Copyright @ VietCatholic.net
Nội dung tài liệu này theo sát nội dung "Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo" do Thời Ðiểm xuất bản tại USA 1995
Bài 31
B Í TÍCH THÁNH THỂ
(x. SGLC từ 1322 đến 1344)
"Trong bữa tiệc sau hết, đêm bị nộp, Đấng Cứu chuộc chúng ta đã thiết lập Hy tế Tạ ơn bằng Mình Máu Người, để nối dài Hy tế Khổ giá qua các thời đại, cho tới khi Người lại đến, và để trao cho Hội Thánh, hiền thê yêu quí của Người, việc tưởng niệm sự chết và sống lại của Người: đó là Bí tích Tình Yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái. Bữa tiệc Vượt Qua trong đó Chúa Kitô được tiếp nhận như lương thực, tâm hồn được tràn đầy ân sủng, và ta có đảm bảo được vinh quang tương lai" (PV 47).
I. Bí tích Thánh Thể: nguồn suối và chóp đỉnh đời sống Hội thánh.
Ngày Chúa Nhật người ta thấy Kitô hữu tấp nập tới nhà thờ dự lễ. Đó là một sinh hoạt nổi bật và thường xuyên trong đời sống Kitô hữu. Vì dự lễ là cử hành Bí tích Thánh Thể, cử hành chính Mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, tâm điểm của kế hoạch cứu độ. Thực vậy, "các bí tích khác cũng như tác vụ trong Hội Thánh, và các nhiệm vụ tông đồ, đều liên kết và qui hướng về Bí tích Thánh Thể; vì Bí tích ấy chứa đựng toàn kho tàng thiêng liêng của Hội Thánh, là chính Chúa Kitô, Mầu nhiệm Vượt Qua của chúng ta. Người là Bánh Hằng Sống ban sự sống cho nhân loại" (LM 5). Bí tích Thánh Thể còn là chóp đỉnh toàn thể việc Phúc Âm hóa (x. LM 5). Phúc Âm hóa là sứ mệnh của Hội Thánh, Hội Thánh phải loan báo và xây dựng Nước Thiên Chúa, nghĩa là loan báo và xây dựng sự hiệp thông giữa Thiên Chúa với con người và vũ trụ vạn vật. Thế mà Bí tích Thánh Thể vừa là dấu chỉ hiệp thông, vừa thực hiện sự hiệp thông với Thiên Chúa, và sự hiệp nhất trong Dân Thiên Chúa, nhờ đó mà Hội Thánh thực sự là Hội Thánh. Bí tích Thánh Thể vừa là tuyệt đỉnh của hành động Thiên Chúa thánh hóa thế giới trong Chúa Kitô, vừa là tuyệt đỉnh của việc tôn thờ mà loài người nhờ Chúa Thánh Thần dâng lên Chúa Kitô, và nhờ Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha.
II. Bí tích Thánh Thể là gì?
Bí tích Thánh Thể chứa đựng chính Chúa Kitô, và là chóp đỉnh sứ vụ của Hội Thánh, nên chứa đựng nhiều ý nghĩa sâu sắc và phong phú, không thể hiểu hết được. Hội Thánh dã luôn tuyên xưng: "Đây là mầu nhiệm Đức Tin". Tuy nhiên ta có thể hiểu được một số khía cạnh chính của Bí tích, nhờ các tên quen dùng để gọi Bí tích ấy, như:
1. Lễ tạ ơn (1Cr 11,24), vì dân Do Thái quen chúc tụng cảm tạ, thường là trong bữa ăn, để ca ngợi những kỳ công Thiên Chúa đã thực hiện, như sáng tạo, cứu độ, thánh hóa.
2. Tiệc của Chúa (1Cr 11,20), vì nhớ đến bữa Tiệc ly Chúa đã dự với các Tông đồ trước khi chịu khổ nạn, và cũng nhắc tới bữa tiệc cưới của Chiên Con trong Nước Trời (Kh 19,9).
3. Lễ Bẻ Bánh (Cv 2,42), vì cử chỉ này Đức Giêsu thường làm khi chúc lành và chia Bánh (Mt 14,19), nhất là trong Bữa Tiệc Ly (Mt 26,26), và khi hiện ra với hai môn đệ đi về Emmau (Lc 24,30).
4. Hội họp Tạ ơn (1Cr 11, 17.33) nói đến việc các tín hữu họp lại thành cộng đoàn, để cử hành Thánh lễ Tạ Ơn. Đó là dấu chỉ hữu hình về Hội Thánh.
5. Cuộc tưởng niệm (1Cr 11,25) để nhắc nhớ cuộc khổ nạn và phục sinh của Chúa Kitô, là Mầu nhiệm Vượt Qua, tâm điểm của lịch sử cứu độ.
6. Hiến tế, Thánh Lễ, Hiến tế Tạ Ơn... Vì Bí tích Thánh thể hiện tại hóa hiến tế độc nhất của Chúa Kitô, để Hội Thánh có thể cùng dâng lên Thiên Chúa (Dt 13,15).
7. Phụng vụ Thánh, Mầu nhiệm Thánh, Mầu Nhiệm Đức tin (SGLC 1330), vì việc cử hành Bí tích Thánh Thể vừa là tâm điểm của toàn thể đời sống Phụng vụ, vừa diễn đạt Phụng vụ một cách cô đọng nhất. Tuy nhiên, Bí tích Thánh Thể vẫn luôn là mầu nhiệm Đức Tin.
8. Hiệp thông, Hiệp lễ (1Cr 10, 16-17) Vì Bí Tích Thánh Thể vừa là dấu chỉ sự hiệp thông, vừa là dụng cụ để hiệp thông con người với Chúa Kitô. Khi rước lễ hay hiệp lễ là ta được thông phần Mình và Máu Chúa, để trở thành một Thân Thể. Ta còn được hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và với mọi người nữa.
9. Lễ Misa (tiếng Latinh là Missa, lấy trong lời chúc kết lễ: Ite Missa est), vì việc cử hành Mầu nhiệm Cứa độ trong Phụng vụ được kết thúc bằng việc sai các tín hữu đi vào cuộc sống thường ngày, để thực thi ý Chúa. Theo Hiến chế về Phụng vụ, Chúa Kitô đã lập Bí tích Thánh Thể để ủy thác cho Hội Thánh:
• Việc tưởng niệm cái chết và sự sống lại của Người,
• Bí tích Tình yêu, dấu chỉ hiệp nhất, mối dây bác ái,
• Bữa tiệc Vượt Qua, trong đó khi rước chúa, tâm hồn được đầy ơn sủng và
• Đảm bảo cho ta được vinh quang tương lai (PV 47).
III. Đức Giêsu lập Bí tích Thánh Thể.
1. Khi nào? Đức Giêsu lập Bí Tích Thánh thể trong Bữa Tiệc sau hết với các Tông đồ, cũng là Tiệc Vượt Qua của người Do Thái, trước khi Người chịu khổ hình (x. Lc 22,14-16).
2. Thế nào? Bài tường thuật của Thánh Phaolô là văn kiện Tân ước tiên khởi cho biết: "Trong đêm bị nộp, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Anh em cầm lấy mà ăn, đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao Ước mới; mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm, để tưởng nhớ đến Thầy" (1Cr 11, 23-25).
IV. Đức Giêsu ban quyền cử hành Bí tích Thánh Thể.
Khi lập Bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu đã truyền cho các Tông đồ rằng: "Hãy làm như Thầy vừa làm, để tưởng nhớ Thầy". Người không chỉ muốn các Ngài tưởng niệm Người, cũng như công việc Người làm mà thôi, nhưng theo ý nghĩa của Tân Ước, tưởng niệm vừa là nhớ đến, vừa là hiện tại hóa điều mình tưởng niệm. Như thế, Người muốn để hiến tế Người dâng chỉ một lần trên thập giá được hiện tại hóa, và công trình cứu độ được thực hiện (x. GH 3). Nhờ các tông đồ, Người đã làm cho các Giám mục, những vị kế nghiệp các tông đồ, có thể tham dự vào cuộc thánh hiến, và vào sứ mệnh của Người. Các giám mục lại trao nhiệm vụ thừa tác của mình một cách hợp pháp cho các Linh mục. Giám mục và Linh mục trở thành tư tế đích thực của Giao ước mới. (x. GH 28). Đức Giêsu đã ban quyền cử hành Bí Tích Thánh thể cho các tông đồ và các vị kế nghiệp các tông đồ là các Giám Mục. Các giám mục lại trao quyền cho các linh mục qua Bí Tích Truyền Chức. Do đó, chỉ các linh mục được phong chức thành sự mới có thể chủ sự để cử hành Bí tích Thánh Thể, và thánh hiến bánh rượu trở thành Mình Máu Chúa.
V. Đức Giêsu ngự trong Bí tích Thánh Thể.
1. Khi nào? Đức Giêsu ngự trong hình bánh hình rượu khi Truyền Phép, và Người ngự ở đó bao lâu hình bánh hình rượu còn.
2. Thế nào? Đức Giêsu Kitô hiện diện bằng nhiều cách: trong Lời Chúa, trong kinh nguyện của Hội Thánh "Khi có hai ba người họp lại nhân danh Thầy" (Mt 18,20), trong người nghèo, bệnh nhân, tù nhân (Mt 25, 31-46), trong các bí tích mà Người thiết lập, trong Thánh lễ và trong bản thân thừa tác viên. Nhưng ở đỉnh cao nhất là Người hiện diện trong hình bánh rượu (PV 7).
Cách Người hiện diện như thế chỉ có một không hai. "Bí tích Thánh Thể chứa đựng thực sự Mình và Máu cùng linh hồn và thiên tính của Đức Giêsu Kitô, nghĩa là trọn vẹn Chúa Kitô" (DS 1651). Nhờ Lời Chúa Kitô và tác động Chúa Thánh Thần khi truyền phép, bánh và rượu trở thành Mình và Máu Chúa Kitô, và Chúa Kitô hiện diện trong đó. "Tất cả bản thể bánh được biến đổi thành bản thể Mình Chúa Kitô, và tất cả bản thể rượu thành bản thể Máu của Người; sự biến đổi này được Hội Thánh Công Giáo gọi một cách chính xác là biến bản thể (DS 1642). "Chúa Kitô hiện diện trọn vẹn trong mỗi hình, và trọn vẹn trong mỗi phần nhỏ của hình bánh, hình rượu, đến nỗi có bẻ bánh cũng không chia Chúa Kitô được" (x. DS 1641).
VI. Kitô hữu với Bí tích Thánh Thể.
Kitô giáo là đạo dẫn đưa con người vào mối hiệp thông với Chúa Kitô, nhờ đó được hiệp thông với Thiên Chúa, với nhau và với vũ trụ vạn vật trong tình yêu và hạnh phúc. Kitô giáo lại có Bí tích Thánh Thể do Chúa Kitô thiết lập, để Bí tích này vừa là dấu chỉ hiệp thông, vừa là phương thế xây dựng và bảo tồn sự hiệp thông kể trên. Bí tích Thánh Thể thực là mầu nhiệm Đức Tin. Vì thế, Kitô hữu cần tìm hiểu suy niệm mỗi ngày sâu sắc hơn, để có thái độ thích đáng đối với Bí tích cao quí tuyệt vời này.
1. Bí tích Thánh Thể là Bí tích Tình Yêu: "Hội Thánh hằng bận tâm lo cho các Kitô hữu tham dự vào Mầu nhiệm Đức Tin này, không như những khách bàng quan câm lặng, nhưng là những người thấu đạt mầu nhiệm đó" (PV 48). Kitô hữu phải nhờ các nghi lễ, các kinh nguyện, Lời Chúa, và nhất là hiệp thông với Thánh Thể Chúa, để ngày càng cảm nghiệm hơn rằng:
• Tình yêu Chúa Kitô là cao sâu, vì Người là Thiên Chúa mà lại muốn cho ta là người phàm được hiệp thông với Người, Người còn lập Bí tích Thánh Thể để ta hiệp thông với Người cách dễ dàng hơn. Nhờ đó, ta được "thông phần bản tính Thiên Chúa" (2Pr 1,4).
• Tình yêu Người thật là rộng lớn, vì Người mời gọi tất cả mọi người thuộc mọi dân nước, không phân biệt giai cấp xã hội, không phân biệt chủng tộc hay màu da; bất cứ ai đều có thể tiếp nhận Người thật trọn vẹn, để được cứu độ (x. GH 13).
• Tình yêu Người thật chung thủy vững bền, vì từng giây từng phút, suốt dòng lịch sử, Người hằng ở cùng chúng ta cho tới ngày cánh chung (Mt 28,20). - Tình yêu Người còn đi đến tận cùng (Ga 13,1) của lòng yêu mến, yêu đến chết "để làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,45), để họ được sống bởi Người (Ga 6,57), được sự sống đời đời (Ga 6,51), và còn được sống lại ngày sau hết (Ga 6,54), để hưởng hạnh phúc vĩnh hằng (MV 39).
2. Kitô hữu tôn thờ Bí tích Thánh Thể: Đối với Bí Tích Thánh Thể là Mầu Nhiệm Đức Tin, và là Bí tích Tình Yêu, Hội Thánh mời gọi Kitô hữu lấy tình yêu đáp trả lại bằng việc tôn thờ Thánh Thể Chúa. Tôn thờ là yêu mến tha thiết, là nhìn nhận mình chỉ là thụ tạo trước Đấng Sáng Tạo toàn năng và cao cả, để thờ lạy, cảm tạ, tôn vinh, và hoàn toàn vâng phục ý Người. Tôn thờ Thánh Thể trong Phụng vụ Thánh Lễ là biểu lộ niềm tin Chúa hiện diện trong hình Bánh Rượu, bằng thái độ quì gối hoặc bái sâu. Và đỉnh cao nhất của lòng yêu mến tôn thờ là hiệp thông với Chúa bằng "ăn thịt và uống Máu Người" (Ga 6,56) (Rước Lễ), hoặc ước ao hiệp thông với Người (Rước lễ thiêng liêng). Ngoài Thánh Lễ, Hội Thánh còn hết sức cẩn thận gìn giữ Mình Thánh, để đem cho các tín hữu tôn thờ trọng thể (Chầu Mình Thánh, Giờ Thánh), hoặc kiệu Thánh Thể long trọng, hoặc để trao cho các bệnh nhân hay những người vắng mặt. Việc viếng Thánh Thể cũng là bằng chứng lòng biết ơn, là dấu chỉ tình yêu, và là bổn phận tôn thờ Chúa Kitô, Chúa chúng ta. (SGLC 1418).
Bài 32
THÁNH LỄ
(x. SGLC từ 1345 đến 1419)
"Điều tôi đã lãnh nhận từ Chúa, tôi xin truyền lại cho anh em: trong đêm bị nộp, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng tạ ơn, rồi bẻ ra và nói: Anh em cầm lấy mà ăn... đây là Mình Thầy hiến tế vì anh em; anh em hãy làm như Thầy vừa làm để tưởng nhớ đến Thầy. Cũng thế, cuối bữa ăn, Người nâng chén và nói: Đây là chén Máu Thầy, Máu đổ ra để lập Giao ước mới: mỗi khi uống, anh em hãy làm như Thầy vừa làm, để tưởng nhớ đến Thầy. Thật vậy, cho tới ngày Chúa đến, mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết. Vì thế, bất cứ ai ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, thì cũng phạm đến Mình và Máu Chúa" (1Cr 11, 23-27). "Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết" (Ga 6, 54).
Trong Thánh Lễ, Đức Giêsu dâng Mình lên Thiên Chúa Cha làm lễ vật giao hòa, và ban Mình làm lương thực nuôi sống các tín hữu. Thánh Lễ vừa là hiến tế, vừa là Tiệc Thánh.
I. Thánh lễ là Hiến tế của Chúa Kitô.
Đức Giêsu đã hiến dâng chính mình trên thập giá, làm lễ tế hy sinh, để đền tội cho muôn dân, và "chỉ dâng một lần là đủ" (Dt 7,27). Nhưng Người muốn nối dài hiến tế thập giá trong Thánh Lễ, để liên kết chúng ta và chi thể của Người vào hiến tế độc nhất vô song của Người. Tính chất hiến tế thể hiện rõ trong những lời truyền phép: "Này là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con". "Này là chén Máu Thầy, Máu Giao ước mới sẽ đổ ra cho các con và mọi người được tha tội" (Lc 22, 19-20). Chúa Kitô dâng mình trên thập giá cũng chính là Chúa Kitô được Hội Thánh hiến dâng trong Thánh Lễ, nhờ thừa tác vụ Linh mục. Chỉ khác biệt ở cách dâng: "Ngày xưa, Chúa Kitô dâng chính mình trên bàn thờ thập giá cách đẫm máu; trong Thánh Lễ, hy tế thần linh cũng là Chúa Kitô, nhưng được dâng lên không đổ máu" (DS 1743).
II. Thánh lễ là bàn tiệc Hiệp thông.
Bí tích Thánh Thể là trung tâm và cao điểm của đời sống Hội Thánh. Trong Thánh lễ, Chúa Kitô liên kết Hội Thánh và mọi chi thể của Người vào hy lễ chúc tụng và tạ ơn. Bí tích Thánh thể biểu thị và thể hiện chính thực chất của Hội Thánh, là hiệp thông vào đời sống của Thiên Chúa, và hiệp nhất dân Thiên Chúa" (Huấn thị "Mầu Nhiệm Thánh Thể" 6). Bởi vì trong Chúa Kitô "Hội Thánh là Bí tích, nghĩa là dấu chỉ và khí cụ của sự kết hợp mật thiết giữa con người với Thiên Chúa, và của sự hiệp nhất toàn thể nhân loại" (GH 1). Nhờ kết hợp với Mình và Máu Chúa Kitô, tất cả mọi tín hữu trở nên một thân thể (x. 1Cr 10, 16-17). Bí tích Thánh Thể là Bí tích hiệp thông: các tín hữu hiệp thông với Chúa Kitô là Đầu, và các tín hữu hiệp thông với nhau, như những chi thể của một thân thể duy nhất. Bàn tiệc Thánh Thể chính là bàn tiệc yêu thương hiệp nhất, và nhờ cử hành Bí tích Thánh Thể, ngay từ bây giờ, chúng ta được kết hiệp với Phụng vụ trên trời, và dự trước cuộc sống vĩnh cửu.
III. Hội thánh dâng Thánh lễ vì ý nào?
Ngay từ những ngày đầu, cộng đoàn Hội Thánh đã ý thức cử hành Thánh Lễ theo như lệnh tuyền của Chúa Kitô, bao lâu còn lữ hành trên trần thế. Vì vậy trong Thánh Lễ, Hội Thánh tuyên xưng rằng: "Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến" (Lời tung hô sau truyền phép). Hội Thánh dâng lễ vì những ý nào?
1. Để tạ ơn và ca ngợi Thiên Chúa Cha:
Bí tích Thánh Thể trước hết là "hy tế tạ ơn". Trong hy tế Thánh Thể, nhờ Chúa Kitô đã chết và đã sống lại, Hội Thánh tạ ơn Thiên Chúa vì mọi ân huệ Người đã ban qua công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Bí tích Thánh Thể còn là "hy tế ca ngợi", vì "chính nhờ Chúa Kitô, cùng với Chúa Kitô, và trong Chúa Kitô", Hội Thánh dâng lời ca ngợi vinh quang Thiên Chúa, nhân danh toàn thể thọ sinh.
2. Để tưởng niệm hy tế của Chúa Kitô và của Hội Thánh:
Bí tích Thánh Thể là tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô, hiện tại hóa và hiến dâng trong Phụng vụ của Hội Thánh là thân thể Người. Theo Kinh Thánh, tưởng niệm không chỉ là nhớ lại, mà còn làm cho những biến cố đã qua thành hiện tại và hiện diện sống động giữa cộng đoàn. Khi Hội Thánh cử hành Thánh Thể, cuộc Vượt Qua của Chúa Kitô trở nên hiện diện giữa cộng đoàn, vì lễ tế của Chúa Kitô trên thập giá luôn sống động, để đem lại ơn cứu độ cho mọi người ở mọi thời đại. "Mỗi lần hy tế thập giá được cử hành trên bàn thờ, nhờ đó Chúa Kitô, Chiên Vượt Qua của chúng ta chịu hiến tế, thì công trình cứu chuộc chúng ta được thực hiện" (GH 3). Đàng khác, Thánh Lễ cũng là hy tế của Hội Thánh. Là thân thể của Chúa Kitô, Hội Thánh tham dự vào lễ tế của Chúa Kitô là Đầu. Trong Thánh lễ, hy tế của Chúa Kitô trở thành hy tế của mọi chi thể trong thân thể. Toàn thể đời sống của các tín hữu: bản thân, lời ca ngợi, đau khổ, kinh nguyện, công ăn việc làm, đều được kết hợp với Chúa Kitô trong lễ dâng toàn hiến.
3. Để chuyển cầu cho các tín hữu và toàn thể nhân loại:
Trong Thánh Lễ, toàn thể Hội Thánh kết hiệp với Chúa Kitô trong việc hiến dâng và chuyển cầu. Cộng đoàn Phụng vụ Thánh Thể nhắc nhở và cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng, Đức Giám mục giáo phận, Linh mục chủ tế cũng như mọi tín hữu. Và không phải chỉ có những tín hữu còn tại thế, mà cả những vị được hưởng vinh quang trên trời cũng được kết hiệp với hy tế của Chúa Kitô. Hội Thánh dâng lễ trong tâm tình kính nhớ "Đức Trinh Nữ Maria, Thánh Mẫu của Thiên Chúa, các tông đồ và toàn thể các Thánh". Thánh Lễ cũng được dâng lên để cầu cho các tín hữu đã qua đời, để họ chóng được vào hưởng ánh sáng và bình an của Chúa Kitô. Sau cùng toàn thể nhân loại, cũng như tất cả vũ trụ cũng được hưởng nhờ ơn phúc của Thánh Lễ.
VI. Thánh Lễ có mấy phần?
Thánh Lễ diễn tiến theo một cấu trúc cơ bản được duy trì nhiều thế kỷ cho đến nay. Thánh Lễ chia làm hai phần chính, nhưng liên kết chặt chẽ với nhau thành một thể thống nhất: Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể, được đóng khung bằng nghi thức đầu lễ và nghi thức kết lễ.
Nghi thức đầu lễ:
Cộng đoàn tín hữu tụ họp lại một nơi để cử hành Thánh Lễ. Chính Chúa Kitô triệu tập cộng đoàn, và chủ tọa buổi lễ. Đại diện hữu hình của Người là Đức Giám mục hay Linh mục chủ tọa cộng đoàn, diễn giảng các bài đọc, tiếp nhận lễ vật, và đọc kinh Tạ Ơn. Nghi thức đầu lễ bao gồm việc sám hối.
1. Phụng Vụ Lời Chúa:
• Đọc các bài Kinh Thánh rút ra từ Cựu ước và Tân ước.
• Bài diễn giảng giúp mọi người hiểu, đón nhận và thực hành Lời Chúa trong cuộc sống.
• Lời nguyện tín hữu (hay Lời nguyện chung) cầu cho mọi người (x. 1Tm 2,1-2).
2. Phụng vụ Thánh Thể:
a. Chuẩn bị lễ vật: bánh, rượu được đem lên bàn thờ, và chủ tế dâng lên Thiên Chúa, lễ vật sẽ trở thành Mình Máu Chúa Kitô. Cùng với bánh rượu, các tín hữu có thể mang theo tặng phẩm, để giúp đỡ những người túng thiếu.
b. Kinh Tạ Ơn (Kinh nguyện Thánh Thể): là trung tâm của cuộc cử hành Thánh Thể.
• Kinh tiền tụng: Hội Thánh tạ ơn Chúa Cha, nhờ Chúa Kitô, trong Chúa Thánh Thần, về tất cả công trình sáng tạo, cứu chuộc và thánh hóa. Toàn thể cộng đoàn tung hô: Thánh, Thánh, Thánh.
• Kinh cầu xin Chúa Thánh Thần: Hội Thánh cầu xin Chúa Thánh Thần đến, làm cho bánh rượu trở nên Mình Máu Đức Giêsu Kitô.
• Trình thuật việc lập Bí tích Thánh Thể: nhờ hiệu lực Lời và cử chỉ của Chúa Kitô, cũng như quyền năng Chúa Thánh Thần, bánh rượu trở thành Mình Máu Chúa Kitô.
• Kinh tưởng niệm: Hội Thánh tưởng nhớ đến cuộc khổ nạn, phục sinh và quang lâm của Đức Giêsu Kitô.
• Kinh chuyển cầu: hy lễ tạ ơn được cử hành trong sự hiệp thông với toàn thể Hội Thánh, cả thiên quốc lẫn trần gian, kẻ sống cũng như người đã qua đời. Hội Thánh địa phương cũng như Hội Thánh toàn cầu.
c. Hiệp lễ: Kinh Lạy Cha và việc bẻ bánh đi trước phần Hiệp Lễ. Các tín hữu rước lễ tức là lãnh nhận chính Mình Máu Chúa Kitô, Đấng tự hiến "để cho thế gian được sống" (Ga 6,51).
Nghi thức kết lễ:
Chủ tế ban phép lành và giải tán cộng đoàn.
V. Điều kiện rước lễ.
Việc cử hành hy tế Thánh Thể hướng đến việc các tín hữu kết hợp với Chúa Kitô nhờ rước lễ. Chúa khẩn thiết mời gọi chúng ta đón rước Người: "Thật, Tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn Thịt và uống Máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình" (Ga 6,53). Hội Thánh khuyên các tín hữu có đủ điều kiện, rước lễ mỗi khi tham dự Thánh Lễ: "Nên khuyến khích tín hữu tham dự Thánh Lễ trọn vẹn hơn, qua việc lãnh nhận Mình Thánh Chúa ngay trong Thánh Lễ, sau khi linh mục rước lễ" (PV 55). Hơn nữa, Hội Thánh buộc các tín hữu phải tham dự Thánh Lễ vào các ngày Chúa Nhật, Lễ Trọng và rước lễ mỗi năm ít là một lần vào Mùa Phục Sinh (x. G1 920).
Để chuẩn bị rước lễ cho xứng đáng, các tín hữu cần:
1. Tra vấn lại lương tâm, để khỏi rước lễ cách bất xứng là lãnh án phạt (x.1Gr 11, 27-29). Nếu mắc tội trọng, phải đi xưng tội trước khi lên rước lễ.
2. Khiêm tốn và tin tưởng như viên đại đội trưởng: "Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự đến cùng con..." (Mt 8,8).
3. Giữ chay Thánh Thể: nghĩa là không ăn hay uống (trừ nước lã và thuốc chữa bệnh) một giờ trước khi rước lễ.
4.Thái độ bên ngoài (cử chỉ, cách ăn mặc) phải biểu lộ lòng tôn kính, sự trang trọng và niềm vui được Chúa ngự đến. Ngoài ra cần làm hòa với người khác trước khi nhận lãnh Bí tích hiệp nhất yêu thương (x. Mt 5, 23-24).
VI. Hiệu quả của việc Rước Lễ.
1. Hiệu quả chính yếu của việc rước lễ là được kết hiệp thâm sâu với Chúa Kitô, sống nhờ Người và nên một với Người. "Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi, thì ở lại trong Tôi, và Tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai Tôi, và Tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào, thì kẻ ăn Tôi cũng sẽ nhờ Tôi mà được sống như vậy" (Ga 6, 56-57). "Bởi vì việc tham dự vào Mình và Máu Chúa Kitô không có công hiệu nào khác hơn là biến đổi chúng ta thành Đấng mà chúng ta nhận lãnh" (Thánh Lêô Cả) (GH26).
2. Như của ăn vật chất mang lại sự sống cho thân xác thế nào, việc rước lấy Mình của Đấng Phục sinh cũng gìn giữ, phát triển và canh tân đời sống ân sủng đã nhận lãnh trong Bí tích Thánh Tẩy. Bánh Thánh Thể dưỡng nuôi người tín hữu trong cuộc lữ hành trần thế, và thành Của Ăn Đàng cho họ lúc lâm chung.
3. Việc rước lễ giúp chúng ta xa lánh tội lỗi, nhờ kết hợp với Chúa Kitô, Đấng tẩy xóa tội lỗi loài người. Thánh Thể khơi dậy đức mến sống động trong tâm hồn, có thể xóa đi các tội nhẹ, và gìn giữ ta khỏi phạm tội trọng.
4. Hiệp nhất các Kitô hữu trong Hội Thánh (x. GH 11). Bí tích Thánh Tẩy tháp nhập ta vào Hội Thánh; Bí tích Thánh Thể canh tân, củng cố và kiện toàn sự tháp nhập này. Việc rước lễ kết hiệp người tín hữu với Chúa Kitô, Đấng kết hiệp tất cả các tín hữu với Chúa Kitô, Đấng kết hiệp tất cả các tín hữu thành một thân thể duy nhất là Hội Thánh (x. 1Cr 10, 16-17). Hơn nữa, Bí tích Thánh Thể còn là lời mời gọi khẩn thiết các tín hữu đã ly khai, hiệp nhất trong một Hội Thánh duy nhất. Thánh Âu tinh đã thốt lên: "Ôi Bí tích Tình Yêu! Dấu chỉ Hiệp Nhất! Mối dây Bác ái!". Sau cùng việc lãnh nhận Mình Máu Chúa Kitô, đòi buộc chúng ta nhận ra Người nơi những người nghèo khổ nhất, để chăm sóc (x. Mt 25, 40).
5. Bảo chứng cho vinh quang mai sau. Chúa đã long trọng hứa: "Ai ăn Thịt và uống Máu Tôi thi được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho người ấy sống lại ngày sau hết" (Ga 6, 54). Vì là lễ tưởng niệm cuộc Vượt Qua của Chúa, Bí tích Thánh Thể còn là tiền dự vào vinh quang thiên quốc. Trong một Kinh Nguyện cổ, Hội Thánh ca tụng mầu nhiệm Thánh Thể như sau: "Ôi Tiệc Thánh! Chúa Kitô đã trở thành lương thực cho chúng ta: tiệc tưởng niệm cuộc khổ nạn của Người, ban cho ta hồng ân viên mãn, và bảo chứng cho vinh quang mai sau".
VII. Sống Thánh lễ trong cuộc đời.
1. Người giáo dân Việt Nam rất siêng năng "đi lễ", nhưng vì thiếu hiểu biết, họ chỉ "xem lễ" như khán giả xem kịch. Khi đi dâng lễ, người tín hữu không chỉ dâng Đức Giêsu lên Thiên Chúa Cha, mà còn phải liên kết với Đức Giêsu mà dâng chính mình thành của lễ, để lễ tế vô giá của Con Một Thiên Chúa, cũng trở thành lễ tế của mỗi tín hữu qua các thời đại: "Trong khi dâng lễ vật tinh tuyền, không chỉ nhờ tay linh mục, mà còn liên kết với ngài, họ tập dâng chính mình" (PV 48).
2. Thánh lễ là "nguồn mạch và tột đỉnh của đời sống Kitô hữu" (GH 11), nên mọi hoạt động của người Kitô hữu đều phải bắt nguồn nơi Thánh Lễ, và qui hướng về Thánh Lễ. Cuộc đời là Thánh Lễ nối dài, nghĩa là những ân phúc nhận được nơi Thánh Lễ qua Lời Chúa, qua việc kết hợp với Thánh Thể và hiệp thông với cộng đoàn, phải trở thành ánh sáng soi dẫn và sức mạnh nâng đỡ cho mọi hoạt động tôn giáo cũng như trần thế. Ngược lại, người Kitô hữu phải làm cho tất cả cuộc đời thành Thánh Lễ: Lễ Dâng Cuộc Đời! "Mọi hoạt động, Kinh nguyện và công cuộc tông đồ, đời sống hôn nhân và gia đình, công ăn việc làm thường ngày, việc nghỉ ngơi thể xác và tinh thần, nếu họ chu toàn trong Thánh Thần, và cả đến những thử thách của cuộc sống nếu họ kiên trì đón nhận, thì tất cả đều trở nên hiến lễ thiêng liêng đẹp lòng Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô (x. 1Pr 2,5), được thành kính dâng lên Chúa Cha cùng với Mình Thánh Chúa, khi cử hành Phép Thánh Thể" (GH 34).
Bài 33
BÍ TICH HÒA GIẢI
(x. SGLC từ 1420 đến 1484)
"Những ai đến lãnh nhận bí tích Hòa giải, đều được Thiên Chúa nhân từ tha thứ những xúc phạm đến Người. Đồng thời họ được giao hòa cùng Hội Thánh mà tội lỗi họ đã làm tổn thương. Hội Thánh hằng nỗ lực lấy Đức Ái, gương lành và kinh nguyện, để hoán cải họ" (GH 11) Bí tích Hòa giải còn được gọi là Bí tích Giải tội, bí tích Cáo giải, bí tích Sám Hối. Nhưng dù tên gọi nào chăng nữa, vẫn luôn hàm chứa hai nội dung chính yếu: sự hoán cải của hối nhân và tình thương tha thứ của Thiên Chúa. Tìm hiểu bí tích Hòa giải là cơ hội giúp ta khám phá tình thương của Thiên Chúa, và cảm nghiệm đó thúc đẩy ta sám hối, mỗi ngày và mọi ngày trong suốt cuộc đời.
I. Tiếng gọi hoán cải.
"Thời giờ đã mãn và nước Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy ăn năn thống hối và tin vào Tin Mừng" (Mc 1,15). Tiếng gọi hoán cải là thành phần thiết yếu trong lời công bố Nước Trời. Tiếng gọi ấy trước hết được gửi đến những ai chưa nhận biết Chúa Kitô và Tin Mừng của Ngài. Vì thế, Thánh Tẩy là bí tích tha tội và dẫn đưa ta vào đời sống mới.
Tuy nhiên, tiếng gọi ấy vẫn tiếp tục được gửi đến cho những người đã chịu Thánh Tẩy, vì kinh nghiệm cuộc sống cho thấy ta vẫn tiếp tục phạm tội sau khi đã chịu Thánh Tẩy. "Nếu ta nói rằng mình không có tội, ta tự lừa dối mình, và sự thật không có trong ta" (1Ga 1,8). Chính Đức Giêsu cũng dạy ta cầu nguyện: "Xin Cha tha tội chúng con" (x. Lc 11,4). Bởi vì tuy bí tích Thánh Tẩy dẫn ta vào đời sống mới, nhưng không hủy diệt sự yếu đuối và hướng chiều về tội nơi con người tự nhiên. Chính vì thế, hoán cải là cả một hành trình dài và cuộc sống người tín hữu là cuộc chiến đấu liên lỉ chống lại tội lỗi. "Hội Thánh ôm ấp những kẻ có tội trong lòng mình, nên vừa thánh thiện vừa phải luôn thanh tẩy mình. Do đó, Hội Thánh luôn thực hiện việc sám hối và canh tân" (GH 8).
Sự hoán cải mà Đức Giêsu mời gọi là sự hoán cải nội tâm, hoán cải của con tim. Chỉ khi nào có sự hoán cải sâu xa đó, những việc làm bên ngoài mới có ý nghĩa: những cử chỉ, lời kinh, việc làm đền tội. Sự hoán cải ấy là sự thay đổi sâu xa hướng đi của cả cuộc đời: một đàng là buồn phiền, hối hận vì tội, và dứt khoát với cái xấu; đàng khác là quyết tâm thay đổi đời sống, trông cậy và tín thác vào Chúa. Hoán cải như thế không phải là việc dễ dàng. Vì thế, hoán cải trước hết là công việc của ân sủng Thiên Chúa. Chính Chúa nâng đỡ, để ta có thể làm lại cuộc đời. Càng khám phá tình thương của Chúa, ta càng khinh ghét tội lỗi và không muốn bị xa cách Chúa. Thánh Thần vừa là Đấng soi sáng giúp ta nhận ra con người thật và tội lỗi của mình, vừa là Đấng An ủi giúp ta ăn năn sám hối.
II. Bí tích Hòa giải.
Tội là bẻ gãy mối hiệp thông không những với Chúa mà với cả Hội Thánh. Vì thế, ta cần được Thiên Chúa tha thứ và cần giao hòa với Hội Thánh. Ý nghĩa đó được thể hiện đầy đủ trong Bí tích Hòa giải. "Không ai có quyền tha tội ngoại trừ một mình Thiên Chúa" (Mc 2,7). Đúng như thế. Nhưng Chúa Kitô chính là Thiên Chúa nên Ngài có quyền tha tội: "Tội lỗi của con đã được tha" (Mc 2,5).
Sau đó, Ngài ban cho Hội Thánh quyền tha tội nhân danh Ngài (x. Ga 20,21-23). Đồng thời trong cuộc sống trần thế, khi Đức Giêsu tha tội cho ai, Ngài cũng đưa họ hội nhập cộng đoàn dân Chúa. Vì thế, khi trao cho các quyền tha tội, Ngài cũng trao cho các ông quyền giao hòa tội nhân với Hội Thánh: "Các con cầm buộc ai, trên trời cũng cầm buộc. Các con cởi mở cho ai, trên trời cũng cởi mở" (Mt 16,19). Hội Thánh đã thực thi quyền bính Đức Giêsu trao phó trong cử hành Bí tích Hòa giải.
Trong suốt chiều dài lịch sử, hình thức cử hành có thể thay đổi, nhưng vẫn luôn luôn giữ cơ cấu nền tảng với hai yếu tố quan trọng: một đàng là hành vi của hối nhân: thống hối, xưng tội, đền tội; đàng khác là hành động của Thiên Chúa qua Hội Thánh: Giám mục và Linh mục nhân danh Chúa mà tha tội và ra việc đền tội cho hối nhân. Công thức tha tội chứa đựng nội dung chính yếu của Bí tích: "Thiên Chúa là Cha hay thương xót đã nhờ sự chết và sống lại của Con chúa mà giao hòa thế gian với Chúa, và ban Thánh Thần để tha tội. Xin Chúa dùng tác vụ của Hội Thánh mà ban cho con ơn tha thứ và bình an. Vậy cha tha tội cho con, Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần".
III. Hành vi của hối nhân.
1. Thống hối:
Thống hối là buồn phiền, chê ghét tội đã phạm và dốc lòng không phạm tội nữa (x. CĐ Trentô). Người ta thường phân biệt: thống hối toàn vẹn và thống hối bất toàn. Thống hối toàn vẹn là thống hối vì lòng mến, mến Chúa trên hết mọi sự. Lòng thống hối đó khiến hối nhân được tha các tội nhẹ và tha cả tội trọng nếu cương quyết lãnh nhận Bí tích Hòa giải sớm hết sức có thể. Thống hối bất toàn là thống hối vì sợ, sợ án phạt đời đời và sợ các hình phạt khác. Lòng thống hối ấy cũng là ân huệ của Thiên Chúa, thúc đẩy hối nhân làm hòa với Chúa và Hội Thánh cách trọn vẹn trong Bí tích Hòa giải.
2. Xưng tội:
Bằng việc xưng tội, hối nhân nhìn thẳng vào tội lỗi của mình, nhận trách nhiệm và mở lòng ra với Chúa cũng như với Hội Thánh, để sống đời sống mới. Đây là thành phần thiết yếu của Bí tích Hòa giải. Vì thế, Hội Thánh đòi hối nhân phải xưng thú mọi tội trọng, kể cả những tội thầm kín, vì "nếu bệnh nhân mà xấu hổ nên che dấu vết thương, làm sao lương y có thể biết mà chữa lành" (x. CĐ Trentô).
Ngoài ra, còn có những đòi hỏi liên quan đến Bí tích Hòa giải:
• Mỗi tín hữu bó buộc phải xưng các tội trọng một năm ít là một lần.
• Khi biết mình đang mắc tội trọng, không được rước Mình Thánh Chúa nếu chưa xưng tội, trừ khi không thể đi xưng tội, có thể giục lòng ăn năn sám hối.
• Trước khi được Rước Lễ lần đầu, trẻ em phải lãnh nhận Bí tích Hòa giải.
Hội Thánh cũng khuyên tín hữu xưng các tội nhẹ. Việc xưng tội thường xuyên giúp ta huấn luyện lương tâm, chiến đấu chống lại các khuynh hướng xấu, được Chúa Kitô nâng đỡ và tiến bước trong đời sống mới.
3. Đền tội:
Tội là hành động nằm trong tương quan với Thiên Chúa và tha nhân. Tội gây thiệt hại cho tha nhân, vì thế phải đền bù; chẳng hạn: trả lại đồ vật đã lấy cắp, khôi phục danh dự cho người khác... Ngoài ra, tội còn làm cho chính bản thân ta yếu đi và mối tương quan với Thiên Chúa và tha nhân bị tổn thương. Chính vì thế, cùng với ơn tha tội, hối nhân còn phải làm việc gì đó đền bù, và phục hồi sức mạnh thiêng liêng. Đó là ý nghĩa đền tội. Việc đền tội có thể là kinh nguyện, việc bác ái, hãm mình, phục vụ tha nhân... Cha giải tội sẽ tùy theo mức độ tội phạm của hối nhân mà ra việc đền tội cho thích hợp và ích lợi. Việc đền tội giúp ta nên giống Chúa Kitô, Đấng duy nhất đền thay tội lỗi cho ta.
IV. Thừa tác viên của Bí tích Hòa giải.
Thừa tác viên của Bí tích Hòa giải là các Giám mục kế vị các Tông đồ, và các linh mục là những người cộng tác của hàng Giám mục. Nhờ ân sủng lãnh nhận qua Bí tích Truyền Chức Thánh, các ngài tha thứ mọi tội lỗi "Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần". Nhờ ơn tha thứ này, các hối nhân được giao hòa với Thiên Chúa và Hội Thánh. Khi cử hành Bí tích Hòa giải, cha giải tội đóng vai trò Người Mục tử tốt lành kiếm tìm con chiên lạc, người Samari nhân hậu băng bó vết thương, người cha giàu lòng thương xót đợi chờ và hân hoan đón tiếp đứa con hoang đàng trở về; đồng thời là vị thẩm phán công bằng và thương xót. Tóm lại linh mục là dấu chỉ và khí cụ của tình thương Thiên Chúa dành cho hối nhân. Vì là tôi tớ phục vụ cho ơn tha thứ của Thiên Chúa, cha giải tội phải mang trong mình những tâm tình và ý tưởng của Chúa Kitô. Ngài phải có hiểu biết và kinh nghiệm về cuộc sống con người, phải biết tôn trọng và nhạy cảm với những ai sa ngã; đồng thời ngài phải yêu mến sự thật, trung thành với giáo huấn của Hội Thánh, và kiên nhẫn giúp hối nhân đi lên trên con đường thánh thiện. Vì sự cao cả của Bí tích và vì lòng kính trọng đối với con người, Hội Thánh đòi buộc cha giải tội phải giữ bí mật tuyệt đối về những tội hối nhân đã xưng thú. Bí mật đó được gọi là Ấn Tòa Giải Tội và cha giải tội phải tôn trọng tuyệt đối.
V. Cử hành và hiệu quả của Bí tích Hòa giải.
1. Cử hành:
Thông thường, Bí tích Hòa giải được cử hành theo thể thức như sau: linh mục chào hỏi và chúc lành cho hối nhân, đọc Lời Chúa để soi sáng lương tâm và khơi dậy tâm tình thống hối; sau đó hối nhân xưng thú tội lỗi, rồi linh mục ra việc đền tội và giải tội. Cuối cùng là kinh tạ ơn và chúc lành của linh mục. Bí tích Hòa giải cũng có thể được cử hành trong khung cảnh sám hối cộng đồng. Cộng đoàn cùng cử hành Phụng vụ Lời Chúa, nghe giảng, xét mình và sám hối chung, nhưng sau đó mỗi người sẽ xưng tội riêng với linh mục. Việc cử hành này làm nổi bật ý nghĩa Hội Thánh của Bí tích Hòa giải. Trong trường hợp khẩn thiết như nguy tử, hoặc không đủ các linh mục giải tội, khiến giáo dân không thể Rước Lễ, có thể cử hành hòa giải cộng đồng và tha tội chung. Tuy nhiên, xưng tội và giải tội riêng vẫn là hình thức thông thường nhất; trong đó Chúa Kitô nói với từng người: "Cha tha tội cho con". Ngài là Thầy Thuốc chăm sóc từng bệnh nhân và dẫn đưa họ trở về với sự hiệp thông huynh đệ. Cho dù giải tội riêng, đừng quên rằng ở tự bản chất, cử hành bí tích là một hành vi phụng vụ, và vì thế mang tích công khai và Cộng đoàn Hội Thánh.
2. Hiệu quả
Mục đích và hiệu quả của Bí tích Hòa giải là cho ta được làm hòa với Chúa. Đây là ơn phục sinh thiêng liêng, hồi phục tư cách và phẩm giá làm con Thiên Chúa của hối nhân. Ai lãnh nhận bí tích với lòng thống hối chân thành còn cảm nhận được sự bình an và thanh thản trong tâm hồn. Cùng với hiệu quả trên, Bí tích còn hòa giải ta với Hội Thánh. Tội lỗi làm tổn thương và có khi bẻ gẫy mối hiệp thông huynh đệ. Bí tích Hòa giải khôi phục lại mối hiệp thông đó, và như thế, không những Bí tích chữa lành hối nhân mà còn ảnh hưởng tốt đẹp đến cả Hội Thánh. Đồng thời nhờ sự hiệp thông những của cải thiêng liêng trong Hội Thánh, ta được mạnh sức hơn trên đường về Quê Trời. Vào buổi xế chiều cuộc sống, mỗi chúng ta sẽ phải ra trước Tòa Chúa. Nhưng ngay từ hôm nay, khi nhận lãnh Bí tích Hòa giải, ta đã ra trước Tòa Chúa, và nhờ ơn Bí tích, ta được ngang qua cõi chết mà vào cõi sống: "Quả thật Ta bảo các ngươi: ai nghe Lời Ta và tin vào Đấng đã sai Ta thì có sự sống đời đời và khỏi đến Tòa phán xét, nhưng đã ngang qua sự chết mà vào sự sống" (Ga 5,24).
VI. Để sống lòng sám hối.
1. Ngày nay nhiều người trẻ ngại đi xưng tội, và các bạn lý luận: xưng xong rồi lại tiếp tục phạm tội, thà không xưng thì hơn. Ẩn bên trong lý luận ấy lại là sự thất vọng về chính mình, và thiếu lòng cậy trông vào Chúa. Cần ý thức rằng hoán cải là cả một hành trình dài, và phải dám tin vào tình thương tha thứ của Chúa, tình thương của người cha hằng chờ đợi chúng ta.
2. Xét mình hằng ngày, chân thành thống hối và quyết tâm gắn bó với Chúa là điều ta có thể và phải làm mỗi ngày. Những việc làm đó giúp ta luôn sống trong Ơn Hòa giải, và thúc đẩy ta sống đời Kitô hữu tốt đẹp hơn.
3.Không những làm việc đền tội mỗi khi đi xưng tội, Hội Thánh còn khuyên ta thực hiện nhiều hình thức đền tội khác trong cuộc sống hằng ngày. Ba hình thức quen thuộc nhất: cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái. Những hình thức này vừa giúp ta chế ngự bản thân, vừa dẫn ta vào cuộc sống hài hòa với Chúa, với mọi người.
Bài 34
Bí Tích Xức Dầu Bệnh Nhân
(x. SGLC từ 1499 đến 1532)
"Bằng Phép Xức Dầu Thánh và lời cầu nguyện của các Linh mục, toàn thể Hội Thánh phó thác bệnh nhân cho Đức Kitô đau khổ và hiển vinh, để Người an ủi và cứu rỗi họ. Hơn nữa, Hội Thánh còn thúc giục họ saün sàng kết hợp với Đức Kitô chịu đau khổ và chịu chết để mưu ích cho dân Thiên Chúa". (HT 11)
I. Ý nghĩa và hiệu quả của Bí tích Xức Dầu bệnh nhân.
1. Ý nghĩa Bí tích Xức Dầu bệnh nhân:
Bệnh tật và đau khổ luôn là những lo âu triền miên của con người. Khi bệnh tật, con người càng cảm nghiệm được giới hạn và bất lực của mình. Có khi bệnh tật đưa con người tới chỗ tuyệt vọng, nhưng bệnh tật cũng có thể dẫn đưa con người tới gặp gỡ Thiên Chúa.
Dân Thiên Chúa trong thời Cựu ước than van về bệnh tật của mình trước nhan Thiên Chúa, cầu khẩn Ngài chữa lành, vì tin tưởng Ngài là Chúa của sự sống và sự chết: "Lạy Giavê, xin dủ thương vì tôi thân tàn sức kiệt, xin chữa tôi. Lạy Giavê, vì xương tôi rã rời" (Tv 6,3). Con người thời Cựu ước còn quan niệm: tội lỗi là căn nguyên của bệnh tật và sự chết, nên họ thống hối và cầu xin Thiên Chúa cứu chữa, như trường hợp vua Ê-giê-ki-a. Ông nói: "Ôi, lạy Giavê, xin nhớ lại là tôi đi trước nhan Người cách trung tín, một lòng thành, điều đẹp mắt Ngài tôi đã làm" (Is 38,3, và Thiên Chúa đã cứu chữa ông: "Ta đã nghe lời ngươi khẩn cầu. Ta thấy nước mắt của ngươi. Này Ta sẽ thêm cho đời ngươi mười lăm năm nữa" (Is 38,5).
Tình thương của Thiên Chúa với bệnh nhân càng rõ nét nơi Chúa Kitô. Ngài chữa lành mọi loại bệnh tật: "Tiếng tăm Ngài đồn khắp xứ Syri. Người ta đem đến cho Ngài những người đau ốm mắc đủ thứ bệnh tật: những người bị quỷ ám, kinh phong, bất toại, và Ngài đã chữa lành họ" (Mt 4, 24). Chẳng những chữa lành bệnh tật, Ngài còn có quyền tha tội lỗi (x. Mc 2, 5-12). Vì Ngài đến để chữa lành con người toàn diện hồn và xác. Sự cảm thương của Ngài với bệnh nhân tới mức Ngài đã đồng hóa với họ: "Ta đau yếu và các ngươi đã đến thăm ta" (Mt 25,36); và "Ngài đã nhận lấy những tàn tật của chúng ta, và đã gánh lấy những bệnh nạn của chúng ta" (Is 53, 4). Nhưng không phải lúc nào Ngài cũng chữa lành bệnh tật, vì sự chữa lành bệnh tật chỉ là những dấu chỉ loan báo sự chữa lành triệt để: đó là chiến thắng tội lỗi và cái chết, nhờ sự phục sinh của Ngài. Vì như chúng ta đã biết, bệnh tật chỉ là một hậu quả của tội lỗi, nhưng Chúa Kitô "đã xóa tội trần gian" (Ga 1,29). Vì thế, đau khổ bệnh tật có thể làm cho con người trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô.
Vì tình thương xót các bệnh nhân, Chúa Kitô mời gọi các môn đệ của Ngài chia sẻ thừa tác vụ cảm thương và chữa lành của Ngài. Vì thế: "Các ông ra đi giảng dạy để người ta sám hối, và các ông xua đuổi nhiều ma quỷ, các ông xức dầu cho nhiều bệnh nhân và chữa họ lành" (Mc 6, 12-13). Sau khi phục sinh, Chúa Kitô vẫn lập lại: "Nhân danh Thầy, họ sẽ đặt tay trên các bệnh nhân, và những người này được chữa lành" (Mc 16, 17-18). Qua lời xác quyết của Marcô (Mc 6, 12-13): "Họ ra đi rao giảng cho người ta hối cải, và xua trừ nhiều ma quỷ, cùng đã xức dầu mà chữa lành nhiều kẻ ốm đau". Và lời của Giacôbê 5,14: "Ai trong anh em yếu liệt, hãy mời các vị niên trưởng của Hội Thánh, để họ cầu nguyện cho người đó. Sau khi đã xức dầu cho người đó nhân danh Chúa, lời cầu nguyện của đức tin sẽ cứu chữa người đau ốm, và Chúa sẽ vực người đó dậy... ". Nên Hội Thánh tin tưởng và tuyên xưng Xức Dầu Bệnh nhân là một trong bảy Bí tích Đức Giêsu đã thiết lập, mà Hội Thánh luôn cử hành để thêm sức mạnh cho các bệnh nhân.
2. Hiệu quả của Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân:
Ân sủng đặc biệt của Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân mang lại những hiệu quả sau đây:
• Kết hợp bệnh nhân với cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, để sinh ơn ích cho chính bệnh nhân và cho Giáo Hội.
• Niềm an ủi, sự bình an và lòng can đảm, để chịu đựng những đau khổ của bệnh tật hoặc của tuổi già với tinh thần Kitô giáo.
• Ơn tha thứ tội lỗi, nếu bệnh nhân chưa nhận được ơn tha thứ nhờ Bí tích Hòa giải.
• Phục hồi sức khỏe, nếu điều này phù hợp với ơn cứu độ cho linh hồn bệnh nhân.
• Chuẩn bị cho cuộc vượt qua sang đời sống vĩnh cửu (GLCG).
II. Thụ nhân và Thừa tác viên.
1. Thụ nhân của Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân:
Xức dầu bệnh nhân không chỉ là bí tích cho những Người sắp chết, nhưng còn dành cho những ai có nguy cơ tử vong do bệnh tật hoặc vì tuổi già. Khi bệnh nhân đã được xức dầu, rồi khỏe lại, sau đó bị bệnh nặng, họ có thể lãnh Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân lần nữa. Cả trước khi chịu cuộc giải phẫu nặng, bệnh nhân cũng nên nhận phép Xức Dầu.
2. Thừa tác viên Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân:
Chỉ có các vị tư tế, nghĩa là Giám mục hay Linh mục mới có quyền ban Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân. Dù cử hành tại tư gia, hay bệnh viện, Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân luôn là một cử hành phụng vụ có tính cách cộng đoàn. Nhưng yếu tố chính của Bí tích này là: "Các Linh mục của Hội Thánh" (GL 5,14) đặt tay, cầu nguyện cho bệnh nhân trong niềm tin của Hội Thánh" (x GL 5,15), rồi linh mục xức dầu đã thánh hiến cho bệnh nhân.
III. Của Ăn Đàng.
Cùng với việc xức dầu, Hội Thánh trao cho bệnh nhân Mình Thánh Chúa như của ăn đàng. Thông hiệp với Mình Máu Chúa Kitô trong giây phút đó có ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt, vì Mình Máu Chúa là sự sống và sức mạnh đặc biệt. Vì Mình Máu Chúa là sự sống và sức mạnh phục sinh, đưa bệnh nhân từ cõi chết đến cõi sống. Nếu ba Bí tích Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể hợp lại thành "các bí tích dẫn vào Kitô giáo" thì Bí tích Xức Dầu Bệnh nhân, Bí tích Hòa giải và ban Của Ăn Đàng hợp lại thành "các bí tích chuẩn bị về Quê Trời".
IV. Thái độ người Kitô hữu trước bệnh tật và đau khổ.
1. Nếu biết đón nhận trong lòng mến, bệnh tật có thể làm cho ta nên giống Chúa Kitô. Khi thánh Phaolô than phiền về bệnh tật của ngài, Chúa đã nói: "Sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối của con" (2CR 12,9). Chúng ta cố gắng chống trả mọi bệnh tật, nhưng khi phải đón nhận, hãy cố gắng đón nhận bằng lòng mến như thánh Phaolô diễn tả: "Tôi vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Chúa Kitô mãi trong xác tôi" (2Cr 12,9).
2. Bệnh tật có thể là sức mạnh Chúa ban, nhờ đó ta trải rộng tình thương cho người khác và giúp họ đạt đến Quê Trời. Vì thế thánh Phaolô nói: "Tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thánh Chúa Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho Thân Thể Người là Hội Thánh" (C1 1,24).
Bài 35
Bí Tích Truyền Chức Thánh
(x. SGLC từ 1536 đến 1600)
"Đức Giêsu lên núi và gọi lại với Người những kẻ mà Người muốn chọn. Và các ông đến với Người. Người thành lập nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người, và để Người sai đi rao giảng với quyền được trừ quỷ". (Mc 3, 13-15; x. 6, 6-13)
I. Nguồn gốc Bí tích Truyền Chức Thánh.
Được chọn và đặt làm "một vương quốc tư tế, một dân thánh" (Xh 19,6), dân Israel theo lệnh Chúa, dành riêng chi tộc Lê-vi để lo việc phụng vụ. Các tư tế của dân Chúa được đặt lên bằng một nghi thức đặc biệt, để "làm đại diện cho loài người trong mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội" (Dt 5,1).
Tuy nhiên, hàng tư tế của Giao ước cũ gồm các tư tế theo phẩm trật Aharon, các thầy Lê-vi (x. Ds 1, 48-53) và hàng kỳ mục (x. Ds 11, 24-25), vốn bất toàn và chỉ là hình ảnh báo trước chức tư tế thánh trong Giao ước mới, do Chúa Kitô thiết lập. Lễ tế trong Cựu ước không thể xóa được tội, để đem lại ơn cứu độ, mà chỉ có lễ tế hy sinh của Chúa Kitô mới thực hiện được mà thôi. Trong các môn đệ đi theo, Đức Giêsu đã chọn Nhóm Mười Hai "để các ông ở với Người, và để Người sai đi rao giảng" (Mc 3,14). Chúa đã trao quyền cử hành Thánh Thể cho các ông trong Bữa Tiệc Ly (x. Lc 22,19), ban quyền tha tội khi từ cõi chết sống lại (x.Ga 20,23), và dạy các ông làm Phép Rửa cho muôn dân, trước khi lên trời (x. Mt 28,19). Sau đó, các Tông đồ đặt tay ban Thánh Thần cho những người được chọn kế vị các ngài. Và chính các giám mục là những người kế vị các Tông đồ liên tục qua các thời đại, với đầy đủ quyền bính (x. 2Tm 1,6; T1 1,5).
II. Chức tư tế chung và chức tư tế thừa tác.
a. Chức tư tế chung
Chúa Kitô là Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và loài người (x. 1Tm 2,5) được Thiên Chúa đặt làm Thượng tế đến muôn đời, vì Người đã "làm cho họ thành một vương quốc, thành những tư tế, để phụng thờ Thiên Chúa" (Kh 5,10; x. 1,6). "Thực vậy, những người đã lãnh nhận Phép Rửa, nhờ sự tái sinh và xức dầu của Thánh Thần, được thánh hiến để trở thành chỗ ở thiêng liêng, và nhận chức tư tế thánh" (GH 10). Đây là chức tư tế chung mà tất cả các Kitô hữu tham dự. Cộng đoàn Hội Thánh thi hành chức tư tế chung bằng việc tham dự vào các Bí tích, và làm chứng cho đức tin (x. GH 11-12).
b. Chức tư tế thừa tác
Nhưng ngay giữa cộng đoàn dân Chúa được Bí tích Thánh Tẩy thánh hiến, để lãnh nhận chức tư tế chung, Thiên Chúa còn tuyển chọn một số người lãnh nhận chức tư tế thừa tác, được thánh hiến nhờ một bí tích riêng là Bí tích Truyền Chức Thánh. "Chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn về yếu tính, song cả hai bổ túc cho nhau. Thực vậy, cả hai đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình" (GH 10). Chức tư tế thừa tác nhằm phục vụ cộng đoàn dân Chúa, để các tín hữu (có chức tư tế chung) phát huy ân sủng của Bí tích Thánh Tẩy. Chúa Kitô là Đầu của Hội Thánh vẫn luôn luôn hiện diện và hành động qua con người và thừa tác vụ của các Linh mục.
Nhờ Bí tích truyền chức Thánh, linh mục hành động nhân danh Chúa Kitô là Đầu. Cho nên trong các cử hành Phụng vụ, Chúa Kitô luôn có mặt và trở thành hữu hình giữa cộng đoàn tín hữu, qua các thừa tác viên và thừa tác vụ của họ. Sự hiện diện của Chúa Kitô trong con người thừa tác viên khi cử hành Phụng Vụ, luôn bảo đảm đem lại kết quả thiêng liêng của các Bí tích, chứ không lệ thuộc vào tư cách thánh thiện hay bất xứng của thừa tác viên.
Đàng khác, chức tư tế này mang tính thừa tác, nghĩa là để phục vụ. Vì quyền hành chức thánh là quyền của chính Chúa Kitô, nên sử dụng quyền hành này cũng phải theo cách và rập khuôn mẫu của Chúa Kitô, Đấng "đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mc 10,45).
Sau cùng, chức tư tế thừa tác không những đại diện cho Chúa Kitô thủ lãnh, nhưng còn hành động nhân danh toàn thể Hội Thánh, khi dâng lời cầu nguyện của toàn thể dân thánh, và nhất là khi dâng Thánh lễ.
III. Ba cấp bậc trong Bí tích Truyền Chức Thánh.
Ngay từ đầu, thừa tác vụ thánh Hội Thánh do Chúa Kitô thiết lập gồm ba bậc: Giám mục, Linh mục và Phó tế. Bậc Phó tế là để giúp đỡ các tư tế là Giám mục và Linh mục. Tuy nhiên, cả ba bậc đều được ban qua Bí tích Truyền Chức Thánh.
1. Các Giám mục:
Các Giám mục là những thừa tác viên ở địa vị thứ nhất trong ba bậc của thừa tác vụ thánh. Các Giám mục kế vị các Tông đồ, lãnh nhận chức tư tế tối cao (Thượng tế) và sung mãn, gia nhập giám mục đoàn, và trở thành thủ lãnh hữu hình của Hội Thánh đã được ủy thác. Được hiến thánh qua việc đặt tay cùng với lời kinh dành riêng, các Giám mục lãnh nhận ấn tín Chúa Thánh Thần, thay mặt Chúa Kitô với trách nhiệm thánh hóa, giảng dạy và cai quản "Nhờ Thánh Thần mà các Ngài đã lãnh nhận, các Giám mục trở thành thầy dậy đức tin, thượng tế, chủ chăn thực thụ và chính thức" (GM 2).
Vì cũng là đại diện Chúa Kitô, và cùng kế vị các Tông Đồ, các Giám mục liên kết với nhau thành Giám Mục đoàn, dưới quyền lãnh đạo của Giám mục Rôma. Tính cách liên đới trong Giám mục đoàn được biểu lộ qua việc truyền chức thánh cho một Giám mục, và qua việc họp Công đồng chung do Đức Giáo Hoàng triệu tập. Vì thế, mỗi Giám mục ở giáo hội địa phương đều chia sẻ trách nhiệm tông đồ và sứ mạng của toàn thể Hội Thánh. "Với tư cách là phần tử của Giám mục đoàn, và là người kế vị hợp pháp của tông đồ, mỗi Giám mục, do sự thành lập và giới lệnh của Chúa Kitô, có bổn phận ân cần săn sóc đến toàn thể Hội Thánh" (GH 23).
2. Các Linh Mục
Bậc thứ hai trong chức tư tế thánh là các Linh Mục. Qua Bí tích Truyền Chức Thánh, các Linh Mục hiệp nhất với chức tư tế sung mãn của Giám mục, và trở thành cộng tác viên trực tiếp của hàng Giám mục, trong việc chu toàn sứ mạng tông đồ do Chúa Kitô ủy thác. "Nhờ Bí tích Truyền Chức Thánh, Linh mục được thánh hiến theo hình ảnh Chúa Kitô, Thầy cả Thượng phẩm vĩnh viễn (x. Dt 5,1-10; 7,24; 9, 11-28), để rao giảng Phúc Âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc phụng tự Thiên Chúa, với tư cách tư tế đích thực của Tân ước" (GH 28).
Được tham dự vào chức tư tế tối cao của Giám mục, các Linh mục chỉ có thể thi hành thừa tác vụ của mình trong sự phục tùng Đức Giám Mục, và hiệp thông với ngài. Các Linh mục cũng làm thành Linh Mục đoàn, dưới quyền lãnh đạo của Đức Giám mục giáo phận. Do đó các linh mục phải tôn kính, yêu mến và vâng lời Đức Giám mục như những người cộng tác viên, những người con, những anh em và bạn hữu của Giám mục. Ngoài ra, giữa các Linh mục với nhau cần có sự hiệp nhất yêu thương, và giúp đỡ nhau bằng tình huynh đệ do bí tích.
3. Các Phó tế
Các Phó tế là bậc sau cùng của Bí tích Truyền Chức Thánh. Các Phó tế không lãnh nhận chức tư tế thừa tác, nhưng họ cộng tác với các Giám mục và Linh mục trong việc phục vụ cộng đoàn dân Chúa. Dự phần cách đặc biệt vào sứ mệnh và ân sủng của Chúa Kitô Thượng tế, và với ấn tín của Bí tích Truyền Chức Thánh, các Phó tế trở nên giống hình ảnh Chúa Kitô, Tôi tớ phục vụ mọi người. (x. Mc 10-45). "Các Phó tế được cử hành trọng thể Phép Rửa, giữ và trao Mình Thánh Chúa, nhân danh Giáo Hội, chứng kiến và chúc lành hôn phối, mang của ăn đàng cho kẻ hấp hối, đọc Thánh kinh cho giáo hữu, giáo huấn và khuyên nhủ dân chúng, chủ tọa việc phụng tự và kinh nguyện của tín hữu, cử hành các Á Bí tích, chủ tọa lễ nghi tang chế và an táng" (GH 29) và hiến thân cho công việc Bác Ái.
IV. Giáo dân đối với các Giám mục và Linh mục
1. Cầu nguyện: Trách nhiệm của các vị chủ chăn trong Hội Thánh rất nặng nề. Các ngài cần được cầu nguyện và nâng đỡ để chu toàn công việc chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó. "Không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện. Không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tụy, nêu gương sáng cho đoàn chiên" (x. 1Pr 5, 2-3). "Xin anh em cầu nguyện cho chúng tôi. Chúng tôi tin rằng chúng tôi có lương tâm ngay lành, muốn ăn ở tốt trong mọi hoàn cảnh" (Dt 10,18; x. Ep 6, 19-20). Giáo dân đừng quên dùng lời cầu nguyện phó dâng cho Thiên Chúa các vị lãnh đạo của mình, để các ngài hoan hỉ mà không than van thi hành nhiệm vụ chăm sóc linh hồn chúng ta, nhiệm vụ mà các ngài sẽ phải trả lẽ (x. Dt 13,17) (GH 37).
2. Tôn kính, yêu mến và vâng lời: Các chủ chăn là những người đại diện Chúa Kitô, nên phải đối xử với các ngài bằng niềm tin, nghĩa là tôn kính, yêu mến và vâng lời, để Thiên Chúa được tôn vinh và các chủ chăn được vui vẻ chu toàn nhiệm vụ. "Anh em hãy vâng lời những người lãnh đạo anh em và hãy phục tùng họ, vì họ chăm sóc linh hồn anh em như những người sẽ phải trả lẽ với Thiên Chúa. Như thế, họ sẽ vui vẻ thi hành phận sự của mình mà không than thở, bởi vì điều đó chẳng ích gì cho anh em" (Dt 13,17). "Thưa anh em, chúng tôi xin anh em hãy quí trọng những ai đang vất vả vì anh em. Hãy lấy tình bác ái mà hết lòng tôn kính những người ấy" (1Tx 5, 12-13).
3. Cộng tác: "Các giáo dân cũng có thể cảm thấy mình được kêu gọi, hoặc thực sự được kêu gọi để cộng tác với các chủ chăn, phục vụ cho cộng đoàn Hội Thánh, giúp cho sự tăng trưởng và sinh hoạt của cộng đoàn, bằng cách thi hành những tác vụ rất khác nhau, tùy theo ân sủng và những đặc sủng mà Chúa sẽ ban cho họ" (LBTM 11). "Hy vọng rằng sự liên lạc mật thiết giữa giáo dân chủ chăn sẽ đem lại rất nhiều lợi ích cho Giáo Hội: thực vậy, nhờ sự liên lạc đó, giáo dân ý thức trách nhiệm mình một cách vững vàng hơn; lòng hăng say của họ được phát triển, và họ góp sức dễ dàng hơn vào công việc của các chủ chăn" (GH 37).
Bài 36
Bí tích Hôn Phối
(x. SGLC từ 1601 đến 1666)
"Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống chung thân mật và cho cộng đoàn tình yêu vợ chồng. Đời sống chung này được gầy dựng do giao ước hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại... Chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác nhau" (MV 48).
I. Hôn nhân trong chương trình của Thiên Chúa
Hôn nhân là sinh hoạt quen thuộc của con người ở mọi nơi và mọi thời. Tuy nhiên, cách nhìn về hôn nhân lại có thể rất khác nhau. Đối với người tín hữu Kitô, hôn nhân không chỉ là chuyện của hai người, nhưng trước hết và trên hết là của chính Thiên Chúa, vì chính Ngài tác tạo hôn nhân (x. MV 48). Chính vì thế, ơn gọi hôn nhân đã được khắc sâu vào bản tính nhân loại, và ẩn bên trong những khác biệt về văn hóa, xã hội, vẫn luôn luôn có những đặc tính chung và thiết yếu cho cuộc sống hôn nhân. Đặc tính ấy là tình yêu bền vững và sự kết hợp bất khả phân ly "người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (St 2,24); đồng thời mở ra cho sự sống qua việc sinh sản con cái "Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất" (St 1,28).
Tuy nhiên, dọc dài lịch sử nhân loại và ngay trong cuộc sống hôm nay, ta lại thường xuyên chứng kiến quá nhiều đổ vỡ của cuộc sống hôn nhân gia đình. Theo cách nhìn của Kinh Thánh, sự đổ vỡ ấy không phát xuất từ bản tính nhân loại, hay từ bản chất của hôn nhân, nhưng từ tội lỗi. Khi con người bẻ gãy mối quan hệ với Thiên Chúa, thì mối quan hệ nam nữ cũng bị tổn thương. Không còn phải là quan hệ yêu thương thực sự, nhưng là quan hệ thống trị và thèm khát (St 3,16). Ơn gọi mở ra với sự sống cũng trở thành nặng nề vì phải đau đớn khi sinh nở và vất vả trong lao công (St 3, 16-19).
Cho dẫu con người xa lìa Thiên Chúa, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người. Ngài tiếp tục nâng đỡ và giáo dục ý thức luân lý liên quan đến hôn nhân và gia đình. Cho dẫu còn bất toàn và phải nhượng bộ "sự cứng lòng của con người" (Mt 19,8), luật Môsê đã giúp bảo vệ người phụ nữ đối với sự thống trị độc đoán của người chồng, cũng như giúp đỡ vợ chồng thoát khỏi xu hướng ích kỷ, đi tìm khoái lạc riêng mình, đồng thời biết mở ra cho một lối sống tự hiến, cho đi. Khi các ngôn sứ đến, các ngài giúp dân Chúa đào sâu ý nghĩa về tính chất duy nhất và bất khả phân ly của hôn nhân (x.Hs 1-3; Is 54, 62). Các tác phẩm trong Cựu ước như sách Ruth, Tôbia, Diệu ca là những tác phẩm mang tính giáo dục cuộc sống hôn nhân rất cao.
Tuy nhiên chỉ với Đức Giêsu, hôn nhân mới tìm lại được phẩm giá đích thực và trọn vẹn của mình. Tin Mừng ghi nhận Đức Giêsu đã thực hiện dấu lạ đầu tiên trong khung cảnh một tiệc cưới (x.Ga 2, 1-11). Như thế, Ngài xác quyết tình thiện hảo của hôn nhân, và hôn nhân trở thành dấu chỉ hiệu nghiệm cho sự hiện diện của Chúa Kitô. Đồng thời trong giáo huấn của Ngài, Đức Giêsu xác lập lại tính bất khả phân ly của sự kết hợp vợ chồng, vì "Điều gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly" (Mt 19,6). Đòi hỏi này có thể vượt quá sức tự nhiên của con người. Nhưng khi tái lập ý định nguyên thủy của Thiên Chúa về hôn nhân, Đức Giêsu cùng nâng đỡ đôi vợ chồng bằng ân sủng và sức mạnh của Ngài, ân sủng tuôn chảy từ thập giá cứu độ (x. Mt 19, 11). Chính vì thế, Thánh Phaolô đã trình bày giao ước hôn nhân trong mối liên kết với giao ước giữa Chúa Kitô và Hội Thánh (x. Ep 5, 25-26). Hôn nhân trở thành Bí tích của giao ước mới, nghĩa là hôn nhân vừa diễn tả giao ước giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, vừa chuyển thông ân sủng để đôi vợ chồng sống ý nghĩa giao ước đó.
II. Cử hành Hôn phối và sự ưng thuận tự do
Chính vì hôn nhân là Bí tích của giao ước giữa Chúa Kitô và Hội Thánh, nên hôn lễ của đôi bạn công giáo thường được cử hành trong Thánh lễ, vì Thánh lễ là sự tưởng niệm Giao ước Mới. Nhờ đó, đôi hôn phối kết hiệp sự hiến dâng cho nhau với hiến tế của Chúa Kitô, và vì cùng thông phần với Mình Máu Chúa Kitô, họ trở nên "một thân mình" trong Chúa Kitô (x. 1Cr 1o, 17). Vì bí tích là hành động thánh hóa, nên để cử hành Bí tích Hôn phối cách xứng đáng và có hiệu quả (Tông Huấn GD 67), đôi hôn phối phải chuẩn bị trước bằng cách lãnh nhận Bí tích Hòa giải.
Trong Bí tích Hôn phối, chính đôi bạn làm nên Bí tích khi họ bày tỏ sự ưng thuận này tự do trước Hội Thánh, nghĩa là họ không bị ép buộc bất cứ vì lý do gì, cũng không bị ngăn cản bởi luật tự nhiên hay luật Hội Thánh. Việc trao đổi sự ưng thuận này là yếu tố tối cần thiết và làm nên hôn phối. Sẽ không có hôn phối nếu không có sự ưng thuận này (x. Gl 1057). Hôn phối không thành sự nếu thiếu tự do. Linh mục hay Phó tế chủ sự nghi thức sẽ đón nhận lời trao đổi ưng thuận của đôi hôn phối, và chúc lành cho họ nhân danh Hội Thánh.
Sự hiện diện của thừa tác viên Hội Thánh nói lên ý nghĩa kết hôn là một hành động mang ý nghĩa Hội Thánh. Đồng thời, vì Bí tích Hôn phối là một hành vi Phụng Vụ, và hôn nhân là một lối sống trong Hội Thánh, nên Hội Thánh yêu cầu đôi bạn cử hành hôn phối theo nghi thức của Hội Thánh. Để cho sự ưng thuận của đôi hôn phối thực sự là hành vi tự do và có trách nhiệm, để cho giao ước hôn nhân có được nền tảng vững chắc và bền vững về mặt nhân bản cũng như tôn giáo, việc chuẩn bị cho các đôi tân hôn là công việc rất quan trọng. Đây là bổn phận không những của các chủ chăn, nhưng còn của các bậc cha mẹ và mọi thành phần dân Chúa.
III. Hiệu quả của Bí tích Hôn phối.
Sự ưng thuận mà đôi bạn trao cho nhau được chính Thiên Chúa đóng ấn. Như vậy, giao ước hôn nhân hội nhập giao ước giữa Thiên Chúa với con người, và "tình yêu vợ chồng đích thực được kết nhập trong tình yêu Thiên Chúa" (MV 48). Vì thế, sợi giây hôn phối liên kết hai người mãi mãi không bị cắt đứt, và Hội Thánh không có quyền đi ngược lại thánh ý Thiên Chúa. "Chúa Kitô ban dồi dào ân phúc cho tình yêu vợ chồng... Như xưa kia Thiên Chúa đến gặp gỡ dân Ngài bằng một giao ước yêu thương và trung thành; ngày nay Đấng Cứu Thế, bạn Trăm Năm của Hội Thánh, cũng đến với đôi vợ chồng qua Bí tích Hôn phối. Người còn ở lại với họ để hai vợ chồng mãi mãi trung thành yêu thương nhau bằng sự tự hiến cho nhau, như Người đã yêu thương Hội Thánh và đã nộp mình vì Hội Thánh" (MV 48). Như thế, ân sủng được ban trong Bí tích Hôn phối nhằm kiện toàn tình yêu vợ chồng, và kiên cường sự hiệp nhất bất khả phân ly.
IV. Ích lợi và đòi hỏi.
1. Đơn nhất và bất khả phân ly
"Họ không còn là hai, nhưng chỉ là một thân mình" (Mt 19,6). Tình yêu hôn nhân liên kết hai người nam nữ thành một, không chỉ trong thân xác, nhưng trong con người toàn diện: thân xác, tình cảm, tinh thần và ý chí. vì thế, sự kết hợp giữa hai người phải mang tính đơn nhất và bất khả phân ly, nghĩa là một vợ một chồng và gắn bó với nhau đến trọn đời. Đòi hỏi này phát sinh từ chính bản chất của tình yêu, nhưng được kiên cường, thanh tẩy và kiện toàn nhờ hiệp thông với Đức Giêsu Kitô. Đòi hỏi đó cũng diễn tả sự bình đẳng nhân vị giữa người nam và người nữ. Vì thế, chế độ đa thê đi ngược lại với tình yêu hôn nhân đích thực.
2. Trung tín
Ở tự bản chất, hôn nhân gọi mời trung tín. Hơn thế nữa, ích lợi của con cái cũng đòi hỏi đôi vợ chồng phải trung tín với nhau. Nhưng đối với người tín hữu, lý do sâu xa nhất của đòi hỏi này là sự trung tín của chính Thiên Chúa trong giao ước với con người và của Chúa Kitô với Hội Thánh. Nhờ Bí tích Hôn phối, đôi vợ chồng khám phá ý nghĩa sâu xa của đòi hỏi trung thành, đồng thời diễn tả ra bên ngoài và làm chứng bằng chính cuộc đời mình. Hội Thánh biết rằng sống được tình yêu trung tín như thế không phải là điều dễ dàng, nhất là trong thời đại hôm nay. Tuy nhiên với ơn Chúa và sự nâng đỡ của cộng đoàn, đôi vợ chồng có thể chia sẻ và làm chứng cho tình yêu trung tín của chính Thiên Chúa và Hội Thánh biết ơn các đôi vợ chồng. Trong một vài trường hợp, khi cuộc sống chung không thể tiếp tục được vì nhiều lý do, Hội Thánh có thể cho phép ly thân. Hai người vẫn là vợ chồng trước mặt Chúa, và hy vọng nhờ tinh thần hòa giải, một ngày nào đó, họ có thể tiếp tục cuộc sống chung như trước. Đối với một số đôi hôn phối đã li dị và kết hôn một lần nữa theo luật dân sự, Hội Thánh không nhìn nhận cuộc hôn nhân mới là thành sự, và vì thế, họ không được Rước Lễ, không được thi hành một vài trách nhiệm trong Hội Thánh, và chỉ được lãnh nhận Bí tích Hòa giải khi ăn năn sám hối và cương quyết sống tiết dục hoàn toàn. Đồng thời Hội Thánh mong ước các Linh mục và cộng đoàn tín hữu quan tâm chăm sóc những anh chị em sống trong hoàn cảnh khó khăn đó, để họ không mang mặc cảm bị tách rời khỏi Hội Thánh, nhưng tiếp tục tham dự Thánh Lễ, lắng nghe Lời Chúa, kiên trì cầu nguyện và thực thi việc bác ái (x. Tông huấn GĐ 84).
3. Trách nhiệm sinh sản
"Tự bản tính, hôn nhân và tình yêu vợ chồng hướng tới việc sinh sản và giáo dục con cái. Con cái vừa là ân huệ cao quí nhất của hôn nhân, vừa góp phần rất lớn vào hạnh phúc của cha mẹ" (MV 58). Việc sinh sản và giáo dục ở đây không chỉ nhằm đến đời sống thể lý nhưng cả đời sống luân lý, tinh thần và tâm linh của con cái. Vì thế, cha mẹ lãnh nhận trách nhiệm giáo dục rất lớn. Đối với những đôi vợ chồng hiếm muộn, cuộc sống hôn nhân của họ vẫn có thể mang đầy ý nghĩa. Thay cho hoa trái là con cái, hoa trái trong cuộc đời họ là lòng bác ái, sự phục vụ và chính hi sinh của họ.
V. Hội thánh tại gia
Thiên Chúa đã làm người trong khung cảnh một gia đình, và Hội Thánh chẳng là gì khác hơn "gia đình của Chúa". Trong thời đại hôm nay, gia đình tín hữu chiếm vị trí quan trọng đặc biệt, là trung tâm tỏa sáng đức tin. Vì thế, Hội Thánh gọi gia đình là "Giáo Hội tại gia". Chính trong khung cảnh gia đình, người tín hữu sống và thể hiện những chức năng chính yếu của Hội Thánh: tư tế, ngôn sứ và vương đế. Gia đình là nơi cha mẹ làm chứng đức tin cho con cái, và giúp con cái khám phá ơn gọi Chúa dành cho nó. Gia đình là nơi các thành viên kết hợp với nhau trong kinh nguyện, trong sự bỏ mình và đời sống thánh thiện. Gia đình cũng là nơi chúng ta học tập những đức tính nhân bản và Kitô giáo, nhất là tinh thần phục vụ, yêu thương, quảng đại và tha thứ. Đối với những anh chị em không kết hôn và phải sống cô độc vì nhiều hoàn cảnh khác nhau, lời của Đứa Gioan Phaolô II thật đáng ghi nhớ: "Trong thế giới này, không ai là không có gia đình. Hội Thánh là ngôi nhà và gia đình của tất cả mọi người, nhất là những ai phải gồng gánh nặng nề" (Tông huấn CĐ 85). Những anh chị em ấy gần gũi với Trái Tim Chúa cách riêng, và các mục tử cần dành cho họ sự chăm sóc đặc biệt.
VI. Sống ơn gọi hôn nhân
1. Trong truyền thống lâu dài của mình, Hội Thánh Công Giáo luôn chú tâm đến cuộc sống hôn nhân gia đình. Ngày nay, cuộc sống hôn nhân đang bị đe dọa trầm trọng, và nhiều gia đình đã hoặc đang có nguy cơ đổ vỡ. chính vì thế, việc chuẩn bị cho các bạn trẻ bước vào đời sống hôn nhân trở nên cần thiết hơn bao giờ. Ở một số giáo xứ, các Linh mục đã tổ chức những khóa chuẩn bị hôn nhân, giúp các bạn trẻ ý thức về nhiều mặt trong cuộc sống gia đình: tâm lý, thiêng liêng, phái tính, kinh tế... Những công việc đó thật đáng khuyến khích và cần nhân lên nhiều hơn nữa.
2. Chúa Kitô ban những ân sủng cần thiết cho đôi vợ chồng trong cuộc sống hôn nhân, nhưng Ngài không cưỡng ép. Chính đôi vợ chồng phải biết đón nhận ân sủng đó, qua tình thương chăm sóc cho nhau, qua kinh nguyện và việc lãnh nhận các Bí tích nhất là Bí tích Hòa giải và Bí tích Thánh Thể. Bí tích Hòa giải giúp họ vượt qua những lỗi lầm trong quan hệ vợ chồng và trong trách nhiệm làm cha mẹ. Bí tích Thánh Thể giúp họ đi sâu hơn vào mối hiệp thông với Chúa, nhờ đó sống mối hiệp thông trong gia đình tốt đẹp hơn.
3. "Có một bậc sống rất giá trị để thể hiện nhiệm vụ ngôn sứ của người giáo dân, đó là đời sống hôn nhân và gia đình. Gia đình là môi trường hoạt động và trường học tuyệt diệu cho việc tông đồ giáo dân" (GH 35). Chính trong gia đình, con cái lãnh nhận những bài học đầu tiên về đức tin, qua gương sáng của cha mẹ. Các bậc cha mẹ cần ý thức điều này, và như thế, bằng chính bổn phận gia đình, họ góp phần vào sứ mạng chung của Hội Thánh.
Bài 37
Các cử hành Phụng Vụ khác
(x. SGLC từ 1667 đến 1690)
"Hội Thánh còn thiết lập những phụ tích. Đó là những dấu chỉ thánh, vì một phần nào phỏng theo những Bí tích; nhờ đó biểu trưng những hiệu quả, nhất là những hiệu quả thiêng liêng - và thông ban hiệu quả đó nhờ sự bầu cử của Hội Thánh" (PV 60).
I. Các Phụ Tích (Á Bí Tích)
1. Đặc tính:
Phụ tích được Hội Thánh thiết lập phỏng theo các bí tích, nhằm mục đích thánh hóa một số thừa tác vụ và bậc sống trong Hội Thánh, cũng như một vài hoàn cảnh và đồ vật có ích cho con người. Việc cử hành phụ tích thường gồm một lời cầu nguyện và một dấu chỉ đặc trưng như: đặt tay, làm dấu Thánh giá, rẩy Nước Thánh (x.SGLC 1668). Các phụ tích không chuyển thông ân sủng giống như các bí tích (hiệu quả do sự) nhưng chuẩn bị cho ta đón nhận các bí tích và cộng tác với ân sủng Thiên Chúa. Nhờ đó "hầu hết mọi biến cố trong đời sống sẽ được thánh hóa... và hầu như không có việc sử dụng của cải vật chất một cách chính đáng nào mà lại không thể đưa tới mục đích thánh hóa con người và ca khen Thiên Chúa" (PV 61).
2. Những hình thức:
Trước hết phải kể đến việc chúc phúc (cho người, thực phẩm, đồ vật, nơi chốn). Trong Chúa Kitô, mọi Kitô hữu được Thiên Chúa chúc phúc (Ep 1,3). Vì thế, Hội Thánh xin Thiên Chúa chúc phúc bằng cách khẩn cầu danh thánh Chúa Giêsu. Phải quan tâm đặc biệt đến một số phụ tích nhằm thánh hiến một con người hoặc một nơi chốn, đồ vật nào đó. Thánh hiến con người như nghi thức tuyên khấn, hoặc ban các thừa tác vụ nhỏ như đọc sách, giúp lễ. Thánh hiến đồ vật và nơi chốn, như nhà thờ, bàn thờ, dầu thánh, lễ phục....
Việc trừ quỷ cũng là một phụ tích. Trong cử hành Bí tích Thánh Tẩy, đã có nghi thức trừ quỷ, nhưng nghi thức trọng thể chỉ được cử hành do một linh mục với sự cho phép của Giám mục.
3. Lòng đạo bình dân:
Bên cạnh phụng vụ bí tích và các phụ tích, còn có những hình thức diễn tả lòng đạo đức trong sinh hoạt của dân Chúa, như: hành hương, rước kiệu, đường Thánh giá, lần chuỗi, tôn kính các thánh tích. Những hình thức này không thay thế nhưng nối dài đời sống phụng vụ của Hội Thánh. Các mục tử cần có sự sáng suốt để nâng đỡ lòng đạo bình dân nơi các tín hữu; đồng thời nếu cần, giúp cho cảm thức tôn giáo đó đi đúng hướng tức là đi sâu vào sự hiểu biết và gắn bó với mầu nhiệm Chúa Kitô. Vì thế phải chiếu theo các mùa phụng vụ để xếp đặt các việc ấy cho hòa hợp với phụng vụ Thánh Thể.
II. Nghi thức an táng Kitô giáo
Trong ánh sáng mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, ý nghĩa của sự chết được bày tỏ. Đối với người Kitô hữu, chết là "lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa" (2Cr 5,8); ngày chết là ngày hoàn thành ơn tái sinh đã bắt đầu trong Bí tích Thánh tẩy, là ngày dự Tiệc Nước Trời đã bắt đầu trong Bí tích Thánh Thể. Hội Thánh là một người mẹ đã cưu mang con trong suốt hành trình trần thế, cũng đi theo người con ấy cho tới điểm cuối của cuộc hành trình, hiến dâng người con đó cho Chúa, trao gởi người con đó cho lòng đất, với niềm hy vọng sẽ được phục sinh vinh hiển (x. 1Cr 15, 42-44). Vì thế, nghi thức an táng của Kitô giáo tràn ngập niềm tín thác và hy vọng. Nghi thức an táng là cử hành phụng vụ chính thức, nhằm diễn tả sự hiệp thông của cộng đoàn với người đã khuất, đồng thời công bố Tin Mừng về đời sống vĩnh cửu và ơn phục sinh trong Chúa Kitô.
Bài 38
Con người là hình ảnh của Thiên Chúa
(x. SGLC từ 1701 đến 1724)
"Hỡi người Kitô Hữu hãy nhận biết phẩm giá của mình vì bạn được thông phần bản tính Thiên Chúa" (Thanh Lêô Cả, Giáo hoàng). "Thực vậy, mầu nhiệm về con người chỉ thực sự sáng tỏ trong Mầu Nhiệm Ngôi Lời Nhập thể... Bởi vì Chúa Kitô đã bày tỏ cho con người biết bản chất đích thực của chính mình và khám phá ra ơn gọi cao cả của mình" (MV 22)
I. Con người có phẩm giá cao cả.
Kinh Tin Kính tuyên xưng vẻ cao cả của muôn hồng ân Thiên Chúa đã trao ban cho con người trong việc sáng tạo, và còn cao cả hơn nữa trong việc cứu độ và thánh hóa con người. Chính Chúa Kitô khi nhập thể làm người, đã mạc khải trọn vẹn cho ta về phẩm giá con người: "Con người có hồn thiêng bất tử là thụ tạo duy nhất trên trái đất được Thiên Chúa dựng nên cho chính họ" (MV 24), và ngay khi thụ thai, con người được dành cho số phận hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Thiên Chúa đã cho con người có phẩm giá là có lý trí để hiểu biết trật tự vạn vật mà Người đã sắp đặt cho, có ý chí để có thể tự mình hướng về sự thiện đích thực, và còn có tự do là "là dấu hiệu đặc sắc nhất về hình ảnh Thiên Chúa nơi họ" (x. MV 17). Nhờ các khả năng đó, con người nhận ra được tiếng nói Thiên Chúa thúc đẩy họ làm lành lánh dữ (MV 16). Tiếng nói này luôn luôn vang lên trong lương tâm họ. Vì thế khi thực thi đời sống luân lý là con người chứng tỏ phẩm giá của mình. Tuy nhiên "ngay từ đầu lịch sử, con người bị quỷ dữ dụ dỗ và họ đã lạm dụng tự do của mình" (MV 13) để làm điều xấu. Dẫu thế con người vẫn còn giữ được lòng ao ước điều thiện, nhưng vì đã bị tổn thương bởi nguyên tội, họ dễ hướng về điều ác và dễ bi sai lầm(x. Mt 13), khiến phẩm giá của họ bị hủy hoại.
II. Chúa Kitô phục hồi phẩm giá con người
Tội lỗi đã hủy hoại phẩm giá cao cả của con người, nhưng Chúa Kitô đã dùng cuộc khổ nạn và phục sinh của Người giải thoát ta khỏi tội lỗi và làm cho ta đáng được sự sống mới trong Thánh Thần. Người phục hồi những gì mà tội lỗi đã hủy hoại. Nếu ta tin vào Chúa Kitô, ta được trở thành con Thiên Chúa nghĩa là được biến đổi để sống đời sống mới trong Thánh Thần, theo gương Chúa Kitô, để luôn hành động ngay chính và thực hành điều thiện. Nhờ đó đời sống luân lý của ta được triển nở, giúp ta tiến tới đức ái toàn hảo, để đạt được vinh quang và hạnh phúc Nước Trời.
III. Con người được mời gọi hưởng hạnh phúc Nước Trời
Tâm điểm việc giảng dạy của Đức Giêsu là Nước Trời và các mối phúc thật. Nước Trời lại gắn liền với các mối phúc (x.Mt 5.3.12). Các mối phúc vừa mô tả khuôn mặt Chúa Kitô (nghèo khó, hiền lành, bị bách hại) vừa mô tả đức ái của Người (thương xót, hòa giải). Chúng cũng soi sáng cho ta hiểu đâu là hành động và thái độ tiêu biểu của đời sống Kitô hữu. Chúng nâng đỡ Kitô hữu trong những lúc gian truân và báo trước Thiên Chúa sẽ chúc phúc cũng như ban thưởng xứng đáng cho họ. Các mối phúc còn đáp ứng khát vọng tự nhiên của con người muốn được hạnh phúc. Khát vọng hạnh phúc này cũng bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, và chỉ có mình Thiên Chúa mới có thể thỏa mãn được. Tân ước đã dùng nhiều cách để diễn tả hạnh phúc Thiên Chúa hứa ban: được nhìn thấy Thiên Chúa (Mt 5,8), được vào hưởng niềm vui (Mt 25,21,23), được vào nơi an nghỉ của Thiên Chúa (Dt 4, 7, 11), được vào Thiên đàng (Lc 23,43), được thông phần bản tính Thiên Chúa (2Pr 1,4), được sống đời đời (Ga 17,3), được vào trong vinh quang của Chúa Kitô (Rm 8,18).
IV. Các mối phúc là tiêu chuẩn để đánh giá và hướng dẫn đời sống.
Các mối phúc giúp ta thấy rõ mục đích của cuộc đời và cùng đích tối hậu của mọi hành vi con người, đó là được chung hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa. Thiên Chúa đặt con người trước các mối phúc để họ phải chọn lựa và quyết định đời sống luân lý của mình. Họ phải nhận biết ý muốn của Thiên Chúa để thanh tẩy mình khỏi những bản năng xấu, loại bỏ quan niệm sai lầm coi hạnh phúc chỉ tại cốt giàu sang, danh vọng, quyền lực, hoặc chỉ cốt tại những công trình loài người, dẫu rất hữu ích như khoa học kỹ thuật. Các mối phúc là con đường dẫn tới Nước Trời. Chúa Kitô phải từng bước dấn thân vào con đường ấy, nhờ Lời Chúa Kitô và ân sủng Chúa Thánh Thần mà thực hiện những hành vi trong đời thường để sinh hoa kết trái tốt đẹp cho đồng loại và làm vinh danh Thiên Chúa.
V. Phẩm giá con người và hạnh phúc vĩnh cửu.
Con người có phẩm giá vì được Thiên Chúa yêu thương, được dựng nên giống hình ảnh Người, nghĩa là có lý trí, có ý chí, có tự do để chọn lựa điều thiện và có thể đạt tới hạnh phúc mà mình khát vọng. Nhờ phẩm giá cao cả đó, con người có thể yêu mến Thiên Chúa, yêu thương nhau, và yêu cả vũ trụ vạn vật nữa. Khi con người sống đúng phẩm giá mình, họ chứng tỏ mình đích thực là hình ảnh của Thiên Chúa, và được trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Con của Chúa Cha (Rm 8,29), được thông phần bản tính Thiên Chúa và hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi. Ơn gọi nầy liên hệ đến bản thân riêng mỗi người trước hết, nên mỗi người phải ý thức phẩm giá và ơn gọi đó, để tự nguyện đáp trả tình thương của Thiên Chúa. Xưa các nhà hiền triết Á Đông chúng ta trực giác bằng con người "linh hơn vạn vật" và đã dạy mỗi người phải lo sống cho xứng danh làm người (chính danh). Họ cũng trực giác rằng con người sinh ra vốn có tính "thiện" (nhân chi sơ tính bản thiện) thích làm điều thiện và khao khát hạnh phúc. Nhưng trong con người vẫn có thú tính nổi lên khiến con người hung dữ, tham lam... Nay nhờ mặc khải của Chúa Kitô, và nhờ ơn cứu độ của Người, Kitô hữu biết rõ hơn chỉ có hai con đường: con đường của Chúa Kitô "dẫn đến sự sống" và con đường ngược lại "dẫn tới diệt vong" (Mt 7,13). Hơn nữa, Kitô hữu còn được ân sủng của Thánh Thần hướng dẫn, trợ lực; vì thế, mỗi người phải sử dụng tự do của mình để suy nghĩ, chọn lựa, và quyết định đi theo con đường của Chúa Kitô, đường dẫn tới hạnh phúc thật trong Nước Trời.
Bài 39
Tự do của con người
(x. SGLC từ 1730 đến 1748).
"Tự do là điều thời nay rất ngưỡng mộ và hăng say theo đuổi... vì tự do đích thực là dấu hiệu đặc sắc nhất về hình ảnh Thiên Chúa nơi con người... vì thế phẩm giá con người đòi hỏi họ phải hành động theo một chọn lựa có ý thức, và tự do, nghĩa là chính họ phải được thúc đẩy và hướng dẫn từ nội tâm chứ không do bản năng hoặc áp lực bên ngoài" (MV 17).
I. Tự do đích thực.
Thiên Chúa tạo dựng con người có lý trí và tự do, nhờ đó có sáng kiến và làm chủ hành vi của mình. Tự do là khả năng hành động hoặc không hành động, làm cái nầy hay làm cái kia, chọn lựa sự thiện hoặc sự ác, tăng trưởng tới toàn thiện hoặc suy sụp trong tội lỗi. Tự do là nguồn mạch sinh ra khen thưởng hoặc quở phạt, có công hay đáng tội. Khi chọn bất tùng phục hoặc chọn sự ác là ta lạm dụng tự do, và làm cho mình "nô lệ tội lỗi" (x.ra 6,17). Trái lại, khi ta càng làm điều thiện, ta càng tự do hơn. Như vậy, con người chỉ tự do đích thực khi phục vụ điều thiện và sự công chính; và tự do ấy chỉ đạt tới hoàn hảo khi họ tìm kiếm Đấng Tạo Hóa và tự nguyện gắn bó với Người, nhờ đó họ đạt tới hạnh phúc thật. Đức Maria và các Thánh là những người tự do đích thực.
II. Tự do và trách nhiệm.
Khi con người đã suy nghĩ và chủ ý hành động một cách tự do thì con người bị ràng buộc với hành động đó, nghĩa là phải chịu trách nhiệm về hành động của mình. Tất cả mọi hành động do con người đã trực tiếp muốn thì trách nhiệm qui về họ. Trách nhiệm nầy có thể giảm bớt thậm chí có thể không còn nữa, do họ đã không hiểu biết, hoặc do vô tình mà làm, do bị bạo lực hay bị sợ hãi, do quá quen hoặc do cảm xúc quá mạnh, do các nhân tố tâm thần hoặc xã hội khác... Như vậy tự do là đặc tính của các hành vi thuộc con người, được gọi là hành vi nhân linh. Vì thế mỗi người đều có quyền tự nhiên đòi người khác phải thừa nhận mình là người có tự do và trách nhiệm; và khi mỗi người hành xử quyền tự do của mình là phải hành xử trong tôn trọng quyền hành xử tự do của người khác. Quyền hành xử tự do là một đòi hỏi không thể tách rời khỏi phẩm giá con người, nhất là trong vấn đề luân lý và tôn giáo. Quyền đó đòi dân luật phải công nhận cũng như bảo vệ trong những gì liên quan đến công ích và trật tự công cộng. Con người có trách nhiệm về tự do của mình và tôn trọng tự do chính đáng của người khác.
III. Tự do và tội lỗi.
Vì có ý chí tự do nên mỗi người phải tự quyết định về chính mình. Tuy nhiên tự do của con người chỉ có giới hạn và dễ lầm lẫn. Mà sự thực là họ đã lầm lẫn đã tự ý phạm tội, đã tự dối mình để chối bỏ dự án yêu thương của Thiên Chúa, và trở thành nô lệ tội lỗi. Việc con người sử dụng sai tự do của mình lúc ban đầu đã sinh ra muôn ngàn sai lầm khác khiến "từ lòng người phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp... " (Mc 7,21,23) gây nên bao điều bất hạnh và áp bức suốt dòng lịch sử. Tự do của con người chỉ giới hạn nghĩa là họ không có quyền nói và làm bất cứ điều gì. Do đó, thật là sai lầm khi "con người tự coi mình được làm chủ tự do của mình, được tự túc để thỏa mãn tư lợi trong việc hưởng thụ của cải trần gian" (Thánh bộ Đức Tin). Ngoài ra, họ còn thường bỏ qua và vi phạm cả những điều kiện để hành xử tự do cách chính đáng trong phạm vi kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa... chẳng hạn chủ trương kinh tế chỉ huy độc tài quân phiệt, độc đảng, tôn giáo độc quyền... Những mù quáng và bất công đó khiến cho kẻ mạnh cũng như người yếu đuối bị cám dỗ vi phạm luật bác ái. Làm như thế con người gây tổn thương cho chính tự do của mình, trở thành nô lệ chính mình và cắt đứt tình anh em với mọi người, cũng như nổi loạn chống Thiên Chúa.
IV. Tự do và ân sủng.
Con người đã hành xử tự do sai lầm nên bị giam cầm trong nô lệ tội lỗi và sự xấu. Nhưng "Chúa Kitô đã dùng thập giá vinh quang để giải thoát cho ta được tự do" (Gl 5,1), và ban cho mỗi người quyền thống trị tội, đồng thời giúp ta tìm lại ý nghĩa của tự do, nhờ đó ta có thể đạt tới điều thiện và chu toàn ơn gọi "làm con cái Thiên Chúa" (Rm 8,21). Như thế, Chúa Kitô vừa ban khả năng vừa ban cả phương tiện để ta có thể đạt tới điều thiện cao nhất, đạt tới chí thiện "như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5,48). Khả năng và phương tiện ấy, giáo lý gọi là ân sủng. Nhưng khi ban ân sủng cho ta, Thiên Chúa không cưỡng bức hay trấn áp ta, mà chỉ mời gọi ách dịu dàng êm ái. Ta luôn vẫn hoàn toàn tự do. Ta nghe theo để tiếp nhận khả năng cũng như phương tiện Thiên Chúa ban thì ta được phúc. Trái lại, ta nhất quyết từ chối hay phản đối thì ân sủng trở thành vô ích, chỉ còn lại lòng thương xót vô cùng của Thiên Chúa và lòng chai đá cứng cỏi của ta. Ân sủng của Chúa không cạnh tranh với tự do của ta, mà trái lại, hễ ta càng buông mình theo thúc đẩy của ân sủng thì tự do nội tâm của ta càng tăng triển, và ta càng được kiên vững trong thử thách cũng như trước mọi áp lực và cưỡng bức của trần gian; như kinh nghiệm cầu nguyện chứng tỏ. Chúa Thánh Thần là Đấng thánh hóa sẽ dùng ân sủng để giáo dục tự do nội tâm của chúng ta, giúp ta trở thành những cộng tác viên tự nguyện cho công trình của Người trong Hội Thánh và thế giới.
V. Tự do của con cái Thiên Chúa.
Các nhà hiền triết Á Đông chúng ta xưa, chưa được ánh sáng Thiên Chúa mặc khải, nhưng đã trực giác rằng con người thuở ban sơ vốn có tính "thiện" và vẫn ấp ủ mơ ước đạt tới chí thiện, tuy chưa rõ chí thiện là gì. Khi Chúa Kitô đến, Người đã giải thoát ta khỏi nô lệ tội lỗi và mặc khải cho biết chí thiện là "hoàn thiện như Cha trên trời"(Mt 5,48). Tuy nhiên đó là lý tưởng siêu việt, con người tội lỗi làm sao vươn tới được, nhưng ta có ơn gọi và gương mẫu vừa tầm ta hơn là Đức Giêsu Kitô, Con Chúa Cha, Đấng đã xuống thế làm người để trở nên Trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (x.ra 8,29). Ơn gọi của ta là trở nên nghĩa tử của Chúa Cha, trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô "Đấng đã giải thoát chúng ta để chúng ta được tự do" (Gl 5,1). Do đó ta có bổn phận tự nguyện đáp trả ơn gọi ấy bằng cách luôn chiến đấu để đạt tới "tự do của con cái Thiên Chúa" (Rm 8,21). Thánh Phêrô căn dặn "Anh em hãy sống như những người tự do, không phải như những người lấy tự do làm màn che sự gian ác, nhưng như tôi tớ của Thiên Chúa" (1Pr 2,16). Thánh Phaolô cũng khuyên: "Anh em đã được gọi để hưởng tự do, có điều là đừng lợi dụng tự do để sống theo xác thịt, nhưng hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau" (Gl 5,13). Đó là cuộc chiến đấu thường ngày của mỗi người, cuộc chiến đấu không dễ dàng, vì Đức Giêsu cũng đã bị cám dỗ, Kitô hữu luôn phải đối diện với cám dỗ thử thách. Kitô hữu phải không ngừng chế ngự và thuần hóa cái lý trí và ý chí phàm tục, thường chống lại tự do của con cái Thiên Chúa. Chế ngự và thuần hóa bằng cách buông theo ân sủng của Chúa Thánh Thần, bởi vì "ở đâu có Thần Khí của Chúa, ở đó có tự do" (2Cr 3,17). Thần Khí của Chúa giúp ta trở nên tôi tớ để phục vụ Thiên Chúa và anh em như Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
Bài 40
Trách Nhiệm Luân Lý
(x. SGLC từ 1749 đến 1775).
"Xét theo phẩm giá, mọi người vì là những nhân vị, nghĩa là người có lý trí và ý chí tự do, nên phải chịu trách nhiệm về cá nhân mình" (Tuyên ngôn về tự do tôn giáo 2)... Vậy trước tòa án Thiên Chúa, mỗi người sẽ phải trả lẽ về đời sống của mình tùy theo chính họ đã làm điều thiện hay điều ác" (MV 17).
I. Chủ thể luân lý và hành vi nhân linh.
Mỗi người là một nhân vị, nghĩa là có những đặc thù là họ khác biệt với các hữu thể khác, và làm nên phẩm giá cũng như quyền hạn của họ. Nhân vị có đặc tính nổi bật nhất là chủ thể tính, nghĩa là làm chủ nhân duy nhất của các hành vi cũng như của việc thực hiện bản thân mình. Mỗi người là một nhân vị, nên là một chủ thể, nhưng họ phải làm chủ mình và các quyền hạn của mình, sao cho nhân vị mình được triển nở phù hợp với phẩm giá; và họ còn nghĩa vụ phải tôn trọng chủ thể và quyền hạn của các nhân vị khác trong xã hội. Làm chủ như thế con người trở thành một chủ thể luân lý. Và khi con người hành xử quyền làm chủ và các nghĩa vụ của mình thì những hành vi nào phát xuất từ ý chí tự do đều được gọi là hành vi nhân linh. Như vậy khi hành xử tự do theo lý trí thì con người trở thành một chủ thể luân lý. Và hành vi phát xuất từ phán đoán và tự do chọn lựa ấy, xét về mặt luân lý, là hành vi nhân linh, hành vi có thể tốt hay xấu, có tính luân lý.
II. Tính luân lý (tốt xấu) của hành vi nhân linh.
Tính luân lý của hành vi nhân linh tùy thuộc vào ba nguồn là: đối tượng được chọn, mục đích nhắm tới hay ý tưởng, và hoàn cảnh của hành vi. Ba nguồn nầy là những yếu tố làm cho hành vi nhân linh có tính luân lý.
Đối tượng được chọn là: Tiêu chuẩn đầu tiên để xét xem một hành vi tốt hay xấu. Đối tượng được chọn sẽ định loại hành vi là tốt xấu, tùy theo lý trí nhận xét và phán đoán nó có phù hợp hay không với sự thiện đích thực. Chọn một đối tượng tự bản tính là xấu thì toàn bộ hành vi là xấu, dầu ta có nhắm tới mục đích nào hoặc làm trong hoàn cảnh nào. Chẳng hạn chọn đối tượng là tà dâm, một điều tự bản chất là xấu thì dầu có nhắm tới mục đích hay ở trong hoàn cảnh nào cũng vẫn là hành vi xấu.
Mục đích nhắm tới hay ý hướng đây là yếu tố chủ chốt để đánh giá tính luân lý của hành vi, chúng có thể làm thay đổi hoàn toàn bản chất luân lý của đối tượng và khiến đối tượng tốt có thể thành xấu. Bởi vì cũng một đối tượng nhưng mục đích nhắm tới và ý hướng thúc đẩy lại khác nhau. Chẳng hạn phục vụ hay bố thí có thể vì yêu mến Chúa, vì muốn giúp đỡ tha nhân, cũng có thể để mong nhận lại một ân huệ, hoặc để khoe mình lấy tiếng... Nhưng mục đích không thể biện minh cho phương tiện.
Hoàn cảnh của hành vi, bao gồm cả các hậu quả của nó, là những yếu tố phụ thuộc vào hành vi luân lý, chúng có thể làm hành vi tốt hơn hay xấu hơn, hoặc làm cho chủ thể hành vi thêm hoặc bớt trách nhiệm. Các hoàn cảnh tự chúng không thể biến đổi tính luân lý của hành vi.
III. Đam mê và đời sống luân lý.
Con người tự điều hành mình tới hạnh phúc nhờ các hành vi nhân linh, trong đó các đam mê có phần đóng góp quan trọng. Theo truyền thống Kitô giáo, đam mê là những cảm xúc hoặc những chuyển động mạnh mẽ của tình cảm, hướng con người đến hành động hoặc không hành động, tùy theo họ cảm thấy hoặc tưởng là tốt hay xấu. Đam mê là chỗ giao lưu giữa sinh hoạt cảm giác và sinh hoạt của tinh thần. Nó gồm nhiều thứ, nhưng căn bản nhất là yêu thương. Từ đam mê căn bản nầy phát xuất ra các đam mê khác: yêu thương được thỏa mãn thì vui mừng, chưa được thì ham muốn, được nhưng chưa chắc thì sợ mất, muốn mà không được thì buồn, bị phản bội thì giận ghét... Xét về mặt luân lý, đam mê tự bản chất thì không xấu cũng không tốt. Đam mê là những cảm xúc sôi nổi làm chuyển biến cơ thể con người (khóc, cười, đỏ mặt, tái xanh, run... ) và có vai trò quan trọng trong đời sống luân lý. Đam mê được đánh giá tốt hay xấu tùy theo chúng thực sự bị chi phối bởi lý trí và ý chí, và khi chúng góp phần vào một hành vi tốt hay xấu. Vì thế con người phải làm chủ để sử dụng các đam mê, không tiêu diệt chúng cũng không để chúng tung hoành phóng túng. Những đam mê được sử dụng tốt có thể trở thành nhân đức (yêu thương biến thành bác ái...) trái lại, nếu để chúng phóng túng có thể biến thành tính xấu (buồn biến thành thất vọng...). Kitô hữu còn được Chúa Thánh Thần trợ giúp để sử dụng và quy hướng đam mê tới các nhân đức Tin, Cậy, Mến để có thể hiệp thông với Thiên Chúa, với nhau và với vũ trụ vạn vật, đảm bảo cho hạnh phúc cả đời nầy lẫn đời sau.
IV. Lý trí và con tim.
"Muốn đạt được sự thiện luân lý tới mức toàn hảo, con người cần được động viên không những chỉ bởi ý chí mà còn bởi cả con tim nữa" (Sách Giáo lý 1775) Thiên Chúa đã ban cho con người phẩm giá cao cả là vừa có lý trí vừa có con tim, con người phải sử dụng mọi năng lực của mình trong việc theo đuổi ơn gọi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Nhưng con người đã bị thương tổn vì nguyên tội, nên càng phải tự mình cố gắng và cậy nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần trợ giúp mới làm chủ các năng lực đó cách hài hòa và kiên trì được. Đó chính là trách nhiệm của Kitô hữu đối với ơn gọi của mình. Kitô giáo nói đến đam mê, còn người Á Đông chúng ta gọi là "thất tình" (bảy tình) đó là: vui (hỉ), giận (nộ), buồn (ai), sợ (cụ), yêu (ái), ghét (ố), ham muốn (dục). Kitô giáo cũng như các nhà hiền triết Á Đông chúng ta không chủ trương diệt các đam mê, nhưng mời gọi ta làm chủ và quy hướng chúng về mục đích tốt, về "chí thiện" (Sự thiện toàn hảo), chẳng hạn không ham muốn giàu sang nhưng ham muốn làm vinh danh Thiên Chúa; hoặc mời gọi ta giữ cho chúng không thái quá, không bất cập, giữ sự "trung dung" đúng nghĩa, chẳng hạn buồn mà không thất vọng, giận mà không phạm tội... Dùng lý trí để làm chủ đam mê và hướng chúng tới "chí thiện" thì trí năng được khích thích và dễ thăng tiến, ý chí được tăng cường và dễ kiên quyết. Khi lý trí và con tim cùng chung sức và nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần trợ giúp, con người chắc chắn đạt tới chí thiện.
Bài 41
Lương tâm
(x. SGLC từ 1776 đến 1802).
"Dân ngoại là những người không có luật Môsê, nhưng mỗi khi họ theo lẽ tự nhiên mà làm những gì luật dạy thì họ là luật cho chính mình, mặc dù họ không có luật Môsê. Họ cho thấy là điều gì luật đòi hỏi thì đã được khắc ghi trong lòng họ, lương tâm họ cũng chứng thực điều đó, vì họ tự phán đoán trong lòng, khi thì cho mình là trái, khi thì cho mình là phải" (Rm 2,14-16).
I. Lương tâm là gì?
Dù có niềm tin tôn giáo hay không, mỗi người đều khám phá ra tận đáy lòng mình có một tiếng nói, một lề luật mà chính mình không đặt ra, nhưng vẫn luôn nhắc nhở mình phải tuân theo. Tiếng nói ấy vang lên rất đúng lúc, kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác (x.MV 16). Ta gọi tiếng nói ấy là lương tâm, và bởi vì tất cả mọi người đều nhìn nhận sự có mặt của lương tâm, nên lương tâm trở thành nền tảng để tất cả mọi người cùng tìm kiếm và giải quyết những vấn đề luân lý trong cuộc sống cá nhân cũng như trong cuộc sống xã hội. Đối với người Kitô hữu, lương tâm là tâm điểm sâu kín nhất và là nơi Thiên Chúa hiện diện trong lòng người. Ở đó "con người hiện diện một mình với Thiên Chúa và tiếng nói của Người vang dội trong thâm tâm họ" (MV 16). Chính vì thế, khi nghe theo tiếng lương tâm, ta có thể cảm nhận được Thiên Chúa đang nói với mình, và nhờ phán quyết của lương tâm, ta ý thức và nhận ra những quy luật của Thiên Chúa. Để có thể nghe được và tuân theo tiếng lương tâm, cần phải lắng đọng tâm hồn và nhìn vào phía bên trong. Cuộc sống hôm nay quá ồn ào và vội vã, con người hôm nay có khuynh hướng trốn tránh suy nghĩ, hồi tâm và kiểm điểm. Càng sống trong thời đại như thế, ta càng cần phải tập thói quen trở về với chính mình trong thinh lặng và suy niệm; nhờ đó có thể gặp gỡ Chúa là Đấng ở trong ta còn sâu hơn chính ta (Âu tinh).
II. Huấn luyện lương tâm.
Lương tâm đã được Thiên Chúa đặt để nơi lòng người chứ không do con người tạo nên, tuy nhiên lương tâm ấy có thể bị biến chất do những điều kiện sống chung quanh. Vì thế, cần phải huấn luyện lương tâm, để có thể phán đoán ngay thẳng và chân thật.
Lương tâm ngay thẳng bao gồm ba yếu tố:
• Nhận biết các nguyên tắc luân lý.
• Ứng dụng những nguyên tắc ấy vào những hoàn cảnh cụ thể.
• Phán quyết về các hành vi cụ thể đã làm hay sắp làm.
Huấn luyện lương tâm là nhiệm vụ phải thực hiện suốt đời. Công việc ấy phải được bắt đầu từ thuở ấu thơ, vì đây là giai đoạn rất quan trọng trong việc hình thành nhân cách. Được huấn luyện tốt, lương tâm sẽ trở thành tấm bảng chỉ đường quý giá, dẫn con người đến tự do đích thực, và mang lại sự bình an cho tâm hồn. Trong việc huấn luyện lương tâm, Lời Chúa đóng vai trò rất quan trọng. Vì "lương tâm là vị đại diện thứ nhất trong các đại diện của Chúa Kitô" (Newman), nghĩa là lương tâm chính là Lời của Chúa Kitô ở mức độ khởi đầu; cho nên nhờ ánh sáng Lời Chúa, lương tâm sẽ đạt đến sự phát triển trọn vẹn.
III. Để có thể chọn lựa đúng đắn theo lương tâm.
Kinh nghiệm cho thấy khi phải đứng trước một chọn lựa, lương tâm có thể phán đoán đúng, theo lý trí và luật Thiên Chúa, nhưng cũng có thể phán đoán sai.
1. Phán đoán sai:
Những lệch lạc trong phán đoán luân lý có thể xuất phát từ nhiều lý do: thiếu hiểu biết về Chúa Kitô và Tin Mừng, gương xấu của người khác, nô lệ các đam mê, quan niệm sai lầm về tự do lương tâm, khước từ quyền bính và giáo huấn của Hội Thánh, thiếu hoán cải và bác ái.
Thông thường, mỗi người phải chịu trách nhiệm về sự thiếu hiểu biết của mình, nhất là khi họ "không lo lắng tìm kiếm chân lý và điều thiện, hoặc vì thói quen phạm tội mà lương tâm dần dần trở nên mù quáng" (x.MV 16). Tuy nhiên nếu không thể khắc phục tình trạng thiếu hiểu biết hoặc phán đoán sai lầm không phải do bản thân mình, thì người đó không phải chịu trách nhiệm về điều xấu đã làm.
2. Chọn lựa đúng:
Để có thể chọn lựa đúng đắn theo lương tâm ngay thẳng, ta phải dựa vào đức khôn ngoan, lời khuyên bảo của những người hiểu biết cũng như sự trợ lực của Chúa Thánh Thần.
Tuy nhiên có một vài nguyên tắc có thể áp dụng trong mọi hoàn cảnh:
• Không được lấy mục đích tốt biện minh cho phương tiện xấu.
• Khuôn vàng thước ngọc "tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta" (Mt 7,12).
• Đức Ái Kitô giáo đòi hỏi ta phải tôn trọng tha nhân và lương tâm của họ. Vì thế không được xúc phạm đến tha nhân hoặc làm gương xấu cho người khác.
Bài 42
Các Nhân Đức
(x. SGLC từ 1903 đến 1845).
"Những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực, tinh tuyền, những gì đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh đáng khen thì xin anh em hãy để ý và Thiên Chúa bình an sẽ ở với anh em" (Pl 4,8-96).
Đối với người Việt Nam, chữ Đức đóng một vai trò rất quan trọng, và Đức được hiểu là "cái biểu hiện tốt đẹp của đạo lý trong tính nết, tư cách, hành động của con người" (Từ điển tiếng Việt NXB Khoa học Xã hội Hà Nội 1988). Đã biết Đạo thì phải sống Đạo, và cuộc sống ấy thể hiện qua cái Đức. Quan niệm nầy thật gần gũi với người tín hữu Kitô. Với Kitô hữu, nhân đức là một xu hướng thường xuyên và kiên định để làm điều thiện. Người nhân đức là người hướng về điều thiện với tất cả năng lực thể xác và tinh thần. Vậy đâu là những nhân đức căn bản của đời sống Kitô hữu, và phải làm gì để có được những nhân đức ấy?
I. Các đức tính nhân bản.
Các đức tính nhân bản là những xu hướng bền vững, dẫn đến thái độ kiên định và thói quen hướng thiện của lý trí và ý chí; nhờ đó con người điều chỉnh các hành vi và cách sống của mình theo lý trí và đức tin. Có bốn đức tính căn bản: khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ.
Khôn ngoan là đức tính giúp ta nhận ra đâu là điều thiện đích thực trong từng hoàn cảnh, và khi đã nhận ra thì biết chọn lựa phương thế thích hợp để đạt tới. Không nên lầm lẫn khôn ngoan với nhút nhát và sợ hãi, lại càng không thể đồng hóa khôn ngoan với sự tráo trở, giả hình. Nhờ khôn ngoan ta biết ứng dụng lề luật luân lý vào những hoàn cảnh cụ thể để thi hành điều thiện cách tốt đẹp nhất.
Công bình là trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa, và trả cho tha nhân những gì thuộc về họ. Công bình đối với Thiên Chúa được gọi là "nhân đức thờ phượng" còn đối với con người, công bình là tôn trọng quyền lợi của mỗi người, đối xử công minh với mọi người và thực thi công ích.
Can đảm là kiên trì và quyết tâm theo đuổi điều thiện cho dẫu có nhiều khó khăn cản lối. Nhờ đó, ta cương quyết chống lại các cơn cám dỗ, vượt qua các chướng ngại trong đời sống luân lý, chiến thắng sự sợ hãi kể cả cái chết để dám sống cho chính nghĩa.
Tiết độ là biết điều tiết sức lôi cuốn của những lạc thú và sử dụng đúng mức những của cải trần thế. Nhờ đó ta làm chủ được các bản năng tự nhiên và kiềm chế các ham muốn trong giới hạn chính đáng.
Những đức tính nầy được gọi là nhân bản nghĩa là thuộc về con người. Đã là người, phải có những đức tính căn bản đó. Nhiều người tuy không có niềm tin tôn giáo nhưng vẫn có những đức tính đáng quý nầy. Người Kitô hữu lại cần phải có những đức tính nhân bản hơn những người khác, vì muốn làm con Thiên Chúa thì trước hết phải sống cho ra người. Có được những đức tính nhân bản là nhờ giáo dục, sự kiên trì tập luyện và thực hành trong đời sống. Tuy nhiên tội lỗi đã làm con người bị tổn thương; vì thế, ngoài những nỗ lực tự nhiên, ta còn cần đến ơn Thiên Chúa nâng đỡ nhờ cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích và cộng tác với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.
II. Các nhân đức đối thần.
Gọi là nhân đức đối thần vì những nhân đức nầy quy chiếu trực tiếp về Thiên Chúa như căn nguyên, động lực và đối tượng. Đối với Kitô giáo, các nhân đức đối thần là nền tảng và linh hồn của toàn bộ đời sống luân lý. Thiên Chúa ban cho ta những nhân đức nầy, để ta có khả năng hành động như con cái Thiên Chúa và đáng hưởng sự sống đời đời. Có ba nhân đức đối thần: Tin, Cậy và Mến (x.1Cr 13,13).
1. Đức Tin:
Đức Tin là một nhân đức nhờ đó ta tin vào Thiên Chúa, tin tất cả những gì Người nói và mặc khải, cũng như những gì Hội Thánh dạy ta phải tin. Đức Tin là một hồng ân nhưng đồng thời cũng là sự đáp trả của con người trước hồng ân của Thiên Chúa. Sự đáp trả ấy mang tính toàn diện nghĩa là của cả lý trí, tình cảm và hành động. Vì thế, đức tin phải được diễn tả ra ngoài bằng việc làm cụ thể. "Đức tin không có việc làm là đức tin chết tận gốc rễ" (Gc 2,26). Hơn thế nữa, người môn đệ Chúa Kitô còn phải can đảm làm chứng và truyền bá đức tin (x.GH 42). Đòi hỏi nầy xuất phát từ chính bản thân của đức tin, và là đòi hỏi cần thiết để được cứu độ "Ai nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 10,32-33).
2. Đức Cậy:
Đức Cậy là nhân đức nhờ đó ta khao khát Nước Trời, và sự sống vĩnh cữu như hạnh phúc của đời mình, tin tưởng vào các lời hứa của Chúa Kitô, và phó thác vào ơn trợ lực của Chúa Thánh Thần. Con người ta sống không thể không có hy vọng, nếu không nói là người ta sống nhờ hy vọng. Nhưng điều quan trọng là hy vọng vào ai, hy vọng cái gì? Và làm thế nào để đạt tới? Đối với người Kitô hữu, đích điểm của hy vọng không chỉ là hạnh phúc trần thế, nhưng chính là Chúa, là Nước trời và sự sống vĩnh cửu. Đồng thời người Kitô hữu ý thức rằng tự mình không thể đạt tới hạnh phúc vĩnh cửu ấy, nhưng phải nương tựa vào Chúa. Chính vì thế hy vọng trở thành cậy trông. Đức cậy trông là cái neo chắc chắn bền vững của tâm hồn, là vũ khí bảo vệ ta trong cuộc chiến thiêng liêng, và mang lại cho ta niềm vui ngay giữa những gian truân thử thách. "Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân... " (Rm 12,12). Đời sống cầu nguyện vừa diễn tả vừa nuôi dưỡng đức cậy trông, vì thế ta cần phải đi sâu hơn mỗi ngày vào đời cầu nguyện.
3. Đức Mến:
Đức Mến là nhân đức nhờ đó ta yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự vì chính Chúa, và vì yêu mến Thiên Chúa, ta yêu mến người thân cận như chính bản thân. Đức Mến thúc đẩy ta sống con thảo với Cha trên trời, và là anh em của mọi người. Trong ngôn ngữ Việt Nam, người nhân đức là "kẻ có lòng thương người" (x. Từ điển tiếng Việt); nghĩa là lòng yêu thương được coi như cốt lõi của đạo đức. Quan điểm nầy thật gần gũi với đạo Kitô, vì Đức Giêsu đã đặt đức mến làm điều răn mới. Đức mến được coi là "mối dây liên kết tuyệt hảo" (Cl 3,14) là linh hồn của mọi nhân đức, sự viên mãn của lề luật, là nguồn mạch và cùng đích của việc thực hành các nhân đức: "Hiện nay đức tin, đức cậy và đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến" (1Cr 13,13). Chúa Kitô chính là gương mẫu cao cả nhất. Ngài đã chịu chết vì yêu mến ta ngay lúc ta còn thù nghịch với Thiên Chúa (x.ra 5,10). Vì thế, Ngài mời gọi ta yêu thương như Người (x.Mt 5,44) yêu cả kẻ thù và đón nhận người bé mọn nghèo hèn như đón nhận chính Ngài (Mt 25,40-45). Ngoài ba nhân đức đối thần, Chúa Thánh Thần còn ban các hồng ân và hoa trái thiêng liêng, giúp người tín hữu dễ dàng sống theo sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Bảy ơn Chúa Thánh Thần là: Ơn khôn ngoan, ơn thông minh, ơn biết lo liệu, ơn dũng cảm, ơn hiểu biết, ơn đạo đức và ơn biết kính sợ Chúa. Truyền thống của Hội Thánh cũng nói đến 12 hoa trái của Thần Thánh: "Bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nại, nhân từ, lương thiện, hiền hòa, khoan dung, trung tín, khiêm nhu, tiết độ và thanh khiết" (Gl 5,22-23).
Bài 43
Tội Lỗi
(x. SGLC từ 1846 đến 1876).
"Nếu chúng ta nói là mình không có tội thì chúng ta tự lừa dối chính mình và sự thật không có trong ta. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi mình thì Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho ta và thanh tẩy ta sạch mọi điều bất chính" (1Ga 1,8-9).
I. Tội lỗi và lòng Thiên Chúa thương xót.
Thánh Âu tinh định nghĩa tội là "Một lời nói, một hành vi, một ước muốn trái với lề luật vĩnh cửu". Tuy nhiên phải nhìn thấy đàng sau lề luật ấy là giao ước yêu thương giữa con người và Thiên Chúa. Cũng như một người chồng khi phạm tội ngoại tình, anh ta không chỉ vi phạm Luật Hôn Nhân gia đình, nhưng chủ yếu là anh đã xúc phạm đến vợ mình, và giao ước yêu thương hai người đã ký kết. Chính vì thế, tội là sự xúc phạm đến chính Thiên Chúa, là chống lại tình yêu Thiên Chúa dành cho ta, là yêu mình đến độ khinh thị Thiên Chúa. Nhưng cho dẫu con người tội lỗi, Thiên Chúa vẫn thương xót con người. Lòng thương xót ấy được bầy tỏ cụ thể nơi Đức Giêsu, nhất là trong cuộc khổ nạn của Người. Suốt cuộc sống công khai, Đức Giêsu không ngừng rao giảng lòng thương xót của Thiên Chúa và ban ơn tha thứ cho tội nhân. Tuy nhiên chính trong cuộc khổ nạn mà tấm lòng của Thiên Chúa được bày tỏ cách trọn vẹn. Ở đó, tội lỗi bộc lộ tính hung bạo và đa dạng của nó: sự cứng lòng và thái độ thù hận của các thủ lãnh và dân chúng, sự hèn nhát của Philatô và độc ác của quân lính, sự phản bội của Giuđa và sự chối bỏ của Phêrô, cũng như thái độ bỏ rơi của các môn đệ. Nhưng cũng chính vào giờ tối tăm ấy, Chúa Kitô đã tự hiến và âm thầm trở nên nguồn mạch vô tận thông ban ơn tha tội cho chúng ta.
II. Hình thái và mức độ của tội.
Tội lỗi rất đa dạng. Trong thư Rôma, Thánh Phaolô đã liệt kê các thứ tội "Dâm bôn, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hòa, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tị, say sưa, chè chén và những điều khác như vậy" (1,28-32). Thông thường người ta phân biệt tội theo đối tượng, nghĩa là dựa vào các điều răn mà tội nhân vi phạm. Cũng có thể phân biệt tội dựa vào tương quan của ta với Thiên Chúa, với tha nhân hoặc với chính bản thân. Tuy nhiên, nguồn gốc sâu xa của mọi tội lỗi là chính lòng người "Vì tự lòng xuất phát những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống. Đó chính là những cái làm cho con người ra ô uế" (Mt 15,19-20). Tội lỗi có nhiều mức độ. Truyền thống Hội Thánh nhìn nhận cách phân biệt tội trọng và tội nhẹ như đã có trong Kinh Thánh.
1. Tội trọng:
Một tội được coi là trọng khi hội đủ ba yếu tố: Phạm một lỗi nặng, có ý thức đầy đủ và cố tình. Lỗi nặng được xác định trong mười điều răn và Đức Giêsu lập lại: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thảo kính cha mẹ (x.Mc 10,14). Giữa các tội nầy, có tội nặng hơn và tội nhẹ hơn. Mức độ tội lỗi cũng tùy thuộc vào tương quan của tội nhân với phẩm giá của người bị xúc phạm, nếu hành hung cha mẹ thì nặng tội hơn hành hung người lạ. Có ý thức đầy đủ là biết hành vi đó là tội, trái với luật Thiên Chúa. Nếu thiếu hiểu biết ngoài ý muốn, tội nhân có thể được giảm hoặc miễn trách nhiệm. Nhưng không ai được coi là không biết đến những nguyên tắc của luân lý đã được ghi khắc trong lương tâm của mỗi người. Cố tình là đã biết, suy nghĩ cặn kẽ và ưng thuận. Nó trở thành một lựa chọn cá nhân, và tội nhân phải chịu trách nhiệm về lựa chọn của mình. Khi phạm tội trọng, con người đánh mất đức mến, tự tước bỏ ơn thánh hóa, tức là tình trạng ân sủng và phần rỗi đời đời bị đe dọa. Tuy nhiên quyền phán xét một con người là quyền thuộc về Thiên Chúa, Đấng công minh và cũng là Đấng giàu lòng xót thương.
2. Tội nhẹ:
Chúng ta phạm tội nhẹ khi vi phạm luật luân lý trong điều nhẹ, hay lỗi điều nặng nhưng không hoàn toàn hiểu biết hoặc ưng thuận. Tội nhẹ không làm mất ơn thánh hóa, cũng không làm mất phúc thật vĩnh cửu. Tuy nhiên, tội nhẹ làm suy yếu Đức Ái, ngăn cản ta tiến triển trong cuộc thực hành các đức tính và điều thiện. Đồng thời người cố tình phạm tội nhẹ và không sám hối, sẽ đi dần đến chỗ phạm tội trọng và ảnh hưởng đến phần rỗi đời đời. Ngoài ra, Kinh Thánh còn nói tới tội phạm đến Thánh Thần (x.Mc 3,29). Đó là tội cố tình không hối cải và khước từ lòng thương xót của Thiên Chúa, vì thế cũng khước từ sự tha tội và ơn cứu độ do Chúa Thánh Thần ban cho. Không phải là Thiên Chúa không tha thứ, nhưng chính tội nhân tự tách mình ra khỏi lòng thương xót của Ngài, và tự kết án chính mình.
III. Những hình thức khác của tội.
1. Thói xấu:
Thói xấu xuất hiện khi những hành vi xấu được lập đi lập lại nhiều lần. Hậu quả là con người nghiêng chiều về điều ác, lương tâm mờ tối và lệch lạc trong việc thẩm định giá trị luân lý. Có thể xếp loại các thói xấu dựa vào các nhân đức mà chúng đối nghịch, hoặc dựa vào bảy mối tội đầu: kiêu ngạo, hà tiện, mê dâm dục, ghen ghét, hờn giận, mê ăn uống và làm biếng.
2. Đồng lõa với tội lỗi:
Tội là một hành vi cá nhân, nhưng ta phải chịu trách nhiệm về tội của người khác, khi cộng tác với họ dưới nhiều hình thức: tham gia trực tiếp và cố tình; ra lệnh, xúi giục hoặc tán thành; không ngăn cản khi có bổn phận phải làm; bao che cho người làm điều ác.
Tội lỗi là kinh nghiệm thực tế của mỗi người và mọi người "Nếu chúng ta nói mình không có tội thì ta tự lừa dối mình" (1Ga 1,8). Nhưng đồng thời, Kinh Thánh xác quyết "Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội" (Rm 5,20). Nói như thế không phải để ta buông thả trong tội lỗi, nhưng để ta tin tưởng vào tình thương tha thứ của Thiên Chúa, và tình thương ấy thúc đẩy ta vươn lên không ngừng, sống phù hợp với ơn gọi làm con cái Chúa.
Bài 44
Đời sống Xã hội
(x. SGLC từ 1878 đến 2948).
"Thiên Chúa đã dựng nên con người không phải để sống riêng rẽ, nhưng để tạo nên sự liên kết xã hội. Cũng thế, Thiên Chúa không muốn thánh hóa và cứu rỗi loài người cách riêng rẽ, thiếu liên kết, nhưng Ngài muốn qui tụ họ thành một dân tộc, để họ nhận biết chính Ngài trong chân lý, và phụng sự Ngài trong thánh thiện" (MV 32). "Con người là sinh vật mang tính xã hội, và càng ngày mối liên hệ giữa con người và xã hội càng trở nên chặt chẽ hơn. Đời sống Đức tin cũng không thể tách ra khỏi những sinh hoạt xã hội. Hơn thế nữa, đức tin là men, là muối, là ánh sáng cho mọi sinh hoạt của con người trong xã hội. Vì thế, cần tìm hiểu đời sống xã hội để sống đức tin cách cụ thể và mang lại nhiều hoa trái" (MV 32).
I. Con người và xã hội.
1. Đặc tính cộng đoàn của ơn gọi làm người:
Kinh Thánh xác định rõ ràng: lòng yêu mến Thiên Chúa không thể tách rời khỏi tình yêu thương anh em (x.ra 13,9-10; 1Ga 4,10). Hơn thế nữa, khi cầu nguyện với Chúa Cha "Xin cho mọi người nên một... như Chúng Ta là một" (Ga 17,21-22), Đức Giêsu đã nói lên một sự tương tự nào đó giữa sự kết hợp của Ba Ngôi Thiên Chúa với sự kết hợp của con cái Chúa trong chân lý và Đức Ái (MV 24). Con người là hình ảnh Thiên Chúa và Thiên Chúa của chúng ta lại là cộng đoàn ba ngôi vị; vì thế, đặc tính cộng đoàn đã được in sâu vào bản tính con người. Thật vậy, con người cần được sống trong xã hội. Nhờ sự trao đổi, đối thoại với người khác và nhờ sự phục vụ lẫn nhau, con người phát triển khả năng của mình. Mỗi người đều đón nhận từ xã hội nhiều di sản làm nên nhân cách của mình, và đến lượt họ, phải góp phần xây dựng xã hội. Tuy nhiên, nếu đời sống xã hội giúp nhiều cho con người chu toàn sứ mạng của mình, kể cả sứ mạng tôn giáo thì cũng không thể phủ nhận rằng "con người vì những hoàn cảnh xã hội họ đang sống và tiêm nhiễm ngay từ thuở thiếu thời, nên nhiều khi xa cách không làm điều thiện và bị lôi kéo làm điều ác" (MV 25). Ngoài ra, sự can thiệp quá đáng của Nhà Nước có thể đe dọa tự do và sáng kiến của cá nhân. Chính vì thế phải làm sao để mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội được hài hòa và mang lại nhiều ích lợi.
2. Để xây dựng một quan hệ hài hòa:
Để xây dựng một quan hệ tốt đẹp và ích lợi giữa cá nhân và xã hội, Hội Thánh đưa ra một vài hướng dẫn:
a. Nguyên tắc hỗ trợ: Thiên Chúa đã không dành cho mình mọi quyền bính, nhưng Ngài đã trao phó cho mỗi tạo vật những chức năng phù hợp. Cũng vậy trong đời sống xã hội, một cộng đoàn lớn không thể can thiệp vào nội bộ một cộng đoàn nhỏ nhằm tước đoạt chức năng của nó; nhưng phải nâng đỡ và cùng hoạt động để mang lại công ích.
b.Thang giá trị: Để đời sống xã hội thực sự giúp con người phát triển, phải tôn trọng thang giá trị chân chính, tức là biết đặt chiều kích nội tâm và tinh thần lên trên chiều kích thể lý và bản năng. Có những cái vốn chỉ là phương tiện nhưng người ta lại coi như cứu cánh tối hậu. Và nhiều khi người ta biến con người thành phương tiện sử dụng như những phương tiện vật chất, trong khi "Nhân vị là chính và phải là nguyên lý, chủ thể và cứu cánh của mọi định chế xã hội" (MV 25).
c. Lời mời gọi hoán cải: Sống giữa xã hội, người Kitô hữu dễ dàng bị cuốn vào cơn lốc xã hội, kể cả những trào lưu xấu. Vì thế phải hoán cải, sự hoán cải sâu xa trong tâm hồn và thường xuyên. Đồng thời sự hoán cải ấy thúc đẩy ta can đảm cải thiện môi trường sống khi nó dẫn con người đến tội lỗi. "Phải có sự đổi mới tâm thức và những thay đổi sâu rộng trong xã hội" (MV 26). Trong thực tế, nhiều khi khó nhận ra được đâu là con đường phải đi, và phải có rất nhiều can đảm để dám đi con đường của Đức Ái, của Tình Thương hiến thân. Vì thế, cần cầu nguyện để đón nhận ơn Thiên Chúa nâng đỡ.
II. Tham gia đời sống xã hội.
1. Quyền bính:
Mọi cộng đoàn nhân loại đều cần đến quyền bính cai trị, để duy trì trật tự và bảo vệ công ích. Với đức tin người Kitô hữu còn nhìn mọi quyền bính đều từ Thiên Chúa mà đến "Mỗi người phải phục tùng chính quyền, vì không có quyền bính nào mà không bởi Thiên Chúa và những quyền bính hiện hữu là do Thiên Chúa thiết lập" (Rm 13,1). Vì thế mọi người có bổn phận phải vâng phục, tôn trọng những người thực thi quyền bính. Ngược lại, người có quyền bính cũng không thể hành xử cách độc tài. Quyền bính chỉ được thi hành cách hợp pháp khi kiếm tìm, phục vụ công ích và sử dụng những phương thế thích hợp về mặt luân lý. Trong thực tế, ta thấy có nhiều thể chế chính trị khác nhau. Điều nầy không có gì lạ, vì "Đã hẳn cộng đoàn chính trị và công quyền xây nền tảng trên bản tính con người, cho nên cũng nằm trong trật tự do Chúa an bài, nhưng việc định đoạt một thể chế chính trị hay cắt cử người cầm quyền vẫn là quyền tự do của mọi công dân" (MV 74). Điều quan trọng là dù thể chế chính trị nào, cũng phải phục vụ lợi ích hợp pháp của cộng đoàn xã hội.
2. Công ích:
Công ích là "Toàn bộ những điều kiện của đời sống xã hội cho phép những tập thể hay những phần tử riêng rẽ có thể đạt tới sự hoàn hảo riêng một cách đầy đủ và dễ dàng hơn" (MV 26). Như thế, công ích bao gồm ba yếu tố thiết yếu: Trước hết là tôn trọng con người, với những quyền căn bản của con người và sự tự do cần thiết cho ơn gọi làm người được phát triển. Chẳng hạn "quyền hành động theo tiêu chuẩn chính thực của lương tâm, quyền bảo vệ đời sống tư và quyền tự do chính đáng cả trong phạm vi tôn giáo" (MV 26). Thứ đến là an ninh xã hội, "những gì thiết yếu mà con người phải có để thực sự sống đời sống con người, như của ăn, áo quần, chỗ ở, quyền tự do chọn lựa bậc sống và quyền lập gia đình... (MV 26). Cuối cùng là tình trạng ổn định và an ninh trong xã hội. Bằng những phương thế thích hợp, chính quyền phải bảo vệ an ninh cho toàn xã hội, cũng như các thành viên trong xã hội. Ngày nay, mối liên hệ giữa các quốc gia càng ngày càng trở nên chặt chẽ. Vì thế, phải quan tâm đến công ích ở tầm vóc quốc tế. Để đạt mục đích nầy "Các cơ quan của cộng đoàn quốc tế tùy theo phận vụ mình, phải đáp ứng những nhu cầu muôn mặt của con người trong lĩnh vực xã hội như lương thực, sức khỏe, giáo dục, việc làm... trợ giúp nỗi đau khổ của những người tị nạn rải rác trên khắp thế giới, cứu trợ những người di cư và gia đình họ" (MV 54).
3. Trách nhiệm và tham gia:
Tùy theo vị trí và vai trò của mình, mỗi người cần phải tham gia vào việc phục vụ và phát triển công ích. Sự tham gia nầy được thể hiện trước hết bằng việc chu toàn trách nhiệm cá nhân trong xã hội. Đồng thời người công dân cũng phải góp phần vào những công việc chung. "Phải ca tụng đường lối của những quốc gia đang để cho càng đông công dân càng tốt, được tham gia việc nước trong sự tự do đích thực" (MV 31). Sự tham gia với tinh thần trách nhiệm như thế chỉ có được trên nền tảng giáo dục và văn hóa. "Phải tổ chức việc giáo dục những người trẻ thuộc bất cứ thành phần nào trong xã hội, làm sao để đào tạo được những người nam và người nữ không những tài giỏi và văn hóa, mà còn có tâm hồn cao thượng" (MV 31). Đồng thời "phải trau dồi nơi chính mình những đức tính luân lý và xã hội, đồng thời đem những đức tính ấy gieo rắc ngoài xã hội. Như vậy với sự trợ giúp cần thiết của ơn thánh Chúa, sẽ có những con người mới thực sự và là những người kiến tạo nhân loại mới" (MV 30).
III. Công bằng xã hội.
Gắn liền với công ích và việc thực thi quyền bính là đòi hỏi công bằng xã hội. Đòi hỏi nầy chỉ được thực hiện nhờ tôn trọng con người, xây dựng sự bình đẳng và tình liên đới nhân loại.
1. Tôn trọng con người:
Công bằng xã hội chỉ có được nhờ sự tôn trọng phẩm giá cao cả của con người. Việc tôn trọng phẩm giá được cụ thể hóa qua việc tôn trọng những quyền căn bản của con người. Đây chính là nền tảng cho sự hợp pháp về mặt luân lý của mọi quyền bính. Nếu không có sự tôn trọng nầy, quyền bính chỉ dựa vào bạo lực mà cai trị, và như thế làm xói mòn nền tảng hợp pháp của quyền bính về mặt luân lý. Giáo hội nhấn mạnh rằng "Mỗi người đều phải coi người đồng loại, không trừ một ai, như cái tôi thứ hai của mình... phải trở nên người lân cận của bất cứ ai và tích cực giúp đỡ họ khi họ đến với mình" (MV 27). Đòi hỏi nầy càng khẩn thiết hơn khi người lân cận đó là những người nghèo khổ, bị bỏ rơi vì "Điều gì các ngươi làm cho một trong những người hèn mọn, là làm cho chính Ta" (Mt 25,40). Hơn thế nữa, giáo lý của Chúa Kitô còn nới rộng giới răn yêu thương đến mức "yêu cả kẻ thù nghịch mình, làm ơn cho kẻ ghét mình, cầu nguyện cho kẻ bắt bớ và vu oan cho mình" (Mt 5,43-44). Vì thế, người Kitô hữu ghét sự ác nhưng không ghét bỏ người làm điều ác; trái lại vẫn yêu thương, kính trọng và cầu nguyện cho họ.
2. Bình đẳng và khác biệt:
Công bằng xã hội cũng đòi hỏi phải nhìn nhận sự bình đẳng giữa mọi người, cho dầu có những khác biệt. Mọi người đều bình đẳng với nhau vì có chung một nguồn gốc là Thiên Chúa, chung một bản tính nhân loại và chung một cùng đích là hạnh phúc Nước Trời. Trong thực tế, con người có những khác biệt nhau về tuổi tác, năng lực, trí tuệ và tinh thần. Nói theo ngôn ngữ Tin Mừng, khi bước vào cuộc đời nầy, những nén bạc được giao phó không đồng đều. (x.Mt 25,14-30). Nhưng Chúa quan phòng đã muốn như thế để dạy con người bài học về liên đới và chia sẻ: mỗi chúng ta cần đón nhận từ người khác và cũng cần chia sẻ cho người khác; nhờ đó cuộc sống chung trở thành phong phú hơn. Chính vì thế, "sự chênh lệch quá đáng về kinh tế và xã hội giữa những thành phần, hay những dân tộc trong cùng một gia đình nhân loại, thực là những gương xấu, và đi ngược với công bằng xã hội, lẽ phải, nhân phẩm và nền hòa bình xã hội cũng như quốc tế" (MV 29).
3. Tình liên đới:
Liên đới là đòi hỏi trực tiếp của tình huynh đệ nhân loại và Kitô giáo. Đối với người Kitô hữu, tình liên đới ấy bắt nguồn sâu xa từ chính Chúa Kitô, Đấng đã liên đới với ta trong thân phận tội lỗi; nhờ đó ta được chia sẻ sự sống với Ngài. Và như Đức Piô XII đã nói, trong suốt chiều dài lịch sử Hội Thánh, tình liên đới ấy đã thúc đẩy bao nhiêu Kitô hữu hy sinh, hiến dâng cuộc đời nhằm mang lại cho người khác cuộc sống xứng danh là con người và người Kitô hữu. Trong sinh hoạt xã hội, tình liên đới được biểu lộ qua việc phân phối của cải và công việc cho đồng đều. Tình liên đới cũng giúp cho con người giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội trong tinh thần hòa giải. Noi gương Chúa Kitô, người Kitô hữu nỗ lực thể hiện tình liên đới trong sự hiệp thông đức tin, cũng như trong sự chia sẻ của cải vật chất hằng ngày, vì "Trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ khác, Người sẽ thêm cho" (Mt 6,33).
Hơn ai hết, người Kitô hữu hôm nay phải ghi nhớ lời nhắn nhủ của Hội Thánh "Hoàn cảnh biến đổi sâu rộng và nhanh chóng đòi hỏi cấp bách đừng ai chủ trương một thứ luân lý duy cá nhân, mà không lưu tâm hoặc không màng chi tới diễn tiến thời cuộc" (MV 30). Đức tin không thể chỉ bó hẹp trong một số bổn phận đạo đức cá nhân, nhưng còn cần được thể hiện trong sinh hoạt xã hội; nhờ đó Tin Mừng Chúa Kitô được thấm nhập vào mọi thực tại của đời sống con người.
Bài 45
Luật Luân Lý
(x. SGLC từ 1949 đến 2051)
"Đức Giêsu trả lời: Điều răn đứng hàng đầu là: Nghe đây, hỡi Ít-ra-en, Đức Chúa, Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Chúa của ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết tâm trí và hết sức lực ngươi. Điều răn thứ hai là: Ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình. Chẳng có điều răn nào khác quan trọng hơn các điều răn đó". (Mc 12, 29-31) "Thầy ban cho anh em một điều răn mới là anh em hãy yêu thương nhau; anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13, 34)
I. Lề luật luân lý là gì?
Quốc gia nào cũng có luật pháp riêng, có truyền thống riêng, và ngày nay luật pháp quốc tế cũng được đề cao. Vậy luật luân lý để làm gì? Theo Kinh Thánh, lề luật luân lý là cách thức giáo huấn, là phương pháp sư phạm Thiên Chúa sử dụng để hướng dẫn con người tránh xa điều ác, ngõ hầu được tham dự vào đời sống vĩnh cửu của Thiên Chúa hứa ban. Vì thế lề luật luân lý là những mệnh lệnh vừa có tính cách dịu dàng trong lời hứa, vừa có tính cách nghiêm khắc theo lệnh truyền. Lề luật luân lý cũng được phát triển với nhiều hình thức khác nhau như luật tự nhiên, luật mặc khải. Lề luật luân lý để giúp con người tiến tới hoàn thiện, nhưng cùng đích của lề luật luân lý là chính Chúa Kitô: "Bởi vì cùng đích của lề luật là Chúa Kitô để mọi tín hữu được ơn công chính hóa" (Rm 10,4).
II. Luật tự nhiên.
Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng quyền con người, nên Người ban cho mỗi người quyền làm chủ và quản lý mọi hành vi của mình để đạt tới chân lý và sự Thánh Thiện. Vì thế luật tự nhiên là qui luật Thiên Chúa ban cho mỗi người để họ dùng lý trí mà phân biệt những gì là thiện ác, là chân thật, là dối trá. Luật này đã được Thiên Chúa ghi tạc trong lòng mỗi người như Đức Lêô XIII đã xác quyết trong thông điệp Libertas Praestantissimum: "Luật tự nhiên đã được ghi chép trong tâm hồn mỗi người và mọi người, vì nó là lý trí của con người, truyền làm điều thiện và cấm phạt tội..." Luật tự nhiên chính là tiếng nói, là ánh sáng Thiên Chúa đã phú bẩm cho con người để sống xứng đáng là người con của Thiên Chúa: "Luật tự nhiên không gì khác ngoài ánh sáng trí tuệ được Thiên Chúa đặt trong ta. Nhờ luật tự nhiên, chúng ta biết những gì phải làm và những gì phải tránh. Ánh sáng này, tức luật này, đã được Thiên Chúa ban khi sáng tạo nên con người" (Th. Tôma). Hiện diện trong trái tim vá lý trí của mỗi người, luật tự nhiên luôn mang tính phổ quát bất biến và trường tồn: "Chắc chắn có một luật đích thực, đó là lý trí ngay thẳng, luật này phù hợp với bản tính con người và trải rộng với tất cả mọi người. Nó bất biến và vĩnh cửu: những mệnh lệnh của nó gọi ta thi hành những bổn phận, những cấm đoán của nó bắt ta tránh xa điều sai lỗi..." (Cicero). Tóm lại, luật tự nhiên là tác phẩm tuyệt vời của Đấng Tạo Hóa, nên nó luôn là nền tảng để xây dựng các luật luân lý và dân luật.
III. Luật mặc khải.
1. Luật cũ:
Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và cứu độ, nên Ngài đã chọn Ít-ra-en là dân riêng vã đã mặc khải luật của Ngài để chuẩn bị cho Chúa Kitô giáng trần. Luật này cũng gọi là luật Môsê. Luật Môsê hay là luật cũ phát biểu nhiều chân lý và lý trí tự nhiên có thể hiểu được. Nội dung của luật cũ được gồm tóm trong mười giới răn. Các giới răn cấm những gì nghịch lại tình yêu Thiên Chúa và tha nhân, và dạy những gì là cốt lõi cho tình yêu Thiên Chúa và tha nhân. Vì thế luật cũ là tình trạng sơ khởi của luật mặc khải và là bước đường chuẩn bị cho luật mới.
2. Luật mới:
Luật mới tức là luật Phúc Âm, luật toàn hảo, luật mới chính là tác phẩm của Chúa Kitô và cũng là ân sủng của Chúa Thánh Thần. Luật mới này được trình bày đặc biệt qua bài giảng trên núi, cũng gọi là Tám mối Phúc Thật: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó vì họ sẽ được vào Nước Trời... (Mt 5, 3-12). Luật mới hoàn thành và đưa luật cũ tới chỗ hoàn hảo: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ luật Môsê, hoặc giáo huấn của các ngôn sứ, Thầy đến không phải là bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn" (Mt 5,17). Luật mới là luật của tình yêu, của ân sủng và tự do: "Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 15,12). Và "Thầy ban cho anh em một điều răn mới...." (Ga 23,34). Ngoài những giới răn ra, luật mới còn gồm những lời khuyên của Phúc Âm. Các lời khuyên của Phúc Âm cho thấy sự tràn đầy sống động của Đức Ái, không bao giờ được thỏa mãn vì những gì mình đã thực hiện. Nên lời khuyên Phúc Âm thúc đẩy con người đến bậc hoàn hảo hơn. Càng có nhiều người sống lời khuyên Phúc Âm, Hội Thánh càng tỏa ra sự thánh thiện: "Sự thánh thiện của Hội Thánh được đặc biệt duy trì bởi các lời khuyên khá nhiều mà Chúa đã đề ra cho các môn đệ giữ trong Phúc Âm" (LG 42).
Bài 46
Ân sủng và Công chính hóa
(x. SGLC từ 1987 đến 2029)
"Nhưng ngày nay, Thiên Chúa cho thấy cách Người làm cho người ta nên công chính mà không cần đến luật Môsê. Điều này sách luật và các ngôn sứ làm chứng. Quả thế, Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, nếu họ tin vào Đức Giêsu Kitô. Tất cả những ai tin đều được như thế, bất kể là người Do Thái hay người ngoại. Thật vậy, mọi người đã phạm tội và bị tước mất quyền vinh quang Thiên Chúa, nhưng họ được trở nên công chính do ân huệ Thiên Chúa ban nhưng không, nhờ công trình cứu chuộc thực hiện trong Đức Kitô Giêsu. Thiên Chúa đã định cho Đức Kitô Giêsu phải đổ máu mình ra làm hy lễ đem lại ơn tha tội cho những ai tin. Như vậy Thiên Chúa cho thấy Người là Đấng công chính. Trước kia trong thời Thiên Chúa nhẫn nại, Người đã bỏ qua các tội lỗi người ta phạm. Nhưng bây giờ Người muốn cho thấy rằng Người là Đấng Công Chính, nghĩa là Người vừa công chính, vừa làm cho kẻ sống nhờ lòng tin vào Đức Giêsu được nên công chính" (Rm 3, 21-26).
I. Ý nghĩa và đặc điểm Ơn Công Chính hóa.
Khát vọng sâu xa của mỗi người Kitô hữu là được ơn công chính hóa, nghĩa là nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, ta được sạch mọi tội lỗi, và được ban sự sống của Thiên Chúa, nhờ tin vào Đức Giêsu Kitô và nhờ phép Thánh Tẩy: "Quả thế, Thiên Chúa làm cho người ta nên công chính, nếu họ tin vào Đức Giêsu Kitô... " (Rm 3,22). Chính nhờ ân sủng Chúa Thánh Thần mà mỗi người được dự phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Kitô khi biết chết cho tội lỗi nhờ bí tích Thánh Tẩy, để được gia nhập vào thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô là Hội Thánh: "Nhờ Chúa Thánh Thần chúng ta được dự phần với Thiên Chúa. Nhờ sự dự phần của Thánh Thần, chúng ta được dự phần vào bản tính thần linh... (Thánh Atanaxilô). Nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần, tiên vàn ta được ơn hoán cải, chính là điều Đức Giêsu đã rao giảng: "Các ngươi hãy hoán cải, vì Nước Thiên Chúa đã gần rồi" (Mt 4,17). Khi đã được ơn hoán cải, con người xa lìa tội lỗi, trở về với Thiên Chúa, nhờ đó được ơn tha thứ và ơn công chính. "Như vậy sự công chính hóa bao gồm ơn tha thứ các tội, ơn thánh hóa và sự đổi mới con người nội tâm" (Công đồng Trentô). Như thế nhờ cuộc khổ nạn của Đức Kitô và nhờ phép Rửa của Ngài, nhờ ân sủng của Thánh Thần, ta được công chính, nghĩa là được ơn tha tội, được tràn đầy lòng tin cậy mến Thiên Chúa, và được dự vào sự sống thần linh của Thiên Chúa Ba Ngôi. Do đó, ơn công chính là công cuộc tuyệt hảo của tình yêu Thiên Chúa đối với con người, như lời Thánh Âu Tinh (Ev Yn 72,3): "Sự công chính hóa kẻ vô đạo là công cuộc lớn lao hơn việc tạo thành trời đất" bởi vì "Trời và đất sẽ qua đi, còn ơn cứu độ và ơn công chính hóa các kẻ được chọn sẽ tồn tại mãi mãi".
II. Ân sủng và đón nhận Ân sủng, Đặc sủng.
Ơn công chính hóa là công cuộc tuyệt hảo của tình yêu Thiên Chúa đối với kẻ có tội. Nhưng công chính hóa là ân sủng của Thiên Chúa. Vậy ân sủng là ân huệ, là sự cứu giúp nhưng không Chúa Cha trao ban để con người đáp lại tiếng mời gọi của Ngài là trở thành người con của Thiên Chúa: "... Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa..." (Ga 1, 12-18), trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa: "Thần khí làm cho anh em nên nghĩa tử..." (Rm 8, 14-17), được dự phần bản tính Thần Linh: "Nhờ vinh quang và sức mạnh ấy, Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quí báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa..." (2Pr 1, 3-4), và được sự sống vĩnh cửu: "...Thật vậy Cha đã ban cho Người quyền trên mọi phàm nhân, là để Người ban sự sống đời đời cho tất cả những ai Cha đã ban cho Người. Mà sự sống đời đời chính là nhận biết Cha, Đấng duy nhất là Thiên Chúa thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Đức Giêsu Kitô" (Ga 17, 2-3). Như vậy ân sủng là hồng ân nhưng không của Thiên Chúa ban cho ta, có tính thường xuyên, ổn định và siêu nhiên, để giúp ta sống thân mật với Thiên Chúa, và hành động theo ý Ngài. Người ta cũng phân biệt Thường Sủng giúp ta sống và hành động theo tiếng gọi của Thiên Chúa, và Hiện Sủng để trợ giúp công cuộc thánh hóa. Ân sủng được ban cho ta không những để thánh hóa bản thân, mà còn giúp ta cộng tác vào việc thánh hóa người khác, và làm tăng trưởng thân thể Chúa Kitô là Hội Thánh. Đó là những ân sủng đặc biệt mà ta gọi là Đặc Sủng. Đặc sủng là ân huệ, hồng ân nhưng không đặc biệt của Chúa Thánh Thần, để xây dựng Hội Thánh vì đức bác ái. Mỗi Kitô hữu phải ý thức hồng ân Chúa ban là món quà quí giá nhất, nên tỉnh thức mau mắn đón nhận và rộng mở tâm hồn để cộng tác vào ơn của Thiên Chúa.
III. Công trạng.
Mỗi khi làm được một việc lành cho tha nhân hoặc cho cộng đoàn... thường người ta coi đó là một công trạng, hay công nghiệp, hoặc công lao với Thiên Chúa. Đúng nghĩa mà nói, con người không có công lao gì với Thiên Chúa, bởi vì Ngài là Đấng sáng tạo, còn con người là thụ tạo. Hơn nữa những gì con người có đều là hồng ân Thiên Chúa ban. Nhưng nhờ ân sủng của Chúa Thánh Thần thúc đẩy, ta trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa, ta có thể lập công để xứng đáng nhận cho mình và cho những người khác các ân huệ có ích cho ta đạt tới sự sống vĩnh cửu, cũng như để lãnh nhận được những ơn ích trần gian cần thiết như của cải, sức khỏe, tình bạn... Các ân sủng này, các lợi ích này là đối tượng của lời cầu nguyện Kitô giáo. Nhưng chính Đức Ái của Chúa Kitô ở trong ta là nguồn mạch tất cả các công lao của ta trước mặt Thiên Chúa. Khi kết hợp với Chúa Kitô bằng tình yêu tích cực, mọi hành vi của ta đều có công trước mặt Chúa và trước mặt người ta. Tóm lại, các vị Thánh luôn ý thức sâu xa rằng công lao của các Ngài chỉ là ân sủng của Thiên Chúa.
IV. Mọi người được kêu gọi nên Thánh.
Hết mọi người đều được mời gọi nên thánh như Đức Giêsu đã mời gọi: "Anh em hãy trở nên hoàn thiện như Cha anh em ở trên trời là Đấng hoàn thiện" (Mt 5,48). Muốn được thế, "các tín hữu phải nỗ lực theo mức hồng ân đã nhận từ Chúa Kitô để đạt được sự toàn thiện, để (....) trong khi chu toàn thánh ý Chúa Cha trong mọi sự, họ hiến thân với hết tâm hồn cho vinh quang Thiên Chúa và cho việc phục vụ tha nhân... " (LG 40). Lời mời gọi nên Thánh đòi hỏi người Kitô hữu phải cố gắng trong suốt cuộc đời vì "sự toàn thiện Kitô giáo chỉ có một giới hạn, giới hạn đó không có một giới hạn nào hết" (Thánh Gregôriô thành Nys), đồng thời: "nếu ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16,25).
Bài 47
Hội Thánh là Mẹ và Thầy
(x. SGLC từ 2030 đến 2051)
"Tất cả chúng ta qua Chúa Kitô, được mời vào, mà nên thánh trong Hội Thánh... khi Ngài phục sinh từ cõi chết (Rm 6,9). Ngài đã gửi Thánh Thần của sự sống đến với môn đồ để thiết lập thân thể Ngài là Hội Thánh, như một bí tích cứu rỗi ở khắp nơi... " (LG 48)
I. Huấn quyền và đời sống Luân lý - Thi hành Huấn quyền.
Nhờ Hội Thánh, người Kitô hữu nhận được các giáo huấn của "luật Chúa Kitô" (GL 6,2), muôn vàn ân sủng các Bí tích, những gương sáng thánh thiện... bởi vì Hội Thánh là thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, là Giêrusalem trên trời, là Mẹ của chúng ta (x. Gl 4, 2-6).
Hội Thánh được coi là "cột trụ và điểm tựa của chân lý" (1Tm 3,15), vì Hội Thánh "đã nhận được từ các tông đồ lệnh truyền long trọng của Chúa Kitô là phải giảng chân lý vì ơn cứu độ" (LG 17). Vì thế, chẳng những Hội Thánh giảng dạy giáo lý từ "mười giới răn" cùng với "Kinh Tin Kính" và "Kinh Lạy Cha" mà Hội Thánh còn có quyền loan báo những nguyên tắc luân lý liên quan đến đời sống con người và đưa ra những phán quyết. Quyền bính đó được Chúa Kitô trao cho các tông đồ, và các Ngài lại trao cho những người kế vị "Đức Giáo Hoàng Rôma, vì là đại diện Chúa Kitô và là chủ chăn của toàn thể Hội Thánh, nên đối với Hội Thánh, có một quyền bính trọn vẹn, tối cao và phổ quát... Giám mục đoàn kế nghiệp tông đồ đoàn trong việc giáo huấn và chăn dắt đoàn chiên, hơn nữa làm cho tông đồ được trường tồn. Giám mục đoàn hợp nhất với Đức Giáo Hoàng Rôma là thủ lãnh... cũng có quyền bính tối cao và trọn vẹn... (LG 22). "Vì thế Thánh Công Đồng dạy rằng, các Giám mục theo như huấn lệnh của Chúa, kế nghiệp các tông đồ làm chủ chăn trong Hội Thánh, ai nghe lời các Ngài là nghe lời Chúa Kitô, ai ruồng rẫy các Ngài là ruồng rẫy Chúa Kitô và Đấng đã sai Người đến" (LG 20).
Vì thế, để tỏ lòng tôn kính và yêu mến Hội Thánh là Mẹ và Thầy, mọi thành phần dân Chúa: các linh mục, các nhà thần học, giáo dân:
• Hết lòng vâng phục giáo huấn của Hội Thánh qua Đức Giáo Hoàng và các Giám mục.
• Tích cực đóng góp vào nền luân lý của Hội Thánh được thích nghi trong mọi hoàn cảnh và mọi thời đại.
II. Các Điều răn Hội thánh.
Ngoài những lề luật luân lý dựa trên Kinh Thánh, Thánh Truyền và luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã trao cho Hội Thánh quản lý, Hội Thánh cũng có những điều răn gắn liền với sinh hoạt phụng vụ để giúp tín hữu được cái tối thiểu trong việc mến Chúa yêu người. Các điều răn đó là:
• Xem lễ ngày Chúa Nhật cùng các ngày Lễ buộc.
• Xưng tội trong một năm ít là một lần.
• Chịu Mình Thánh Đức Giêsu trong Mùa Phục Sinh.
• Thánh hóa ngày Chúa nhật và các ngày Lễ buộc.
• Giữ chay và kiêng thịt như Hội Thánh dạy.
III. Đời sống Luân lý với việc Truyền giáo.
Mỗi thành viên của Hội Thánh là chi thể của Thân Mình mầu nhiệm, có Chúa Kitô là Đầu, và bản chất của Hội Thánh là rao giảng Tin Mừng, vì Đức Giêsu đã truyền: "Chúng con hãy đi giảng dạy tất cả các dân tộc, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, hãy dạy họ tuân giữ những điều Thầy truyền cho các con..." (Mt 28, 19-20). Thánh Phaolô ý thức điều đó và đã thốt lên: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1Cr 9,16). "Vì thế, môn đệ của Chúa Kitô hằng bền lòng cầu nguyện và ca tụng Thiên Chúa" (Cv 2, 42-47), "Phải tự hiến như những hy tế sống động, thánh thiện làm hài lòng Thiên Chúa" (Rm 12,1), (LG 10) và "Ai không đáp ứng lại với ân huệ đó bằng tư tưởng, ngôn từ và hành động, họ sẽ không được cứu rỗi mà còn bị lên án nặng nề" (Lc 12,48); (LG 14). Như vậy, mỗi Kitô hữu đều mang trách nhiệm góp phần xây dựng Hội Thánh bằng đời sống kiên trì thực thi những lệnh truyền của Chúa và Hội Thánh, bằng đời sống thánh thiện, để Hội Thánh lớn lên, tăng trưởng và phát triển.
Bài 48
Điều răn I
Thờ phượng và Kính mến Thiên Chúa
(x. SGLC từ 2083 đến 2141)
"Ta là Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, đã đưa ngươi ra khỏi đất Ai Cập, khỏi cảnh nô lệ. Ngươi không được có thần nào khác đối nghịch với Ta. ngươi không được tạc tượng, vẽ hình bất cứ vật gì ở trên trời cao, cũng như dưới đất thấp, hoặc ở trong nước phía dưới mặt đất, để mà thờ. Ngươi không được phủ phục trước những thứ đó mà phụng thờ" (Xh 20, 2-5)
Đức Giêsu đã tóm lại các bổn phận của con người đối với Thiên Chúa "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn hết trí khôn ngươi" (Mt 22,37). Trong "mười lời" (mười điều răn) Thiên Chúa ban cho dân Người, thì ba lời đầu trực tiếp nhắm tới bổn phận đối với Thiên Chúa, và bảy lời sau nhắm tới bổn phận con người đối với nhau theo ý muốn Thiên Chúa. Điều răn thứ nhất nói về bổn phận tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi sự.
I. Phải tôn thờ một mình Thiên Chúa.
Thiên Chúa đã mặc khải quyền năng và lòng nhân hậu cho dân được chọn, khi thực hiện công cuộc giải phóng dân: "Ta đã đưa các ngươi ra khỏi đất Ai Cập; khỏi cảnh nô lệ". Vì thế Israen thuộc về Chúa, là dân của Chúa nên phải tôn thờ một mình Người "Chính Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em là Đấng anh em phải kính sợ; chính Người là Đấng anh em phải phụng thờ... anh em không được theo những thần khác" (Đnl 6, 13-14). Khi Thiên Chúa mặc khải vinh quang của Người cho dân Ít-ra-en, Người cũng mặc khải về chính con người và ơn gọi của họ, để họ phải cư xử thế nào cho phù hợp với Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng con người theo hình ảnh và giống như Người. Con người phải thờ phượng Thiên Chúa, và chỉ thờ phượng một mình Người mới phải đạo: "Ngươi phải thờ lạy Đức Chúa, là Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi" (Lc 4,8). Thờ phượng Thiên Chúa là nhìn nhận sự hư vô bất lực của mình, nên phải lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và cứu chuộc duy nhất. Thờ phượng Thiên Chúa là làm như Đức Maria: ca tụng tôn vinh Thiên Chúa, chấp nhận thân phận hèn mọn với lòng tri ân và cảm tạ xưng tụng những kÿ công tuyệt vời của Chúa (x. Kinh Magnificat; Lc 1, 46-55). Thờ phượng Thiên Chúa như vậy là thể hiện lòng tin cậy mến đối với Thiên Chúa.
1. Đức tin:
Muốn sống cho phải đạo, phải tin vào Thiên Chúa, yêu mến và vâng phục Người. Những lệch lạc và sai lầm về luân lý bắt nguồn từ chỗ không tin Thiên Chúa hoặc từ chối tin vào Người. Cho nên điều răn thứ nhất đòi hỏi ta phải giữ gìn, nuôi dưỡng đức tin và xa tránh những gì nguy hiểm cho đức tin. Có những tội nghịch đức tin như từ chối hoặc nghi ngờ tin vào những điều Thiên Chúa đã mặc khải, và Hội Thánh đã giảng dạy. Khi chối bỏ hay nghi ngờ một chân lý phải tin là rối đạo. Bỏ đạo là hoàn toàn chối bỏ niềm tin Kitô giáo. Còn khi từ chối không vâng phục Đức Giáo Hoàng hay từ chối hiệp thông với Hội Thánh thì gọi là ly giáo.
2. Đức Cậy:
Trông cậy là tin tưởng và mong chờ phúc lành của Thiên Chúa ở đời này, và được hạnh phúc với Người ở đời sau. Hai tội nghịch với đức trông cậy là tuyệt vọng và kiêu ngạo. Khi nghi ngờ và không còn tin tưởng vào lòng nhân từ và trung thành của Thiên Chúa, con người không còn mong đợi ơn tha thứ và ơn cứu độ của Thiên Chúa nữa. Đó là tội tuyệt vọng. Còn khi con người quá cậy tài sức của mình mà không cần ơn Chúa, hoặc khi quá cậy trông vào lòng nhân từ và quyền năng Thiên Chúa, mà không cần cộng tác bằng việc ăn năn hối cải, để được hưởng ơn cứu độ, đó là tội tự cao tự đại.
3. Đức mến:
Tin rằng Thiên Chúa yêu thương mình, con người phải yêu mến Thiên Chúa chân thành và hết mình: "Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em" (Đnl 6, 4-5). Điều răn thứ nhất dạy ta phải yêu mến Thiên Chúa trên hết mọi sự, mọi loài, và yêu mến chỉ vì chính Người mà thôi. Đó là đức mến Kitô giáo. Người ta có thể phạm tội nghịch đức mến: - Dửng dưng là bỏ qua hoặc từ chối không công nhận tình yêu Thiên Chúa. - Vô ơn là không đáp lại tình yêu Thiên Chúa. - Thờ ơ hay lười biếng trong các bổn phận đối với Chúa. - Thù ghét, chống lại và nguyền rủa Thiên Chúa.
4. Những hình thức khác:
a. Cầu Nguyện. Khi cầu nguyện, người Kitô hữu thể hiện lòng tin cậy mến mà thờ phượng Thiên Chúa. Cầu nguyện tức là thờ lạy, chúc tụng, cảm tạ và xin ơn. Cần phải cầu nguyện để có thể vâng giữ các điều Chúa truyền, và thực hành những diều Chúa dạy."Phải cầu nguyện luôn, không được nản chí" (Lc 18,1). Như thế, cầu nguyện là thái độ cơ bản nói lên đức thờ phượng đối với Thiên Chúa.
b. Lễ Hy Sinh: Thật là hợp lý khi chúng ta dâng lên Thiên Chúa những lễ hy sinh để tôn thờ, cảm tạ, xin ơn. "Tất cả những hành động ta thực hiện, hầu gắn bó hiệp thông với Thiên Chúa để được vinh phúc, đều là những hy sinh thật sự" (Thánh Âu Tinh). Tuy nhiên phải là hy lễ chân thành và vị tha, nghĩa là thái độ bên ngoài phù hợp với tâm tình bên trong "Tế phẩm dâng Ngài là tâm thần tan nát" (Tv 51, 9). Đối với Đức Giêsu, lòng nhân từ đối với tha nhân là hy lễ được chấp nhận: "Ta muốn lòng nhân từ chứ đâu cần lễ tế" (Mt 9,13; 12,7). Hy lễ duy nhất, hoàn hảo nhất là hy lễ Chúa Kitô dâng lên Chúa Cha khi ở trên thánh giá. Hiệp nhất với hy lễ của Chúa Kitô, chúng ta sẽ làm cho đời sống thành lễ hy sinh đẹp lòng Chúa.
c. Các lời hứa và khấn: Có những lời hứa với Thiên Chúa đương nhiên được bao hàm khi chịu Thánh Tẩy, Thêm sức, Hôn phối và Truyền Chức Thánh. Ngoài ra, do lòng sùng kính, người Kitô hữu có thể hứa với Chúa để làm việc này việc kia. Lời hứa này bày tỏ lòng yêu mến đối với Thiên Chúa, và tin tưởng Người là Đấng toàn năng và trung thành. Còn lời khấn là một hành vi của lòng sùng đạo. Khấn là tự hiến thân cho Thiên Chúa hoặc là tự nguyện và ý thức hứa với Thiên Chúa sẽ làm một điều tốt lành nào đó (x. Gl 1191). Hội Thánh vốn công nhận giá trị gương mẫu của những lời khấn thực hành ba lời khuyên của Phúc Âm của các tu sĩ nam nữ. Trong một số trường hợp và vì những lý do tương xứng, Hội Thánh có thể chuẩn miễn các lời hứa với các lời khấn.
5. Bổn phận đối với xã hội và quyền tự do tôn giáo:
Người Kitô hữu không chỉ có bổn phận tôn thờ Thiên Chúa mà còn phải "cố gắng đem tinh thần Kitô giáo thấm nhuần não trạng, phong tục, luật lệ và cơ cấu của cộng đoàn nơi họ sống" (TĐ 3). Bổn phận xã hội của người Kitô hữu là tôn trọng và khơi dậy nơi mỗi con người lòng yêu mến cái thân mật và cái tốt lành, và làm cho người khác nhận biết rằng tôn giáo chân thật, duy nhất, chỉ tồn tại nơi Hội Thánh Công giáo (x. TD 1). Không những người Kitô hữu mà bất cứ người nào khác cũng có quyền hành động theo lương tâm mình, và tự do tuyên xưng niềm tin của mình chỗ riêng tư cũng như nơi công cộng. (x. TD 2).
II. Các tội nghịch Điều Răn Thứ Nhất
Điều răn thứ nhất cấm không được tôn thờ thần linh nào khác ngoài Đức Chúa là Thiên Chúa duy nhất. Điều răn này cũng cấm mọi hình thức mê tín dị đoan và tình trạng vô tôn giáo.
• Dị đoan: Khi có sự lệch lạc trong tâm tình tôn giáo và những cách thể hiện tâm tình đó.
• Tôn thờ ngẫu thần: Khi tôn thờ bất cứ tạo vật nào thay thế Thiên Chúa, hay ngang bằng Thiên Chúa. Điều răn thứ nhất lên án thuyết đa thần.
• Bói toán và ma thuật: Tất cả những hình thức bói toán nhằm biết vận mệnh tương lai, đều trái nghịch với lòng tôn kính và phó thác cho một mình Thiên Chúa. Những cách thực hành ma thuật hoặc phù thủy nhằm có một quyền hành bí ẩn đối với đồng loại, đều nghịch với đức thờ phượng.
• Vô tôn giáo: Dùng lời nói hoặc hành vi để thử quyền phép Thiên Chúa: tội phạm thánh và tội mua thần bán thánh.
• Thuyết vô thần: Là chối bỏ Thiên Chúa hiện hữu, hoặc khước từ lệ thuộc vào Thiên Chúa, để đặt tất cả hy vọng, hạnh phúc và cùng đích nơi vật chất cũng như nơi con người.
• Thuyết bất khả tri: Không chối bỏ Thiên Chúa, nhưng chủ trương Thiên Chúa không thể mặc khải cho con người, và con người không thể nói gì, biết gì về Thiên Chúa.
III. Tôn kính ảnh tượng Trong Cựu Ước
Thiên Chúa cấm dùng bất cứ hình ảnh nào tượng trưng cho Thiên Chúa (x. Đnl 4, 15-15). Nhưng khi nhập thể, Con Thiên Chúa đã mang một hình hài thật sự. Do đó, việc tôn kính ảnh tượng của Kitô giáo không nghịch với điều răn thứ nhất. Vì khi tôn kính ảnh tượng, ta không tôn kính chính ảnh tượng, mà là tôn kính chính Đấng có hình ảnh đó. Lời cầu nguyện khi làm phép ảnh tượng diễn tả tâm tình phải có: "Lạy Chúa, Chúa không chê bác việc tạc vẽ tượng ảnh của các Thánh Chúa, để mỗi lần con mắt thể xác chúng con chiêm ngưỡng ảnh tượng đó, thì con mắt ký ức cũng suy niệm hành vi và đời sống thánh thiện của các Đấng mà bắt chước". Như thế, việc tôn kính ảnh tượng trở thành phương thế giúp cầu nguyện, sống mầu nhiệm hiệp thông các Thánh, và huấn luyện đời sống đức tin.
Bài 49
Điều răn II
Tôn kính Danh Thánh Chúa
(x. SGLC từ 2142 đến 2167)
"Hỡi tôi tớ Chúa, hãy dùng lời ca ngợi, Nào ca ngợi danh thánh Chúa đi! Chúc tụng danh thánh Chúa, Từ giờ đây cho đến mãi muôn đời! Ca ngợi danh thánh Chúa, Tự rạng đông tới lúc chiều tà! Chúa siêu việt trên hết mọi dân, Vinh quang Người vượt xa trời cao thẳm" (Tv 113, 1-4).
Điều răn thứ hai cũng thuộc về nhân đức thờ phượng như điều răn thứ nhất, nhưng liên quan đặc biệt đến lời và các sự thánh: không những tôn kính Danh Thánh Chúa, mà còn tôn kính tất cả những người, những vật đã được dâng hiến cho Chúa.
I. Danh Thánh Chúa
Khi mặc khải danh thánh cho con người, Thiên Chúa mặc khải chính bản thân thánh thiện siêu việt của Người. Danh Người là Thánh (x. Lc 1,49) như chính Thiên Chúa là Đấng Thánh. Người tín hữu phải tôn kính Danh Thánh Chúa, loan truyền và làm chứng danh thánh Chúa cho mọi người: "Chúng con nguyện danh Cha cả sáng". Những ai kêu danh Chúa hoặc tên Đức Maria, các Thánh cách nhẹ dạ, bất xứng, hoặc trong lúc tức giận, nhất là trong lúc chửi rủa, thì lỗi phạm điều răn thứ hai. Nguyền rủa hay nói phạm đến Chúa, là tội phạm thượng. "Ai nói phạm đến danh Đức Chúa, sẽ bị xử tử" (Lv 25-16). Điều răn thứ hai còn dạy ta phải tôn trọng những người, những nơi, và những vật đã được hiến dâng cho Chúa như các linh mục, tu sĩ, nhà thờ, đất thánh, ảnh tượng đã làm phép... Phải đặc biệt tôn kính các bí tích Thánh, nhất là bí tích Thánh Thể. Khinh dể hay xúc phạm đến Hội Thánh, phạm đến các Thánh, các nơi thánh, vật thánh, người được thánh hiến... là tội phạm thánh. Điều răn thứ hai cũng liên quan đến việc thề hứa. Thề là lấy Thiên Chúa chân thật làm chứng cho sự thành thật của mình. Thề gian là dám lấy danh Chúa làm chứng cho sự gian giối của mình. Bội thề là hứa với Thiên Chúa một điều gì mà có ý không giữ lời hứa, hoặc sau đó không thực hành điều đã hứa. Thề gian cũng như bội thề đều là tội nặng xúc phạm đến Chúa. Ngoài ra, không được nại đến danh Chúa vì những chuyện nhỏ nhặt. Tốt hơn, không nên thề thốt chi cả (x. Mt 5, 33-34,37).
II. Tên gọi Kitô hữu.
Người lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy trở thành Kitô hữu, nhờ kêu cầu danh thánh Thiên Chúa Ba Ngôi, và từ đó họ mang một tên mới trong cộng đoàn Hội Thánh. Đó là tên của Đức Mẹ hay của một vị Thánh. Nhận một vị Thánh làm bổn mạng, là cố gắng bắt chước gương mẫu tốt lành của vị Thánh, và được bảo đảm vị Thánh chuyển cầu cho trước mặt Chúa. Mỗi khi bắt đầu ngày sống, khởi đầu cầu nguyện và làm việc, người Kitô hữu làm dấu Thánh Giá, kêu cầu Chúa Cha, Chúa con và Chúa Thánh Thần, để cầu xin ân sủng hầu có thể làm vinh danh Chúa.
Bài 50
Điều răn III
Thánh hóa ngày Chúa Nhật
(x. SGLC từ 2168 đến 2195).
"Ngươi hãy nhớ ngày sa bát, mà coi đó là ngày thánh. Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của ngươi. Còn ngày thứ bảy là ngày sa bát kính Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi. Ngày đó, ngươi không được làm công việc nào". (Xh 20, 8-10) "Ngày sa bát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sa bát. Bởi đó, con người làm chủ luôn cả ngày sa bát". (Mc 2, 27-28)
I. Ngày Sa Bát
"Trong sáu ngày, người ta sẽ làm việc, nhưng ngày thứ bảy là ngày sa bát, một ngày nghỉ hoàn toàn dâng Đức Chúa" (Xh 31,15). Đối với dân Israel, ngày sa bát là ngày thánh hiến cho Thiên Chúa. Ngày đó nhắc lại công trình sáng tạo của Thiên Chúa (x. Xh 20, 11) và tưởng nhớ công cuộc giải phóng dân Ít-ra-en khỏi ách nô lệ người Ai cập" (x. Đnl 5,15). Như vậy Dân được chọn, phải tuân giữ ngày sa bát như dấu chỉ của giao ước vững bền. Không những dành ra, để ca tụng công trình sáng tạo và giải phóng, ngày sa bát còn là ngày nghỉ ngơi của dân Chúa theo mẫu gương của chính Thiên Chúa, "vì trong sáu ngày Đức Chúa đã dựng nên trời đất, nhưng ngày thứ bảy Người đã ngưng các việc và nghỉ ngơi" (Xh 31, 17). Đức Giêsu đã nhiều lần giải thích ý nghĩa đúng đắn của ngày sa bát, cũng như việc tuân giữ ngày đó theo ý định của Thiên Chúa (x. Mc 2, 27-28; 3,4).
II. Ý nghĩa của Ngày Chủ Nhật
Đức Giêsu, đã từ cõi chết sống lại "ngày thứ nhất trong tuần" (x. Mt 28, 1; Mc 16, 2; Lc 24,1; Ga 20,1). Ngày đó đã trở thành ngày quan trọng nhất của mọi ngày: ngày khởi đầu cuộc sáng tạo mới của Chúa Phục Sinh, ngày của Chúa, Chúa nhật. "Đây là ngày Chúa đã làm ra, nào, ta hãy vui mừng hoan hỉ" (Tv 118, 24). Chúa nhật tách biệt khỏi ngày sa bát, không những thay thế ngày sa bát, mà còn hoàn tất ý nghĩa của ngày sa bát, và loan báo sự nghỉ ngơi muôn đời nơi Thiên Chúa. "Những người sống trong trật tự cũ của vạn vật, đã đi tới một niềm hy vọng mới: họ không giữ ngày sa bát nữa, nhưng họ giữ ngày Chúa Nhật, là ngày mà cuộc đời của chúng ta được chúc phúc bởi Chúa, và bởi sự chết của Người". (Thánh I-nha-xi-ô An-ti-ô Khi-a).
III. Thánh Lễ Chúa Nhật
Ngay từ thời các Tông đồ, Chúa Nhật là ngày tập họp các tín hữu để cử hành Thánh Thể. "Chúa nhật là ngày mà theo truyền thống Tông Đồ, mầu nhiệm Phục sinh vẫn được cử hành, sẽ phải được giữ trong toàn thể Hội Thánh, như ngày lễ buộc chính yếu" (GL 1246). Tất cả các tín hữu trong cộng đoàn giáo xứ họp nhau cử hành Thánh Lễ Chúa Nhật chung quanh linh mục, được Đức Giám mục ủy quyền. Chính tại cộng đoàn giáo xứ mà sinh hoạt phụng vụ, việc dạy giáo lý và các công tác từ thiện được hình thành và tiến triển. Mọi sinh hoạt Kitô giáo đều bắt nguồn và đặt nền nơi Thánh lễ ngày Chúa Nhật. Bởi vậy các tín hữu Việt Nam, có bổn phận tham dự các Thánh Lễ Chúa Nhật và lễ Giáng Sinh (miền Nam) - và lễ Tứ Quí (miền Bắc) - Tham dự Thánh lễ Chúa Nhật là một bằng chứng trung thành với Chúa Kitô và với Hội Thánh, đồng thời các tín hữu hiệp thông với nhau trong tin yêu, nâng đỡ và khuyến khích nhau.
IV. Thánh hóa Chúa Nhật
Ngoài việc tham dự Thánh lễ là bổn phận trước tiên và chủ yếu để thánh hóa ngày của Chúa, người tín hữu còn dành Chúa nhật cho những việc hữu ích và cần thiết khác theo ý muốn của Chúa. "Chúa Nhật và các lễ buộc khác, tín hữu buộc phải tham dự Thánh lễ; lại nữa, phải kiêng những việc làm, và những hoạt động làm cản trở việc thờ phượng Thiên Chúa, niềm vui riêng trong ngày của Chúa, hoặc việc nghỉ ngơi tinh thần và thể xác cần phải có" (GL 1247). Thời giờ ngày Chúa Nhật cũng có mục đích dành để sống với gia đình, trau đổi văn hóa nghệ thuật cũng như đạo đức, và để thăm viếng bạn bè, nhất là đến với những bệnh nhân, tàn tật, già yếu, cô đơn. "Mỗi người cần được hưởng đầy đủ sự nghỉ ngơi và thời giờ nhàn rỗi, để sống đời sống gia đình, văn hóa, xã hội và tôn giáo" (MV 67).
Bài 51
Điều răn IV
Thảo Kính Cha Mẹ
(x. SGLC từ 2197 đến 2257)
"Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình" (Mc 12, 31). "Hãy tôn kính cha mẹ ngươi, để người được sống lâu trên đất mà Chúa là Thiên Chúa của ngươi đã ban cho người" (Xh 20, 12)
"Ai yêu người thì đã chu toàn lề luật" (Rm 13,8). Tình yêu ấy trước hết phải dành cho Tổ tiên, Ông Bà Cha Mẹ là những người có công sinh thành dưỡng dục ta. Vì thế, mở đầu cho 7 điều răn về yêu người, điều răn thứ tư dạy: phải thảo kính cha mẹ. Đây cũng là đòi hỏi rất phù hợp với truyền thống đạo đức của dân tộc Việt Nam. Và trong bài này, chúng ta tìm hiểu mối liên hệ, trách nhiệm và bổn phận giữa cha mẹ và con cái. Khi gia đình thực sự là cộng đồng tình yêu và sự sống, gia đình sẽ đóng góp rất nhiều cho việc xây dựng xã hội bình an, hạnh phúc.
I. Gia đình Công Giáo.
Khi dựng lên con người có nam và nữ, là Thiên Chúa đã muốn thiết lập gia đình. Gia đình được xây dựng dựa trên giao ước và sự ưng thuận tự do của vợ chồng, và hướng tới lợi ích cho vợ chồng cũng như tới việc sinh sản giáo dục con cái. Cha mẹ cùng với con cái có những liên hệ mật thiết và tự nhiên trong gia đình, và mỗi thành viên trong gia đình đều bình đẳng với nhau về phẩm giá, nhưng có những trách nhiệm quyền lợi và bổn phận khác nhau, để phục vụ lợi ích chung của gia đình và xã hội. Đó là bản chất của gia đình. Gia đình Kitô giáo cũng mang nội dung đó, nhưng hơn thế nữa, sự hiệp thông giữa những người có đức tin, cậy, mến, mang dấu vết và hình ảnh của sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Con trong Chúa Thánh Thần. Gia đình Kitô giáo cũng còn "mặc khải và thể hiện cách đặc biệt sự hiệp thông trong Hội Thánh, bởi đó mà gia đình Kitô giáo được gọi là một Hội Thánh tại gia" (Tông huấn gia đình, 21). Thực vậy, việc sinh sản và giáo dục con cái trong gia đình Kitô giáo phản ánh công trình sáng tạo của Chúa Cha, và gia đình Kitô giáo được mời gọi để tham dự việc cầu nguyện và hiến tế của Chúa Kitô, gia đình ấy cũng là một "cộng đồng có đặc ân, để vợ chồng thể hiện sự đồng tâm nhất trí cũng như sự cộng tác ân cần trong việc giáo dục con cái" (MV 52,1). Những ý nghĩa trên làm cho gia đình Kitô giáo có nhiệm vụ phúc âm hóa và truyền giáo.
II. Gia đình và Xã hội
Gia đình là tế bào đầu tiên của đời sống xã hội, là một cộng đoàn mà vợ chồng liên kết cho nhau trong tình yêu và trong việc trao ban sự sống. Quyền bính, sự ổn định và những mối liên hệ trong gia đình là nền tảng cho sự tự do, an ninh, và tình huynh đệ trong xã hội. Vì thế gia đình phải sống sao để mọi thành phần biết quan tâm lo lắng cho người trẻ cũng như già, người đau yếu hay khuyết tật, và cả những người nghèo trong gia đình mình. Như thế đời sống gia đình thực là cuộc khai tâm vào đời sống xã hội. Vì gia đình có tầm quan trọng đối với sự sống và sự lành mạnh của xã hội (x. Mv 47) nên xã hội có trách nhiệm đặc biệt để nâng đỡ và củng cố hôn nhân và gia đình. Xã hội phải có những biện pháp thích đáng để giúp đỡ và bảo vệ gia đình. Các cộng đồng lớn không được xâm phạm quyền lợi hoặc can thiệp vào nội bộ các gia đình. Trái lại, xã hội phải "hỗ trợ" cho gia đình. Chánh quyền có trách nhiệm phải "nhìn nhận và bênh vực bản chất đích thực của hôn nhân và gia đình, phải bảo vệ nền luân lý công cộng và tạo thuận lợi giúp gia đình được sung túc" (MV 52. Cụ thể là đảm bảo cho gia đình: - Quyền tự do xây tổ ấm, tự do sinh sản và dưỡng dục con cái theo xác tín luân lý và tôn giáo của mình. - Quyền tự do tuyên xưng và truyền bá đức tin, cũng như giáo dục con cái trong đức tin bằng những phương thế cần thiết. -Bảo vệ sự bền vững của dây hôn phối, bảo vệ quyền tư hữu, quyền có công ăn việc làm, quyền cư trú, quyền di cư, quyền được bảo vệ an ninh tránh khỏi thói nghiện hút, khiêu dâm, say sưa... (xem Tông Huấn Gia Đình, 46). "Sự lành mạnh về phương diện nhân bản và về phương tiện Kitô giáo của con người và của xã hội, tùy thuộc chặt chẽ vào tình trạng tốt lành của cộng đồng hôn nhân và gia đình" (MV 47).
III. Bổn phận Con cái
Vì ơn nghĩa sinh thành mà con cái dù lớn dù nhỏ đều phải hiếu thảo với mẹ cha. Đó là lệnh truyền của Thiên Chúa (x. Xh 20,12). Hiếu thảo trước hết là biết ơn những người đã sinh thành dưỡng dục. "Hãy hết lòng tôn vinh cha con, và đừng quên những đau khổ của mẹ con. Hãy nhớ rằng các ngài đã sanh ra con, con sẽ làm gì để đền đáp ơn nghĩa?" (Si 7, 27-28). Hiếu thảo là tỏ ra dễ dạy và vâng lời thành thật: "Con ơi, hãy giữ lấy lời cha truyền, đừng quên lời mẹ dạy. Những lời đó sẽ hướng dẫn khi con đi, bảo vệ khi con nghỉ, dạy dỗ khi con thức" (Pr 6, 20-22). Khi đã khôn lớn, con cái có trách nhiệm giúp đỡ cha mẹ cả vật chất lẫn tinh thần, trong lúc bệnh tật già yếu, hay lúc cô đơn buồn phiền. Chúa Kitô đã nhắc nhở rằng: "Người hãy thờ cha kính mẹ, và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ thì phải bị xử tử" (Mc 7,10). Lòng thảo kính cha mẹ giúp cho anh chị em biết thương nhau, nhờ đó cả gia đình được hòa thuận: "Hãy ăn ở thật khiêm tốn, hiền từ và nhẫn nại; hãy lấy tình bác ái mà chịu đựng lẫn nhau" (Ep 4, 2). Kitô hữu còn phải biết ơn đặc biệt những người đã giúp mình lãnh nhận đức tin, bí tích Rửa tội, và được sống trong Hội Thánh, như: cha mẹ, chú bác cô dì, ông bà, giáo sĩ, tu sĩ, giáo lý viên, thầy cô, bạn hữu...
VI. Bổn phận Cha Mẹ
Cha mẹ đã sinh thành thì phải dưỡng dục con cái về mọi mặt: nhân bản cũng như đức tin. "Vai trò cha mẹ trong việc giáo dục con cái thật là quan trọng đến nỗi hầu như không ai thay thế được" (GĐ 3). Không những cha mẹ có quyền mà còn có bổn phận giáo dục con cái, và cha mẹ là người có trách nhiệm trước hết trong việc giáo dục (x. Tông Huấn Gia đình 36).
* Về mặt nhân bản:
Trước hết cha mẹ phải xây dựng một tổ ấm gia đình, có qui luật dịu hiền, tha thứ, tôn trọng, trung tín và phục vụ vô vị lợi. Tổ ấm ấy là nơi tốt nhất để tập các nhân đức: tập quên mình, tập phán đoán lành mạnh, tập tự chủ... đó là những điều kiện để được tự do đích thực. Tổ ấm ấy là những môi trường tự nhiên để huấn luyện tình liên đới và tinh thần trách nhiệm trong cộng đồng. Cha mẹ phải dạy con cái biết đặt "những gì là vật chất và thuộc bản năng, phải lệ thuộc những gì thuộc nội tâm và tinh thần" (Ca 36). Nhất là cha mẹ có trách nhiệm năng làm gương tốt cho con cái, saün sàng nhận lỗi mình trước con cái, đó là điều khiến họ dễ hướng dẫn và sửa dạy chúng hơn.
* Về mặt đức tin:
Nhờ ơn Bí Tích Hôn Phối, cha mẹ có trách nhiệm và đặc ân phúc âm hóa con cái, nghĩa là khai tâm chúng vào đời sống đức tin, và đời sống Hội Thánh ngay từ tuổi thơ ấu: "Ước gì cha mẹ là những người đầu tiên dùng gương lành và lời nói mà truyền dạy đức tin cho con cái" (GH 11), và mọi người trong gia đình, nếu sống đời Kitô hữu theo Phúc Âm, cũng sẽ giúp chúng lớn lên trong đức tin. Cha mẹ lo dạy giáo lý, dạy con cái biết cầu nguyện và biết nhận ra chúng là con cái Thiên Chúa, cung cấp những nhu cầu vật chất và thiêng liêng, tập cho chúng xử dụng lý trí và tự do, chọn trường học phù hợp với niềm tin tôn giáo của mình, để đảm bảo cho chúng được nền giáo dục Kitô giáo (x.GD 6). Khi con cái đã khôn lớn và phải chọn nghề cũng như chọn bạn đời, cha mẹ không được ép buộc, nhưng phải góp ý và khuyên bảo, để chúng tín nhiệm và bàn hỏi và tự ý vâng theo. Nếu mỗi người trong gia đinh đều cố gắng lấy tình nghĩa gia đình và đức ái Chúa Kitô, để sống hòa hợp và không ngừng tha thứ cho nhau, khi có những xúc phạm, tranh cãi, bất công hay bê trễ, thì chính con cái cũng góp phần của chúng vào việc thánh hóa cha mẹ (x. MV 48).
V. Gia đình và Ơn Chúa Gọi
Tình nghĩa gắn bó mọi người trong gia đình với nhau thật là quan trọng, nhưng không phải là tuyệt đối. Con cái lớn lên tới tuổi trưởng thành và tự lập về nhân bản cũng như đức tin thế nào, thì ơn Chúa gọi cũng mỗi ngày một sáng tỏ và mạnh mẽ hơn như vậy. Cha mẹ phải tôn trọng ơn gọi, đó là tạo thuận lợi cho con cái đáp trả. Ơn gọi trước hết của Kitô hữu là theo Đức Giêsu: "Ai yêu cha mẹ mình hơn Thầy thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy thì không xứng với Thầy" (Mt 10, 37). Theo Đức Giêsu là trở nên môn đệ, là chấp nhận thuộc về gia đình của Thiên Chúa, sống đúng theo lối sống của Người: "Ai thi hành ý muốn của cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em Tôi, là mẹ Tôi" (Mt 12,49). Cha mẹ phải đón nhận và tôn trọng với niềm vui và lòng biết ơn khi biết Chúa gọi con cái mình theo Chúa trong bậc sống khiết tịnh Nước Trời, hay bậc sống tận hiến, hoặc bậc sống giáo sĩ.
VI. Bổn phận Nhà cầm quyền
Nhà cầm quyền trong xã hội đã lãnh nhận quyền bính do Thiên Chúa thì phải thi hành quyền bính để phục vụ: "Ai muốn làm lớn giữa anh em thì phải làm người phục vụ anh em" (Mt 20,26). Không được ra lệnh hoặc thiết định điều gì trái với nhân phẩm và luật tự nhiên, nhưng phải chứng tỏ mình biết đúng thứ tự các giá trị, để giúp mọi người sử dụng tự do và thi hành trách nhiệm. Những người có trách nhiệm phải khôn ngoan sử dụng quyền phân phối sắp đặt cho công bằng, bằng cách quan tâm đến những nhu cầu và sự đóng góp của mỗi người, cũng như nhằm duy trì sự hòa thuận và bình an, không để cho lợi ích của cá nhân đối nghịch với lợi ích của cộng đồng. (x. Ca 25). Chánh quyền phải tôn trọng những quyền căn bản của con người. Những quyền chánh trị đi đôi với quyền công dân thì có thể và phải để cho công dân được hưởng, tùy như công ích đòi hỏi, không được rút các quyền đó lại, khi không có lý do chánh đáng và tương xứng. Việc thi hành các quyền chánh trị là nhằm mưu ích chung cho quốc gia và cộng đồng nhân loại.
VII. Bổn phận người công dân.
Người cấp dưới phải coi cấp trên như những người thay mặt Thiên Chúa. "Hãy vì Chúa mà tùng phục mọi cơ chế của loài người. (...) Hãy hành động như những người tự do, đừng như những người lấy tự do làm màn che sự gian ác của họ, nhưng như những đầy tớ của Thiên Chúa" (1Pr 2,13,16). Để cộng tác thành thật với cấp trên, cấp dưới có quyền và đôi khi có bổn phận can gián cấp trên về những gì có thể gây nguy hại cho phẩm giá con người và lợi ích của cộng đồng. Bổn phận người công dân là góp phần với chánh quyền để mưu ích cho xã hội trong tinh thần thành thật, công bằng, liên đới và tự do. Công dân phải yêu mến và phụng sự tổ quốc vì là bổn phận biết ơn và thuộc đức bác ái. Phải tùng phục nhà cầm quyền, và cùng trách nhiệm đối với công ích để nộp thuế, đi bầu cử, bảo vệ xứ sở đúng như luân lý đòi hỏi: "Nộp sưu cho người đòi sưu, trả thuế cho người đòi thuế, sợ người phải sợ, kính người phải kính" (Rm 13,7). Công dân bị buộc theo lương tâm không được tuân theo những chỉ thị nào của chánh quyền trái nghịch với đòi hỏi của luân lý, trái với quyền căn bản của con người, hay giáo huấn của Phúc Âm (x.MV 74). Quyền từ chối vâng phục trong những trường hợp đó dựa vào sự phân biệt giữa việc phục vụ Thiên Chúa và phục vụ cộng đồng chính trị. "Hãy trả cho César cái gì của César, trả cho Thiên Chúa cái gì của Thiên Chúa" (Mt 22, 21). "Phải vâng lời Thiên Chúa hơn vâng lời người ta" (Cv 5,29). Khi phản kháng sự áp bức của chánh quyền, không được phép dùng võ khí, trừ khi hội đủ các điều kiện như:
1.Có vi phạm các quyền căn bản một cách thực sự, trầm trọng và kéo dài.
2. Sau khi đã thử hết mọi biện pháp khác.
3. Không gây xáo trộn tệ hại hơn.
4. Có hi vọng chắc thành công.
5. Không thể tiên liệu những giải pháp nào tốt hơn.
VIII. Điều răn IV và đạo hiếu của con người Việt Nam.
1. Điều răn IV mở đầu cho bảy điều răn dạy về yêu người, và là một trong các nền tảng của học thuyết xã hội của Hội Thánh. Điều răn nầy đòi hỏi: phải thảo kính cha mẹ. Hơn thế nữa, còn soi sáng cho các mối liên hệ khác trong gia đình và xã hội, giúp mọi người nhận ra anh chị em ruột thịt hay họ hành đều là con cái của cha mẹ, chú bác, cô dì... Nhận ra mọi đồng bào đều là con của tổ quốc, nhận ra những người đã được Rửa Tội đều là con của Mẹ Hội Thánh, và mỗi người đều là con của Đấng muốn mọi người gọi là Cha. Vì thế, người thân cận ta không phải chỉ là một cá thể xa lạ trong tập thể loài người, nhưng là một người đáng để ta đặc biệt quan tâm và kính trọng, vì ta đã biết gốc gác của họ (SGLC 2212).
2.Kitô hữu Việt Nam sống trong lòng dân tộc đã có saün truyền thống rất tốt đẹp để sống với nhau trong gia đình, ngoài xã hội và đối với cả trời đất. Đặc biệt là Đạo Hiếu dạy:
"Uống nước nhớ nguồn,
Làm con phải hiếu.
Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con."
Nghĩa là phải phụng dưỡng cha mẹ lúc còn sống cũng như khi đã qua đời (sự sinh như sự tử), là chăm lo săn sóc lúc cha mẹ già yếu; và sau khi chết phải lo an táng, lễ giỗ, lập bàn thờ, xây đắp mộ, với nhang đèn để tỏ lòng báo hiếu... Đối với thầy cô dạy dỗ thì dù được một chữ hay nửa chữ cũng không quên thầy. Đối với nhà cầm quyền thì coi như cha mẹ (phụ mẫu chi dân)... Đó là những vốn quý của dân tộc mà Kitô hữu Việt Nam phải trân trọng và phúc âm hóa, theo gương Chúa Kitô. Chúa Kitô là mô hình tuyệt vời về lòng hiếu thảo với Cha trên trời: "Xin theo ý Cha, đừng theo ý Con" (Mt 26,39), với cha mẹ dưới đất: "Người hằng vâng phục các ngài" (Lc 2,54). Người cũng là mô hình tuyệt hảo cho những ai có trách nhiệm trên người khác, vì Người là Chúa và là thầy mà còn rửa chân cho môn đệ, để phục vụ họ (x.Ga 13,14). Kitô hữu Việt Nam phải phát huy truyền thống Đạo Hiếu của dân tộc, như chỉ thị của Hội Đồng Giám Mục VN (1965), để xóa bỏ thành kiến của nhiều người vẫn cho rằng: theo đạo Công giáo là bỏ ông bà.
Bài 52
Điều răn thứ V
Tôn trọng sự sống
(x. SGLC từ 2258 đến 2330).
"Ngươi sẽ không phạm tội giết người" (Xh 20,13). "Anh em đã nghe luật dạy người xưa rằng: chớ giết người. Ai giết người thì đáng bị đưa ra tòa. Còn Thầy, Thầy bảo anh em biết, ai giận anh em mình thì phải bị đưa ra tòa" (Mt 5, 21-22). "Ai yêu người thì đã chu toàn lề luật" (Rm 13,8). Tình yêu phải được thể hiện qua thái độ tôn trọng người khác mà trước hết là tôn trọng sự sống của họ, vì sự sống là quà tặng quý giá nhất Thiên Chúa ban cho con người. Vì thế, điều răn thứ năm nầy dạy "không được giết người", hơn thế nữa, còn phải tôn trọng sự sống con người, sự sống toàn diện và trong mọi chiều kích.
I. Tôn trọng sự sống con người.
Sự sống con người có giá trị linh thánh vì ngay từ khởi đầu, sự sống đã do chính Thiên Chúa tạo dựng, và mãi mãi có liên hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hóa là cùng đích của nó. Câu chuyện Cain giết em là Abel cho thấy ngay từ đầu lịch sử loài người đã có cảnh máu đổ do huynh đệ tương tàn. Cựu ước luôn coi máu như dấu hiệu linh thánh của sự sống (x.Lv 17,14) và xác định rằng: "Ngươi không được giết người vô tội cũng như người công chính" (Xh 23,7). Giết người vô tội là xúc phạm nặng đến phẩm giá con người, và đến sự thánh thiện của Đấng Tạo Hóa. Chúa Kitô đã nhắc lại lệnh truyền "Ngươi không được giết người" (Mt 5,21) và còn thêm rằng: "không được giận, ghét hoặc oán thù" (Mt 5,22). Người còn đòi môn đệ "nếu bị vã má phải, thì giơ luôn má trái nữa" (Mt 5,39) và "phải yêu cả kẻ thù" (Mt 5,44). Chính Người cũng đã không tự vệ khi bị bắt trói và còn bảo ông Phêrô "cất gươm vào vỏ" (MT 26,52).
II. Tự vệ chính đáng.
Yêu mến bản thân là một nguyên tắc căn bản của luân lý. Ta có quyền chính đáng để đòi hỏi mọi người phải tôn trọng quyền sống của ta. Nếu vì bảo vệ sự sống mình mà phải giết kẻ gây hấn, thì không phạm tội giết người. Sự tự vệ chính đáng nầy không những là một quyền mà còn là một bổn phận cốt yếu của những ai có trách nhiệm đối với sự sống người khác, đối với lợi ích chung của gia đình hay xứ sở. Để bảo vệ lợi ích chung của xã hội, họ phải làm cho kẻ gây hấn không thể tác hại nữa. Giáo huấn truyền thống của Hội Thánh công nhận rằng chánh quyền hợp pháp có quyền và bổn phận trừng phạt tùy theo tội nặng nhẹ, và trong các trường hợp tội rất nặng thì được phạt tử hình. Cũng vì lý do trên, các nhà cầm quyền được phép dùng võ khí để đẩy lui những kẻ gây hấn khỏi địa phương mình chịu trách nhiệm. Hình phạt có hậu quả trước hết là để bù trừ sự mất trật tự do tội gây ra. Nếu phạm nhân tự nguyện chịu phạt thì hình phạt có giá trị đền tội. Hình phạt còn có hậu quả bảo vệ trật tự công cộng và an ninh của mọi người. Sau hết, hình phạt cũng có giá trị sửa chữa, phải làm hết sức mình cho nó giúp phạm nhân đền bù tội (x.Lc 23, 40-41). Nếu chỉ dùng những biện pháp không đổ máu cũng đủ để bảo vệ trật tự an ninh thì nhà cầm quyền nên sử dụng, vì như thế phù hợp hơn với lợi ích chung và phẩm giá con người.
III. Những tội nghịch điều răn V
1. Tội cố ý giết người:
Ai trực tiếp và cố ý giết người là phạm tội nặng. Kẻ giết người cũng như kẻ cố ý cộng tác trong việc giết người đều phạm tội kêu oán thấu trời (x. St 4,10). Giết con cái, anh em, cha mẹ, người bạn hôn phối của mình là những tội nặng đặc biệt, vì cắt đứt cả tình nghĩa máu mủ tự nhiên. Ai cố ý gây chết cho người khác cách gián tiếp, nghĩa là để mặc cho người khác phải nguy tử, hoặc từ chối giúp người đang gặp nguy tử cũng phạm đến điều răn nầy. Trừ khi có lý do quan trọng (để mặc người khác chết đói mà không tìm cách giúp là tội nặng).
2. Phá thai:
Phải tuyệt đối tôn trọng và bảo vệ sự sống con người ngay từ lúc thụ thai làm người. Đã là người, là phải được nhìn nhận có quyền của con người, trong đó quyền được sống của người vô tội là quyền bất khả xâm phạm (x. CDF 1,1). Ngay từ khi thụ thai, bào thai phải được đối xử như một nhân vị, được bảo vệ toàn vẹn, được chăm sóc chữa trị với hết khả năng như mọi người khác. Ngay từ thế kỷ I, Hội Thánh đã khẳng định rằng mọi cuộc cố tình phá thai là trái luân lý. Giáo huấn nầy vẫn không hề thay đổi. Trực tiếp phá thai nghĩa là dùng việc phá thai như một mục đích, hay một phương tiện đều trái luật luân lý cách nặng. "Phá thai và giết trẻ em là tội ác ghê tởm" (MV 51,3). Cộng tác tích cực vào việc phá thai cũng là tội nặng. Hội Thánh phạt vạ tuyệt thông cho tội đó "Ai thực hiện việc phá thai có kết quả thì mắc vạ tuyệt thông" (CIC số 1348), làm như thế Hội Thánh không muốn thu hẹp lòng thương xót, nhưng muốn nêu bật sự trầm trọng của tội phá thai, và sự thương tổn không thể nào sửa chữa được đã gây ra cho trẻ vô tội bị giết chết, cho cha mẹ và cho cả xã hội. Sản xuất các thai nhi để khai thác như vật liệu cho sinh học cũng là vô luân lý.
3. Làm chết êm dịu:
Những người đau yếu, khuyết tật cần được nâng đỡ để sống đời bình thường như có thể được. Trực tiếp làm cho họ được chết êm dịu, là không thể chấp nhận được về luân lý, dù với bất cứ lý do hay trong phương tiện nào, vì nghịch với phẩm giá con người và xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa. Nếu ngưng dùng các thuốc quá tốn kém, nguy hiểm, quá khác thường hoặc không xứng với kết quả mong muốn, và vì thế đương sự phải chết thì hợp pháp. Vì không phải muốn làm chết, nhưng chỉ là chấp nhận không thể ngăn được sự chết. Nhưng việc nầy phải được chính bệnh nhân, hay người hưởng quyền trước pháp luật quyết định.
4. Tự sát:
Mỗi người có trách nhiệm trước Thiên Chúa về sự sống của mình, vì Thiên Chúa mới là chủ tối cao của sự sống, phần ta phải đón nhận sự sống với lòng biết ơn, và bảo vệ nó vì danh dự và vì ơn cứu độ cho linh hồn. Ta chỉ là quản lý chứ không làm chủ sự sống. Tự sát là tội nặng nghịch lý với đức công bằng, đức cậy và đức ái, vì nó nghịch với bản năng sinh tồn, nghịch nặng với lòng yêu mình cách chính đáng, xúc phạm đến đức yêu người, vì cắt đứt cách bất công mối tình liên đới bó buộc mình phải có với gia đình, đất nước và nhân loại, nhất là nghịch với Thiên Chúa hằng sống. Cố ý cộng tác vào việc tự sát là việc trái luân lý. Tự sát vì bị thần kinh rối loạn nặng, vì quá lo âu sợ hãi trước thử thách, trước đau khổ, hoặc bị tra tấn thì trách nhiệm giảm đi. Ta không nên tuyệt vọng coi người tự sát là đã mất ơn cứu độ, vì Thiên Chúa có đủ cách để tạo cơ hội cho họ ăn năn sám hối. Hội Thánh cầu nguyện cho những người muốn hủy hoại mình.
IV. Tôn trọng phẩm giá con người.
Điều răn V không chỉ ngưng lại ở những cấm đoán, nhưng còn mời gọi tôn trọng sự sống cách tích cực và toàn diện.
1. Tôn trọng sự sống thiêng liêng:
Làm gương xấu là cám dỗ người khác, là phá hoại nhân đức và sự ngay chính, là lôi kéo người khác vào chỗ mất linh hồn. Gương xấu là tội nặng, khi dùng hành động hoặc không hành động để cố tình làm cho người khác phạm tội nặng. Gương xấu trở thành tội nặng đặc biệt tùy theo uy thế của người gây ra. (Thầy dạy, nhà giáo dục) (x.Mt 7,15) và tùy theo sự yếu đuối của người chịu ảnh hưởng của nó. "Những ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin Thầy đây phải sa ngã, thì thà treo cối đá lớn vào cổ nó mà xô cho chìm xuống đáy biển còn hơn" (MT 18,6). Luật pháp, cơ chế, thời trang, dư luận đều có thể gây gương xấu, và bất cứ người nào cũng có thể gây ra gương xấu, làm gương xấu thì phải chịu trách nhiệm về hậu quả xấu mà mình trực tiếp hay gián tiếp gây ra. "Không thể không có gương xấu, nhưng khốn cho ai làm gương xấu" (Lc 17,1).
2. Tôn trọng sức khỏe:
Sự sống và sức khỏe phần xác là những của cải quý báu Thiên Chúa trao ban, ta phải chăm lo cho hợp lý, đồng thời phải tôn trọng những nhu cầu của người khác và của công ích. Xã hội phải trợ giúp để chăm lo sức khỏe cho công dân có đủ điều kiện sinh sống để phát triển và đạt tới mức trưởng thành như: ăn, mặc, nhà cửa, việc làm, trường học... Tuy nhiên, luân lý không cổ võ cho việc tôn thờ thân xác, dùng tất cả mọi sự chỉ để lo sắc đẹp và thành công về thể thao. Cần phải giữ nhân đức tiết độ, tránh mọi thứ thái quá về ăn nhậu, hút thuốc, dùng thuốc. Những người nghiện rượu hoặc ham chạy xe tốc độ cao, gây nguy hiểm đến sự an toàn của người khác, cũng như chính mình đều có tội nặng. Dùng ma túy làm hủy hoại sức khỏe và sự sống mình là tội nặng, trừ khi để chữa bệnh thực sự. Việc lén sản xuất và buôn lậu ma túy đều là hành vi gây gương xấu, vì là trực tiếp cộng tác để dẫn đến những việc trái luân lý nặng.
3. Tôn trọng con người và nghiên cứu khoa học:
Những nghiên cứu của khoa học, y học hay tâm lý học về con người hoặc về các nhóm người, có thể giúp chữa trị bệnh tật và thăng tiến sức khỏe của mọi người. Nhưng để tìm tòi và nghiên cứu trên thân thể con người, không thể cho phép những hành vi tự chúng nghịch với phẩm giá con người và luật luân lý, dù đương sự đó có ưng thuận cũng không được. Việc thí nghiệm như thế cũng không hợp pháp, nếu nó có thể gây cho sự sống hoặc sự vẹn toàn thể lý hay tâm lý của đương sự những rủi ro không tương xứng và có thể tránh được. Những thí nghiệm trên thân thể con người đều không phù hợp với phẩm giá con người, nếu lại không được đương sự hay người có thẩm quyền ưng thuận rõ ràng. Ví dụ: Việc cắt và cấy các cơ quan của người nầy cho người kia.
4. Tôn trọng sự toàn vẹn của thân thể:
Những vụ bắt cóc và bắt làm con tin để gây kinh hoàng, và dùng đe dọa gây áp lực khủng khiếp cho nạn nhân, đều không hợp luân lý. Việc khủng bố bằng đe dọa, gây thương tích và giết chết không cần phân biệt gì cả, là nghịch nặng với đức công bằng và bác ái. Việc tra tấn dùng bạo lực đối với thân xác hay tinh thần cốt để lấy cung, để trừng phạt phạm nhân, gây khiếp sợ cho kẻ chống đối, thỏa mãn lòng căm thù, đều nghịch với sự tôn trọng con người và phẩm giá họ. Việc cố ý trực tiếp cắt bỏ hoặc làm vô sinh một phần thân thể của những người vô tội đều trái luật luân lý, trừ khi lý do chữa trị theo y học.
5. Tôn trọng người chết:
Phải chú ý chăm sóc người đang hấp hối, để giúp họ sống những giây phút cuối đời trong danh dự và an bình, bằng lời cầu nguyện, và giúp họ lãnh các bí tích để họ sửa soạn gặp gỡ Thiên Chúa. Xác người qua đời phải được kính trọng yêu mến với niềm tin và hy vọng xác sẽ sống lại. Việc chôn cất người chết là việc thương xót thể xác, để tỏ lòng kính con cái Thiên Chúa, là đền thờ Chúa Thánh Thần. Việc hiến tặng các phần thân thể sau khi chết là hợp pháp và đáng khen. Hội Thánh cho phép hỏa táng nếu không tổn hại đến niềm tin về việc xác sống lại (x.CIC số 1176,3).
V. Bảo vệ hòa bình
1. Khi Chúa dạy: "chớ giết người" là đòi hỏi có hòa bình trong tâm hồn, và tố cáo rằng sự giận ghét đến giết người là vô luân lý. Muốn trả thù cho điều xấu do người đáng phải phạt gây ra là bất hợp pháp, nhưng nên bắt họ đền bù để họ sửa tính xấu và gìn giữ công bằng. Nếu giận đến nỗi cố tình giết hoặc gây thương tích nặng thì phạm tội nghịch đức ái (x.MT 5,22). Ghét người là tội khi cố ý muốn điều xấu cho họ. Ghét người thành tội nặng khi cố ý muốn điều nặng cho họ "Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em" (Mt 5,44-45). "Hòa bình không hẳn là vắng bóng chiến tranh, cũng không giản lược vào việc cân bằng giữa các lực lượng đôi bên" (MV 78). Không thể có hòa bình ở trần gian nếu không duy trì được những lợi ích của mọi người, sự giao lưu tự do giữa mọi người, sự tôn trọng phẩm giá con người và các dân tộc và tình huynh đệ bền vững. Hòa bình là "có trật tự yên ổn", là "công trình của công bằng", là "hiệu quả của đức ái" (x.MV 78). Hòa bình dưới thế là hình ảnh của hoa trái của hòa bình Chúa Kitô, là "Hoàng tử Hòa bình" (Is 9,5) là Đấng đã tuyên bố "Phúc cho ai xây dựng hòa bình" (Mt 5,9).
2. Tránh chiến tranh: Vì chiến tranh nào cũng gây bao tai họa và bất công, nên Hội Thánh thôi thúc mọi người cầu nguyện và hoạt động để "lòng nhân từ" Thiên Chúa giải thoát ta khỏi ách nô lệ chiến tranh. Tuy nhiên, bao lâu còn có nguy cơ xảy ra chiến tranh, và bao lâu chưa có một uy quyền quốc tế có thẩm quyền và có trong tay những lực lượng đầy đủ, người ta sẽ không thể khước từ quyền tự vệ chính đáng của các nhà cầm quyền, một khi đã tận dụng các khả năng dàn xếp hòa bình (MV 79,4). Để có thể thi hành quyền tự vệ chính đáng bằng quân lực, cần xem xét để hội đủ các điều kiện sau:
• Những thiệt hại do bên gây hấn gây ra cho quốc gia và cho cộng đồng các quốc gia phải lâu dài, nặng nề, và chắc chắn.
• Tất cả những phương tiện khác để chấm dứt tình trạng trên, tỏ ra không thực thi được hoặc vô hiệu quả.
• Có đủ những điều kiện nghiêm chỉnh để thành công.
• Việc sử dụng võ khí không mang lại những tai hại và xáo trộn nghiêm trọng, hơn là tai hại cần phải loại trừ. Muốn có điều kiện nầy cần phải cân nhắc kỹ đến sức mạnh hủy diệt của các phương tiện chiến tranh hiện đại. Trong trường hợp phải tiến hành chiến tranh tự vệ, chánh quyền có quyền và bổn phận áp đặt trên công dân những nghĩa vụ cần thiết cho việc quốc phòng. "Đối với những ai hy sinh phục vụ tổ quốc trong quân ngũ, họ cũng phải coi mình như những người đem lại an ninh và tự do cho các dân tộc. Và nếu họ chu toàn bổn phận nầy họ thực sự đóng góp vào việc cũng cố hòa bình"? (MV 79,5). Tuy nhiên, dù trong chiến tranh, lúc nào các luật luân lý cũng có hiệu lực, "không phải vì chiến tranh đã chẳng may khai diễn mà các đối phương đều được cho phép làm gì thì làm" (Mv 79). Phải tôn trọng và đối xử nhân đạo với những người không chiến đấu, với thương binh và tù binh. Những hành động cũng như những lệnh truyền được suy tính nhưng trái với nhân quyền và trái với các nguyên tắc phổ quát đều là tội ác. Cần phải chống lại những mệnh lệnh như vậy. "Mọi hành vi chiến tranh nhằm tiêu diệt bừa bãi cả một thành phố hoặc những vùng rộng lớn với dân cư ở đó, là một tội ác chống lại Thiên Chúa và chính con người. Cần phải cực lực và không ngần ngại lên án những tội ác đó" (MV 80). Các võ khí hiện đại như võ khí hạch tâm hay hóa học, rất dễ dàng gây nên những tội ác như vậy.
3. Việc chạy đua vũ khí khi không bảo đảm hòa bình mà "là một vết thương trầm trọng của nhân loại, và nó xúc phạm người nghèo một cách không thể tha thứ được" (MV 81). Việc sản xuất và buôn bán vũ khí có ảnh hưởng đến công ích của các quốc gia và cộng đồng quốc tế. Các chính phủ có quyền và bổn phận điều chỉnh việc đó. Việc tìm kiếm lợi nhuận cho cá nhân hay cho cộng đồng, không thể biện minh cho những hành động chỉ khơi thêm bạo lực và tranh chấp giữa các quốc gia, tác hại đến trật tự pháp lý quốc tế. Chính những bất công, những chênh lệch quá ư về kinh tế hay xã hội, sự ghen tương, ngờ vực và kiêu ngạo đang sôi sục giữa mọi người và mọi dân tộc, vẫn không ngừng đe dọa hòa bình và gây ra chiến tranh. Thực vậy. "Bao lâu con người còn là những kẻ tội lỗi, thì hiểm họa chiến tranh còn đe dọa, và vẫn sẽ còn đe dọa cho tới khi Chúa Kitô lại đến. Tuy nhiên, chừng nào nhờ sự hiệp nhất trong tình thương, con người thắng vượt được tội lỗi thì cũng thắng vượt được bạo lực, cho tới khi lời sau đây được hoàn tất: "Họ sẽ rèn gươm thành lưỡi cày, và giáo thành lưỡi liềm. Các dân tộc sẽ không rút gươm đâm chém nhau và không còn tập luyện chiến tranh nữa" (MV 78). "Phúc cho những ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được là con Thiên Chúa" (Mt 5,9).
Bài 53
Điều răn thứ VI
Sống trong sạch
(x. SGLC từ 2331 đến 2400).
"Anh em đã nghe luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5, 27-28).
I. Giá trị của giới tính.
"Thiên Chúa là tình yêu. Người sống nơi chính bản thân mình mầu nhiệm hiệp thông và yêu thương. Khi tạo dựng con người có nam có nữ giống hình ảnh Người (...) Người khắc ghi trong họ ơn gọi, nghĩa là khả năng và trách nhiệm tương ứng, để sống yêu thương và hiệp thông" (PC 11). Như thế loài người có hai giới nam và nữ. Mỗi giới có những đặc tính riêng gọi là giới tính. Giới tính chi phối mọi khía cạnh của con người cả hồn lẫn xác, đặc biệt là khía cạnh cảm xúc, khả năng yêu thương và sinh sản, nói tổng quát hơn là khả năng nối kết những quan hệ để hiệp thông với người khác. Mỗi người nam và nữ phải hiểu biết và chấp thuận giới tính của mình đó là những đặc tính vừa khác biệt vừa bổ túc cho nhau về thể xác, luân lý và tinh thần, cốt để mưu ích cho hôn nhân và phát huy đời sống gia đình. Sự hòa hợp trong đời sống lứa đôi và đời sống xã hội, tùy thuộc một phần vào cách sống của hai người nam nữ biết bổ túc cho nhau, biết nâng đỡ nhau và nương tựa lẫn nhau. Nam hay nữ đều có phẩm giá bình đẳng như nhau, nhưng mỗi giới phản ánh quyền năng và tình âu yếm của Thiên Chúa cách khác nhau. Đức Giêsu đã đến khôi phục mọi tạo vật trong sự tinh tuyền nguyên thủy của chúng. Người đã dạy: "Anh em đã nghe luật dạy rằng: Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết: ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5, 27-28). "Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, con người không được phân ly" (Mt 19,6). Và truyền thống Hội Thánh hiểu rằng, điều răn VI bao gồm toàn bộ những gì thuộc giới tính con người.
II. Ơn gọi khiết tịnh
Khiết tịnh có nghĩa là con người hòa nhập giới tính cách tốt đẹp nơi bản thân mình, nhờ có cả xác hồn được thống nhất từ bên trong. Giới tính cho thấy con người phải lệ thuộc vào thể xác và sinh lý; nhưng khi giới tính được hòa nhập trong tương quan giữa người với người, trong việc người nam người nữ hiến dâng trọn vẹn và mãi mãi cho nhau, thì giới tính lại mang giá trị cao quý. Như thế đức khiết tịnh bao gồm việc con người sống thanh khiết toàn vẹn và hiến dâng trọn vẹn.
1. Sống thanh khiết toàn vẹn:
Người khiết tịnh là người duy trì được sự sống và tình yêu của mình toàn vẹn liêm khiết, làm cho bản thân được thống nhất, chống lại những gì là giả hình gian dối. Muốn thế, phải tập tự chủ, tập hướng dẫn tự do của mình, không để mình nô lệ các đam mê, các bản năng hoặc áp lực bên ngoài (x.MV 17). Muốn tập phải dùng các phương tiện như: biết mình tự kiềm chế cho phù hợp hoàn cảnh sống, vâng theo luật Chúa, siêng năng cầu nguyện, tập các nhân đức, đặc biệt là nhân đức tiết độ, giúp ta dùng lý trí chi phối các đam mê và thèm muốn tình cảm. Việc tập tự chủ phải là công trình dài hạn không chỉ một lần là đủ, mà ở tuổi đời nào cũng phải tập đi tập lại (x.Tt 2,1-6), và phải tập khẩn trương hơn trong tuổi nhân cách đang thành hình, như tuổi trẻ và tuổi thiếu niên. Đức khiết tịnh cũng theo những định luật tăng trưởng, nghĩa là phải trải qua lúc bất toàn và nhiều khi còn tội lỗi nữa. Đức khiết tịnh được coi là chuyện riêng tư của bản thân, nhưng nó cũng đòi hỏi một số gắng phát triển văn hóa, vì "sự thăng tiến của nhân vị tùy thuộc ở sự phát triển của xã hội" (MV 25,1). Xã hội có giúp con người được biết và được giáo dục, thì họ mới dễ dàng tôn trọng các giá trị luân lý. Sau hết, đức khiết tịnh là một ơn của Chúa, là hoa trái của Thánh Thần (x. Gl 5,23).
2. Hiến dâng trọn vẹn:
Việc tự chủ bản thân để duy trì đức khiết tịnh dẫn đến việc hiến dâng, làm cho ta trở thành nhân chứng cho người khác về lòng trung tín và tình âu yếm của Thiên Chúa. Nhờ ảnh hưởng của đức ái, đức khiết tịnh được coi là trường dạy hiến dâng. Đức khiết tịnh nảy nở trong tình bạn hữu, nó giúp ta biết noi theo bắt chước Chúa Kitô. Đấng đã chọn ta làm bạn hữu Người (x.Ga 15,15) và tận hiến cho ta để ta được làm con cái Thiên Chúa. Đức khiết tịnh được bày tỏ nhất là trong tình bạn hữu với người thân cận, dù là nam hay nữ, tình bạn ấy được coi là một ích lợi lớn lao cho mọi người, nó dẫn đến sự hiệp thông trong tâm hồn. "Đức khiết tịnh làm cho ta tổ chức lại bản thân, đem đến chỗ hiệp nhất mà ta đã đánh mất vì chính ta đã phân tán" (Âu-tinh, tự thuật 10,29). Mỗi Kitô hữu đều được mời gọi sống khiết tịnh trong bậc sống của mình. "Người thì khiết tịnh trong bậc đồng trinh hay bậc độc thân được thánh hiến, là phương thế trổi vượt để dễ dàng hiến dâng cho Thiên Chúa một con tim không chia sẻ: người khác thì khiết tịnh theo luật luân lý ấn định chung cho mọi người trong bậc sống vợ chồng hoặc ở vậy (độc thân) ". (CDF 11). Những người đã đính hôn cũng được mời gọi sống khiết tịnh bằng việc tiết dục. Việc tiết dục giúp họ tôn trọng nhau, tập giữ lòng chung thủy, và hy vọng được Chúa giúp chấp nhận nhau. Họ giúp nhau lớn lên trong khiết tịnh.
III. Những tội nghịch đức khiết tịnh.
Tội dâm ô là một ước muốn hỗn loạn chỉ tìm hướng khoái lạc nhục dục mà không nhằm mục đích sinh sản và hiệp nhất với nhau. Ước muốn như vậy trái luân lý.
Tội thủ dâm là cố tình kích thích cơ quan sinh dục để tìm khoái lạc nhục dục, ngoài mục đích yêu thương và hiến dâng trọn vẹn cho nhau, để sinh sản con cái (x.CDF Persona Humana 9). Trong mục vụ, để xét đoán cho đúng tội nầy, cần lưu ý đến tình trạng chưa trưởng thành về tình cảm, đến sức mạnh của thói quen đã mắc phải, đến tình trạng xao xuyến và các nhân tố tâm lý hay xã hội làm giảm tội, và thậm chí còn xóa bỏ tội về mặt luân lý.
Tội tà dâm là quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân giữa một người nam và người nữ. Tội nầy nghịch nặng với nhân phẩm và tính dục của con người, vì tính dục hướng tới lợi ích của vợ chồng, cũng như sinh sản và giáo dục con cái. Tội nầy gây gương xấu nặng khi phạm với thanh thiếu niên.
Tội khiêu dâm là trình bầy cho người khác những hành vi tính dục đã làm thật hoặc chỉ giả vờ. Nó làm biến chất hành vi vợ chồng hiến dâng thân mật cho nhau. Nó xúc phạm phẩm giá của những người lao mình vào nó: diễn viên, con buôn, dân chúng, vì người nầy trở thành một trò chơi thô lỗ và một mối lợi bất chính cho người kia. Nó dìm cả đôi bên trong ảo tưởng về một thế giới giả tạo. Đó là một lỗi nặng. Chánh quyền cần nghiêm cấm sản xuất và phổ biến các sản phẩm khiêu dâm.
Tội mãi dâm là xúc phạm đến phẩm giá của người hành nghề mãi dâm, vì họ chỉ là trò vui nhục dục cho người khác. Người mua dâm phạm tội nặng đến chính mình vì lỗi đức khiết tịnh đã cam kết khi được Rửa tội, và làm ô uế thân thể mình là đền thờ Chúa Thánh Thần. Đây là một tai họa trong xã hội, thường liên hệ đến phụ nữ, nhưng cũng liên hệ đến cả đàn ông, trẻ em hoặc thiếu niên. Với giới trẻ này, người ta còn phạm tội làm gương xấu nữa. Tuy nhiên sự nghèo khổ và áp lực xã hội có thể giảm đi trách nhiệm.
Tội hiếp dâm là dùng bạo lực cưỡng bức người khác phải quan hệ tình dục. Tội nầy phạm đến đức công bằng và đức ái, nghĩa là đến quyền được tôn trọng, quyền tự do và sự toàn vẹn thanh khiết cả thân xác lẫn tinh thần của con người. Nó có thể gây thương tổn nặng cho nạn nhân phải chịu ảnh hưởng suốt đời. Tội nầy đặc biệt nặng nề khi do cha mẹ hay các người giáo dục phạm đến những trẻ được trao phó cho mình.
Tội đồng tính luyến ái là tội của những nam hay nữ bị cám dỗ về tình dục, nhưng chỉ với người cùng giới với mình thôi. Kinh Thánh vẫn lên án việc nầy là "việc suy đồi trầm trọng" (x.St 19,1-29; Rm 1,24-27) và truyền thống luôn coi đó là hành vi thác loạn, trái với luật tự nhiên, nghịch với việc trao ban sự sống, không phải là để bổ khuyết tình cảm và tính dục thực sự. Tuy nhiên đa số những người phạm tội nầy không tự chọn tình trạng đồng tính luyến ái, họ cần được đối xử kính trọng, thông cảm và tế nhị, tránh kÿ thị họ cách bất công. Họ có thể nhờ sự tự chủ để tập luyện cho mình được tự do nội tâm, nhờ bạn hữu nâng đỡ, nhờ cầu nguyện và lãnh các bí tích để trở về với đời sống Kitô hữu trọn hảo.
IV. Giá trị hôn nhân.
Trong hôn nhân sự kết hợp thể xác của vợ chồng là dấu chỉ và đảm bảo cho sự hiệp thông tinh thần. "Những hành vi thể hiện sự kết hợp thân mật và thanh khiết của vợ chồng là những hành vi đức hạnh và xứng đáng, chúng bày tỏ và giúp vợ chồng hiến thân để làm cho nhau thêm phong phú trong niềm vui và biết ơn". (MV 49,2). Nhờ sự phối hợp mà vợ chồng thể hiện được mục đích kép của hôn nhân, đó là lợi ích của chính vợ chồng và việc sinh sản. Đây là hai ý nghĩa và hai giá trị của hôn nhân mà ta không thể tách rời. Tách rời là gây thiệt hại cho đời sống thiêng liêng của vợ chồng, và đe dọa lợi ích của hôn nhân và tương lai của gia đình.
Hôn nhân đòi vợ chồng phải chung thủy và sinh sản con cái.
Chung thủy giữa vợ chồng:
Vợ chồng làm thành "một cộng đồng thân mật để sống và yêu, theo những lề luật do Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và trao ban. Cộng đồng nầy được thiết lập trên giao ước giữa hai vợ chồng, nghĩa là trên sự ưng thuận của mỗi người và không thể rút lại được" (MV 48,1). Giao ước nầy đòi họ phải duy trì một vợ một chồng và không được tháo gỡ (Giáo luật 1056). "Điều gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly" (Mc 10,9). Sự chung thủy giữa vợ chồng chứng tỏ lời họ hứa đã được duy trì bền vững.
Sinh sản con cái:
Sinh con là một ân huệ và là mục đích của hôn nhân. Đứa con là hoa trái và là thành tựu do tình yêu hiến dâng của vợ chồng, và vợ chồng được dự phần vào quyền sáng tạo và tình yêu phụ tử của Thiên Chúa (x.MV 50,2). Vợ chồng vừa truyền thông sự sống, vừa là người giáo dục, đó là sứ mệnh riêng của họ. Họ biết rằng chính mình cộng tác viên của Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa và là thông ngôn của Người (MV 50,2). Nhưng trách nhiệm sinh sản con cái đòi hỏi vợ chồng phải điều hòa việc sinh sản, nghĩa là nếu có lý do chính đáng, vợ chồng có thể cách quãng việc sinh con, nhưng không được chiều theo lòng ích kỷ, mà phải theo lòng quảng đại của bậc cha mẹ có trách nhiệm. Muốn điều hòa việc sinh sản, họ phải theo những phương pháp phù hợp với luân lý như: chế dục định kỳ, phương pháp điều hòa dựa trên việc tự quan sát bản thân, và phương pháp dựa vào thời kÿ không thụ thai. Các phương pháp nầy tôn trọng thân xác vợ chồng, khích lệ tình âu yếm nhau và giúp họ tập luyện tự do đích thực. Do đó, "mọi hoạt động nào diễn ra trước hoặc đang khi vợ chồng ăn ở với nhau, hoặc là sau đó trong diễn tiến và phát triển các hiệu quả tự nhiên của nó, nếu được dùng như mục đích hay phương tiện để làm cho không thể sinh sản được, đều là xấu tự bản chất" (HV 14).
Đứa con không phải là "cục nợ", nhưng là "hồng ân tuyệt nhất của hôn nhân". Đứa con có những quyền thực sự của nó, đó là "quyền được là hoa trái cả hành vi do tình yêu hôn nhân của cha mẹ, và quyền được tôn trọng như một nhân vị ngay từ lúc mới thụ thai" (CDF Donum Vitae 2,8). Kinh Thánh và truyền thống coi những gia đình đông con là dấu hiệu Thiên Chúa chúc phúc và cha mẹ có lòng quảng đại (x.MV 50,2). Phúc Âm cho thấy việc son sẻ không con cái không phải là bất hạnh tuyệt đối (SGLC 2379). Những kỷ thuật tân tiến ngày nay như thụ tinh nhân tạo do tinh và noãn không phải của chồng hay vợ, đều là việc bất chính nghiêm trọng (CDF Don vit 2,1) Cả khi thụ tinh nhân tạo do tinh của chồng cũng không thể chấp nhận về mặt luân lý, vì nó tách biệt hành vi tính dục với hành vi sinh sản. "Kitô hữu phải ý thức rằng sự sống con người và trách nhiệm truyền sinh không bị giới hạn ở phạm vi đời nầy, và không thể đạt được đầy đủ mọi chiều kích cũng như đầy đủ ý nghĩa ở đời nầy, nhưng chúng luôn luôn phải được qui chiếu về mệnh vĩnh cửu của mọi người" (MV 51,4).
V. Những vi phạm phẩm giá hôn nhân.
Ngoại tình có ý chỉ sự bất trung giữa vợ chồng. Khi ít là một trong hai người nam nữ đã có vợ chồng, mà lại quan hệ tình dục với nhau, dù chỉ chóng qua thôi, họ đã phạm tội ngoại tình. Chúa Kitô đã lên án tội ngoại tình dù chỉ là trong ước muốn (x.Mt 27-28). Điều răn thứ VI và Tân Ước tuyệt đối cấm ngoại tình (x.Mt 5,32; 19,6) là bất công, là lỗi lời cam kết và giao ước trong hôn nhân, xúc phạm đến quyền lợi của người bạn đời, và của cơ chế hôn nhân, gây nguy hại cho nhân loại và cho các trẻ em đang cần sự hiệp nhất bền vững của cha mẹ.
Ly dị. Đức Giêsu đã nhấn mạnh đến ý định của Đấng Tạo Hóa muốn hôn nhân bất khả phân ly (x.Mt 5, 31-32). Người hủy bỏ những dung thứ đã lọt vào trong luật cũ (x.Mt 19,7-9). Giữa hai người công giáo, khi đã kết hôn và ăn ở với nhau (hòa hợp) rồi thì không quyền năng nào của loài người, và không lý do nào có thể tháo gỡ, trừ sự chết (CIC luật 1141). Ly dị vi phạm nặng luật tự nhiên, và còn xúc phạm đến giao ước mà Bí tích Hôn phối là dấu hiệu. Nếu người đã ly dị còn kết hôn nữa, thì họ ở trong tình trạng ngoại tình công khai và thường xuyên. Ly dị còn vô luân nữa, vì nó gây xáo trộn trong gia đình: người bạn đời bị bỏ rơi, con cái bị tổn thương vì cha mẹ chia ly, còn trong xã hội, nó như một vết thương dễ lây nhiễm.
Ly thân giữa vợ chồng, nhưng vẫn giữ dây hôn phối, đó là điều hợp pháp trong một số trường hợp giáo luật đã dự trù, chẳng hạn một trong hai vợ chồng: 1. Gây nguy hiểm nặng nề hoặc về hồn hay xác cho người kia và cho con cái. 2. Làm cho đời sống chúng trở nên cơ cực, (CIC luật 1153).
Đa thê là tình trạng không hợp luân lý. Thật là một thảm kịch khi người đa thê muốn trở thành Kitô hữu, họ buộc lòng bỏ một hay nhiều vợ đã cùng nhau chia sẻ đời sống vợ chồng lâu năm. Dù trở thành Kitô hữu, họ bị buộc nặng phải giữ nghĩa vụ đã giao kết với các người vợ khác, và các con cái của mình.
Loạn luân có ý chỉ những quan hệ xác thịt giữa những người có máu hoặc là sui gia ở cấp bậc mà luật không cho phép kết hôn với nhau. Tội nầy phá hủy quan hệ gia đình và biểu lộ một sự thoái hóa hướng về thú tính. Người lớn phạm tội loạn luân với thiếu niên hay trẻ con được gởi gấm cho mình thì còn tội gấp đôi, vì gây gương xấu và làm cho người trẻ mang dấu vết suốt đời, và còn vi phạm trách nhiệm giáo dục nữa.
Tự do kết hôn là hai người nam nữ chung sống như vợ chồng nhưng không tuân theo một hình thức pháp lý và công cộng nào. Nó gồm nhiều tình trạng như: có vợ bé, không muốn có hôn nhân, không có khả năng cam kết sống chung lâu dài (x.FC 81). Các tình trạng nầy đều xúc phạm phẩm giá của hôn nhân, trái luật luân lý, và là một tội nặng không được rước lễ.
Hôn nhân thử nghiệm là hai bên đã có ý kết hôn nên có những quan hệ tình dục để thử, trước khi dứt khoát kết hôn với nhau. Việc thử như vậy "không bảo vệ cho họ chống lại những ngông cuồng và thói thất thường" (CDF Per Hum 7). Tình yêu con người không cho phép "thử", nó đòi hiến thân trọn vẹn và dứt khoát. (x.FC 80).
Bài 54
Điều răn VII
Sống công bằng
(x. SGLC từ 2401 đến 2463).
"Ngươi không được trộm cắp" (Xh 20,15) (Mt 19,8). "Những chênh lệch quá đáng về kinh tế và xã hội, giữa những thành phần hay giữa những dân tộc trong cùng một gia đình nhân loại, thực là gương xấu và đi ngược với công bằng xã hội" (MV 29).
"Ai yêu người thì đã chu toàn lề luật" (Rm 13,8). Nhưng tình yêu đích thực phải được xây dựng trên nền tảng công bằng. Vì thế, điều răn thứ bảy cấm không được ăn trộm, ăn cắp của người khác; và trong Kinh Thánh, còn có nghĩa là cấm bắt cóc, lường gạt và dụ dỗ người khác, để chiếm hữu cho mình hoặc bán làm nô lệ. Đây là một vấn đề rất thiết thực và quan trọng trong cuộc sống hôm nay.
I. Của chung và của riêng.
Trong lịch sử nhân loại, người ta chứng kiến hai khuynh hướng đối nghịch nhau: Một đàng nhấn mạnh đến quyền làm chủ tập thể, đến nỗi khước từ quyền tư hữu, làm mất đi tự do và sáng kiến cá nhân. Đàng khác đề cao quyền tư hữu đến độ đánh mất ý thức về người khác, tạo ra tình trạng bất bình đẳng trong xã hội càng ngày càng lớn. Dựa vào Kinh Thánh, người Kitô hữu hiểu rằng "Thiên Chúa đã đặt định trái đất và mọi vật trên trái đất thuộc quyền sử dụng của mọi người, và của mọi dân tộc. Chính vì thế, của cải được tạo dựng phải được phân phối cho tất cả mọi người cách hợp lý, theo luật công bằng là luật đi liền với bác ái" (MV 69). Đồng thời "Mọi người đều có quyền có một phần của cải đầy đủ cho mình và cho gia đình" (MV 69). Quyền tư hữu là đòi hỏi hợp pháp nhằm bảo vệ tự do, bảo đảm những nhu cầu căn bản, và có thể phát triển tình liên đới tự nhiên. Hai yếu tố nầy gắn bó với nhau và bổ túc cho nhau, tạo mối quan hệ hài hòa giữa người với người trong cuộc sống chung.
II. Tôn trọng tha nhân và sở hữu của họ.
1. Tôn trọng sở hữu của tha nhân:
Trên nền tảng đó, điều răn thứ bảy cấm không được trộm cắp, nghĩa là tước đoạt của cải người khác ngược với ý muốn của họ. Và bởi vì con người có liên hệ mật thiết đến cuộc sống chung trong xã hội, nên tội phạm đến điều răn nầy còn là: lấy của công làm của riêng, đầu cơ tích trữ, buôn gian bán lận, trốn tránh những thuế vụ chính yếu... Người ta cũng không được biến người khác thành món hàng để trao đổi, mua bán như dịch vụ mãi dâm, buôn bán bào thai và trẻ em, dùng người để buôn hàng lậu... Ngoài ra những giao kèo mua bán, thuê mướn lao động phải được tôn trọng và không được vi phạm. Đức công bằng đòi hỏi phải đền bù những thiệt hại đã gây cho người khác, bằng cách trả lại đồ vật đã lấy, hoặc trả lại số tiền tương đương. Những người không trực tiếp trộm cắp, nhưng có tham gia bằng cách nào đó: điều khiển, phụ giúp hay mua lại của ăn cắp, cũng phải đền bù cân xứng. Tuy nhiên có những trường hợp lấy của người khác mà không phải là trộm cắp. Đó là trường hợp "những người sống trong cảnh cùng quẫn cực độ, họ có quyền lấy ở của cải người khác những gì cần thiết cho mình" (MV 69), hoặc phỏng đoán được rằng người khác chấp thuận hành động của mình.
2. Tôn trọng thiên nhiên:
Ngày nay, ô nhiễm môi sinh đã trở thành vấn đề quan trọng của cả nhân loại. Khoáng sản, thực vật, động vật là những tài nguyên Thiên Chúa ban tặng cho tất cả mọi người. Vì thế, một đàng con người được phép khai thác những tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cuộc sống, nhưng đàng khác phải tôn trọng thiên nhiên là của cải chung, cho con người hôm nay và cho cả những thế hệ mai sau.
III. Công bằng xã hội và hoạt động kinh tế.
Càng ngày kinh tế càng chiếm vai trò quan trọng hơn trong cuộc sống con người, đến nỗi "trong các quốc gia theo kinh tế tập sản, cũng như trong các quốc gia khác, hầu như cả đời sống cá nhân cũng như xã hội của họ, đều bị thấm nhiễm một thứ chủ nghĩa duy kinh tế" (MV 63). Vì thế, Hội Thánh đưa ra những hướng dẫn về đời sống kinh tế, nhằm phục vụ con người vốn là "tác giả, là tâm điểm và là cứu cánh của tất cả đời sống kinh tế xã hội" (MV 63).
1. Sinh hoạt kinh tế:
Phát triển kinh tế nhằm mục đích mục vụ nhu cầu của con người. Vì thế "phải cổ võ tất cả những yếu tố góp phần vào việc phát triển ấy" (MV 64). Tuy nhiên, mục đích căn bản của sản xuất không chỉ là gia tăng sản lượng, lợi tức hay quyền lợi, mà chính là để phục vụ con người, và là con người toàn diện. Cho nên "dù theo phương pháp và lề luật riêng, vẫn phải nằm trong giới hạn của trật tự luân lý" (MV 64). Đó là hướng dẫn căn bản cho sinh hoạt kinh tế con người. Trong sinh hoạt đó, nhà nước có trách nhiệm bảo đảm an ninh, tự do của cá nhân, quyền tư hữu và sự ổn định tiền tệ... là những điều kiện cần thiết cho sự phát triển. Các chủ xí nghiệp và các nhà đầu tư cần có được lợi nhuận để bảo đảm việc đầu tư và cung cấp việc làm cho công nhân, nhưng họ cần quan tâm đến lợi ích của con người, chứ không chỉ đến lợi nhuận.
2. Việc làm:
Đối với Kitô giáo, lao động có một giá trị cao cả: không những để nuôi sống bản thân và gia đình, mà còn liên kết với tha nhân và phục vụ họ, cộng tác vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa, và tham gia vào công cuộc cứu độ của Chúa Kitô qua những lao công vất vả của mình (x.MV 67). Vì thế mỗi người có quyền đòi hỏi việc làm, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, phái tính hay giai cấp nào. Khi làm việc, con người cũng cần có được đồng lương xứng đáng "đủ khả năng xây dựng cho mình và gia đình một đời sống xứng hợp cả về phương diện vật chất, xã hội, văn hóa cũng như tinh thần" (MV 67). Để bảo đảm cho quyền lợi chính đáng của mình, công nhân có quyền đình công, khi không còn phương thế nào khác, và sự thực mang lại lợi ích tương xứng (x.MV 68).
3. Liên đới giữa các dân tộc:
Ngày nay người ta chứng kiến sự cách biệt rất lớn giữa các nước giầu và các nước nghèo. Đang khi một số quốc gia càng lúc càng giàu hơn, thì nợ nần của các nước nghèo lại gia tăng. Và nhiều khi một quốc gia giàu có là vì đã tước đoạt tài nguyên thiên nhiên của các nước nghèo, bằng nhiều hình thức khác nhau. Vì thế, Hội Thánh kêu gọi xây dựng công bằng thế giới, và tình liên đới giữa các dân tộc. Sự liên đới ấy không chỉ thể hiện bằng cách giúp đỡ trực tiếp, nhưng còn phải cải tổ cả cơ cấu của nền kinh tế thế giới, và phải hướng đến việc phát triển toàn diện của gia đình nhân loại.
IV. Yêu thương người nghèo.
Tiếng gọi của Thiên Chúa không chỉ ngưng lại ở đòi hỏi công bằng, mà còn đi xa hơn đến chỗ: yêu thương người nghèo. Ngay trong Cựu Ước, Dân Chúa đã có những biện pháp cụ thể để nâng đỡ người nghèo. Năm Toàn Xá với việc tha thứ nợ nần, trả lại đất đai. Đến thời Tân Ước, tiếng gọi ấy càng khẩn thiết hơn: Đức Giêsu công bố hạnh phúc cho người nghèo, chính Ngài đã sống nghèo giữa những người nghèo, để chăm sóc cho họ, và Ngài vẫn hiện diện trong những người nghèo (x.MT 25,31-36). Vì thế, trong suốt lịch sử của mình, Hội Thánh luôn dành cho người nghèo tình yêu thương đặc biệt, không chỉ nghèo vật chất mà cả về tinh thần và tôn giáo. Là người Kitô hữu, ta không thể không mang tâm tư của Đức Giêsu (x.Kh 2,5). Lòng yêu thương ấy được thể hiện qua cuộc sống tiết độ, không tham lam của cải, không tiêu xài lãng phí. Tích cực hơn, ta góp phần làm vơi đi nỗi khổ của những anh chị em nghèo khổ hơn, về tinh thần cũng như về vật chất: an ủi, khích lệ, khuyên bảo, dạy dỗ; đồng thời cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới mặc, cho kẻ không nhà được náu thân, vì "Nếu con không cho người đói khát ăn uống tức là con đã giết họ" (Các Giáo Phụ). Những công việc đó làm cho ta được nên giống Cha trên trời là Đấng nhân từ và giàu lòng thương xót.
Bài 55
Điều răn VIII Tôn trọng sự thật.
(x. SGLC từ 2464 đến 2513).
"Ngươi không được làm chứng dối chống lại đồng loại". (Xh 20,16). "Thầy bảo cho anh em biết: Đừng thề chi cả... Nhưng hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ". (Mt 5,33).
"Ai yêu thương, người ấy chu toàn lề luật" (Rm 13,8). Nhưng tình yêu đích thực phải được hướng dẫn và soi sáng bởi chân lý, và chỉ có chân lý mới giải thoát chúng ta. (x.Ga 8,32).
I. Sống trong sự thật và làm chứng cho sự thật.
Con người không thể sống với nhau nếu không tin tưởng lẫn nhau và thành thật với nhau. Không có sự thành thật, cuộc sống chung sẽ rất nặng nề, vì người ta phải thường xuyên cảnh giác và lo sợ. Đối với người Kitô hữu, lời mời gọi sống theo sự thật được bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Cựu Ước xác quyết rằng Thiên Chúa là nguồn mọi sự thật. Lời Ngài là chân lý. Vì Thiên Chúa là chân lý, nên dân của Ngài được mời gọi sống trong sự thật (Rm 3,4). Nơi Đức Giêsu Kitô, toàn bộ chân lý của Thiên Chúa được bày tỏ. Đức Giêsu là chân lý (Ga 14,6), đến trong thế gian để làm ánh sáng cho cuộc đời. Bước theo Đức Giêsu là sống trong "Thánh Thần chân lý", Đấng dẫn đưa chúng ta vào "tất cả sự thật" (Ga 16,13). Vì thế, người môn đệ Đức Giêsu phải là người yêu mến sự thật "có thì nói có, không thì nói không" (Mt 5,33); nghĩa là thành thật, chân thành trong lời nói cũng như trong việc làm, không giả hình, không gian dối. Không những sống trong sự thật, Kitô hữu còn được mời gọi làm chứng cho sự thật, theo gương Đức Giêsu, Đấng "đã đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật" (Ga 18,37). Vì Chúa Kitô chính là sự thật, nên làm chứng cho sự thật cũng là làm chứng cho Chúa Kitô, cho niềm tin vào Ngài, cho Tin Mừng của Ngài "Đừng hổ thẹn vì phải làm chứng cho Chúa chúng ta " (2Tm 1,8). Các vị Tử Đạo là những chứng nhân tuyệt vời. Các ngài đã làm chứng cho Chúa Kitô chết và sống lại, cho chân lý đức tin, và các ngài đã làm chứng bằng chính mạng sống của mình. Chính vì thế, Hội Thánh tôn kính các vị Tử Đạo cách đặc biệt, và ân cần lưu giữ bút tích về chứng tá của các ngài.
II. Tội phạm chống lại sự thật.
Người Kitô hữu được mời gọi "mặc lấy con người mới... để sống thật công chính và thánh thiện. Và khi đã cởi bỏ sự gian dối, mỗi người trong anh em hãy nói sự thật với người thân cận" (Ep 4,24-25). Tuy nhiên trong thực tế, ta có thể sống không phù hợp với sự thật bằng nhiều cách khác nhau:
1. Thề gian, làm chứng dối:
Những hành động nầy gây thiệt hại nghiêm trọng cho người khác, vì ảnh hưởng đến phán quyết của tòa án, dẫn đến chỗ kết án người vô tội, hoặc gia tăng hình phạt cho phạm nhân; hay ngược lại, đồng lõa với tội phạm.
2. Không tôn trọng danh dự người khác:
Phán đoán liều lĩnh là kết tội người khác khi không có đủ bằng chứng. Để tránh tội nầy, phải rất cẩn thận và phải giải thích tốt hết sức có thể, tư tưởng và hành vi của người khác. Nói hành nói xấu là phơi bày lỗi phạm của người khác cho người chưa biết, mà không có lý do gì vững chắc. Vu khống, cáo gian làm thiệt hại thanh danh người khác, và dẫn đến những phán đoán sai về họ. Những lỗi phạm nầy hủy hoại danh thơm tiếng tốt của người khác, và vì thế, đi ngược lại đức công bằng và bác ái.
3. Nói dối:
Đây là lỗi phạm thường xuyên nhất. Nói dối là nói ngược với sự thật, khiến người khác bị lầm lạc, đang khi họ có quyền được biết sự thật. Mức độ tội phạm có thể khác nhau, tùy theo bản chất lời nói dối, hoàn cảnh và ý định của người nói dối, cũng như thiệt hại mà lời đó gây nên cho người khác. Vì thế ở tự nó, nói dối chỉ là tội nhẹ, nhưng trong một số trường hợp, nó trở thành tội nặng vì đi ngược lại đức công bằng và đức ái. Tất cả những lỗi phạm đi ngược lại đức công bằng và đức ái, đòi hỏi phải được đền bù, kể cả khi người có tội đã được tha thứ. Khi không thể đền bù cách công khai, phải đền bù cách kín đáo. Đó là đòi hỏi của lương tâm.
III. Tôn trọng và phục vụ sự thật.
1. Tôn trọng sự thật:
"Bác ái trong sự thật và sự thật trong bác ái". Ta có bổn phận phải nói sự thật, nhưng đồng thời, trong một vài trường hợp cụ thể. Đức Ái đòi buộc ta phải cẩn trọng xem xét có nên nói sự thật cho người khác không, vì có thể dẫn đến những hậu quả không tốt. Ích lợi và an ninh của người khác, tôn trọng đời tư, công ích: đó là những lý do đủ để ta có thể im lặng, không nói điều không nên nói, hoặc nói tránh đi. Không ai bị bó buộc phải nói cho người khác điều mà họ không có quyền biết. Chính ở đây, xuất hiện tầm quan trọng của bí mật tòa giải tội. Ấn tòa giải tội là bí mật bất khả xâm phạm. Vì thế sẽ là trọng tội nếu cha giải tội phản bội hối nhân, bằng lời hay cách thế nào khác và vì bất cứ lý do gì (x. Giáo luật 983). Ngoài ra còn có những bí mật về nghề nghiệp, hoặc những tâm sự đòi hỏi được giữ kín. Chỉ được phép nói ra vì những lý do nghiêm trọng và cân xứng, hoặc vì tai nạn có thể xãy ra nếu không nói.
2. Những phương tiện truyền thông:
Trong thời đại hiện nay, những phương tiện truyền thông phát triển rất nhanh, và đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong việc thông tin, đào tạo và phát triển văn hóa. Những phương tiện truyền thông đó phải nhằm mục đích phục vụ công ích, đặt nền tảng trên sự thật, tự do, công bằng và tình liên đới. Trong thực tế, vì ảnh hưởng của lợi nhuận kinh tế và những động lực chính trị, người ta đã bóp méo sự thật, và làm cho nhiều người mất đi khả năng đón nhận chân lý (Đức Gioan Phaolô II). Vì thế, người tín hữu phải tự tạo cho mình một kỷ luật và khả năng phán đoán, dựa trên thang giá trị của Tin Mừng, để biết đánh giá đúng mức và tiếp thu những gì tốt đẹp qua các phương tiện truyền thông (x. TT 10).
3. Mỹ thuật Thánh:
Ngôn ngữ là một trong những phương thế diễn tả và truyền thông chân lý, nhưng không phải là phương thế duy nhất. Hơn thế nữa, có những chân lý mà ngôn ngữ con người không sao diễn tả nổi, nhất là chân lý về Thiên Chúa "Đấng ngự trị trong ánh sáng siêu phàm, vô phương đạt thấu". Vì thế, còn có nhiều phương thế khác để diễn tả chân lý, đặc biệt là Mỹ Thuật mà Hội Thánh quan tâm đề cao "Trong những hoạt động cao quý nhất của tài năng con người, rất đáng kể đến mỹ thuật, nhất là nghệ thuật tôn giáo, mà tột đỉnh của nghệ thuật nầy chính là nghệ thuật Thánh" (PV 122). Vì thế, từ việc xây cất nhà thờ, trưng bày ảnh tượng hay những tác phẩm tôn giáo, phải quan tâm xem xét để tất cả phục vụ cho chân lý Đức Tin "góp phần tích cực vào việc đạo đức, là hướng tâm người ta về cùng Chúa" (PV 122).
IV. Trong cuộc sống hôm nay.
1. Do ảnh hưởng của sinh hoạt xã hội, và nhiều khi do cả nền giáo dục chuộng hình thức, sự gian dối đã trở thành quen thuộc trong cuộc sống hằng ngày của người dân Việt. Sự gian dối đó không những hủy hoại mối quan hệ người với người trong xã hội, mà còn hủy hoại chính ơn gọi làm người để "sống trong sự thật" (Rm 3,4). Vì thế cho dẫu khó khăn, người Kitô hữu phải cố gắng và can đảm sống ngay thẳng, thành thật, chân thành với chính mình và với mọi người.
2. Từ năm 1966, Hội Thánh Công Giáo đã chọn lễ Thăng Thiên hàng năm làm ngày Quốc Tế về Truyền thông. Việc Đức Giêsu về trời gắn liền với sứ mạng trao ban cho Hội Thánh: Ra đi loan báo Tin Mừng. Trong thời đại bùng nổ thông tin nầy, Hội Thánh phải tận dụng mọi phương tiện truyền thông để loan báo Tin Mừng (x.TT 3): Báo chí, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình. Phần đông anh chị em tín hữu ở Việt Nam là những người đón nhận chứ không phải là người sử dụng các phương tiện truyền thông. Tuy nhiên vai trò của cha mẹ rất quan trọng "Phải nhớ mình có bổn phận tận tâm coi sóc, kẻo kịch ảnh, sách báo và những thứ cùng loại, trái nghịch với Đức Tin, trái thuần phong mỹ tục, lại lọt vào ngưỡng cửa gia đình; cũng đừng để con cái gặp những thứ đó ở nơi khác" (TT 10).
Bài 56
Điều răn IX
Thanh khiết trong tâm hồn
(x. SGLC từ 2514 đến 2533).
"Ngươi không được ham muốn nhà người ta, ngươi không được ham muốn vợ người ta, tôi tớ nam nữ, con bò con lừa hay bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,7). "Ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi" (Mt 5,28).
"Ai yêu người thì đã chu toàn lề luật" (Rm 13,8). Trong quan hệ nam nữ, tình yêu đòi hỏi sống thanh khiết, nghĩa là nhìn người khác như một con người mình tôn trọng, chứ không chỉ là dụng cụ, phương thế cho ta thỏa mãn những ham muốn thấp hèn. Điều răn thứ chín nhấn mạnh: Sự thanh khiết ấy phải bắt nguồn từ chiều sâu tâm hồn. Muốn được như thế, phải chấp nhận chiến đấu với chính bản thân, mỗi ngày và suốt đời.
I. Thanh tẩy con tim.
Trong bài giảng trên núi, Đức Giêsu công bố "Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa" (Mt 5,8). Tâm hồn là nơi quyết định tính chất luân lý của hành vi, vì "Tự lòng người phát xuất những ý định gian tà, những tội giết người, ngoại tình, tà dâm, trộm cắp, làm chứng gian và vu khống" (Mt 15,19). Tâm hồn ấy phải thanh khiết, nghĩa là phải biết qui hướng về Chúa, là Đấng tuyệt đối thanh khiết. Những người có tâm hồn thanh khiết được hứa là "sẽ nhìn thấy Thiên Chúa". Như vậy, sự thanh khiết trong tâm hồn là điều kiện để được hưởng nhan thánh Chúa. Ngay từ bây giờ, tâm hồn ấy đã có thể giúp ta nhìn mọi sự bằng cặp mắt của Chúa, nhìn thân xác mình và thân xác người khác như Đền thờ của Thánh Thần, biểu lộ vẻ đẹp của Thiên Chúa, chứ không phải cái nhìn dung tục dẫn đến tội lỗi.
II. Cuộc chiến đấu nội tâm.
Trong thực tế, là tinh thần nhập thể trong một thân xác, và do ảnh hưởng của tội lỗi, "tất cả cuộc sống con người đều biểu hiện như một cuộc chiến bi thảm, giữa tốt và xấu, giữa ánh sáng và tối tăm" (MV 13). Phải chấp nhận bước vào cuộc chiến đấu, mỗi ngày và suốt đời.
1. Trong đời sống cá nhân:
Ai cũng có kinh nghiệm về những dục vọng xấu nội tại tâm hồn mình. Những dục vọng ấy là hậu quả của tội nguyên tổ. Bí tích Thánh Tẩy tha thứ mọi tội lỗi, nhưng những dục vọng xấu vẫn còn đó, và ta phải cố gắng chống lại bằng cách:
• Thanh tẩy ý hướng: xác định rõ cứu cánh đích thực của đời người là ở nơi Chúa, từ đó thi hành thánh ý Chúa trong mọi sự.
• Thanh tẩy cách nhìn bên ngoài cũng như bên trong: làm chủ tư tưởng, khước từ những tư tưởng xấu khiến ta xa Chúa.
• Cầu nguyện, vì "không ai có thể sống khiết tịnh nếu không được Chúa ban ơn" (Âu Tinh).
• Sống đoan trang, thể hiện trong cách ăn mặc, nói năng, cư xử với người khác.
2. Trong đời sống xã hội:
Môi trường xã hội hôm nay đầy rẫy những quyến rũ dâm ô: phim ảnh, báo chí, sách vở, hộp đêm... Thêm vào đó là chủ trương phóng túng về luân lý ngày càng phổ biến. Tất cả đều lôi kéo con người vào đường tội lỗi hơn là sống thánh thiện. Muốn giữ được tâm hồn thanh khiết, người Kitô hữu phải có can đảm xa lánh những dịp tội, những dịp vui chơi giải trí không lành mạnh. Hơn thế nữa, còn phải góp phần với mọi người thiện chí, để xây dựng một bầu khí xã hội lành mạnh hơn, như Hội Thánh mong muốn: "Phúc Âm của Chúa Kitô không ngừng đổi mới cuộc sống và văn hóa của con người đã sa ngã, chống đối và khử trừ các sai lầm và tai họa phát sinh từ sức quyến rũ thường xuyên của tội lỗi luôn luôn đe dọa" (MV 58).
Bài 57
Điều răn X
Chớ tham của người
(x. SGLC từ 2534 đến 2557).
"Ngươi không được ham muốn bất cứ vật gì của người ta" (Xh 20,17). "Của anh em ở đâu, thì lòng anh em ở đó" (Mt 6,21). Điều răn thứ bảy cấm trộm cắp, cướp đoạt và gian lận. Bổ túc cho đòi hỏi nầy, điều răn thứ mười nhắm đến lòng tham, như nguồn gốc của những tội lỗi trên. Như vậy, cả hai điều răn thứ chín và thứ mười nhắm đến ý hướng trong lòng, và tóm kết tất cả các giới răn.
I. Ham muốn bất chính.
Ai đói cũng thèm ăn, ai lạnh cũng mong được sưởi ấm. Ở tự nó, những ham muốn nầy là tốt, vì giúp bảo vệ sự sống. Tuy nhiên, kinh nghiệm cho thấy con người không giữ được mức độ hợp lý trong những ham muốn nầy. Vì không giữ được mức độ hợp lý nên sinh ra tham lam và ghen tị. Tham lam: là ham mê của cải, và thế lực do của cải đem lại; từ đó có thể làm điều bất công hại đến tài sản người khác. Kinh Thánh còn ghi lại câu chuyện về một người giàu, tuy có vô số chiên cừu, nhưng lại đi bắt con chiên duy nhất của người nghèo để làm tiệc đãi khách (x.2Sm 12,1-4). Cuộc sống hôm nay vẫn đầy dẫy những con người tham lam như thế: những nhà buôn mong hàng hóa khan hiếm và đắt đỏ, những kẻ mong người khác gặp hoạn nạn để thu lợi... Ghen tị: là buồn phiền khi thấy người khác có của cải và ước ao chiếm đoạt. Thánh Âu Tinh coi ghen tị là tội quỉ quái nhất, vì "ghen tị sinh ra thù ghét, nói xấu, vu khống, vui khi thấy kẻ khác gặp hoạn nạn, buồn khi thấy kẻ khác được may lành". Thánh Gioan Kim Khẩu nói quyết liệt hơn: "Chúng ta đấm đá nhau chỉ vì ghen tị... Nếu mọi người đều xâu xé nhau như vậy thì thân thể Chúa Kitô sẽ ra sao? Chúng ta đang làm tan nát Thân Thể Chúa Kitô".
II. Để vượt qua những ham muốn bất chính.
1. Điều chỉnh những ước muốn:
Ở tự nó, ước muốn không phải là điều xấu. Vấn đề là phải điều chỉnh những ước muốn cho đúng đắn. Phải cảnh giác trước sự quyến rũ của những thực tại "ăn thì ngon, trông đẹp mắt và đáng quý" (St 3,6), nhưng lại ẩn chứa bên trong nọc độc của tội lỗi và sự chết. Điều mà người Kitô hữu phải ước muốn là sự toàn thiện, và đặt mình trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Vì thế, Thánh Phaolô nói người tín hữu là người "đã đóng đinh xác thịt vào thập giá cùng với các dục vọng và đam mê" (Gl 5,24), và ước muốn những điều hợp ý Chúa Thánh Thần (x.ra 8,27).
2. Sống tinh thần nghèo khó:
Mối phúc đầu tiên được Đức Giêsu công bố là "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó" (Mt 5,3), và Ngài thường xuyên cảnh giác con người trước mối nguy hiểm của tiền bạc (x.Lc 6,24). Sống tinh thần nghèo khó là chọn Chúa làm gia nghiệp của mình, đặt Chúa trên hết mọi sự, và vì thế saün sàng từ bỏ mọi sự vì Đức Giêsu và vì Tin Mừng (x.Mc 8,35). Nhờ đó, trong cuộc sống hằng ngày, người tín hữu "điều khiển tâm tình cho đúng đắn, để việc sử dụng của cải trần gian và lòng quyến luyến sự giàu sang nghịch với tinh thần khó nghèo của Tin Mừng không cản trở họ theo đuổi đức ái trọn hảo (GH 42).
Biết ao ước hạnh phúc đích thực, ta được giải thoát mọi ràng buộc bất chính với của cải trần thế. Và cuối cùng, được chiêm ngắm nhan thánh Chúa và hưởng hạnh phúc bên Ngài
Phần 4
KINH NGUYỆN KITÔ GIÁO
Dẫn nhập
Đối với người Kitô hữu, tin không chỉ là chấp nhận một hệ tư tưởng hay một hệ thống luân lý; dầu hoàn hảo đến đâu; nhưng trước hết và trên hết là bước vào giao ước yêu thương với Đấng mình tin. Vì thế, người Kitô hữu không chỉ tuyên xưng các chân lý đức tin, nhưng còn cử hành niềm tin và sống niềm tin (Phần 2 và 3). Mối quan hệ yêu thương, gắn bó với Thiên Chúa được thể hiện cách sống động và cụ thể trong đời sống cầu nguyện. Trong phần nầy, chúng ta tìm hiểu đời cầu nguyện về mặt lịch sử cũng như nội dung, để hun đúc cho đời cầu nguyện của chính mình. Hình ảnh cuộc gặp gỡ và đối thoại giữa Đức Giêsu với người phụ nữ Samari bên bờ giếng (Ga 4,1-20) là hình ảnh tuyệt vời về cầu nguyện. Thật lạ lùng, chính Thiên Chúa đang khát và đã tìm đến gặp gỡ, ngỏ lời trước con người: "Chị cho tôi xin chút nước uống" (Ga 4,7). Đồng thời, Ngài khơi dậy nơi lòng người nỗi khát khao sâu thẳm, và giúp con người khám phá ra Ngài là Đấng duy nhất có thể lắp đầy nỗi khao khát đó: "Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: cho tôi chút nước uống; thì hẳn chị đã xin và Người ban cho chị nước hằng sống". (Ga 4,10). Như thế, chính Thiên Chúa đã đi bước trước. Cầu nguyện trở thành quà tặng của Thiên Chúa, trở thành nơi gặp gỡ của cơn khát khao nơi Thiên Chúa và cơn khát khao nơi con người, trở thành lời đáp trả đức tin và tình yêu con người trước lời hứa cứu độ của Thiên Chúa. Chính vì thế, khiêm tốn phải là thái độ nền tảng của lời cầu nguyện. Nếu cầu nguyện là sự gặp gỡ cơn khát khao của Thiên Chúa và nỗi khát khao của con người, thì khi cầu nguyện, ta phải đến với Thiên Chúa bằng cả con người của mình: lời nói, cử chỉ. Tuy nhiên Kinh Thánh nhấn mạnh đặc biệt đến tấm lòng, hiểu như nơi sâu kín nhất của con người, nơi của sự thật, nơi phát sinh quyết định, nơi gặp gỡ. Sự nhấn mạnh đó giúp ta khám phá cầu nguyện là đi vào quan hệ giao ước yêu thương với (Thiên Chúa) Cha, trong sức đẩy của Thánh Thần và trong mối hiệp thông với Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người. Nhờ đó, cầu nguyện dẫn ta đi sâu hơn vào mối hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi. Đời sống cầu nguyện là thói quen đặt mình trước sự hiện diện của Thiên Chúa chí thánh, và hiệp thông với Ngài.
Kinh Lạy Cha.
Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày và tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con, xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Amen.
Bài 58
Kinh nguyện trong dòng lịch sử
(x. SGLC từ 2566 đến 2643).
Sự có mặt của các tôn giáo trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại nói lên thái độ con người không ngừng kiếm tìm Thiên Chúa. Bởi lẽ con người từ Thiên Chúa mà đến, và dầu sa ngã phạm tội, con người vẫn là hình ảnh Thiên Chúa, và cưu mang trong tâm hồn nỗi khát khao tìm về Đấng đã gọi mình từ hư vô đi vào hiện hữu. Nếu con người kiếm tìm Thiên Chúa, thì ngược lại, chính Thiên Chúa đã tìm kiếm con người trước. Đây là mặc khải lớn lao đặc biệt của Kitô giáo. Cho dầu con người trốn chạy Thiên Chúa, hay tôn thờ những thần thánh giả hiệu, Thiên Chúa vẫn luôn tìm kiếm con người và kêu gọi họ. Cầu nguyện chính là cuộc gặp gỡ kÿ diệu giữa hai nỗi khát khao và hai tiếng gọi. Và cuộc gặp gỡ ấy trải dài trong suốt lịch sử ơn cứu độ.
I. Trong Cựu Ước.
1. Vào những thời kỳ đầu, như được mô tả trong chín chương đầu sách Sáng Thế, tâm tình cầu nguyện của con người được diễn tả qua việc hiến dâng Của Đầu Mùa (Abel), khẩn cầu Danh Thánh (Thời Enoch) và bằng cuộc sống "bước đi với Thiên Chúa" (Noê). Chỉ với tổ phụ Abraham, nội dung cầu nguyện mới được khắc họa rõ nét hơn.
2. Cuộc sống của tổ phụ Abraham cho thấy thái độ căn bản con người phải có khi cầu nguyện là: chăm chú lắng nghe và qui phục thánh ý Thiên Chúa. Với tinh thần đức tin, Abraham đã ra đi "như lời Chúa dạy" (St 12,4), và ở mỗi chặng đường, ông lại dựng một bàn thờ dâng kính Chúa. Với tinh thần đó, ông đã dám hiến dâng ngay cả đứa con duy nhất của mình cho Thiên Chúa (St 22,8).
3. Qui phục thánh ý Thiên Chúa như thế không phải luôn luôn là điều dễ dàng. Vì vậy trong lời cầu nguyện của Abraham, cũng đã thoáng hiện nỗi giao động, vì như thể Lời Chúa hứa không được thực hiện (x.St 25,2). Sự giằng co nầy thể hiện rõ nét nơi Tổ phụ Yacob, trong giấc mơ vật lộn với Thiên Chúa (x.St 32,24-30), và chứa đựng ở đó bài học quí giá: Bước vào đời cầu nguyện là bước vào cuộc chiến đấu của Đức Tin, và phải kiên nhẫn mới có thể chiến thắng.
4. Trong lời cầu nguyện của tổ phụ Abraham cũng đã xuất hiện tư cách của người trung gian, khi Ngài tha thiết yêu cầu thay cho người tội lỗi (x.St 18,16-33). Tư cách nầy được thể hiện mạnh mẽ nơi khuôn mặt vĩ đại của Cựu Ước: MÔSỆ Thiên Chúa đã hiện ra với Môsê từ trong bụi gai bốc cháy (x.Xh 3,1-10), mời gọi ông trở thành sứ giả, thành người cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài. Môsê đã đi vào cuộc gặp gỡ, đối thoại thân tình với Thiên Chúa "diện đối diện" "như hai người bạn" (x.Xh 33,11). Và chính trong mối thân tình ấy với Thiên Chúa, ông đã mạnh dạn dâng lời chuyển cầu, không phải cho mình mà là cho dân (x.Xh 17,8-12; 32,1-34,9), lời chuyển cầu trở thành mẫu mực cho lời cầu xin của Hội Thánh, dựa vào tình yêu và lòng trung tín của Thiên Chúa.
5. Khi đã định cư ở đất Canaan, Trướng Tao Phùng và sau nầy Đền Thờ, là nơi Dân Chúa tụ họp lại cầu nguyện và được hướng dẫn cầu nguyện. Bước sang thời Quân chủ, khuôn mặt ĐAVIT nổi lên như vị vua cầu nguyện. Ông là vị vua đẹp lòng Chúa, là vị mục tử cầu nguyện cho dân và nhân danh dân - Tâm tình vâng phục, ngợi khen, sám hối của ông là mẫu mực cho lời cầu nguyện của Dân Chúa, và với các Thánh Vịnh, ông xứng đáng được coi như ngôn sứ đầu tiên của kinh nguyện Do Thái và Kitô giáo.
6. Đền thờ và những sinh hoạt tôn giáo gắn với Đền thờ, là nơi giáo dục Dân Chúa về cầu nguyện. Tuy nhiên, theo thời gian, đời sống cầu nguyện đó có nguy cơ chỉ còn là những nghi thức tế tự hời hợt bên ngoài. Vì thế dân Chúa cần được giáo dục lại về niềm tin, về sự hoán cải tâm hồn, và đó là vai trò các ngôn sứ. Từ những cuộc gặp gỡ thân tình với Thiên Chúa, các ngôn sứ đón nhận ánh sáng và sức mạnh cho sứ vụ của mình. Đối với các Ngài, cầu nguyện không phải là cách chạy trốn khỏi giới bất trung nầy, nhưng là chăm chú lắng nghe Lời Thiên Chúa, để đón nhận ánh sáng và sức mạnh. Từ giữa lòng sứ vụ khó khăn, lời cầu nguyện của các Ngài đôi lúc vang lên như lời than thở và biện bạch, nhưng chủ yếu là lời chuyển cầu cho dân, và chuẩn bị cho biến cố quyết định: Đấng Cứu Độ ngự đến.
7. Thánh vịnh: Trong Cựu Ước, sách Thánh Vịnh là tác phẩm tuyệt vời về cầu nguyện. Các Thánh Vịnh vừa dưỡng nuôi vừa diễn tả lời kinh của dân Chúa, vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính cộng đoàn, vừa nhìn về những biến cố cứu độ trong quá khứ, lại vừa hướng lòng tới tương lai, vừa tưởng nhớ lời hứa mà Thiên Chúa đã thực hiện, lại vừa đợi chờ Đấng Mêsia sẽ đến. Các Thánh Vịnh ấy vừa được Chúa Kitô dùng, vừa được thể hiện trọn vẹn nơi Ngài; vì thế, Thánh Vịnh vẫn là lời kinh thiết yếu của Hội Thánh.
Sách Thánh Vịnh là cuốn sách mà trong đó Lời Thiên Chúa trở thành lời kinh của con người. Bởi vì Thánh Vịnh thường xuyên nói đến những kÿ công Chúa thực hiện, đồng thời chất chứa những suy tư và kinh nghiệm về cuộc sống nhân sinh. Ở đó, ta gặp được lời kinh đơn sơ và hồn nhiên tự phát; nỗi khao khát Thiên Chúa qua vũ trụ tạo thành; nỗi niềm của con người tin yêu Thiên Chúa, cho dù gặp quá nhiều đau khổ, thù địch và cám dỗ, vẫn một niềm tin tưởng mến yêu. Chính vì thế, dẫu Thánh Vịnh là lời cầu nguyện đã được viết ra trong quá khứ, nhưng vẫn luôn thích hợp cho mọi người, ở mọi nơi và mọi thời.
II. Đức Giêsu và lời kinh trọn hảo.
Ý nghĩa cầu nguyện được thể hiện trọn vẹn nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người. Vì thế, như Môsê tiến gần đến bụi gai bốc cháy, ta hãy tiến gần đến Đức Giêsu để chiêm ngắm Ngài cầu nguyện, nghe Ngài dạy ta cầu nguyện, và để biết Ngài nghe ta cầu nguyện thế nào.
1. Chiêm ngắm Đức Giêsu cầu nguyện:
• Trong thời niên thiếu, như bao nhiêu trẻ em Do Thái khác, Con Thiên Chúa làm người cũng học cầu nguyện: học từ người Mẹ quý yêu, học từ lời kinh của dân Chúa, trong hội đường Nagiarét cũng như ở đền Thánh Giêrusalem. Tuy nhiên, vào tuổi 12, Đức Giêsu đã bộc lộ suối nguồn thầm kín trong kinh nguyện của Ngài: Đó là kinh nguyện của người con hiếu thảo với Thiên Chúa là CHA (x.LC 2,49).
• Khi bước vào cuộc sống công khai, Đức Giêsu thường xuyên cầu nguyện. Đó là lời cầu nguyện (Mc 1,35) trong cô tịch, trên núi cao, giữa đêm khuya. Nhưng cô tịch không đồng nghĩa với cô độc. Trong cầu nguyện, Ngài ôm lấy tất cả nhân loại với mọi nỗi niềm của nó, để hiến dâng lên CHA lời rao giảng và hành động của Ngài là sự biểu lộ ra bên ngoài những gì sâu kín trong cầu nguyện.
Đức Giêsu cầu nguyện cách đặc biệt tha thiết trong những thời điểm có tính quyết định đối với sứ vụ của Ngài (Chịu phép Rửa và Biến hình), cũng như sứ vụ của các môn đệ (Tuyển chọn 12 tông đồ, Trước lời tuyên xưng của Phêrô). Các sách Tin Mừng còn ghi lại hai lời cầu nguyện của Đức Giêsu:
• Đức Giêsu chúc tụng CHA vì đã mặc khải điều bí nhiệm cho kẻ mọn hèn (x.Mt 11,41-42).
• Trước khi phục sinh Ladarô (x.Ga 11,41-42).
Trong cả hai lời cầu nguyện, tâm tình đầu tiên luôn luôn là chúc tụng, ngợi khen, tạ ơn. Bởi vì "Người cho" quí hơn "của cho", và khi khẩn cầu điều gì, trước hết Đức Giêsu đã gắn bó với Thiên Chúa CHA.
• Lời cầu nguyện của Đức Giêsu dâng lên tới đỉnh cao trong những ngày cuối đời: Trước khi Ngài bị giao nộp, cũng như những lời cuối cùng trên Thánh Giá, nhất là "tiếng kêu" trước khi tắt thở (x.Mc 15,37). Tất cả mọi nỗi niềm của nhân loại ở mọi thời bị nhận chìm trong tội lỗi và sự chết, mọi lời khấn xin và chuyển cầu trong suốt lịch sử ơn cứu độ đều được gồm tóm lại trong "tiếng kêu" của Đức Giêsu. Và Thiên Chúa đã chấp nhận lời cầu xin ấy khi phục sinh Con Ngài từ cõi chết. Thánh Phaolô đã tóm kết cách tuyệt vời "Khi còn sống kiếp phàm nhân. Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Ngài đã được nhận lời vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Ngài đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục, và khi bản thân đã tới mức thập toàn, Ngài trở nên nguồn ơn cứu độ cho tất cả những ai tùng phục Ngài" (x.Dt 5,2-9).
• Chiêm ngắm Đức Giêsu cầu nguyện như thế, cũng như các môn đệ xưa, chúng ta muốn thưa với Ngài "Thưa Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện" (Lc 11,1).
2. Đức Giêsu dạy ta cầu nguyện:
• Là nhà giáo dục bậc thầy, Đức Giêsu dẫn ta vào đời cầu nguyện bằng những bước tiệm tiến. Với thính giả thời đó là những người vốn quen với Cựu Ước, Ngài khởi đi từ Cựu Ước, rồi dần dần hé mở cho họ những nét mới về Nước Trời qua các dụ ngôn (x.Mt 13). Sau đó, với các môn đệ, Ngài giải thích rõ cho các Ông.
• Bước vào đời cầu nguyện, Đức Giêsu nhấn mạnh đến sự hoán cải nội tâm: kinh nguyện phải đi đôi với nỗ lực hòa giải và lòng yêu thương, kể cả kẻ thù và người bách hại mình; kinh nguyện phải phát xuất từ đáy lòng, với tâm hồn thanh khiết và ước mong kiếm tìm Nước Chúa trên hết mọi sự. Một khi tâm hồn đã hoán cải, phải học cầu nguyện bằng đức tin, nghĩa là gắn bó với Thiên Chúa, vượt trên mọi cảm giác và hiểu biết. Đức tin đó sẽ dẫn con người đến thái độ kiên vững "Tất cả những gì anh em cầu nguyện và xin, anh em cứ tin là mình đã được rồi, thì sẽ được như ý" (Mc 11,24), và "Cái gì cũng có thể, đối với người có lòng tin" (Mc 9,23). Đồng thời, đức tin cũng thúc bách ta phải sống tỉnh thức. Bước vào đời cầu nguyện là bước vào cuộc chiến đấu. Phải tỉnh thức nhờ cầu nguyện, mới có thể vượt thắng cơn cám dỗ (x.Lc 22,40-46). Cuối cùng, đức tin ấy - nếu có thật - không thể chỉ ngưng lại ở lời nói "Lạy Chúa", nhưng phải dẫn ta đến chỗ thi hành ý của Cha, cộng tác vào chương trình của Cha (x.Mt 7,21; 9,38). + Với Đức Giêsu, ta nhận ra chiều sâu của kinh nguyện Kitô giáo: đó là cầu nguyện với Cha, nhân danh Đức Giêsu và trong tác động của Thánh Thần. Niềm tin vào Đức Giêsu, dẫn ta đến với Cha và trong tác động của Thánh Thần, ta được hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi "Ai yêu mến Thầy sẽ giữ Lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha và Thầy sẽ đến ở cùng người ấy".
3. Đức Giêsu nghe ta cầu nguyện:
Trong cuộc sống trần thế, Đức Giêsu đã lắng nghe lời cầu khẩn của nhiều người, lời cầu khẩn đầy niềm tin tưởng, và Ngài đã đáp lại lời khẩn cầu của họ: chữa lành vết thương, thứ tha tội lỗi "Đức tin của con đã chữa con, hãy đi bình an". Ngày hôm nay, Đức Giêsu vẫn tiếp tục nghe ta cầu nguyện và đáp lại lời khấn xin của con cái.
4. Lời cầu nguyện của Đức Trinh Nữ Maria:
Tâm tình cầu nguyện của Đức Maria được tóm kết trong hai chữ "Fiat" và "Magnificat". Với tiếng Fiat, Mẹ đã hiến dâng cho Thiên Chúa tất cả con người của mình, và cộng tác đắc lực vào chương trình tình yêu của Thiên Chúa. Và lời kinh Magnificat là lời kinh của tâm hồn khiêm tốn dâng lời ngợi khen và tạ ơn Thiên Chúa. Đức Maria cũng chuyển cầu cho ta, như Ngài đã can thiệp để giúp đỡ cho đôi tân hôn trong tiệc cưới Cana (x.Ga 2,1-11).
III. Trong thời kỳ của Hội Thánh.
Nếu Chúa Thánh Thần là Đấng được sai đến để dạy dỗ Hội Thánh, và nhắc lại cho Hội Thánh tất cả những gì Đức Giêsu đã nói (x.Ga 14,26), thì Chúa Thánh Thần cũng là Đấng dạy dỗ Hội Thánh trong đời sống cầu nguyện. Cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên là cộng đoàn nhiệt thành cầu nguyện (x.Cv 2,42), lời cầu nguyện dựa vào lời giáo huấn của các Tông đồ, được chứng thực bằng đời sống yêu thương, và được dưỡng nuôi nhờ Thánh Thể. Lời cầu nguyện ấy bắt nguồn từ Kinh Thánh, và Chúa Thánh Thần cũng hướng dẫn Hội Thánh đến những hình thức mới. Những hình thức ấy mãi là mẫu mực cho kinh nguyện Kitô giáo, và chúng ta cùng nhìn lại:
1. Chúc tụng và thờ lạy:
Lời kinh chúc tụng là sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa và con người, giữa ân huệ Thiên Chúa ban tặng, và niềm tri ân của con người dâng lên Thiên Chúa. Trong lời kinh đó, một đàng con người hướng lên Thiên Chúa, và đàng khác, ân huệ Thiên Chúa đổ xuống trên con người. Thái độ của người ý thức mình là tạo vật và tội nhân, thờ lạy Thiên Chúa là Tạo Hóa, Đấng Cứu độ và Chí thánh. Vì thế, ta thờ lạy Chúa vì sự cao cả, ơn giải thoát và sự thánh thiện của Ngài.
2. Khấn xin:
Người tín hữu ý thức mình là tạo vật, và chính Chúa mới là cội nguồn, cùng đích đời mình; đồng thời ý thức mình là tội nhân đã xa cách Chúa... Ý thức đó dẫn ta đến lời kinh khấn xin. Trước hết là xin ơn tha thứ: "Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi" (Lc 18,13). Kế đó là xin cho Nước Chúa ngự đến, chính ta phải cộng tác vào việc phục vụ Nước Chúa. Đồng thời khi được dẫn vào chương trình yêu thương của CHA, với niềm tín thác, ta trình bầy với Ngài mọi nhu cầu trong đời sống của mình.
3. Chuyển cầu:
Đức Giêsu là Đấng "đang ngự bên hữu Thiên Chúa mà chuyển cầu cho chúng ta" (Rm 8,34). Thánh Thần là "Đấng cầu thay nguyện giúp cho các Thánh theo đúng ý Thiên Chúa" (Rm 8,27). Vì thế, lời kinh chuyển cầu là nét đặc trưng của Kitô Giáo, vừa diễn tả mối hiệp thông các Thánh, vừa diễn tả lòng yêu thương đối với mọi người không biên giới, kể cả những người làm hại mình (x.Pl 2,4).
4. Tạ ơn:
Lời kinh tạ ơn được diễn tả cách đặc biệt khi cử hành Lễ tế Tạ ơn. Tạ ơn vì nhờ Chúa Kitô, ta được giải thoát khỏi tội lỗi và sự chết, để trở thành tạo vật mới. Đồng thời, mọi biến cố và mọi ân huệ trong đời sống đều có thể trở thành hiến lễ tạ ơn, như Thánh Phaolô kêu gọi: "Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh. Đó là điều Thiên Chúa muốn trong Đức Giêsu Kitô" (1Tx 5,18).
5. Ngợi khen:
Thánh Phaolô nói: "Chỉ có một Thiên Chúa là Cha, Đấng tạo thành vạn vật và là cùng đích của chúng ta; và cũng chỉ có một Chúa là Đức Giêsu Kitô, nhờ Người mà vạn vật được tạo thành, và nhờ Người mà ta được hiện hữu" (1Cr 8,6). Chính vì thế, ta dâng lời ngợi khen Chúa, vì chính Ngài, vì vinh quang Ngài chứ không vì cái gì khác.
Bài 59
Truyền thống cầu nguyện
(x. SGLC từ 2650 đến 2691).
Cầu nguyện không chỉ là nhu cầu tình cảm bộc phát, cũng không chỉ là những kiến thức trừu tượng. Vì thế, bước vào đời cầu nguyện, phải có ý chí, phải học hỏi và đem ra thực hành. Đặt mình trong truyền thống cầu nguyện của Hội Thánh, chính là phương thế giúp ta bước vào đời cầu nguyện.
I. Những suối nguồn cầu nguyện.
Thánh linh là dòng nước ban sự sống, vì ta có thể múc được dòng nước trong lành ấy ở nhiều nguồn suối:
1. Lời Chúa:
Nguồn suối đầu tiên là Lời Chúa. Công đồng Vaticanô II căn dặn: "Nên nhớ rằng kinh nguyện phải đi đôi với việc đọc Kinh Thánh, để có sự đối thoại giữa Thiên Chúa và con người, vì chúng ta ngỏ lời với Ngài khi cầu nguyện, và ta nghe Ngài nói khi đọc các sấm ngôn thần linh" (Mk 25). Nhờ đọc lời Chúa, cầu nguyện thực sự trở thành cuộc tìm kiếm, gặp gỡ, đối thoại và khám phá thánh ý Thiên Chúa trong cuộc đời.
2. Phụng vụ Hội Thánh:
Nguồn suối thứ hai là các Bí Tích. Bí tích công bố, hiện tại hóa và chuyển thông ơn cứu độ cho ta. Nếu biết cử hành bí tích với tất cả tâm hồn, thì chính trái tim ta là bàn thờ, trên đó mầu nhiệm cứu độ được tái diễn từng giây từng phút trong cuộc đời.
3. Các nhân đức đối thần:
Nguồn suối thứ ba là các nhân đức đối thần, vì các nhân đức nầy đưa ta vào cuộc gặp gỡ Thiên Chúa. Đức Tin giúp ta đón nhận Chúa xuyên qua các dấu chỉ bí tích, và đón nhận Lời Ngài để tuân giữ. Đức Cậy trông là thái độ phải có khi cầu nguyện, đồng thời được dưỡng nuôi nhờ cầu nguyện. Vì thế, Thánh Phaolô nguyện xin: "Thiên Chúa là nguồn hy vọng, ban cho anh em được chan chứa niềm vui và bình an", rồi Ngài lại nói thêm: "Để nhờ quyền năng Thánh Thần anh em được tràn trề hy vọng" (Rm 15,13). Đức Ái là suối nguồn của đời cầu nguyện, vì đức ái lôi kéo mọi sự vào trong Tình Yêu Thiên Chúa, và làm cho ta có thể yêu mến Ngài như Ngài yêu mến chúng ta. Vì thế, ai để cho đức ái hướng dẫn, người ấy sẽ đi đến đỉnh cao nguyện cầu.
4. Cái "hôm nay":
Thánh linh là dòng nước hằng sống, không chỉ được ban cho ta khi cử hành bí tích, mà là trong mọi lúc. Vì thế, chính trong cái hôm nay của đời thường, mà ta đón nhận dòng nước hằng sống, mà ta gặp gỡ Chúa "Ước chi HÔM NAY các bạn nghe tiếng Người! Đừng cứng lòng!" (Tv 95,7-8). Và khi ta cầu nguyện khởi đi từ cái hôm nay của đời thường như thế, ảnh hưởng của Nước Chúa thấm vào trong dòng chảy của cuộc đời, và kinh nguyện trở thành tấm men làm cho cả nắm bột cuộc đời dậy lên một sức sống mới.
II. Những nẻo đường cầu nguyện.
Có nhiều nẻo đường cầu nguyện, tùy vào khung cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa con người. Nhưng dù nẻo đường nào chăng nữa cũng cần phải trung tín với truyền thống đức tin của các Tông đồ, và đó chính là dấu chỉ nhận diện đâu là nẻo đường đích thực. Sau đây là vài chỉ dẫn:
1. Cầu nguyện với Cha:
Cầu nguyện là hướng dẫn tâm hồn lên với Chúa là Cha. Nhưng Đức Giêsu là con đường duy nhất dẫn ta đến với Cha. Vì thế, dù là lời kinh cá nhân hay cộng đoàn, khẩu nguyện hay tâm nguyện, lời kinh ấy chỉ đến được với Cha, nhân danh Đức Giêsu.
2. Cầu nguyện với Đức Giêsu:
Dĩ nhiên lời cầu nguyện trước hết phải hướng về Cha, nhưng truyền thống phụng vụ còn để lại nhiều hình thức cầu nguyện trực tiếp với Đức Giêsu. Ngài được gọi là Con Thiên Chúa, Lời Thiên Chúa, Cứu Chúa, Con Chí Ái, Sự Sống, Sự Sáng, Niềm Hy Vọng, Sự Phục Sinh của chúng ta... Tuy nhiên, tên gọi cao cả và hàm chứa mọi sự là: GIÊSỤ Tên gọi ấy chứa đựng cả Thiên Chúa, cùng với tất cả chương trình tạo dựng, cứu độ của Thiên Chúa. Khẩn cầu danh thánh GIÊSU là đường lối cầu nguyện đơn sơ nhất và rất phổ biến, có thể sử dụng ở mọi nơi mọi lúc: "Lạy Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, xin thương xót chúng con là kẻ có tội". Việc tôn kính Thánh Tâm Đức Giêsu và việc đi Đàng Thánh Giá là những phương thế cầu nguyện quen thuộc và hữu ích.
3. Cầu nguyện với Chúa Thánh Thần:
Nếu Đức Giêsu là con đường duy nhất đến với Cha, thì Thánh Thần lại là Đấng dẫn ta đi vào con đường đó, vì "Không ai có thể nói rằng: "Đức Giêsu là Chúa", nếu người ấy không ở trong Thần Khí" (1Cr 12,3). Vì thế Hội Thánh dạy ta cầu khẩn với Chúa Thánh Thần hằng ngày, đặc biệt là khi khởi đầu và kết thúc những công việc quan trọng. Lời kinh trực tiếp và đơn sơ nhất là Kinh Chúa Thánh Thần "Veni, Sancte Spiritus". Có nhiều con đường cầu nguyện, nhưng Chúa Thánh Thần hoạt động trong tất cả, chính trong mối hiệp thông với Chúa Thánh Thần mà chúng ta được dẫn vào đời cầu nguyện mỗi ngày một sâu đậm hơn.
4. Hiệp thông với Thánh Mẫu Thiên Chúa:
Đức Giêsu là con đường của chúng ta trong lời cầu nguyện, nhưng Mẹ MARIA lại là Đấng chỉ đường (HODIGITRIA). Với tiếng "Xin vâng" trong ngày Truyền Tin, và kéo dài cho đến chân Thập Giá, Đức Maria trở thành Mẹ Thiên Chúa làm người, và là Mẹ chúng ta.
Vì thế, Mẹ MARIA chiếm một vị trí đặc biệt trong đời cầu nguyện của người Kitô hữu. Những lời kinh dâng lên Đức Mẹ, bao giờ cũng diễn tả hai chiều: một đàng ta ca ngợi những kÿ công Thiên Chúa thực hiện cho tớ nữ của Ngài, và qua đó, cho tất cả nhân loại; đàng khác, ta dâng lời ngợi khen và cầu khẩn Mẹ nâng đỡ. Nội dung đó được thể hiện rất rõ trong Kinh Kính Mừng: một đàng chúng ta chúc tụng Mẹ là "Đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ"; đàng khác, chúng ta cầu khẩn "Thánh MARIA, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen". Không lạ gì Kinh Kính Mừng trở thành lời kinh quen thuộc và thân thiết với mọi tín hữu.
III. Để bước vào đời cầu nguyện.
1. Gương mẫu của các Thánh:
Trong truyền thống cầu nguyện, các Thánh chiếm một vị trí quan trọng. Là những người đã được hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa, các Ngài không ngừng cầu nguyện thay giúp chúng ta. Vì thế, người tín hữu hướng lòng lên các Thánh, để xin các Ngài chuyển cầu cho mình và cho toàn thế giới. Cùng với các Thánh, nhiều nền linh đạo phong phú đã xuất hiện trong lịch sử Hội Thánh. Những nền linh đạo ấy xuất hiện vào một thời điểm cụ thể, cho thấy đức tin thấm nhập vào lịch sử và môi trường sống của con người; đồng thời những nền linh đạo ấy là những hướng dẫn quí báu cho con người tín hữu trong đời cầu nguyện.
2. Trách nhiệm hướng dẫn cầu nguyện:
• Gia đình là nhà trường đầu tiên dạy cầu nguyện. Gia đình là "Hội Thánh tại gia", nơi con cái Thiên Chúa học cầu nguyện. Kinh nguyện hàng ngày trong gia đình là phương thế rất tốt để giáo dục về cầu nguyện, nhất là cho các trẻ em.
• Những Thừa tác viên có chức Thánh là những người có trách nhiệm đặc biệt trong việc dạy cầu nguyện, hướng dẫn dân Chúa đến dòng nước hằng sống nhờ Lời Chúa, các Bí Tích, các nhân đức đối thần, cũng như trong cuộc sống hằng ngày.
• Đời Thánh hiến được nâng đỡ và phát triển nhờ cầu nguyện, và là một trong nguồn suối sống động cho đời sống thiêng liêng trong Hội Thánh.
• Dạy giáo lý là đòi hỏi cần thiết, giúp người tín hữu suy niệm Lời Chúa, cử hành phụng vụ, nội tâm hóa Lời Chúa, và phát sinh hoa trái tốt đẹp trong cuộc đời.
• Những nhóm cầu nguyện xuất hiện rất nhiều ngày hôm nay là một trong những dấu chỉ và sức mạnh canh tân đời cầu nguyện trong Hội Thánh; miễn là phải múc lấy dòng nước hằng sống từ những nguồn suối trong lành, và sự hiệp thông với Hội Thánh là một trong những dấu chỉ cho đời cầu nguyện đích thực. Thánh Thần ban tặng cho một số tín hữu những ân huệ đặc biệt nhằm phục vụ lời cầu nguyện. Những tín hữu đó là những tôi tớ đích thực trong truyền thống của Hội Thánh.
3. Nơi cầu nguyện:
Để nuôi dưỡng đời cầu nguyện, nơi chốn là vấn đề quan trọng:
• Nhà thờ, nhà của Chúa, là nơi dành riêng cho việc cầu nguyện, và thờ phượng Thánh Thể.
• Để nâng đỡ việc cầu nguyện cá nhân, nên có một "góc cầu nguyện" với Kinh Thánh, ảnh tượng. Trong các gia đình, góc cầu nguyện đó cũng là nơi cho gia đình cầu nguyện chung với nhau hằng ngày.
• Các Tu viện là những nơi thuận tiện giúp các tín hữu có được sự cô tịch cần thiết, để đi sâu hơn vào đời cầu nguyện.
• Những cuộc hành hương cũng là những cơ hội đặc biệt cho việc canh tân đời cầu nguyện.
Bài 60
Đời cầu nguyện
(x. SGLC từ 2697 đến 2751).
"Trong Chúa, ta sống ta chuyển động, ta hiện hữu" (Cv 17,28). Đức tin dẫn ta đến chỗ nhìn nhận Chúa là sự sống và là tất cả của chúng ta. Vì thế, phải hít thở Thiên Chúa như hít thở không khí; nghĩa là phải cầu nguyện liên lỉ. Nhưng ta không thể cầu nguyện liên lỉ thực sự nếu không có những giây phút cầu nguyện đặc biệt, và dư âm kéo dài trong cuộc sống. Để nuôi dưỡng đời cầu nguyện liên lỉ, Hội Thánh dạy ta giữ nhịp cầu nguyện mỗi ngày, mỗi tuần và mỗi năm. Mỗi ngày như các giờ kinh sáng, tối, trước và sau bữa ăn. Mỗi tuần với Chúa nhật là trọng tâm, và tập trung vào hiệp thông Thánh Thể. Mỗi năm với chu kÿ Năm Phụng Vụ và những ngày lễ lớn.
I. Những Cách Diễn Tả
Có nhiều cách diễn tả tâm tình cầu nguyện và truyền thống Kitô giáo thường nói đến ba hình thức Khẩu nguyện, Suy niệm và Chiêm ngắm.
1. Khẩu nguyện (Cầu nguyện bằng lời)
Khẩu nguyện là thiết yếu trong kinh nguyện Kitô giáo. Trong cuộc sống trần thế, chính Đức Giêsu đã cầu nguyện bằng lời nói thưa với cha (Mt 11, 25-26; Mc 14, 36). Và khi các Môn đê xin Ngài dạy các ông Kinh Lạy Cha.
Đó cũng là đòi hỏi tự nhiên nơi con người vốn là hồn và xác, nên cần phải biểu tỏ tình cảm bên trong bằng lời nói bên ngoài. Chính vì phù hợp với con người tự nhiên như thế, nên khẩu nguyện là hình thức phổ biến nhất. Nhưng phải luôn luôn ý thức rằng: lời kinh đích thực phải phát xuất từ đáy thẳm tâm hồn, và "lời kinh của ta có được nhận lời hay không, không tùy thuộc vào số lượng (lời kinh), mà vào tâm bên trong" (Gioan kim khẩu).
2. Trí nguyện (Suy niệm)
Suy niệm là kiếm tìm. Kiếm tìm lý do và ý nghĩa đời Kitô hữu. Kiếm tìm thánh ý Thiên Chúa để đáp trả. Sách thiêng liêng là phương thế rất tốt giúp ta trong cuộc tìm kiếm ấy: Kinh Thánh, các bản văn phục vụ, các bài viết về đời thiêng liêng. Đồng thời, chính cuộc sống cũng là một cuốn sách cho ta đọc và suy niệm.
Sự tìm kiếm ấy không thể chỉ ngưng lại ở bình diện trí tuệ, nhưng phải dẫn tới hành động, phải giúp ta nhận biết tình yêu của Đức Chúa Kitô, và dám thốt lên "Lạy Chúa. Chúa muốn con làm gì?." Khi đó suy niệm có khả năng tác động toàn bộ cuộc đời chúng ta: tư tưởng, cảm xúc, ước muốn.
Để đạt được mục đích trên, có nhiều phương pháp, nhưng đừng quên rằng phương pháp chỉ để hướng dẫn, chứ không là mục đích. Điều quan trọng là làm sao ta tiến tới trên con đường đích thực, con đường duy nhất: Đức Chúa Kitô.
3. Tâm nguyện (Chiêm niệm)
Chiêm niệm là đỉnh cao của đời cầu nguyện, đỉnh cao của cuộc gặp gỡ yêu thương giữa Thiên Chúa và con người. Trong chiêm niệm, người tín hữu muốn ở lại một mình với Chúa, để lắng nghe, và nhiều khi chỉ để chiêm ngắm "Tôi nhìn Chúa và Chúa nhìn tôi", cảm nhận hạnh phúc được ở bên Đấng mình yêu mến. Vì thế, Thánh Têrêsa Avila nói: "Chiêm niệm chẳng là gì khác hơn sự chia sẽ thân giữa hai người bạn, là thường xuyên dành thời giờ ở lại một mình với Đấng mà ta biết là Ngài yêu thương ta " (Sách Đời Sống. 8,5).
Tình yêu ấy không chỉ mang nặng cảm tính; vì thế, vai trò của ý chí rất quan trọng để luôn trung thành với các giờ cầu nguyện, cho dù mệt mỏi hay khô khan. Nhờ đó, ta có thể đi sâu vào sự kết hợp với Chúa Kitô, và chia sẻ tâm tư với Ngài.
Phân biệt Khẩu nguyện, Trí nguyện và Tâm nguyện là công việc của lý trí; nhưng trong thực tế, cả ba có thể và phải hòa hợp với nhau làm một, vì cầu nguyện là đi vào cuộc gặp gỡ Thiên Chúa bằng tất cả con người của mình: linh hồn, trí khôn, thân xác; và để cuộc gặp gỡ ấy chi phối toàn bộ cuộc chúng ta.
II. Cuộc Chiến Đấu
Bước vào đời cầu nguyện là bước vào cuộc chiến đấu. Đó là kinh nghiệm của các thánh, của Mẹ MARIA, và của chính Đức Giêsu trao lại cho ta. Bởi vì nếu cầu nguyện là ân huệ Thiên Chúa, thì đồng thời cũng mời gọi sự đáp trả của con người, và muốn đẩy ta ra khỏi sự kết hợp với Chúa. Vậy đâu là những khó khăn, và phải làm gì để vượt qua?
1. Những đối kháng với cầu nguyện:
Trước hết là những quan niệm sai lạc về cầu nguyện. Có người cho cầu nguyện chỉ là hoạt động tâm lý đơn thuần, có người lại nghĩ đó là nỗ lực tập trung để đạt tới tình trạng trống rỗng tâm trí, và có người giản lược cầu nguyện vào một số nghi thức. Ngay cả một số Kitô hữu cũng coi cầu nguyện chỉ là một công việc giữa trăm ngàn công việc. Tất cả đều bộc lộ một thiếu sót căn bản: quên rằng cầu nguyện không chỉ là việc của con người, nhưng còn là của Thánh Thần Thiên Chúa.
Thêm Vào đó là những não trạng của thời đại chi phối, khiến ta không đi sâu được vào đời cầu nguyện. Não trạng duy lý ngăn cản cầu nguyện vốn làm một huyền nhiệm. Não trạng tiêu thụ làm cho con người nghĩ cầu nguyện là vô bổ. Rồi dựa vào giác quan và tiện nghi như tiêu chuẩn đánh giá Chân, Thiện, Mỹ, thì làm sao thấy được vẻ đẹp của cầu nguyện là thái độ chạy trốn khỏi thế giới, trong khi thực ra không phải như thế.
Cuối cùng là những thất bại trong đời cầu nguyện: chán nản vì tình trạng khô khan, thất vọng vì xin mà không được, buồn phiền vì thấy mình không tiến bộ... Tất cả kiến chúng ta tự hỏi: Cầu nguyện có ích gì? Rồi dần dần sao lãng.
Để vượt qua những khó khăn này, cần phải khiêm tốn, tín thác và kiên nhẫn.
2. Tỉnh thức của con tim
Phải tỉnh thức trước những khó khăn và những cơn cám dỗ.
a. Trước những khó khăn
Nỗi khó khăn thường gặp là sự chia trí, không tập trung vào lời cầu nguyện và vào Đấng mà mình phải hướng tới. Sự chia trí này giúp ta khám phá tâm hồn mình đang nghiêng chiều và gắn bó với cái gì. Cho nên hàm ẩn bên trong lại là cuộc chiến đấu: chọn lựa Ông Chủ nào ta muốn phục vụ?
Để vượt qua, cần tỉnh thức nhận diện, và thái độ tỉnh thức này lại gắn liền với đức tin: tin rằng Chúa sẽ đến và đang đến ngay hôm nay. Vì tin, cho nên tỉnh thức kiếm tìm và đón tiếp.
Nỗi khó khăn nữa trong đời cầu nguyện là tình trạng khô khan, không cảm thấy được niềm an ủi và dịu ngọt nào khi cầu nguyện. Trên bình diện thiêng liêng, đây là lúc phải gắn bó với Đức Giêsu hấp hối và chịu chôn táng trong mồ; phải chấp nhận trở thành hạt lúa gieo xuống đất và mới sinh được bông trái (Ga 12,24).
b. Trước những cơn cám dỗ
Cơn cám dỗ thường xuyên nhưng lại ẩn kín, đó là thiếu đức tin. Người ta có thể làm rất nhiều việc đạo đức, rất hăng say nhiệt thành, nhưng ẩn bên trong lại vẫn thiếu đức tin chân thật, thiếu lòng khiêm tốn sâu xa để nhận ra rằng: "Không có Thầy, chúng con chẳng làm được gì!" (GA 15,5).
Một cơn cám dỗ khác là sự nguội lạnh, phát sinh từ chỗ buông thả, không cảnh giác, lười biếng việc đạo đức. Nhưng nếu có lòng khiêm tốn, ta sẽ không thất vọng mà cố gắng vượt lên, tín thác nhiều hơn vào Chúa.
3. Niềm tín thác của con người
Chính trong những thử thách của cuộc đời, ta nhận ra mình có lòng tín thác thật sự hay không, nhất là khi cầu xin mà không được như lòng mong ước. Nhưng cũng chính lúc ấy, ta phải tự hỏi: Tại sao tôi lại than phiền vì không được nhận lời? Và phải làm gì để lời cầu nguyện có kết quả?
Cầu xin mà đòi hỏi Chúa phải thực hiện tất cả những gì mình muốn. Như thế, Chúa là ai? Là chủ cuộc đời ta hay chỉ dụng cụ của ta? Một câu hỏi rất quan trọng, giúp ta khám phá lại mối lại quan hệ với Thiên Chúa.
Đồng thời phải tự hỏi: Cái gì thực sự tốt đẹp và ích lợi cho ta? Chỉ một mình Chúa biết, và Ngài biết trước khi ta cầu xin (x. Mt 6,8). Vì thế, nếu cầu xin mà không được nhận lời, vì "anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc" (Gc 4,3). Như vậy, thay vì phiền trách Chúa, phải dò lại chính lòng mình.
Để lời cầu xin có hiệu quả, phải biết cầu xin với niềm tín thác. Niềm tín thác ấy dựa trên cơ sở là tình yêu trung tín của Thiên Chúa, đến nỗi hiến ban và phục sinh của Đức Giêsu, và Thánh Thần cầu nguyện trong chúng ta.
Đức Giêsu là mẫu mực của tín thác. Khi cầu xin, Ngài luôn đi tìm thánh ý Cha. chứ không đòi hỏi Cha phải theo ý mình. Vậy tại sao ta lại làm khác? Không những thế, Đức Giêsu còn là Đấng chuyển cầu cho ta trước tòa Chúa Cha (x.Dt 5,7). Vì thế, nếu ta kết hợp với Đức Giêsu trong tư tưởng, tâm tình và ước muốn, và nhân danh Ngài mà cầu xin, chắc chắn ta sẽ được nhận lời, và còn hơn những điều mình mong ước.
4. Cầu nguyện liên lỉ
"Trong mọi hoàn cảnh và mọi sự, hãy nhân danh Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, mà cảm tạ Thiên Chúa là Cha ... Hãy dùng mọi lời kinh và mọi tiếng van nài mà cầu nguyện luôn mãi" (Ep 5,20; 6,18)
Cầu nguyện liên lỉ, không ngừng với tất cả nhiệt tình...
Thái độ chỉ có được nhờ Tình yêu: tình yêu khiêm tốn, tình yêu nhẫn nại. Chính trong tình yêu ấy, ta khám phá ra rằng:
• Có thể cầu nguyện mọi nơi, mọi lúc và trong mọi hoàn cảnh, vì khi yêu, người ta gắn bó với nhau tự thâm sâu tâm hồn.
• Cầu nguyện là nhu cầu thiết yếu cho đời sống tâm linh, vì nếu không được Thánh Linh hướng dẫn, ta sẽ dễ dàng rơi vào vòng tội lỗi, và ta chỉ có được hướng dẫn đó nhờ cầu nguyện.
• Cầu nguyện gắn chặt với Kitô hữu, không thể tách rời; vì Kitô hữu là ai, nếu không phải là người nhờ Chúa Thánh Thần, trở nên giống Đức Giêsu mỗi ngày một hơn, và sống theo chương trình yêu thương của Cha. Cuộc sống đó cũng là đích điểm của đời cầu nguyện.
KINH LẠY CHA
LỜI KINH CHÚA DẠY
Có một môn đệ đến thưa với Đức Giêsu: "Lạy Thầy, xin dạy chúng con cầu nguyện" (LC 11,4). Đáp lại đức Giêsu dạy: "Khi cầu nguyện, chúng con hãy nói:
Lạy Cha chúng con ở trên Trời,
Chúng con nguyện danh Cha cả sáng,
Nước Cha trị đến,
Ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Trời.
Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hàng ngày,
Và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ nợ chúng con.
Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ,
Nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ". (Mt 6,9-13)
I. LỜI KINH TUYỆT VỜI
Kinh Lạy Cha chiếm vị ưu đẳng Kitô giáo, đến nỗi Terulianô nói: "Đó là bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng", và Thánh Âu-tinh diễn tả: "Hãy rảo khắp mọi lời trong Kinh Thánh, và tôi không nghĩ rằng bạn có thể tìm thấy bất cứ điều gì ở đó mà lại không chứa đựng và bao hàm trong Kinh Lạy Cha".
Sở dĩ như thế vì ba lý do:
• Thứ nhất là vì Kinh Lạy Cha nằm ở tâm điểm của Kinh Thánh. Toàn bộ Kinh Thánh -- lề luật, các Ngôn sứ và Thánh vịnh -- được nên trọn trong Chúa Kitô. Mà Chúa Kitô đến là để loan báo Tin Mừng, và Tin Mừng ấy được tóm tắt trong Bài Giảng trên núi; Kinh Lạy Cha lại là trung tâm của Bài Giảng quan trọng đó. Bằng lời giảng, Đức Giêsu dạy ta sống đời sống mới. Bằng lời kinh, Đức Giêsu dạy ta nài xin sự sống mới.
• Thứ hai là: Đó là lời kinh duy nhất mà Đức Giêsu trực tiếp dạy các môn đệ, cho nên vẫn được gọi là lời kinh của Chúa. Ngài vừa là Chủ, vừa là mẫu mực của ta trong đời cầu nguyện. Không những Ngài dạy ta một công thức cầu nguyện, nhưng còn ban tặng Thánh Thần để lời kinh ấy trở thành "Thần trí và sự sống" (Ga 6,63), là lời kinh của người CON dâng lên CHA trong tác động của THÁNH THẦN.
• Thứ ba: Đó là lời kinh của Hội Thánh, ăn rễ sâu trong phụng vụ của Hội Thánh ngay từ đầu, đặc biệt là khi cử Bí tích Thánh Tẩy. Thêm sức và Thánh Thể.
II. CẤU TRÚC CỦA LỜI KINH
Kinh Lạy Cha gồm 3 phần chính:
• Lời mở đầu " LẠY CHA CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI": hướng chúng ta lên Chúa, và tập trung tất cả vào Ngài.
• Ba lời nguyện tôn vinh Danh Chúa, Nước Chúa và Thánh Ý của Ngài.
• Bốn lời cầu xin cho những nhu cầu của con người: nhu cầu vật chất cũng như tinh thần, nài xin sự nâng đỡ của Chúa để vượt thắng tội lỗi, các cơn cám dỗ và ác thần.
Lời kinh đó là lời kinh của đức Tin, đức Cậy và đức Ái. Phải có đức tin vào Thiên Chúa là Cha yêu thương, cho dẫu như thể Ngài vắng bóng và xa cách chúng ta, trong những khổ đau của cuộc đời. Phải có đức cậy để vững vàng hi vọng rằng Vương Quốc Thiên Chúa sẽ được hoàn thành. Và đức ái khiến ta tìm được sự ấm áp và thân mật của Tình Yêu Chúa dành cho ta.
Tất cả có được là nhờ Thánh Thần và Cha gửi đến lòng ta để kêu " Abba, Cha ơi!" (Ga 4,6). Và như thế, ân huệ Thánh Thần gồm tóm tất cả mọi lời cầu của Kinh Lạy Cha.
III. TRONG ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY
Còn có lời kinh nào quen thuộc bằng Kinh Lạy Cha, kinh được đọc trong mỗi Thánh Lễ, cũng như khi cầu nguyện riêng. Tuy nhiên, kinh nghiệm lại cho thấy nhiều khi người tín hữu chỉ đọc như một thói quen, hoặc như một bổn phận phải làm cho an tâm, ít khi dừng lại suy niệm lời kính mình đọc, và lắng nghe tiếng gọi của chúa. Hậu quả là giữa lời kinh và cuộc sống có một sự xa cách, đối nghịch nhau cách trầm trọng.
Vì thế, ta được mời gọi để canh tân đời cầu nguyện. Việc canh tân cử hành phụng vụ, sao cho sống động và có khả năng giáo dục đức tin. Đồng thời phải gắn liền với việc học hỏi giáo lý và Kinh Thánh, để không chỉ là những thay đổi hời hợt. Việc canh tân ấy phải dẫn đến hoa trái, là những việc làm tốt đẹp trong mọi mối quan hệ của đời sống hàng ngày.
Với ý thức và tâm tình đó, Hội Thánh muốn ta tìm hiểu và đào sâu Kinh Lạy Cha, lời kinh Chúa dạy.
Bài 62
LẠY CHA CHÚNG CON Ở TRÊN TRỜI
"Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại, họ nghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhận lời. Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì trước khi anh em cầu xin. Vậy anh em hãy cầu nguyện như thế này: Lạy Cha chúng con ở trên trời..." (Mt 6, 7-9)
I. Trong tâm tình mến yêu và kính sợ.
Trong Thánh Lễ, trước khi đọc Kinh Lạy Cha, chủ tế mời gọi: Vâng lệnh Chúa Cứu Thế và theo lời Người dạy, chúng ta dám nguyện rằng." Động từ "dám" diễn tả một thái độ kính sợ đối với Chúa. Thái độ này bắt nguồn từ truyền thống lâu dài trong Kinh Thánh, được minh họa tuyệt với trong cảnh Môsê gặp Chúa trong bụi gai bốc cháy: "Chớ lại gần. Cởi dép ra, bởi đất ngươi đang đứng là đất Thánh" (Xh 3,5)
Chỉ nhờ đức Giêsu Kitô - Thiên Chúa làm người - chúng ta mới dám đến gần Thiên Chúa là Cha, trong niềm tin yêu thảo hiếu: "Trong Ngài, ta được tự do dạn dĩ và được đến cùng Cha, đầy lòng tín thác vì đã tin vào Ngài" (Ep 3,12)
II. Đến với Thiên Chúa là Cha.
Trong Cựu Ước, các Ngôn sứ cũng đã nói đến Thiên Chúa là Cha: "Chính Người là Cha chúng tôi, Đấng chuộc lấy chúng tôi tự ngàn xưa, đó là Danh Người" (Is 63,16). Tuy nhiên, không có kinh nguyện nào trong Cựu ước cầu khẩn Thiên Chúa cách trực tiếp với danh xưng "Cha chúng con". Có chăng là những chỉ dẫn gián tiếp và hướng tới tương lai: "Ngài kêu khấn cùng Ta: Người là cha tôi, Thiên Chúa của tôi, Đá Tảng tế độ cho tôi. Nên Ta sẽ đặt Ngài làm Trưởng Tử, làm vị Tối Cao trên vua chúa trần gian (Tv 89,27)
Với Đức Giêsu, xuất hiện mối quan hệ hoàn toàn mới mẽ với Thiên Chúa, thể hiện qua tiếng gọi "Abba, Cha ơi!". Là "Con duy nhất, hằng ở nơi cung lòng cha" (Ga 1,18). Đức Giêsu quả quyết: ""Không ai biết Cha trừ ra Con, và những kẻ Con muốn mặc khải cho" (Mt 19,27)
Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa không chỉ tỏ mình là: "Cha của chúng ta", nhưng Ngài còn nhận ta làm con của Ngài. Trong bí tích Thánh tẩy, ta được tái sinh trong đời sống mới "bởi Nước và Thánh Thần", trở nên chi thể trong thân mình Chúa Kitô, và vì thế, được trở nên con Thiên Chúa trong Người Con Duy Nhất.
Vì vậy khi đọc Kinh Lạy Cha, thái độ nền tảng phải có là khiêm tốn và biết ơn: khiêm tốn vì nhận ra sự thật về con người bất xứng của mình, tạ ơn vì biết rằng tất cả là ân huệ Thiên Chúa ban. Đồng thời, phải noi gương Đức Giêsu, sống tư cách người con hiếu thảo, luôn tín thác vào Cha, và thực thi ý Cha.
III. Cha Chúng Con Ở Trên Trời
Khi kêu lên với Thiên Chúa là "Cha của chúng con", từ "của" ở đây không có ý chỉ một người, một vật mà ta có quyền sở hữu; nhưng nhắm diễn đạt mới quan hệ mới, quan hệ giao ước, trong đó Thiên Chúa là Cha của chúng ta, và ta là con của Ngài.
Đồng thời, ta không thưa với Chúa là " Cha của con", nhưng "Cha của chúng con", nghĩa là phải ra khỏi lối sống cá nhân chủ nghĩa, và được dẫn vào cộng đoàn của những anh chị em có chung một người Cha. Hơn thế nữa, còn phải hướng đến việc "thâu họp con cái Thiên Chúa tản mát lại làm một" (x.Ga 11,52). Như thế, khẩn cầu Thiên Chúa là "Cha của chúng con", đòi hỏi ta một lối sống phục vụ mọi người, và cùng xây đựng lợi ích chung (x.MV 22).
Người Cha mà ta khẩn cầu là "Đấng ngự trên trời". "Trời" ở đây không có ý chỉ về một nơi chốn trong không gian, nhưng diễn tả tính siêu việt và uy quyền của Thiên Chúa. Thiên Chúa vượt trên tất cả những gì mà con người có thể quan niệm, về sự thánh thiện và vinh quang của Ngài. Tuy nhiên, Ngài lại ở rất gần những tâm hồn khiêm tốn và sám hối.
Hình ảnh trời cao cũng nhắc nhớ con người về chính vận mệnh cao cả của mình. Nhà của Cha chính là quê hương của ta, nhưng tội lỗi đã khiến ta rơi vào thân phận lưu đày, và nếu có lòng sám hối chân thành, ta-lại được quay về Nhà Cha (x.Lc 15,18,21). Chúa Kitô chính là Đấng giao hòa Trời và Đất, vì Ngài là Đấng "từ trời xuống", (Ga 3,13) và nhờ mầu nhiệm Vượt Qua Ngài lôi cả nhân loại đến với trời cao.
Ngay từ bây giờ, Thiên Chúa của trời cao đã ngự trị trong tâm hồn người công chính, như trong đền thờ của Ngài. Và nếu ta sống đời công chính, là ta đang mời Ngài đến cư ngụ trong tâm hồn mình (x.Âu - tinh Bài giảng trên núi).
Bài 63
BẢY LỜI NGUYỆN XIN
"Anh em cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ được mở cho" (Mt 7,7)
"Anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí việc hưởng lạc" (Gc 4,3)
1. NGUYỆN DANH CHA CẢ SÁNG
Với lời cầu xin này, chúng ta xin Chúa thánh hiến Danh Ngài. Cho nên bản dịch mới đề nghị dịch là "xin làm cho Danh cha được vinh hiển".
Trong kinh Thánh, "Danh" không chỉ là tên gọi để phân biệt, mà còn là chính con người, và sự Thánh thiện của Chúa cũng được gọi là vinh quang "Thánh, Thánh, thánh, Giavê các cơ binh, khắp đất đầy tràn vinh quang người" (Is 6,3)
Trong Cựu Ước, sự thánh thiện của Chúa được biểu lợ qua giao ước, và ơn giải thoát Ngài ban cho dân:
"Người đã sai đến cho dân ơn cứu chuộc. Người dã truyền giao ước của Người cho đến muôn đời. Danh Người, Danh Thánh và đáng kính sợ." (Tv 111,9)
Nhưng chính nơi Ðức Giêsu, ta mới hiểu rõ lời nguyện xin nầy. Ngay trước "giờ" (tử nạn). Ðức Giêsu kêu lên: "Lạy Cha xin hãy tôn vinh Danh Cha." (Ga 12,28). Và trong lời nguyện Linh mục. Ngài nói rõ hơn:
"Lạy Cha, giờ đã đến, xin hãy tôn vinh Con Cha ngõ hầu, Con Cha tôn vinh Cha... Con đã tôn vinh Cha dưới đất đã chu toàn công việc Cha đã giao phó cho Con làm... Con đã mặc khải Danh Cha cho những người Cha đã lấy từ giữa thế gian mà ban cho Con... Lạy Cha chí thánh, xin gìn giữ chúng nhờ Danh Cha, ngõ hầu chúng nên một như Chúng ta." (Ga 17,1,4,6,11)
Như vậy Ðức Giêsu cho thấy: chính Cha tôn vinh Ngài, nhưng Chúa Cha lại tôn vinh Ngài qua Chúa Con và qua cả chúng ta, những môn đệ của Chúa Con. Ðồng thời, Chúa Cha được tôn vinh không chỉ bằng kinh kinh nguyện, mà còn bằng việc làm của Ðức Giêsu. Với lời nguyện xin này, chúng ta xin Cha tôn vinh Danh Ngài trong và qua kinh nguyện, cũng như cuộc sống của mình. Nếu ta sống tốt, Danh Chúa được chúc tụng; nếu ta sống tội lỗi, Danh Chúa bị xúc phạm (x.Phêrô kim khẩu).
2. NƯỚC CHA TRỊ ÐẾN.
Theo Phúc Âm nhất lãm, Nước trời là đề tài trung tâm trong lời rao giảng của Ðức Giêsu. Theo thánh Marcô, Ðức Giêsu đã bắt đầu sứ vụ công khai với lời công bố: "Thơí giờ đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần đến. Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng". (1,15). Với Thánh Luca, Nước trời còn đang ẩn đấu (17,20), nhưng đã có những dấu chỉ để nhận diện, như lời Ðức Giêsu trả lời các môn đệ của Gioan: "Các ông hãy đi tin lại cho Gioan mọi điều mắt thấy tai nghe: mù được sáng, què được đi, phong hủi được sạch và điếc được nghe, kẻ chết sống lại, nghèo khó được nghe báo Tin Mừng." (7,22). Tin mừng Mathêu lại trình bày Nước Trời bằng những hình ảnh và dụ ngôn sống động (chương 13), diễn tả Nước Trời là giá tri tuyệt đối, đến nỗi người ta vui mừng bán tất cả những gì mình có, để chiếm lấy (13, 44-46) và năng lực Nước Trời không ngừng phát triển. âm thầm mà mãnh liệt (13, 31-33).
Dựa vào các bản văn Tân ước, có thể nhân ra những đặc điểm của Nước Trời:
• Ðang trên đường hoàn thành: đã có mặt rồi nhưng chưa hoàn thành. Nước Trời đang ở giữa chúng ta, trong những người có tinh thần nghèo khó, chịu bách hại vì lẽ công chính (Lc 17,21; Mt 5,3-10); nhưng đồng thời Nước Trời lại không thuộc thế gian này (Ga 18,36).
• Phổ quát: Nước Trời được dành cho mọi dân mọi nước, và chi phối mọi chiều kích đời sống của con người.
• Sâu xa: Nước Trời như men sự sống thấm nhập tận trong thực tại, biến đổi mối quan hệ của ta với Thiên Chúa và với nhau. Tái lập những giá trị căn bản của đời sống: công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.
• Do Ðức Giêsu thiết lập theo ý định của Cha, và Nước Trời là chính Ðức Giêsu.
Vì Nước Trời là chính Ðức Giêsu, nên xin cho Nước Cha trị đến cũng có nghĩa là kêu lên "Maranatha. Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến". Và khi cầu xin như thế cũng có nghĩa là xin cho ta được sống xứng đáng là công dân Nước Trời, như Thánh Augustino diễn tả: "Nài xin Nước Chúa ngự đến là nài xin ân huệ sống đời công chính."
3. Ý CHA THỂ HIỆN DƯỚI ÐẤT CŨNG NHƯ TRÊN TRỜI
"Xin cho Ý Cha thế hiện dưới đất cũng như trên trời." Nhưng Ý Cha là gì? Người ta có thể đồng hóa Ý Cha với ý riêng, quan điểm, lập trường của mình và bắt mọi người phải theo. Vì thế, phải qui về Ðức Giêsu Kitô, Ðấng thi hành thánh ý Cha trong mọi sự (x.Dt 10, 5-7; Ga 8,29). Và là Ðấng mà nơi Ngài, Thánh Ý cha được bày tỏ trọn vẹn. Ðó là ý muốn "Cho mọi người được cứu thoát và được nhận biết sự thật" (1Tm 2,4). "Không muốn ai phải hư đi nhưng hết thảy có phương hối cải (2Pr 3,9), và giới răn gồm tóm Thánh Ý Thiên Chúa là "Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em." (Ga 13, 34).
Thánh Ý ấy phải được thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Thánh Cyprianô cắt nghĩa: "Chúng ta phải cầu nguyện để những ai còn thuộc trái đất này có thể thi hành Thánh Ý Thiên Chuá." Muốn như thế: "đừng rập theo đời này, nhưng hãy biến đổi nhờ canh tân lòng trí, làm thế nào để thẩm định được Ý Thiên Chúa là gì thật là tốt lành, thú vị, trọn hảo" (Rm 12,2).
Cuối cùng để Thánh ý Thiên Chúa được thể hiện trong chính cuộc đời mình và mọi người, ta cần phải sống mầu nhiệm tự hủy của Ðức Giêsu, Ðấng "vâng phục cho đến chết và là cái chết thập giá" (P1 2,6), phải noi gương Mẹ Maria và các Thánh trong "sự vâng phục của đức tin". Lời cầu nguyện chân thành dẫn ta đến thái độ nơi tâm cần thiết, để thánh Ý thiên Chúa được tỏ hiện trong cuộc đời của chúng ta.
4. XIN CHA CHO CHÚNG CON HÔM NAY LƯƠNG THỰC HÀNG NGÀY
Lời cầu xin này phát xuất từ niềm tin tưởng vào Cha, là Ðấng "cho mưa xuống trên người ngay cũng như kẻ ác, cho mắt trời mọc lên trên kẻ dữ cũng như người lành" (Mt 5,45); đồng thời, ý thức rằng con người là tạo vật, cho dẫu lao đồng, phát minh và sáng tạo, nhưng nền tảng là chính hiện hữu (sự sống) của mình, và thiên nhiên lại là quà tặng của Thiên Chuá. Vi thế, ngay chính lúc vận dụng bàn tay và khối óc để làm ra lương thực, vẫn dâng lời khẩn cầu Thiên Chúa, và tạ ơn Ngài.
Khi xin Cha ban thương thực, Ðức Giêsu dạy ta thưa: "xin cho chúng con," nghĩa là không chỉ cho bản thân nhưng cho mọi người, cho cả cộng đồng nhân loại liên kết với nhau trong tình huynh đệ. Như vậy, lời kinh dẫn ra đến đòi hỏi phải chia sẻ cho nhau những nhu cầu trong đời sống. Ðòi hỏi này đã được nhấn mạnh từ thời Cựu ước: "Hãy chia bánh cho người đói, nơi trú ngụ cho kẻ không nhà, quần áo cho người mình trần; đó là chay tịnh Ta mong muốn" (Is 58,7). Ðức Giêsu đã làm nổi bật đòi hỏi này trong dụ ngôn: "Nhà phú hộ và La-gia rô" (Lc 16, 29-31).
Ngày nay, sự tương phản giữ người giàu và người nghèo còn rộng lớn hơn. Và thái độ ích kỷ của nhà phú hộ ngày xưa cũng mang tầm vóc sâu xa hơn... Vì thế người ta nói đến thứ "tội cơ cấu, tội xã hội". Cơ cấu chính trị kinh tế xã hội, cần được đổi mới để phục vụ nhu cầu của mọi người; nhưng những cơ cấu đó chỉ được đổi mới khi chính tâm hồn con người hoán cải.
Ngoài ra, khi xin Cha ban lương thực người Kitô hữu ý thức đây không chỉ là lương thực vật chất, mà còn là lương thực tinh thần. Ngôn sứ Amos từng nói đến nạn đói, không phải "đói cơm bánh" mà là "đói nghe lời Chúa" (8,11). Và Ðức Giêsu đã nói rõ ràng: Người ta không chỉ sống nhờ cơm bánh, nhưng còn bởi Lời do miệng Thiên Chúa phán ra (Mt 4,4). Vì thế, người Kitô hữu hiểu lời cầu xin này là xin "Bánh Sự Sống", gồm cả Lời Chúa (được đón nhận trong đức tin) và mình Chúa (được đón nhận trong Thánh Thể).
5. VÀ THA NỢ CHÚNG CON NHƯ CHÚNG CON CŨNG THA KẺ CÓ NỢ CHÚNG CON.
Khi cầu nguyện, ta đến trước mặt Chúa như đứa con hoang đàng trờ về nhà Cha trong niềm sám hối "Thưa cha, con phải lỗi phạm đến Trời và đến Cha" (x.Lc 15, 17-19), và như người thu thuế không đám ngẩng mật lên, nhưng cúi đầu xuống, đấm ngực mà thầm thì: "Lạy Chúa xin thương xót con là kẻ có tội" (Lc 18, 13).
Tâm tình sám hối đó phát xuất từ chỗ nhìn nhận thân phận tội lỗi của mình "Nếu ta nói: ta không có tội thì ta tự lừa dối mình, và sự thật không có trong ta... Nếu ta nói: ta đã không phạm tội thì ta kể Người là kẻ nói láo, và Lời Người không có trong ta" (1 Ga 1,8-10). Thánh Mathêu diễn tả tội lỗi đó là một món nợ. Chúng ta mắc nợ với Chúa: món nợ công chính, vì ta làm lu mờ vinh quang Chúa, món nợ vô ơn trước những ân huệ Chuá ban tặng, món nợ xức phạm, chống lại Chúa vì tội lỗi của mình. Tuy nhiên, tin vào tình thương của Chuá là Cha (Abba), ta nài xin ơn tha thứ. Tha thứ ở đây không chỉ là không trả thù, hay quên đi lỗi phạm của người khác, mà còn là giải thoát, là tái lập mối quan hệ đã bị bẻ gẫy. Ðó là lời cầu xin của Ðức Giêsu trên thập giá: "Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ lầm không biết" (Lc22,34). Và mỗi người Kitô hữu cũng được mời gọi sống tâm tình yêu thương tha thứ ấy: "Thầy nói với anh em, hãy yêu thương kẻ thù địch, và khẩn cầu cho những người bắt bớ anh em, để anh em nên những con của Cha anh em, Ðấng ngự trên trời" (Mt 44,45).
Chính vì thế khi "Xin Cha tha nợ" ta lại thêm: "như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con". Ðức Giêsu đã dùng dụ ngôn về người đầy tớ bất nhân (Mt 18, 21-35) để giúp ta hiểu rõ ý nghĩa: trước hết, như ông chủ tha nợ cho tên đầy tới, ơn tha thứ Chúa dành cho ta đi trước sự tha thứ ta dành cho tha nhân; kế đến, sự tha thứ cho người khác là cách diễn tả ơn tha thứ mình đã lãnh nhận; và cuối cùng ơn tha thứ của Chúa chỉ thành hiện thực nến ta biết đón nhận và chia sẽ cho nhau có tầm quan trọng đặc biệt, đến nỗi Ðức Giêsu nói: "Nếu ngươi dâng của lễ nơi bàn thờ, và sực nhớ người anh em có điều bắt bình với người, hãy đặt của lễ trước bàn thờ mà đi làm hòa với anh em trước đã, rồi hãy đến dâng của lễ." (Mt 5,23-24).
Như vậy, lời cầu xin này dẫn ta đến một lối sống chan chứa tình thương, và biến đổi cả bộ mặt cuộc đời.
6-7. XIN ÐỪNG ÐỂ CHÚNG CON SA CHƯỚC CÁM DỖ, NHƯNG CỨU CHÚNG CON KHỎI MỌI SỰ DỮ
Lời cầu xin này đáp-ứng lời cảnh giác của Ðức Giêsu "Hãy tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Tinh thần thì mạnh mẽ nhưng xác thịt lại yếu đuối" (Mt 25,41).
Phân biệt "thử thách" và "cám dỗ". Thánh Phaolô tự hào vì những thử thách gian truân gặp phải trong đời,
"Gian truân tạo kiên nhẫn, kiên nhẫn tạo nhân đức" (Rm 5,3-5). Còn cám dỗ là sự xúi giục điều xấu, đưa đến tội và sự chết, và Thiên Chúa không cám dỗ ai cả: "Bị cám dỗ, đừng ai nói: Tôi bị Thiên Chúa cám dỗ. Vì Thiên Chúa không thể bị điều dữ cám dỗ Người, và Người cũng không cám dỗ ai. Mỗi người có bị cám dỗ là do đam mê của mình" (Gc 1,13-14).
Cũng phải phân biệt "bị cám dỗ" và "sa chước cám dỗ". Bị cám dỗ là chuyện tự nhiên của thân phận con người. Chính Chúa Kitô cũng bị cám dỗ (Mt 4,1-11). Và vì thế, không có tội lỗi gì khi bị cám dỗ. Vấn đề là ở chỗ chiều theo cơn cám dỗ. Ở đây, ta cần được ơn biện phân các thần khí để nhận diện sự ác, xuất hiện với dáng vẻ bên ngoài "tốt đẹp ... nhìn thật hấp dẫn" (St 3,6), nhưng bên trong lại ẩn chứa nọc độc tội lỗi và sự chết.
Có chiều theo cơn cám dỗ hay không, điều đó tùy thuộc tâm hồn ta: "Kho tàng, của người ở đâu, lòng người ở đó ... Không ai có thể làm tôi hai chủ ... " (Mt 6,21-24). Chúng ta cần sự trợ giúp của Thiên Chúa để hướng lòng về điều thiện: "Chúng ta sống nhờ Thần Khí, thì cũng hãy nhờ Thần Khí mà tiến bước" (GI 5,25): Và Thánh Phaolô quả quyết: "Không một thử thách nào đã xảy ra cho anh em mà lại vượt quá sức chịu đựng" (1Cr 10,13). Chính vì thế, cần tỉnh thức và cầu nguyện liên lỉ (x,Mc 13,9; Cl 4,4; 1Pr 5,8-10).
Lời kinh này không chỉ nói đến những cơn cám dỗ hàng ngày, mà còn nói đến cuộc chiến đấu giữa Thiên Chúa và Ác thần: "Nhưng cứu chúng con khỏi Ác thần."
Ðó là cuộc chiến đấu chống lại Satan "tên quyến rũ cả thế giới" (Kh 12, 9) "Ngay từ đầu, nó đã là tên sát nhân. Nó đã đứng về phía sự thật, vì sự thật không ở trong nó... nó là kẻ nói dối, và là cha sự gian dối" ( Ga 8,44). Chúa Kitô phục sinh đã chiến thắng "Ðầu mục của thế gian này (Ga 14, 30). Nhưng sự giải thoát này Chúa biểu lộ hoàn toàn nơi mọi thụ tao, vì thế, "tạo thành những ngong ngóng trông đợi... hi vọng sẽ được tự do, khỏi cảnh làm tôi mục nát, mà vào địa vị tự do, khỏi cảnh làm tôi mục nát, mà vào địa vị tự do trong vinh quanh thuộc hàng con cái Thien Chúa" (Rm 8,20-22). Nhưng Chúa Kitô trấn an chúng ta: "Ðừng sợ, Thầy đã thắng thế gian". Và vì thế, chúng ta phải cầu xin ơn được giải thoát khỏi sự dữ:
"Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ. Xin đoái thương cho những ngày chúng con đang sống được bình an. Chúa là đấng hằng sống và hiển trị muôn đời".
Chính nhờ Ðức Kitô,
Cùng với Ðức Kitô,
Và trong Ðức Kitô
Hiệp nhất với Chúa Thánh Thần
Mọi vinh quang và danh dự
Ðều thuộc về Cha
Là Thiên Chúa toàn năng
Ðến muôn thuở muôn đời. Amen.
Bản Văn Giáo Lý Công Giáo Việt Nam
Dành cho Giáo Lý Viên và Người Trưởng Thành
Biên soạn cho Giáo Dân Việt Nam 1996
Tác Quyền của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam
Bản điện toán tiếng Việt này được sự cộng tác của Lm Bartholomeo Huynh San, Joseph Nguyễn Phước Thiện và Nhóm Legio Mariae VN ở Melbourne, Australia. Bản thảo trình trên Internet do VietCatholic soạn.
Linh mục John Trần Công Nghị
Copyright @ VietCatholic |