|
|
GIÁO LÝ ƠN GỌI |
|
|
|||
PHẦN I: TIN PHẦN III : LUÂN LÝ Bài 1: Sống theo ý Chúa. "Ai biết các giới luật của Thầy và tuân giữ các giới luật đó, thì họ là người yêu mến Thầy. Và ai yêu mến Thầy thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến họ" (Ga 14. 21). BÀI THỨ I .SỐNG THEO Ý CHÚA I . BIẾT Ý CHÚA. Nhận biết và tuân theo thánh ý Chúa là Cha như chính Đức Giêsu đã làm gương . II . PHƯƠNG CÁCH. Tôi biết được ý Chúa bằng 4 cách sau đây: 1) Nhờ luật tự nhiên. Luật tự nhiên là luật mà Chúa đã ghi vào lương tâm mỗi người. Lương tâm là tiếng Chúa nói trong tâm hồn khuyên tôi làm điều tốt và tránh điều xấu. 2) Nhờ 10 giới luật. Luật mà Chúa đã truyền cho ông Môisen trên núi Sinai .
Mười điều răn (= giới luật) ấy tóm về hai (= tóm tắt thành 2 điều) này mà chớ: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen 3) Nhờ lời Chúa dạy trong Kinh Thánh. Luật mến Chúa yêu người trong Tin Mừng của Đức Giêsu, nhất là trong "bài giảng trên núi", bắt đầu bằng "8 mối phúc thật” như sau :
4) Nhờ giáo huấn và luật lệ của Giáo Hội thay mặt Chúa mà dạy cho tôi. Phần đọc thêm (Xuất Hành 20, 1-17) Thiên Chúa đã phán hết thảy các lời này, rằng: "Ta là Yavê (*), Thiên Chúa của ngươi (ngôi thứ hai số ít: con, bạn, anh, chị, em...), Đấng đã đem ngươi ra khỏi đất Ai cập, khỏi nhà tôi mọi (tôi tớ, nô lệ). (1) Ngươi sẽ không còn các thần khác trước nhan (mặt) Ta. Ngươi sẽ không tạc tượng thần, tạc hình vật gì nơi trời bên trên hay nơi đất bên dưới, hay trong nước bên dưới đất. Ngươi sẽ không thờ lạy chúng và phụng sự chúng, vì Ta, Yavê Thiên Chúa của ngươi, Ta là Thiên Chúa ghen tuông phạt tội cha ông trên con cháu đến ba bốn đời, đối với ai thù ghét Ta, vàgiữ nghiã dư ngàn với những ai yêu mến Ta và giữ các lệnh truyền của Ta. (2) Ngươi sẽ không hư từ nêu danh Yavê, Thiên Chúa của ngươi, vì Yavê sẽ không dung kẻ hư từ nêu danh Người. (3) Ngươi hãy nhớ tới ngày hưu lễ để tác thánh (thánh hóa) ngày ấy. Trong 6 ngày ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Nhưng ngày thứ bảy là ngày hưu lễ kính Yavê Thiên Chúa của ngươi; ngươi sẽ không làm bất cứ việc nào, ngươi và con trai con gái ngươi, tớ trai tớ gái của ngươi, thú vật của ngươi và khác ngụ cư ở bên trong cổng thành ngươi. Vì trong sáu ngày, Yavê đã làm nên trời đất, biển và tất cảmọi sự trong các nơi ấy, nhưng Người đã nghỉ ngày thứ bảy; bởi thế Yavê đã chúc lành cho ngày thứ bảy và tác thánh nó. (4) Hãy trọng kính cha mẹ ngươi, ngõ hầu ngày đời ngươi được kéo dài trên thửa đất Yavê Thiên Chúa của ngươi sắp ban cho ngươi. (5) Ngươi sẽ không giết người. (6) Ngươi sẽ không ngoại tình. (7) Ngươi sẽ không trộm cắp. (8) Ngươi sẽ không làm chứng gian cáo tội đồng loại. (10) Ngươi sẽ không mê muốn nhà cửa của đồng loại. (9+ 10) Ngươi sẽ không mê muốn vợ của đồng loại, tớ trai tớ gái của nó, bò lừa của nó và bất cứ vật gì của nó. Phụ chú: Yavê (Giavê) tên của Thiên Chúa, và theo Sách Xuất Hành 3, 14 thì tên riêng này có nghiã là: "Ta là Đấng ở cùng các con". BÀI THỨ II. NHÂN ĐỨC I . ĐỊNH NGHĨA. Nhân đức là những đức tính tốt mà Thiên Chúa đặt để trong con người: Nhân chi sơ, tính bản thiện. Có 2 thứ nhân đức: II . NHÂN ĐỨC TỰ NHIÊN Nhân đức tự nhiên là những thói quen tốt, do tập luyện mà có được, giúp tôi làm điều lành, tránh điều dữ một cách dễ dàng, như tính ngay thẳng, sự thật thà, liêm chính... III . NHÂN ĐỨC SIÊU NHIÊN. Nhân đức siêu nhiên là những khả năng, mà Chúa ban cho con người khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, giúp họ sống xứng đáng là con cái Thiên Chúa và hưởng hạnh phúc đời đời. 1) Nhân đức đối thần. Là những nhân đức trực tiếp quy hướng về Thiên Chúa, đó là: Đức Tin, Đức Cậy và Đức Mến. 2) Nhân đức luân lý. Là những nhân đức giúp tôi sống tinh thần Tin Mừng giữa xã hội mà tôi đang sống. Có nhiều nhân đức luân lý, nhưng có 4 nhân đức căn bản Còn gọi là bản đức, đó là: khôn ngoan, công bằng, dũng cảm (can đảm) và tiết độ (chừng mực, có độ lượng). BÀI THỨ III. NHÂN ĐỨC ĐỐI THẦN A . ĐỨC TIN I . ĐỊNH NGHĨA. Đức tin là nhân đức siêu nhiên, giúp tôi chấp nhận vững vàng những điều Chúa dạy và nhờ Giáo Hội truyền lại, vì Ngài là Đấng chân thực, không thể sai lầm và không lừa dối ai. II . SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỨC TIN Đức tin rất cần, để được cứu độ như Thánh Phaolô đã viết: "Không có Đức tin thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa" (Dt.11, 6). III . TỘI PHẢN NGHỊCH CÙNG ĐỨC TIN. IV . NHỮNG DỊP CÓ THỂ LÀM MẤT ĐỨC TIN. V . SỐNG ĐỨC TIN. VI . KINH ĐỨC TIN. B . ĐỨC CẬY . I . ĐỊNH NGHĨA. Đức Cậy là nhân đức giúp tôi trông cậy vững vàng, nhờ công ơn của Đức Giêsu, tôi sẽ được Chúa ban ơn đầy đủ, để sống đạo sốt sắng ở đời này và đời sau được hưởng hạnh phúc muôn đời với Chúa.Vì Chúa là Đấng đầy quyền năng, rất nhân từ và trung tín, luôn giữ trọn lời đã hứa. II . SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỨC CẬY. Tôi cần phải trông cậy vào Chúa hơn, nhất là khi bị cám dỗ, thử thách vànhững lúc gặp gian nan đau khổ ở đời, như lời Thánh Phêrô đã khuyên nhủ: "Anh chị em hãy trút bỏ mọi thứ lo âu cho Chúa, vì Chúa luôn săn sóc anh chị em" (Thư thứ nhất của Thánh Phêrô 5, 7). III . NHỮNG TỘI PHẢN NGHỊCH CÙNG ĐỨC CẬY. Có những tội này: IV . SỐNG ĐỨC CẬY. Chu toàn bổn phận hằng ngày với tất cả niềm phó thác vào bàn tay Thiên Chúa Quan phòng. V . Kinh Trông Cậy. "Lạy Chúa con, con trông cậy vững vàng, vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, thì Chúa sẽ ban ơn cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên Thiên đàng xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phúc đời đời, vì Chúa là Đấng phép tắc (quyền phép) và lòng lành (nhân từ) vô cùng đã phán hứa sự ấy, chẳng có lẽ nào sai được, Amen." C . ĐỨC MẾN . I . ĐỊNH NGhIÃ. Là nhân đức giúp tôi kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, và vì Chúa tôi cũng sẽ yêu thương mọi người như chính mình tôi. Kính mến Thiên Chúa trên hết mọi sự: Nghiã là yêu mến Thiên Chúa hết lòng: yêu Ngài hơn tất cả mọi loài, mọi người, mọi vật trên trần gian. Thà mất hết mọi sự còn hơn là phạm tội làm mất lòng Ngài. II . SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỨC MẾN. Tôi phải yêu mến Chúa vì Ngài là Cha nhân từ, tốt lành vô cùng. Ngài yêu thương tôi trước và luôn ban ơn cho tôi. Tôi phải yêu thương tất cả mọi người, dù người đó là kẻ thù nghịch với tôi, như lời Chúa đã dạy: "Các con hãy yêu thương kẻ thù nghịch các con" (Matthêu 5, 44). Tôi phải yêu thương tất cả mọi người, vì những lý do sau đây: III . TỘI LỖI ĐỨC MẾN. Mỗi khi tôi thờ ơ lãnh đạm đối với Chúa hoặc thù ghét Ngài. Nói chung, mỗi khi tôi lỗi luật Chúa mà phạm tội là tôi đã phạm tới Đức mến rồi, như lời Đức Giêsu đã nói: "Ai yêu mến Thầy thì tuân giữ lời Thầy" (Gioan 14, 23). IV . CÁCH GIA TĂNG ĐỨC MẾN. Có 3 cách này: V . KINH ĐỨC MẾN. "Lạy Chúa con, con kính mến Chúa hết lòng, hết sức, trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng; lại vì Chúa thì tôi thương yêu người ta như mình tôi vậy, Amen." Phần đọc thêm (Marcô 12, 28-34) Có một người trong các kinh sư (scribes: những người thông thạo Kinh Thánh, chuyên gia về Kinh Thánh) đã nghe Đức Giêsu và những người thuộc nhóm Xa-đốc (một nhóm chính trị trong nước Do thái thời đó, sinh hoạt từ thế kỷ thứ 2 trước công nguyên tới năm 70 sau công nguyên, đảng viên phần lớn là các tư tế trong đền thờ) tranh luận với nhau. Thấy Đức Giêsu đối đáp hay, ông đến gần Người và hỏi: "Thưa Thầy, trong mọi điều răn (giới luật), điều rănnào đứng đầu?" Đức Giêsu trả lời: "Điều răn đứng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hailà: Ngươi phải yêu mến thân cận (người ở bên cạnh mình) ngươi như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác lớn hơn các điều răn đó." Ông kinh sư nói với Đức Giêsu: "Thưa Thầy, hay lắm, Thầy nói rất đúng. Thiên Chúa là Đấng duy nhất, ngoài Người ra không có Đấng nào khác. Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết trí khôn, hết sức lực, và yêu thân cận như chính mình, là điều quý hơn mọi lễ toàn thiêu (lễ vật được đem hỏa thiêu trên bàn thờ) và (các) hy lễ (khác)." Đức Giêsu thấy ông ta trả lời khôn ngoan như vậy, thì bảo: "Ông không còn xa Nước Thiên Chúa đâu!" Sau đó, không ai dám chất vấn Người nữa. (Bản dịch Sàigòn 1994. Ởû đây thêm những lời giải thích, hoặc những chữ viết trong ngoặc cho chính xác hơn và dễ hiểu hơn) BÀI THỨ IV. TỘI LỖI I . ĐỊNH NGHĨA. Tội là cố tình lỗi luật của Chúa hay là luật Giáo Hội: bằng tư tưởng, bằng lời nói, bằng việc làm hoặc là bỏ qua không làm những việc phải làm [thiếu sót]. Có hai thứ tội: tội trọng (tội nặng) và tội nhẹ. II . TỘI TRỌNG Là khi người ta cố tình phạm một điều luật nặng, dù đã kịp suy nghĩ trước. 1 ) Thiệt hại. Tội trọng làm cho tôi mất sự sống siêu nhiên Chúa ban cho tôi, mất công phúc tôi đã lập trước, đáng chịu hình phạt của Chúa ở đời sau - và có khi cả hình phạt của Giáo Hội ở đời này nữa. 2 ) Thống hối. Khi phạm tội trọng phải giục lòng ăn năn tội cách trọn, rồi tìm cách lãnh nhận Bí tích Hòa giải (đi xưng tội với một linh mục) càng sớm càng tốt. Sau đó, còn phải dùng mọi phương thế để khỏi phạm lại tội đó nữa. III . TỘI NHẸ. Khi lỗi phạm một điều luật nhẹ, hoặc một điều luật nặng mà chưa kịp suy nghĩ hay là chưa hoàn toàn ưng theo. 1 ) thiệt hại. Tội nhẹ dù không làm mất sự sống siêu nhiên Chúa đã ban cho tôi, nhưng làm cho tôi bớt lòng kính mến Chúa, hướng lòng về điều xấu, dễ phạm tội trọng (tội nặng) và đáng chịu hình phạt đời này hoặc đời sau trong luyện ngục . 2 ) phương cách tránh xa dịp tội. Phải siêng năng cầu nguyện, lãnh nhận Bí tích Hòa giải (xưng tội), Bí tích Mình Thánh Chúa (rước lễ) và tránh các cơ hội có thể đưa tôi tới việc phạm tội, như lời Đức Giêsu đã dạy rằng: "Hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn để khỏi sa chước cám dỗ" (Mt. 26, 41). IV . CÁC TỘI THƯỜNG PHẠM. Các tội người ta thường phạm do 7 nết xấu này mà ra, quen gọi là 7 mối tội đầu: kêu ngạo, hà tiện, dâm dục, ghen ghét, mê ăn uống, hờn giận, lười biếng (xin xem lại "Kinh bảy mối tội đầu" nơi Phần tài liệu đọc thêm sau câu 244, trang 3). V . CẦU NGUYỆN. Xin Chúa soi sáng và thêm sức mạnh cho con biết làm nhiều việc lành và biết xa lánh tội. BÀI THỨ V. GIỚI LUẬT THỨ NHẤT I . Ý NGHĨA. Giới luật thứ nhất dạy tôi thờ phượng một Thiên Chúa và kính mến Ngài trên hết mọi sự. Thờ phượng Thiên Chúa là nhận biết Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và là chủ tể trời đất muôn vật, đồng thời hết lòng tôn thờ, kính phục và yêu mến Ngài. II . CÁCH THỜ PHƯỢNG THIÊN CHÚA. Thờ phượng Thiên Chúa bề trong cũng như bề ngoài, cùng tham dự các việc thờ phượng chính thức của Giáo Hội gọi là Phụng vụ. Những việc Phụng vụ quan trọng nhất . Là Thánh lễ, các Bí tích và kinh Nhật tụng (kinh nguyện hằng ngày của các linh mục, tu sĩ. Công đồng Vatican II cho phép và khuyên giáo dân cùng đọc). III. NĂM PHỤNG VỤ. Được tổ chức theo 2 mùa chính: 1) Mùa Giáng sinh (Noel): giúp người tín hữu sống mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống làm người. Mùa Giáng sinh có những lễ lớn (lễ trọng).
Trước lễ Giáng sinh có 4 tuần chuẩn bị tâm hồn để mừng lễ, gọi là Mùa Vọng (Avent). 2) Mùa Phục sinh (Pâques): Giúp người tín hữu sống mầu nhiệm Đức Giêsu cứu độ nhân loại bằng cái chết và sự phục sinh của Ngài. Mùa Phục sinh có những lễ lớn (lễ trọng).
Trước lễ Phục sinh có một thời kỳ chuẩn bị tâm hồn để mừng lễ, gọi là Mùa Chay (Carême). Ngoài ra Giáo Hội còn nhiều ngày lễ khác kính Đức Mẹ và các Thánh là những vị đã sống trung thành với Chúa và hằng cầu khẩn cho chúng ta trước mặt Chúa. IV . NHỮNG TỘI VI PHẠM GIỚI LUẬT THỨ NHẤT. 1) Thờ loài thụ tạo. Là tội thờ tà thần ma quỷ, thờ súc vật, gỗ đá, mặt trời, mặt trăng, hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác và coi đó như là Thiên Chúa của mình vậy. Chú ý: Việc thờ kính cha mẹ, ông bà, tổ tiên. Chữ "thờ" theo nghiã tuyệt đối chỉ dành cho việc thờ Chúa là Đấng tạo thành vũ trụ. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ cũng là người như chúng ta, nghiã là các ngài cũng là loài thụ tạo do Chúa dựng nên, nên chúng ta không thể thờ các ngài như là thờ Thiên Chúa của chúng ta. Ở đây, chỉ có thể dùng chữ "thờ" trong việc thờ kính tổ tiên, ông bà, cha mẹ theo nghiã tương đối mà thôi. Tuy nhiên, lúc nào chúng ta cũng phải tôn kính, biết ơn, hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ theo luật Chúa dạy và theo giáo huấn của Giáo Hội, qua việc tưởng nhớ, xin lễ và cầu nguyện cho các ngài. 2) Mê tín dị đoan. Là tin rằng các loài thụ tạo cũng có quyền năng phi thường như Chúa, như là phù thủy, bói toán, hoặc tin vào những tiếng chim kêu, gà gáy, cùng những điều khác tương tự như vậy. 3) Phạm sự thánh. Là tội xúc phạm đến những người, những nơi hay là những của gì đã được hiến dâng cho Thiên Chúa để làm việc thờ phượng Ngài, như xúc phạm vào những vị có chức thánh, thánh đường hoặc lạm dụng của thánh... V . CẦU NGUYỆN . 1 . Định nghĩa: Cầu nguyện là nâng lòng trí lên cùng Chúa mà thờ lạy, cảm tạ, xin Ngài tha thứ tội lỗi và ban những ơn lành hồn xác. 2 . Sự cần thiết. Cầu nguyện là việc rất cần thiết, như lời Đức Giêsu đã dạy: "Phải cầu nguyện luôn, đừngbao giờ chán". Ngài còn cho biết: "Không có Thầy, các con không làm được gì" (Lc.18,1; Ga. 15,5). 3 . Cầu nguyện khi nào? Tôi phải cầu nguyện luôn, nhất là buổi sáng, buổi tối, những khi bị cám dỗ hoặc những khi gặp đau khổ, hiểm nguy phần hồn phần xác. 4 . Tâm tình. Khi cầu nguyện thì bên trong phải có lòng khiêm nhường, kiên nhẫn và cậy trông; bên ngoài, tôi phải có cử chỉ nghiêm trang, cung kính. 5 . Cách cầu nguyện. Có hai cách: 6 . Hình thức cầu nguyện trong Giáo Hội. Có 2 hình thức: 7 . Đức Giêsu dạy chúng ta kinh để cầu nguyện: Kinh Lạy Cha : "Lạy Cha chúng con làĐấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến; ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; xin tha tội cho chúng con như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con; xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ." (bản dịch năm 1992). VI . TÔN KÍNH ĐỨC MẸ VÀ CÁC THÁNH . 1 . Ý nghĩa. 2 . Kính ảnh tượng,hài cốt. Tôn kính các ảnh tượng đó vì nhắc nhở chúng ta nhớ đến các Ngài, để chúng ta thêm lòng kính mến và noi gương các Ngài. Chúng ta tôn kính hài cốt (xương thánh) và di tích của các Thánh: là những kỷ niệm của các phần tử ưu tú trong Giáo Hội là Nhiệm thể Chúa Kitô và vì Chúa thường dùng những di tích ấy mà làm nhiều phép lạ. 3 . Thực hành. Tôi có thể làm những việc này:
BÀI THỨ VI. GIỚI LUẬT THỨ HAI I . Ý NGHĨA Điều răn thứ hai dạy tôi tôn kính Tên của Chúa, và giữ những điều tôi đã lấy danh của Ngài mà thề hoặc khấn hứa điều gì đó, đồng thời không được nói những lời lộng ngôn, phạm thượng Lộng ngôn hay phạm thượng là nói hay làm điều gì xúc phạm tới Chúa, Đức Mẹ hoặc các Thánh. 1 . Thề . Là nhân danh Chúa, để làm chứng điều mình nói hay điều mình hứa là đúng sự thật. a . Khi nào nên thề? Khi có việc quan trọng thì tôi có thể nhân danh Chúa mà thề, hoặc khi có lệnh chính đáng của giáo quyền thì tôi phải thề. b . Mắc tội khi thề. Khi thề vô cớ (thiếu lý do chính đáng), thề gian dối, thề làm điều xấu, hoặc lấy tên tà ma, quỷ thần mà thề. Ai thề làm điều xấu thì không phải giữ lời thề. Vì ai thề như thế là đã phạm tội rồi, nếu còn thực hiện lời thề đó là còn phạm thêm một tội khác nữa. 2 . Khấn. Là hứa cùng Chúa sẽ làm một việc lành nào đó. Và qua việc khấn hứa đó, người ta có ý buộc mình, nếu không làm điều lành đó thì sẽ mắc tội với Chúa. Giá trị của lời khấn. Khi đã tự do khấn hứa một điều gì thì phải giữ và thi hành những gì mình đã khấn! Còn nếu không giữ nổi lời khấn thì phải xin giáo quyền hay là linh mục giải tội đổi việc mà tôi đã khấn đó ra một việc khác, hoặc là chuẩn chước (tha luôn) khỏi phải làm việc đó nữa. Khấn hứa là việc quan trọng. Vì thế, trước khi khấn hứa phải suy nghĩ chín chắn hoặc là bàn với linh mục giải tội. II . THỰC HÀNH. Để tôn kính Tên của Chúa, tôi phải tránh lộng ngôn phạm thượng, không được lỗi lời thề hoặc lời khấn hứa với Chúa. BÀI THỨ VII. GIỚI LUẬT THỨ BA I . Ý NGHĨA. Giới luật thứ ba dạy tôi THÁNH HÓA các ngày Chúa Nhật và các ngày lễ buộc. Thánh hoá là tham dự Thánh lễ, nghỉ việc xác và làm thêm những việc tốt lành như dự các giờ kinh chung, đọc sách báo đạo đức, đi thăm viếng, làm việc thiện, làm việc tông đồ... II . THAM DỰ THÁNH LỄ. Phải tham dự Thánh lễ với lòng tin, chăm chỉ, sốt sắng và dự trọn lễ từ đầu cho đến hết. Ai vì lười biếng hoặc vì khinh thường mà bỏ lễ một phần quan trọng trong Thánh lễ, thì buộc phải dự thêm một lễ khác trong ngày hôm đó để bù lại. Khi có lý do chính đáng mà không dự lễ được thì không phải là tội. Tuy nhiên, nên làm một hai việc lành để thánh hóa ngày ấy, như lần hột, đọc Sách Thánh hoặc dự Phép lành Mình Thánh Chúa. II . NGHỈ VIỆC XÁC. Là không làm những việc nặng nhọc phần xác, những việc mà người ta vẫn làm để lấy tiền sinh sống. Ai cố tình làm những việc ấy quá 2 giờ đồng hồ (bất kể liên tục hay gián đoạn) vào những ngày Chúa Nhật hoặc lễ lớn thì mặc tội nặng (tội trọng). Tuy nhiên, khi có lý do chính đáng và khẩn thiết hoặc khi đã có phép của giáo quyền thì được phép làm mà không lỗi luật này. Chú ý. Những việc hằng ngày như nấu ăn, lau nhà... hoặc những việc học hành, giải trí thì được làm. Tuy nhiên, không nên lạm dụng, phải biết nghỉ ngơi, dành thời giờ làm những việc có mục đích thánh hóa ngày lễ đó. III . NHỮNG NGÀY LỄ BUỘC. Lễ buộc: là ngày lễ lớn trong Giáo Hội mà mọi người tín hữu buộc phải thánh hóa ngày ấy. Chỉ còn 1 lễ buộc mà thôi, đó là ngày lễ Giáng Sinh(Noel). Các ngày lễ Chúa Giêsu lên trời (Ascension), lễ Đức Mẹ lên trời (Assomption) và lễ Các Thánh (La Toussaint) không còn là lễ buộc nữa. Còn các ngày lễ lớn khác thì đã trùng vào ngày Chúa Nhật rồi. IV . CẦU NGUYỆN. Xin Chúa cho con biết thánh hoá ngày của Chúa, để đời sống đức tin của con được vững mạnh trong Chúa BÀI THỨ VIII. GIỚI LUẬT THỨ TƯ I . THẢO KÍNH CHA MẸ. Giới luật thứ tư dạy tôi phải thảo kính cha mẹ cho trọn đạo hiếu. Thảo kính là kính mến, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời. Thảo kính cha mẹ vì cha mẹ có công sinh thành và dưỡng dục con cái. Các ngài thay quyền Chúa để săn sóc con cái phần hồn cũng như phần xác. 1. Kính mến cha mẹ. Tôi phải tỏ lòng tôn kính, yêu mến và biết ơn cha mẹ trong lời nói, việc làm, cùng ước ao cho cha mẹ được mọi sự lành hồn xác. 2. Vâng lời cha mẹ. Khi cha mẹ dạy điều gì hợp lẽ phải, tôi phải mau mắn và vui vẽ thi hành cho đầy đủ. 3. Giúp đỡ cha mẹ. Phải sẵn lòng giúp đỡ cha mẹ phần hồn phần xác, nhất là lúc lớn tuổi, nghèo khổ, đau yếu. Khi cha mẹ bị bệnh nặng, phải lo cho các ngài được lãnh các Bí tích, và khi cha mẹ đã qua đời rồi thì lo chôn cất, cầu nguyện cùng xin lễ cho các ngài. II . B ỔN PHẬN CHA MẸ ĐỐI VỚI CON CÁI. Cha mẹ có bổn phận nuôi nấng, thương yêu, giáo dục và làm gương sáng cho con cái. III . BỔN PHẬN VỚI NHỮNG NGƯỜI TRONG GIA TỘC. Phải kính nể và yêu mến tất cả mọi người trong gia tộc, như ông bà, chú bác, cô dì và anh chị em, cùng giúp đỡ họ tùy theo khả năng của mình. IV . BỔN PHẬN ĐỐI VỚI XÃ HỘI. Tôi còn phải kính nể và vâng lời những người có quyền trong đạo cũng như ngoài đời, như giáo quyền, chính quyền, thầy cô giáo và chủ nhân... V . BỔN PHẬN ĐỐI VỚI TỔ QUỐC. Đối với Tổ quốc, tôi phải tuân hành những luật lệ chính đáng và chu toàn nhiệm vụ của một công dân, như nộp thuế, thi hành quân dịch, bỏ phiếu. VI . CHÍNH QUYỀN CÓ BỔN PHẬN ĐỐI VỚI QUỐC DÂN. Chính quyền có bổn phận duy trì trật tự công cộng, đảm trách công vụ, tôn trọng quyền lợi căn bản của mọi người dân, và dùng mọi cách để nâng cao mức sống vật chất cũng như tinh thần của dân chúng... VII . THẦY CÔ CÓ BỔN PHẬN ĐỐI VỚI HỌC SINH. Thầy cô có bổn phận giáo dục học sinh cho nên người thông minh, đạo đức vàphải làm gương tốt cho học sinh noi theo. VIII . CHỦ NHÂN CÓ BỔN PHẬN ĐỐI VỚI NHÂN CÔNG. Chủ nhân phải cư xử nhân đạo đối với nhân công của mình, trả lương công bằng, lại phải lo cho họ có đủ thời giờ chu toàn bổn phận tôn giáo của họ. IX . THÁI ĐỘ ĐỐI VỚI NGƯỜI NGOẠI QUỐC? Tôi phải coi họ như những người anh chị em tôi, tôn trọng quyền lợi chính đáng của họ và duy trì tình thân hữu giữa các dân tộc với nhau. BÀI THỨ IX. GIỚI LUẬT THỨ NĂM I . Ý NGHĨA. Giới luật thứ năm dạy tôi tôn trọng, giữ gìn thân xác và mạng sống của tôi cũng như của người khác. Vì Chúa đã dựng nên thân xác tôi cho tôi sử dụng, chứ không phải cho tôi hoàn toàn làm chủ. Hơn nữa, thân xác tôi đã được Chúa cứu chuộc, là đền thờ của Chúa Thánh Thần (1Cor. 3,16-17; 6,19), và ngày sau chính thân xác ấy sẽ sống lại đời đời. Điều răn thứ năm còn cấm giận hờn, ghen ghét, oán thù, chửi rủa, hay là xúi giục kẻ khác làm hại người ta, hoặc làm gương xấu lôi kéo người khác phạm tội. II . CÁCH TÔN TRỌNG. 1 . Mạng sống mình. Tôi phải làm việc nuôi thân, phải chăm sóc sức khoẻ và không bao giờ được phép tự ý giết mình (tự tử) hoặc liều mạng sống mình khi không có lý do chính đáng. 2 . Mạng sống người khác. Tôi không được cố tình hay vì khinh thường mà giết người khác, cũng không được đánh đập và đả thương người ta trái phép. Đả thương: là làm cho người ta bị thương bằng mọi cách trực tiếp hay gián tiếp, như: đánh đập, đâm chém, gây tai nạn xe cộ, làm cho nhà sập, cây đổ... 3 . Trường hợp ngoại lệ. Có những trường hợp đặc biệt không phạm vào điều răn:
III . THỰC HÀNH. Giới luật thứ năm còn dạy tôi phải chăm lo cho phần rỗi linh hồn mình (chăm lo cho linh hồn mình được Chúa giải thoát và cứu rỗi), cũng như giúp đỡ người khác phần hồn (giúp đỡ về tinh thần) và phần xác (giúp đỡ về vật chất). .về vật chất. Tôi phải làm những việc này :
về tinh thần. Tôi phải làm những việc này: (Kinh Thương người có mười bốn mối" được chia làm 2 phần) . BÀI THỨ X. GIỚI LUẬT THỨ SÁU VÀ THỨ CHÍN I . Ý NGHĨA. Giới luật thứ sáu và thứ chín dạy tôi giữ đức trong sạch trong tư tưởng, lời nói và việc làm vì : Tôi được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. (St.1,26-27; 9,6), Tôi là chi thể mầu nhiệm của Đức Kitô (Eph. 5, 30), Thân xác tôi là đền thờ Chúa Thánh Thần (1Cor. 3,16-17; 6, 19). II. ĐỜI SỐNG THỰC TẾ. 1 . Giới răn thứ sáu. Cấm những tội dâm dục bề ngoài như nói năng, nhìn xem hay là làm những điều dâm ô trái phép. 2 . Giới răn thứ chín. Cấm những tư tưởng, ước muốn nghịch với đức trong sạch. Chú ý: Nếu mới chỉ có những tư tưởng và hình ảnh xấu trong đầu óc thôi thì chưa phải là tội, nếu tôi không ưng thuận theo. Trái lại, nếu tôi mau lẹ chống lại những tư tưởng và hình ảnh đó thì càng có công trước mặt Chúa. III . ĐỨC TRONG SẠCH TRONG HÔN NHÂN. Người có gia đình cũng phải giữ đức trong sạch theo bậc sống của mình, như luật Chúa và Giáo Hội dạy. IV . DÂM Ô. Dâm ô là một tội nặng vì làm cho người ta mất hạnh phúc đời đời, như Thánh Phaolô đã viết: "Kẻ gian dâm, ô uế... không được thừa hưởng cơ nghiệp trong nước của Đức Kitô và của Thiên Chúa" (xem: Thư Êphêsô 5, 5). Vả lại, tội phạm vào giới luật thứ sáu và thứ chín thường làm cho người ta chìm đắm trong tội và chán ngán những việc đạo đức. V . THỰC HÀNH. 1 . Việc nên làm. Để giữ đức trong sạch tôi phải làm những việc này:
2 . Việc nên tránh. Có những việc này: 3 . Cầu nguyện. Tôi phải cầu nguyện xin Chúa và Đức Mẹ giúp sức, rồi tưởng nhớ tới những việc khác và tránh ngay dịp tội đó đi. BÀI THỨ XI. GIỚI LUẬT THỨ BẢY VÀ THỨ MƯỜI I . Ý NGHĨA. 1 . Dạy. (tích cực: dạy tuân giữ) Giới luật thứ bảy và thứ mười dạy tôi giữ đức công bằng và tôn trọng của cải của người khác. Vì của cải là Hồng ân Chúa ban và là công lao khó nhọc mà họ mới tạo nên được. 2 . Cấm. (tiêu cực: cấm, không được phép làm) Giới luật thứ bảy cấm tôi lấy của người khác hay là giữ của người khác cách trái phép công bằng, cũng như làm hư hại đồ vật của người khác. Giới luật thứ mười cấm tôi tham lam mơ ước của cải của người khác. II . HÀNH VI TỘI. 1 . Tội lấy của người cách bất công. Là những tội này: trộm cắp, gian lận, cho vay ăn lời quá đáng, nhận của hối lộ hay là thâm lạm công quỹ. 2 . Tội giữ của cải của người cách bất công. Là những tội này: không trả món nợ đã vay, không trả lại những gì đã mượn hay là lượm được, không trả tiền lương xứng đáng, trốn thuế, chứa chấp đồ gian. 3 . Lấy của người khác bao nhiêu mới là tội trọng (tội nặng)? Phải xét theo cái mà mình đã lấy như thế là nhiều hay ít, và cũng phải tùy người bị mất của đó nghèo hay giàu mà xác định tội trọng hay tội nhẹ. III . ĐỨC CÔNG BÌNH. 1 . Trả lại. Ai đã lấy hay là giữ của người khác cách bất công thì phải lo trả lại cho người đó càng sớm càng tốt. 2 . Bồi thường. IV . CẦU NGUYỆN. Xin chúa và Đức Mẹ Maria giúp con biết sống đức công bình cho tốt, để biết tôn trọng của cải người khác. BÀI THỨ XII. GIỚI LUẬT THỨ TÁM I . Ý NGHĨA. Giới luật thứ tám dạy tôi tôn trọng sự thật và tôn trọng danh giá của người khác. II . TÔN TRỌNG SỰ THẬT. Là giữ sự thành thực trong tư tưởng, lời nói và việc làm. Cho nên: Không bao giờ được phép nói dối, dù là để chửa mình hay là để bênh vực người khác. III . TÔN TRỌNG DANH GIÁ NGƯỜI KHÁC. 1 . Tôn trọng danh giá. Tôi phải nghĩ tốt cho mọi người, không nên nói xấu ai, và khi không có luật lệ hay công ích đòi buộc, thì không được tố cáo điều lỗi của người khác. Điều bí mật. 2 . Làm hại danh giá. Khi tôi bỏ vạ (làm cho họ có lỗi, bị phạt), nói hành nói xấu, hoặc là khi hồ nghi điều xấu cho người khác mà không có lý do. 3 . Bồi thường danh giá Khi làm hại danh giá người khác, tôi phải đền trả tiếng tốt và danh dự cho họ. BÀI THỨ XIII. ĐIỀU LUẬT CỦA GIÁO HỘI LUẬT GIÁO HỘI. Lề luật mà Giáo Hội quy định cho tất cả những người đã gia nhập Giáo Hội qua Bí tích Thánh Tẩy và ở trong những trường hợp do Giáo Hội ấn định thì phải tuân giữ lề luật của Giáo Hội, để họ sống theo ý Chúa cách trọn vẹn hơn. Giáo Hội có 6 điều luật, như sau : Thứ nhất: Xem lễ ngày Chúa Nhật cùng các ngày lễ buộc. Thứ hai: Chớ làm việc xác ngày Chúa Nhật cùng các ngày lễ buộc. Thứ ba: Xưng tội trong một năm ít là một lần. Thứ bốn: Chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục sinh. Thứ năm: Giữ chay những ngày Hội Thánh buộc. Thứ sáu: Kiêng thịt ngày Thứ Sáu cùng những ngày khác Hội Thánh dạy. Ghi chú: Ngoài 6 điều luật ấy Giáo Hội còn nhiều luật lệ khác nằm trong bộ Giáo luật (*) hoặc trong các văn kiện quy định những luật lệ về Phụng vụ, Bí tích, về giáo sĩ (**), giáo dân và các Dòng tu nam nữ... (*) Bộ Giáo luật đang áp dụng hiện nay đã được sửa đổi và ban hành vào năm 1983, gồm 1752 điều luật. 1 . Điều luật thứ nhất và thứ hai . Giáo Hội dạy phải tham dự lễ và nghỉ ngơi (không làm việc xác) vào những ngày Chúa Nhật và lễ buộc. 2 . Điều luật thứ ba. Giáo Hội dạy mỗi năm ít nhất phải lãnh nhận Bí tích Hòa giải (xưng tội) một lần. Giáo Hội không buộc phải lãnh nhận Bí tích Hòa giải vào một thời kỳ nào nhất định. Nhưng để tiện giữ luật rước lễ mùa Phục sinh, thì nên lãnh nhận Bí tích Hòa giải cũng vào mùa ấy. Nếu trong mùa Phục sinh mà không lãnh nhận Bí tích Hòa giải được, thì Giáo Hội buộc phải lãnh nhận Bí tích ấy bất cứ lúc nào trong năm. Tuy nhiên. Giáo Hội khuyên lãnh nhận Bí tích đó thường xuyên hơn, nhất là mỗi khi mắc tội trọng (tội nặng). 3 . Điều luật thứ tư. Giáo Hội dạy phải rước lễ mỗi năm ít nhất một lần trong mùa Phục sinh. Mùa Phục sinh bắt đầu từ Thứ Tư Lễ Tro, cho tới Lễ Đức Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Chú ý: Tại Việt Nam Giáo hội nới rộng việc rước lễ Mùa Phục sinh cho đến lễ Đức Chúa Trời Ba Ngôi. 4 . Điều luật thứ năm. Giáo Hội dạy: từ 18 tuổi trọn cho đến hết 60 tuổi phải ăn chay vào những ngày Giáo Hội ấn định. Ăn chay. Là ngày hôm đó chỉ được ăn một bữa no mà thôi. (Nếu lấy bữa trưa làm chính, thì 2 bữa sáng và tối chỉ ăn chút ít. Còn nếu lấy bữa tối làm bữa chính, thì 2 bữa sáng và trưa chỉ ăn chút ít.) Những ngày Giáo Hội chỉ định ăn chay là: Thứ Tư Lễ Tro và Thứ Sáu Tuần Thánh. 5 . Điều luật thứ sáu. Giáo Hội dạy từ 14 tuổi trọn trở lên phải kiêng thịt (không ăn thịt) vào những ngày Thứ Sáu và vào 2 ngày ăn chay ở trên. Chú ý: Khi không thể kiêng thịt vào ngày Thứ Sáu được, có thể làm một việc tốt lành khác thay thế. Ý hướng của lề luật: Luật này tập tín hữu biết hy sinh và chế ngự chính mình. Nên ở những nơi thịt mắc hơn cá, người ta thường chọn cá mà ăn. Còn ở những nơi cá mắc hơn thịt và cá ngon miệng hơn thịt, thì nên chọn một thứ gì rẻ hơn, kém ngon miệng hơn mà ăn, cho hợp với tinh thần chay tịnh của lề luật. Theo tinh thần đó, Giáo Hội lập ra luật kiêng thịt và ăn chay có ý tập cho các tín hữu biết hy sinh, chế ngự chính mình, đền tội lập công, noi gương Đức Giêsu. Tuy nhiên: những người đau yếu, già nua, những người phải làm việc cực nhọc, hay phải đi đường xa xôi thì không buộc phải giữ luật này. BÀI THỨ XIV. THÁNH HÓA ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY Thánh hóa đời sống hằng ngày là làm cho đời sống trở nên thánh thiện, tốt lành. Nghĩa là sống kết hợp với Chúa trong mọi công việc làm hằng ngày, và sống hòa thuận thương yêu giúp đỡ mọi người, về vật chất cũng như tinh thần tùy theo khả năng của mình. I . BUỔI SÁNG. Khi thức dậy tôi nên làm dấu Thánh giá, cám ơn Chúa đã cho tôi qua một đêm bằng an và phó thác cho Chúa mọi việc tôi sẽ làm trong ngày hôm đó. Nếu là ngày không đến nhà thờ dự Thánh lễ được, thì hãy đọc một số kinh ban sáng, hay là dành một vài phút tưởng nhớ tới Chúa. II . TRƯỚC VÀ SAU BỮA ĂN. Trước bữa ăn, nên làm dấu Thánh giá, đọc kinh Lạy Cha, xin Chúa ban phép lành cho những của ăn. Còn sau bữa ăn thì nên cám ơn Chúa. III . KHI LÀM VIỆC. Khi làm những công việc hằng ngày, nên có ý làm những việc đó để sáng danh Chúa, để cứu rỗi chính mình và cứu rỗi những người khác. Rồi đang khi làm việc như vậy, cũng nên thỉnh thoảng nâng lòng mình lên tưởng nhớ tới Chúa. Nên dùng những lời nguyện tắc phát xuất từ tâm hồn, để dâng công việc và tâm hồn lên Chúa. IV . LÚC ĐAU KHỔ. Khi gặp đau khổ, nên cầu nguyện với Chúa và với Đức Mẹ, xin ơn can đảm vui lòng vâng theo thánh ý Chúa, chịu đựng gian nan đau khổ, để đền bù tội lỗi, khuyết điểm của mình và cũng là để lập công trước mặt Chúa. Nếu đẹp lòng Chúa, thì xin Chúa giúp thoát khỏi những đau khổ đó. V . TRƯỚC KHI ĐI NGỦ. Buổi tối, trước khi kết thúc một ngày để đi vào sự nghĩ ngơi chuẩn bị cho một ngày mới, tôi nên đọc kinh ban tối, xét mình kiểm điểm về cách sống của mình trong ngày hôm đó và ăn năn thống hối, nếu cần. Đồng thời, dâng mình cho Chúa, Đức Mẹ và Thiên Thần bản mệnh, xin cho tôi được giấc ngủ bình an. VI . ĐỌC KINH CHUNG. Ban tối và ban sáng, nên đọc kinh chung với nhau, như lời Chúa dạy: "Nếu ở dưới đất có hai người trong chúng con hợp ý cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy - Đấng ngự trên trời - sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại vì danh Thầy, thì Thầy cũng ở đấy, giữa họ" (Mt. 18, 19-20). Ghi chú: Rất nhiều Kitô hữu có thói quen tốt, khi nghe đánh chuông nhà thờ ban sáng, ban trưa và ban chiều thì đọc kinh Truyền Tin, để cảm tạ Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người cứu chuộc nhân loại, và cũng là để tỏ lòng kính mến Đức Mẹ Maria. Mùa Phục sinh thì đọc kinh Lạy Nữ Vương Thiên Đàng. VII . CẦU NGUYỆN. Xin Chúa cho con biết dùng thời giờ và công việc Chúa ban hằng ngày cho xứng đáng, để làm vinh danh Chúa. |
Posted by VinhLong Bishop's House
Hosted by Web Hosting Cong Giao - www.conggiaovn.net Webmaster: tgmvinhlong@gmail.com Site designed by tgmvl |