TÀI LIỆU HỌC HỎI GIÁO LÝ
DÀNH CHO LỄ SINH
Nguồn: simonhoadalat.com
LỄ SINH TÌM HIỂU CỰU ƯỚC
1. Danh từ Thiên Chúa có nghĩa là gì ?
- Thiên : trời, Chúa: chủ.
- Thiên Chúa: Đấng làm chủ trời đất này.
2. Danh từ Kinh Thánh có nghĩa là gì ?
- Kinh: sách; thánh: thuộc về Thiên Chúa.
- Kinh Thánh có nghĩa là cuốn sách ghi Lời của Thiên Chúa.
3. Danh từ mạc khải hay mặc khải có nghĩa là gì ?
- Mạc: màn
- Mặc: kín nhiệm
- Khải: mở
- Mạc Khải hay Mặc Khải: Thiên Chúa vén màn hé mở cho ta được biết các mầu nhiệm của Ngài.
4. Lịch sử Cựu Ước diễn ra trong vùng đất nào ?
Lịch sử Cựu Ước diễn ra trong vùng tiếp cận giữa Châu Á, Châu Âu và Châu Phi, ngày nay quen gọi là Trung Đông hay Cận Đông.
Ở phía tây của vùng Trung Đông là Ai Cập. Ở phía đông là miền Lưỡng Hà. Gọi là “Lưỡng Hà” vì có hai con sông lớn là Ti-gơ-ra và Êu-phơ-rát.
5. Nơi các chi tộc Israel sinh sống trong thời Cựu Ước có tên là gì ?
Xứ Palestine là nơi các chi tộc Israel sinh sống trong thời Cựu Ước, nằm ở phía nam của vùng bờ biển Phê-ni-ki nối liền Ai Cập và miền Lưỡng Hà.
6. Bạn cho biết tổng quát về xứ Palestine ?
Xứ Palestine có chiều dài 240km, chiều rộng từ 40 đến 150km, diện tích chừng 25.000km2; phía bắc là núi Li băng; phía đông và nam giáp sa mạc, phía tây giáp Địa Trung Hải.
7. Xứ Palestine có mấy miền chính ?
Từ tây sang đông có 4 miền chính:
- Miền duyên hải.
- Miền núi.
- Miền thung lũng sông Gio-đan.
- Miền cao nguyên phía đông sông Gio-đan, xưa có rừng rậm và đồng cỏ.
8. Nơi ở chính của dân Israel xưa là miền nào ?
Nơi ở chính của dân Israel xưa là Miền núi: cao trung bình 500m-900m.
9. Từ bắc xuống nam, Miền Núi chia thành mấy phần ?
Từ bắc xuống nam, Miền Núi chia thành ba phần:
- Xứ Ga-li-lê: có Na-za-rét, núi Tabo.
- Xứ Sa-ma-ri: Có hai ngọn núi cao nhất là Gơ-ri-dim (881m) và Ê-ban (940m), giữa hai ngọn là thung lũng Si-khem.
- Xứ Giu-đa: có núi Ô-liu (814m) ở phía đông thành Giêrusalem (750m); về phía nam có Bê-lem và Khép-rôn.
10. Sông Giođan chảy qua những vùng nào ?
Sông này bắt nguồn từ sườn phía nam núi Li-băng, rồi chảy vào hồ Ti-bê-ri-a (cũng gọi là hồ Ghê-nê-xa-nét hay Biển Ga-li-lê). Ra khỏi hồ Ti-bê-ri-a, sông Gio-đan chảy qua một thung lũng sâu (trong thung lũng này có Giê-ri-khô, một thành cổ bậc nhất thế giới) rồi đổ vào Biển Chết.
11. Vì sao có tên gọi Biển Chết ?
Vì tại đây nuớc có muối và khoáng chất đậm đặc gấp 6 lần nước biển thường, không có sinh vật nào sống được, do đó mà gọi là Biển Chết.
12. Căn bản nền kinh tế của Dân Do Thái là gì ?
Nền kinh tế căn bản là nông nghiệp (lúa mì, nho, ô-liu, vả) và chăn nuôi (cừu, dê, bò , lừa).
13. Dân Do Thái thời Cựu Ước có dân số là bao nhiêu?
Dân số thời thịnh nhất (thế kỷ 8 tcn) ước chừng một triệu. Riêng tại Giêrusalem có khoảng 30.000 dân.
14. Ơn linh hứng là gì ?
- Linh: thuộc về Thánh Thần
- Hứng: được cảm xúc đánh động.
- Linh Hứng: Ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần ban cho những người viết ra Kinh Thánh.
Những vị viết Kinh Thánh đã được Chúa Thánh Thần soi sáng hướng dẫn để biết cách dùng tài năng riêng mà viết những điều Thiên Chúa muốn và chỉ viết những điều Thiên Chúa muốn. Nhờ đó, Kinh Thánh chứa đựng sự thật cứu độ, dạy ta những gì cần biết để sống đầy đủ ý nghĩa làm người và đạt tới hạnh phúc tuyệt đối.
15. Ta trưng dẫn Kinh Thánh bằng cách nào ?
Khi trưng dẫn Kinh Thánh, ta nêu số chương (cũng gọi là đoạn) và số câu.
16. Danh từ ngôn sứ có nghĩa là gì ?
- Ngôn : Lời nói.
- Sứ: người được sai đến.
- Ngôn Sứ: người được Thiên Chúa sai đến để nói lời của Ngài.
17. Danh từ sáng tạo có nghĩa là gì ?
- Sáng : bắt đầu, dựng lên;
- Tạo : dựng ra lần đầu.
- Sáng tạo : do không mà làm ra có.
18. Thế kỷ và kỷ nguyên là gì ?
- Thế kỷ : 100 năm
- Kỷ nguyên : 1.000 năm.
19. Công nguyên là gì ?
- Công nguyên : Cái mốc chung, cả thế giới ngày nay hiện dùng để tính năm, đánh dấu từ việc Chúa Giêsu giáng sinh.
20. Bản dịch bảy mươi là bản dịch nào ?
Là bản dịch Kinh Thánh đầu tiên từ tiếng Híp-ri sang tiếng Hy Lạp, công việc kéo dài 100 năm (250 -150 trước công nguyên) do 70 người thực hiện.
21. Bản dịch phổ thông là bản dịch nào ?
Là bản dịch Kinh Thánh sang tiếng La Tinh nhằm phổ biến rộng trong Hội Thánh Công Giáo, do thánh Giê-rô-ni-mô (347-419) thực hiện.
22. Sách Sáng Thế có bao nhiêu chương ?
Sách Sáng Thế gồm 50 chương, chia làm 2 phần không đều nhau: 1-11 và 12-50.
23. 11 chương đầu của sách Sáng Thế muốn nói gì ?
11 chương đầu trình bày về những nguồn gốc khởi đầu (nên gọi là Khởi nguyên). Có thể coi đây là phần nhập đề dẫn vào lịch sử cứu chuộc sẽ được kể trong toàn bộ Kinh Thánh. Lịch sử ấy lên đến tận nguồn gốc vũ trụ và bao gồm toàn thể loài người.
Nội dung 11 chương đầu sách sáng thế kể lại việc tạo dựng vũ trụ và con người, sự sa ngã buổi đầu với những hậu quả của nó, cuối cùng đặt trọng tâm nơi Abraham, là cha của dân tộc được tuyển chọn.
24. Tổ phụ Abraham có gì đặc biệt ?
Abraham là người của lòng tin, của vâng phục. Thiên Chúa hứa ban cho cụ một dòng dõi đông đảo và cho con cháu cụ một lãnh thổ.
25. Tổ phụ Giacóp có gì đặc biệt ?
Ông Gia-cóp là con của ông Isaac, cháu của ông Abraham. Ông Giacóp là một người mánh lới, qua mặt cả cha, anh và cậu. Không phải vì sự khôn lanh ấy mà ông được lưu danh đến nay, nhưng chỉ vì ông đã được Thiên Chúa thương từ trước và Ngài đã lặp lại với ông lời hứa giao ước đã ban cho Abraham.
26. Tổ phụ Giuse là ai ?
Ông Giuse là một trong mười hai người con của Giacóp, được đầy khôn ngoan và là nhân vật chính của hơn 10 chương ở phần cuối của sách Sáng Thế.
27. Cuộc đời ông Giuse để lại bài học nào ?
Bài học đạo đức được rút ra là: Người khôn ngoan nhân đức sẽ được trọng thưởng và Thiên Chúa quan phòng sẽ có thể biến cả những lỗi lầm của người đời thành điều hay, điều tốt.
28. Thủ Bản Kinh Thánh Biển Chết là gì ?
Người Do Thái xưa chép Kinh Thánh trên những cuộn giấy da. Họ sao chép từng bản, hết sức tỉ mỉ, không để sai chạy một nét nào. Vào năm 1947, tại Qumran (Cum-ran) gần Biển Chết, giữa tàn tích của một tu viện Ét-xê-nô, người ta tìm thấy một thư viện chôn giấu từ thế kỷ I sau công nguyên. Trong đó, có những miếng da sao chép Kinh Thánh của tất cả các sách trong bộ Cựu Ước (trừ Ét-te). Lắm bản còn nguyên vẹn. Sách I-sai-a đầy đủ từ đầu đến cuối. Những tài liệu này có từ thế kỷ 2 hoặc 1 trước công nguyên, nhưng đem đối chiếu các bản văn tiếng Híp-ri thế kỷ 9, ta thấy một sự trùng khít đáng kinh ngạc.
29. Sabát hay Hưu Lễ có nghĩa là gì ?
Sa-bát nghĩa là nghỉ ngơi; Hưu cũng là nghỉ ngơi.
Ngày Sa-bát hay Hưu lễ là ngày nghỉ hằng tuần của người Do Thái, nhằm vào ngày thứ bảy của ta.
30. Tên 12 chi tộc Israel là gì ?
Các chi tộc Israel mang tên 12 người con của ông Giacóp (Giacóp được Thiên Chúa đổi tên thành Israel)
- Các con của bà Lê-a: Ru-ben, Si-mê-on, Lê-vi, Giu-đa, I-xa-kha, Dơ-vu-lon.
- Các con của bà Bin-ha: Đan, Náp-ta-li.
- Các con của bà Din-pa: Gát, A-se.
- Các con của bà Ra-khen: Giu-se và Ben-gia-min.
Giu-se có hai người con sẽ được hưởng danh dự ngang với các chú bác : Ép-ra-im và Mơ-na-sê.
31. Nội dung Sách Xuất Hành là gì ?
Sách Xuất hành bàn tới hai vấn đề chính: việc giải phóng khỏi Ai Cập (chương 1 đến chương 15, 21) và giao ước tại Xi-nai (chương 19-40). Hai đề tài ấy được nối với nhau bằng một đề tài phụ: cuộc hành trình trong sa mạc (15,22-18,27).
32. Nội dung Sách Lêvi là gì ?
Sách này quy định các nghi thức phụng vụ: các lễ tế, việc phong chức tư tế, những luật về sự thanh sạch và uế tạp …
33. Nội dung Sách Dân Số là gì ?
Sách này thuật tiếp cuộc hành trình trong sa mạc: sau giao ước Xi-nai, người ta kiểm tra dân số để chuẩn bị lên đường. Sau khi cử hành lễ Vượt Qua lần thứ hai, họ rời Núi Thánh, và đi từng chặng tới Ca-đét. Họ cố tiến vào đất Ca-na-an bằng phía nam, nhưng thất bại.
Sau ít lâu, họ chuyển hướng đi về vùng Mô-áp, đối diện với Giê-ri-khô. Họ chiến thắng dân Ma-đi-an, chiếm lấy vùng bên kia sông Gio-đan để chia cho các chi tộc Gát, Ruben và một nửa chi tộc Mơnasê.
34. Nội dung Sách Đệ Nhị Luật là gì ?
Đây là bản luật thứ hai, hay Thứ Luật, gồm cả luật dân sự và luật tôn giáo. Sách này lấy lại một phần các lề luật đã được ban trong sa mạc. Sách cũng ghi lại 4 bài diễn từ lớn của Mô-sê, sứ vụ của Giô-suê, bài ca, di chúc và cái chết của Mô-sê.
35. Nội dung sách Giô-Suê là gì ?
Sách này trình bày việc chiếm xứ Palestine, dưới sự lãnh đạo của ông Giô-suê, người kế vị Mô-sê, và việc chia lãnh thổ cho 12 chi tộc Israel.
36. Sách Thủ Lãnh (Thẩm Phán) nói về thời kỳ nào?
Sách Thủ lãnh kể về thời kỳ 200 năm đầu ở vùng đất mới chiếm. Dân Israel còn sống theo quy chế bộ lạc, chưa lập thành quốc gia.
37. Hãy kể tên các vị thủ lãnh ?
Dân Israel bị quyến rũ tôn thờ các ngẫu tượng và bị các dân địa phương hoặc láng giềng áp bức. Thiên Chúa đã cho nhiều người đứng lên bênh vực họ, cứu họ khỏi kẻ thù: Ốt-ni-en, Ê-hút, Sam-ga, Đê-bô-ra và Ba-rắc, Ghê-đê-ôn (Ghít-ôn) và A-bi-mê-lết, Tô-la, Giai-a, Giép-tê (Gíp-tác), Íp-san, Ay-lon, Áp-đôn, Sam-son.
38. Vì sao các thủ lãnh còn được gọi là thẩm phán ?
Những người này được gọi là thẩm phán không phải vì họ lo cho xử kiện, nhưng vì họ đã thi hành các phán quyết của Thiên Chúa, tức là những lần Thiên Chúa can thiệp để bênh vực dân Ngài.
39. Nội dung Sách Rút là gì ?
Sách này kể chuyện về bà Rút. Bà là một phụ nữ gốc Mô-áp, tức là một người ngoại bang, đã lấy chồng là một người Israel, nhưng ông này chết sớm. Trung thành với người chống đã khuất, bà Rút quyết định theo mẹ chồng về Palestine. Sau đó bà lập gia đình với ông Bô-a và sinh ra Ô-vét, là ông nội vua Đa-vít. Tuy là một phụ nữ ngoại bang nhưng bà Rút được chọn vào hàng các bậc tổ tiên của Đấng Cứu Thế.
40. Nội dung sách Sa-mu-en 1 và 2 là gì ?
Hai sách Sa-mu-en lúc đầu chỉ là một, về sau người ta mới chia ra cho tiện. Sách này tường thuật giai đoạn đầu của vương quốc Israel, về Sa-mu-en là vị thẩm phán cuối cùng và là ngôn sứ, về vị vua thứ nhất là Sa-un, và về những diễn tiến đưa Đa-vít lên ngôi vua.
41. Nội dung Sách Các Vua 1 và 2 là gì ?
Hai sách này đánh giá các vua tùy theo họ có trung thành với luật Thiên Chúa hay không.
Dựa theo chuẩn mực ấy, sách các Vua đã phân tích từ triều đại vua Sa-lô-môn băng hà (năm -933), vương quốc chia làm hai. Tại phía bắc, tức là nước Israel, các vị vua thay nhau bị lật đổ, các triều đại ngày càng suy đồi, cho đến khi thủ đô Sa-ma-ri sụp đổ vào năm -722. Tại phía nam, tức là nước Giu-đa, vương quyền vẫn còn ở trong tay các con cháu của vua Đa-vít, cho tới khi thủ đô Giêrusalem sụp đổ vào năm -587.
Sách này cũng có những đoạn tường thuật về đời sống và công việc của các ngôn sứ như Ê-li-a hoặc Ê-li-sa.
42. Nội dung Sách Sử Biên Niên (Ký Sự) 1 và 2 là gì?
Sách này ghi chép sự việc theo thời gian (nên được gọi là ký sự hoặc là sử chép theo từng năm). Các tác giả hai sách này muốn chứng tỏ rằng khi dân Israel trung thành với giao ước thì Thiên Chúa bênh vực họ, và Ngài đánh phạt họ khi họ lìa bỏ giao ước.
43. Các Sách Sử Biên Niên được biên soạn vào lúc nào ?
Được biên sọan vào thế kỷ thứ 4 trước công nguyên, sau sách Sa-mu-en và sách Các Vua, nên các sách Sử Biên Niên bổ túc nhiều điều cho các sách ấy.
44. Nội dung Sách Ét-ra và Sách Nơ-khe-mi-a là gì?
Hai sách này làm thành một khối, trình bày phần tiếp theo hai sách Sử Biên Niên. Hai sách này ghi lại bút tích của Ông Ét-ra và ông Nơ-khe-mi-a cùng với những văn kiện của nhà nước đế quốc thời ấy, để nói về cuộc hồi hương vào năm -538 của những người lưu đày, họ trở về xây dựng lại đền thờ và khôi phục lại việc thờ phượng tại Giêrusalem (Ét-ra) đồng thời tái thiết lại các tường lũy của thành thánh (Nơ-khe-mi-a).
45. Nội dung sách Tô-bi-a là gì ?
Sách Tô-bi-a là một truyện bình dân, thấm nhuần lý tưởng đạo đức Do Thái giáo. Sách kể lại những chuyện không may của ông Tô-bít và con ông là Tô-bi-a trong cánh sống lưu đầy của người Do Thái giữa đế quốc Ba Tư rộng lớn. Câu chuyện thật tươi mát, nêu bật giá trị của lý tưởng về hôn nhân, về gia đình, của các bổn phận đạo đức như cầu nguyện, bố thí, ăn chay, và bổn phận đối với người chết. Mỗi trang sách đều sáng lên lòng tin cậy vào Thiên Chúa. Cuối cùng, người công chính đã được Thiên Chúa ban thưởng.
46. Nội dung sách Giu-đi-tha là gì ?
Sách kể lại cuộc giải cứu thành Bê-tu-li bị bao vây dưới thời Na-bu-co-đô-nô-xô. Là một quả phụ trẻ đẹp, bà Giu-đi-tha đã một thân một mình tiến vào doanh trại của quân thù. Tướng Hô-lô-phe-nơ mê sắc đẹp của bà, đem bà vào lều và bị bà cắt đầu. Đây là một tiểu thuyết lịch sử ca ngợi lòng tin vào Thiên Chúa và lòng yêu nước.
47. Nội dung Sách Ét-te là gì ?
Sách kể lại chuyện bà Ét-te, một phụ nữ Do Thái trẻ đẹp trong cảnh lưu đầy, được chọn làm hoàng hậu nước Ba Tư, và nhờ đó mà phá vỡ được âm mưu tiêu diệt dân Do Thái.
48. Nội dung sách Ma-ca-bê 1 và 2 là gì ?
Hai sách Ma-ca-bê không tiếp nối nhau nhưng cũng thuật lại những hồi quan trọng trong lịch sử dân Israel từ nửa đầu thế kỷ 2 trước công nguyên. Dưới quyền vua Ba Tư và Hy lạp, xứ Palestine vẫn được tự do tôn giáo cho đến năm -167. Vào năm này, vị vua thuộc triều Sơ-lu-cô là An-ti-ô-cô IV Ê-pi-pha-nô quyết định dùng vũ lực bắt ép ngưới Do Thái phải thờ phụng và tin tưởng như người Hy Lạp. Ông đã đặt tượng thần Giu-pi-te cả trong đền thờ Giêrusalem. Nhiều người Do Thái đã thà chết chứ không bỏ đạo.
Tư tế Ma-ta-thi-a đã cùng với 5 người con trốn vào bưng. Một trong 5 người ấy là Giu-đa, biệt danh là Ma-ca-bê nổi bật với những cú đấm ngàn cân. Cuối cùng các vua triều Sơ-lu-cô phải bó tay trước đám du kích và quốc gia Do Thái được tái lập.
49. Nội dung sách Gióp là gì ?
Tác giả sách Gióp đã vẽ nên một nhân vật tiêu biểu để giúp ta suy nghĩ về sự đau khổ. Ông Gióp là một người tốt lành, phúc hậu. Bỗng dưng trong phút chốc ông mất hết của cải, con cái và sức khỏe. Bạn hữu nhắc nhở ông rằng ông có phạm tội gì đó mới bị phạt như thế. Nhưng cuối cùng, ông được minh oan và được an ủi: ông được bù đắp cả về sức khoẻ, tài sản, gia đình và danh dự.
50. Nội dung Sách Thánh Vịnh là gì ?
Đây là sưu tập các bài thơ dùng để hát trong việc thờ phượng của người Do Thái.
51. Ai là tác giả sách Thánh Vịnh ?
Vua Đa-vít được coi là ông tổ của ngành Thánh Vịnh, bởi đó nhiều Thánh Vịnh được quy cho ông, nhưng rất khó xác định được Thánh Vịnh nào thực sự do ông làm ra. Rất nhiều bài được viết trong thời lưu đầy và sau lưu đầy.
52. Hội Thánh Công Giáo đã dùng các Thánh Vịnh làm gì ?
Hội Thánh Công Giáo đã dùng các Thánh Vịnh làm lời cầu nguyện chính thức của mình, không sửa đổi, bởi vì những lời ấy diễn tả thái độ mà mọi người phải có trước mặt Thiên Chúa. Nhờ Đức Kitô, các Thánh Vịnh còn mang thêm những ý nghĩa mới mẻ và phong phú.
53. Nội dung sách Châm Ngôn là gì ?
Sách này thu góp nhiều châm ngôn nhằm dạy lẽ khôn ngoan, nghĩa là nghệ thuật ăn ở sao cho phù hợp với thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh ở đời.
54. Nội dung Sách Giảng Viên là gì ?
Sách Giảng Viên còn được gọi là sách Qohelet (Cô-hê-lét). Tiếng này có nghĩa là “Người lên tiếng trong cộng đoàn”. Sách xuất hiện vào thế kỷ 5 trước công nguyên. Nó trình bày một suy tư khác thường về ý nghĩa của đời người: tất cả đều mong manh, hão huyền.
55. Nội dung Sách Diễm Ca (hay Diệu Ca) là gì ?
Tựa đề sách có nghĩa là ca khúc đẹp nhất. Nó là một sưu tập thơ tình yêu, ca ngợi phẩm giá tình yêu nhân loại, đã được dùng làm hình ảnh diễn tả quan hệ yêu thương mà nhờ giao ước, Thiên Chúa đã thiết lập giữa Ngài với dân Ngài, giữa Ngài và người tín hữu, giữa Đức Kitô và Hội Thánh.
56. Cuốn sách nào ra đời muộn nhất trong các sách Cựu Ước?
Sách Khôn Ngoan ra đời muộn nhất trong các sách Cựu Ước, được soạn bằng tiếng Hy Lạp, vào thế kỷ 1 trước công nguyên.
57. Nội dung Sách Khôn Ngoan là gì ?
Theo tác giả, sự khôn ngoan đích thật chỉ đến từ Thiên Chúa, ai được nó thì có hạnh phúc, nhưng muốn có, phải cầu nguyện. Ông nhắc đến những kỳ diệu của công trình sáng tạo và của lịch sử để ca ngợi sự quan phòng của Thiên Chúa, ông cũng quả quyết rằng sau khi chết, người lành sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh viễn với Thiên Chúa.
58. Nội dung Sách Huấn Ca là gì ?
Đây là công trình của một hiền nhân thế kỷ thứ 2 trước công nguyên, tên là “Giê-su con của Si-rắc”. Theo ông, sự khôn ngoan chính là Sách Luật Giao Ước, người khôn ngoan đích thật chính là người trung thành phụng sự luật Thiên Chúa.
59. HA-LÊ-LUI-A / A-LÊ-LUI-A có nghĩa là gì ?
Trong tiếng Hip-ri, Hallel có nghĩa là ngợi khen, Ya là “Gia-vê” (yawh). Hallêluia nghĩa là “Ngợi khen Gia-vê”; “Ngợi khen Thiên Chúa”.
60. A-MEN có nghĩa là gì ?
Trong tiếng Hip-ri có nghĩa là: “Quả thật, đúng như vậy”, cũng có thể dịch là: “Được, hoan hô, đồng ý, tán thành” và “ước được như vậy”.
61. Ngôn sứ I-sai-a có nhiệm gì ?
Một thi sĩ là I-sai-a được Chúa ban nhiệm vụ ngôn sứ vào năm -740, lúc 25 tuổi. Nhiệm vụ của ông là loan báo sự sụp đổ của Israel và của Giu-đa, loan báo những hình phạt dành cho sự bất trung của dân. Ông thi hành sứ vụ trong 40 năm, vào thời nước Át-xi-ri đang chiếm ưu thế và thường xuyên đe dọa Israel và Giu-đa.
Isaia là vị ngôn sứ của lòng tin. Trong những cuộc khủng hoảng của dân tộc, ông đòi hỏi mọi người chỉ tin tưởng vào một mình Thiên Chúa.
62. Vì sao các chương 40-50 của Isaia được gọi là sách Isaia thứ hai ?
Vì các chương 40-50 của sách Isaia do một tác giả khác (gọi là Isaia thứ 2) viết trong thời lưu đầy ở Ba-bi-lon, nhằm an ủi dân chúng và hướng lòng họ mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc. Phần này cũng nhấn mạnh Thiên Chúa là Thiên Chúa duy nhất, khôn ngoan và quan phòng. Trong phần này có 4 bài ca về Người Tôi Tớ Thiên Chúa, báo trước về Đức Kitô.
63. Các chương 56-66 sách Isaia là của ai viết ?
Các chương 56-66 của sách Isaia được coi là công trình của một ngôn sứ khác nữa (gọi là Isaia thứ ba).
64. Giêrêmia là ai ?
Giê-rê-mi-a là một ngôn sứ ở Giêrusalem sau I-sai-a khoảng một thế kỷ (năm-650). Ông đầy lòng yêu dân, nhưng ông lại là người cô độc, không được cảm thông, thường bị ngược đãi.
65. Giêrêmia rao giảng những gì ?
Ông đã rao giảng, đe dọa báo trước sự sụp đổ, cảnh báo nhưng vô hiệu. Các vua bất tài kế tiếp nhau trên ngai vàng Đa-vit. Ông bị giới quân sự tố cáo là chủ bại, rồi bị bỏ tù.
66. Vì sao Giêrêmia lại chết ở Aicập ?
Năm -597, vua Na-bu-cô-đô-nô-xô chinh phục Giêrusalem và bắt dân đi đầy. Năm -587, dân Giêrusalem nổi loạn, quân Can-đê lại kéo đến chiếm thành, đốt đền thờ và lại bắt thêm dân đi lưu đày. Sau khi Giêrusalem mất, Giê-rê-mi-a quyết ở lại quê nhà, nhưng sau đó, một nhóm người Do Thái chạy trốn sang Ai Cập đã lôi ông đi theo, và có lẽ ông đã chết ở Ai Cập.
67. Nội dung Sách Ai Ca là gì ?
Sách Ai Ca được soạn ở Palestine sau khi Giêrusalem sụp đổ năm -587. Sách gồm 5 bài thơ buồn dâng lên Thiên Chúa lời thương tiếc thành Giêrusalem sụp đổ. Tuy nhiên, từ những lời ai oán ấy, lại toát ra một niềm tin không lay chuyển nơi Thiên Chúa và một tâm tình thống hối sâu xa.
68. Nội dung sách Ba-rúc là gì ?
Theo lời mở đầu thì sách này do ông Ba-rúc là thư ký của Giê-rê-mi-a viết tại cảnh lưu đày ở Ba-bi-lon và gửi về Giêrusalem để đọc trong các buổi nhóm phụng vụ. Sách cũng an ủi những người lưu đày bằng cách nhắc lại niềm tin vào thời cứu thoát.
69. Êdêkien là ai ?
Trong đám người bị lưu đầy đợt 2, năm -587, có một vị ngôn sứ đi theo để an ủi khích lệ dân chúng. Đó là Ê-dê-ki-en. Thiên Chúa đã cho ông nhận thấy và tả lại cảnh vinh quang Thiên Chúa rời bỏ đền thờ Giêrusalem để đến với những người bị lưu đày ở Ba-bi-lon.
70. Êdêkien kêu gọi điều gì ?
Ông kêu gọi đồng bào thật lòng hoán cải. Ông mạnh mẽ đòi hỏi họ phải ý thức về trách nhiệm cá nhân, và ông mở cho họ thấy viễn tượng một giao ước mới trong Thánh Thần. Ông cũng báo trước rằng một ngày kia họ sẽ được trở về trong một Đất Thánh đã đổi mới, trong một Giêrusalem mới hoàn toàn trung thành với Thiên Chúa, mà tên mới của thành ấy sẽ là “Thiên Chúa ở đó”.
71. Sách Đanien được viết vào khoảng năm nào ?
Sách Đa-ni-en được viết vào khoảng năm 165 trước công nguyên, trong thời kỳ có cuộc bách hại của vua An-ti-ô-cô Ê-pi-pha-nô và cuộc chiến tranh giải phóng. Mục đích là nâng đỡ ý chí kháng chiến của người Do Thái.
72. Sáu chương đầu của sách Đanien kể chuyện gì ?
6 chương đầu kể chuyện một thiếu niên tên là Đa-ni-en, phục vụ trong triều đình Ba-bi-lon và Ba-tư, mà vẫn luôn luôn trung thành với luật Chúa, bất chấp những khổ hình: bị ném vào lò lửa hay vào hang sư tử. Đa-ni-en còn giải thích các giấc mơ, tỏ rõ ý muốn của Thiên Chúa và báo trước về các đế quốc sẽ nối tiếp nhau trong tương lai cho tới ngày chiến thắng dứt khoát của Thiên Chúa và của những kẻ lành mà Thiên Chúa sẽ cho sống lại.
73. Sáu chương sau của sách Đanien kể chuyện gì ?
6 chương sau ghi lại các thị kiến về Nước Thiên Chúa sẽ đến trong tương lai. Đó là một quốc gia bao quát mọi dân nước, và không bao giờ chấm đứt. Đó là nước của dân thánh, của Thiên Chúa, của Đấng Con Người đã được trao mọi quyền bính.
74. Vì sao lại gọi là ngôn sứ nhỏ ?
Sau 4 ngôn sứ lớn là 12 ngôn sứ nhỏ. Gọi là “nhỏ” không phải vì vai trò, sứ mạng hoặc ảùnh hưởng của những vị này không đáng kể, ngược lại, đôi khi lại rất quan trọng, nhưng gọi là nhỏ, chỉ vì các sách đều ngắn. Theo thứ tự trong Kinh Thánh, danh sách 12 vị này là: Hô-sê, Gio-en, A-mốt, Ô-va-đi-a, Gio-na, Mi-kha, Na-khum, Kha-ba-cúc, Xô-phô-ni-a, Khác-gai, Da-ca-ri-a và Ma-la-khi.
75. Hôsê là ai ?
Ngôn sứ Hô-sê quê ở vương quốc phía bắc. Ông khởi sự rao giảng vào khoảng năm -750 dưới triều vua Giê-rô-bô-am II và kéo dài dưới các triều vua kế tiếp, có lẽ cho đến trước khi thủ đô Sa-ma-ri sụp đổ (-721). Đây là một gian đoạn đen tối đối với Israel: Trong nước hỗn loạn, tôn giáo và luân lý sa đọa, lại thường bị ngoại xâm.
76. Ngôn sứ Hôsê rao giảng điều gì ?
Hô-sê là người đầu tiên đã diễn tả quan hệ giữa Thiên Chúa và Israel trong ngôn ngữ một cuộc hôn nhân. Ông đã cưới một người làm vợ và người vợ này đã bỏ ông, nhưng ông vẫn tiếp tục yêu qúy và đón nhận nàng về lại sau khi đã thử luyện. Kinh nghiệm đau thương ấy của ông được Chúa dùng làm hình ảnh diễn tả cách cư xử của Ngài đối với dân Ngài. Dân Israel đã được Thiên Chúa cưới lấy, nhưng họ đã ăn ở bất trung khiến Thiên Chúa phải nổi giận, nhưng Thiên Chúa vẫn còn thương mến, Ngài sẽ sửa trị để đưa Israel về lại với Ngài và ban lại niềm vui thuở ban đầu. Cách diễn tả của Hô-sê đã được các ngôn sứ Giê-rê-mi-a, Ê-dê-ki-en và I-sai-a 40-50 cũng như các sách Tân Ước lấy lại.
77. Sách Gio-en tiên báo điều gì ?
Sách này có lẽ được soạn vào khỏang năm 400 trước công nguyên. Sách tiên báo ngày của Chúa sắp đến và kêu gọi độc giả ăn chay, sám hối để nhận lấy Thánh Thần.
78. A-mốt là ai ?
A-mốt là một người chăn cừu quê ở vương quốc Giu-da. Sau một thời gian ngắn thi hành sứ vụ tại Israel, ông bị trục xuất về Giu-đa.
Ông rao giảng cùng thời với Hô-sê, dưới triều vua Giê-rô-bô-am. Thời này, vương quốc có thịnh hành về kinh tế, nhưng sự chênh lệch giữa người giàu và người nghèo cũng gia tăng. Các lễ nghi có vẻ huy hoàng nhưng lại thiếu lòng đạo đích thực.
79. Ngôn sứ Amốt nói gì ?
A-mốt lên án cuộc sống bất công của thành thị, sự an tâm giả tạo mà người ta đặt ở nghi lễ không hồn. Ông loan báo sẽ đến ngày Thiên Chúa đoán phạt Israel bất trung, tuy nhiên Ngài vẫn sẽ chừa lại cho một số ít ỏi.
80. Sách nào ngắn nhất trong Cựu Ước ?
Sách Ô-va-đia ngắn nhất, chỉ có 21 câu, không rõ được biên soạn vào thời nào. Tác giả tiên báo dân Ê-đôm sẽ bị trừng phạt vì đã can thiệp để chống Giêrusalem năm -587.
81. Sách Giona thuộc về loại nào ?
Sách này thuộc về một loại khác hẳn. Sách kể lại một ngôn sứ bất tuân. Thiên Chúa sai ông đi Ni-ni-vê, thủ đô đế quốc Át-sua để kêu gọi dân chúng ăn năn sám hối. Thoạt đầu, ông trốn tránh sứ vụ, nhưng rồi lại kêu trách Thiên Chúa về những thành công bất ngờ của việc rao giảng của mình.
82. Sách Giona được biên soạn với mục đích nào ?
Sách được biên soạn sau thời lưu đầy, không có tính cách lịch sử, nhưng nhằm mục đích giáo huấn. Theo đó, những đe dọa là biểu hiện lòng thương xót của Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ chờ một dấu hối cải để tha thứ. Sách rao giảng một tinh thần đại đồng hết sức cởi mở: mọi người, mọi vật đều dễ thương. Thiên Chúa không chỉ là Thiên Chúa của người Do Thái mà còn là của dân ngoại.
83. Mikha là ai ?
Mi-kha là người Giu-đa, rao giảng dưới thời vua A-cáp và Ê-dê-ki-a, từ trước khi Sa-ma-ri sụp đổ (-721) cho tới khoảng năm -700 (đồng thời với Hô-sê và I-sai-a).
84. Ngôn sứ Mikha nói những gì ?
Ông tố cáo bất công xã hội và loan báo sự xét xử của Thiên Chúa. Tuy nhiên, ông vẫn trông cậy rằng Thiên Chúa sẽ dành lại một số sót cho nhân loại. Ông loan báo vị vua hòa bình sẽ sinh tại Bê-lem.
85. Nakhum loan báo điều gì ?
Sách viết vào thế kỷ -7. Tác giả hớn hở loan báo sự sụp đổ của Ni-ni-vê, thủ đô của đế quốc Át-sua, tượng trưng cho những sức mạnh của sự dữ đang thao túng trên thế giới.
86. Nội dung sách Kha-ba-cúc là gì ?
Sách viết vào thế kỷ -7 hoặc đầu thế kỷ -6 . Đây là một sách được soạn thảo công phu: mở đầu là một cuộc đối thoại căng thẳng giữa vị ngôn sứ và Thiên Chúa về việc người Can-đê áp bức dân Chúa. Sách và kết thúc bằng lời ca ngợi sự toàn thắng cuối cùng của Thiên Chúa.
87. Ngôn sứ Xô-phô-ni-a rao giảng vào thời nào ?
Ngôn sứ Xô-phô-ni-a rao giảng dưới triều vua Giô-đi-a (-640 đến -609) ở Giu-đa, trước thời ngôn sứ Giê-rê-mi-a ít lâu. Lúc ấy Giu-đa bị đế quốc Át-xi-ri đô hộ, lại thêm các vị vua vô đạo càng làm gia tăng thêm sự hỗn loạn về tôn giáo. Nay Át-xi-ri bắt đầu suy yếu, người ta tin rằng sẽ khôi phục được quốc gia kèm theo một cuộc cải cách về tôn giáo. Tác giả loan báo sự phán xét của Thiên Chúa trên các dân tộc, để kêu gọi dân chúng hoán cải. Ông cũng gợi lên niềm hy vọng cho dân nghèo.
88. Nội dung sách Khác-gai là gì ?
Sách này viết năm -520. Lúc ấy những người Do Thái đầu tiên từ Ba-bi-lon về tái thiết đền thờ, đã sớm rơi vào tuyệt vọng. Ngôn sứ Khác-gai và Da-ca-ri-a đã lay tỉnh mọi người, đã thúc giục thống đốc Giô-rô-ba-ben và thượng tế Giô-suê tiếp tục công việc tái thiết đền thờ. Ngôn sứ Khác-gai đã báo trước vinh quang tương lai để an ủi mọi người.
89. Sách Da-ca-ri-a gồm mấy phần ?
Sách Da-ca-ri-a gồm hai phần rõ rệt.
90. Phần đầu sách Giacaria nói gì ?
Phần đầu gồm các chương 1-8: với 8 thị kiến, viết vào cuối năm -520, chú trọng đến việc tái thiết đền thờ, đồng thời cũng nói về sự xây dựng lại quốc gia, với những đòi hỏi phải tinh sạch về luân lý và phải thức tỉnh về tôn giáo.
91. Phần 2 sách Giacaria nói gì ?
Phần 2 gồm các chương 9-14, do những tác giả khác viết vào khoảng năm -300, loan báo về thời cứu chuộc: Đấng Cứu Thế sẽ đến và thiết lập vương quốc của Thiên Chúa.
92. Ngôn sứ Malakhi kêu gọi những gì ?
“Ma-la-khi” có nghĩa là “Thần sứ của tôi” (theo ý Ml 3,1). Sách được viết vào nửa đầu thế kỷ -5, trước khi ông Nơ-khe-mi-a về nước (-445). Lúc ấy, sự hứng khởi do Khác-gai và Da-ca-ri-a gây nên đã sớm tàn lụi, dân chúng bắt đầu chán nản và thờ ơ: Ma-la-khi chống lại tình trạng ấy, và mời gọi phải kính trọng những đòi hỏi của lề luật. Ông cũng báo trước về vị sứ giả dọn đường cho Đấng Cứu Thế, tức là Gio-an Tẩy Giả.
93. Luật Do Thái ấn định mấy ngày lễ lớn ?
Luật Do Thái ấn định 5 ngày lễ lớn: 3 lễ vui, cũng là dịp hành hương (Lễ Vượt Qua; Lễ Ngũ Tuần; Lễ Lều) và 2 ngày lễ hoán cải ( Lễ Đầu Năm và Lễ Đền Tội).
94. Lễ Vượt Qua là lễ gì ?
- Lễ Vượt Qua: là lễ mừng mùa xuân và kỷ niệm ngày Israel được giải phóng khỏi ách nô lệ Ai cập. Nghi thức chính là bữa ăn lễ Vượt Qua tại gia đình với thịt chiên nướng, bánh không men, rau diếp đắng và 4 tuần rượu.
95. Lễ Ngũ Tuần là lễ gì ?
- Lễ Ngũ Tuần: 50 ngày sau lễ Vượt Qua, mừng hoa quả đầu mùa và tạ ơn Thiên Chúa đã ban giao ước Xi-nai.
96. Lễ Lều là gì ?
- Lễ Lều: mừng vụ thu họach mùa thu, và ôn lại hành trình trong sa mạc xưa, khi dân Israel sống dưới những mái lều và chỉ có một nguồn cứu trợ duy nhất là Thiên Chúa.
97. Lễ Đầu Năm là lễ gì ?
- Lễ Đầu Năm: là tết của người Do Thái, ca ngợi việc sáng tạo và hoán cải quay về với Thiên Chúa. Lễ này mở ra 10 ngày thống hối, sẽ kết thúc bằng Lễ Đền Tội.
98. Lễ Đền Tội là lễ gì ?
- Lễ Đền Tội: nhịn ăn 25 giờ liền, thú nhận tội lỗi của cá nhân và cộng đoàn để xin ơn Chúa tha thứ.
99. Lễ Cung Hiến Đền Thờ là lễ gì ?
- Lễ Cung Hiến Đền Thờ: giữa tháng 12, kéo dài 8 ngày, kỷ niệm việc Cung Hiến Đền Thờ thời Ma-ca-bê.
100. Lễ Số Mệnh là lễ gì ?
- Lễ Số Mệnh: vào tháng 2 hoặc tháng 3, kỷ niệm việc giải phóng dân Do Thái thời hoàng hậu Ét-te.
LỄ SINH TÌM HIỂU TÂN ƯỚC
TIN MỪNG LÀ GÌ?
1. Tin Mừng trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là gì ?
Tin Mừng dịch từ tiếng euangelion của Hy Lạp, thường được dùng để chỉ việc loan báo tin chiến thắng.
2. Trong Cựu ước chữ “loan báo Tin Mừng” có nghĩa là gì ?
Trong Cựu ước chữ “loan báo Tin Mừng” được dùng để nói về việc báo tin Thiên Chúa đến ban ơn giải thoát (Is 52, 7-10).
3. Trong Tân ước, chữ Tin Mừng có nghĩa là gì ?
Trong Tân ước, chữ Tin Mừng dùng để chỉ lời Chúa Giêsu rao giảng về quyền cai trị của Thiên Chúa (Mt 4,23; Mc 1, 14-15) và cũng chỉ lời các tông đồ rao giảng về Chúa Giêsu Kitô đã chết và sống lại (Mc 16, 15; Rm 1,1-4).
Về sau, từ thế kỷ thứ hai, chữ Tin Mừng mới được dùng để chỉ các tập sách chép lại các lời rao giảng trên đây.
Tóm lại, chữ Tin Mừng có 2 nghĩa: vừa là loan báo ơn cứu độ, vừa là tập sách chép lại lời loan báo đó.
DO THÁI THỜI CHÚA GIÊSU
4. Thời Chúa Giêsu, người Do Thái có nơi nào để sinh hoạt tôn giáo không ?
Ở các địa phương, có các hội đường cho dân chúng họp nhau hàng tuần, vào thứ bảy, để nghe đọc, nghe giải thích Kinh Thánh và cầu nguyện. Trung tâm của tôn giáo là đền thờ Giêrusalem, do vua Hê-rô-đê tu bổ lộng lẫy. Hằng năm, các người Do Thái nam giới đều hành hương về đó, nhất là trong các dịp lễ lớn, như lễ vượt qua, lễ Năm mươi ( Ngũ tuần), lễ Lều tạm, lễ Cung hiến đền thờ.
QUÊ HƯƠNG CHÚA CỨU THẾ
5. Bạn hãy cho biết diện tích nước Do Thái thời Chúa Giêsu ?
Diện tích nước Do Thái thời Chúa Giêsu khoảng từ 20 đến 25 ngàn km2. So với diện tích nước Việt nam là 334.230km2, nước Do Thái chỉ bằng 1/15.
6. Bạn hãy cho biết về khí hậu và đất đai ở Do Thái như thế nào ?
- Khí hậu ở nước Do Thái tương đối mát, ít mưa.
- Đất đai phần lớn là đồi núi, sỏi đá khô cằn, cho nên nghèo.
7. Thời Chúa Giêsu, Do Thái sản xuất những gì?
Sản xuất chính yếu là trồng trọt (lúa mì, dầu ô liu, trái vả nho) và chăn nuôi (dê, cừu).
8. Thời Chúa Giêsu ai cai trị nước Do Thái ?
Thời Chúa Giêsu, đế quốc Rôma bành trướng rộng khắp các miền quanh Địa trung Hải. Nước Do Thái nằm dưới ách thống trị của đế quốc Rôma, dưới các triều hoàng đế Au-gút-tô (-29 đến 14), Ti-bê-ri-ô (14-37), Cơ-lau-đi-ô (41-54, Nê-rô (54-68). Thời Chúa Giêsu, xứ Pa-lét-tin do một viên tổng trấn Rôma trực tiếp cai trị tên là Phong-xi-ô Phi-la-tô.
NHỮNG NƠI CHÚA GIÊSU ĐÃ ĐI QUA.
9. Belem có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Bê-lem là nơi Chúa Giêsu được sinh ra.
10. Giêrusalem có liên hệ gì với Chúa Giêsu lúc nhỏ ?
Đền thờ Giêrusalem là nơi Chúa Giêsu được dâng cho Chúa Cha.
11. Nazaret có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Na-za-rét là nơi Chúa Giêsu làm thợ mộc.
12. Bêtania bên kia sông Giođan có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Bê-ta-ni-a ( bên kia sông Gio-đan) là nơi Chúa Giêsu chịu phép rửa.
13. Cana có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Ca-na là nơi Chúa Giêsu làm phép lạ đầu tiên trong tiệc cưới.
14. Caphanaum có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Ca-pha-na-um là nơi Chúa đã tới và ở lại đó ít ngày.
15. Bêtania gần núi Cây Dầu có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Bê-ta-ni-a (gần núi Cây dầu) là nơi Chúa Giêsu cho ông La-da-rô sống lại.
16. Xy-kha có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Xy-kha là nơi có giếng Gia-Cóp. Chúa Giêsu nói chuyện với một phụ nữ Sa-ma-ri về nước hằng sống.
17. Bết-xai-đa có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Bết-xai-đa là nơi Chúa chữa một người bệnh phong.
18. Na-in có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Na-in là nơi Chúa Giêsu cho đứa con trai duy nhất của một bà góa sống lại.
19. Xi-đôn có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Xi-đôn là nơi Chúa chữa lành bệnh cho một cô gái người Sy-rô Phê-ni-xi.
20. Tia vùng Phênixi có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Tia (vùng Phê-ni-xi) là nơi Chúa chữa bệnh cho con gái một phụ nữ vùng này.
21. Vùng Xê-da-rê của Philípphê có liên hệ gì với Chúa Giêsu?
Xê-da-rê của Phi-líp-phê là nơi Phêrô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.
22. Mác-đa-la có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Mác-đa-la là nơi quê hương bà Ma-ri-a Mác-đa-la, người đã đứng dưới chân thập giá Chúa Giêsu.
23. Vùng Ép-ra-im có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Ép-ra-im ở phía bắc Giêrusalem, là nơi Chúa Giêsu ở ẩn tại đây lúc người ta tìm bắt Người.
24. Giêricô có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Giê-ri-khô là nơi Chúa Giêsu vào trọ nhà ông Gia-kêu, người thu thuế.
25. Em-mau có liên hệ gì với Chúa Giêsu ?
Em-mau là nơi Chúa Giêsu gặp hai môn đệ, sau khi sống lại.
THÁNH GIUSE
26. Bạn biết gì về thánh Giuse ?
Thánh Giuse thuộc dòng dõi Đa-vít, nhưng thánh Giuse chỉ là một thợ mộc bình dị ở Na-za-rét. Sau lễ hỏi, thấy Đức Maria chưa về với mình mà đã có thai, Giuse định tâm rời bỏ đi. Thiên Chúa đã sai thiên thần báo mộng cho Giuse biết Đức Maria mang thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, yêu cầu Giuse đón Maria về nhà và đặt tên con trẻ là Giêsu. Việc đặt tên này rất quan trọng: Theo luật Do Thái, đặt tên cho ai là nhận người ấy làm con về mặt pháp lý.
Vâng ý Chúa, thánh nhân trở thành bạn trung tín của Đức Trinh Nữ và bảo vệ cho con trẻ giữa bao hiểm nguy lúc sinh ra và trong thời thơ ấu.
27. Đức Giêsu có học nghề của thánh Giuse không ?
Khi Đức Giêsu trở về Na-za-rét, dân làng nói đến Ngài như chú thợ mộc. Điều ấy cho thấy Chúa Giêsu đã tiếp tục nghề thợ mộc của thánh Giuse một thời gian khá lâu, và cũng có nghĩa là thánh Giuse đã qua đời trước khi Chúa Giêsu lên đường rao giảng.
28. Hội Thánh đã tôn kính thánh Giuse như thế nào ?
Từ thời trung cổ, người ta đề cao tấm gương thầm lặng kín đáo của thánh Giuse. Rồi từ đó Hội Thánh càng lúc càng tôn kính ngài, vị gia trưởng của gia đình Na-za-ret. Càng tìm hiểu về thánh Giuse, người ta càng thán phục lòng tin đã giúp ngài gắn bó với chương trình của Thiên Chúa và lòng yêu mến của ngài đối với Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Hội Thánh đã nhận ngài làm bổn mạng của Hội Thánh toàn cầu.
29. Vì sao Đức Mẹ Maria lại đặt Chúa Giêsu trong máng cỏ ?
Máng cỏ là máng đựng thức ăn của bò lừa, khi sinh con trong cảnh bơ vơ không nhà, Đức Mẹ đã phải dùng một máng cỏ làm nôi đặt hài nhi Giêsu mới sinh (Lc2,7).
30. Ai là người có sáng kiến làm hang đá và máng cỏ ?
Thánh Phan-xi-cô Át-xi-di (thế kỷ 12) là người đầu tiên có sáng kiến mừng lễ Giáng Sinh với một hang đá Bê-lem, với cảnh Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ, có Đức Mẹ và thánh Giuse, có các mục đồng và thiên thần. Ngài đặt cả chiên bò vào đó để nhắc lại lời tiên tri I-sai-a: “Con bò biết người tậu nó và con lừa biết chuồng của chủ, còn Israel không hay không biết, dân Ta không hiểu không tường.” (Is 1,3). Người ta còn dùng hai từ máng cỏ để chỉ toàn cảnh hang đá ấy.
CÁC PHE NHÓM
31. Em hãy cho biết về các phe nhóm thời Chúa Giêsu ?
Vào thời Chúa Giêsu, trong dân Do Thái có một số phe nhóm như : Nhóm Biệt phái (Pharisiêu), nhóm Sa-đốc, nhóm Et-xê-nô.
32. Nhóm Biệt phái chủ trương những gì ?
Nhóm Biệt phái (Pha-ri-sêu): Đa số gồm những ký lục và luật sĩ thông thạo luật Mô-sê. Về phương diện luân lý, họ chủ trương giữ luật theo những truyền thống rất tỉ mỉ, vì thế nhiều lần họ đã bị Đức Giêsu đả kích rất nặng nề (Mt 23). Mặt khác, họ tin có thiên thần, tin người ta sẽ sống lại để được thưởng hoặc bị phạt đời sau, điều mà nhóm Sa-đốc không nhận. Họ cũng chờ đợi một Đấng Cứu Thế thuộc dòng dõi Đa-vít sẽ đến phục hồi tôn giáo và cứu dân tộc khỏi ách ngoại bang.
33. Nhóm Sa-đốc chủ trương những gì ?
Nhóm Xa-đốc (do tên ông Xa-đốc, tư tế của Đa-vít) thường thuộc hàng tư tế và qúy phái. Họ chỉ nhận Ngũ Kinh là sách thánh, không nhận các truyền thống do các luật sĩ cắt nghĩa luật Mô-sê. Về phương diện chính trị, họ chấp nhận ách thống trị Rô-ma, nhóm Xa-đốc thường đối lập với nhóm Biệt phái.
34. Nhóm Et-xê-nô chủ trương những gì ?
Nhóm Ét-xê-nô, thường sống trong những tu viện, một đời khắc khổ, không vợ con, không tiền bạc. Tại Cum-ram, ở phía tây bắc biển Chết, người ta tìm thấy một tu viện thuộc nhóm này, với một số sách vở tài liệu của họ. Thánh Gio-an Tẩy Giả có lẽ đã liên lạc với nhóm này.
TIN MỪNG NHẤT LÃM LÀ GÌ?
35. Trong 4 sách Tin Mừng, ba sách nào có nhiều điểm giống nhau ?
Ai chăm chú đọc 4 sách Tin Mừng sẽ nhận thấy điều này: 3 Tin Mừng Mát-thêu, Mác-cô và Lu-ca có rất nhiều điểm giống nhau; đồng thời 3 cuốn sách đó lại khác với Tin Mừng Gio-an.
36. Ba sách Matthêu, Máccô và Luca giống nhau như thế nào ?
1. Cả ba đều trình bày họat động của Chúa Giêsu theo một khuôn khổ giống nhau: Ngài giảng đạo ở Ga-li-lê một thời gian rồi lên Giêrusalem chịu khổ nạn và phục sinh ở đó.
2. Các đoạn văn nhiều khi cùng theo một thứ tự, và cùng có một chi tiết giống nhau.
Chính vì 3 cuốn Tin Mừng này có thể xếp thành 3 cột để nhìn một lượt giúp thấy ngay những chỗ giống nhau, mà được gọi là Tin Mừng nhất lãm (nhất là một, lãm là nhìn xem).
CÁC ANH EM CHÚA GIÊSU
37. Chúa Giêsu có anh chị em không ?
Trong Tin Mừng có nhắc tới “những anh em” của Chúa Giêsu. Bên Do Thái người ta cũng dùng tiếng “anh em”, “chị em” để gọi các anh chị em họ như bên Việt Nam ta.
Tiếng “anh em”, “chị em” trong Tin Mừng (Mc 6,3) hiểu theo nghĩa đó.
Trong những người có họ với Chúa Giêsu về bên ngoại, phải kể đến ông Da-ca-ri-a và Ê-li-xa-bét, cha mẹ của Gio-an Tẩy Giả.
GIOAN TẨY GIẢ
38. Ông Gioan Tẩy Giả là ai ?
Đây là vị tiên tri sống đồng thời với Chúa Giêsu và có bà con với Chúa Giêsu, đóng một vai trò quan trọng trong việc phát sinh Kitô giáo, tên gọi Gioan có nghĩa là “Thiên Chúa tha thứ”.
39. Cha mẹ ông Gioan Tẩy Giả tên là gì ?
Cha của ông là một vị tư tế tên là Da-ca-ri-a và mẹ là bà Ê-li-xa-bét đã già mà vẫn còn hiếm muộn không con.
40. Ông Gioan Tẩy Giả rao giảng những gì ?
Ông sống khắc khổ trong hoang địa lâu năm, rồi khởi sự rao giảng rằng Đấng Cứu Thế sắp đến, phải kịp thời hoán cải để đón tiếp Ngài. Đám đông dân chúng tuôn đến dìm mình trong nước sông Gio-đan để biểu lộ lòng thống hối. Chính Chúa Giêsu cũng đến xin Gio-an làm phép rửa. Trong dịp này, Gio-an đã làm chứng rằng Đức Giêsu chính là Chiên của Thiên Chúa và là Đấng Cứu Chuộc Israel.
41. Ông Gioan Tẩy Giả chết như thế nào ?
Ông bị vua Hê-rô-đê An-ti-pa bỏ tù vì đã dám lên tiếng chỉ trích nhà vua đã cưới em dâu làm vợ (cướp vợ của em trai). Trong một tiệc rượu của vương gia, vua Hê-rô-đê đã ra lệnh cho lính vào tù chém đầu ông
Ông được coi là vị “tiền hô”, vị dọn đường cho Đấng Cứu Thế. “Ông không phải là sự sáng nhưng được sai đến để làm chứng cho Đấng là sự sáng” (Ga1,8).
PHÉP RỬA CỦA GIO-AN VÀ PHÉP RỬA CỦA CHÚA GIÊSU
42. Phép rửa của thánh Gioan Tẩy Giả có tính cách như thế nào ?
- Đây là phép rửa bày tỏ lòng ăn năn và xin ơn tha thứ.
- Mọi người đều được mời gọi lãnh nhận.
- Chỉ được ban một lần như đấu hiệu sự hoán cải nội tâm.
- Và là một nghi thức tạm thời, trong lúc chờ đợi việc thanh tẩy trong Thánh Thần.
43. Đức Giêsu lãnh phép rửa của ông Gioan để làm gì ?
Mặc dù vô tội, Đức Giêsu đã muốn lãnh nhận phép rửa của Gio-an để tỏ tình liên đới với các tội nhân mà Ngài đến cứu chuộc. Lễ rửa này là dịp để Ngài được biểu lộ là Con Thiên Chúa.
44. Phép rửa của Chúa Giêsu ban những ơn gì ?
Sau ngày Chúa phục sinh, lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống là khởi đầu cho việc thanh tẩy trong Thánh Thần. Phép Rửa Chúa Giêsu lập vẫn lấy nước tự nhiên làm dấu hiệu, nhưng ơn được ban cho người tín hữu là chính Chúa Thánh Thần, Đấng làm cho họ trở nên con của Thiên Chúa và thành viên của Hội Thánh Chúa Kitô.
TIN MỪNG MÁT-THÊU
45. Thánh Matthêu là ai ?
Theo truyền thống Hội Thánh, tác giả sách Tin Mừng thứ nhất là thánh Mat-thêu, còn có tên là Lê-vi. Ông sống ở Ca-phác-na-um, làm nghề thu thuế. Được Chúa Giêsu kêu gọi, ông lập tức theo Ngài. Ông là một trong 12 tông đồ của Chúa. Có sách nói ông đã đem Tin Mừng tới xứ Ê-thi-óp. Ông đã bị giết chết vì đạo Chúa.
46. Sách Tin Mừng Matthêu biên soạn vào năm nào ?
Tin Mừng Mát-thêu lúc đầu được biên soạn bằng tiếng A-ram rồi được dịch ra tiếng Hy lạp, khoảng năm 80-90.
47. Dàn bài Sách Tin Mừng Matthêu chia ra mấy phần?
Ngoài phần mở đầu về thời thơ ấu của Chúa (ch.1-2) và phần kết thúc với cuộc thương khó và phục sinh (ch.26-28), sách chia làm 5 phần.
48. Trong mỗi phần của sách Tin Mừng Matthêu có điều gì đặc biệt ?
Mỗi phần đều có phần thuật truyện và một bài giảng :
1. Bài giảng trên núi (ch. 5-7)
2. Bài giảng về thái độ người tông đồ (ch.10)
3. Bài giảng về các dụ ngôn (ch.13)
4. Bài giảng về tình anh em trong Hội Thánh (ch.18)
5. Bài giảng về thời cuối cùng (ch. 24-25).
49. Tác giả Matthêu muốn nói với đối tượng nào ?
Thánh Matthêu muốn nói với người Do Thái. Tác giả thấm nhuần giáo lý Cựu Ước, thường trích dẫn Cựu Ước để chứng minh cho người Do Thái rằng Đức Giêsu đã làm trọn những điều đã báo trước trong Cựu Ước. Tác giả cũng hay nhắc đến các tập tục Do Thái mà không cần giải thích (vì người đọc đã biết rồi).
50. Tin Mừng Mt nhấn mạnh đến những điểm nào ?
Tin Mừng Mt nhấn mạnh đến 4 điểm sau :
1. Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế Thiên Chúa đã hứa mà dân Do Thái đang mong đợi.
2. Đức Giêsu đến rao giảng Nước Trời. Khi người ta tin vào Đức Giêsu và nhận Thiên Chúa làm chủ đời mình, thì nước Thiên Chúa ngự trị trong lòng họ.
3. Đức Giêsu ban bố luật mới, không bãi bỏ luật Cựu Ước nhưng làm cho luật này được hoàn hảo hơn.
4. Hội Thánh là cộng đoàn những người tin vào Chúa Giêsu và Cha Ngài, và sống tình anh em với nhau.
TIN MỪNG THEO THÁNH MÁC CÔ
51. Sách Tin Mừng thứ hai có đặc điểm gì ?
Sách Tin Mừng thứ hai chỉ có 16 chương, giọng văn có vẻ đơn giản nhưng cụ thể và sống động. Sách trình bày đời sống Đức Giêsu từ khi nhận phép rửa của Gio-an đến khi sống lại.
52. Ai đã viết Tin Mừng thứ hai ?
Tác giả là Mác-cô, môn đệ của thánh Phê-rô.
Mác-cô cũng gọi là Gio-an, nhà ở Giêrusalem. Ông đã đi theo thánh Phao-lô trong cuộc hành trình truyền giáo thứ nhất rồi trở về Giêrusalem. Năm 60, ông về giúp thánh Phê-rô ờ Rôma. Sau khi thánh Phê-rô tử đạo, Mác-cô đã gom các bài giảng của thánh Phê-rô và một số tài liệu rời có sẵn, viết lại thành sách Tin Mừng, như một cuốn giáo lý của giáo đoàn Rô-ma.
53. Tin Mừng Maccô được biên soạn vào năm nào ?
Sách được viết vào khoảng năm 65-70 và rất quan tâm đến những người không phải gốc Do Thái (giải thích các tập tục Do Thái, nó rõ về nơi chốn, giải thích các từ ngữ Do Thái…)
NHỮNG TƯỚC HIỆU CỦA ĐỨC GIÊSU KITÔ TRONG TIN MỪNG MÁC-CÔ
54. Trong Tin Mừng Mác-cô, Đức Giêsu được gọi bằng những tước hiệu nào ?
Trong Tin Mừng Mác-cô, Đức Giêsu được gọi bằng nhiều tước hiệu:
1. Con Ta yêu dấu (Mc 1,11; 9,7)
2. Người Na-za-rét (1,24; 14,67; 16,6)
3. Đấng Thánh của Thiên Chúa (1,24)
4. Con Thiên Chúa (3,11; 15,39)
5. Thầy (4,38; 5,35; 9,38; 10,7 và 35; 12, 14-19)
6. Con Thiên Chúa tối cao (5,7)
7. Người thợ mộc (6,3)
8. Con bà Ma-ri-a (6,3)
9. Anh em của Gia-cô-bê, Giuse và Si-mon (6,3)
10. Một tiên tri (6,15; 8,28)
11. Chúa (7,28; 11,3)
12. Đức Kitô (8,29)
13. Con vua Đa-vít (10,47-48)
14. Đấng ngự đến nhân danh Chúa (11,9)
15. Rabbi (11,21; 14,46)
16. Con Đấng đáng chúc tụng (11,61)
17. Người (14,71)
18. Vua dân Do Thái (15,2.9.12.18.26)
19. Đấng Thiên Sai (14,61;15,32)
20. Vua Israel (15,32)
21. Đấng chịu đóng đinh (16,6).
Tin Mừng Mác-cô cũng thường nhắc đến tước hiệu Đấng Con Người (Con-loài-người), chính Đức Giêsu cũng thường tự xưng bằng tước hiệu này (Mc 2,10.28; 8,31.38; 9,9-12.31; 10,33.45; 13,26; 14,21.41.62).
TIN MỪNG THEO THÁNH LU-CA
55. Thánh Lu-ca là ai ?
Thánh Lu-ca là một y sĩ, sinh ở An-ti-ô-khi-a (ngày nay thuộc nước Thổ Nhĩ Kỳ).
Được gặp thánh Phao-lô, ngài trở lại Kitô giáo và đi theo thánh nhân trong các cuộc hành trình truyền giáo. Nhờ đó, ngài biết rõ sinh họat và sự phát triển của Hội Thánh buổi đầu. Ngài viết sách Tin Mừng thứ ba và sách Công vụ Tông đồ.
56. Tin Mừng thánh Lu-ca trình bày những gì ?
Tin Mừng thánh Lu-ca trình bày cuộc đời Đức Giêsu từ hồi thơ ấu cho đến lúc chết trên thập giá, sống lại và lên trời. Tin Mừng Lu-ca dần dần tỏ cho thấy Đức Kitô là Đấng Cứu Thế phổ quát, chung cho tất cả mọi người.
57. Đọc Tin Mừng Lu-ca và sách Công vụ Tông đồ, ta thấy điều gì ?
Đọc Tin Mừng Lu-ca và sách Công vụ Tông đồ, ta thấy tác giả là một người vừa thông thạo văn hóa Hy Lạp, vừa có tâm hồn tế nhị và đầy tin tưởng.
58. Tin Mừng Lc được biên soạn vào năm nào ?
Sách Lu-ca được biên soạn vào khoảng năm 80, nhắm tới những tín hữu không phải gốc Do Thái.
59. Đức Giêsu theo Tin Mừng Lu-ca là Đấng như thế nào ?
Tin Mừng Lc nhấn mạnh đến hai điểm đặc biệt:
1. Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế đầy thương xót. Ngài quan tâm đến tất cả nhưng ai bị khinh miệt (trẻ em, phụ nữ, ngoại kiều, người Sa-ma-ri…). Ngài ban ơn tha thứ cho tất cả; cho người phụ nữ thống hối ở nhà Si-mon tật phung (7,36-50), cho ông Da-kêu (19,1-10), cho các lý hình (23,34), cho người trộm lành (23, 39-43)… Chỉ có Lu-ca ghi lại các đoạn ấy, và cũng chỉ có Lu-ca kể chuyện người con hoang đàng được tha thứ (15,11-32).
2. Đức Giêsu đòi ta phải từ bỏ triệt để (6,20-25; 9,57-62).
60. Người môn đê trong Tin Mừng Lu-ca là người như thế nào ?
Trước tình thương bao la của Thiên Chúa, người tín hữu cần biết:
- Vui mừng cảm tạ (xem các bài ca của Đức Mẹ, của ông Da-ca-ri-a và của của Si-mê-on).
- Cầu nguyện không ngừng (Lc 11, 1-4; 18,9-14; 11,5-13; 18,1-8).
- Bỏ hết mọi sự để theo Chúa (5,11.28; 18, 28-30; 9,23-26. 57-62; 14,26-27).
- Yêu thương, tha thứ, chia sẻ và tự hiến mình (6,27-42; 17,3-4; 6,30; 11,41; 12,33; 16,9; 18,22; 19,8; 10, 25-37).
61. Chữ INRI ghi trên Thánh Giá có nghĩa là gì ?
Viết tắt của chữ Jesus Nazareus Rex Judaeorum: “Giêsu Na-da-rét, Vua của người Do Thái”.
62. Chữ JHS có nghĩa là gì ?
- 3 mẫu tự đầu của tên Chúa Giêsu, theo tiếng Hy Lạp viết hoa: IHSOUS (H=e)
- Thường được diễn thành tiếng La tinh là: Jesus Hominum Salvator (Giêsu Đấng Cứu nhân lọai).
- Và diễn thành tiếng Việt là Giêsu Hằng Sống.
63. Chữ XP có ý nghĩa gì ?
Chữ XP có nghĩa là Chúa Kitô, do hai chữ đầu của chữ XPIOROS, trong tiếng Hy Lạp (XPYSTOS : Chrystos)
64. Hình ảnh ‘Bánh không men’ trong Cựu Ước có ý nghĩa gì ?
Bánh mì không có bột nổi. Xưa kia, tổ tiên người Do Thái rời nước Ai Cập thật vội vàng, làm bánh với bột không kịp bỏ men. Hằng năm kỷ niệm lễ Vượt qua, người Do Thái ăn thịt chiên nướng và bánh không men và rau diếp đắng. Họ tiếp tục ăn bánh không men suốt một tuần sau lễ Vượt qua.
65. Hình ảnh ‘Bánh không men’ trong Tân Ước có ý nghĩa gì ?
Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Kitô đã dùng bánh không men để lập phép Thánh Thể. Ngày nay, Hội Thánh Công Giáo Rô-ma cũng cử hành thánh lễ với bánh không men, còn Hội Thánh Chính Thống Giáo và các giáo đoàn Công Giáo “Đông Phương” thì dùng bánh có men.
66. Luật Do Thái qui định hình phạt đánh đòn như thế nào ?
Theo luật Do Thái thì đánh đòn bằng gậy hoặc bằng roi (Đnl 25,2). Luật chỉ cho phép đánh tới 40 đòn. Để khỏi đánh quá, lý hình chỉ đánh tới 39 đòn. (2Cr 11,24).
TIN MỪNG THEO THÁNH GIO-AN
67. Em biết gì về thánh Gioan tông đồ ?
Thánh Gio-an, là em của Gia-cô-bê, con ông Dê-bê-đê, quê ở Ca-phác-na-um, làm nghề đánh cá trên biển hồ Ga-li-lê, là một trong 3 môn đệ thân tín nhất của Chúa Giêsu, được chứng kiến giờ phút Chúa tỏ mình vinh quang và Chúa hấp hối. Gio-an là “người môn đệ được Chúa yêu” đứng dưới chân thánh giá Chúa và được Chúa ủy thác Đức Mẹ cho.
Gio-an cùng với Phê-rô chạy đến mộ Chúa buổi sáng ngày phục sinh. Rồi ngài sát cánh với Phê-rô trong những ngày đầu của Hội Thánh, về sau ngài rao giảng ở An-ti-ô-khi-a. Cuối cùng ngài rao giảng tại Ê-phê-xô và chết ở đó.
68. Thánh Gioan đã viết những sách nào ?
Gio-an được coi là tác giả Tin Mừng thứ tư, của ba lá thư và của sách Khải Huyền.
69. Tin Mừng Gio-an được biên soạn vào năm nào ?
Tin Mừng Gio-an được biên soạn khoảng năm 90-95.
70. Sách Tin Mừng Gioan có gì khác với ba sách Mt, Mc, Lc không ?
Sách này cũng trình bày cuộc đời Chúa Giêsu từ khi Gio-an Tẩy Giả rao giảng cho đến khi Chúa phục sinh, nhưng theo một dàn bài, những cách nói và những chủ đề khác ba sách kia, dễ giúp ta suy niệm về mầu nhiệm Đức Giêsu hơn.
71. Tin Mừng Gioan nói về luật tình yêu như thế nào ?
Luật tình yêu trong Tin Mừng Gioan là : Hãy yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương.
72. Bác ái là gì ?
Bác là rộng; ái là yêu mến. Bác ái có nghĩa là : lòng yêu mến trải rộng khắp mọi người không trừ ai
73. Trong Tin Mừng Gioan Đức Giêsu có tương quan với Thiên Chúa như thế nào ?
- Đức Giêsu là Ngôi Lời của Thiên Chúa, từ đời đời vẫn ở với Thiên Chúa, nay đã xuống thế làm người (1,1-14)
- Ngài là Con Thiên Chúa (1,14.18; 3.16-18; 10,30-38; 14,10-11; 17,23)
- Ngài với Cha là một (10,30)
- Ngài đã đến thế gian để to cho ta biết Chúa Cha và tình yêu của Người (17,6)
- Và rồi sẽ trở về với Chúa Cha (13,1; 16,28)
74. Trong Tin Mừng Gioan Đức Giêsu có ý nghĩa như thế nào đối với chúng ta ?
- Ngài là ánh sáng (1,9; 9,5; 12,46)
- Là đường đưa ta đến với Chúa Cha (14,4-9)
- Là sự thật đến nói cho ta biết vế Chúa Cha và ý định cứu rỗi của Người (8,32)
- Là sự sống và là sự sống lại (11,25-26)
- Là bánh bởi trời ban sự sống đời đời (6,26-58)
- Là cửa ràn chiên (10,7-9)
- Là cây nho thật (15,1-9)
- Là đền thờ mới (2,21)
Tóm lại Đức Giêsu là Đấng duy nhất đem lại ơn cứu độ.
75. Theo Tin Mừng Gioan chúng ta phải sống với Chúa Giêsu như thế nào ?
Tin Mừng Gio-an dùng một số động từ để diễn tả thái độ của chúng ta:
- Thấy và tin (2,23; 11,45; 20, 24-29)
- Biết Chúa (1,10-12; 10, 14-15)
- Ở lại với Chúa (6,36; 8,31; 14,23)
- Và làm chứng cho Chúa.
76. Nghi thức xức dầu có ý nghĩa gì ?
Người Israel xức dầu thơm trên tóc, trên mặt, trên thân mình là chuyện thường, không có gì quan trọng. Điều ta muốn nói là việc tẩm dầu lên trán một vị vua mới. Cử chỉ này có một ý nghĩa tôn giáo: vị thủ lãnh của dân được tách riêng ra dành riêng cho Thiên Chúa, trở nên người thay mặt Chúa.
77. Tên KITÔ có nghĩa là gì ?
Đây là phiên âm từ Christus của La tinh và Chrystos của Hy Lạp, có nghĩa là Đấng được xức dầu.
Đấng được xức dầu trong gốc tiếng Do Thái gọi là Đấng Mashiah (Mê-si-a), chỉ về Đấng Cứu Thế được Thiên Chúa hứa. Đức Giêsu chính là Đấng Cứu Thế ấy cho nên từ Kitô (tức là Mê-si-a, Đấng được xức dầu) được dùng để chỉ về Ngài, và cũng có thể dùng như một tên riêng của Ngài.
NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG KHỔ NẠN
78. Em biết gì về Phòng Tiệc Ly ?
Trước hôm Ngài chịu chết , Chúa Giêsu sai mấy đệ đến chuẩn bị bữa ăn lễ Vượt qua tại một gia đình thân hữu ở Giêrusalem. Đây là bữa ăn chia ly nên sẽ gọi là Bữa Tiệc Ly. Sau khi Chúa sống lại các tông đồ vẫn tiếp tục nhóm họp tại đây. Hầu chắc lễ hiện xuống cũng đã diễn ra tại đây.
79. Em biết gì về Vườn Cây Dầu ?
Sau bữa ăn, Chúa Giêsu đưa các môn đệ qua bên kia suối Kít-rôn, vào một thửa vườn dưới chân núi Cây Dầu, gọi là đất Ghết-sê-ma-ni (nghĩa là nơi ép dầu. Có lẽ Chúa Giêsu vẫn thường đưa các môn đệ tới qua đêm tại đó. Giu-đa biết rõ nơi ấy, và đã dẫn đường cho người ta đến bắt Ngài. Đức Giêsu bị điệu đến nhà thượng tế Cai-pha, rồi tới gặp tống trấn Rô-ma là ông Phi-la-tô tại đồn An-tô-ni-a.
80. Em biết gì về đồn An-tô-ni-a ?
Đây là một pháo đài do Hê-rốt đại vương xây năm 37 trước công nguyên. Dịp lễ Vượt qua, nhà cầm quyền Rô-ma cai quản vùng Giu-đê từ Xê-da-rê đến đấy giám sát cuộc lễ. Tại đây Đức Giêsu bị nộp cho Phi-la-tô và ông này chấp thuận cho người Do Thái xử tử Người.
81. Em biết gì về Núi Sọ ?
Cuộc đóng đinh diễn ra bên ngoài thành Giêrusalem, trên một gò nhỏ gọi là Gôn-gô-tha (Golgotha, theo tiếng A-ram, có nghĩa là Gò-Sọ, tiếng La tinh là Calvarius: Can-vê). Chúa Giêsu được an táng gần nơi Ngài bị đóng đinh. Từ thế kỷ thứ IV, người ta đã xây một vương cung thánh đường ngày tại nơi Chúa chết và được an táng.
82. CỨU CHUỘC có nghĩa là gì ?
- Cứu: giúp thoát khỏi tai nạn.
- Chuộc: trả giá để nhận lại một vật trước đây đã thuộc về mình.
- Cứu chuộc: Chúa trả giá bằng máu Ngài để mua lại linh hồn ta.
83. CỨU ĐỘ có nghĩa là gì ?
- Cứu: giúp thoát khỏi tai nạn.
- Độ: cứu giúp; qua sông
- Cứu độ: Chúa cứu ta, đưa ta từ cảnh nô lệ sang làm con Thiên Chúa.
84. CỨU RỖI có nghĩa là gì ?
- Cứu: giúp thoát khỏi tai nạn.
- Rỗi: tự do; không bị ràng buộc
- Cứu rỗi:Chúa cứu ta, cho ta được tự do.
85. CỨU THẾ có nghĩa là gì ?
- Cứu: giúp thoát khỏi tai nạn.
- Thế: cõi đời
- Cứu thế : Chúa cứu vớt mọi người trên cõi đời.
86. KI-TÔ HỮU có nghĩa là gì ?
- Hữu: bạn - có
- Kitô hữu: bạn của Chúa Kitô, có Chúa Kitô trong lòng
87. TÍN HỮU có nghĩa là gì ?
- Tín: tin. Hữu : bạn - có
- Tín hữu: người tin, người bạn có đức tin.
88. MÔN ĐỒ có nghĩa là gì ?
- Môn: cửa (đây là cửa trường)
- Đồ: học trò
- Môn đồ: người theo học một vị thầy.
89. MÔN ĐỆ có nghĩa là gì ?
- Môn: cửa (đây là cửa trường)
- Đệ: em
- Môn đệ: người học trò được coi như em.
90. ĐỆ TỬ có nghĩa là gì ?
- Đệ: em. Tử: con
- Đệ tử: người học trò được coi như con em.
91. TÔNG ĐỒ có nghĩa là gì ?
- Tông: Vị tổ đời thứ hai; đồ: học trò.
- Tông đồ: người học trò trực tiếp của vị thầy, được coi như bậc tổ đời thứ hai.
92. SA-MA-RI
Sa-ma-ri là một thành phố được xây dựng năm 880 trước công gnuyên để làm thủ đô cùa vương quốc phí bắc (Israel) mới tách khỏi đất nước mà vua Đa-vít thống nhất. Về sau người ta lấy tên thành ấy để gọi cả miền.
Năm -722, người At-xi-ri hủy diệt vương quốc Israel và bắt một phần dân chúng đi lưu đầy. Sau đó họ đưa nhiều chủng tộc khác đến định cư, pha trộn các chủng tộc, khiến cho đời sống tôn giáo bị biến chất. Thời Chúa Giêsu, người Do Thái coi thường người Sa-ma-ri là lai căng và lạc giáo, không thèm giao tiếp. Vì thế, khi Chúa nói chuyện với người Sa-ma-ri, người Do Thái bất bình …
12 TÔNG ĐỒ.
93. Phê-Rô:
Tên thật là Si-mon. Là người Ga-li-lê, làm nghề đánh cá ở Ca-pha-na-um trên bờ hồ Ti-bê-ri-a. Có người em là An-rê cũng là môn đệ Chúa. Phê-rô là người chân thật, bộc trực quảng đại, nhiệt tình. Ngài được Chúa đặt tên cho la Kê-pha (nghĩa là đá), và được đặt làm đầu nhóm 12 tông đồ. Khi Chúa Giêsu bị bắt, Phê-rô hoảng sợ chối Chúa 3 lần. Chúa đã nhìn ngài. Sau khi Chúa sống lại, Phê-rô là trụ cột của Hội Thánh tại Giêrusalem. Mọi người trong Hội Thánh đều nhìn nhận quyền lãnh đạo tối cao của ngài.
Ngài bị bắt ở Giêrusalem 2 lần. Lần thứ 2 vào năm 41, sau khi thánh Gia-cô-bê tử đạo. Năm 49 ngài chủ tọa công đồng Giêrusalem.
Trong cuộc bách hại của vua Nê-rô năm 64, Phê-rô bị kết án tử hình tại Rô-ma, được an táng tại đồi Va-ti-can. Thế kỷ IV, trên đồi này, vua Công-tăng-ti-nô đã xây vương cung thánh đường đầu tiên của Hội Thánh tức là đền thờ thánh Phê-rô ngày nay. Bàn thờ của đền thờ này nằm ngay trên ngôi mộ thánh Phê-rô.
94. An-rê:
Em của Phê-rô, cũng làm nghề đánh cá, lúc đầu là môn đệ Gio-an Tẩy Giả. Ông chết ở Hy Lạp, bị đóng đinh trên một khổ giá hình chữ X.
95. Gia-cô-bê:
Quen gọi là Gia-cô-bê Tiền, vì được kể tên trước, là anh của Gio-an. Cả hai được Chúa gọi “Con của thiên lôi”. Là một trong ba môn đệ thân tín nhất của Chúa. Ông là người đầu tiên trong nhóm 12 đã chết vì Chúa: ông bị chém đầu thời Hê-rô-đê Ac-ríp-pa giữa năm 41-44.
96. Phi-líp-phê:
Quê ở Bét-sai-đa; đừng lẫn với vị phó tế cùng tên trong sách Công vụ tông đồ.
97. Ba-tô-lô-mê-ô:
Là bạn của Phi-líp-phê. Ông bị giết vì Chúa, bị lột da sống.
98. Tô-ma:
Biệt danh là Đi-đi-mô nghĩa là “Sinh đôi”. Ông đã thọc tay vào lỗ đinh và cánh sườn của Chúa Kitô phục sinh. Có tài liệu nói ông đã đem Tin Mừng đến tận Ấn Độ.
99. Gia-cô-bê:
Con của An-phê, khác với Gia-cô-bê “người anh em của Chúa” mà Mc15,40 gọi là Ga-cô-bê thứ.
100. Giu-đa:
Cũng có tên là Ta-đê-ô.
101. Si-mon:
Biệt danh là “nhiệt thành” có lẽ ông xuất thân từ nhóm Do Thái kháng chiến chống đế quốc Rô-ma.
102. Giu-đa Ít-ca-ri-ốt:
Tin Mừng Gio-an gọi ông là kẻ tham tiền và ăn cắp. Ông nộp Chúa cho đối phương để nhận 30 đồng bạc. Ông chết thảm thương.
103. ĐỆ TỬ VIỆN, ĐỆ TỬ
- Viện: trường sở; đệ tử: con em
- Đệ tử viện: Trường dạy những con em muốn dâng mình làm tu sĩ hoặc nữ tu.
- Đệ tử: học sinh của đệ tử viện.
104. TẬP VIỆN, TẬP SINH
- Tập sinh : những người đã được nhận vào tập sống đời tu sĩ hoặc nữ tu, thường là 2 năm trước khi khấn dòng lần đầu.
- Tập viện : Trường dành cho các tập sinh (Cũng gọi là Nhà Tập)
105. CHỦNG VIỆN, CHỦNG SINH
- Chủng : Trồng; viện : Trường sở
- Chủng viện : Trường ươm trồng người (chuẩn bị làm linh mục)
- Tiểu chủng viện : Dành cho học sinh trung học.
- Đại chủng viện : dành cho sinh viên, học 6 hoặc 8 năm về triết học và thần học.
- Chủng sinh : Học sinh chủng viện.
106. HỒI SINH, TÁI SINH, PHỤC SINH
- Sinh : sinh ra, sống
- Hồi : trở về
- Tái : lần thứ hai
- Phục : lấy lại
- Hồi sinh : tưởng đã chết nhưng rồi tỉnh lại
- Tái sinh : sinh ra lần thứ hai
- Phục sinh : lấy lại sự sống đã mất
Khi Chúa Giêsu phục sinh, Ngài không chỉ lấy lại sự sống cũ của thể xác mà còn đưa nó lên một cấp độ hoàn toàn mới, thuộc về vũ trụ của ơn cứu độ.
107. MỘ CHÚA
Vào thời Đức Giêsu, mộ người Do Thái là những hầm nhỏ đào trong đá hoặc sắp xếp trong các hang động. Thi hài được đặt trong các hốc đá hoặc trên các ghế dài. Có một cầu thang ngắn để xuống mộ. Cửa mộ hẹp và thấp được đậy bằng một thớt đá lớn. Phía ngoài được quét vôi trắng để người ta biết mà tránh (ai đụng vào mồ mả sẽ bị ô uế). Các ngôi mộ thường được tập trung bên ngoài thành phố, chẳng hạn mộ của dân thành Giêrusalem tập trung ở đồi Gôlgôta. Tại đây, ông Giuse quê ở Arimathê có một ngôi mộ mới. Ông đã an táng Đức Kitô ở đó.
Buổi sáng phục sinh, các phụ nữ ra thăm mộ Chúa thì thấy mộ trống, thi hài Chúa không còn ở đó nữa… Ngày nay, tại địa điểm ấy có một nhà thờ mang tên Mồ Thánh.
108. LỄ VƯỢT QUA CỦA NGƯỜI DO THÁI
Lễ Vượt Qua được cử hành trong bữa ăn gia đình. Mở đầu người trẻ tuổi nhất nêu câu hỏi : “Thưa ba, nghi thức này có ý nghĩa gì vậy?” Người cha đáp : “Đây là để tưởng nhớ việc Chúa đưa chúng ta ra khỏi Ai Cập. Chúa không chỉ cứu cha ông chúng ta xưa, mà còn cứu cả chúng ta nữa…”
Mỗi người đều phải coi như chính mình được Thiên Chúa cứu thoát khỏi ách nô lệ để dâng lời tạ ơn Chúa, đồng thời cũng mong chờ những sự giải cứu mới, cho tới ngày các thế lực sự dữ hoàn toàn bị bẻ gẫy.
109. CUỘC VƯỢT QUA CỦA ĐỨC KITÔ
Bữa Tiệc Ly diễn ra trong bầu khí bữa ăn Lễ Vượt Qua.
Đức Giêsu ban cho môn đệ được ăn Mình Ngài và uống Máu Ngài dưới hình dạng bánh và rượu. Đó là dấu chỉ giao ước mới mà các tiên tri đã báo trước. Giao ước bằng máu nối kết Thiên Chúa với loài người, sẽ được thực sự ký kết bằng cái chết của Đức Giêsu vào chính giờ trong đền thờ đang tế chiên Vượt qua.
Lễ Vượt Qua mới của Đức Kitô được diễn tả nơi việc Ngài phục sinh, chiến thắng sự chết và tội lỗi. Nhờ đó Đức Giêsu Kitô tỏ mình là Con Thiên Chúa và mở ra kho tàng viên mãn của đời sống trong Thiên Chúa cho mọi người.
110. LỄ PHỤC SINH
Ngay từ đầu, các Kitô hữu đã biến mỗi ngày Chúa Nhật, “ngày đầu tuần” thành một ngày kỷ niệm Chúa phục sinh. Từ thế kỷ 2, Hội Thánh cử hành lễ Phục sinh hằng năm dựa theo ngày rằm đầu xuân như Lễ Vượt Qua Do Thái. Sau đó việc định ngày có nhiều nơi không thống nhất. Ngày nay, Hội Thánh Chính Thống Giáo cử hành Lễ Phục Sinh không trùng ngày với Hội Thánh CôngGiáo, còn trong Hội Thánh Công Giáo và các cộng đoàn Tin Lành thì cử hành cùng một ngày. Đó là ngày Chúa Nhật sau ngày rằm sau ngày xuân phân (21 tháng 3, dương lịch)
111. CHÚA LÊN TRỜI
Sau khi sống lại, Chúa hiện ra với các tông đồ nhiều lần. Lần cuối cùng được đánh dấu bằng việc Ngài rời khỏi các môn đệ : Ngài được đưa lên trời trước mắt các ông.
Những người thấm nhuần Kinh Thánh sẽ hiểu ngay ý nghĩa của sự việc : Lên trời không phải là bay lên một nơi nào đó trong không gian, nhưng là “lên với Đức Chúa Trời”, tức là đi vào trong vinh quang của Thiên Chúa. Ta không còn thấy Chúa Giêsu bằng mắt ta nhưng Ngài đang ở với ta mọi nơi mọi lúc.
112. NGÔI VỊ LÀ GÌ ?
Đây là một từ triết học khó. Để bạn dễ hiểu và dễ nhớ, có thể nói cho vui và cũng rất đúng rằng ngôi vị là một vị ngự trên ngôi, là một vị đáng tôn trọng.
Mỗi người là một ngôi vị, là một người chủ có ý thức và tự do, đảm nhận chính bản tính con người của mình. Nhờ là một ngôi vị, mỗi người có thể tự xưng với người người khác là “tôi”.
Các con vật không thể tự xưng là “tôi”. Chúng không có ngôi vị, vì chúng không có ý thức và tự do, không có khả năng làm chủ.
Ngôi vị con người gọi là “nhân vị”.
Mỗi thiên thần cũng là một ngôi vị.
Mỗi ngôi vị đều độc đáo, không thể thay thế, không thể đồng hóa với ngôi vị khác được. Tất cả các ngôi vị con người và thiên thần đều do Thiên Chúa tạo ra, theo hình ảnh của ngôi vị Thiên Chúa. Nhờ là hình ảnh Thiên Chúa , các ngôi vị con người hoặc thiên thần giúp ta hiểu phần nào về các ngôi vị Thiên Chúa.
113. BỐN SINHVẬT
Bạn có biết tại sao thánh sử Maccô được tượng trưng bằng con sư tử ? ba vị kia được tượng trưng như thế nào ? Tại sao ?
Sách Êdêkien mở đầu bằng một cảnh tượng lạ mà vị tiên tri được thấy: vinh quang Thiên Chúa ngự đến trên một chiếc xe do 4 sinh vat kéo. Mỗi sinh vật đều có 4 mặt: mặt người , mặt sư tử, mặt bò và mặt phượng hoàng (Ed 1, 10). Sách Khải huyền của thánh Gioan tông đồ cũng nói tới 4 sinh vật trên (Kh 4,7), nhưng mỗi sinh vật chỉ có một trong 4 khuôn mặt. Trong thị kiến, các sinh vật ấy tượng trưng cho toàn thể vũ trụ.
Người ta cũng lấy 4 khuôn mặt ấy làm biểu tượng cho 4 tác giả sách Tin Mừng, dựa trên đoạn mở đầu của mỗi sách:
- Mt : mở đầu bằng gia phả Chúa Cứu Thế, kể toàn tên người (mặt người).
- Mc : mở đầu bằng tiếng kêu trong hoang địa, giữa sa mạc và núi rừng (mặt sư tử).
- Lc : mở đầu bằng việc dâng bò cừu làm của lễ trong đền thờ (mặt bò).
- Ga : mở đầu bằng những suy niệm cao vời bay bổng (mặt phượng hoàng).
114. CÁC SÁCH NGỤY THƯ
Các sách ngụy thư là những sách có vẻ giống như Kinh Thánh, nhưng không được nhận vào sổ bộ Kinh Thánh. Những sách này xuất hiện trong khoảng từ năm 150 trước công nguyên đến năm 200 sau công nguyên.
Trong các ngụy thư Cựu Ước, có thể kể : Sách ông Hê-nóc, tài liệu Đa-mát, chúc thư các tổ phụ, các thánh vịnh của Salômon… các sách này phản ảnh các tin tưởng và hy vọng của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu.
Các sách ngụy thư Tân Ước đều ra đời sau các sách trong sổ bộ Kinh Thánh, nhưng cùng một thể loại văn chương :
- Có các sách Tin Mừng tìm cách thêm thắt nhiều chuyện, chẳng hạn : Tin Mừng theo thánh Phêrô, Tin Mừng theo thánh Tôma, Tin Mừng khởi nguyên theo thánh Giacôbê, Tin Mừng theo thánh Nicôđêmô…
- Các sách công vụ tông đồ, kể về những cuộc hành trình của Gioan, Tôma, Philipphê, Batôlômêô…
- Một số lá thư viết ca ngợi một giáo đoàn địa phương nào đó, hoặc để bênh vực cho một giáo thuyết nào đó.
- Các sách khải huyền.
Nói tóm lại, từ những sách ấy ta khó rút ra được điều gì bổ ích về lịch sử hoặc giáo lý. Chúng chỉ giúp ta biết được những chuyện tò mò và những khuynh hướng lệch lạc của dân chúng hồi ấy.
115. THẦN KHÍ
Thần Khí là từ ngữ dùng để dịch nghĩa chữ “Ruah” trong tiếng Do Thái. Từ này vừa có nghĩa là tinh thần, vừa có nghĩa là hơi thở, là khí.
116. THÁNH LINH
- Thánh : thuộc về Thiên Chúa
- Linh : Thần thiêng, linh thiêng, hồn
- Thánh Linh : Đấng Linh thiêng có tính Thiên Chúa
117. THÁNH THẦN
- Thánh : thuộc về Thiên Chúa
- Thần : Thần khí
- Thánh Thần : Thần Khí của Thiên Chúa
Ngoài hình ảnh “khí” (Ga 3,8), Chúa Thánh Thần còn được diễn tả bằng hình ảnh lưỡi lửa (Cv 2,1-4), nước phát sinh sự sống (Ga 7,29), bồ câu (Mt 3,16).
|