Bài 1 :Thiên Chúa Duy Nhất.
Bài 2 : Chúa Ba Ngôi.
Bài 3 :TC sáng tạo và quan phòng.
Bài 4 :TC tạo dựng con người.
Bài 5 : Sự sa ngã.
Bài 6 : Chúa Giêsu Kitô Con Một TC.
Bài 7 : Con TC làm người.
Bài 8 : Cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu.
Bài 9 : Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu.
Bài 10 : Chúa Giêsu sống lại và lên trời.
Bài 11 : Chúa Giêsu phán xét.
Bài 12 : Chúa Thánh Thần.
Bài 13 : Hội Thánh.
Bài 14 : Các đặc tính của Hội Thánh.
Bài 15 : Tổ chức của Hội Thánh.
Bài 16 : Các Thánh thông công.
Bài 17 : Đức Maria Mẹ Chúa Kitô, Mẹ Hội Thánh.
Bài 18 : Ơn Phục Sinh và đời sống vĩnh cửu.
ĐỨC TIN KITÔ GIÁO.
Từ những ngày đầu tiên, các Tông Đồ đã diễn tả và trao ban Đức Tin cho người khác bằng những công thức vắn gọn.
Hội thánh cũng tiếp tục truyền thống đó, nên có những lời tuyên xưng đức tin gọi là Tín Biểu. Do đó chúng ta có hai bản tuyên xưng Đức Tin, gọi là Kinh Tin Kính.
Kinh Tin Kính của các Tông Đồ. Trong đó tóm gọn 12 tín điều phải tin. Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicéa và Constantinopoli.
Đây là kinh Tin Kinh mà chúng thường đọc trong thánh lễ. Kinh nầy rỏ ràng và chi tiếc hơn kinh thời các Tông Đồ.
Bản tổng hợp Đức tin nầy soạn thảo dựa trên những giáo lý quan trọng nhất của Thánh Kinh, để tạo nên một giáo huấn Đức Tin duy nhất.
12 điều kinh Tin Kính.
1.Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất.
2.Tôi tin k1nh Đức Chúa Giêsu là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa Chúng tôi.
3. Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bỏi Bà Maria đồng trinh.
4.Chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác, xuống ngục tổ tông.
5.Ngày thứ ba bởi trong kẻ chêùt mà sống lại.
6. Lên Trời ngự bên hữu đức Chúa Cha phép tắc vô cùng.
7.Ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết.
8.Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần.
9.Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các Thánh thông công.
10.Tôi tin Phép tha tội.
11.Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại.
12.Tôi tin hằng sống vậy. Amen .
NHẬP ĐỀ ĐỨC TIN:
I – Khát vọng của con người.
Con người luôn khát khao đi tìm hạnh phúc, tìm cái hoàn hảo hơn hiện tại. Dó là vì bản năng con người luon hướng về Chân, Thiện, Mỹ.
Nhưng hạnh phúc mà con người tìm thấy không đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của họ. Càng tìm, họ càng thấy thiếu vắng, càng tìm, càng thấy khát khao hơn:
Hạnh phúc nơi người khác đem đến như: cha mẹ, con cái, những người thân yêu không thoả mãn đuợc hết nhu cầu.
Hạnh phúc nơi của cải vật chất cũng làm cho con người thất vọng.
Hạnh phúc ở danh vọng, chức quyền, địa vị xã hội cũng không đáp ứng được thoả mãn cho họ, họ vẫn còn khát khao một điều gì tốt đẹp hơn, đày đủ hơn.
Con người mãi đi tìm. Chỉ có một Đấng vượt trên con người mời đáp ứng được những tìm kiếm của họ. Chỉ có Đấng quyền phép hơn con người mới đong đầy được những khát khao của họ. Nên con người tìm đến Thiên Chúa.
II – Nhận biết Thiên Chúa.
Từ khát khao dẫn đến sự tìm kiếm để được đong đầy, con người nhận biết Thiên Chúa nhờ:
1 – Tạo vật.
Vũ trụ: Nhìn thấy vũ tru và con nguời biết có một Đấng tạo thành.
Tiếng nói lương tâm: sự phân biệt lành dữ, phải trái trong tâm hồn mỗi người, cũng nói cho họ biết có Đấng quyền năng đã tạo nên như thế.
2 – Thiên Chúa.
Mặc dù nhận biết có Thiên Chúa, nhưng sự hiểu biết của con người có giới hạn, vì thế không thể thoả mãn được nhu cầu tìm hiểu của chính mình. Nên Thiên Chúa vì yêu thương đã tự bày tỏ chính Mình cho con người. Sự bày tỏ đó chúng ta gọi là Mạc Khải. (Mạc là bức màn, khải là mở) Thiên Chúa đã mở bức màn che phủ để con người nhận biết và nhìn thấy Ngài.
Thiên Chúa đã bày tỏ Mình (Mạc Khải) cho con người qua từng giai đoạn trong lịch sử gọi là Lịch Sử Ơn Cứu Độ. Đó là Mạc khải qua các Tổ Phụ, các Tiên Tri và sau cùng, Mạc Khải trọn vẹn nơi chính Con Một Ngài là Đức Giêsu Kitô.
Mạc Khải được truyền lại qua các hình thức:
-Thánh Kinh: Là sách ghi chép lại Lời Chúa với sự linh hứng của Chúa Thánh Thần.
- Thánh truyền: Lời Thiên Chúa mà Chúa Kitô và Chúa Thánh thần đã uỷ thác cho các Tông Đồ lưu truyền toàn vẹn cho những người kế nhiệm các Ngài, để nhờ Thánh Thần soi sáng, họ trung thành gìn giữ, trình bày và phổ biến qua lời rao giảng.
- Huấn quyền: Là quyền của Hội Thánh được Chúa Kitô trao phó để giải thích và áp dụng Lời chúa.
III - Sống Đức Tin.
Con người nhận biết Thiên Chúa yêu thương mình, khát vọng đã được đáp ứng. Con người phải biết đáp trả bằng những gì cụ thể, đáp trả bằng hành động, bằng chính cuộc sống của mình, để chứng tỏ cho mọi người biết rằng mình đang sống Đức Tin.
Bài 1. THIÊN CHÚA DUY NHẤT.
.“Tôi tin kính Đức Chúa Trời . . .”
“ Nghe đây, hỡi Israel ! Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em.” (Đnl. 6, 4-5).
I – Thiên Chúa Duy Nhất.
Chúng ta tin nhận rằng: Thiên Chúa chỉ có một, là Thiên Chúa Duy Nhất.
Niềm tin vào Thiên Chúa Duy Nhất bắt nguồn từ trong Cựu Ước, khi Thiên Chúa kêu gọi và chọn Israel làm dân riêng. Ngài tỏ cho dân biết: Ngài là Thiên Chúa Duy Nhất, ngoài Ngài ra không có chúa nào khác, và phải phụng thờ một mình Ngài (Đnl. 4, 39).
Trong Giao ước Sinai ( mười điều răn) điều răn thứ nhất thật rõ ràng: “ Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta”. (Xh. 20, 3).
Chúa Giêsu cũng xác nhận: “ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức ngươi” (Mc.12, 30).
II – Thiên Chúa Mạc Khải Tên Người.
Thiên Chúa đã cho biết tên của Người: Đấng Hiện Hữu.
Nghiã là Ngài tự mình mà có, không nhờ ai sinh ra hay tạo thành, nên còn gọi Ngài là Đấng Tự Hữu. Ngài tự hiện diện nên không bị hao mòn, nên Ngài luôn luôn hiện diện, còn gọi Ngài là Đấng Hằng Có Đời Đời.
Thiên Chúa còn tỏ cho con người biết: Ngài là sự thật, là sự sống, là tình yêu. Vì thế Ngài luôn yêu thương loài người và mời gọi mọi người sống trong Tình Yêu Thương của Ngài.
III – Sống Niềm Tin.
Tin tưởng vào Thiên Chúa Duy Nhất nên chúng ta không còn lo sợ, vì có Thiên Chúa luôn yêu thương và bảo vệ.
Bài 2. CHÚA BA NGÔI. (Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần).
I – Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.
Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi là mầu nhiệm trọng tâm của Đức Tin và đời sống Kitô hữu. Đây là cội nguồn của Đức Tin và là giáo lý căn bản của Kitô Giáo.
Ngay trong những ngày đầu của đời sống Kitô hữu, Mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi đã hiện diện: Rửa tội nhân danh Ba Ngôi.
Trong đời sống hằng ngày chúng ta thường làm dấu Thánh Giá Nhân Danh Ba Ngôi.
II – Mạc khải Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.
Chúa Giêsu đã Mạc khải cho ta biết về Chúa Cha. Người không phải chỉ là Cha theo Nghĩa là Đấng Tạo Hoá, nhưng Người là Cha trong tương quan với Ngôi Con Duy Nhất:
“Không ai biết Con trừ ra Cha, cũng như không ai biết Cha trừ ra Con và kẻ Con muốn mạc khải cho” ( Mt. 11, 27 ).Chúa Giêsu còn hứa ban Đấng Bảo Trợ là Chúa thánh Thần cho các Môn Đệ ( Ga. 14, 26 ).
III – Ba Ngôi nhưng là Một.
Ba Ngôi thực sự khác nhau, nhưng Duy Nhất trong cùng một Thần Tính. Thiên Chúa Duy Nhất nhưng không đơn độc vì Chúa Cha, Chúa Con Và Chúa Thánh Thần thực sự phân biệt nhưng không tách biệt nhau mà Một Thiên Chúa Duy Nhất.
IV – Hoạt Động của Ba Ngôi.
Ba Ngôi cùng hoạt động trong mọi công trình. Nhưng trong hành động duy nhất, mỗi Ngôi biểu lộ nét riêng biệt:
Ngôi Cha tạo dựng.
Ngôi Con Cứu chuộc.
Ngôi Thánh Thần Thánh Hoá.
V – Sống Mầu Nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.
Khi nhân danh Ba Ngôi với tất cả ý thức để dâng công việc và cả con người chúng ta cho Ba Ngôi, xin ơn Thánh hoá cho những gì chúng ta làm được tốt đẹp.
Ba Ngôi yêu thương kết hợp thành Một, chúng ta xin Chúa ban cho mỗi người, có con tim biết yêu thương, để trởû nên một trong Chúa và trong mọi người.
Bài 3.THIÊN CHÚA SÁNG TẠO VÀ QUAN PHÒNG.
“Tôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời đất”. ( Kinh tin kính các tông đồ ). “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình”. (Kinh tin kính công đồng Nicéa).
I – Những ưu tư.
Qua mọi thời, con người luôn luôn thắc mắc về sự xuất hiện của họ và vũ trụ. Có nhiều câu trả lời qua những giả thuyết về khoa học và xã hội, nhưng không thoả mãn được những thắc mắc của họ.
Chỉ có một Đấng không phải là con người, quyền phép hơn con người, mới tạo nên và điều khiển vũ trụ nầy được. Đấng đó chúng ta gọi là Thiên Chúa.
II – Thiên Chúa, Đấng tạo thành trời đất, Muôn vật hữu hình và vô hình.
Tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình là những gì mà chúng ta nhìn thấy và biết được, cả những điều mà chúng ta không cảm nhận được nên gọi là vô hình.
Hữu hình: là những gì có thể cảm nhận được bằng giác quan .
Vô hình: là những gì mà con người chỉ có thể nhận biết được bằng lý trí và đức tin,còn gọi là thiêng liêng.
Thiên Thần là loài thiêng liêng, được Thiên Chúa dựng nên để phục vụ Thiên Chúa và loài người. Mỗi người có một thiên thần giữ mình, để gìn giữ trên trần gian và cầu bàu cho họ trước mặt Chúa.
III – Tạo dựng là công trình của tình yêu thương.
Thiên Chúa tạo dựng trời đất muôn vật do tình yêu thương và để thông ban vinh quang của Người. Con người là chóp đỉnh của công trình sáng tạo, là tuyệt đỉnh của tình yêu thương.
Ba Ngôi yêu thương cho đến nỗi Ba mà chỉ là Một. Từ tình yêu thương mà có công trình sáng tạo, vậy công trình tạo dựng là của cả Ba Ngôi vì phát xuất từ Tình Yêu hiệp nhất.
IV – Thiên Chúa Quang Phòng.
Công trình tạo dựng đã hoàn thành, nhưng Ngài còn bảo vệ, chăm sóc và gìn giữ để nó được vận hành trong một trật tự nhất định.
V – Sự dữ.
Thiên Chúa tạo dựng mọi sự đều tốt đẹp. Nhưng sự dữ cũng hiện diện và đang hoành hành. Tại sao ?
Thên Chúa không tạo dựng một vũ trụ chết, nhưng vũ trụ của Ngài là một vũ trụ đang vận hành cách sống động. Hơn thế nữa, Ngài còn ban cho con người trí khôn và sự tự do. Chính vì sự tự do của con người mà có sự dữ xuất hiện: nếu con người biết chọn lựa và thi hành tốt, đó là đang đi trên con đường hoàn thiện. Còn nếu không chọn con đường hoàn thiện, thì điều tốt đẹp không được thực hiện, nghĩa là sự dữ hình thành.
VI – Con người sống Mầu Nhiệm sáng tạo.
Mọi người đều công nhận có Đấng toàn năng cao cả, vì yêu thương đã lo lắng cho con người thật chu đáo, nên mọi người sống xứng đáng để đền đáp tình yêu thương đó.
Bài 4. THIÊN CHÚA TẠO DỰNG CON NGƯỜI.
“Thiên Chúa đã tạo nên con người theo hình ảnh mình; Người sáng tạo họ theo hình ảnh Thiên Chúa, Người sáng tạo họ có nam có nữ” ( St. 1, 27 ).
I – Hình ảnh Thiên Chúa.
Con người được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Người, nên có khả năng nhận biết và yêu mến Người.
Trong tất cả các thụ tạo hữu hình, chỉ con người là có khả năng hiểu biết và yêu mến Đấng Tạo Hóa.
Con người là thụ tạo duy nhất trên trái đất, được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ. Thiên Chúa đã tạo dựng mọi sự cho con người. Còn con người được sáng tạo dể phụng sự, yêu mến Thiên Chúa và dâng lên Người tất cả thụ tạo.
Chỉ con người, nhờ sự hiểu biết và tình thương, được mời gọi chia sẻ sự sống của Thiên Chúa.
II – Con người là linh hồn và xác.
Vì là hình ảnh của Thiên Chúa, nên con người vừa là một thụ tạo vật chất mà có cả yếu tố tinh thần, vì thế con người là một thực thể đơn nhất gồm có xác và hồn.
Thân xác được dự phần vào phẩm giá con người là “Hình ảnh Thiên Chúa”, vì thân xác được chính linh hồn làm cho sinh động, làm cho có sự sống thật trong Chúa. Nhờ đó con người là hình ảnh Thiên Chúa thật sự.Thân xác là vật chất, bị hao mòn theo thời gian, sự hao mòn đến mức cuối cùng chúng ta gọi là sự chết. Nhưng ngày tận thế, thân xác sẽ được sống lại.
Linh hồn thiêng liêng, được Thiên Chúa trực tiếp tạo dựng, nên linh hồn bất tử, không hư mất khi lìa khỏi xác trong giờ chết và sẽ tái hợp lại với thân xác trong ngày Phục Sinh Cánh Chung ( ngày tận thế ).
III – Người Nam và Người Nữ. Thiên Chúa tạo dựng loài người có Nam và Nữ. Mặc dù khác biệt nhau, nhưng bình đẳng nhau, vì con người doThiên Chúa tạo dựng, nên đều là một nhân vị.
Thiên Chúa tạo dựng người nam và người nữ khác biệt nhau, để họ bổ túc cho nhau, tiếp tục công trình tạo dựng của Ngài. Do đó họ có trách nhiệm với vũ trụ mà Thiên Chúa trao phó cho họ.
“Thiên Chúa không tạo dựng con người đơn độc, từ khởi nguyên Người tạo dựng họ có nam có nữ ( St. 1, 27 ). Sự liên kết giữa họ, đã tạo nên một xã hội đầu tiên của con người.(GS. 12, 4 ).
IV – Con người trong vườn Địa Đàng.
Từ đầu, Thiên Chúa tạo dựng con người tốt lành, đặt con người trong tình thân với Ngài, con người cũng hài hoà với vạn vật chung quanh và với cả chính mình. Chúng ta gọi đó là sự Thánh Thiện nguyên thủy và sự Công Chính nguyên thủy. Bao lâu con người còn có được sự thánh htiện và sự công chính nguyên thuỷ, con người không phải đau khổ và không phải chết. Đó là hạnh phúc mà những người đầu tiên đã được hưởng. Hạnh phúc đó chúng ta gọi là vườn địa đàng.
V – Sống ơn gọi làm người.
Con người là hình ảnh của Thiên Chúa, nên chúng ta cố gắng giữ gìn hình ảnh Thiên Chúa cho tốt đẹp, qua đời sống của mỗi người.
Bài 5. SỰ SA NGÃ.
Tội lỗi hiện diện trong lịch sử loài người, đậy là một diều hiển nhiên mà không ai có thể làm ngơ hoặc né tránh được. Nhưng muốn hỉểu tội là gì, chúng ta phải nhận ra mối tương quan mật thiết giữa Thiên Chúa và con người. Vậy tội là chối bỏ và chống đối Thiên Chúa.
I – Nguyên nhân củaTội.
Thiên Chúa đã dựng nên các Thiên Thần để phục vụ Thiên Chúa và loài người. Nhưng một số trong các vị đó đã chối bỏ và chống đối Thiên Chúa, vì muốn chối bỏ quyền của Thiên Chúa, muốn vượt lên trên Thiên Chúa để không phục tùng Ngài, nên đã bị phạt gọi là ma quỉ.
Ma quỉ là cha của sự dối trá, vì là kẻ phạm tội ngay từ buổi sơ khai. Nhìn thấy con người được Thiên Chúa yêu thương, nên nó ganh tỵ và tìm cách lôi kéo con nguời về với nó. Nó cám dỗ vào sự tự do của con người, cám dỗ vào chính những gì mà ma quỉ đã sa ngã và bị phạt, đó là: “Các ngươi sẽ trở nên như Thiên Chúa” (St. 3, 5)
II – Tội Nguyên Tổ.
Thiên Chúa dựng nên con người và ban cho họ có tự do. Ngài tôn trọng tự do của họ.
Trình thuật trái cây biết lành dữ trong (St. 2, 17), nói lên giới hạn mà Thiên Chúa muốn con người phải tùng phục Ngài bằng sự tự do của mình.
Con người bị ma quỉ cám dỗ, đánh mất lòng tin vào Đấng Sáng Tạo, lạm dụng tự do nên đã bất tuân lệnh Chúa. Đó là tội đầu tiên của con người. Từ đó, mọi tội lỗi đều do bất tuân lệnh Chúa và thiếu lòng tin vào Ngài.
Tội đầu tiên nầy là nguyên nhân của mọi tội lỗi, do nguyên tổ gây nên, vì thế gọi là Tội Tổ Tông hay Nguyên Tổ.
III – Hậu quả của tội.
Tội làm cho loài người mất ơn nghĩa với Chúa, không còn sự công chính nguyên thuỷ.
Tội đã phá huỷ sự hài hoà giữa con người với Thiên Chúa, con người với con người, con người với tạo vật và mất cả sự hài hoà của bản thân.
Cuối cùng sự chết đã xăm nhập vào lịch sử nhân loại. Đó là hậu quả của tội đã gây nên.
Tình trạng như thế là tình trạng của Tổ Tông đã bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng. Tình trạng này truyền lại cho con cháu sau này, truyền lại cho những ai mang bản tính loài người.
IV – Ơn Cứu Độ.
Thiên Chúa không bỏ mặc loài người trong tình trạng đau khổ, nhưng hứa ban Đấng Cứu Độ để đem con người trở về tình trạng ban đầu, sống thân mật với Đấng Sáng Tạo.
V – Tâm tình sống.
Loài người bất tuân lệnh Chúa nên rơi vào tình trạng tội lỗi, nhưng Tình chúa vẫn bao la.
Chúng ta xin Chúa ban ơn cho mỗi người, biết nhận ra Thánh Ý Chúa trong cuộc sống đời thường, để biết vâng phục bằng hành động với tâm tình con thảo.
Bài 6. CHÚA GIÊSU KITÔ CON MỘT THIÊN CHÚA.
“Tôi tin kính Đức Chúa Giêsu là Con Một Dức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi”. “ Ngôi Lời đã làm Người và ở giữa chúng tôi” (Ga. 1,14). “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” ( Mt. 16, 15- 16).
I – Chúa Giêsu là Đấng Kitô.
1 . Tên Giêsu: Tên đã được Thiên thần loan báo lúc truyền tin:
Truyền tin cho Mẹ Maria ( Lc. 1, 31). “Nầy Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và đặt tên là Giêsu”.
Truyền tin cho Thánh Giuse ( Mt. 1, 21). “Ông phải dặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân khỏi tội”.
Giêsu có nghĩa là Thiên Chúa cứu độ. Thiên chúa thực hiện ơn cứu chuộc nhân loại qua Người mang tên Giêsu.
2 . Danh Kitô.
Đấng Kitô còn gọi là Đấng Messia, là Đấng được Thiên Chúa xức dầu: nghĩa là được Thiên Chúa chọn đặt biệt để chu toàn sứ mệnh Tiên Tri, Tư Tế và Vương Đế. Đó là để rao giảng, tế lễ và cai quảng dân Chúa.
II – Chúa Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa.
Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa: vì Ngài có liên hệ độc nhất và đời đời với Thiên Chúa là cha của Người. Chính Thiên Chúa cha đã xác nhận: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, các ngươi hãy nghe Lời Người” ( Mt. 3, 17; 17, 5).
Thánh Phêrô cũng đã tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống”. (Mt. 16, 16).
III – Chúa Giêsu Kitô là Chúa.
Chúa có nghĩa là Chủ.
Chúa Giêsu Kitô là Chúa: Danh xưng này nói lên quyền tối thượng của Thiên Chúa. Tuyên xưng hay kêu cầu Chúa Giêsu Kitô là Chúa, có nghĩa là Tin vào Thiên Tính của Người. Nếu không được Thánh Thần giúp sức, không ai có thể nói “Chúa Giêsu Kitô là Chúa” (1Cor. 12, 3).
Xin cho chúng ta hết lòng tôn thờ và yêu mến chúa, qua những người anh em.
Bài 7. CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI.
“Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, mà Người xuống thai,Sinh bởi Bà Maria đồng trinh”.
I – Tại sao Con Thiên Chúa làm người ?
Con Thiên Chúa làm người để :
· Cứu chuộc loài người.
· Giao hoà loài người với Thiên Chúa.
· Giúp loài người nhận ra Tình Thương của TC.
· Trở thành gương thánh thiện cho loài người.
· Cho loài người thông phần bản tính Thiên chúa.
II – Thiên Chúa thật và người thật.
Con Thiên Chúa làm người có hai bản tính: Một là bản tính Thiên Chúa, hai là bản tính loài người. Vì thế, Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa thật, vừa là người thật.
III – Phương cách làm người của Con Thiên Chúa.
“Bởi phép Đức Chúa thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh”. Con Thiên Chúa xuống thế làm người, đã chọn cho mình một người Mẹ xứng đáng và Ngài đã gìn giữ Người Mẹ của Mình luôn trinh khiết vẹn toàn, không bị những tỳ ố của trần gian làm hại được.
Mẹ Maria được Thiên Chúa gìn giữ không mắc tội tổ tông, nên không bị ảnh hưởng của tội lỗi làm tổn thương.
“Uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà”. (Lc. 1, 35).
IV – Cảm nhận.
Ngôi Hai Thiên Chúa bỏ Ngai Trời, hoà nhập với con người để đem hạnh phúc đến cho con người và đem con người về hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa.
Chúng ta nhìn vào mẩu gương tuyệt vời của Chúa Giêsu, để biết sống cho Thiên Chúa và vì Thiên Chúa, qua cách sống quản đại đối với mọi người.
Bài 8. CUỘC SỐNG TRẦN THẾ CỦA CHÚA GIÊSU.
“ Ngôi Lời đã làm Người, và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga. 1, 14).
I – Mầu Nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu.
Cuộc sống hữu hình trần gian của Chúa Giêsu là một Mầu nhiệm, được gom vào trong hai mầu nhiệm chính là Giánh Sinh và Phục sinh.
Cuộc sống trần thế của Chúa Giêsu là một mạc khải về Chúa Cha và là Mầu nhiệm cứu chuộc. Tất cả mọi điều Chúa Giêsu đã nói và đã làm, đều hướng tới mục đích là: Đưa con người sa ngã trở về tình trạng ban đầu.
II – Thời thơ ấu và ẩn dật.
1 . Mầu nhiệm Giáng sinh.
Chúa Giêsu sinh ra trong một gia đình nghèo, sinh tại hang đá Belem, xứ Giuđêa, thuộc đất nước Do Thái.
2 . Mầu nhiệm ẩn dật.
Cuộc đời thơ ấu và suốt thời gian dài khoản ba mươi năm, Người sống ẩn dật tại làng quê Nazaret, như một người bình thường. Người sống theo Thánh Ý Chúa Cha, trong thinh lặng và chờ đợi, chu toàn lề luật Chúa như bao nhiêu người khác.
III – Cuộc sống công khai.
Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời cộng khai bằng việc đón nhận phép rửa của Gioan tẩy giả tại sông Giođan. Người tự đặt mình vào số những tội nhân để xoá tội trần gian.
Khởi đầu rao giảng, Người đã chiến thằng cơn cám dỗ, chiến thắng satan, kẻ mà ngày xưa Ađam dã thất bại. Ngài chiến thắng để dẫn dắt mọi người chiến thắng mà về cùng Chúa.
Ngài rao giảng về Tin Mừng nước Thiên Chúa. Rao giảng không chỉ bằng lời nói, nhưng bằng hành động và cả cuộc sống của Ngài là Lời rao giảng sống động đi kèm: Ngài tiếp xúc gần gủi mọi người không loại trừ ai, chữa lành bệnh tật, làm nhiều phép lạ đem lợi ích cho nhiều người.
Ngài đã vâng phục Thánh Ý Chúa Cha trong suốt thời gian ẩn dật, trong cuộc đờicông khai cũng thế, Ngài luôn chu toàn Thánh Ý Chúa Cha, chu toàn cho đến Chết trên Thập Giá.
Tất cả cuộc đời Chúa Giêsu là một giáo huấn liên tục: Người thinh lặng, cầu nguyện, hành động, yêu thương con người, ưu ái kẻ bé mọn nghèo hèn, vâng phục cho đến chết trên Thập giá để cứu chuộc thế gian. Nhờ đó Ngài đã Phục Sinh đểû hoàn tất Mạc Khải, hoàn tất chương trình mà Thiên Chúa đã ấn định.
IV – Con người sống cuộc đời trần thế.
Chúa Giêsu vâng phục Thánh Ý Chúa Cha, sống trọn vẹn cuộc đời trần thế,nên Ơn Cứu chuộc được thực hiện.
Chúng ta xin Chúa ban cho mỗi người biết noi gương Chúa Giêsu, nhận ra Thánh Ý chúa trong hoàn cảnh sống, để biết vâng phục cho trọn vẹn.
Bài 9. CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU.
“Chịu nạn đời quan Phongxiô Philatô, chịu đóng đinh trên cây Thánh Giá, chết và táng xác”.
Mầu Nhiệm Vượt Qua (Tử Nạn và Phục Sinh) của Đức Giêsu là Đỉnh cao trong công trình cứu độ của Thiên Chúa.
“ Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vàovinh quang của Người sao?” (Lc. 24, 26).
I – Hoàn cảnh xã hội.
Xã hội Do thái thời bấy giờ đang bị người Rôma đô hộ. Toàn dân đang trông chờ một Đấng Cứu thế chính trị, họ trông chờ Đấng Cứu Thế để đánh đuổi người Rôma và đem tự do cho đất nước cho dân tộc Do Thái.
Chúa Giêsu đến không đáp ứng những nhu cầu trần thế , Người kêu mời mọi người hướng về Thiên Chúa, ăn năn sám hối để lãnh nhận ơn cứu chuộc, lãnh nhận sự tự do vĩnh cữu. Những người Do thái thời bấy giờ không chấp nhận, họ tìm cách loại trừ Chúa Giêsu bằng những lời tố cáo để đưa Ngài đến cái chết. Nhưng tất cả mọi việc, qua bàn tay của Thiên Chúa đều trở nên có ích và tốt đẹp.
1 . Đối với lề luật .
Đây là điểm quan trọng đối với người Do Thái. Chúa Giêsu tôn trọng và giữ luật Moisen, hơn thế nữa, Ngài kêu gọi mọi người giữ trọn tinh thần của lề luật. Ngài lên án những người chỉ chú ý đến hình thức mà quên đi tâm tình.
2 . Đền thờ.
Đối với đền thờ cũng thế, vì là nhà cầu nguyện, Ngài không chấp nhận những hình thức lợi dụng đền thờ để tìm lợi ích cá nhân. Ngài kêu gọi mọi người trở về với niềm tin chính đáng vào Thiên Chúa.
Các thủ lãnh tôn giáo thời bấy giờ, bị Ngài chỉ trích, họ tìm cách tiêu diệt Ngài để quyền lợi không bị động chạm.
Vì những lý do trên, Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên Cây Thánh Giá, Chết và chịu táng xác trong mồ đá.
II – Ý nghĩa cuộc tử nạn của Chúa Giêsu.
1 . Chương trình của Thiên Chúa.
Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, nằm trong chươngtrình mầu nhiệm của Thiên Chúa:
“Người đã bị nộp theo ý Thiên Chúa đã định và biết trước”. (Cv. 2, 23).
Ý định cứu độ của Thiên Chúa là giải thoát con người khỏi nô lệ tội lỗi nhờ cái chết của “Người Tôi Tớ Đấng Công Chính”. ( Is. 53, 11 – 12).
2 . Chết để cho con người được sống.
Vì yêu thương loài người, Con Thiên Chúa vâng phục Thánh Ý Chúa Cha “ đến nỗi chết trên cây thập giá” (Pl. 2, 8). Đức Giêsu hoàn tất sứ mạng của “Người tôi tớ đau khổ”, “làm cho muôn người nên công chính, bằng cách gánh lấy tội của họ”. (Is. 53, 11; Rm. 5, 19).
III – Ngục tổ tông.
1 . Ngục tổ tông: là tình trạng, có thể gọi là nơi những người công chính trú ngụ khi chưa được ơn cứu chuộc. Từ khi Adam phạm tội, không một người nào được vào thiên đàng.
2 . Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông.
Chúa Giêsu là Ngôi Hai Thiên Chúa, xuống thế làm người, nên Ngài có hai bản tính: bản tính Thiên Chúa và bản tính loài người. Khi chịu nạn chịu chết, bản tính loài người cũng đau khổ và chết như con người, còn linh hồn và bản tính Thiên Chúa của Ngài hợp nhất lại, xuống ngục tổ tông để rước về trời những người công chính đã chết trước khi được ơn cứu chuộc.
3 . Ý nghĩa việc xuống ngục tổ tông.
Chúa Giêsu xuống ngục tổ tông nói lên ý nghĩa là: Ơn Cứu chuộc có giá trị cho những người còn sống cũng như cho những người đã chết.
IV – Con người cộng tác vào ơn cứu chuộc.
Chúa Giêsu đã chịu đau khổ để mang ơn cứu chuộc đến cho loài người, nhưng Ngài không áp đặt, Ngài vẫn tôn trọng tự do của con người, như Thánh Augustinô đã nói: “Khi con người được sinh ra, Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến của họ. Nhưng để được cứu chuộc, Thiên Chúa cần con người đồng ý cách tự do, nghĩa là cộng tác bằng hành động”.
Chúng ta xin Chúa ban ơn thêm sức mạnh cho mỗi người, biết siêng năng đến với Chúa, để nhận lấy ơn cứu chuộc, bằng cách sống theo như những gì Chúa chỉ dạy qua cuộc sống hằng ngày.
Bài 10. CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI VÀ LÊN TRỜI.
“Ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại, Lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng”.
I – Chúa Giêsu sống lại.
Chúa Giêsu đã chịu đóng đinh vào Thập Giá, đã chết và được mai táng trong mồ đá. Nhưng như Lời Ngài đã báo trước là Ngài sẽ sống lại. Thật thế, Ngài chết chưa đủ ba ngày thì đã sống lại.
1 . Biến cố lịch sử.
Việc Chúa Giêsu sống lại là một biến cố lịch sử, vì đã xảy ra thực sự và được nhiều người chứng nhận qua những sự kiện cụ thể:
Ngôi mộ trống: Trước tiên là thân xác Chúa Giêsu không còn trong mồ nữa, các môn đệ là những người thâ tín nhất của Ngài cũng đã đi tìm và không biết thân xác mà các ông đã mai táng hiện đang ở đâu.
Những lần hiện ra: trong khi các môn đệ còn lo âu, thì Chúa Giêsu đã hiện ra cho các ông biết là Người đã sống lại.
Việc Chúa Giêsu sống lại còn vượt qua lịch sử, vì từ nay Ngài không còn bị không gian và thời gian của vật chất này ảnh hưởng đến nữa, Ngài đã lấy lại sự vinh hiển của Thiên Chúa để từ dó thong ban cho loài người.
2 . Phục Sinh là công trình của Ba Ngôi Thiên Chúa.
Chúa Cha dùng quyền năng mà làm cho Chúa Con , Ngôi Hai Thiên Chúa là Chúa Giêsu sống lại. (Cv. 2, 24).
Chúa Con Phục Sinh do quyên năng thần linh của mình.
Chúa Thánh Thần làm cho con người Chúa Giêsu đã chết được sống lại và đưa vào tình trạng vinh hiển.
3 . Ý nghĩa của Phục Sinh.
Phục Sinh là công trình của Ba Ngôi Thiên Chúa. Công trình cứu chuộc loài người của Ba Ngôi Thiên Chúa đã hoàn thành cách trọn vẹn, theo đúng với những gì đã hứa trong Thánh Kinh.
Chúa Giêsu Phục Sinh để cho loài người mà Ngài cứu chuộc cũng sống lại như Ngài.
II – Chúa Giêsu lên trời.
Sau khi sống lại, Chúa Giêsu còn hiện diện ở trần gian khoảng bốn mươi ngày, để an ủi, dạy dỗ các môn đệ, sau đó Người lên trời, ngự bên hữu Đức Chúa Cha.
Lên Trời nghĩa là Người không còn hiện diện hữu hình nơi trần gian nữa, nhưng Người vẫn còn ở giữa loài người cách thiêng liêng và đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể.
Ngự bên hữu Chúa Cha làmặc lấy danh dự Thiên Chúa, danh dự mà khi mang lấy thân phận loài người, Con Thiên Chúa đã tạm để sang một bên.
Ngự bên hữu Chúa Cha còn là việc tôn vinh nhân tính Chúa Giêsu, nhân tính đã chịu đau khổ và sống lại, để làm Đấng Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người.
III – Sống Mầu Nhiệm Phục Sinh. Chúa Giêsu sống lại sau khi đã trải qua con đường Thập Giá vì Vâng Phục Thánh Ý Chúa Cha.
Xin chúa cho mỗi người biết vâng phục Thánh ý Chúa trong đời sống hằng ngày, trong từng công việc để cũng bườc từ Thập giá đến Vinh Quang như Chúa Kitô Phục Sinh.
Bài 11. CHÚA GIÊSU PHÁN XÉT KẺ SỐNG VÀ KẺ CHẾT.
“ Ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ chết”.
I – Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang.
Chúa Giêsu đã xuống thế làm người, chịu chết, sống lại và lên trời. Đó là việc Ngài đến trần gian cách hữu hình lần thứ nhất.
Ngài sẽ đến lần thứ hai, không phải trong âm thầm lặng lẽ, nhưng trong uy quyền, vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết.
“Hỡi người Galilê sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và lên trời, cũng sẽ ngự đến như các ông đã thấy Người lên trời” (Cv. 1, 11).
II – Phán xét kẻ sống và kẻ chết.
1 . Phán xét.
Chúa Kitô xuống thế làm người, thực hiện chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngài cũng đến kết thúc công trình cứu độ trong vinh quang, bằng việc xét xử mọi người, phân biệt thiện ác như chiên và dê. (Mt. 25, 32- 33).
Khi đến phán xét kẻ sống và kẻ chết trong ngày tận thế, Chúa Kitô vinh hiển sẽ phơi bày mọi tâm tư thầm kín và thưởng phạt mọi người theo việc họ làm.
2 . Kẻ sống và kẻ chết.
Kẻ sống là những người vẫn còn sống cuộc sống trần thế nầy cho đến ngày Chúa Kitô đến lần thứ hai (ngày tận thế).
Kẻ chết là những người đã rời bỏ cuộc sống trần gian này trước ngày Chúa Kitô đến lần thứ hai (ngày tận thế), cũng sẽ được sống lại để chịu phán xét: gọi là phán xét chung. Vì mỗi người khi lìa bỏ cuộc sống trần gian, phài chịu phán xét riêng.
III – Ý nghĩa của việc Chúa Giêsu trở lại.
Vào ngày trở lại, Chúa Giêsu thực hiện cuộc chiến thắng cuối cùng của sự thiện trên sự ác.
Ngày Chúa Giêsu trở lại cũng là một ngày bất ngờ đối với những người không chuẩn bị. Còn những người biết chuẩn bị sẵn sàng trong đời sống hằng ngày, thì không bất ngờ.
Chúa Giêsu sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết, đó là điều chắc chắn. Còn ngày giờ trở lại thì Ngài không báøo trước.
IV – Tâm tình chờ đón Chúa trở lại.
Mỗi người tận dụng thời gian hiện tại mình đang sống, để tích trử kho tàng cho tương lai. (Eph. 5, 16).
Tỉnh thức, để khi những ngày đời chắm dứt, chúng ta được liệt vào số những người được chúc phúc, nếu lười biếng, sẽ bị đẩy vào lửa đời đời. (GH. 18).
Bài 12. CHÚA THÁNH THẦN.
Tôi tin kính ĐCTT là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống, Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con Mà ra, Người cùng được phụng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy.
I – Mạc Khải về CTT.
CTT được nhận biết qua Kinh Thánh mà Ngài linh ứng, qua thánh truyền và huấn quyền của Giáo Hội. CTT còn được nhận biết qua những ơn thánh mà con người nhận được và qua những lời cầu nguyện trong đời sống Phụng Vụ và Bí tích.
1 . CTT là Ngôi Ba Thiên Chúa.
CTT là Ngôi Thứ ba bởi Đức chúa cha và Đức Chúa Con mà ra, cùng một bản tính và một quyền năng như Hai Ngôi Cực Trọng ấy. ( Mt. 28, 19 ) ( công thức bí tích rửa tội )
2 . Danh xưng.
CTT còn được gọi là đấng An Ủi, Đấng Bàu Chữa, Đấng Ban Sức Mạnh và là Thần Chân Lý.
3. Biểu tượng. Những biểu tượng về CTT như:
Nước: làm cho con người được thanh tẩy.
Lửa: tượng trương cho năng lực biến đỗi.
Xức dầu: tượng trưng cho Ấn Tín, sự chuẩn nhận.
Chim Bồ câu: chỉ sự bình an, thanh sạch.
II – Hoạt động của CTT.
1 . Trong Chúa Kitô.
Tất cả công trình và sứ mạng của Chúa Kitô là sự phối hợp của Chúa Con và CTT: như trong việc Ngôi Hai xuống thế làm người (Lc.1, 26. . .) chịu phép rửa ( Lc. 3, 21. . . )
2 . Nơi các Tông Đồ.
Khi còn sống, Chúas Giêsu đã nhiều lần ban CTT để các Tông đồ thi hành sứ mạng cộng tác với Ngài. Sau khi sống lại, CTT được trao ban cùng với sứ mệnh chánh thức: ra đi rao giảng và làm chứng.
3 . CTT và Hội Thánh.
sứ mạng mà Chúa Kitô trao cho các Tông Đồ, đó cũng là sứ mạng của Hội thánh. chính nhờ sứ mạng nầy, liên kết các Kitô hữu vào sự hiệp thông với Chúa Cha và chúa Kitô trong CTT để họ được sinh hoa kết quả tốt đẹp.
4 . CTT trong mỗi người.
Con người yếu hèn, nhiều khi không hiểu biết và không đủ can đảm để sống cho tốt. Nhưng nhờ Ơn chúa Thánh thần trợ giúp mọi việc sẽ tốt đẹp.
Bài 13. HỘI THÁNH.
Tôi tin có Hội Thánh.
Hội Thánh trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngài khong muốn cứu độ loài người cách riêng lẽ, thiếu liên kết. Nhưng người muốn qui tụ họ thành một dân tộc để họ nhận biết Người trong chân lý, và phụng sự Người trong thánh thiện. ( Hội Thánh. 9 ).
I – Định nghĩa.
Hội Thánh là cộng đoàn những người được tập họp bởi lời Chúa để trở thành dân Thánh của Thiên Chúa. Họ được nuôi dưởng bởi Lời Chúa và Mình Máu Chúa Kitô, nhờ đó họ trở nên chính thân thể của Người.
II – Thành phần.
Hội Thánh Công Giáo gồm những người đã lãnh Bí Tích Rửa Tội thành sự.
III – Mầu nhiệm Hội Thánh.
Hội Thánh được gọi là mầu nhiệm vì Hội Thánh được cấu thành do hai yếu tố : nhân loại và thần linh, vừa hữu hình vừa vô hình.
1 . Hữu hình.
Một tổ chức có cơ cấu phẩm trật, hiện diện thật sự trên trần gian nầy như những tổ chức khác.
2 . Vô hình.
Hội Thánh là Nhiệm Thể Chúa Kitô, mà Ngài là Đầu, nên còn được gọi là cộng đoàn thiêng liêng, được trang bị bằng những ân sủng trên trời.
IV – Tên gọi:
1 . Dân Thiên Chúa.
Hội Thánh được dẫn dắt bởi vị thủ lãnh là Chúa Kitô, Ngôi Lời Nhập Thể, là Ngôi Hai Thiên Chúa, do đó Hội Thánh được tham dự vào chức Tư Tế, Ngôn Sứ và Vương Quyền của Chúa Kitô. Hội Thánh còn tiếp tục hoàn tất những gì Thiên Chúa đã khởi sự nơi dân Do Thái khi xưa.
2 . Thân Thể Chúa Kitô.
Hội Thánh được Chúa Kitô thiết lập và được hướng dẫn bởi Thánh Thần của Người. Hội Thánh là sự hiệp thông với Chúa Kitô, nhờ đó trở nên duy nhất, nên tất cả là chi thể của một Đầu duy nhất là Chúa Kitô.
3 . Hiền thê Chúa Kitô.
Chúa Kitô Yêu thương Hội Thánh và đã hiến mình chịu chết vì Hội thánh.
4 . Đền Thờ Chúa Thánh Thần.
Chúa Thánh Thần hiện diện trong Hội Thánh và hoạt động để Hội Thánh có một sức sống mãnh liệt, như linh hồn trong thân xác, vì vậy nên Chúa Thánh thần là linh hồn của Nhiệm Thể.
V – Sống trong Hội Thánh.
Hội Thánh được gọi là Dân Thánh, là Nhiệm thể Chúa Kitô. Mỗi người là thành phần Hội thánh, là chi Thể của Chúa Kitô, chi thể nào mà không được đầu điều khiển thì chi thể đó kể như bị tê liệt và bỏ đi.
Chúng ta xin Chúa cho mỗi người biết sống hiệp thông với Chúa và anh em, biết thi hành những gì Chúa muốn, để chi thể con người chúng ta luôn sống trong ơn Chúa.
Bài 14. CÁC ĐẶC TÍNH CỦA HỘI THÁNH.
Tôi tin có Hội Thánh Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền.
I – Hội Thánh Duy Nhất .
1 . Ý nghĩa:
Nguồn gốc phát xuất từ chúa Ba Ngôi.
Duy nhất trong Ba Ngôi. (GH. 4 ).
Hội Thánh xuất hiện như một dân tộc hiệp nhất mọi người thành một trong Một Chúa Ba Ngôi.
Chỉ có một Đấng sáng lập là Chúa Kitô.
Chính Ngôi Hai Con Thiên chúa xuống thế làm người, dùng Thập Giá để hoà giải mọi người với Thiên Chúa, tái lập sự hiệp nhất mọi người thành một dân tộc và một thân thể duy nhất. (MV. 78 ).
Chỉ một Chúa Thánh Thần tác động.
CTT ngự trong lòng tín hữu, thực hiện sự thông hiệp kỳ diệu và liên kết tất cả trong Chúa Kitô cách mật thiết. Chì có Người là Nguyên Lý hiệp nhất trong Hội Thánh.
2 . Dây liên kết hiệp nhất. Đức ái là mối dây tuyệt hảo.
Một đức tin duy nhất truyền từ các Tông Đồ.
Cử hành phụng tự qua các Bí Tích.
Kế nhiệm các Tông Đồ qua BT Truyền chức thánh.
II – Hội Thánh Thánh Thiện.
1 . Nền tảng.
Hội Thánh được gọi là Thánh Thiện vì bắt nguồn từ Thiên Chúa là Đấng Chí Thánh. “Chúa Kitô yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh. (GH. 39 ).
Hội Thánh là Dân Thánh của Chúa.
Hội Thánh là nhiệm thể Chúa Kitô mà Ngài là Đầu.
2 . Hội Thánh ở trần gian.
(Trong cuộc lữ hành đức tin).
Hội Thánh thì Thánh Thiện, nhưng các thánh phần của Hội Thánh chưa đạt tới sự thánh thiện trọn vẹn, nên họ được kêu gọi tự thanh tẩy và phải luôn nổ lựcsám hối canh tân.
Nên Hội Thánh vừa thánh Thiện vừa phải luôn thanh tẩy mình và không ngừng theo đuổi con đường sám hối canh tân. Hội Thánh ôm ấp trong lònh mình những kẻ tội lỗi cần được chữa trị, nên vừa Thánh thiện vừa phải canh tân. ( GH. 8).
III – Hội Thánh Công Giáo.
1 . Ý Nghiã:
Công giáo là chung, là phổ quát.
Hội Thánh có đầy đủ phương tiện cứu rỗi cho tất cả mọi người, không loại trừ ai, vì Hội Thánh được Chúa Kitô sai đến với toàn thể nhân loại. ( Mt. 28, 19 ).
2 . Phần tử của Hội thánh Công giáo. Trước hết là các tín hữu công giáo.
Những người có niềm tin vào Chúa Kitô. ( LG. 15 )
Tất cả mọi người mà Ân Sủng Thiên Chúa mời gọi họ đón nhận ơn cứu rỗi. ( LG. 13. 16 )
3 . Trách nhiệm truyền giáo.
Truyền giáo là một đòi hỏi thiết yếu của đặc tính Công Giáo. Vì Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi người, Ngài muốn họ nhận biết chân lý và được cứu chuộc.
Truyền giáo còn là một mệnh lệnh. (Mt. 28, 19 – 20).
IV – Hội Thánh Tông Truyền.
Nền tảng Hội Thánh được xây dựng trên các Tông Đồ.
Hội Thánh bảo vệ, gìn giữ và lưu truyền kho tàng giáo huấn các Tông Đồ nhờ Ơn Chúa Thánh Thần.
Hội Thánh được giáo huấn, thánh hoá và hướng dẫn nhờ các Đấng kế vị các Tông Đồ.
Ơn gọi Kitô hũu tự bản chất là ơn gọi Tông đồ, nên cũng được sai đi và thi hành sứ mạng Tông Đồ.
Hội Thánh của Chúa Kitô là Hội thánh Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền. Tất cả những đặc tính nầy được thể hiện nơi Hội Thánh Công Giáo, do vị kế nhiệm thánh Phêrô và các Giám Mục hiệp thông với Ngài điều khiển. LG 8.
V – Sống trong Hội thánh.
Hội Thánh Duy Nhất, Thánh Thiện, Công Giáo và Tông Truyền là một hồng ân và là nhiệm vụ liên kết với Chúa Kitô.
Chúng ta cùng sống hiệp nhất trong tình bác ái Chúa Kitô, đồng thời tiếp tục sứ mạng truyền giáo cho đến ngày tận thế, truyền giáo bằng lời nói, hành động, bằng chính con người trong cuộc sống đời thường.
Bài 15. TỔ CHỨC CỦA HỘI THÁNH.
Để chăn dắt và phát triển dân Thiên Chúa luôn mãi. Chúa Kitô đã thiết lập các chức vụ khác nhau trong Hội Thánh, hầu mưu ích cho toàn thân thể mầu nhiệm của Người. Thực vậy, các Thừa Tác Viên sử dụng quyền bính thiêng liêng mà phục vụ anh em mình. ( GH. 18 ).
I – Thành phần.
Trong tổ chức của gội thánh, mọi người đều được gọi là Kitô hũu hay tín hữu.
Kitô hữu là những người được tháp nhập với Chúa Kitô nhờ bí tích thanh tẩy, làm thành dân Thiên Chúa.
Do Thiên Chúa thiết lập, nên trong số các tín hữu của Chúa Kitô có những Thừa Tác Viên có chức thánh theo luật gọi là giáo sĩ, còn những người khác gọi là giáo dân.
1 . Giáo sĩ: Là những tín hữu lãnh nhận chức thánh.(Giám mục, linh mục và phó tế ).
2 . Giáo dân:
Là tất cả những thành phần không lãnh nhận chức thánh. Trong thành phần giáo dân có những người tận hiến sống theo các lời khuyên Phúc âm của bậc tu trì còn gọi là Tu Sĩ.
II – Cơ cấu phẩm trật trong Hội Thánh.
1 . Đức Giáo Hoàng.
Giám mục Roma, người đứng đầu Giám mục đoàn, là Đấng kế vị Thánh Phêrô, đại diện Chúa Kitô và là chủ chăn của Hội Thánh toàn cầu.
Do Chúa Kitô thiết lập, Đức Giáo Hoàng được hưởng quyền tối cao trọn vẹn, trực tiếp và phổ quát rong việc chăm sóc các linh hồn.
2 . Giám Mục:
Là những người kế nhiệm các Tông Đồ, để quy tụ và cai quản Hội Thánh địa phương và cùng với Đức Giáo Hoàng phục vụ Hội Thánh toàn cầu.
Như vậy, Giám mục đoàn chỉ có quyền hành khi hiệp nhất với giám mục Roma là thủ lãnh. Nên giám mục đoàn cũng có quyền bính trọn vẹn và tối cao trên toàn thể Hội Thánh, nhưng chỉ có thể thi hành quyền nầy khi có sự ưng thuận của Giám Mục Roma là Đức Giáo Hoàng.
3 . Linh Mục và Phó Tế:
Là những cộng sự viên của giám Mục, giúp đở giám mục điều hành Hội Thánh địa phương như mục tử đích thực, có thẩm quyền chính thức về giảng dạy đức tin và cử hành phụng vụ theo chức năng của mình.
III – sống ơn gọi.
Mỗi người là thành phần của Hội Thánh, là chi thể của một thân thể duy nhất, nếu mỗi người sống đúng ơn gọi, đúng địa vị của mình trong sự hiệp nhất, đó là góp phần làm cho Hội Thánh mỗi ngày được lớn mạnh và tốt đẹp hơn.
Bài 16. CÁC THÁNH THÔNG CÔNG.
Tất cả các tín hữu họp thành một thân thể trong Chúa Kitô, nên công nghiệp của người nầy được chia sẻ cho người khác. Đó là tín điều các thánh thông công.
I – Thành phần trong Hội Thánh duy nhất:
1 . Hội Thánh khải hoàn.
Là những tín hữu đã qua đời và đang hưởng phúc trên thiên đàng.
2 . Hội Thánh đau khổ.
Là những tín hữu đã qua đời, nhưng chưa được hưởng phúc thiên đàng, vì không có lỗi nặng, không mất ơn nghĩa với Chúa nên không vào hoả ngục, mà phải vào luyện ngục để đền cho xong những phần thiếu sót còn lại.
3 . Hội Thánh chiến đấu.
Là những tín hữu còn đang hiện diện trên trần gian và đang trên đường tiến về Nước Trời, với những khó khăn trở ngại phải vượt qua.
II – Các Thánh thông công ( sự hiệp thông).
1 . Thông công cho nhau.
Trong Hội Thánh có sự hiệp thông: vì tất cả mọi tín hữu họp thành một thân thể duy nhất mà Chúa Kitô là Đầu. Sự tốt lành của Người đã thông ban cho các chi thể qua các Bí Tích, vì thế sự thánh thiện của người này được thông chia cho người kia.
Tất cả các tín hữu còn lữ hành trên trần gian ( Hội thánh chiến đấu ), những người đã qua đời, nhưng đang hoàn tất sự thanh luyện (Hội Thánh đau khổ), và các vị đang hưởng phúc trên trời (Hội thánh khải hoàn) hằng chia sẻ cho nhau những ân huệ thiêng liêng.
2 . phương cách thông công.
Các Thánh trên Trời không ngừng chuyển cầu cho chúng ta trước mặt Chúa, còn chúng ta thì noi gương đời sống thánh thiện của các Ngài, nhờ đó chúng ta được hiệp nhất với Chúa Kitô là nguồn mạch mọi ân sủng và sự sống.
Đối các linh hồn trong luyện ngục, chúng ta, những người còn đang sống, dâng công đức và lời cầu nguyện cho các Ngài, đồng thời các Ngài cũng phù hộ giúp sức cho chúng ta trong đời sống tại thế này.
Những người còn đang sống, chia sẻ đời sống và cầu nguyện cho nhau.
Tóm lại: các Thánh trên Trời giúp đở chúng ta là những người còn đang sống. Chúng ta giúp dở những linh hồn trong luyện ngục còn đang thanh luyện và các Ngài cũng phù hộ cho chúng ta. Những người còn sống hiệpthông vời nhau. Đó là sự hiệp thông trong Hội Thánh, hay còn gọi là Tín Điều Các Thánh Thông Công.
3 . Hiệp thông trong ân huệ thiêng liêng.
Trước tiên là hiệp thông trong đức tin.
Hiệp thông trong các Bí tích.
Hiệp thông trong các đặc sủng,
Hiệp thông trong của cải vật chất.
Hiệp thông trong đức ái.
III – Sống Mầu Nhiệm Hiệp Thông.
Chúng ta noi gương các Thánh trên trời để sống với nhau cho tốt, chia sẻ, giúp đở nhau, cầu nguyện cho nhau và dâng công đức, sự hy sinh cho các linh hồn.
Bài 17. ĐỨC MARIA MẸ CHÚA KITÔ,MẸ HỘI THÁNH.
Để thực thi chương trình cứu độ loài người, Thiên Chúa đã chọn cho Mình một người Mẹ để Con Thiên Chúa xuống thế làm người.
I – Những đặc ân của Mẹ Maria.
Vô nhiễm nguyên tội.
Mẹ Thiên Chúa.
Đồng trinh trọn đời.
Lên trời cả hồn và xác.
1 . Vô nhiễm nguyên tội.
Thiên Chúa gìn giữ Mẹ không để vươn tội lỗi để xứng đáng làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Mẹ không bao giờ ở trong tình trạng mất ơn thánh:
Bà đầy ơn phước (Lc. 1, 28 ). Uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà (Lc.1, 35).
2 . Mẹ Thiên Chúa.
Đức Maria là Mẹ Chúa Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người, nên là Mẹ Thiên Chúa.
3 . Đồng trinh trọn đời.
Mẹ Maria không vươn tội nguyên tổ, nên Mẹ không sống dưới sự nô lệ của tội, đồng thời Mẹ cũng không bị những hậu quả của tội gây ra,nên cho dù sinh Đấng Cứu Thế Mẹ vẫn được Đồng Trinh Trọn Đời.
4 . Lên trời cả Hồn và xác.
Chính vì ơn vô nhiễm nguyên tội, nên Mẹ không bị ảnh hưởng hậu quả do tội gây nên. Hồn xác của Mẹ được về trời ngay khi lìa bỏ cỏi trần này.
II – Đấng đồng công cứu chuộc.
Khi sứ thần truyền tin, Đức trinh nữ Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác, đem sự sống đến cho thế gian ( GH. 53 ).
Vì đã cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Kitô, đã dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trong đền thánh. Cũng đã đau khổ khi Chúa Kitô chết trên thập giá. Đức Maria đã cộng tác cách đặc biệt vào công trình cứu chuộc của Đấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên chocác linh hồn. Vì thế Mẹ là đấng Đồng Công Cứu Chuộc.
III – Đức Maria Mẹ Hội thánh.
Khi thưa Xin Vâng trong ngày truyền tin và đón nhận Mầu Nhiệm Nhập Thể, Đức Maria cộng tác với toàn thể công trình Con Mẹ sẽ thực hiện. Ai nhận Đức Kitô là Đấng Cứu Độ, là Đầu của Nhiệm Thể, đều là con của Đức Maria. Hội Thánh là Nhiệm Thể mà Chúa Kitô là Đầu, nên Đức Maria là Mẹ Hội Thánh.
IV – Tôn Kính Đức Maria.
Lòng tôn kính Đức Maria, phát xuất từ một đức tin chân thật, thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta.
Hội Thánh bày tỏ lòng tôn kính qua:
Các ngày lễ kính .
Kinh nguyện, đặc biệt là Kinh Mân Côi.
Bài 18.ƠN PHỤC SINH VÀ ĐỜI SỐNG VĨNH CỬU.
“Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại, tôi tin hằng sống vậy”.
I – Sự chết.
1 . Khái quát. Chết là chắm dứt cuộc sống trần gian.
2 . Lý do. Vì hậu quả của tội nên có sự chết. ( Rm. 5, 12 ; St. 2, 17).
3 . Ý nghĩa.
Chết là sự sống được biến đỗi. “ Đây là lời đáng tin cậy: Nếu chúng ta cùng chết với Người, chúng ta sẽ cùng sống với Người”. (2Tm. 2, 11).
Vì thế nên chết là một mối lợi. (Pl. 1, 21 ).
Nhờ Vâng Phục, Chúa Giêsu đã biến đỗi cái chết từ chỗ là lời nguyền rủa, trở thành lời chúc lành. (Rm. 5, 19- 21).
4 . Hậu quả. Con người có linh hồn và xác.
Xác là vật chất hư nát.
Linh hồn thiêng liêng không hư nát, nên linh hồn phải đến trước Chúa mà chịu phán xét về những việc lành, dữ mình đã làm khi còn sống. Linh hồn sẽ được lên thiên đàng, xuống hoả ngục hay là vào luyện ngục. Việc phán xét này gọi là phán xét riêng.
Đến ngày tận thế, thân xác sẽ được sống lại cùng với linh hồn để được thưởng hay bị phạt tuỳ theo việc lành dữ. Đó là việc phán xét chung và cuối cùng.
II - Ơn Phục Sinh. (Rm. 8, 11 ).
Chúng ta tin vững vàng và chắc chắn rắng: cũng như Chúa Kitô đã thực sự phục sinh từ cõi chết và sống mãi, thì sau khi chết, những người công chính cũng sẽ sống mãi với Chúa Kitô Phục Sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. Đó là sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời.
III – Hạnh Phúc vĩnh cửu.
Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu là con người biết sống trong sự phục sinh của Chúa Kitô ban cho. Sống sự phục sinh ngay ở đời này, qua việc biết lắng nghe và thi hành Lời Chúa. Xem tiếp phần II