lễ của đêm canh thức được tổ chức lúc nửa đêm trong bầu khí êm đềm vắng lặng và thánh thiện. Một đêm với Mẹ Maria thật xứng đáng. Sáng sớm, vào lúc 5 giờ, một Linh mục cử hành thánh lễ đánh dấu một ngày mới, ngài kêu gọi mọi người trở về với thực tại của ngày hành hương và chuẩn bị cao điểm ngày nầy là Thánh lễ đồng tế do Đức Giám mục chủ lễ lúc 9 giờ sáng ngày 13. Buổi lễ được diễn ra rất nhịp nhàng và thứ tự. Sau khi ổn định khách hành hương, đâu vào đấy, đứng trong những khuôn nhân tạo, thì đoàn đồng tế bắt đầu di chuyển từ trong Nhà thờ ra Lễ đài khoảng trên 100m. Đi trước là đội kèn mặc y phục mầu trắng đầu đội mũ kết pi đặc biệt giống như những người quân nhạc oai hùng, họ tấu lên những bài ca nhập lễ liên quan đến lễ Đức Mẹ, lẫn trong tiếng kèn có tiếng hát của toàn thể khách hành hương, việc đó tạo cho buổi lễ thêm phần long trọng và hoành tráng. Kế đến, thánh giá đèn hầu, các hội đoàn, tiếp theo là các Linh mục đồng tế (khoảng trên dưới 80) và sau cùng, Đức Giám Mục đầu đội mũ mitra và tay cầm gậy Mục tử cùng đi với hai Linh mục phụ lễ và những thầy giúp lễ đi theo sau. Các bài đọc, các đáp ca, những bài thánh vịnh được trích trong bộ lễ Kính Đức Mẹ, những bài hát trong Thánh lễ được chọn lọc đều liên quan đến Đức Mẹ. Tuỳ theo đề tài học hỏi trong năm mà Đức Giám mục nhắn nhủ trong bài giảng. Đức Giám mục kết thúc ngày hành hương với những lời tạ ơn Chúa và Mẹ Maria, cám ơn tất cả các Linh mục, tu sĩ nam nữ, các cộng sự viên trong ngày hành hương và ngài cũng xin ơn Chúa phù hộ cho đoàn chiên của Chúa, cho tất cả mọi người ra về bình an và sống an lạc trong vòng tay trìu mến của Mẹ Maria. Mặc dù, nơi trung tâm nầy không có những phép lạ đặc biệt nào xảy ra, nhưng nhờ Mẹ khẩn cầu, ơn phúc của Chúa xuống tận tâm hồn khách hành hương, điều đó làm cho khách hành hương ra về lòng thấy dâng trào niềm vui phơi phới và như còn vương vấn một điều gì với Mẹ, nhưng cũng đành phải chờ ngày lễ hội hành hương lần tới. IV. Lời kết “Hãy đến Trung tâm mà xem” để nghe lời Mẹ nhắn nhủ.Mẹ nhắn nhủ đoàn con phải cầu nguyện, phải hy sinh và ăn năn đền tội cho các tội nhân đáng thương đang xúc phạm đến Thiên Chúa để thánh hoá cuộc sống của mình và của tha nhân và đặc biệt là để được cứu rỗi. “…Nếu chúng con muốn được phục sinh vinh hiển thì chúng con cần cầu nguyện. Không cầu nguyện, chúng con không thể trung thành phục vụ Thiên Chúa. Không cầu nguyện chúng con sẽ càng ngày càng xa cách Chúa. Cầu nguyện làm cho chúng con trung thành sống trong ơn nghĩa Chúa, gần gũi Chúa, gần gũi Chúa làm cho chúng con tránh xa những đam mê, những cơn cám dỗ của ma quỉ, xác thịt và thế gian. Được như thế, chúng con sẽ hưởng phúc Thiên Đàng cùng với Mẹ. …Nếu chúng con muốn được phục sinh vinh hiển, thì chúng con phải hy sinh. Sự hy sinh dù nhỏ nhất trong những hy sinh mà chúng con thực hiện để khước từ mọi đam mê vật chất thì không trái ý Thiên Chúa bao giờ. Phần thưởng đời đời sẽ cân xứng với sự hy sinh, sự tự chế ở đời này. Tự chế bằng cách giờ đây chúng con từ bỏ những gì thuộc về tội lỗi, dù đó là những điều chúng con ưa thích nhất, và chịu đựng những gì làm đẹp lòng Thiên Chúa, dù đó là những điều làm chúng con đau đớn nhất. Được như thế, chúng con sẽ hưởng phúc Thiên Đàng cùng với Mẹ. …Nếu chúng con muốn được phục sinh vinh hiển, thì chúng con cũng phải sám hối. Có sám hối con người mới thấy mình có tội. Nhận ra mình có tội nên cầu xin ơn tha thứ. Người không sám hối thì luôn thấy mình vô tội, nên sống dửng dưng, thờ ơ đối với TC, đối với tha nhân, không tỉnh thức, sẽ trở tay không kịp khi Chúa đến. Được như thế, chúng con sẽ hưởng phúc Thiên Đàng cùng với Mẹ…”. Đó là sứ điệp Mẹ muốn gởi đến với từng người khách hành hương và tất cả chúng ta. “Hãy đến Trung tâm mà xem” để chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa trước hết vì Ngài đã thực hiện những điều kỳ diệu nơi Mẹ Maria : Mẹ Maria trở thành Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Maria vô nhiễm nguyên tội, Mẹ Maria hồn và xác lên trời, Mẹ Maria là Nữ Vương Thiên Đàng. Chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài cho chúng ta có được người mẹ xứng đáng như thế. Mẹ như thế thì đoàn con cũng được thơm lây. Riêng Giáo phận Vĩnh Long chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa vì Ngài đã ban cho Giáo phận có được một địa điểm, và đã ban cho các Đấng bề trên Giáo phận có sáng kiến thành lập một Trung tâm hành hương thật quí giá ; Chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa vì toàn thể đoàn chiên của Chúa đều tỏ lòng kính mến Mẹ, tỏ lòng kính mến Mẹ nên số người hành hương càng ngày càng đông, và ngày nay số người hành hương nầy không còn bị giới hạn ở trong Giáo phận nữa, nhưng Trung tâm đã đón nhận rất nhiều khách hành hương đủ mọi thành phần đến từ các Giáo phận khác ; Chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa vì những việc đạo đức và những bài giáo huấn của Đức Giám mục, những bài học hỏi của những vị Linh mục và các Tu sĩ nam nữ đã cung ứng cho khách hành hương như những món ăn tinh thần rất bổ ích. Chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa vì cộng đoàn hành hương đã nhận nhiều ơn lành vô hình vô tượng : những ngày đẹp trời, đi lại được bình an, được gặp gỡ nhau và được cùng một lòng một ý ca tụng Thiên Chúa qua Mẹ Maria. Sau cùng, nhờ lời cầu bàu của Mẹ Maria, chúng ta hãy cầu xin Thiên Chúa cho những lần lễ hội hành hương sắp tới được diễn ra tốt đẹp, tốt đẹp về nhiều phương diện : đẹp lòng Thiên Chúa, đẹp lòng Mẹ Maria, đẹp lòng mọi người trong tất cả chiều sâu của nó. - Trung tâm hành hương Đình Khao Địa chỉ: xã Thanh Đức, huyện Long Hồ (gần phà Đình Khao Cổ Chiên). Ngày 03/07/1853 Thánh Philipphê Phan Văn Minh đã tử đạo tại Đình Khao, máu của Thánh Minh sẽ là hạt giống làm nảy sinh những người Kitô hữu. Ngay từ khi nhận nhiệm vụ chủ chăn Giáo Phận Vĩnh Long năm 1938, Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục đã tôn vinh Á Thánh Philipphê Phan Văn Minh vị anh hùng đã tử đạo tại sân Đình Khao vào ngày lễ Chúa Nhật Mình Máu Thánh Chúa 3/7/1953, nhận ngài là bổn mạng Giáo Phận Vĩnh Long và sau này là bổn mạng Tiểu Chủng Viện Vĩnh Long, 88 Trưng Nữ Vương- F1- Thành phố Vĩnh Long. Sau ngày Giáo Phận Vĩnh Long kỷ niệm long trọng mừng 100 năm Á Thánh Minh tử đạo, cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang (1965 là Giám Mục Cần Thơ thay thế Đức Cha Philipphê Nguyễn Kim Điền nhận chức Tổng Giám Mục Huế), lúc đó là Cha sở Nhà thờ Chánh tòa Vĩnh Long đã xúc tiến mua một thửa đất gần chỗ Á Thánh Minh tử đạo để xây một trung tâm. Trung tâm nầy là nơi tôn kính Á Thánh Minh : Nhắc giáo dân Vĩnh Long nhớ đến vị Thánh bổn mạng Giáo phận, gương mẫu sống tuyệt vời và tuyên xưng đức tin vào Chúa Kitô, vào Thiên Chúa trên đất Vĩnh Long. Đức Giám mục Giacôbê Nguyễn Văn Mầu đã thành lập Trung Tâm Hành Hương năm 1980 để giáo dân xa gần hành hương, cầu nguyện và học hỏi vào ngày 3-7, kính nhớ Á Thánh Philipphê Phan Văn Minh, bổn mạng địa phận và ngày 24-11 kính nhớ Á Thánh Anrê Dũng Lạc và các bạn tử đạo (các Thánh Tử Đạo Việt Nam). Trung tâm hành hương Đình Khao được xây dựng trên phần đất với tổng diện tích 9000m2. Bước qua cổng trung tâm, chúng ta thấy tượng Thánh Philipphê Phan Văn Minh 2m mặc trang phục vị Linh mục của Chúa với gương mặt rất đẹp và rất trẻ trung bởi vì khi chết ngài được 38 tuổi xuân. Phía phải có một Nhà thờ nhỏ dành cho bổn đạo xứ Đình Khao tập hợp thờ phượng Thiên Chúa và cho khách hành hương Chầu Mình Thánh trong những ngày hành hương. Sau Nhà thờ là những dãy nhà sinh hoạt của họ Đạo và của trung tâm. Xa xa phía trái, một nhà tiền chế rộng rãi dùng để làm nhà ăn, nhà sinh hoạt chung cho những khách hành hương. Đi qua khoảng sân rộng 4000m2 dành cho giáo dân tham dự thánh lễ là Lễ đài ở phần cuối trung tâm. Trên sân nầy Linh mục phụ trách đã cho trồng những hàng cây xinh đẹp có tàn rộng và cho bóng mát dễ chịu. Sân nầy tập trung từ 2000 đến 3000 khách hành hương và cũng là chỗ dành cho hàng ngàn em thiếu nhi Thánh Thể sinh hoạt nhảy múa. Lễ đài hiện đang sử dụng được xây dựng năm 2003 cao 1m2, ngang 20m và chiều sâu vào trong là 8m, có mái che cho khoảng 200 Linh mục đồng tế. Gần Trung Tâm Hành Hương Đình Khao còn có một di tích khác nữa. Đó là Đài kính Thánh Philipphê Minh. Cạnh bờ sông Cổ Chiên, gần bến phà Đình Khao Vĩnh Long, có một ngôi Chùa cổ tên Bửu Long cùng với cây dương có lẽ hai cảnh vật nầy độ tuổi trên cả trăm năm. Và cũng gần đây chính là nơi khi xưa Thánh Philipphê Phan Văn Minh bị chém đầu. Chủ Chùa đã chuyển nhượng cho Nhà thờ Đình Khao một mảnh đất nhỏ với diện tích 35 m2 ngay trong sân Chùa để dựng tượng đài kính Thánh Philipphê Minh. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2008, Trung tâm Hành hưong Đình Khao đã khởi công xây dựng. Nhân ngày kỷ niệm khai mạc năm thánh thánh hoá Linh mục, 19 tháng 6 năm 2009, Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân đã đến làm phép tượng đài cùng với một số Cha hạt trưởng, các Cha trong Giáo phận và giáo dân của các họ đạo chung quanh đến tham dự. Lạy Thánh Philipphê Minh. Cầu cho chúng con. Chương trình hành hương được tổ chức như sau : Từ cuối năm 1990, với sự động viên và hỗ trợ của Đức Cha phó Raphae Nguyễn Văn Diệp, Cha Giuse Đinh Quang Lục bắt đầu tổ chức hành hương vào ngày 2-3/7 và ngày 23-24/11 hàng năm để kính Thánh Philipphê Phan văn Minh và các Thánh tử đạo Việt Nam. Cha Giuse Lục cảm nhận ra Cha Giacôbê Quang đã dự kiến trong tương lai giáo phận Vĩnh Long phải đến hành hương làm sống lại dấu ấn anh hùng Tử Đạo. Về Đình Khao trông lại dấu ấn, Cha Giacôbê đã mua hơn hai công vườn. Sau đó, Cha Bênêđictô Thắng, Cha sở Chính toà, cũng linh cảm số người đến Đình Khao kính viếng vị anh hùng tử đạo của giáo phận sẽ đông, nên Cha Bênêđictô mua gần bảy công ruộng của bà Phan thị Lài. Đến tay Cha Giuse Lục, những dự kiến và linh cảm của các vị tiền nhiệm phải trở thành hiện thực. Cha Giuse vẫn luôn luôn có ý tưởng trong đầu : sỉ số người đến Đình Khao những ngày đầu thì ít, nhưng mai ngày đông đảo mấy hồi. Trong cái nhìn lâu dài của Cha Giuse Lục thì Đình Khao là nơi giới thiệu và trình bày cuộc đời, ảnh hưởng của cha Thánh Philiphê Minh, đồng thời là nơi tiến hành việc giáo dục đức tin của Giáo phận. Với các Thánh Tử Đạo Việt Nam (TTĐVN), Đình Khao là một trường đào luyện các giới lớp của Giáo phận. Với cái nhìn đó, Cha Giuse đã dùng văn nghệ, đố vui để học những đề tài liên quan đến Thánh Minh và việc Tử đạo, để mọi người hiểu biết và làm quen với Thánh Minh và các TTĐVN. Cha Giuse Lục đã sắp xếp chương trình chiều 2/7 và 23/11 sẽ có những giờ cầu nguyện, xưng tội. Thánh Lễ khai mạc lúc 5giờ chiều. 7giờ chương trình vui để học, học để sống vui qua văn nghệ : Đố vui để học. Chương trình này có chủ đề thay đổi hằng năm được các họ đạo, các nhà dòng như Mến Thánh Giá Cái Nhum và Mến Thánh Giá Cái Mơn tích cực đóng góp. Người đóng góp thì học sâu, người tham dự thì nghe lâu. Nghe nhiều cũng rành rẽ. 10giờ30 bắt đầu đi Kiệu. Thánh giá nến cao và các người có trách nhiệm cung kính khiêng kiệu Thánh Thể (có Mình Thánh Chúa). Thánh Thể như là nguồn sống và hiến tế mẫu mực của vị “Tử Đạo tiên khởi” tuyệt vời. Chính nơi Đức Giêsu Kitô mà các Thánh Tử Đạo cùng chịu đau khổ và chịu chết. Các ngài là những người đã bền tâm quyết chí đi trên đường của Chúa Kitô, con đường khổ giá, con đường khổ nạn dẫn tới vinh quang. Sau kiệu Thánh Thể là tượng và xương của Thánh Minh và các TTĐVN, những chứng nhân đã hoàn thành sứ mạng, kiên tâm theo Chúa trong lao nhọc thử thách gian nan, đã trung kiên bám chặt lấy Chúa tới hơi thở cuối cùng. Những người yêu Chúa tuyệt đối, không tiếc nuối điều gì, thà mất hết mọi sự kể cả con người và mạng sống, thề quyết không để mất Chúa. Các Ngài đã chọn Chúa một cách quyết liệt, đã dâng hiến một cách hoàn toàn. Các Ngài là mẫu gương cho mọi tín hữu noi theo để sống đức tin giữa lòng dân tộc. Sau khi kiệu xong, đặt Mình Thánh chầu, có hôn xương Thánh và có chia phiên chầu cho đến 4giờ30 sáng ngày 3/7 hay 24/11. Ngày 3/7 hay 24/11, 5giờ thức dậy, 5giờ30 phụng vụ kinh sáng, nguyện gẫm. 6giờ Thánh lễ, tiếp tục học hỏi, lãnh Bí Tích Giải Tội. 9giờ30 tập hát thánh lễ trưa do Đức Cha chủ tế. Chương trình vẫn tiếp tục rời rạc vì ít người, đến 4giờ30 chiều lễ kết thúc ngày hành hương. Trung tâm Đình Khao là nơi cầu nguyện cho các Linh mục và Tu sĩ sống đúng ơn gọi của mình, nhiệt tâm phụng sự Chúa và phục vụ các linh hồn. Các vị là muối men, là ánh sáng làm tươi mát bộ mặt của giáo phận Vĩnh Long. Từ năm Thánh 2003 để kỉ niệm 150 năm Thánh Minh Tử Đạo, sinh hoạt về đêm thay đổi với diễn nguyện theo chủ đề giúp khách hành hương nghe và nhìn. Các Cha dẫn giải, nhìn những hoạt cảnh để thêm hiểu biết và tích cực cầu nguyện. Cũng trong năm Thánh, Đức cha Tôma có phong chức Linh mục cho các phó tế thuộc khóa K5A theo học tại Đại Chủng Viện Thánh Quý, Cái Răng, Cần Thơ. Cũng từ đây những cuộc hành hương gắn liền với đào luyện Thiếu Nhi giáo phận vào ngày 2/7 và đào luyện Quới Chức vào ngày 23/11 hàng năm. Các Cha phụ trách Trung Tâm Đình Khao: Từ 1962 - 1965 cha Giacôbê Nguyễn Ngọc Quang; Từ 1965 - 1973 cha Benoit Trương Thành Thắng ; Từ 1973 - 1977 cha Phaolô Trịnh Công Trọng; Từ 1977 - 1990 cha Antôn Ngô văn Thuật; Từ 1990 - 2003 cha Giuse Đinh Quang Lục; Từ 2003 - cha Tađêô Nguyễn văn Don; Các Cha lo mục vụ tại họ Đình Khao: Từ 1.1.1990- 1.12.2002 cha Giuse Lục; Từ cuối năm 2002-2006 cha Giuse Nguyễn Tiến Khoa; Từ 2007- cha Micae Nguyễn Hồng Sung. - Trung tâm hành hương Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp (La Mã, Bến Tre): Địa chỉ: xã Hương Nhượng, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre (cách chợ Sơn Đốc 2 km). Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục thành lập năm 1951 để kính nhớ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. La Mã là tên Đức Cha Phêrô Ngô đình Thục đặt cho một Họ Đạo mới được thành lập năm 1949, trước kia gọi là Bầu Dơi, thuộc làng Hiệp Hưng, tỉnh Bến Tre, miền Tây Nam Việt Nam. Bầu Dơi là một cánh đồng u minh đầy sông rạch, quanh năm ngập lụt, chỉ lưa thưa mấy xóm nhà lá nông phu nghèo nàn. Vì chiến cuộc, nên bổn đạo Sơn Đốc kéo xuống Bầu Dơi lánh nạn. Một đêm trời tối, ông Biện Nguyễn văn Hạt lẻn về Nhà thờ Sơn Đốc đem bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp lồng kiếng về gửi tại nhà người con là anh Nguyễn văn Thành. Ngày 2 tháng 2 năm 1950, quân đội Pháp bố ráp vùng Bầu Dơi, nhà anh Nguyễn văn Thành bị phá và bức ảnh Đức Mẹ bị mất. Ba tháng sau, ngày 5 tháng 5 năm 1950, một bà lão theo đạo Cao Đài tên là Võ thị Liềng đi xúc cá tình cờ gặp được bức ảnh dưới một con rạch. Bức ảnh còn đủ kiếng, nhưng đã phai hết mầu, không còn hình dáng gì hết, chỉ toàn mầu bùn lầy lấm lem. Bà lão tri hô nên và nhiều người xúm lại. Họ biết đó là bức ảnh gởi nhà anh Thành. Anh Thành nhận bức ảnh đem về, nhưng vì lem luốc nên dùng để che sương nắng nơi vách nhà thủng rách. Ông Biện Hạt thấy vậy, sợ bất kính nên đem bức ảnh về nhà mình đặt trên tủ bàn thờ dưới tượng Thánh Tâm. Lễ Đức Mẹ Mân côi, ngày 7 tháng 10 năm 1950, Bầu Dơi lại một lần nữa chìm trong khói lửa, dân làng chạy trốn hết. Nhà ông biện Hạt cũng bị bắn phá tan nát, nhưng ông và người con út tên Trọng, mười bốn tuổi, không kịp chạy nên đành nằm núp dưới vách lá sau tủ thờ. Hai cha con kêu cầu Đức Mẹ luôn miệng. Sau cơn bố ráp, ông Hạt và con trai chạy ra thấy cột kèo xiêu đổ, nhà bị đạn xuyên tứ phía, duy có bàn thờ là không sao. Hai cha con thoát chết đến trước bàn thờ cám ơn Đức Mẹ. Ôi lạ quá! Bức ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp ở dưới bùn hơn ba tháng đã phai nhạt hết, nay phút chốc lộ hình ra tốt đẹp và xinh tươi lạ lùng, ngoại trừ hai mũ triều thiên thì đến ngày 15 tháng 8 năm 1951 lễ Đức Mẹ Mông Triệu mới lộ rõ. Dân làng tuôn đến xem sự lạ đều sửng sốt. Các giáo hữu bàn tán rất sôi nổi về bức ảnh lạ. Nhiều người đem lòng tin. Cha Luca Sách, cha sở Họ Cái bông dè dặt rước bức ảnh về nhà thờ họ Cái Bông. Đến ngày 20 tháng 6 năm 1951, sau khi đã trang hoàng lại nhà Thờ, bổn đạo rước Đức Mẹ về lại La Mã cách trọng thể, có cả tín đồ các giáo phái khác cùng tham dự. Tiếng lành đồn xa, giáo hữu các nơi đua nhau đến kính viếng Đức Mẹ. Nhiều ơn lạ đã được thông ban. Một ngôi Thánh Đường khang trang mọc lên giữa vùng đồng chua nước mặn. Một bầu không khí đạo hạnh bao phủ khắp miền, minh chứng hùng hồn cho sự hiện diện đầy tình Mẫu tử yêu thương của Đức Mẹ. Trong ba ngày khánh hạ (ngày 11, 12, 13 tháng 1 năm 1957), năm vị Giám mục, hằng trăm linh mục và tu sĩ, hàng vạn giáo hữu và rất nhiều người vị vọng đã đến chầu Đức Mẹ. Người hành hương ra về, lòng tràn ngập niềm tin tưởng vô biên vào lòng từ ái vô cùng của Đức Mẹ. Nhiều đồng bào bên lương cũng được Đức Mẹ bang trợ các ơn lành hồn xác, vì thế đã có nhiều người xin tòng giáo. Họ đạo La Mã trước đây chỉ vỏn vẹn có năm mươi nhân danh mà nay đã tăng lên hơn năm trăm. Mẹ thật là Nữ Vương Việt Nam. (Trích từ mục : Đức Mẹ La Mã , trang 299-301, trong “Từ Điển Đức Mẹ” ) Chương trình tại Đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp La Mã Năm 2009 Giờ Lễ * Ngày Chúa nhật & Lễ Trọng: * Thứ Bảy Đầu tháng & ngày 13: * Đặc biệt Ngày truyền thống 5-5 kỷ niệm ngày tìm lại được ảnh Đức Mẹ thất lạc: * Lễ Đức Mẹ Hằng cứu giúp 27 tháng 6: Đại Chủng Viện Vĩnh Long toạ lạc tại số 75 đường Nguyễn Huệ, Phường 2, Thành phố Vĩnh Long, cơ sở nầy có nguồn gốc do Giáo Phận Vĩnh Long mua vào năm 1939, theo tờ đoạn mãi lập ngày 12/08/1939. Năm 1957 Giáo Phận xây dựng cơ sở II Tiểu Chủng Viện Vĩnh Long và đây cũng là Trung tâm Truyền giáo. Năm 1960, năm trưởng thành của Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Toà Thánh Vatican thiết lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam chính thức. Nhiều Giáo phận mới được thành lập và tấn phong nhiều Giám mục, nhiều Tiểu Chủng Viện và Đại Chủng Viện được mở ra. Từng Giáo phận tại địa phương đều mở Tiểu Chủng Viện, trong khi đó Đại Chủng Viện thì mở theo từng vùng lớn bao gồm nhiều Giáo phận. Đại Chủng Viện Vĩnh Long là nơi tập trung các Đại chủng sinh của bốn Giáo phận miền Tây : Mỹ Tho, Vĩnh Long, Cần Thơ và Long Xuyên. Đại Chủng Viện Vĩnh Long là toà nhà mà trước kia được sử dụng như cơ sở II Tiểu Chủng Viện Vĩnh Long. Từ năm 1964 Đại Chủng Viện bắt đầu đào tạo các Linh mục phục vụ cho Giáo phận. Những năm đầu nhờ các Cha Xuân Bích đảm trách đào tạo. Năm 1968, Đại Chủng Viện xây thêm dãy nhà thứ hai và nhà nguyện. Năm 1969, các Cha Xuân Bích giao lại cho bốn Giáo phận liên hệ phụ trách Đại Chủng Viện. Các Giám mục phải cử Linh mục Giáo sư đến giảng dạy, dĩ nhiên trong thời gian nầy Đại Chủng Viện gặp khó khăn về việc thiếu thốn Cha giáo. Tính từ khoá đầu tiên được phong chức Linh mục 1972, Đại Chủng Viện đào tạo được bốn khoá làm Linh mục cho cả bốn Giáo phận trước 1975. Sau 1975, các Đại chủng sinh còn lại chưa hoàn thành các môn học được giao về cho Giáo phận gốc đào tạo tiếp tục. Tuổi thọ không cao, Đại Chủng Viện đã bị Nhà nước địa phương trưng dụng theo quyết định số 1957/ QĐ.UBT ngày 06/09/1977 của UBND tỉnh Cửu Long và cho đến nay. - Tiểu Chủng Viện Á Thánh Philipphê Phan Văn Minh.A. Lược sử Toạ lạc trên khu đất có số nhà 88 Trưng Nữ Vương, xã Long Châu, quận Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, giáp với trường Nam tiểu học và trường trung học Nguyễn Thông, Tiểu Chủng Viện Thánh Philipphê Phan Văn Minh Vĩnh Long được xây dựng từ năm 1943 và hoàn thành năm 1944 dưới quyền của Đức Giám Mục Phêrô Martinô Ngô Đình Thục, đương quyền cai quản địa phận Vĩnh Long (1938-1960). Để đáp ứng nhu cầu mục vụ trong địa phận ngày càng nhiều, ngày 15/8/1944, khai giảng Tiểu chủng viện Á Thánh Philipphê Phan Văn Minh gồm 3 lớp : Đệ Bát, Đệ Thất và Đệ Lục với 75 chủng sinh. Từ ngày mở lớp đầu tiên đến nay Tiểu Chủng Viện Vĩnh Long đã đóng góp rất nhiều trong việc đào tạo Linh mục và đã mang lại kết quả đáng khích lệ với con số 130 Linh mục và 1 Giám mục xuất thân từ Tiểu Chủng Viện nầy : Giám Mục Tôma Nguyễn Văn Tân. Trải qua thời gian và không gian, các Linh mục nầy cộng tác tích cực với các Đức Giám mục trong công tác mục vụ, trong lãnh vực truyền giáo và ban phát các Bí Tích cho giáo dân. B. Các chiều kích đào tạo. - Đào tạo đạo đức. Các Cha Giám đốc và các Cha Giáo Tiểu Chủng Viện Á Thánh Philipphê Phan Văn Minh đã hy sinh rất nhiều về vật chất lẫn tinh thần để đào tạo các Chủng sinh qua các thời kỳ và các thế hệ khác nhau theo đúng mục đích và linh đạo của Hội Thánh Công Giáo đề ra để các chủng sinh nầy trở thành những Linh mục như lòng Chúa mong ước. - Đào tạo tri thức. Chương trình giáo dục đào tạo tri thức của Chủng sinh được thích ứng theo từng thời điểm và theo nhu cầu của địa phận : Chủ yếu là làm sao để cho các Chủng sinh có một trình độ tri thức tối thiểu tương đương với bậc Tú Tài II dân sự. Những năm của thập niên 50 đến 70 chương trình học dựa vào chương trình của Pháp (l’enseignement français). Từ năm 1970, chương trình học được chuyển đổi sang chương trình Việt của Bộ Quốc Gia Giáo Dục ấn định. - Đào tạo thể lý. Dĩ nhiên, lãnh vực nầy ít được Tiểu Chủng Viện chú trọng, nhưng dù vậy, ban giám đốc cũng quan tâm đến tình trạng sức khoẻ của Chủng sinh, nên đã cho xây những sân chơi như sân bóng chuyền, sân bóng rổ và thỉnh thoảng có cho phép sang chơi ở trên sân bóng đá của thành Vĩnh Long. C. Cơ sở vật chất. Từ năm 1944, Chủng viện Vĩnh Long sinh hoạt trong những dãy nhà một tầng lầu gọi là khu A, được xây dựng vào thập niên 40, trong đó bao gồm nhà Nguyện, phòng ngủ, các phòng học, nhà cơm, nhà tắm và nhà bếp….Trong những năm 60, một số lớp phải lên cơ sở II Tiểu Chủng Viện (Đại Chủng Viện bây giờ) để học vì không đủ chỗ ở Tiểu Chủng Viện. Năm 1964, cơ sở II Tiểu Chủng Viện trở thành Đại Chủng Viện nên Đức Giám mục giáo phận và ban Giám đốc đi đến một quyết định mới. Quyết định đó là từ niên khoá 1965 đến 1975, mở thêm một cơ sở nữa, khu B (Dưỡng Đường Thánh Minh), bên cạnh khu A cách nhau bởi một bức tường. Ngày nay, khu B nầy trở thành Nhà Dưỡng Lão cho các Linh mục Giáo phận Vĩnh Long. Ngày hôm nay 2009, những dãy nhà cũ kỷ của khu A được sửa sang mới. Nhà chơi của những năm trước 1975 nay trở thành một dãy nhà lầu hai tầng dùng để làm nhà sinh hoạt, phòng ngủ và các phòng học. Một nguyện đường khang trang được xây dựng lại dài 27m, rộng 17m cao 7m, có thể chứa con số giáo dân 200-300. Hằng ngày có hai thánh lễ dành cho giáo dân tham dự. Vào những dịp Linh mục tĩnh tâm, Nhà nguyện là nơi cầu nguyện và dâng lễ của các đấng. Tiểu Chủng Viện Vĩnh Long bị đóng cửa từ năm 1975, nên từ năm 1991, hằng năm Tiểu Chủng viện có mở khoá mới vào tháng 9 để đào tạo dự tu. Các dự tu nầy sống ở chủng viện và học hỏi những môn học cần thiết từ hai năm trở lên, để chuẩn bị lên Đại Chủng Viện Cần Thơ. - Hai Thánh Tử đạo Giáo phận Vĩnh Long Giáo phận Vĩnh Long rất hãnh diện cống hiến cho Giáo Hội của Chúa hai vị Thánh Tử đạo trong thời kỳ cấm đạo thế kỷ XIX. Trong thời các vua nhà Nguyễn cấm đạo (1833-1862), và nhóm sĩ phu tàn sát Công giáo (1867-1872), Cha Thánh Philipphê Phan Văn Minh và Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu (trùm họ) thuộc Giáo phận Vĩnh Long đã dùng mạng sống để minh chứng Tin Mừng Đức Kitô trước nhà cầm quyền. Thánh Philipphê Phan Văn Minh, Linh mục. Thánh Philipphê Phan Văn Minh sinh năm 1815 tại họ Cái Mơn, thuộc Vĩnh Long trong một gia đình Công giáo đạo đức. Ngài được Đức Cha Taberd cho vào Chủng viện Lái Thiêu 1828. Đến năm 1840 ngài được gởi học tại Đại Chủng viện Pinang (Mã Lai). Sau sáu năm học tập và tu luyện, ngài trở về quê hương và thụ phong Linh mục vào năm 1846. Vào cuối năm 1852, lệnh cấm đạo trở nên gắt gao, ngài phải vâng lệnh bề trên, đến trú ẩn tại họ Mặc Bắc, nhưng lại lãnh triều thiên tử đạo. Nguyên lúc ấy, có tên bếp Nhẫn say mê cờ bạc rượu chè, vì hy vọng vào tiền thưởng, nên đã đi báo quan đem quân về bắt Cha Phêrô Lựu, chánh sở Mặc Bắc. Không gặp được Cha Phêrô Lựu, quan quân lại bắt được Cha Minh trong đêm 25/2/1853, cùng với chủ nhà cho trú ẩn là ông Trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu và một số giáo dân nữa. Tất cả họ bị điệu về Vĩnh Long. Trong ngục, ngài Philipphê Minh luôn luôn hãnh diện vì là Linh mục và đầy lòng thương mến các bạn tù, dù phải chịu hình khổ và nhiều điều sỉ nhục. Vì không lay chuyển nổi đức tin sắt đá của ngài, các quan đã lên án “phát lưu ra Bắc” và đệ án vể Kinh xin châu phê. Vua Tự Đức không nghe, truyền lệnh phải xử tử. Ngày3/7/1853, ngài bị điệu đi xử trảm tại pháp trường Đình Khao (Vĩnh Long). Đức Thánh Cha Piô IX đã suy tôn Cha Philipphê Phan Văn Minh lên bậc Đáng Kính ngày 27/09/1857. Đức Thánh Cha Lêô XIII đã tôn phong ngài lên hàng Á Thánh ngày 27/5/1900 và ngày 19/6/1988, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã suy tông ngài lên bậc Hiển Thánh. Giáo phận Vĩnh Long và Chủng Viện Vĩnh Long đã nhận thánh Philipphê Phan Văn Minh làm thánh Bổn mạng, và mừng lễ kính vào ngày 3 tháng 7. Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu, Trùm họ. Sinh năm 1790 tại Họ Đạo Cái Nhum, Vĩnh Long, Thánh nhân được giáo dục từ nhỏ trong một gia đình đạo hạnh. Lớn lên, Ngài được bầu làm trùm họ ở Mặc Bắc. Ngài luôn luôn tỏ ra đời sống Kitô hữu gương mẫu trong thời cấm đạo. Ngày 25/2/1853, ngài cùng bị bắt với Cha Philipphê Phan Văn Minh tại họ đạo Mặc Bắc và cùng được giải về Vĩnh Long. Trong tù, bị tra tấn, chịu đòn vọt, ngài vẫn cương quyết giữ vững đức tin. Vì tuổi già sức yếu, bị đi đày ở Châu Đốc và được đưa trở lại khám đường Vĩnh Long, lại phải đeo gông mang xiềng nặng và chịu nhiều cực hình, ngài đã chết rũ tù ngày 2/5/1854 để nhận triều thiên tử đạo. Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã ban tặng ông Trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu lên bậc Đáng Kính ngày 13/02/1879. Đức Thánh Cha Piô X đã tôn phong ngài lên bậc Chân Phước ngày 2/5/1909 và ngày 19/6/1988 Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong lên bậc Hiển Thánh. Giáo phận Vĩnh Long đã chọn Thánh Giuse Trùm Lựu làm Bổn mạng cho hàng Quí Chức, và mừng lễ kính hàng năm vào ngày 2 tháng 5. Trong giáo phận có nhiều chùa Khơ Me nổi tiếng, nhất là ở Trà Vinh như : Chùa Hang (Mồng Rầy), chùa Âng (Angkorette Pali), chùa Nôdol, chùa Hạnh Phúc Tăng (Saghamangala). Ngoài ra, còn có một số danh lam thắng cảnh khác như: ao Bà Om (ao Vuông), ở Trà Vinh, Cồn Phụng ở Bến Tre, cồn Tiên ngang gần Giáo xứ Cái Mơn. V. CÁC DÒNG TU TRONG GIÁO PHẬNDòng Mến Thánh Giá Cái NhumHội Dòng MTG Cái Nhum được thành lập ngày 16/6/1800 do Đức Cha Jean Labartette. Hội Dòng nầy là Dòng tu địa phương thuộc thẩm quyền Giám Mục địa phận. Hội Dòng được thành lập đúng với Hiến Chương, tinh thần và mục đích của Dòng Mến Thánh Giá đầu tiên do Đức Cha Lambert de la Motte lập năm 1670 tại Việt Nam, với mục đích cộng tác trong công việc truyền giáo với hàng giáo sĩ trong nhiều lãnh vực khác nhau : giáo dục, dạy giáo lý, phụng vụ…. Trong thời gian đầu, hoạt động Tông Đồ của Chị Em chưa có được hình thức tổ chức hẳn hoi. Chị Em chỉ dùng cuộc sống âm thầm, cầu nguyện, hy sinh trong phận vụ. Chuyên chăm lao động chân tay, vất vả trong việc làm vườn, làm rẫy… sống hòa hợp với mọi người chung quanh, nhờ vậy mà có thể thăm viếng bệnh nhân, nâng đỡ người sầu khổ, khuyên nhủ kẻ rối rắm và các cô gái lầm lỡ, rửa tội cho trẻ em nguy tử … Nếp sống đơn sơ đạm bạc này là cơ hội cho Chị Em hướng nhìn về Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Hiện nay, các chị em Hội Dòng luôn tuân giữ ba chiều kích lớn của linh đạo Mến Thánh Giá : chiêm niệm, khổ chế, tông đồ để hiến trọn cuộc đời cho Chúa : phục vụ Chúa và Giáo Hội của Người. Trong lãnh vực phục vụ Giáo Hội : - Dạy giáo lý cho trẻ em và những dự tòng. – Mang Mình Thánh Chúa cho những bệnh nhân không đi đến nhà thờ được. – May Lễ phục phụng vụ. – Trang hoàng bàn thờ. - Tập hát các lễ nghi phụng vụ. Trong lãnh vực xã hội. - Mở những khoá dạy may và thêu cho các thiếu nữ. - Phục vụ và giúp đỡ các gia đình nghèo không có phương tiện sinh sống. – Vãng gia : Thăm viếng người nghèo khổ, bệnh nhân và người bị bỏ rơi. - Hoàn lương thiếu nữ trụy lạc.- Dạy nhà trẻ, mẫu giáo, lớp học Tình Thương ... Giữ trẻ và giáo dục chúng để cha mẹ chúng đi làm việc. - Khám bệnh và phát thuốc từ thiện. Chương trình giúp vốn cho người nghèo và học bổng cho học sinh nghèo, hiếu học Thành phố và các Tỉnh. Ngoài các việc làm thường xuyên Hội Dòng cũng có cổ động giúp đỡ các đồng bào nạn nhân trong các biến cố thiên tai bão lụt. - Cùng với các việc làm tại các cơ sở Chị Em trong Hội Dòng cũng tham gia vào các ban ngành đoàn thể như : Hội Chữ thập đỏ, Hội Phụ nữ, Hội bảo trợ người tàn tật… Nhân sự : Tính vào thời điểm 2009, Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Nhum tập họp 218 nữ tu trong đó có 160 nữ tu khấn trọn (kể cả 29 nữ tu hưu dưỡng) ; 58 nữ tu khấn tạm ; 21 tập sinh ; 43 thỉnh sinh ; 70 đệ tử Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn1. Thành lập Hội Dòng Mến Thánh Giá. Năm 1844, dưới thời Vua Thiệu Trị, Đức cha Dominique Lefèvre Ngãi lập dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn. Được kể vào 23 Hội Dòng Mến Thánh Giá ở Việt Nam, Hội Dòng nầy sống tinh thần hiến chương, đường hướng linh đạo của Dòng Mến Thánh Giá mà Đức Giám Mục Phêrô Maria Lambert de la Motte là vị sáng lập đã đề ra. Vào lúc đó, dưới sự bắt đạo gắt gao, những linh mục và giáo dân phải lẫn tránh vào nhiều nơi. Và đó cũng là lý do cần thiết phải có sự cộng tác của những nữ tu trong công việc họ đạo. Những nữ tu nầy có thể di chuyển giữa những nơi xa xôi hẻo lánh và khó khăn để dạy giáo lý và rửa tội các dự tòng. 2. Mục đích. Hội Dòng Mến Thánh Giá có nhiệm vụ trực tiếp hoặc gián tiếp truyền bá đức tin bằng đời sống hằng ngày của mình, bằng lời cầu nguyện và bằng việc suy gẫm sự thương khó của Chúa Kitô chịu đóng đinh. Những nữ tu Mến Thánh Giá nầy đã tận hiến đời mình phục vụ rao giảng Tin mừng bằng nhiều cách khác nhau, đặc biệt là phục vụ những chị em và trẻ con nghèo khổ, kém may mắn trong nhiều lãnh vực khác nhau : văn hoá, xã hội, sức khoẻ, đạo đức và đức tin Công giáo. Châm ngôn đời sống của họ là : “Tất cả cho việc rao giảng Tin mừng. Hy sinh để rao giảng Tin mừng”. 3. Hoạt động mục vụ. Sống cuộc sống giản dị khiêm nhường, những nữ tu của Hội Dòng Mến Thánh Giá nầy phục vụ trong Giáo Phận Vĩnh Long. Họ được gởi đến 92 chỗ nơi khác nhau trong Giáo Phận bao gồm bốn tỉnh : Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Đồng Tháp. Trong những nơi được gởi đến, các nữ tu cộng tác với Linh mục dạy giáo lý, phục vụ bàn thờ, thăm viếng bệnh nhân. Thỉnh thoảng trong những nơi thiếu Linh mục thì các nữ tu có cử hành phụng vụ Lời Chúa và làm mọi việc trong khả năng của mình. 4. Hoạt động xã hội. Nhờ sự giúp đỡ của những ân nhân trong Giáo phận và ngoại quốc, các nữ tu Hội Dòng Mến Thánh Giá đã thực hiện những công tác xã hội như : Giúp đỡ những thành viên trong gia đình bị bệnh phong trong những tỉnh thành của Giáo Phận Vĩnh Long. Giúp đỡ học bổng cho những học sinh nghèo. Chăm sóc những bệnh nhân và phát những thứ thuốc thích hợp cho họ. 5. Nhân sự. Cho đến hôm nay 2009, Hội Dòng Mến Thánh Giá Cái Mơn có 329 nữ tu 224 nữ tu khấn trọn (kể cả 50 nữ tu hưu dưỡng), 105 nữ tu khấn tạm. Ngoài ra còn có 31 tập sinh, 86 tiền tập sinh, thử sinh, dự bị và 60 em thanh tuyển, những em nầy đang theo học ở các trường Trung và Đại học. Hội Dòng Kitô Vua.Trong niềm tin tưởng sắt son vào Thiên Chúa, Đấng đã ra tay dìu dắt Hội Dòng bao lần vượt qua sóng gió; cũng như niềm tin cảm mến tri ân Thiên Chúa, chúng tôi xin giới thiệu sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của Hội Dòng. Khoảng thời gian của thập niên 70-80 của thế kỷ XIX, Hội Dòng Kitô Vua được thành lập. Năm 1870, hai cha thừa sai Gernot Quý và Ritter Giáo thành lập Hội Dòng Kitô Vua Cái Nhum. Hội Dòng nầy, thuộc giáo phận Vĩnh Long, là một trong số các dòng nam việt Nam, thuộc quyền giáo phận còn tồn tại đến ngày nay. Hội dòng được hình thành từ các Tổ Chức Thầy Giảng của các cha thừa sai. Mục đích chính của Hội Dòng là trợ giúp cho hàng giáo sĩ trong việc truyền giáo, thành lập các họ đạo mới, dạy giáo lý cho tân tòng và cho thiếu nhi. Trong suốt 135 năm lịch sử, Hội Dòng đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm. Có những lúc Hội Dòng tưởng chừng như phải giải tán, và có thời đã phải ngưng khấn vì thiếu nhân sự. Nhưng trong bàn tay yêu thương dìu dắt của Thiên Chúa, Hội Dòng đã bao lần vượt qua sóng gió để tồn tại. Hiện nay, có thể nói Hội Dòng cũng đang trong tình trạng khủng hoảng về nhân sự. Toàn Hội Dòng chỉ còn 1 linh mục, 15 tu sĩ và 3 tập sinh, đang sống và làm việc tại 4 cơ sở sau đây :
Hướng về tương lai đầy hứa hẹn. Hội Dòng Kitô Vua đã gởi người học Thần học chuẩn bị chức Linh mục và học Thần học giáo dân, thu thập kiến thức về Kinh Thánh và về Giáo lý để dạy giáo lý trong các Họ đạo. Đó là một cách cộng tác với các Linh mục Giáo phận trong lãnh vực truyền giáo và đó cũng chính là việc thực hiện phương hướng của Hội Dòng Thầy giảng Kitô Vua Cái Nhum. Lược sử Đan Viện Xitô Thánh Mẫu Phước Vĩnh Thành lập ngày 24 tháng 06 năm 1975. Bổn Mạng ngày 15.08 hằng năm. Đan Viện Xitô T.M. Phước Vĩnh (Ấp Thôn Rôn, Vĩnh Kim, Cầu Ngang, Trà Vinh) – Giáo Phận Vĩnh Long, thuộc Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam, do cha Henry Deny Biển Đức Thuận sáng lập tại Phước Sơn – Quảng Trị, năm 1918. Châm ngôn sống của Dòng: “Cầu Nguyện và lao động”. Sứ mạng tông đồ : “Cầu nguyện cho lương dân nhận biết Chúa...” Ngày 24.06.1975 với 13 Đan Sĩ và Linh Mục, Đan Viện Xitô Phước Vĩnh chính thức được khai sinh và định cư tại địa chỉ hiện nay. Với quyết nghị của Tổng Hội Hội Dòng Xitô Thánh Gia Việt Nam ngày 11.06.2001, Phước Vĩnh được nâng lên hàng Đan Viện Tự Trị. Cha M.Augustinô Lê Trọng Hồng được bầu làm Viện Trưởng tiên khởi (15.8.2001). Cha Viện trưởng đương nhiệm là cha Gioan Maria Vianney Nguyễn Văn Ngọc, sinh năm 1933, khấn năm 1964, Linh mục năm 1973. Nhân sự hiện nay là 35 người : 07 linh mục; 02 Phó tế; 13 Khấn trọng; 03 Tập sinh và 10 Thỉnh Sinh. VI. CÁC SINH HOẠT ĐẶC BIỆTCÁC BAN MỤC VỤ GIÁO PHẬN VĨNH LONG 2009 Địa chỉ liên lạc : Văn Phòng Toà Giám Mục Vĩnh Long 1. Ban Giáo sĩ và Chủng sinhGiới thiệu Giáo phận Vĩnh Long hiện có 156 Linh mục và các thầy đang tu học tại Đại chủng viện Thánh Quý (Cần Thơ), nên cần có các Linh mục chia sẻ những ưu tư và việc đào tạo của Giám mục Giáo phận. Mục đích
Hoạt động Giáo phận cũng có 10 Linh mục dòng. Ban này giúp cho các vị được hòa nhập vào sinh hoạt của giáo phận và hoạt động mục vụ theo đường hướng của Giáo phận. 2. Ban Tu sĩGiới thiệu Trên nguyên tắc tại các Giáo Phận cần có những Ban như các Ban của Hội Đồng Giám Mục. Theo tinh thần nầy Đức cha Tôma Nguyễn Văn Tân sau khi nhậm Giáo phận đã thành lập các ban cần phải có, trong đó có Ban Giáo sĩ và Tu sĩ do cha Phêrô Dương Văn Thạnh làm trưởng ban. Từ năm 2003 ban nầy được tách ra: cha Phêrô Dương Văn Thạnh đặt trách Linh mục và cha Giuse Nguyễn Ngọc Thích đặt trách tu sĩ và đây là Ban Tu Sĩ của Giáo phận hiện nay Giáo Phận Vĩnh Long có 2 Tu Viện nam: Dòng Kitô Vua Cái Nhum và Đan Viện Thánh Mẫu Thôn Rôn; hai Tu Viện nữ: Mến Thánh Giá Cái Mơn và Mến Thánh Giá Cái Nhum. Trừ Đan Viện Thánh Mẫu Thôn Rôn nằm trong hạt Vĩnh Kim, thuộc tỉnh Trà Vinh, ba Nhà Dòng còn lại đều ở Hạt Cái Mơn, tỉnh Bến Tre. Với 800 nữ và 50 nam tu sĩ, Giáo phận Vĩnh Long thật quá may mắn có được kho tàng thiêng liêng to lớn và nguồn nhân sự dồi dào. Niềm vui có đó nhưng Đức Giám Mục không khỏi bận tâm lo liệu thế nào để các cộng đoàn nầy sống đời thánh hiến trọn vẹn và hoạt động tông đồ theo đúng đoàn sủng. Mục đích
Hoạt động Hoạt động chính của Ban nầy là giảng dạy về tu đức và các môn học mà Hội Dòng đang thiếu người, trừ Đan Viện Thánh Mẫu Thôn Rôn có thể tự lực được. Riêng các linh mục trong ban chia sẻ với nhau về tài liệu và kinh nghiệm trong việc giảng bài cho nhà dòng. Ban Tu sĩ cũng mời đại diện các hội dòng vào trong Ban để thông liên lạc tiện lợi hơn và cũng là tôn trọng quyền làm chủ của Hội Dòng. Chắc chắn trong tương lai nhờ sự cộng tác nầy mà sinh hoạt của các Hội Dòng sẽ được nhiều người biết hơn qua trang tin của Giáo Phận. Các thành viên trong Ban sẽ tìm giờ ngồi lại với nhau để suy nghĩ xem Hội Dòng còn cách nào khác phục vụ Giáo Phận hữu hiệu hơn, mới mẻ hơn nhưng không đi sai đoàn sủng, không thể đi mãi trên đường mòn cũng không thể đi theo dấu chân người khác. 3. Ban Mục vụ Thiếu Nhi Thánh ThểNội Quy Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam Giáo Phận Vĩnh Long Chương I: Bản chất phong trào Thiếu Nhi Thánh Thể Điều 1. Thiếu Nhi Thánh Thể Giáo phận Vĩnh Long là thành phần của Thiếu Nhi Thánh Thể Việt Nam có mục đích đoàn ngũ hoá tất cả Thiếu nhi trong Giáo phận, để huấn luyện các Thiếu nhi thành người Kitô hữu đạo đức thánh thiện và nên những công dân tốt của xã hội. Điều 2. Phương pháp chủ yếu của Phong trào là dùng Lời Chúa và bí tích Thánh Thể để Kitô hoá và thánh hoá tuổi trẻ. Đồng thời, cũng dùng các phương pháp giáo dục tự nhiên và những kỹ năng chuyên môn, để đào tạo tuổi trẻ thành những con người có nhân cách và tài giỏi. Điều 3. Tôn chỉ của Thiếu Nhi Thánh Thể được gồm tóm trong 4 khẩu hiệu là: CẦU NGUYỆN - RƯỚC LỄ - HY SINH - TÔNG ĐỒ. Mọi đoàn sinh phải luôn ghi nhớ và tập sống theo 4 khẩu hiệu này. Điều 4. Lý tưởng của Thiếu Nhi là Chúa Giêsu bé thơ sống với cha mẹ trong gia đình Nazarét, luôn yêu mến, vâng lời. Gương mẫu cho Thiếu Nhi là Đức Maria, là Mẹ Chúa Giêsu và cũng là Mẹ của Thiếu Nhi. Do có cùng một mẹ với nhau, nên Chúa Giêsu và các em Thiếu Nhi là anh em với nhau. Chương II. Tổ chức Thiếu Nhi Giáo phận Điều 5. Hệ thống dọc: -Ban Đặc trách Thiếu Nhi Thánh Thể Giáo Phận (Lm và HT cấp GP) Điều 6. Hệ thống hàng ngang: Điều 7. Cấp Thiếu nhi được chia thành Nhóm: Nhóm nam, nhóm nữ. Mỗi nhóm được điều khiển do 2 Huynh trưởng, một chánh và một phó. Nhóm cũng là đơn vị cơ bản cho các sinh hoạt huấn luyện của Phong Trào Thiếu Nhi Thánh Thể Điều 8. Nhóm được chia thành từ 2 đến 4 Đội (hay Tổ). Mỗi Đội trung bình có từ 8 đến 12 em, do một Đội Trưởng và một Đội Phó hướng dẫn. Phương Án Thực hành Đôn đốc và hoàn chỉnh việc thành lập Thiếu Nhi Thánh Thể tại tất cả các Họ Đạo, càng sớm càng tốt. Cần tổ chức Thiếu nhi Dự Bị. Sẽ mở vài khoá huấn luyện Huynh trưởng liên Hạt tại các Tỉnh. Sẽ tổ chức Đại Hội Thiếu Nhi Thánh Thể lần đầu tiên tại Đình Khao ngày 03/07/2008 4. Ban Mục Vụ Giới TrẻThành Lập & Mục Đích Đất nước Việt Nam tự hào là một đất nước trẻ với số người trẻ chiếm hơn 40% dân số cả nước. Hội thánh Việt Nam cũng chia sẻ niềm vui đó. Tuy nhiên, nếu đây là cơ hội để Hội thánh phát triển, phát triển về năng lực cống hiến, về ơn gọi… thì nó cũng là một thách đố không nhỏ cho chính Giáo hội Việt Nam hôm nay. Với cái nhìn đó Giáo phận Vĩnh Long, trong hoàn cảnh tuy còn hạn chế về nhiều mặt, cũng nỗ lực hằng năm tổ chức ngày gặp gỡ giới trẻ trong Giáo phận. Ngày 15 tháng 8, ngày kỷ niệm tấn phong Giám mục Giáo phận, được chọn là ngày gặp gỡ giới trẻ Giáo phận. Trong dịp nầy, vị chủ chăn Giáo phận gặp gỡ đông đảo các bạn trẻ từ các họ đạo gần xa tụ về nhà thờ Chánh toà. Ban mục vụ giới trẻ soạn thảo chương trình cụ thể để học hỏi và trao đổi những khó khăn của các bạn gặp trong đời thường, đồng thời, cũng giúp các bạn hướng nhìn về một Hội thánh Việt Nam tương lai đang cần sự cộng tác của họ ngay chính hôm nay. Để ngày giới trẻ Giáo phận thực sự đạt hiệu quả cao hơn, trong những năm tới đây, Ban mục vụ giới trẻ sẽ có chương trình huấn luyện thường kỳ ở cấp Giáo hạt và mỗi năm một lần được tổ chức cấp Giáo phận. Với mô hình nầy, nếu có sự cộng tác tích cực của các Cha trong hạt, chúng ta có quyền hy vọng sẽ mang lại một luồng gió mới cho các bạn trẻ trong Giáo phận là những chủ nhân của đất nước và của Hội thánh Việt Nam mai ngày. Ban Mục Vụ Giới Trẻ Giáo Phận Vĩnh Long được Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Tân chuẩn hóa vào năm 2001. Cùng với Ban Giáo Lý và Ban Thiếu Nhi Thánh Thể, Ban Mục Vụ Giới Trẻ hướng tới việc giáo dục thiếu nhi và giới trẻ trong Giáo Phận sống đức tin, cùng đồng hành với Chúa Giêsu, để nên giống Chúa Giêsu. Hoạt Động. Nhằm mục đích giúp Giới Trẻ sống đạo, ban Mục Vụ Giới Trẻ GPVL đã thực hiện:
5. Ban Mục vụ Giáo Lý Viêna. Sơ lược việc hình thành các lớp đào tạo Giáo lý viên Giáo phận Vĩnh Long: Từ 1975 - 1990: Do khó khăn về nhân sự dạy giáo lý ở các họ đạo - thiếu linh mục - tu sĩ … và trước nhu cầu cấp bách cần có người dạy giáo lý cho thiếu nhi và người lớn, được sự đồng ý của Giám Mục bản quyền : Đức Cha Giacôbê Nguyễn Văn Mầu, một số linh mục vùng Vĩnh Long-Sa Đéc-Trà Vinh-Bến Tre họp nhau lại, tình nguyện mở lớp đào tạo Giáo lý viên trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu cho họ đạo mình. Sau đó, nhu cầu cần người dạy giáo lý ở các Họ Đạo tăng lên, nên các Khoá Giáo Lý viên được mở rộng cho khắp cả Giáo Phận. Năm 2000, khi Đức Cha Tôma Nguyễn văn Tân là Giám Mục Chánh Tòa, ngài cũng đã chính thức nhìn nhận việc Đào Tạo Giáo Lý Viên là một Ban trong các Ban Mục Vụ của Giáo Phận Vĩnh Long. b. Việc Đào tạo Giáo Lý Viên
*1996 đến 2006: chi phí ăn học do cơ quan Missio hỗ trợ
c. Định hướng việc đạo tạo Giáo Lý Giáo Phận từ năm 2006 … Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Tân quyết định, từ năm 2006 trở đi, các khóa đào tạo Giáo lý viên sẽ mở rộng cho giáo dân nhằm nâng cao trình độ giáo lý cho các thành phần giáo dân cộng tác vào việc mục vụ Họ Đạo với các Cha sở, đặc biệt là các Quới chức các Họ Đạo toàn địa phận gọi là Chương Trình đào tạo Giáo Lý Giáo Dân. Trên nền tảng việc đào tạo Giáo Lý Giáo Dân nầy, những Giáo Lý Viên sẽ được đào tạo thêm, theo một chương trình chuyên sâu hơn: Chương trình Đào Tạo Giáo Lý Viên Giáo Phận. 6. Ban Mục vụ Gia Đình a. Giới thiệu Địa điểm Nhà thờ Chánh toà. Mục đích để cùng chia sẻ với các gia đình về tầm quan trọng của bậc sống hôn nhân gia đình, khơi gợi nơi họ ý thức mình được Thiên Chúa mời gọi nên thánh trong chính bậc sống hôn nhân và gia đình. Đồng thời, đây còn là dịp trao đổi, lắng nghe những trăn trở của các bậc phụ huynh, từ đó ban mục vụ gia đình có những định hướng về gia đình cách cụ thể, gần gũi với các Gia trưởng - Hiền mẫu cho những lần gặp gỡ sau. Có lẽ điều làm các bậc phụ huynh lo lắng hơn hết chính là việc lo sợ con cái của mình đi vào con đường hư hỏng, hút chích, nghiện ngập. Hiểu được tâm trạng lo âu, khắc khoải như thế nên đường hướng mục vụ gia đình phải luôn đi đôi với mục vụ giới trẻ. Các vị chủ chăn động viên, nhắc nhở các bậc phụ huynh đừng quên rằng, một Thiên Chúa luôn đồng hành với họ trong mọi biến cố của cuộc sống và hãy để Thiên Chúa cùng chia sẻ gánh nặng gia đình với. Hơn nữa, gương sống Thánh gia Nazareth khi xưa chính là mẫu mực hoàn hảo để các gia đình Công giáo noi theo. Gia đình là nền tảng của xã hội và Giáo Hội. Gia đình tốt, xã hội và Hội Thánh sẽ phát triển tốt. Gia đình công giáo đạo đức, thánh thiện là vốn quí của giáo phận. Với số giáo dân sống trải dài trên địa bàn bốn Tỉnh: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre và một phần tỉnh Đồng Tháp là Sa Đéc, được chia thành 10 Hạt: Vĩnh Long, Mai Phốp, Sa Đéc, Trà Vinh, Mặc Bắc, Vĩnh Kim, Bến Tre, Cái Mơn, Bình Đại, Thạnh Phú, nên Đức Giám Mục Giáo Phận Vĩnh Long đã phân bổ một số các linh mục tiếp tay với ngài trong việc mục vụ gia đình dựa theo đơn vị Hạt, qua đó, việc chăm sóc các gia đình được sâu sát hơn. b. Mục đích
c. Hoạt động
7. Ban Quới Chứca.Thành lập Ngay buổi đầu công cuộc rao giảng, đã có nhiều người tin theo Chúa Giêsu, nên Chúa đã phải thiết lập nhóm Mười Hai Tông Đồ, nhóm bảy mươi hai môn đệ, để cộng tác với Chúa mà phục vụ đám đông dân chúng. Khi bắt đầu công cuộc truyền giáo tại Việt Nam cũng thế, các thừa sai đã tổ chức các hình thức cộng tác viên giáo dân: các Thầy Giảng và các Quới Chức. Các Thầy Giảng thì chuyên lo dạy giáo lý, còn các Quới Chức thì vừa phải coi sóc mục vụ, vừa có thể dạy giáo lý cho giáo dân trong họ. Hai nhóm người này vẫn hoạt động cách khiêm tốn, rất hiệu quả và liên tục cho đến ngày nay. Nhiều giáo phận căn cứ trên quyển Chức Sở Mục Lệ đầu tiên (của đức cha Colombert Giám mục Sài Gòn, 1884) soạn ra qui chế cho Ban Quới Chức (hoặc những tên gọi khác). Đức cha Phêrô Ngô Đình Thục, nguyên Giám mục giáo phận Vĩnh Long đã soạn lại quyển Chức Sở Mục Lệ cho các địa phận Nam Việt - Qui Nhơn, năm 1953. Đức Cha Tôma Nguyễn Văn Tân, Giám Mục Chánh Toà Vĩnh Long, đã ban hành Điều Lệ Quới Chức, dịp Đại Hội Quới Chức tại Trung Tâm Hành Hương Đình Khao ngày 17.11.2005 nhằm đáp ứng nhu cầu Mục Vụ của Giáo Phận trong hoàn cảnh hiện tại và chính thức gọi nhóm cộng tác viên thứ hai là Ban Quới Chức, với các chức danh: Trùm, Câu, Biện. Giáo Phận Vĩnh Long hãnh diện vì có Thánh Giuse Nguyễn Văn Lựu Tử Đạo, chính là ông Trùm của Ban Quới Chức, Họ Mặc Bắc, Giáo Phận Vĩnh Long và nay Ngài được chọn là Bổn Mạng của các Ban Quới Chức Giáo Phận. b. Mục đích Cùng theo cách tổ chức của Chúa Giêsu và các thừa sai, mục đích của Ban Quới Chức vẫn là cộng tác viên của cha sở, là “con mắt, lỗ tai” của cha sở, là cánh tay nối dài của cha sở, nhằm giúp cha sở thực hiện sứ mạng mục tử (mục vụ) của mình trong họ đạo. Mỗi Họ Đạo lớn hay nhỏ đều có Ban Quới Chức tỷ lệ theo số tín hữu nhiều hay ít, nhằm thúc đẩy mọi người trong Họ đạo không ngừng tiến triển về các ơn thánh ở đời này và đạt tới hạnh phúc ở đời sau. 8. Ban Báo Chí và Truyền Thông.Nhằm huấn luyện Đức Tin cho các thành phần Dân Chúa, hằng tháng Giáo Phận phổ biến tạp chí Mục Vụ với nội dung bao gồm các bài viết liên quan đến cách sống đức tin và học hỏi Kinh Thánh. Ngoài ra một web site của Giáo Phận cũng được thiết lập mang tên www.giaophanvinhlong.net với nội dung trình bày những hoạt động của Giáo Phận và các tài liệu liên quan đến Huấn Quyền, các bài suy niệm Tin Mừng 9. Ban Bác ái Xã hội a. Thành lập : Trước khi Ban BAXH Giáo phận chính thức thành lập, các hoạt động từ thiện đã được các Hội Dòng có mặt trong Giáo phận hoạt động cách tích cực, như: cấp phát gạo cho người già neo đơn, nồi cháo cho những bệnh nhân nghèo và thân nhân nuôi bệnh. Trợ giúp học bổng cho học sinh nghèo, bắt cầu, làm đường, cấp phát lu chứa nước ngọt, khoan giếng nước, đặc biệt xây dựng quỷ Tín dụng-Tiết kiệm-Tương trợ giúp vốn cho các hộ nghèo không phân biệt lương giáo. Những việc trên đây được mở rộng với quy mô lớn sau khi Ban BAXH đi vào hoạt động. b. Mục đích:
c. Nhiệm vụ : Nhiệm vụ được đặt ra cho Ban BAXH - CARITAS Vĩnh Long là:
Nhiệm vụ của Linh mục đặc trách: Nhiệm vụ của các thành viên: + Thường xuyên quan tâm nghiên cứu các vấn đề nhân đạo, phát triển trong Giáo phận. d. Nhân sự :
*** Những cơ sở xã hội giúp cho những người nghèo : a. Phòng khám Từ Thiện* Kể từ năm 1980, vì cảm thương cho những bệnh nhân nghèo không có điều kiện trị bệnh, một số Họ Đạo và hai Nhà Dòng MTG của Giáo Phận hình thành các phòng khám bệnh và cấp thuốc miễn phí cho các bệnh nhân (Tây y). không chỉ là tây y, phòng khám bệnh Đông y được hoạt động: châm cứu, chạy điện, tập vật lý trị liệu. Nhân sự phục vụ trong các phòng khám đều là Nữ tu của Hội Dòng hoặc các bác sĩ, y sĩ, điều dưỡng, lương y là những Kitô hữu có chuyên môn tình nguyện phục vụ tại các phòng khám từ thiện của Họ Đạo Phòng khám bệnh họat động từ thứ 2 đến thứ 7 trong tuần. Mỗi ngày có khoảng 30 – 40 bệnh nhân đến khám bệnh đủ mọi thành phần, không phân biệt Tôn Giáo. b. Nhà nuôi dưỡng các cụ già neo đơnTừ năm 1980, hai Nhà Dòng MTG đã tiếp nhận, chăm lo và nuôi dưỡng cho một số cụ bà neo đơn tuổi từ 70 đến 95. Tất cả các cụ này có hoàn cảnh thương tâm: không nơi nương tựa, không người chăm sóc, ủi an lúc tuổi già đau yếu. Cảm thông với nỗi khổ của họ, chúng con đón nhận họ về Nhà Dòng để chăm sóc. Họ được chính tay chị em nữ tu chăm lo mọi mặt... Thời gian trong nhiều năm qua, lần lượt nhiều cụ đã được an bình về với Chúa trong sự yêu thương chăm sóc của các chị Ngoài ra, một nhóm chị em Nữ Tu thường xuyên chăm lo phục vụ cho người nghèo, người bất hạnh và kém may mắn ở 3 Tỉnh: Vĩnh Long, Bến Tre, Trà Vinh. Hầu hết là ở vùng nông thôn, vùng sâu… Các công việc ấy như: + Chăm sóc bệnh nhân phong Hầu hết họ là những người nghèo khổ, không có công ăn việc làm, họ bị cô lập bởi cộng đồng ngay cả những người thân. Các chị đã tìm đến để chia sẻ, an ủi và giúp đỡ và cảm thông nỗi khổ của những người bất hạnh này.. Bắt đầu từ năm1998, từ 5 bệnh nhân đáng thương, số lượng nầy ngày càng gia tăng. Hiện nay các chị đang chăm lo cho 150 bệnh nhân đang sống rải rác ở vùng sâu, vùng xa, trong ruộng đồng của 3 Tỉnh: Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre. Cụ thể: Đối với các bệnh nhân phong (còn khả năng làm việc) và gia đình có nhu cầu mưu sinh mà không có vốn. * Hỗ trợ vốn: • bán vé số Hiện có nhiều gia đình đã được hỗ trợ vốn. * Cung cấp lương thực: Đối với những bệnh nhân tàn phế, không còn khả năng lao động, hàng tháng được cung cấp: gạo, nhu yếu phẩm và một ít tiền. để chi tiêu cần thiết. * Xây cất và sửa nhà ở : Bệnh, nghèo…nhưng nhiều gia đình không có được một mái nhà đủ để che nắng, trú mưa. Là những cánh tay của một số Hội từ thiện và những nhà hảo tâm. Các Họ Đạo đã giúp họ sửa chữa và xây những căn nhà tương đối đủ an toàn cho đời sống của họ. * Cung cấp nguồn nước sạch : Để một phần nào bảo đảm sức khoẻ và mọi sinh hoạt cho nhiều gia đình. * Đưa bệnh nhân đi bệnh viện: Các chị nữ tu trực tiếp đưa các bệnh nhân đi bệnh viện để điều trị và khám bệnh. Sau khi xuất viện, tiếp tục hỗ trợ tiền thuốc và bồi dưỡng cho đến khi bình phục hoàn toàn. * Giúp học bổng: Các em học sinh, sinh viên là con của bệnh nhân phong từ lớp 1 đến lớp 12, trung cấp, cao đẳng và đại học được hỗ trợ học bỗng, tạo điều kiện để các em được học hành. * Giúp học nghề: Đối với các em không có khả năng học văn hóa, chúng con tạo điều kiện cho các em học nghề như: sửa máy nổ, học may, vi tính… * Người khuyết tật. Nhờ sự giúp đỡ của Đức Cha Tôma, Giám Mục Giáo Phận Vĩnh Long, cộng tác với UBBAXH Giáo Phận, các Họ Đạo cũng như các nhà Dòng đã thăm viếng và tặng quà cho người khuyết tật tại gia. Ngoài ra một số bệnh nhân được tặng xe lăn và xe lắc khi không còn có thể di chuyển được bằng chính đôi chân của mình. c. Trợ giúp học bổng cho sinh viên, học sinhĐể tiếp sức với một số gia đình nghèo không đủ điều kiện cho con em đến trường, chương trình giúp học bổng cho các em học sinh, sinh viên hiếu học được thực hiện tại các Họ Đạo. Hằng năm các Họ Đạo bằng nhiều hình thức khác nhau, bằng sự trợ giúp của các ân nhân và sự hy sinh của giáo dân trong Họ Đạo, đã trao tặng nhiều phần quà học bổng, xe đạp, tập viết cho các em các cấp ( I, II, III), Cao đẳng và Đại học. d. Phục vụ người cao tuổiThường xuyên thăm viếng, an ủi, cảm thông với những người già yếu, neo đơn, bệnh tật có hoàn cảnh đáng thương. Và chia sẽ cho họ: gạo, nhu yếu phẩm, thuốc, và một ít tiền vào các dịp lễ và Tết. e. Xây nhà tình thương:Những căn nhà tình thương thay thế cho các túp lều rách nát là niềm hạnh phúc cho những gia đình nghèo. Xây nhà tình thương. f. Nguồn nước sạchĐa số người dân nghèo đành chấp nhận sử dụng nguồn nước ô nhiễm, nhiễm mặn, nhiễm phèn, nhiễm các chất thải từ rác, phân thuốc, vật nuôi… Đó là lý do phát sinh nhiều bệnh tật… nhiều nơi trong Giáo Phận nhờ nguồn tài trợ của các tổ chức bác ái và các ân nhân trong và ngoài nước, đã được xây dựng nhà máy nước sinh hoạt, làm hệ thống nước sạch (hệ thống lọc nước), nước uống tinh khiết, khoan cây giếng, xây cống nước, những nơi không thể đặt hệ thống nước hay khoan giếng, thì giúp họ xây những cống để chứa nước mưa giúp họ có nước sạch trong sinh hoạt hằng ngày. Các gia đình nghèo ở xa trong ruộng rất vui mừng khi được có nước sạch để sinh hoạt hằng ngày như tất cả các gia đình khác. g. Trợ vốn cho ngừơi dân nghèo – chương trình Tín Dụng - Tiết Kiệm – Tương TrợBắt đầu từ năm 2000, Giáo Phận đã mở chương trình Tín Dụng – Tiết Kiệm cho các gia đình nghèo. Lúc ban đầu chỉ là những nhóm nhỏ, đến nay mở rộng thêm 15 địa điểm ở khắp 3 Tỉnh: Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre. Để một phần nào giúp người dân thoát cảnh nghèo, giảm bớt tình trạng vay nóng (lãi suất cao). Đồng thời cũng giúp họ xây dựng tinh thần tương thân, tương trợ lẫn nhau trong cộng đồng, một hình thức hỗ trợ vốn giúp họ có công ăn việc làm như chăn nuôi, trồng trọt, buôn bán nhỏ. Trong chương trình này, nhờ vào đồng tiền tiết kiệm của các thành viên, một số nơi còn quan tâm giúp học bổng cho con em của những người tham gia trong nhóm : a. Mục đích chương trình Tiết kiệm – Tín dụng – Tương trợ
b. Cách thức thực hiện chương trình Tiết kiệm – Tín dụng – Tương trợ A - Giai đọan 1: tập huấn trồng trọt và chăn nuôi B - Giai đoạn 2 : Hỗ trợ vốn 1. Cách thức Thành lập Tổ Tín dụng : người đại diện cộng đồng (thường do cha sở giới thiệu) chọn ban điều hành gồm từ 3-5 người có kiến thức và tinh thần giúp người nghèo. Ban điều hành cùng với cộng đồng chọn những hộ nghèo và thành lập Tổ theo cùng mục đích với nhau. Mỗi Tổ từ 1-10 người. Nơi nào có nhiều Tổ thì thành lập Nhóm, thông thường 5 Tổ vào một Nhóm. Có Nhóm Trưởng và Nhóm Phó. Tổ trưởng và các thành viên trong Tổ tự nguyện đóng tiền tiết kiệm cho Tổ trưởng có ghi sổ thu chi rõ ràng. Số tiền tiết kiệm nầy sẽ cho các Tổ viên cùng Tổ vay lại sau 2-3 tháng đóng góp tiết kiệm. Mỗi thành viên trong Tổ chịu trách nhiệm về số vốn Tổ mình vay. Ví dụ: khi có Tổ viên không làm tốt việc hoàn vốn thì các Tổ viên khác trong Tổ phải đóng góp lại để hoàn trả số vốn của Tổ viên. Nếu Tổ không hoàn trả được sẽ không được vay vốn tiếp tục. 2. Cách thức vay vốn : mỗi hộ vay vốn từ 1.000.000 – 3.000.000 VND cải tạo vườn cây ăn trái, Hoa Kiểng hoặc chăn nuôi, viết đơn vay vốn và cam kết hoàn trả vốn đúng theo thời gian quy định. Người vay vốn viết đơn vay vốn cam kết 4 điều : 3- Cách thức hoàn vốn : Các Tổ viên trả vốn từ 3.000đ -5.000đ/tuần cộng với tiền lãi 1% tháng. Tiền Tiết kiệm : Mỗi người trong Tổ đóng tiền tiết kiệm tự nguyện hằng tuần (theo thoả thuận của các Tổ viên). Số tiền Tiết kiệm sẽ cho các Tổ viên trong Tổ vay ngắn hạn từ 1-3 tháng để giải quyết những nhu cầu cấp bách như : mua phân bón lúa hoặc thuốc ngừa sâu rầy, mua thức ăn cho gia súc, hay tiền học phí cho con cái… hoặc chữa bệnh, hay tang chế trong gia đình hầu tránh tình trạng đi vay nặng lãi bên ngoài. Sau 1-2 năm đóng tiết kiệm các Tổ viên sẽ có số vốn ngang bằng với số vốn họ vay ban đầu. Khi đó số vốn ban đầu sẽ rút đi để lập các Tổ mới. h. Nhà Trẻ – Mẫu giáoCùng cộng tác với xã hội trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ em và đồng thời giúp cho phụ huynh là người lao động, công nhân viên chức yên tâm làm việc, trong các Họ Đạo của Giáo phận có cộng đoàn nữ tu phục vụ đã tổ chức các điểm giữ trẻ như trường mẫu giáo, nhóm trẻ gia đình VII. CÁC SẮC CHỈ VÀ GIÁO HUẤNSẮC DỤ Thiết-lập địa phận Vĩnh Long 08-01-1938 ĐỨC THẦY PHÊRÔ Ớ anh em rất yêu dấu, Ngày mồng tám tháng giêng tây năm 1938, thật là ngày vinh hiển cho con nhà giáo hữu Việt-Nam, là ngày đáng ghi vào sử xanh Hội Thánh Nam-kỳ: ấy là ngày Đức Giáo Tông Piô đương vinh trị Hội-Thánh giáng Sắc-dụ thiết lập địa phận mới Vĩnh-long nầy. SẮC RẰNG : “Khi Ta chú ý đến các phương xa chưa được ánh sáng Êvang soi khắp, thì lòng Ta ra sức tính toan trăm phương ngàn kế, cho công việc những kẻ đem Tin Lành càng được tiện lợi và mau kết quả hơn. Bởi vậy, cần phải chia các địa phận có địa thế rộng quá, thiết lập địa phận mới và nếu có thể được thì nên phú thác cho hàng giáo sĩ bổn quốc cũng đồng một tâm tình, đồng một ngôn ngữ phong tục với các người xứ ấy, thì nhờ ơn Chúa giúp, sự dẫn linh hồn người ta đến đạo thật ắt sẽ được dễ dàng hơn. Vả chăng địa phận Sài gòn tự lai phú thác cho “Hội Giảng-Đạo ngoại quốc” ở thành Phari lo lắng rất châu đáo, nên nay đã được một số bổn đạo và giáo sĩ lớn, và gầy dựng được nhiều công việc truyền giáo. Vậy Ta xem thấy các lời yêu cầu của Cựu Khâm Sứ Toà thánh ở Đông-dương là Đức Thầy Colomban Dreyer, Tổng lãnh Giám Mục thành Ađuli, và Bề trên Hội Giảng-đạo đã quá-cố là Đức Thầy Gioan Baotixita De Guébriant, Tổng lãnh Giám Mục thành Marcianopoli ; lại Đấng hiện sung Khâm-Sứ Toà-Thánh ở Đông-dương là Đức Thầy Drapier, Tổng lãnh Giám Mục thành Nêocêsarê và Giám Mục thành Lipara thay mặt Toà Thánh cai trị địa phận Sài gòn là Đức Thầy Dumortier, và Bề-Trên hiện thời của Hội Giảng-đạo đều biểu đồng tình y như các lời yêu cầu ấy ; Ta đã hỏi ý kiến của các Đấng Hồng-Y Toà Tấn-Giáo, nên ta chuẩn định cắt một phần địa phận Sài gòn mà thiết lập thành một địa phận mới. Ta đã suy xét kỷ cang và dầu thể nào mặc lòng, Ta dùng đủ quyền kế-thống Tông-Đồ thủ-hiến mà trích lấy trong địa phận Sài gòn những tỉnh Trà-Vinh, Vĩnh-Long, Bến-Tre và một phần tỉnh Cần-Thơ (thuộc về địa phận Sài gòn) mà thiết lập thành địa phận mới; lại Ta chọn lấy tên thành quan hệ trong tĩnh Vĩnh Long, mà chuẩn định địa phận ấy sẽ gọi là Vĩnh-Long. Địa phận tân thiết ấy, bao giờ ý Ta và ý Toà-Thánh muốn như thế, thì phú thác cho hàng giáo sĩ thuộc về người bản xứ Đông-Dương ; Ta vững chắc sự ấy sẽ làm ích lợi lớn về phần linh hồn người ta và nước Chúa Kirixitô sẽ mở rộng trong xứ ấy. Ta ban cho địa phận ấy và cho các Đấng thay mặt Toà-thánh mà cai trị địa phận ấy được các quyền phép thể thống mà các địa phận khác và các Đấng cai trị thay mặt Toà-Thánh được hưởng dùng theo lệ, và Ta buộc các Đấng thay mặt Toà-thánh cai trị địa phận ấy cũng phải tuân giữ các thể lệ như các nơi khác. Ta muốn và Ta truyền thị rằng : các điều sắp đặt và thiết lập đã kể trên đều là nhứt định và là đúng phép, nếu có điều khoản nào sai với các điều ấy thì điều khoản ấy không có giá trị gì. Những bản sao lại hoặc trích lục Sắc-Dụ nầy, dầu là bản in, miễn là có chữ ký một người chưởng lý và có ấn triện của người có chức quyền Hội-thánh thì cũng đủ tin cũng như đem Sắc-Dụ nầy ra vậy Không ai được trái với các sự Ta chia rẽ, thiết lập, phú thác, ban tứ, chuẩn định và muốn mà đã viết vào Sắc-Dụ nầy. Nếu ai dám trái thì kẻ ấy phải biết rằng : làm như vậy là mang lấy cơn thạnh nộ Chúa phép tắc vô cùng và hai thánh Tông-đồ Phêrô Phaolồ mà chớ. Sắc-Dụ nầy làm tại Rôma, năm Chúa Giáng sinh 1938, ngày mồng 8 tháng giêng, tức là Ta kế thống quyền Giáo-Tông niên hiệu thứ 16”. THƯ CHUNG Nhân ngày thiết lập Giáo phận Vĩnh Long 08/01/1938. Ớ anh em rất yêu dấu, Công đức các thầy Linh mục Thừa-sai. Trước hết Đức Giáo Tông nhắc lại công ơn các đấng đã khai hoá địa phận mới nầy : là các linh mục Hội Thừa-sai Phari đã dầm sương dãi nắng, đã đổ mồ hôi nước mắt, đã liều thân đổ máu mình ra, như Á-thánh Giuse Du (Marchand) mà gieo vải đức tin trong lòng tổ tông anh em (2). Ơn ấy lẽ nào quên được vì là ơn tác thành, lại là ơn sinh thành, mà sinh thành nên con Chúa và con Hội Thánh (3) Mỗi lần Thầy xem thấy các ngôi nhà thờ nguy nga, xem thấy các họ đạo sum vầy, thì lòng Thầy ngùi ngùi cám cảnh, nhớ các đấng tiên hiền đã chịu khó cày sâu cuốc bẩm nên ta mới được thấy mùa màng xanh tươi tốt đẹp nầy (4) Xin Chúa trả công vô cùng cho các Đấng ấy và ban cho Hội Thừa-sai Phari càng ngày càng thạnh vượng, để đem đuốc đức tin chiếu giọi cho nhiều dân khác còn ngồi trong bóng tối tăm sự chết. Công nghiệp các thầy Linh mục Bổn-quốc. Làm một với các đấng Thừa-sai thì có vô số thầy linh mục bổn quốc cũng đồng sanh đồng tử với nhau, như Á-thánh Philipphê Minh (5). Vì nhơn đức tài trí công nghiệp các đấng ấy, mà rày Đức Giáo Tông ban phần thưởng rất trọng vọng : là phú thác địa phận Vĩnh-Long nầy cho hàng giáo sĩ bổn quốc xem sóc. Thầy mới giao thiệp với các đấng ấy, dầu chưa được lâu ngày mặc lòng, song le cũng đã dư hiểu các đấng ấy về phần thánh đức, trí tài, học thức chẳng kém gì giáo sĩ bên Âu-Mỹ. Nhứt là có lòng khiêm nhượng chịu lấy đấng lãnh mạng Đức Giáo Tông đến coi sóc địa phận nầy và tỏ ra lòng tin cậy thương yêu, nên đã làm cho gánh Thầy lãnh lấy ra nhẹ nhàng hơn bội phần. Lòng đạo đức các giáo hữu. Hội thánh sánh như đạo binh mạnh mẽ, có tướng mà cũng có quân. Tướng giỏi có thắng trận cũng nhờ quân lính hùng dũng biết vâng mạng lịnh quan trên. Đức Giáo Tông đã giao phú địa phận nầy cho hàng giáo sĩ Việt-Nam coi sóc cũng vì biết lòng đạo đức con chiên bổn đạo, nhứt là tin cậy lòng sốt sắng nhiệt thành các nhà viện tu nam nữ, đã có công rất trọng giúp việc truyền giáo trong địa phận nầy. Đất tốt lành kia đã trổ sanh một hoa tươi tốt, như Á-thánh Giuse Lựu, thì đất ấy còn có sức sinh ra trăm ngàn binh lính hùng dũng mà chiến trận cho Đức Chúa Trời mà chớ. Công ơn Đức Giáo Tông. Được hàng giáo sĩ cầm cân, được con chiên hay vâng lời là điều tốt thật, nhưng mà việc thiết lập địa phận mới là tuỳ thánh ý Đức Giáo tông mà thôi. Vậy ta hãy hết lòng nhìn biết ơn Người. Ơn ấy ta càng cảm mến, vì Người đã chiếu cố đến Hội-thánh càng cảm mến, vì Người đã chiếu cố đến Hội –thánh Việt-Nam ta, đương lúc lòng người khốn đốn trăm đàng vì nhiều nước ngỗ nghịch với Người, đương lúc xác Người tật bịnh đau đớn. Vậy Đức Giáo Tông thương người Nam-Việt ta, trọng người Nam-Việt ta, tin cậy người Nam-Việt ta, đến đỗi phú thác mấy trăm ngàn linh hồn là của quí trọng vô giá trong tay Giám-Mục và giáo sĩ Việt-Nam cai trị chỉ dẫn cho đến nước Đức Chúa Trời, thì ta phải đối đãi với Người thể nào cho khỏi phụ lòng Người âu-yếm tín nhiệm ta làm vậy? Đức tin Ớ anh em rất yêu dấu, trước hết ta phải lấy đức tin mà chịu lấy các đấng Hội-Thánh đặt làm bề trên coi sóc anh em như kẻ chính Đức Chúa Trời sai đến (6) Hội-Thánh không phải là xã-hội bình-đẳng : ai ai cũng đồng quyền như nhiều xã-hội khác. Địa phận ta là con cái địa phận Rôma : propagines dioecesis Romanse (7). Đấng Giám mục cai trị địa phận nầy là chính đấng thay mặt đại diện cho Đức Giáo Tông mà làm Bề trên chính quyền cai trị địa phận. Giám mục có toàn quyền cai trị việc đạo trong địa phận (8). Giám mục thông quyền ấy cho các thầy linh mục bổn sở và cho các cha giúp các thầy ấy. Ấy là chính luật Hội-Thánh. Muốn nghịch luật ấy là nghịch Hội-Thánh mà chớ. Đức vâng lời Đức tin dạy anh em nhìn xem đấng Giám mục và hàng giáo sĩ trợ lực cho người khác nào kẻ thay mặt Đức Chúa Trời thì anh em phải vưng lời các đấng ấy bề trong và bề ngoài (9), nhứt là khi ý riêng anh em lấy cách cử chỉ, lời dạy bảo các đấng ấy không vừa lòng mình. Ngỗ nghịch, chê bai, chống cự các đấng ấy thì không khỏi động đến chính mình Chúa vậy (10). Đồng tâm hiệp lực Sau nữa ta phải đồng tâm hiệp lực với nhau mà lo việc mở mang nước Chúa. Xã hội nào muốn tấn phát thì phải có một lòng một ý với nhau. Xã hội nào bất bình với nhau, dầu hội viên trí tài của cải cho đến đâu mặc lòng, cũng không khỏi tàn bại (11). Việc mở mang nước Chúa vẫn là bổn phận riêng hàng giáo sĩ, song le cũng là nghĩa vụ chung con nhà bổn đạo. Vì đức yêu người buộc ai nấy (12) tuỳ sức giúp đỡ người đồng bào trong cơn túng rối. Mà có sự túng rối nào khốn nạn cho bằng chưa nhìn biết Chúa là Đấng sanh thành mình sao ? Vả chăng Đức Giáo Tông Piô XI thấy công cuộc truyền giáo một ngày một khó khăn hơn, vì thiếu đấng chăn chiên, vì tâm lý người ta đổi ra khác, thì đã ra nhiều chỉ dụ cổ động đâu đó lập Công Giáo Tiến Hành, nghĩa là giục bảo người bổn đạo chung cùng với hàng giáo sĩ lo việc mở mang nước Chúa. Vậy Ta càng có lý truyền dạy cho ai nấy tuỳ sức trợ lực với các đấng linh mục, hiệp một lòng một ý với nhau dưới quyền Đức Giám mục để mưu việc Chúa và giúp đỡ địa phận mới nầy. Công việc trong địa phận Địa phận ta mới mẻ, thiếu người thiếu của, mà anh em ta còn ở ngoài đoàn chiên Chúa kể đến mấy trăm ngàn người. Chưa có một sở chung, như nhà trường la tinh, nhà trường lý đoán, nhà giữ việc địa phận, công quán cho các cha, nhà dưỡng lão cho các linh mục già nua tật bịnh, nhà thờ chánh toà, dinh thự Đức Giám mục v..v… song le nếu cả và địa phận, từ người bổn đạo thường cho đến các thầy linh mục, đồng tâm hiệp ý với Đấng Giám mục (13), giúp lời cầu nguyện, giúp công, giúp của, thì Chúa sẽ phù hộ cho địa phận ta, lần hồi cũng làm nên nỗi các công việc lớn lao, không thua kém gì các địa phận đã có lâu đời. Lòng ta trông cậy… Về phần Ta, dầu tài non đức kém mặc lòng, song le sức mạnh Ta là trong sự cúi đầu vâng mạng lịnh Toà-Thánh (14) ; sức mạnh Ta là lòng sốt sắng, lòng kính nể, lòng thương yêu giúp đỡ của các đấng linh mục (15) và con chiên bổn đạo đối với Ta ; sức mạnh Ta là lòng Ta yêu mến mọi người không trừ ai (16) ; nên Ta vững tay cầm lái thuyền Hội-Thánh đã phú cho Ta. Ta hết lòng trông cậy Chúa, Đức Mẹ và các thánh tử đạo địa phận Ta giúp đỡ cầu bàu, thì công cuộc, dầu khó khăn mấy mặc lòng, cũng có lẽ xong xuôi được. Chúc lành cho ai nấy. Cho được tỏ ra Ta đã hi sinh cả đời Ta cho anh em thì Ta lấy hết tình thương yêu mà ban phép lành cho các thầy linh mục địa phận là anh em Ta, cho các bổn đạo là con cái Ta trong Chúa, và cho các kẻ còn ở ngoài ràn chiên Chúa. Chúc cho ai nấy đặng mọi ơn lành hồn xác tuỳ lòng sở nguyện. Phải đọc thơ chung nầy trong các nhà thờ lớn nhỏ địa phận Ta, từ ngày Chúa nhựt thứ chín sau lễ Đ. C. T. T. hiện xuống về sau. Ta làm thơ nầy tại Vĩnh-Long, ngày mồng 1 tháng 8 tây (Aout) nhằm ngày lễ ông thánh Phêrô khỏi tù rạc. + PHÊRÔ NGÔ ĐÌNH THỤC Giám mục Xêrina ký
HUẤN LỆNH Của Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục về Nhà thờ La Mã, Bến Tre "Dù Bề Trên chưa đoán định hư thật thế nào, Toà Ta không cấm bổn đạo đến viếng nhà thờ ấy, miễn là sẵn lòng vâng phục lý đoán Hội Thánh sẽ ra, sau khi đã truy cứu rõ ràng cẩn thận, và miễn là hằng nhớ mình đến viếng nơi thánh ấy cho được cầu nguyện và hãm mình, không phải đi du lịch, ăn chơi sung sướng. Cho nên Ta khuyên lơn ai đi đến nơi ấy - từ hàng Giáo sĩ cho đến bổn đạo thường – tuy không ăn chay được thì ít ra kiêng thịt và không dùng các thứ rượu. Nếu không thức được trót đêm cầu nguyện thì ít là thức một giờ làm giờ thánh hay là lần hạt Mân Côi. Nếu không thinh lặng được thì nói nhỏ tiếng, không nên ồ ạt, cợt giỡn vì là nơi thánh. Nam nữ không nên trà trộn, nhất là nhựt một, chiều rồi. Người nữ phải ăn mặc nết na kín đáo, không nên loè loẹt son phấn. Ta khuyên ai nấy đừng lợi dụng chốn thánh mà buôn bán kiếm lời hoặc phổ khuyến xin khất gì. Muốn cho ai nấy dễ bề chịu các phép Bí Tích thì Ta ban cho các cha đã có quyền giải tội trong Địa phận mình cũng được giải tội ở La Mã. Sau hết Ta ước ao cho những kẻ tưởng mình đã được ơn riêng Đức Mẹ ban ở La Mã, thì trình bày việc ấy cho Cha bổn sở, tốt hơn là xin giấy chứng minh lương y trước khi đi La Mã và sau khi nghĩ mình được ơn riêng Đức Mẹ cho thuyên giảm bệnh tật rồi, gửi giấy má ấy đến tay Cha sở La Mã. Làm huấn lệnh nầy tại Vĩnh Long ngày 11 tháng 2 năm 1952 cũng là ngày Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức". Ký tên SẮC CHỈ Venerabilium Nostrorum , ngày 24/11/1960 Chư Huynh đáng kính, là Hồng Y Giáo Hội Roma, phụ trách tại Thánh Bộ Truyền Giáo, sau khi tham thảo ý kiến hiền tử MARIO BRINI Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương, đã nghĩ việc thiết lập Phẩm trật Giáo Hội tại Việt Nam là thích thời và tối lợi cho giáo sự. TA đây cũng đồng ý, lại tự suy xét chín chắn và thêm ý kiến những người liên hệ, TA lấy quyền Tông Tòa mà quyết định và truyền thi hành như sau: Tại Việt Nam sẽ thành lập ba Giáo Tỉnh, tức là: GIÁO TỈNH HÀ NỘI gồm Tổng Giám mục Hà nội, tới nay chỉ là Đại diện Tông Tòa, với Nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Giuse, và thêm những Giám tòa thuộc hạt từ nay cũng hết là Đại diện Tông Tòa, để trở nên Địa phận Chính tòa, tức là: Lạng Sơn với Nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Đa Minh Hiển tu; GIÁO TỈNH GIÁO TỈNH HUẾ gồm Tổng Giám mục Huế, trước đây chỉ là Đại diện Tông Tòa, với Nhà thờ Chính tòa Danh hiệu Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ, và thêm các Giám tòa thuộc hạt đã được trở thành Địa phận Chính tòa: Qui Nhơn với Nhà thờ Chính tòa danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời; Sau cùng, Vĩnh Long với Nhà thờ Chính tòa danh hiệu Bà Thánh Anna Thân Mẫu Đức Bà Maria; Cần Thơ với Nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Tâm Chúa Giêsu. Và các Địa phận mới được thành lập: ĐaLat với Nhà thờ Chính tòa danh hiệu Thánh Nicola Bari; Ta cũng lệnh cho các Địa phận Lạng Sơn, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Thái Bình, Huế, đến nay vẫn do Hội Thừa Sai Ba lê và Dòng Đa Minh điều khiển, và các Địa phận mới Đalat, Mỹ Tho, Long Xuyên, tất cả các Địa phận kể trên từ nay sẽ trao cho Giáo sĩ Triều Việt Nam quản nhậm. TA cũng ban cho các Địa phận vừa nói và các Địa phận khác đã kể trên, cho các Nhà thờ Chính tòa cũng như các Giám mục lãnh đạo được mọi quyền lợi, danh dự, đặc ân thích xứng. Đối với các Giám mục lãnh đạo, TA còn đặt thêm trọng trách và nhiệm vụ. Tất cả các Địa phận trên đây sẽ tiếp tục trực thuộc Thánh Bộ Truyền Giáo, còn các Giám mục lãnh đạo thì ta thuyên chuyển như sau: - Thân huynh đáng kính GIUSE MARIA TRỊNH NHƯ KHUÊ, trước đây là Đại diện Tông Tòa với hiệu tòa Synaitana, từ nay là Tổng Giám mục Hà nội. - Thân huynh đáng kính Vincentê Phạm Văn Dụ, Giám quản Lạng Sơn với hiệu tòa Bosetana từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Lạng Sơn. - Thân huynh đáng kính Phêrô Khuất Văn Tạo, Giám quản Hải Phòng với hiệu tòa Caralliensi từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Hải Phòng đồng thời kiêm Giám quản Địa phận Bắc Ninh. - Thân huynh đáng kính Phêrô Nguyễn Huy Quang, Giám quản Hưng Hóa với hiệu tòa Claudiopolitana xứ Isauria, từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Hưng Hóa. - Thân huynh đáng kính Đaminh Đinh Đức Trụ, Giám quản Thái Bình với hiệu tòa Cataquensi, từ nay Giám mục Chính tòa Địa phận Thái Bình. - Thân huynh đáng kính Giuse Phạm Năng Tĩnh, Giám quản Bùi Chu với hiệu tòa Bernicensi, từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Bùi Chu. - Thân huynh đáng kính Phaolô Bùi Chu Tạo, Giám quản Phát Diệm với hiệu tòa Numida, từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Phát Diệm. - Thân huynh đáng kính Phêrô Phạm Tần, Giám quản Thanh Hóa với hiệu tòa Justiniapoli bên Galatia, từ nay làm Giám mục Chính tòa Địa phận Thanh Hóa. - Thân huynh đáng kính Gioan Baotixita Trần Hữu Đức, Đại diện Tông Tòa ở Vinh với hiệu tòa Niciotana, từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Vinh. - Thân huynh đáng kính Phêrô Martinô Ngô Đình Thục, Đại diện Tông Tòa tại Vĩnh Long với hiệu tòa Saesinensi, từ nay là Tổng Giám mục Địa phận Huế. - Thân huynh đáng kính Phêrô Phạm Ngọc Chi, Đại diện Tông Tòa tại Bùi chu và Giám quản Tông Tòa ở Qui Nhơn với hiệu tòa Sozopolitana bên Haemimonto, từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Qui nhơn. - Thân huynh đáng kính Marcellô Piquet, Đại diện Tông Tòa tại Nha Trang với hiệu tòa Erizê, từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Nha Trang. - Thân huynh đáng kính Phaolô Seitz, Đại diện Tông Tòa tại Kontum với hiệu tòa Catulensi, từ nay là Giám mục Chính tòa tại Địa phận Kontum. - Thân huynh đáng kính Phaolô Nguyễn Văn Bình, Đại diện Tông Tòa tại Cần Thơ với hiệu tòa Agnusiensi, từ nay là Tổng Giám mục Địa phận Saigon. - Thân huynh đáng kính Simon Hòa Nguyễn Văn Hiền, Đại diện Tông Tòa ở Saigon với hiệu tòa Sagalassê, từ nay là Giám mục Chính tòa Địa phận Đàlạt. Và Ta đặt các Hiền tử: Trong các Địa phận mới này, thuộc Giám mục Chính tòa cũng như Tổng Giám mục Chính tòa, nếu vì hoàn cảnh sự vụ hay địa phương, chưa thể thành lập Kinh sĩ hội, thì phải lựa đặt Ban Cố vấn Địa phận theo Giáo luật, và một khi Kinh sĩ hội được thành lập, Ban Cố vấn tức khắc chấm dứt nhiệm vụ. Các vị lãnh đạo cũng phải đặc biệt lưu ý việc đào luyện thanh niên có triển vọng lên chức Linh mục: họ là hướng đạo tương lai của giáo dân. Ngân quỷ Giám tòa thành bởi của cải Địa phận hiện có, lợi tức Giám tòa, tặng vật người ta tự cúng và tiền Thánh Bộ Truyền Giáo trợ cấp. Việc cai quản và điều hành Địa phận, quyền lợi Giáo sĩ và Giáo dân, bổ nhiệm Vị Đại diện Kinh sĩ hội khi trống ngôi và mọi việc khác, thì cứ chiếu Giáo luật mà thi hành. Sắc chỉ của Ta đây sẽ được niêm ấn chì và Ta truyền cho Vị Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương Ta đã nói trên, phải đích thân hay ủy nhiệm người khác thi hành, miễn là người ấy có chức vị trong Giáo hội. Nếu trong thời gian thi hành, Vị khác sẽ nhậm chức vụ Khâm sứ Tòa Thánh tại Đông Dương, thì Vị ấy sẽ thi hành lệnh của Ta. Vị thi hành phải thận trọng lập biên bản đầy đủ khi việc đã hoàn tất và kíp đệ lên Thánh Bộ Truyền Giáo các văn kiện đã ký nhận chắc chắn. Ý Ta là Sắc Chỉ này có hiệu lực tức khắc và mãi về sau, cho nên tất cả những gì được ấn định trong Sắc này phải được những người liên hệ tôn trọng thi hành và như thế là có hiệu lực. Không một luật lệ nào nghịch lại có thể ngăn cản hiệu lực của Sắc Chỉ nầy: chính Sắc Chỉ này hủy bỏ các luật lệ ấy. Vì thế bất kỳ ai, ở chức vị nào, hữu ý hay vô tình nghịch lại những sự Ta vừa nói trên, thì Ta luận phi và kể là vô giá trị. Lại nữa, không ai được phép xé hủy hay giả mạo Sắc Chỉ này của Ta và nếu công bố hoặc là ấn loát hay viết tay thì những bản đó phải được chức vị trong Giáo Hội đóng ấn và đồng thời phải mang chữ ký của một Vị Chính thức coi giữ văn kiện thì mới đáng tin. Nếu ai dám khinh dể hay khước từ cách nào toàn Sắc Chỉ này thì hãy biết rằng sẽ bị những hình phạt Giáo luật đã ra cho những người không tuân lệnh các Đức Giáo Hoàng. Làm tại Roma nơi đền thờ Thánh Phêrô, ngày hai mươi bốn tháng mười một, năm một ngàn chín trăm sáu mươi, cũng là năm thứ ba Triều đại của Ta. Ký tên Thay Đức Hồng Y Chưởng ấn Giáo Hội Roma: N. 4578 Chúng tôi ANGELO PALMAS Chiếu theo quyền hạn đặc biệt do Toà Thánh ban bố, hôm nay, qua bản Văn thư có chữ ký và đóng ấn của chúng tôi, chúng tôi xác nhận và minh chứng rằng : ĐỨC THÁNH CHA DO CHÚA QUAN PHÒNG LÀM GIÁO HOÀNG VỚI BIỆT HIỆU PHAOLÔ ĐỆ LỤC đã ban phép cho Đức Cha Giacôbê NGUYỄN VĂN MẦU, mới được bổ nhiệm và tuyên bố làm Giám mục địa phận Vĩnh Long, với đủ quyền lãnh đạo, và những quyền bính liên hệ về hành chính, cũng như hết những gánh nặng trong chức vụ, hôm nay được phép thụ phong Giám mục một cách hợp pháp ngoài thành La Mã, và được phép tự chọn vị Giám mục chủ phong và hai vị Giám mục phụ phong tuỳ theo ý muốn, miễn là cả ba vị Giám mục nầy đều thông hảo cùng Toà Thánh của Phêrô. Nghị định này có giá trị, dù trong bất cứ trở lực nào. Đóng ấn và ký tên + ANGELO PALMAS N. 4579 Chúng tôi ANGELO PALMAS Chiếu theo quyền hạn đặc biệt do Toà Thánh ban bố, hôm nay, qua bản Văn thư có chữ ký và đóng ấn của chúng tôi, chúng tôi xác nhận và minh chứng rằng : ĐỨC THÁNH CHA DO CHÚA QUAN PHÒNG LÀM GIÁO HOÀNG VỚI BIỆT HIỆU PHAOLÔ ĐỆ LỤC đã ban cho Đức Cha Giacôbê NGUYỄN VĂN MẦU, được bổ nhiệm và tuyên bố làm Giám mục Vĩnh Long, và mới được tấn phong cách hợp pháp tại Sàigòn, ngày 12/09/1968, hôm nay được phép về nhận địa phận, trước khi Văn Kiện chính thức của Toà Thánh chưa kịp tới. Nghị định nầy có giá trị trong bất cứ trường hợp nào. Đóng ấn và ký tên + ANGELO PALMAS TÔNG SẮC CỦA ĐTC GIOAN PHAOLÔ II Gioan Phaolô Giám mục
Bởi Ta không muốn để ngài thiếu Giám mục trợ tá và bạn đồng sự trong thời gian lâu dài, nên hôm nay, Ta nghĩ đến nhu cầu mục vụ và đồng thời lo cho lợi ích lớn lao hơn của đoàn chiên rất thân mến của Giáo phận nầy. Thế nên, con thân mến, Ta nghĩ đến con, Ta biết con có lòng đạo đức và trung thành với Chúa Kitô và Hội Thánh, Ta nhận thấy con có sự khôn ngoan trong phán đoán và khả năng để thi hành những việc phải làm. Bởi vậy, Ta lấy quyền Tông toà tuyển chọn và bổ nhiệm con, theo giáo luật, làm Giám mục Phó đoàn chiên Vĩnh Long, đồng thời trao cho con các quyền và đặc ân, nhưng cũng đặt lên vai con những gánh nặng và những công việc, được nối kết với phẩm chức Giám mục, với công việc của Giám mục Phó theo Giáo luật. Con thân mến, trong khi Ta khuyên bảo đoàn con quí mến của Giáo phận nầy hết lòng ưu ái đón nhận con và nghe theo con, Ta cũng cần nhắc bảo con hãy nhớ tới cương vị cao trọng của con, mà cố gắng làm sao cho tất cả lòng nhiệt thành của con và những điều con tâm niệm như một Linh mục, trở thành việc hướng dẫn hiệu nghiệm và không ngừng canh tân đoàn dân rất quí mến nầy cho Chúa Kitô. Ban hành tại Rôma, bên cạnh Đền Thờ Thánh Phêrô, năm Chúa Giáng sinh 2000, năm thứ 22 triều đại Giáo hoàng của Ta. Gioan Phaolô II, Giáo hoàng THƯ CHUNG Kính gởi : Các Linh Mục, V/v: KỶ NIỆM 150 NĂM HAI THÁNH TỬ ĐẠO Anh chị em thân mến, Nối gót Cha Philipphê Minh, Ông Trùm họ Mặc Bắc, Giuse Nguyễn Văn Lựu, cùng bị bắt với Cha Philiphê Minh và bị án quyết “Phát lưu” ra Tuyên Quang (Bắc Việt), đã chết rũ tù ngày 2/5/1854 tại Vĩnh Long, bảo toàn niềm tin vào Chúa Kitô, và Hội Thánh Công giáo. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tuyên phong các Ngài lên bậc hiển Thánh ngày 19/6/1988. Nhờ ơn rộng của Tòa Thánh, Giáo phận Vĩnh Long chúng ta sẽ mừng kỷ niệm 150 năm hai vị Thánh đã hy sinh mạng sống vì Đức Tin, từ 3/7/2003 - 3/7/2004. Trong dịp này, chúng ta hết lòng tạ ơn Thiên Chúa đã ban phúc Tử Đạo cho các Ngài và nhờ các Ngài, chúng ta được phúc làm con Thiên Chúa. “Máu Tử Đạo là hạt giống phát sinh người công giáo” (Tertullianô, Apologeticus, 50-R.285) Thật vậy, nhờ công đức của các Ngài, nhờ những hy sinh của các nhà truyền giáo, mà một đoàn dân của Chúa đã được gầy dựng trên phần đất Miền Nam nầy. Ngày 8/1/1938, Tòa Thánh đã thiết lập Giáo phận Vĩnh Long gồm có 3 tỉnh : Vĩnh Long, Trà Vinh và Bến Tre, với 45.318 giáo dân thuộc 35 họ chánh và 106 họ nhỏ. Giáo phận mới nầy được giao cho một Giám Mục Việt Nam cai quản là Đức Cha Phêrô Ngô Đình Thục, với sự cộng tác của 47 Linh mục Giáo phận và 3 Linh mục thừa sai nước ngoài. Năm 2003, số giáo dân Giáo phận Vĩnh long (có thêm tỉnh Sa Đéc cũ từ 1960) lên tới 182.442. Việc chăm sóc mục vụ do 137 Linh mục Giáo phận và 11 Linh mục Dòng đảm nhận, với sự cộng tác của hơn 600 Tu sĩ nam nữ, 471 Giáo lý viên và 2063 Biện sở. Thiên Chúa cũng ban cho Giáo phận nhiều ơn gọi Linh mục và Tu sĩ. Việc hân hoan tạ ơn phải đi đôi với đời sống đạo sốt sắng và lòng nhiệt thành rao giảng Phúc Âm: “Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì phải cho nhưng không” (Mt 10,8). Hai Thánh Philipphê Minh và Giuse Lựu đã cảm nhận tình thương của Thiên Chúa: “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi sai con một của Ngài đến trần gian, để bất cứ ai tin vào Người, thì không phải chết, nhưng có sự sống đời đời” (Ga 3,16), và đã noi gương Chúa Kitô, Đấng đã yêu thương chúng ta và đã thí mạng sống mình vì chúng ta: “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga15,13). Tử Đạo là cử chỉ bác ái cao cả : vừa biểu lộ tình yêu và lòng trung thành đối với Thiên Chúa, vừa làm chứng điều mình rao giảng cho mọi người, cho những ai bách hại mình. Cử hành Lễ Kỷ Niệm 150 năm hai Thánh Tử Đạo, chúng ta sẽ cố gắng học hỏi giáo lý, kinh nguyện gia đình, lần chuỗi môi khôi, làm sao cho mỗi Gia Đình trở thành Hội Thánh tại gia, Trường dạy Đức Tin, và Nhà của sự thánh thiện... mỗi Họ Đạo trở thành cộng đoàn hiệp thông, liên kết mọi thành phần tín hữu cộng tác xây dựng Hội Thánh. Trong năm hồng phúc này, tôi mong ước anh chị em tích cực tham dự các Lễ Kỷ Niệm, các cuộc hành hương kính các Thánh Tử Đạo tại các địa điểm : • Vĩnh Long : Nhà thờ Chánh Toà và Trung Tâm Đình Khao. Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Nữ Vương các Thánh Tử đạo, của hai Thánh Philipphê Minh và Giuse Lựu, xin Chúa ban cho tất cả anh chị em nhiều ơn lành hồn xác, để gia đình được an vui, hoà thuận và thánh đức, nhờ đó Hội Thánh được thêm nhiều ơn gọi và nhiều người cộng tác mở mang Nước Chúa. Xin Chúa ban cho các Linh mục, Tu sĩ, Chủng sinh được ơn sống thánh thiện để nhiệt thành phục vụ Hội Thánh. Làm tại Vĩnh Long, ngày 10/6/2003 + Tôma Nguyễn Văn Tân THƯ CHUNG Vĩnh Long, ngày 2 .2.2006 Anh Chị Em Giáo Dân Giáo Phận Vĩnh Long Đức Maria cảm nhận những hồng ân Chúa ban cho Mẹ, đã cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa, ‘Linh hồn tôi ngợi khen Chúa …vì Người đã đoái nhìn thân phận mọn hèn tớ nữ của Người, vì Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả’(Luca 1,48-49). Người thiếu nữ khiêm tốn làng Nazareth được đặt làm Mẹ Chúa Cứu Thế, một tước vị vô song. Đức Cha Antôn NGUYỄN VĂN THIỆN, nguyên Giám Mục Vĩnh Long (1961-1968), hiện đang nghỉ hưu tại Mougins (gần Nice, miền Nam Nước Pháp) sẽ được tròn 100 tuổi, vào ngày 13.3.2006, một ân huệ hiếm có. Đó là lý do đặc biệt để Giáo Phận Vĩnh Long sẽ cùng với Đức Cha cử hành Lễ Tạ Ơn . Để cảm nhận hồng ân của Thiên Chúa, chúng ta nên nhìn lại những năm tháng qua, thời gian Đức Cha cai quản Giáo Phận cũng như lúc Đức Cha rời Giáo Phận đi chữa bệnh và nghỉ hưu. Đức Cha Antôn sinh ngày 13.3.1906 tại Cái Côn, Giáo Phận Cần Thơ, Thụ phong Linh Mục ngày 20.2.1932. Ngày 24.11.1960, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thiết lập Phẩm Trật Giáo Hội Việt Nam, bổ nhiệm Đức Cha Antôn làm Giám Mục Chính Tòa đầu tiên của Giáo Phận Vĩnh Long. Đức Cha được tấn phong Giám Mục tại Sài Gòn ngày 22.1.1961, và nhận Địa Phận ngày 3.4.1961. Trong thời gian Đức Cha cai quản Địa Phận từ tháng 4.1961 đến khi Đức Cha từ chức vì lý do sức khỏe ngày 14.7.1968, Đức Cha đặc biệt quan tâm đến Sứ Vụ Loan Báo Tin Mừng, thiết lập Trung Tâm Truyền Giáo, mở những giáo điểm để Hội Thánh hiện diện giữa lương dân , lập tu hội Truyền Giáo nam, tu hội Nữ Tá Truyền Giáo để có thêm nhiều người tham gia chương trình‘đến với lương dân’(CĐ Vaticanô II, Ad Gentes,1). Đàng khác ngài còn là Vị Mục Tử nhiệt thành với Đàn Chiên, đi thăm các Họ lớn nhỏ, gởi nhiều thư mục vụ. Với tâm hồn tông đồ nhiệt thành, Đức Cha tổ chức hơn 30 khóa huấn luyện Quới Chức, các Hội Đoàn, đào tạo những tông đồ giáo dân cho các Họ. Năm 1961 và 1962 mỗi tuần đều có mở khóa tại Vĩnh Long; từ năm 1963, mở khóa ngay trong các Họ Đạo . Trong những năm 1962-1965, các khoá họp của Công Đồng Vaticanô II chiếm nhiều thời giờ của Đức Cha, nhưng cũng là cơ hội để Đức Cha vận động cho các chương trình mục vụ của Giáo Phận. Năm 1964 Đức Cha khai giảng Đại Chủng Viện Vĩnh Long để đào tạo Linh Mục cho ba Giáo Phận Cần Thơ, Mỹ Tho và Vĩnh Long, và trao việc đều hành cho các Linh Mục thuộc Tu Hội Xuân Bích. Ngoài ra, Đức Cha còn thiết lập Trung Tâm Fatima, để giáo dân các Họ Đạo đến hành hương, thêm lòng mộ mến và noi gương Mẹ Maria. Nhất là Đức Cha đã cho khởi công xây Nhà Thờ Chánh Tòa mới cho Giáo Phận, làm sao cho xứng đáng là ‘Trung tâm sinh hoạt phụng vụ của Giáo phận, biểu hiện quyền giáo huấn và lãnh đạo của vị mục tử Giáo Phận’ (xem Caeremoniale Episcoporum, số 42 và 44). Đức Cha đã phải khó nhọc và hy sinh biết bao để Vĩnh Long có được Ngôi Nhà Thờ xinh đẹp, thích họp cho những việc cử hành long trọng với đông đảo giáo dân tham dự. Sau ngày 14.7.1968, Đức Cha chấm dứt sứ vụ Mục Tử Vĩnh Long để nghỉ hưu, bắt đầu một cuộc sống lặng lẽ, âm thầm hy sinh cầu nguyện. Đức Cha rời Vĩnh Long, nhưng tấm lòng của người cha không bao giờ xa lìa đàn chiên mà Đức Cha đã dày công chăm sóc. Nơi xứ người, Đức Cha theo dõi những sinh hoạt của Giáo Phận Vĩnh Long, hỏi thăm các Linh Mục ngài quen biết. Không thể không nhắc đến nhiều lần Đức Cha kín đáo giúp đỡ Giáo Phận có phương tiện phục hồi một số Họ nhánh xa xôi. Thời gian non 38 năm sống xa Giáo Phận Vĩnh Long, thời gian thật dài so với một đời người, nhưng là hồng ân quí báu đối với Giáo Phận Vĩnh Long, vì Đức Cha đón nhận thánh giá Chúa gởi đến với tâm tình hiến dâng trọn vẹn theo gương Vị Mục Tử Tối Cao, và không có gì ngăn cản Đức Cha tiếp tục sống cho Đàn Chiên Vĩnh Long. Để Tạ Ơn Chúa và Mừng Tuổi Thọ của Đức Cha Antôn, chúng ta hãy phó thác ngài cho Mẹ Maria, xin Mẹ tiếp tục nâng đỡ và gìn giữ ngài. Xin Mẹ cho chúng ta được hiệp nhất với Mẹ cất tiếng tạ ơn Chúa. Mỗi Họ Đạo sẽ làm Tam Nhật, từ Thứ Tư Lễ Tro đến Thứ sáu Đầu Tháng (1-3 tháng 3) : ‘tổ chức Thánh Lễ, Giờ Chầu Thánh Thể, Lần Chuỗi chung’, để cùng Tạ Ơn với Đức Cha Antôn, để cầu nguyện cho ngài được an khang. Đồng thời làm Bó Hoa Thiêng Liêng: Dâng Lễ, Xưng Tội, Rước Lễ, Viếng Chúa, Hy Sinh, Lần Chuỗi và gởi về Tòa Giám Mục trước ngày 5.3.2006. Ngày 13.3.2006, xin Quí Cha, Quí Tu Sĩ, và đại diện Giáo Dân các Họ Đạo đến tham dự Thánh Lễ Đồng Tế Tạ Ơn với Đức Giám Mục tại Nhà Thờ Chánh Tòa Vĩnh Long lúc 9 giờ sáng. Xin các cha đọc Thư nầy cho giáo dân trong các Thánh Lễ Chúa Nhật 12.2.2006 và Chúa Nhật kế tiếp, để khích lệ giáo dân thực hiện trong tinh thần hiệp thông với Giáo Phận, bày tỏ lòng tri ân đối với Đức Cha Antôn. Thân ái trong Chúa Kitô + Tôma Nguyễn Văn Tân THƯ CHUNG TÒA GIÁM MỤC VĨNH LONG Vĩnh Long, ngày 12.10. 2007 Kính gởi: Quí Cha, Anh Chị Em thân mến, Như thế, ngày 8-1-2008 , Giáo Phận Vĩnh Long sẽ được 70 tuổi. Vĩnh Long được coi như con đầu lòng của Giáo Phận Sài Gòn, một Giáo Phận son sẻ có thể vì diện tích nhỏ hẹp, nhưng phát triển về nhân số: 191.298 giáo dân, 159 Linh mục giáo phận, 515 Nữ tu Mến Thánh Giá, 17 Sư huynh Kitô Vua. Chúng ta nhìn lại những bước đường đã qua với những thăng trầm, vừa để vui mừng tạ ơn Thiên Chúa nhân lành vừa để chuẩn bị cho tương lai trước những thách đố của thời đại mới. 2. Để Kỷ Niệm 70 năm, có thể chúng ta nghĩ đến một Kỷ Yếu Giáo Phận Vĩnh Long, để mỗi thành phần Dân Chúa có thể hiểu biết ngọn nguồn và lịch sử của Giáo Phận, những ai đã và đang góp phần kiến tạo gia đình Giáo Phận, và những việc còn phải thực hiện. Xét theo lãnh thổ, Giáo Phận nói được là nhỏ bé, nhưng có trên 196 cộng đoàn lớn nhỏ khác nhau. Biết nhau thì dễ cảm thấy gần gũi, thông cảm và trợ giúp nhau, cùng nhau cộng tác vào việc phát triển Giáo Phận. Công việc này rất cần sự đóng góp của mọi thành phần Dân Chúa trong các Họ Đạo, nhất là các Cha Sở, các bậc trưởng thượng, Quí Chức tại mỗi Họ Đạo. 3. Đứng trước những thách đố của tình huống xã hội chuộng danh lợi, thích hưởng thụ, xa lạ với tinh thần đạo đức và giáo lý của Hội Thánh, làm lung lạc đời sống gia đình, chúng ta nghĩ đến một chương trình mục vụ chung. Bởi xác tín rằng Con Thiên Chúa làm Người sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria trong gia đình Nazareh, để con người được làm con Thiên Chúa trong gia đình Hội Thánh, mục vụ của chúng ta trước tiên sẽ nhằm củng cố Gia Đình, từ nơi đó sự sống con người khởi đầu với những tương quan khác nhau, với họ hàng, với Hội Thánh; rồi đến việc thăng tiến Thiếu Nhi; phát huy tài năng và tinh thần đạo đức của Giới Trẻ theo Giáo huấn của Hội Thánh, trong ánh sáng của Lời Chúa. 4. Cần phải Cầu Nguyện. Gia Đình sống Đạo là gia đình cầu nguyện. Kinh nguyện gia đình là bước đầu của việc sống Đạo. Con cái học biết Chúa và gặp gỡ Chúa nhờ cha mẹ chỉ bảo vả làm gương. Nhà Thờ trở thành nơi anh chị em tín hữu gặp gỡ Chúa và học sống hiệp thông. Bởi vậy, chúng ta sẽ cùng nhau cầu nguyện trong tinh thần hợp nhất với nhau: - Chúa Nhật: Cầu cho mọi tín hữu trung thành tham dự Thánh Lễ Chúa Nhật để được thông hiệp với Chúa. Việc cầu nguyện theo những ý chỉ trên đây sẽ khởi sự từ Chúa Nhật XXIX Thường niên nhằm ngày 21-10-2007 trong tất cả các Họ Đạo của Giáo Phận. Nếu chúng ta kiên trì cầu nguyện, nếu chúng ta năng chạy đến kêu cầu Lòng Thương Xót Chúa, chắc chắn chúng ta sẽ được ơn đổi mới tâm hồn và con cái Chúa sẽ được sống sung túc an bình trong tình yêu của Chúa. Nguyện xin Mẹ Maria, là Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ của Hội Thánh, đoái thương gìn giữ và dẫn dắt chúng ta trên đường lữ hành theo chân Chúa Giêsu. Thân ái trong Chúa Kitô,
+ Tôma Nguyễn Văn Tân, VIII. DANH SÁCH LINH MỤC, CÁC HẠT TRONG GIÁO PHẬN 1. Danh sách Linh mục GP Vĩnh Long 2009 (xin xem trang WEB Giáo phận Vĩnh Long)
|
||
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tgmvl |