|
|
GIÁO LÝ HÔN NHÂN |
|
|
|||
GIÁO LÝ HÔN NHÂN GIA ĐÌNHLời mở đầu - Trong Thông điệp đầu tiên “Đấng Cứu Chuộc con người”, Đức Gioan Phaolô II viết : “Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người là kẻ không thể hiểu nổi đối với chính bản thân; cuộc sống con người sẽ mất ý nghĩa, nếu không cảm nhận được tình yêu…” (số 10). Và sau đó, trong Tông huấn Đời Sống Gia Đình (1981), Đức Thánh Cha quả quyết: “Mạc khải Kitô giáo nhìn nhận có hai cách thế chuyên biệt để thực hiện ơn gọi sống yêu thương của nhân vị “. Đó là Hôn Nhân và Trinh khiết”. (số 11) - Sống là yêu thương, vì con người được tạo thành theo hình ảnh của Thiên Chúa là Tình yêu. Hôn nhân và Gia đình Kitô hữu muốn là dấu chỉ và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần (GLGHCG. 2205), thực thi tình yêu như Chúa Kitô “yêu thương và hiến mạng sống vì Hội Thánh” và ngược lại, “Hội Thánh vâng phục Chúa Kitô trong mọi sự” (Eph 5,24-25) Và như thế, Gia đình Kitô hữu sẽ trở thành Tin Mừng cho thiên niên kỷ mới (Chủ đề Đại hội về Gia đình, lần IV, 2003). - Để phục vụ cho chương Thánh hoá các Gia đình theo tinh thần Thư chung của HĐGM VN năm 2002, chúng tôi mạo muội giới thiệu tập Giáo lý Hôn nhân - Gia đình, được biên soạn để giúp Giáo dân trong Giáo phận Vĩnh long. Rất mong được đón nhận những ý kiến xây dựng để Mục vụ về Gia đình được tốt đẹp hơn. Vĩnh long, ngày 21.12.2002
I. CHUẨN BỊ THÀNH HÔN GHI NHỚ “Khi chuẩn bị thành hôn, người công giáo cần phải : TRÌNH BÀY 1. CẦU NGUYỆN “Tất cả là Hồng ân Chúa”. Việc phối hợp vợ chồng là việc rất quan trọng và huyền nhiệm, do Thiên Chúa thiết lập và se định, nên cần cầu nguyện để xin Chúa soi sáng, hướng dẫn, giúp ta biết chọn lựa bạn đời hợp ý Chúa và đúng ý nguyện của mình. Nhờ cầu nguyện, ta sẽ nhận được nhiều ơn Chúa để chọn đúng và sống tốt đời Hôn nhân - Gia đình. 2. SUY NGHĨ Suy nghĩ về điều gì ? -Về Tình yêu và Hôn nhân : Tự hỏi “Tôi đã biết YÊU chưa?” Cần phải học BIẾT YÊU: một tình yêu chân thật, biết tôn trọng, chung thuỷ, quảng đại, hy sinh và tha thứ cho người mình yêu. Cần biết những điều kiện, thủ tục về Hôn nhân-Gia đình. 3. TÌM HIỂU. Cần tìm hiểu nhau về điều gì ? -Tình yêu chân thật, lòng đạo đức, trình độ học thức, hoàn cảnh gia đình, địa vị xã hội, sức khoẻ, tuổi tác, nghề nghiệp. -Cần tìm hiểu nhau cách đúng đắn, tế nhị, qua những lần gặp gỡ, tâm sự và bàn hỏi. 4. BÀN HỎI. Bàn hỏi ai ? 5. HỌC ÔN GIÁO LÝ CÔNG GIÁO. Cần học ôn Giáo lý tổng quát, để sống đạo và dạy dỗ con. 6. HỌC VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI. Cần học biết Nghi thức bí tích Hôn phối, để đón nhận nhiều ơn Chúa trong ngày lễ Thành Hôn. Cần hiểu biết về đời sống Hôn nhân - Gia đình : tình yêu vợ chồng, nhiệm vụ vợ chồng, bổn phận sinh sản và giáo dục, bổn phận gia đình kitô hữu, nghệ thuật sống chung… “Kinh nghiệm cho thấy rằng: các bạn trẻ được chuẩn bị chu đáo về đời gia đình, cách chung sẽ thành công hơn các bạn trẻ khác”. (ĐSGĐ.66) GHI NHỚ TRÌNH BÀY I. NHỮNG ĐIỀU PHẢI TIN TRONG ĐẠO (Tín lý) GHI NHỚ TRÌNH BÀY 1. Hôn Nhân là Giao Ước Giao ước hôn nhân đòi hỏi đôi bạn có sự bình đẳng (không phân biệt nam nữ, chức vị), song phương (cả hai đều tự do cam kết) và độc hữu (thuộc trọn về một người). Một nam - một nữ : loại bỏ trường hợp hôn nhân đồng giới tính. 2. Tình Yêu là yếu tố quan trọng Tình yêu Hôn nhân đòi hỏi vợ chồng kết hợp nên một, sự chung thuỷ, trao hiến trọn vẹn và mở ngỏ cho việc sinh sản. 3. Hai mục đích chính của Hôn Nhân 4. Hai đặc tính của Hôn Nhân 5. Nghĩa vụ và Quyền lợi Vợ Chồng 6. Bổn phận Cha Mẹ : Sinh - Dưỡng - Dục 7. Tầm quan trọng của Hôn Nhân IV. BÍ TÍCH HÔN PHỐI GHI NHỚ “Vợ chồng kitô hữu được củng cố và thánh hiến bằng một Bí tích riêng để lãnh nhận bổn phận và phẩm giá bậc sống mình. Nhờ ơn Bí tích, họ được thấm nhuần tinh thần của Chúa Kitô mà chu toàn bổn phận Hôn nhân - Gia đình, nhờ đó, họ được tăng thêm lòng tin-cậy-mến, tiến đến sự trọn lành và thánh hoá lẫn nhau” (MV. 48). TRÌNH BÀY - Khi hai người nam-nữ kết hôn, họ thực sự thành vợ chồng theo luật tự nhiên của Tạo hoá. Hôn phối của họ có giá trị và Chúa ban ơn tự nhiên để giúp họ chu toàn bổn phận của mình.
- Khi hai người Công giáo kết hôn theo nghi thức của Hội thánh, hôn phối của họ có giá trị Bí tích, là trở thành dấu chỉ Tình yêu Chúa. Họ được Chúa chúc phúc, ban ơn tự nhiên và ơn siêu nhiên để sống đời hôn nhân và đáng lãnh nhận phần thưởng sau nầy.
2. Mục đích của Bí Tích Hôn Phối
Nhằm thánh hoá đời hôn nhân, giúp cho đôi bạn sống trọn vẹn ơn gọi và sứ mạng người Kitô hữu: trở thành Chúa Kitô cho nhau, để minh chứng tình yêu Chúa Kitô trong gia đình và xã hội.
3. Hiệu quả của Bí Tích Hôn Phối Dây thiêng liêng ràng buộc hai người suốt đời,
Tăng thêm ơn thánh hoá,
Ban nhiều ơn trợ giúp, để đôi bạn chu toàn bổn phận, để minh chứng tình yêu Chúa cho người khác.
5. Điều kiện để lãnh Bí Tích Hôn Phối - Đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội.
- Không bị mắc ngăn trở.
- Hiểu biết và tự do ưng thuận kết hôn.
- Công khai sự ưng thuận theo nghi thức Hội thánh.
6. Thừa Tác Viên Bí Tích Hôn Phối Ai ban, ai nhận bí tích Hôn phối ?
Chính đôi tân hôn trao ban và nhận lãnh bí tích Hôn phối.
Còn Linh mục là người đại diện Hội thánh, chứng nhận và chúc phúc cho đôi tân hôn.
Vì thế, đôi tân hôn cần phải dọn xác, dọn hồn (Xưng tội) để xứng đáng lãnh nhận và trao ban Bí tích cho nhau.
7. Nghi Thức Ban Bí Tích Hôn Phối Có ba nghi lễ chính:
1. Thẩm vấn đôi tân hôn.
2. Bắt tay và nói lên sự ưng thuận
3. Trao nhẫn cưới.
8. Các ngăn trở Hôn Phối
Các trường hợp ngăn trở bí tích không thành sự: Niên hạn : chưa đủ tuổi theo giáo luật.
Bất lực : không có khả năng giao hợp, hoặc điên khùng
Cưỡng bức : Bị ép buộc kết hôn.
Họ hàng: Có họ hàng trực hệ, bà con họ gần.
Tội ác : giết bạn đời để kết hôn.
Dị giáo : khác đạo (không có phép chuẩn).
Hôn ước: khi còn dây hôn phối trước.
Thánh chức : có chức thánh hay đã khấn trọn.
Công hạnh: có họ hàng thiêng liêng, nghĩa tử…
V. NGHI THỨC BÍ TÍCH HÔN PHỐI GHI NHỚ
Nghi thức bí tích Hôn phối gồm 3 nghi lễ chính:
1- Thẫm vấn về ưng thuận tự do.
2- Bắt tay và nói lên sự ưng thuận.
3- Làm phép và trao nhẩn cưới.
TRÌNH BÀY THẨM VẤN: (Về sự ưng thuận tự do, trách nhiệm vợ-chồng, cha-mẹ).
Linh mục:
Các con thân mến,
Các con đến nhà thờ để tình yêu các con được Thiên Chúa đóng ấn. Thật vậy, Chúa kitô rộng rãi chúc phúc tình yêu này và Chúa dùng bí tích đặc biệt để làm cho các con luôn luôn trung tín với nhau và can đảm nhận trách nhiệm khác của hôn nhân, cũng như chính Người đã dùng phép rửa tội để thánh hiến các con. Bởi đó, trước mặt Hội Thánh, Cha hỏi ý kiến các con.
T… và T… Các con có tự do và thật lòng đến đây chứ không bị ép buộc, để kết hôn với nhau không?
Đôi tân hôn:THƯA CÓ (mỗi người thưa riêng biệt)
Linh mục: Khi chọn đời sống hôn nhân, chúng con có sẳn sàng yêu thương nhau và kính trọng nhau suốt đời không?
Đôi tân hôn:THƯA CÓ
Linh mục: Các con có sẳn sàng yêu thương đón nhận con cái mà Chúa sẽ ban và giáo dục chúng theo luật Chúa Kitô và Hội Thánh không?
Đôi tân hôn:THƯA CÓ.
TRAO ĐỔI LỜI THỀ HỨA
(Đây là giây phút quan trọng nhất, những lời này ràng buộc và quyết định cả cuộc đời của hai người. Vậy, cần quay mặt nhìn nhau, nói rõ ràng, cách trịnh trọng).
Linh mục: Vậy bởi các con đã quyết định kết hôn, các con hãy cầm tay nhau và nói lên sự ưng thuận của các con trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh Người.
Đôi tân hôn bắt tay phải của nhau và long trọng tuyên hứa:
Bên nam: Tôi, ...nhận em... làm vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thuỷ với em, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ, để yêu thương và tôn trọng em mọi ngày suốt đời tôi.
Bên nữ : Tôi, … nhận anh ... làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thuỷ với anh, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ, để yêu thương và tôn trọng anh mọi ngày suốt đời tôi.
Linh mục: Xin Thiên Chúa đoái thương xác nhận sự ưng thuận mà các con đã tỏ bày trước Hội Thánh, và xin đoái thương đổ tràn đầy ơn phúc cho các con. Sự gì Thiên Chúa liên kết, loài người không được phân ly.
Đôi tân hôn:AMEN (bỏ tay)
TRAO KỶ VẬT
(Kỷ vật đây là chiếc nhẫn quý và thánh vì được làm phép, để nhắc nhở cho đôi tân hôn ngày hôm nay với lời cam kết này, để hai người luôn duy trì một tình yêu chân thành, toàn vẹn và bền vững).
Làm phép nhẫn. Linh mục: Xin Thiên Chúa chúc phúc X cho những chiếc nhẫn này mà hai người trao cho nhau để làm bằng chứng tình yêu và trung thành.
(Đôi tân hôn đeo nhẫn cưới vào ngón áp út tay trái của nhau và long trọng thề hứa):
Bên nam: T… Em hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của anh. Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.
Bên nữ: T...Anh hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của em. Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần .
VI. TÌNH YÊU VỢ CHỒNG GHI NHỚ.
Hôn nhân và gia đình được thiết lập do Tình yêu, được sinh động cũng do Tình yêu, sức mạnh và mục đích cuối cùng của hôn nhân cũng chính là Tình yêu. (ĐSGĐ.18)
TRÌNH BÀY
Tình yêu vợ chồng gồm những yếu tố nào ?
“Tình yêu vợ chồng bao gồm mọi yếu tố ngôi vị: Tiếng gọi của thân xác và của bản năng, sức mạnh của cảm năng và lòng yêu mến, khát vọng của tinh thần và của ý chí; kết hợp thành một thân xác, một trái tim, một tâm hồn, đòi hỏi sự trung thành và bất khả phân ly, trao hiến trọn vẹn cho nhau, mở ngỏ cho việc sinh sản”.(ĐSGĐ.13)
1. TÌNH YÊU KẾT HỢP NÊN MỘT
“Yêu là muốn trở nên một với nhau,
là sống cuộc sống của người mình yêu”.
Tình yêu Hôn nhân mời gọi đôi bạn kết hợp mật thiết với nhau thành một thể xác, một trái tim, một tâm hồn.
Khả năng yêu thương và kết hợp được Chúa ban ngay từ buổi đầu tạo dựng, để con người có được niềm vui, hạnh phúc, nhờ đó được tăng sức gắn bó và gánh vác bổn phận nặng nề của Hôn nhân.
Vì thế, những hành vi ân ái vợ chồng là một sinh hoạt có ý nghĩa tốt đẹp, chỉ dành đặc biệt cho bậc hôn nhân. Sinh hoạt tính dục chỉ xấu khi người ta lạm dụng để thoả mãn dục vọng, ích kỷ…
Đôi bạn cần tìm hiểu thêm kiến thức về sinh lý nam nữ, để sự kết hợp tình yêu được phát huy sung mãn, nhờ đó, đôi bạn “yêu nhau” với tình yêu của Chúa, yêu như Chúa Kitô yêu Hội thánh. (x. MV 49). 2. TÌNH YÊU TRAO HIẾN TRỌN VẸN
“Yêu chính là trao hiến và đón nhận”.
Tình yêu Hôn nhân đòi buộc vợ chồng trao hiến trọn vẹn cho nhau cho đến chết. Sự trao hiến cho nhau bằng những hành vi riêng biệt vợ chồng có giá trị vừa sinh lý, vừa liên hệ đến mức thâm sâu của toàn thể con người. Vợ chồng phải thuộc trọn về nhau, không giữ lại cho mình và không ai có quyền chiếm hữu được họ: “Thân xác vợ không thuộc quyền vợ, mà thuộc quyền chồng. Cũng vậy, thân xác chồng không thuộc quyền chồng, mà thuộc quyền vợ” (I Cor 7,4) 3. TÌNH YÊU CHUNG THUỶ
Tình yêu Hôn nhân đòi buộc vợ chồng phải chung thuỷ, nghĩa là tình yêu trước sau như một đến trọn đời, không ly dị, rẫy bỏ nhau. Muốn được sự chung thuỷ, đôi bạn cần phải:
Hi sinh: Mỗi người cần hi sinh cá tính, ích kỷ và biết chấp nhận nhau. Hi sinh bằng sự nhịn nhục, chịu đựng và tha thứ cho nhau.
Trung thành : chính là tuân giữ điều đã thề hứa. Khi kết hôn, đôi bạn cam kết trung thành yêu nhau cho đến trọn đời. Lời cam kết đó buộc đôi bạn tránh ngoại tình, đa phu, đa thê.
Tin tưởng: Hãy tin vào Thiên Chúa Tình yêu, vì Ngài luôn yêu thương và muốn đôi bạn được hạnh phúc. Hãy phó thác đời hôn nhân, mọi dự định cho Ngài. Đôi bạn cũng hãy tin nhau, vì khi tin nhau, sẽ làm cho nhau phấn khởi và sống tốt hơn để khỏi phụ lòng tin. Tin nhau cũng là biểu lộ sự tôn trọng, tránh ghen tuông… 4. TÌNH YÊU PHONG PHÚ VÀ SINH SẢN TRÁCH NHIỆM.
Phát triển: “Yêu là muốn sự tốt cho người mình yêu, là cùng nhìn về một hướng”. Hướng đi của hôn nhân là chung xây hạnh phúc, tạo tổ ấm gia đình. Vợ chồng giúp nhau phát triển toàn vẹn về nhân cách và đức tin, quý trọng và khích lệ nhau nên hoàn thiện hơn, để luôn trở thành niềm vui cho nhau và cho con cái.
Sinh sản: Theo ý định của Thiên Chúa, tình yêu vợ chồng qui hướng về việc sinh sản và giáo dục con cái. Việc vợ chồng kết hợp thành “một xác thịt” không dừng lại ở đó, nhưng là mở ngỏ cho việc sinh sản con cái, nhờ đó, đôi bạn trở nên người cộng tác với Thiên Chúa trong việc thông ban sự sống. Họ trở thành cha mẹ khi đón nhận đứa con. Đứa con vừa là quà tặng Chúa ban, vừa là trách nhiệm mới phải chu toàn. (ĐSGĐ.14). VII. NHIỆM VỤ VỢ CHỒNG GHI NHỚ
Người Chồng có nhiệm vụ là chủ, là cha trong gia đình.
Người Vợ có nhiệm vụ là nội tướng, là mẹ trong gia đình. TRÌNH BÀY
1. NHIỆM VỤ NGƯỜI CHỒNG
Người chồng phải nhận lãnh trách nhiệm làm cha, làm chủ gia đình. Để chu toàn trách nhiệm khó khăn này, ông phải biết:
Yêu thương, quảng đại, hi sinh.
Cương quyết, nhưng không độc đoán.
Đối thoại, cảm thông, chia sẻ.
Sống khôn ngoan và tiết độ.
Người Chồng hãy luôn ghi nhớ :
“Chồng là hạnh phúc của Vợ”
Người chồng tạo hạnh phúc cho Vợ bằng việc đáp lại tình yêu của Vợ và đáp ứng 3 nhu cầu căn bản của người Vợ: Trước tiên, Vợ cần có Chồng: Nhu cầu sâu xa nhất của vợ là được bảo vệ, được an toàn, được nương tựa. Vì là phái yếu, họ cần nơi Chồng sự an toàn, sự vững chắc về sức khỏe, tình cảm, suy nghĩ, tài chánh.
Vợ cần sự yêu thương trìu mến: Người nữ sinh ra để được yêu: họ cần nơi Chồng tình yêu sâu sắc, kính trọng, vô vị lợi, bền lâu. Họ cần sự âu yếm của Chồng trong hành vi vợ chồng đúng đắn và cao quí, phát xuất từ tình yêu đích thực.
Vợ muốn Chồng cần tới họ: “Càng trở nên cần thiết cho chồng càng tốt”: “Đàn ông ở một mình không tốt” : Chồng cần có Vợ chia sẻ, hỗ trợ để thành công tốt đẹp hơn. Làm cho vợ hiểu “Chồng cần đến Vợ”, điều đó sẽ làm nàng hạnh phúc. 2. NHIỆM VỤ NGƯỜI VỢ
Người phụ nữ lãnh trách nhiệm làm vợ và làm mẹ, nên cần trau dồi những đức tính sau:
Hi sinh, chịu đựng, quên mình.
Tam tòng, tứ đức: Công, dung, ngôn, hạnh.
Hiền thục, lễ độ, dịu dàng.
Người vợ hãy luôn ghi nhớ:
” Vợ là Hạnh phúc của Chồng” Ba nhu cầu căn bản của Chồng mà người Vợ cần đáp ứng:
Chồng cần có Vợ: Vợ là người bạn đời để giúp đỡ, bổ túc những thiếu sót, nhu cầu tình dục, làm cho chồng nên hoàn hảo hơn. Chồng là phái mạnh, họ cần người vợ : kiên nhẫn, khéo léo, dịu dàng, có lòng trắc ẩn... Chồng là người lãnh đạo, phiêu lưu, họ cần Vợ cung ứng theo khả năng yêu thương phục vụ mà Chúa ban cho chị, để chồng vững mạnh, khỏi bơ vơ, thiếu thốn, hoàn thành trọng trách trong cuộc sống gia đình và xã hội.
Chồng cần một gia đình: Chồng cần một tổ ấm để anh nghỉ ngơi, đổi mới tinh thần, thêm lòng can đảm để nên tươi trẻ lại. Anh cần một gia đình sống động: đầy tình nồng thắm, vui tươi, dịu dàng. Gia đình không trang trí sang trọng như cung điện, nhưng được trang điểm bằng người Vợ đầy phẩm tính tốt đẹp mà tiền bạc không thể mua được. Các phẩm tính cần thiết để gia đình êm ấm như: thông cảm, khích lệ, tử tế, chung thuỷ ...
Chồng cần có con cái: Gia đình đạt tầm vóc đích thực, đầy đủ khi sinh con cái. Người chồng muốn có con cái xinh đẹp, ngoan ngoãn để vợ chồng âu yếm, yêu thương, để thấy tình yêu nối dài, để chứng tỏ khả năng làm cha mẹ. Chính đứa con dạy đôi vợ chồng “biết làm cha mẹ”.
Kết : Đời Hôn nhân sẽ đạt hạnh phúc, khi mỗi thành viên biết và sống đúng vai trò của mình: là tạo hạnh phúc cho người mình yêu. VIII. BỔN PHẬN SINH CON và ĐIỀU HOÀ SINH SẢN
GHI NHỚ
Việc sinh sản con cái là hồng ân, là bổn phận và là trách nhiệm đặc biệt của bậc Hôn nhân. Vì thế, bậc cha mẹ phải biết sinh con có trách nhiệm. Giáo hội dạy: 1. SINH CON CÓ TRÁCH NHIỆM
Sinh con có trách nhiệm, nghĩa là cha mẹ thực hiện việc sinh con ra phải tốt khoẻ, phải chăm sóc dưỡng dục con cái nên người và cha mẹ có quyền quyết định số con vừa đủ, để con cái được sống xứng đáng phẩm giá làm người và làm con Chúa.
Muốn thế, đôi bạn cần suy xét để quyết định việc sinh sản:
Cần tuân theo tiếng nói lương tâm ngay chính: biết phân biệt phải-trái, những gì phù hợp luật Chúa và luật Hội thánh.
Cần tuân theo những tiêu chuẩn luân lý để quyết định việc điều hoà sinh sản : cần có tinh thần hi sinh và trách nhiệm.
Cần suy nghĩ và quyết định chung của cả hai người; tôn trọng bản chất tự nhiên của việc phối hợp thể xác và sử dụng các phương pháp ngừa thai tự nhiên. 2. TIÊU CHUẨN ĐIỀU HOÀ SINH SẢN Ba tiêu chuẩn để quyết định việc Sinh sản kế hoạch:
a. Vì hạnh phúc của đôi bạn: Đứa con là kết quả tình yêu và củng cố hạnh phúc đôi bạn: cần lưu ý sức khoẻ, tâm lý, ước vọng ...
b. Vì hạnh phúc con cái: Con cái là hồng ân cao qúy: cần lưu ý khả năng tài chánh, nhà ở, việc chăm sóc, giáo dục con nên người.
c. Vì thiện ích của xã hội và Giáo hội: cần lượng định khả năng nuôi dạy con để nên người hữu ích cho xã hội và Giáo hội. 3. PHƯƠNG PHÁP NGỪA THAI, PHÁ THAI
Ngừa thai: là tránh không cho trứng của người vợ gặp tinh trùng của người chồng, để không thụ thai.
Phá thai hay triệt thai: là khi trứng đã thụ tinh, đã có thai, nhưng tìm cách phá huỷ đi.
a. Những phương pháp ngừa thai tự nhiên: (xem hình vẽ)
Còn gọi là TIẾT DỤC ĐỊNH KY, là những phương pháp vận dụng chu kỳ hành kinh tự nhiên của người phụ nữ, để kiêng cữ giao hợp tạm thời, tránh việc đậu thai, như phương pháp Ogino-Knauss, phương pháp Billings .
Luân lý tính: Giáo hội cho phép sử dụng các phương pháp ngừa thai tự nhiên, vì nó không đối nghịch với bản chất và mục đích của hành vi yêu thương thân mật vợ chồng; không trực tiếp ngăn cản việc trứng thụ tinh hay giết chết bào thai.
b. Những phương pháp ngừa thai nhân tạo, phá thai:
Là dùng những cách ngăn chận việc thụ tinh như: Uống hoặc chích thuốc ngừa thai, dùng bao cao su, vòng xoắn, màng chắn, chất hoá học ; thắt hay cắt ống dẫn tinh, cột buồng trứng.
Hoặc những cách trực tiếp huỷ diệt trứng đã thụ tinh hay giết bào thai, như: Hút điều hoà kinh nguyệt, nạo thai, phá thai.
Luân lý tính: Giáo hội ngăn cấm sử dụng các phương pháp ngừa thai nhân tạo, cấm phá thai.
”Cấm phá thai, vì là một tội ác. Sự sống cao quí, thiêng liêng, dù là một thai nhi tàn tật yếu đuối, quái dị. Trực tiếp phá thai là tội ác có kèm theo hình phạt”. “Cấm việc hút điều hoà kinh nguyệt, vì là hình thức phá thai non”. “Cấm những hành động trực tiếp ngăn cản việc thụ thai tạm thời hay vĩnh viễn”. “Cấm sử dụng các dụng cụ, các loại thuốc ngừa thai…”.(SSCN.14) IX . BỔN PHẬN GIÁO DỤC
GHI NHỚ
Việc giáo dục con cái là quyền và bổn phận của Cha mẹ.
”Vì cha mẹ sinh ra con cái, nên quyền và bổn phận giáo dục là điều thiết yếu, độc đáo, không gì có thể thay thế và không thể chuyển nhượng được”.(ĐSGĐ.36)
”Nhờ bí tích Hôn nhân, sứ mạng giáo dục được nâng lên thành phẩm giá và ơn gọi của «thừa tác vụ” đích thực trong Hội thánh, để phục vụ và xây dựng Hội thánh. Thừa tác vụ giáo dục của các cha mẹ kitô hữu thật lớn lao và thật đẹp”.(ĐSGĐ.36)
”Gia đình là trường học đầu tiên dạy các đức tính xã hội mà không một đoàn thể nào khác có thể vượt qua được”.(GDKG.3) 1. ĐIỀU KIỆN ĐỂ GIÁO DỤC THÀNH CÔNG
Cha mẹ phải tu chỉnh bản thân trước : sống đẹp về nhân cách, tác phong đạo đức, “Cha mẹ hiền để đức cho con”.
Cha mẹ phải nhất trí trong đường hướng giáo dục : hiểu tính tình, năng khiếu, tùy lứa tuổi và dùng phương pháp thích hợp.
Tạo bầu khí gia đình lành mạnh, cởi mở, thánh thiện, hoà thuận, lạc quan, tin tưởng nhau. 2. MỤC TIÊU GIÁO DỤC
Dạy con cái thành con người và thành con Thiên Chúa.
«Việc giáo dục không chỉ nhằm đạt trưởng thành nhân bản, nhưng còn nhằm biết cách thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và chân lý, biết sống theo con người mới trong công bình bác ái, đạt tới con người hoàn thiện, chín chắn, sung mãn của Đức Kitô». (GDKG.2)
Đức dục : Dạy con biết cách sống xứng đáng trong tương quan với Chúa, với cha mẹ, gia đình, anh em đồng loại. Dạy giáo lý đức tin công giáo. Dạy các đức tính nhân bản như : Nhân-nghĩa-lễ-trí-tín ; Cần-kiệm-liêm-chính-dũng ; Công-dung-ngôn-hạnh.
Trí dục : Dạy về sự khôn ngoan, hiểu biết, phân biệt phải-trái, đánh giá đúng-sai. Cần quan tâm theo dõi và khích lệ việc học tập văn hoá, đọc sách báo, xem TV, chơi vi tính, việc chọn bạn.
Thể dục : Dạy con giữ gìn sức khoẻ, tôn trọng, vệ sinh thân xác và tâm hồn. Giáo dục giới tính cách thân ái, tế nhị và trong sạch. 3. TÂM LÝ GIÁO DỤC ỨNG DỤNG
«Chính tình Phụ tử, Mẩu tử, là nguồn mạch và nguyên tắc gợi hứng, hướng dẫn các hành động giáo dục cụ thể, được phong phú hoá bằng sự dịu dàng, kiên trì, nhân hậu, phục vụ vô vị lợi, tinh thần hi sinh, là những bông hoa quý báu của tình yêu». (ĐSGĐ.36)
Dạy con theo lối mới.
- Cha mẹ cần biểu lộ tình thương và sự chăm sóc dịu dàng, đáp ứng nhu cầu tâm linh của đứa trẻ;
- Cha mẹ nên khuyến khích con cái thi đua học tập, gây tự tin và phát triển năng khiếu, tránh thói kiêu căng, tự phụ, hung dữ.
- Cha mẹ cần sự công bằng, không thiên tư, không quá dễ dãi hay quá nghiêm khắc với con cái : nên giải thích lý do của mỗi hành động giáo dục, của việc ngăn cấm, giảm hình phạt, tránh roi đòn.
- Nhẫn nại, thông cảm, khen những cố gắng mà trẻ đã đạt được, cảm thông với trẻ khi chúng gặp thất bại.
KẾT : «Con cái là Hồng ân Chúa ban,
Nhưng con cái sẽ là triều thiên hạnh phúc,
hay là vòng gai đau khổ, tuỳ ở sự giáo dục của Cha mẹ» X. KHIẾT TỊNH HÔN NHÂN
LUÂN LÝ TÍNH DỤC
GHI NHỚ
Bổn phận và quyền lợi đặc biệt của đôi Vợ-chồng là thân xác thuộc về nhau và làm thoả mãn nhu cầu tính dục của nhau.
Đức khiết tịnh Hôn nhân giúp cho đôi bạn sống trong sạch và tiết độ trong các hành vi ân ái vợ chồng.
Luân lý tính dục trong đời sống Hôn nhân là những tính cách biểu lộ hành vi tính dục hợp pháp, do Thiên Chúa thiết lập cho bậc Vợ - Chồng và chỉ những ai là vợ chồng nhau mới được sử dụng.
1. BA NGUYÊN TẮC LUÂN LÝ TÍNH DỤC Các hành vi vợ-chồng trao nhau, tự bản chất là lương thiện.
Những cử chỉ ân ái, hành vi giao hợp mà Vợ Chồng trao cho nhau là tốt đẹp, mang nhiều ý nghĩa:
Dấu chỉ biểu lộ tình yêu: Tình yêu phát xuất từ Thiên Chúa. Các hành vi ân ái vợ chồng là cách biểu lộ tình yêu, nhằm mục đích yêu thương, bổ túc, sinh sản con.
Dấu chỉ biểu lộ sự sống: “Đâu có Tình yêu, ở đó có sự sống”. Tự bản chất, hành vi giao hợp vợ chồng hướng về sinh sản và giáo dục con, đó là ân huệ và hạnh phúc vì được làm cha-mẹ.
Dấu chỉ biểu lộ lòng trung tín: Vợ chồng tự nguyện trao hiến và kết hợp với nhau trong hành vi ân ái, sẽ thoả mãn nhu cầu tình yêu và tình dục, để tình yêu mãi keo sơn, tránh ngoại tình.
Luân lý Công giáo tôn trọng thân xác, nhưng không quá đề cao hành vi giới tính.
Thiên Chúa dựng con người có hồn và xác. Chúa phục sinh thân xác từ cõi chết. “Xác loài người sẽ sống lại” : Nên thân xác có giá trị xứng đáng trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Nhưng thân xác không là tất cả. Hành vi tính dục phải có giới hạn. “Nó đáng quí trọng khi nó phù hợp luật lệ Thiên Chúa”. Không nên quá đề cao hành vi thân xác.
Cần có sự trong sạch và tiết độ trong đời sống Vợ-Chồng : Giáo hội mời gọi vợ chồng giữ đức Khiết tịnh Hôn nhân. 2. ĐỨC KHIẾT TỊNH HÔN NHÂN
- Đức khiết tịnh hôn nhân giúp cho vợ chồng sống trong sạch và tiết độ trong các hành vi ân ái, tránh những lỗi phạm khiết tịnh.
- Trong sạch và tiết độ trong hành vi ân ái, là thước đo tinh thần xã kỷ, hi sinh, hiến thân hay tiết chế chỉ vì hạnh phúc người yêu.
- Trong sạch và tiết độ là biểu lộ sự trưởng thành và tự chủ của đôi bạn, vì muốn yêu thương và kính trọng nhau.
- Lạc thú tính dục được Chúa sắp đặt để nâng đỡ đời Hôn nhân và gia đình : nên chỉ những ai là Vợ chồng của nhau, mới có quyền trên thân xác của nhau. 3. LỖI PHẠM ĐỨC KHIẾT TỊNH
Lổi phạm đức khiết tịnh (điều răn thứ 6) là những tội sau đây : Tà dâm (sự quan hệ xác thịt giữa hai người khác phái mà chưa kết hôn); Thủ dâm (tự kích thích cơ quan sinh dục để tìm khoái lạc); Hiếp dâm (dùng áp lực hay lường gạt để quan hệ xác thịt trái với ý muốn của người ta); Thú dâm (phạm tội với thú vật); Mãi dâm (nghề đĩ-điếm)
Lỗi đức khiết tịnh lẫn phẩm giá Hôn nhân là những tội sau : Ngoại tình (hành vi giao hợp với người khác phái, mà một bên đã có gia đình rồi); Ly dị (tuyên bố xoá bỏ giao ước hôn nhân ở toà đời) ; Tự do sống chung (sống như vợ-chồng mà không giá thú, không hôn phối) ; Loạn luân (giao hợp với người họ hàng ruột thịt); Đa phu đa thê (có vợ lẽ, chồng đôi); Đồng tính luyến ái (Hành vi quan hệ xác thịt với người cùng phái tính).
KẾT : Vợ-Chồng có Bổn phận yêu thương, bổ túc nhau, sinh sản và giáo dục con cái. Tình yêu và tính dục là quyền lợi và bổn phận đặc biệt của Vợ chồng. Sự hoà hợp tình yêu, thể xác và tâm hồn cũng chính là niềm vui nâng đỡ đời Vợ chồng. XI. ĐỜI HÔN NHÂN - GIA ĐÌNH
NƯỚC MẮT VÀ HẠNH PHÚC
“Hoàn cảnh các gia đình trong thế giới ngày nay hiện có cả những khía cạnh tích cực và tiêu cực, sự pha trộn giữa ánh sáng và bóng tối … Cần có sự hoán cải liên lỉ, vừa đòi hỏi thoát ly sự dữ từ bên trong, vừa gắn bó với sự lành toàn diện để bảo vệ gia đình” (ĐSGĐ.6)
1. NHỮNG BẤT ĐỒNG VỢ CHỒNG Nguyên nhân gây bất hoà Vợ-chồng:
Bất đồng khi tình yêu phai nhạt.
Bất đồng trong việc chăn gối.
Bất đồng trong việc tổ chức gia đình.
Bất đồng về việc giáo dục con cái.
Bất đồng về tài chánh, về nghề nghiệp..
Bất đồng trong cư xử họ hàng.
Hậu quả tai hại do bất đồng:
Về tâm lý tình cảm: làm mất hạnh phúc và nguồn vui, chán nản, lơ là bổn phận, lạnh nhạt với nhau.
Về vật chất: Vì chán nản, dễ đưa đến chơi bời quá độ, hao tiền, tổn sức, hoặc đập phá tài sản, làm ăn thất bại.
Về đạo đức và xã hội: lao vào những cuộc vui trác táng, rượu chè, ngoại tình, mất phẩm chất con người, có thể gây án mạng.
Về gia đình: hành hạ nhau, đưa đến ly thân, ly dị, xáo trộn, tan rả gia đình, lơ là chăm sóc, dạy dỗ con cái... Biện pháp ngăn ngừa:
Tuỳ nguyên nhân sẽ có những biện pháp thích ứng. Điều quan trọng để ngăn ngừa bất hoà là khi kết hôn, cần tìm hiểu chín chắn, chọn lựa kỹ càng và cần có tình yêu thực sự.
Luôn học hỏi, trang bị bằng những kiến thức nuôi dưỡng tình yêu. Cần bàn hỏi với những người khôn ngoan, người chuyên môn để biết cách sống hoà hợp, giải quyết bất hoà.
Phải có đức tin vững mạnh, tinh thần trách nhiệm để hi sinh, nhịn nhục, vượt qua những bất hoà và quyết chí xây dựng gia đình hoà thuận vì tương lai con cái.
2. LY THÂN và LY DỊ a. Ly dị : là hai người phá huỷ giao ước hôn nhân ở toà đời.
Ly thân : là hai người sống tách rời nhau tạm thời.
b. Luật đạo:
Không được ly dị bất cứ vì lý do nào : “Điều gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,9).
Được ly thân tạm thời, để tránh những bất hoà, gây khổ sở. c. Lý do Giáo Hội khắt khe:
Vì ích lợi của gia đình, của con cái và của xã hội.
Ly dị giết chết đời sống cộng đồng tình yêu.
Ly dị thiệt hại con cái: bị vằn dặt, nạn nhân giữa cha-mẹ.
3. CHUNG XÂY HẠNH PHÚC LỨA ĐÔI a. Hạnh phúc Lứa đôi là gì ?
Đó là những góp nhặt nho nhỏ vào cuộc sống chung, với những tình cảm chân thật do hai người tạo ra, như : trao nhận lời khen, tặng quà, trò chuyện vui cười, dạo chơi, tạo bữa ăn ngon…
Hạnh phúc khi xua đuổi những tình cảm u buồn trong lòng, tránh phàn nàn trách móc để tạo niềm vui cho nhau. Hãy luôn tự nhủ : “mình là người hạnh phúc”, sẽ lây lan niềm vui chung quanh.
“Trao đi hạnh phúc, sẽ nhận được hạnh phúc”. Đó là sự thật ; Tỏ lòng biết ơn nhau để người yêu càng hạnh phúc hơn. Hãy quan tâm đến nhau, hiểu nhau và đáp ứng nhu cầu của nhau, đó là những hành động mang đến hạnh phúc cho nhau.
Hạnh phúc khi biết tha thứ cho nhau, nâng đỡ nhau sau những vấp ngã, lầm lỗi, thất bại. Tha thứ là đỉnh cao của tình yêu. Cần biết quảng đại tha thứ, quên đi lỗi củ và khơi lên điều tốt.
Hạnh phúc khi gia đình Sống Đạo, luôn có Chúa ngự giữa. Chúa sẽ dạy họ YÊU như Chúa yêu và Ơn Chúa sẽ giúp họ vượt qua khó khăn, thử thách để đạt niềm vui đời nầy lẫn đờì sau.
b. Xây dựng hạnh phúc bằng những yếu tố tích cực:
Hãy liệt kê những điểm chung của hai người: về sở thích, tính tình, thói quen tốt, làm lại những nghĩa cử đẹp mà hai người thực hiện thời quen nhau, như nghe ca nhạc, tán tỉnh, dạo mát.. ..
Khen lẫn nhau: “Hôn nhân là thế giới đặc biệt mà hai người tạo ra bằng chính lời nói của mình”. Nếu nói lời tiêu cực, chê trách, cằn nhằn, Hôn nhân sẽ lạnh lùng. Nếu nói lời tích cực bằng khen ngợi, thán phục, dịu dàng, nồng thắm, sẽ là có hạnh phúc !
Tạo bầu khí vui tươi, để gia đình thật sự là “Tổ ấm” : bằng những trò giải trí “bí mật, mới lạ”, bằng bửa cơm ngon miệng, bằng vui đùa bên nhau với nét hài hước, dí dỏm. Luôn giữ nét mặt tươi sáng, ăn mặc lịch sự, sắp xếp nhà cửa ngăn nắp, sạch sẽ...
KẾT :Đời Hôn nhân-Gia đình: Nước mắt hay hạnh phúc ?
Câu trả lời tuỳ ở đôi bạn: Nếu biết giải toả bất hoà và cùng chung xây Hạnh phúc.
Hôn nhân là toà nhà Hạnh phúc mà hai Vợ Chồng cùng xây dựng, gìn giữ và nuôi dưỡng mỗi ngày, bằng những yếu tố tích cực, để ngày càng thêm vững chắc và cao đẹp, hướng đến Hạnh phúc vĩnh cửu nơi Thiên đàng. XII. BỔN PHẬN GIA ĐÌNH KITÔ HỮU
GHI NHỚ
Trong Tông huấn ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH, Đgh Gioan Phaolô II đưa ra ánh sáng 4 bổn phận Gia đình kitô hữu:
Gia đình đào tạo cộng đồng các nhân vị.
Gia đình phục vụ sự sống.
Gia đình dự phần phát triển xã hội.
Gia đình dự phần vào sứ mạng của Hội thánh TRÌNH BÀY
1. GIA ĐÌNH ĐÀO TẠO CỘNG ĐỒNG YÊU THƯƠNG (ĐSGĐ.18-27). Bổn phận đầu tiên của gia đình là giúp nhau sống hiệp thông trong tình yêu: giữa đôi bạn nam nữ, giữa cha mẹ và con cái, giữa các anh chị em, bà con họ hàng.
Là vợ là mẹ: hãy trao hiến chính mình cho chồng con.
Là chồng là cha: hãy sống tự hiến bằng việc duy trì và bảo đảm sự hiệp nhất mọi người trong gia đình. Hãy thể hiện tình Cha của Thiên Chúa và sống lại tình cha đó trong gia đình.
Là con cái: hãy hiếu thảo và vâng phục cha mẹ, ông bà. Gia đình cần quan tâm đặc biệt cho đứa con, bằng sự quý chuộng và phục vụ quảng đại về mặt: vật chất, tình cảm, giáo dục, siêu nhiên…
Người gìa cả: hãy là chứng nhân cho quá khứ, là nguồn kinh nghiệm khôn ngoan cho người trẻ. Cần kính trọng và yêu thương đặc biệt đối với người già cả. 2. GIA ĐÌNH PHỤC VỤ SỰ SỐNG (ĐSGĐ. 28-38)
Gia đình phục vụ sự sống qua việc sinh sản và giáo dục con cái.
Sinh sản: đôi bạn cộng tác với Thiên Chúa Tạo hoá. Mục tiêu căn bản của gia đình là phục vụ sự sống, là thông truyền hình ảnh Thiên Chúa từ người này sang người khác qua việc sinh sản.
Con cái là kết quả và là dấu chỉ của tình yêu vợ chồng, là bằng chứng sống động cho sự trao hiến trọn vẹn của đôi bạn.
Hội thánh bảo vệ sự sống con người bằng mọi phương thế và bênh vực nó chống lại mọi đe dọa (ngừa thai, phá thai, chết êm), dù sự sống ở bất cứ điều kiện nào, giai đoạn nào.
Giáo dục.
Gia đình là trường học đầu tiên, trường học căn bản về đời sống đức tin lẫn xã hội. Cha mẹ hãy giáo dục con cái bằng tình yêu như: sự tự hiến, lòng chân thành, tinh thần phục vụ vô vị lợi.
Giáo dục là quyền và bổn phận của cha mẹ: là một cái gì không thể chuyển nhượng hoặc thay thế được, nó có tính cách độc đáo và cơ bản, phát xuất từ tình phụ tử, mẩu tử. 3. GIA ĐÌNH THAM DỰ VÀO VIỆC PHÁT TRIỂN XÃ HỘI (ĐSGĐ. 42-48)
Gia đình là tế bào đầu tiên và sống động của xã hội:
Thiên Chúa đã đặt gia đình làm nguồn gốc và nền tảng cho xã hội con người. Gia đình tiếp sức cho xã hội bằng việc phục vụ sự sống: sinh ra các công dân, dạy và thực tập các đức tính xã hội.
Đời sống gia đình, với kinh nghiệm hiệp thông và chia sẻ, sẽ vun trồng những đức tính xã hội nơi mỗi người như: tiếp đón nồng nhiệt, gặp gỡ, đối thoại, quảng đại, phục vụ vô vị lợi, tương trợ…
Gia đình với vai trò xã hội và chính trị:
Gia đình như một Hội Thánh thu nhỏ, được mời gọi để trở nên dấu chỉ yêu thương và hiệp nhất, thực hiện vai trò làm chứng cho vương quốc hoà bình của Đức Kitô mà cả thế giới đang tiến tới.
Gia đình cần dấn thân cho nhiều công cuộc phục vụ xã hội, lo cho người nghèo trong các tổ chức từ thiện, tham gia chính trị để biến đổi xã hội nên công bằng và bác ái hơn. 4. GIA ĐÌNH THAM DỰ SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH (ĐSGĐ. 49-61)
Trong Hội thánh, gia đình được mời gọi trở thành: Cộng đồng tin và loan báo Tin mừng (Tiên tri).
Cộng đồng đối thoại với Thiên Chúa (Tư tế).
Cộng đồng phục vụ con người (Vương đế).
Gia đình Kitô hữu là cộng đồng tin và Rao giảng Tin mừng:
Đôi bạn được mời gọi bày tỏ đức tin khi cử hành bí tích Hôn phối và công bố Tin mừng về Tình yêu Hôn nhân. Mỗi ngày sống Hôn nhân là đôi bạn tiếp tục tuyên xưng đức tin và tình yêu Chúa.
Đôi bạn cũng tạo môi trường Phúc âm hóa trong gia đình, truyền thụ Tin mừng khi dạy đạo lý cho con cái và cũng nhận lại Tin mừng từ con cái. Gia đình cũng được mời gọi Truyền giáo bằng chính đời sống gia đình êm ấm, hoà thuận, yêu thương.
Gia đình Kitô hữu là cộng đồng đối thoại với Thiên Chúa.
Gia đình là Đền thờ tại gia của Hội Thánh: Do bí tích Hôn phối, gia đình kitô hữu được lôi cuốn vào cuộc đối thoại với Chúa bằng đời sống bí tích, việc dâng hiến và kinh nguyện gia đình. |